1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của thầy mo đối với vốn văn nghệ dân gian mường ở huyện ngọc lặc tỉnh thanh hoá

129 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của thầy mo đối với vốn văn nghệ dân gian Mường ở huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Mai Thị Thương
Người hướng dẫn TS. Trần Bình
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa dân tộc thiểu số
Thể loại báo cáo khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quḠtrình hoàn thành khoá luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ cán bộ nhân dân người Mường, các cơ quan lãnh đạo địa phương, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện

Trang 1

Trường đại học văn hóa Hà nôi

Khoa văn hóa dân tộc thiểu số

************

Vai trò của thầy mo Mường

ĐỐI VỚI VỐN VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG

ở NGọc Lặc, thanh hóa

Thực hiện: Mai Thị Thương, VHDT 11A Hướng dẫn khoa học: TS Trần Bình

Hμ nội 5 -2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quḠtrình hoàn thành khoá luận này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ cán bộ nhân dân người Mường, các

cơ quan lãnh đạo địa phương, Phòng Văn hóa – Thông tin

huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa, các thầy cô giáo Khoa Văn hóa

Dân tộc thiểu số và TS Trần Bình Nhân đây, em xin gửi lời

cảm ơn chân thành tới tất cả

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do còn hạn chế nhiều mặt, chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết,

sai sót, em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 6 năm 2009

Mai Thị Thương

Trang 3

Mục Lục

Trang

Mở đầu: 6

Lí do chọn đề tài: 6

Lịch sử nghiên cứu: 7

Mụch đích nghiên cứu: 8

Phương pháp nghiên cứu: 9

Đóng góp của đề tài: 9

Bố cục và nội dung khoá luận 10

CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT VỀ VỐN VĂN NGHỆ DÂN GIAN MƯỜNG Ở HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ: 12

1.1 Khái quát về tự nhiên, xã hội huyện Ngọc Lặc: 12

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên: 12

1.1.2 Đặc điểm xã hội : 14

1.2 Khái quát về người Mường ở Ngọc Lặc: 19

1.2.1 Nguồn gốc, dân số, phân bố dân cư : 18

1.2.2 Tập quán mưu sinh 19

1.2.3 Đặc điểm về văn hoá vật chất : 22

1.2.4 Xã hội truyền thống: 24

1.2.5 Đặc điểm văn hoá tinh thần : 26

1.3 Văn nghệ dân gian Mường: 28

1.3.1 NghÖ thuËt t¹o h×nh, trang trÝ d©n gian: 29

1.3.2 ¢m nh¹c d©n gian : 30

1.3.3.Móa d©n gian: 36

1.3.4 V¨n häc d©n gian: 39

1.3.5 S©n khÊu d©n gian, diÔn x−íng d©n gian: 46

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA THẦY MO TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VỐN VĂN NGHỆDÂN GIAN MƯỜNG Ở NGỌC LẶC: 50

2.1 Một số khái niệm chung: 50

Trang 4

2.1.1 Mo và thầy mo: 50

2.1.2 Thầy mo Mường: 51

2.1.3 Cỏc khỏi niệm liờn quan đến Văn nghệ dõn gian: 59

2.2 Vai trũ của thầy mo đối với vốn Văn nghệ dõn gian Mường 60

2.2.1 Góp phần sáng tạo văn nghệ dân gian: 61

2.2.2 Bảo tồn kho tàng văn nghệ dân gian: 63

2.2.3 Thầy mo là những nghệ nhân dân gian 2.2.4 Truyền dạy, phát huy văn nghệ dân gian trong đời sống cộng đồng: 87

2.2.4.1 Truyền dạy văn nghệ dân gian : 87

2.2.4.2 Phát huy vốn văn nghệ dân gian trong đời sống cộng đồng : 90

CHƯƠNG 3:GIỮ GèN VÀ KHAI THÁC VỐN VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở NGỌC LẶC HIỆN NAY: 94

3.1.Sự mai một văn nghệ dõn gian Mường ở Ngọc Lặc hiện nay: 94

3.1.1 Tỡnh hỡnh văn nghệ dõn gian Mường ở Ngọc Lặc hiện nay: 94

3.1.2 Nguyờn nhõn dẫn đến mai một văn nghệ dõn gian Mường ở Ngọc Lặc: 96

3.2 Thay đổi về vai trũ của cỏc thầy mo trong đời sống Văn nghệ dõn gian: 99

3.2.1 Với văn nghệ dõn gian Mường ở Ngọc Lặc: 99

3.2.2 Nguyờn nhõn dẫn đến sự thay đổi vai trũ của cỏc thầy mo Mường: 101

3.3 Một số khuyến nghị nhằm phỏt huy vai trũ của cỏc thầy mo trong đời sống văn nghệ dõn gian ở Ngọc Lặc: 103

3.3.1 Quan điểm tiếp cận : 103

3.3.2 Một số khuyến nghị: 106

3.3.3 Một số giải phỏp : 108

KẾT LUẬN: 113

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1-4-1999, Việt Nam

có 1.137.515 người Mường Là một dân tộc có nguồn gốc bản địa ở Việt Nam, người Mường có một nền văn hóa đa dạng, phong phú và đặc sắc Nghiên cứu, tìm hiểu văn hoá Mường đã được nhiều học giả trong cả nước quan tâm Mặc dầu vậy, vùng Mường miền tây Thanh Hóa cho đến nay vẫn còn nhiều khoảng trống trong bức tranh hiểu biết chung về người Mường ở Việt Nam.Vì lẽ đó, nghiên cứu tìm hiểu về người Mường ở vùng này hiện nay đang đặt ra như một đòi hỏi của thực tiễn

Người Mường ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa có vốn văn nghệ dân gian tương đối phong phú và đặc sắc Nó đóng góp nhiều nền văn nghệ dân gian Việt Nam đa sắc màu Văn nghệ dan gian gắn bó với mỗi người Mường từ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cuộc đời; là sức mạnh thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn thuần hậu của những con người xứ Mường; là ngọn nguồn làm nên một xứ Mường với những

câu chuyện huyền thoại, của điệu xường tha thiết, của sử thi đẻ đất đẻ nước vĩ

đại; là bầu sữa ngọt ngào cho nghệ thuật hiện đại hình thành, phát triển và nở hoa kết quả

Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội thay đổi hàng ngày, hàng giờ như hiện nay, bản sắc văn hóa của các dân tộc đang đứng trước thách thức lớn Hòa nhập, hòa tan, mai một văn hóa truyền thống… đang là vấn đề cấp bách đối với các dân tộc thiểu số Việt Nam Trong đó Văn nghệ dân gian người Mường cũng đang đứng trước các thách thức lớn của thời đại Giao lưu văn hóa làm phong

Trang 6

phú thêm văn hóa Mường, nhưng mặt khác nó cũng làm cho văn hóa Mường truyền thống mai một dần Chính vì thế, nghiên cứu, bảo tồn văn hóa truyền thống trong đó có văn nghệ dân gian Mường là nhu cầu cấp thiết hiện nay Nghiên cứu tìm hiểu văn nghệ dân gian Mường ở miền tây Thanh Hóa nói chung, vai trò của các thầy mo Mường trong việc bảo tồn và phát huy văn nghệ dân gian nói riêng là một trong những việc làm cần thiết hiện nay

Đối với các thầy mo người Mường, họ là bộ phận giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh truyền thống của người Mường Ngày nay tuy đã thay đổi nhiều, song vai trò của họ cũng đang còn rất lớn đối với đời sống cộng đồng Riêng đối với văn nghệ dân gian, thầy mo càng có vai trò quan trọng hơn Họ là những người sáng tạo, lưu giữ, phổ biến những giá trị văn hóa trong lĩnh vực này Đặc biệt là những loại hình văn nghệ dân gian liên quan đến tín ngưỡng tâm linh Thông qua các hoạt động của thầy mo mà các giá trị văn hóa dân gian được nhận thức, nuôi dưỡng, thăng hoa, gìn giữ, quảng bá và phát huy Nhắc đến văn nghệ dân gian Mường, sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến vai trò của các

thầy mo Mường Họ chính là người giữ linh hồn của văn nghệ dân gian Mường ở

Ngọc Lạc, Thanh Hóa

Lâu nay, việc nhìn nhận vai trò của thầy mo đối với văn nghệ dân gian Mường vẫn còn nhiều bế tắc, phiến diện và chưa thỏa đáng Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do vấn đề nhận thức.Vì thế, việc nghiên cứu về các thầy mo và những hoạt động của họ, tìm ra những gì trong đó là tích cực, hoặc tiêu cực, nhằm tìm phương cách phát huy các yếu tố cớ lợi và hạn chế các yếu tố gây nguy hại tới cuộc sống xã hội hiện nay,… là một đòi hỏi có ý nghĩa chính đáng Đó không chỉ là nhiệm vụ của các nhà quản lý văn hóa, mà còn là nhiệm vụ quan trọng của giới nghiên cứu văn hóa dân tộc

Trang 7

Là một sinh viên Khoa Văn hoá dân tộc thiểu số, Trường Đại học Văn hóa

Hà Nội, nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của các thầy mo Mường ở Ngọc Lặc sẽ góp phần tăng cường hiểu biết về văn hóa Mường Đây cũng là dịp để học hỏi, làm quen với công việc nghiên cứu, hoàn thiện dần về phương pháp tiếp cận, cách thức triển khai một nghiên cứu cụ thể

Với những lí do trên, em mạnh dạn chọn đề tài Vai trò của thầy mo đối với

vốn văn nghệ dân gian Mường ở huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá làm khóa luận

tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu về văn hoá Mường, với qui mô khác nhau Các công trình nghiên cứu về người Mường được thực hiện bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước Trong đó có một số công trình có quy mô

tương đối đồ sộ Tiêu biểu nhất có Vũ trụ và tâm thức Mường của cố Dân tộc học

gia Từ Chi, đó là một công trình tâm huyết và có giá trị định hướng rất lớn trong việc nghiên cứu văn hóa Muờng Ngoài ra, cũng cần phải kể đến rất nhiều công

trình nghiên cứu có giá trị khác: Sử thi thần thoại Mường của Trương Sỹ Hùng,

Tiếp cận với văn hóa bản Mường của Vương Anh, Văn hóa dân gian Mường của

Cao Sơn Hải …và một số luận văn, luận án, các chuyên luận đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, về người Mường, văn hóa Mường

Mặc dầu vậy, cho đến nay vẫn vắng bóng các nghiên cứu bàn về vai trò của các thầy mo Mường đối với văn nghệ dân gian Mường, nhất là ở các vùng Mường cụ thể Các thông tin về bộ phận những người giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, cũng như trong đời sống văn nghệ dân gian Mường, chỉ thấy tản mạn ở một số bài báo của các nhà sưu tầm văn nghệ dân gian

Trang 8

Khi nghiên cứu về văn hoá Mường, J.Cuisinier đã có những khám phá quan

trọng Tuy nhiên, tác giả đã không ghi lại được những đoạn nào về lời ca của Đẻ

đất đẻ nước Vì điều kiện điền dã chưa cho phép nên tác giả chỉ thuật lại quá

trình làm mo, chưa bàn về giá trị, nhất là giá trị văn học của Đẻ đất đẻ nước Không những thế, J.Cuisinier còn cho rằng: những bài cúng đó nghèo nàn đến

thất vọng và đã tẻ ngắt lại càng tẻ ngắt vì sự dài dòng và lặp lại của nó[4;26] Năm 2001, trong luận văn thạc sĩ của mình, Bùi Kim Phúc cũng đã bàn về

vai trò của mo Mường ở Hoà Bình Tuy nhiên, luận văn này cũng mới chỉ đề cập đến vai trò của mo Mường ở góc độ xã hội học, chưa đề cập đến vai trò các mo

Mường trong bảo tồn và phát huy vốn văn nghệ dân gian Mường

Mặc dù văn hóa Mường ở Thanh Hoá về cơ bản là tương đồng với văn hóa Mường ở Việt Nam, nhưng văn hóa của họ lại cũng có nhiều nét riêng biệt cần phải được nghiên cứu thấu đáo và cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa Mường cũng như vai trò của các thầy mo Mường trong việc bảo tồn và phát huy vốn văn nghệ dân gian Mường ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa cần phải được thực hiện một cách khoa học

Trang 9

- Tìm hiểu vai trò của các thầy mo Mường trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị của kho tàng văn nghệ dân gian Mường trong cuộc sống đương đại ở huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá

- Đề xuất một số khuyến nghị trong việc quản lý và phát huy vai trò của các thầy mo Mường trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, cũng như trong việc bảo tồn và khai thác vốn văn nghệ dân gian hiện nay ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Trong quá trình tiếp cận, thực hiện khóa luận, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng đời sống văn hoá,… là nền tảng tư tưởng chủ đạo Đó là việc tìm hiểu, nghiên cứu vai trò của các thầy mo Mường trong bối cảnh chung của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa; các đặc điểm tự nhiên, xã hội và nhân văn ở địa phương này được xem như là các tiền đề quyết định đến sự phong phú đa dạng của kho tàng văn nghệ dân gian, cũng như vai trò của các thầy mo Mường trong lịch sử xã hội vùng Mường Ngọc Lặc

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, Điền dã Dân tộc học (field work)

được sử dụng như là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Khi tiến hành nghiên cứu

ở thực địa, các kỹ thuật: quan sát, phỏng vấn, tham dự, ghi chép, chụp ảnh, ghi

âm, vẽ sơ đồ,… đã được áp dụng để thu thập tư liệu ở vùng Mường Ngọc Lặc

Để bổ sung thêm tư liệu, cũng như kế thừa các kết quả nghiên cứu của tiền bối, chúng tôi đã nghiên cứu thư tịch, đó là khối sách vở, báo cáo, chuyên luận,… về văn hóa Mường ở Việt nam

Nhằm tìm kiếm chỗ dựa về khoa học cũng như quan điểm tiếp cận cho khóa luận, chúng tôi đã tham khảo ý kiến tư vấn của các nhà nghiên cứu, sưu tầm Các

Trang 10

ý kiến tư vấn đó thực sự đã trở thành kim chỉ nam trong quá trình thực hiện khóa luận này

Nguồn tư liệu thu thập được, đã được thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích,

so sánh và tổng hợp,… trước khi biên soạn khóa luận

5 Đóng góp của đề tài

Đây là nghiên cứu đầu tiên có hệ thống về vai trò của thầy mo đối với vốn văn nghệ dân gian Mường tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá Vì thế, nó sẽ bổ sung những tư liệu mới, những sắc thái địa phương ở vùng Mường Ngọc Lặc, góp phần nhận diện đầy đủ hơn về vai trò của các thầy mo đối với văn nghệ dân gian Mường

Kết quả trong nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần cung cấp cơ sở khoa học, làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý văn hóa ở địa phương trong thực thi công tác bảo tồn và phát huy vốn văn nghệ dân gian nói riêng và văn hóa truyền thống ở vùng Mường Ngọc Lặc nói chung

6 Nội dung và bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của báo cáo được trình bày trong

Chương 3: Giữ gìn và khai thác vốn văn nghệ dân gian của người Mường ở

Ngọc Lặc hiện nay (20 trang)

Trang 11

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ VỐN VĂN NGHỆ DÂN GIAN MƯỜNG Ở

HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ

1.1 Khái quát về tự nhiên, xã hội huyện Ngọc Lặc

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

a Vị trí địa lí

Ngọc Lặc là huyện miền núi nằm ở giữa khu vực miền tây tỉnh Thanh Hoá Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy, Bá Thước (tỉnh Thanh Hoá); phía Tây Nam giáp huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hoá); phía Nam giáp huyện Thường Xuân (tỉnh Thanh Hoá); phía Đông giáp huyện Thọ Xuân và Yên Định (tỉnh Thanh Hoá) Khi nói về Ngọc Lặc, nhà thơ Tố Hữu viết:

Đẹp sao Tráp Ngọc chốn này Xanh xanh đồi trẩu, đổi thay đồi luồng Cao su thẳng tắp nông trường Trâu đàn, bò mộng trên đường nhởn nhơ [ 5;36]

Như vậy, về mặt vị trí địa lý, Ngọc Lặc là vùng chuyển tiếp giữa khu vực đồng bằng châu thổ và khu vực miền núi của tỉnh Thanh Vì thế, Ngọc Lặc là huyện giàu tiềm năng kinh tế, có vị thế chiến lược hiểm yếu trong bảo vệ biên giới, an ninh quốc phòng của Thanh Hóa và cả nước

b Địa hình và đất đai

Ngọc Lặc có tổng diện tích tự nhiên 48.999 ha Trong đó đất nông nghiệp là 11.527,46ha; đất lâm nghiệp có rừng là 14.753,43ha; đất chuyên dùng là 3.439,46ha; đất ở là 1.072,22ha; đất sông, suối, núi đá chiếm 18.197,22ha Do nằm ở vùng đồi núi phía Tây Thanh Hoá thuộc vị trí giáp liền giữa vùng châu

Trang 12

thổ và miền núi, lại ảnh hưởng bởi dải đồi núi trung lưu sông Mã và sông Chu nên địa hình Ngọc Lặc tương đối phức tạp Vừa có đồng bằng, lại vừa có núi, đặc biệt là núi đá vôi Vùng núi cao chiếm qua nửa diện tích Đây là vùng có nhiều thung lũng thuận lợi cho trồng lúa, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc Đó là nguồn tiềm năng lớn để Ngọc Lặc phát triển các ngành khai thác vật liệu xây dựng, lâm sản, chăn nuôi gia súc và du lịch

c Khí hậu, thời tiết

Ngọc Lặc nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc gió Tây vào khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Về mùa Đông, khí sắc trời đất âm u, chưa đến tiết Tiểu hàn, Đại hàn đã rét Mùa đông lạnh (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), ít mưa, có sương giá, sương muối Bình quân có đến 11–13 ngày sương mù/1năm Mùa hè mưa nhiều nhất vào khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa trên 2.000mm/năm, nhưng do phân bố không đều trong năm nên thường gây ra úng lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô Nhiệt độ trung bình từ 34oC Thời kỳ có gió Tây (gió Lào), tiết trời khô, nóng, nhiều ngày nhiệt độ lên tới 41oC

d Sông ngòi và chế độ thuỷ văn

Ngọc Lặc có ba dòng sông lớn: Sông Âm từ biên giới Lào chảy qua Lang Chánh vào Ngọc Lặc về phía Tây Nam qua các xã Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh đổ ra sông Chu (vùng Lam Sơn, quê hương Lê Lợi) Sông Cầu Chày còn gọi là Ngọc Chày, từ Thạch Lập đến Thuý Sơn, Ngọc Khê, chảy qua trung tâm huyện rối chảy đến các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá rồi nhập vào sông Mã tại xã Định công (Yên Định) Phía Bắc và Đông Bắc huyện là sông Hép chảy qua các xã Ngọc Liên, Lộc Thịnh, Cao Thịnh rồi đổ qua cầu Đa Nẫm thuộc huyện Yên Định Mạng lưới sông ngòi, khe suối dày đặc trên đất Ngọc Lặc đã

Trang 13

tạo thuận lợi để phát triển kinh tế công nông nghiệp, giao thông và thủy điện nhỏ

e Thảm thực vật, hệ động vật và tài nguyên khoáng sản

Do nằm vị trí là gạch nối giữa đồng bằng châu thổ và miền núi nên Ngọc Lặc có thảm thực vật khá phong phú, đa dạng Vùng núi cao có rừng dày, nhiều sản vật quí như lim, lát hoa, luồng Vùng đồi núi thấp thuận lợi cho các loại cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày

Về khoáng sản, trên đất Ngọc Lặc đã phát hiện được mỏ sắt ở làng Sam (xã Cao Ngọc), mỏ quặng cromit tại làng Môn (xã phùng Giáo), mỏ đồng ở Đồng

Trôi (xã Lộc Thịnh), mỏ phốtphorít ở xã Lộc Thịnh, mỏ than ở Nguyệt Ấn;

nguyên liệu sành sứ, thuỷ tinh, khoáng sản vàng phần bố ở nhiều xã v.v…

Như vậy, thiên nhiên đã tạo cho mảnh đất Ngọc Lặc màu mỡ, giàu tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế văn hoá Song, thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn: khí hậu khắc nghiệt, rét hại, úng, lụt, hạn hán Từ trong gian khó đã thử thách, hun đúc nên phẩm chất cao đẹp Đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đã phát huy ưu thế về điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng ở vùng đất bản lề giữa vùng thượng du và đồng bằng có vị thế chiến lược quan trọng về kinh tế, văn hoá, quốc phòng ở tỉnh Thanh Hoá Ngọc Lặc

được mệnh danh là Thành phố miền Tây của Thanh Hoá

1.1.2 Đặc điểm xã hội

a Thành phần và phân bố dân cư

Dân số toàn huyện là 131.688 người Trong đó dân tộc Mường có 90.206

người chiếm 68.5%

Dân tộc Dao: 1.331 người, chiếm 1,01%

Dân tộc Thái: 1.001 người, chiếm 0,76%

Trang 14

Dân tộc kinh: 38.979 người, chiếm 29,6%

Dân tộc khác có 171 người, chiếm 0,13%

Như vậy, ở Ngọc Lặc, người Mường chiếm tỉ lệ cao nhất Qua đây, có thể

khẳng định dù chưa trở thành xứ sở Mường nổi tiếng như ở Hoà Bình (nhất Bi,

nhì Vang, tam Thàng, tứ Động), nhưng trội hơn cả ở Ngọc Lặc vẫn là văn hóa

Mường

Biểu 1.1: Sơ đồ thành phần cư dân

ở huyện Ngọc Lặc

b Một số nét về lịch sử Ngọc Lặc

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, những nhà khảo cổ học người Pháp đã phát hiện tại một số huyện miền núi xứ Thanh như Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Bá Thước, Ngọc Lặc những di chỉ cư trú của cư dân trong thời đại Đá mới thuộc văn hoá Hoà Bình cách ngày nay khoảng 11.000 năm Cũng như các nơi khác, ở Ngọc Lặc, cư dân thời Đá mới cư trú trong các hang động, mái đá, cạnh bờ suối như các hang Mộc Thạch, Lộc Thịnh I, Lộc Thịnh II, mái đá Thạch Sơn.v.v… Phương thức kinh tế chủ yếu là săn bắt, hái lượm và bước đầu đã sơ khai nền kinh tế nông nghiệp Tại các địa điểm khảo cổ cho biết, người Ngọc Lặc thuở đó

đã có tổ chức xã hội sơ khai

DT khác

Trang 15

Vào thời đại văn hoá Đông Sơn, trên đất Ngọc Lặc đã phát hiện được các nhóm đồ đồng Đông Sơn khá phong phú gồm các công cụ, vũ khí và những chiếc trống đồng được phát hiện ở nhiều xã trên địa bàn Ngọc Lặc Di chỉ khảo

cổ xã Mã Nè, di chỉ núi ở xã Nguyệt Ấn là dấu vết của chòm, bản

Thời dựng nước, Ngọc Lặc thuộc đất bộ Cửu Chân - một trong 15 bộ vương quốc Văn Lang của các Vua Hùng Cho đến nay, theo quan điểm của các nhà khoa học thì người Mường cư trú ở đây rất sớm và có cùng nguồn gốc với người Việt và chắc chắn là cư dân bản địa của huyện Ngọc Lặc Người Dao và Người Thái là cư dân di cư một phần từ Tây Bắc xuống, một phần từ Nghệ An lên Đến đầu công nguyên, Ngọc Lặc là miền đất thuộc huyện Đô Lang - Thời thuộc Hán vào năm 210, Ngọc Lặc thuộc huyện Vô Biên Thời Tùy - Đường (518 – 905), Ngọc Lặc thuộc huyện Di Phong rồi huyện Trường Lâm đến tận thời Đinh - Tiền Lê – Lý Thời Trần - Hồ thuộc huyện Ngọc Lặc (tương đương với huyện Ngọc Lặc ngày nay và một phần đất huyện Thọ Xuân phía tả ngạn sông Chu) Thời thuộc Minh, nhập Nga Lặc với Lỗi Giang gọi là huyện Nga Lặc (Ngọc Lặc và Cẩm Thuỷ ngày nay) Thời Hậu Lê – năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Ngọc Lặc thuộc huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên.Thời Nguyễn là phần đất của huyện Thụy Nguyên Năm Thành thái thứ 12 (1990), cắt tổng Ngọc Lặc và các xã người Mường thuộc tổng Yên Trường, Quảng Thi thành lập châu Ngọc trên cơ sở 4 tổng và 17 Mường là Rặc, Lập, Yến, Tạ, Chẹ, Ngòn, Mèn, Vìn, Ưu, Um, Lai, Rường, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Mỹ Lâm, Bằng, phú Yên

Sau cách mạng tháng Tám, bỏ châu đổi thành huyện Ngọc Lặc Ngày

5-7-1977, theo quyết định 177-CP của Hội đồng Chính phủ sáp nhập 2 huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh gọi là huyện Lương Ngọc Ngày 30-8-1982, theo quyết định

Trang 16

số 149-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng chia Lương Ngọc thành huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc và giữ nguyên tên gọi cho đến nay

Hiện nay, Ngọc Lặc có 20 xã và 3 thị trấn (phố Cống - huyện lỵ), thị trấn Nông Trường Lam Sơn, thị trấn Nông trường Sông Âm)

Trên mảnh đất Ngọc Lặc, đồng bào các dân tộc Mường, Dao, Thái, Kinh cùng chung sống đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc và hun đúc những giá trị lịch sử văn hoá giàu bản sắc

c Hệ thống hạ tầng cơ sở và thành tựu kinh tế - xã hội

* Thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá

Là một huyện miền núi giáp liền với vùng châu thổ, Ngọc Lặc hội nhập đầy

đủ các yếu tố hình thành, phát triển một nền kinh tế văn hoá mang tính kết hợp giữa vùng đồng bằng và trung du miền núi Nền kinh tế Ngọc Lặc cơ bản là nền kinh tế nông lâm nghiệp được hình thành phát triển khá sớm, sản xuất nông nghiệp là sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi, làm ruộng nước và nương rẫy Dưới chế độ thực dân phong kiến, sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là khai thác lâm sản Do chiến tranh và sự tàn phá vô thức của con người nên rừng cạn kiệt Trong những thập kỉ gần đây, đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc tiến hành tạo dựng lại vốn rừng Tuy nhiên, các nghề thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, sản xuất mang tính chất tự cập, tự túc

Trong những năm qua, huyện uỷ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân huyện đã tập trung đẩy mạnh chiến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển kinh tế toàn diện.Thu nhập bình quân (tính theo giá hiện tại) là 2,640 triệu đồng/ người/năm; lương thực bình quân đầu người là 285kg/người/năm Tốc độ tăng trưởng GDP tăng từ 9,17/năm (1996-2000) lên 11,66/năm (2001-2003)

* H¹ tÇng c¬ së

Trang 17

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hệ thống giao thông liên thôn, liên xã, liên huyện được nâng cấp và làm mới, đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hoá bằng phương tiện cơ giới

Hệ thống thuỷ lợi được nâng cấp, làm mới hàng chục hồ, đập vừa và nhỏ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu chống úng và chống hạn Hệ thống bưu chính viễn thông, điện nước được đầu tư, phát triển phục vụ đắc lực sản xuất và đời sống

đồng bào trong huyện

d Cơ chế chớnh sỏch kinh tế văn hoỏ, xó hội của địa phương

Để đạt được cỏc thành tựu về kinh tế, văn hoỏ, xó hội như hiện nay, đồng bào của huyện Ngọc Lặc đó khụng ngừng nỗ lực vươn lờn xoỏ đúi giảm nghốo, phỏt triển kinh tế văn hoỏ , xó hội của toàn huyện Cộng với đú là sự hỗ trợ tớch cực của cỏc cấp uỷ chớnh quyền Trung ương và địa phương Trong hơn 15 năm qua, Đảng và chớnh quyền Ngọc Lặc đó ban hành cỏc chớnh sỏch cụ thể sau: Thỏng 5 – 1996, Huyện uỷ ra nghị quyết số 02 chỉ đạo toàn huyện chiến dịch cơ cấu mựa vụ, cõy trồng, vật nuụi; Thực hiện nghị quyết số 07 của Ban thường vụ tỉnh uỷ về khuyến khớch phỏt triển trang trại; triển khai thực hiện nghị định 77 của Chớnh phủ về bảo vệ rừng, huyện đó mở hàng trăm lớp tập huấn bảo vệ rừng cho nhõn dõn.v.v…

1.2 Khỏi quỏt về người Mường ở Ngọc Lặc

Trước hết, phải khẳng định người Mường ở Ngọc Lặc là một bộ phận của người Mường Việt Nam Vỡ vậy, người Mường ở đõy vẫn mang trong mỡnh bản sắc chung của văn hoỏ Mường :

“Cơm nếp, cơm chăm, trờn nương, trờn nà

Cỏ nhỏ cỏ to, trong ao, dưới suối

Săn đuổi trong rừng được thỳ , được chim

Trang 18

Đi hái, đi tìm, được rau, được quả

Hay:

Củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong

Cơm đồ, ,nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tớ [8; 56 ]

Tuy nhiên khi đi sâu tìm hiểu kĩ, ta vẫn nhận ra sắc thái địa phương, rất xứ Thanh và bắt đầu đậm chất nắng gió của miền Trung khắc nghiệt

1.2.1 Nguồn gốc, dân số, phân bố dân cư

b.Nguồn gốc lịch sử

Ở Việt Nam hiện nay, quan điểm người Mường có nguồn gốc bản địa và chung nguồn gốc với người Việt vẫn được duy trì, ủng hộ Đại bộ phận các nhà khoa học đều thống nhất người Mường là bộ phận cư dân bản địa mà tổ tiên trực tiếp của họ là người Lạc Việt, một trong các chủ nhân của văn hoá Đông Sơn của văn minh sông Hồng nổi tiếng Có ý kiến chủ trương họ là những cư dân bản địa,

có người lại cho rằng họ thiên di từ Hoà Bình vào

Người Mường ở Ngọc Lặc Thanh Hoá tự gọi mình là Moi Bi (mà theo tên

tự gọi thì người Mường tự xưng Mon, Mol hoặc Muan v.v… có nghĩa là người) Với tên gọi Mọi Bi thì bộ phận người Mường ở Ngọc Lặc rõ ràng là từ vùng

Mường Bi của Hà Sơn Bình di cư vào

Lê Sỹ Giáo cho rằng: qua các tư liệu điền dã của các năm 1976, 1977 thì

một bộ phận đáng kể của người Mường là từ Hoà Bình vào, còn một số khác là những bộ phận người Việt, người Thái bị Mường hóa [12;58] Tuy nhiên, phần

lớn những người Mường hiện tại đều muốn xem mình là người dân bản địa

Trong kỉ yếu đẻ đất đẻ nước của tỉnh Thanh Hoá xuất bản năm 1974, đã chủ

trương rằng: người Mường là cư dân vốn hình thành tại chỗ

Trang 19

Như vậy, hiện nay ý kiến về nguồn gốc của người Mường ở Thanh Hoá nói chung và ở huyện Ngọc Lặc nói riêng chưa hoàn toàn thống nhất Bản thân tôi chưa đủ khả năng và kiến thức để có dịp tìm hiểu vấn đề này Tuy nhiên, theo phỏng đoán của tôi thì người Mường ở Ngọc Lặc có nguồn gốc bản địa

b Dân số và phân bố dân cư

Theo số liệu thống kê của phòng thống kê huyện Ngọc Lặc ngày 31/12/2002, người Mường ở Ngọc Lặc chiếm hơn 25% tổng số người Mường toàn tỉnh và khoảng 1/12 tổng số người Mường toàn quốc

Người Mường ở Ngọc Lặc có mặt toàn huyện, Tuy nhiên sống tập trung thành mường chủ yếu bao gồm các Mường sau:

Bảng 1.2: Các mường truyền thống ở Ngọc Lặc

1 Mường Rặc Quang Trung, Ngọc Liên

2 Mường Cao Quang Trung, Ngọc Liên

3 Mường Men Minh Sơn

4 Mường Vìn Kiên Thọ

5 Mường Ứn Nguyệt Ấn, Phúc Thịnh

6 Mường Um Phùng Giáo, Vân Am

7 Mường Vực Lồi Ngọc Trung

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Ngọc Lặc)

1.2.2 Tập quán mưu sinh

a) Trồng trọt

Cũng giống như hầu hết các dân tộc sinh sống ở Tây bắc, trồng trọt là hoạt động kinh tế chủ đạo đảm bảo đời sống của nhân dân xưa kia Tuy nhiên, do điều

Trang 20

kiện tự nhiên ưu đãi cũng như sự chủ động của đồng bào nên việc trồng trọt ở đây tương đối thuận lợi và đạt năng suất cao

Đầu tiên phải kể đến là nghề nông trồng lúa nước Loại hình sản xuất trên được tiến hành ở những nơi có địa bàn bằng phẳng, gần sông ngòi Đó là mảng đồng bằng thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven các đồi gò thấp Người Mường ở Ngọc Lặc rất coi trọng cây lúa nếp vì trong bữa ăn truyền thống thì lúa nếp là cây lương thực chủ đạo Ngoài những thửa ruộng nước ở đồng bằng, đồng bào đa phần làm ruộng bậc thang tận dụng đất ở sườn, chân đồi gò Loại ruộng này thường hẹp về chiều rộng nhưng lại dài như những cánh cung lượn quanh các đồi gò Do ruộng bậc thang làm trên cao, việc tưới tiêu gặp nhiều khó khăn nên người Mường nơi đây đã đào mương, đắp máng, làm guồng xe nước, lợi dụng các dòng chảy của con sông, suối, ngòi để đưa nước lên cao

Bên cạnh thửa ruộng nước, người Mường Ngọc Lặc đã đốt nương làm rẫy trồng các loại cây hoa màu và cây lương thực Việc trồng trọt trên nương tương đối đơn giản nhưng đòi hỏi rất nhiều công sức Trong làm nương rẫy, người Mường ở Ngọc Lặc rất hạn chế để cháy rừng tràn lan Điều này bắt nguồn từ

quan niệm vạn vật hữu linh Từ quan niệm này mà dẫn đến trong lao động sản

xuất nói chung của người Mường cũng như người Mường ở Ngọc Lặc nói riêng

có nhiều tục lệ, nghi lễ nông nghiệp như : lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới, đóng cửa rừng, mở của rừng ,… kèm theo kiêng kị mang tính chất linh thiêng

b) Chăn nuôi

Những đàn gia súc, gia cầm thường được đồng bào nuôi thành bầy đàn thả rông trong rừng Người Mường ở Ngọc Lặc chủ yếu nuôi trâu, bò Ngoài việc cung cấp sức kéo thì trâu bò là nguồn thực phẩm trong những ngày trọng đại của

Trang 21

gia đình và cộng đồng So với các dân tộc khác ở huyện Ngọc Lặc, người Mường được đánh giá là một trong những tộc người có tài về chăn nuôi, đặc biệt

là nuôi lợn Họ buộc trâu bò dưới gầm sàn và làm chuồng trại riêng cho gia cầm Người Mường Ngọc Lặc biết tận dụng ao hồ sông ngòi để nuôi thả cá

c) Thủ công gia đình

Người Mường Ngọc Lặc rất khéo tay Trong các nghề thủ công, đan lát là nghề phổ biến nhất Họ đan lát các vật dụng gia đình từ các nguyên liệu tự nhiên như tre, nứa, giang, mây Ngoài ra còn có nghề dệt vải Công việc này chủ yếu

do nữ giới đảm nhận Bên cạnh đó, hầu hết các bản làng nào của người Mường cũng có đội thợ mộc riêng của mình để phục vụ trong việc xây dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho lễ tang.v.v…

d) Khai thác nguồn lợi tự nhiên

Săn bắt, hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống thường ngày của người Mường Ngọc Lặc Nguồn rau rừng như rau tàu bay, rau rớn, rau

vị, đắng củ, măng giang, măng nứa,… được khai thác một cách hợp lý để cung cấp lâu dài Các loại cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn,… chỉ được người Mường khai thác vào những năm đói kém mất mùa Việc khai thác này chỉ làm sau khi hoàn tất các công việc và mang tính chất tranh thủ lúc làm các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn Hoạt động săn bắn chim thú nhằm bổ sung cho bữa ăn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của đàn ông Mường

e) Trao đổi mua bán

Dù là một dân tộc có trình độ phát triển tương đối cao so với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nhưng việc trao đổi của người Mường vẫn mang nhiều nét của nền kinh tế tự cấp tự túc Những sản phẩm của người Mường làm ra từ các

Trang 22

hoạt động kinh tế chủ yếu chỉ để dùng trong gia đình Nếu hoạt động trao đổi mua bán diễn ra thì chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp với những hình thức đơn giản Chợ đối với người Mường Ngọc Lặc có vai trò nhất định Bởi lẽ, đó là nơi gặp gỡ và để người Mường đem bán những đặc sản của mình, đồng thời là nơi

sổ, và cả thanh chắn cửa sổ đều là số lẻ Vì đồng bào coi số lẻ là số phát triển Khuôn viên của gia đình thường nối lên bởi hàng cau, hàng mít

b) Trang phục

Trang phục nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, có 2 túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh phủ kín mông Quần lá toạ ống rộng Trong lễ hội, dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác áo choàng đen dài tới gót, cái cúc sườn phải

Trang phục nữ gồm: Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn) Nhóm Mường Thanh Hoá nói chung và Ngọc Lặc có cách mặc phân biệt với các nhóm Mường khác là: có loại do ngắn chui đầu, gấu lượn khi mặc cho vào trong cạp váy vào cao lên đến ngực Váy của người Mường là loại váy kín màu đen Bộ phận của váy được trang trí là đầu váy và cạp váy khi mặc mảng hoa văn nối lên giữa trung tâm cơ thể Trong các dịp lễ, tết, họ mặc áo dài xẻ ngực, thường

Trang 23

không cài, ngoài khoác bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng, vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong

Cơm nếp, cơm chăm, trên nương, trên nà

Cá nhỏ, cá to, trong ao, dưới suối Săn đuổi trong rừng được thú được chim

Đi hái, đi tìm,được rau, được quả [ 8;57 ]

Người Mường ở Ngọc Lặc cũng mang những nét ăn uống như vậy Cổ truyền, người Mường ăn cơm nếp đồ (cơm đếp), cơm tẻ đồ (cơm tưởi) và các loại củ Ngoài đồ ăn dân dã, các loại thức ăn truyền thống được chế biến cầu kì bao gồm: giò lụa (gio lụa), giò đầu (giò trốc), giò chân (giò bỏi), chả nạc, rác mọc, Để cất trữ thực phẩm, người Mường thường ủ chua, như các món ăn thịt chua, cà chua, măng chua Trong ăn uống, người Mường có một số kiêng kị như: kiêng kị dòng họ, kiêng kị mang thai và kiêng kị ốm đau

d) Phương tiện vận chuyển

Xưa kia, hầu hết các tộc người nơi đây đều đi bộ là chính Chỉ ở vùng ven sông thì mới dùng thuyền để đi lại, vận chuyển Hàng ngày, khi cần vận chuyển

đồ đạc, hàng hoá thì thường gánh bằng đôi bang, đeo sọt trên vai, trên trán Nước sạch được chứa trong ống bương to, dài hơn một mét vác vai từ bến nước về đựng dùng dần

Trang 24

1.2.4 Xã hội truyền thống

a) Bản làng

Hình thái tụ cư của người Mường ở Ngọc Lặc là mật tập Đơn vị cư trú là

bản Bản của người Mường thường được lập ở chân núi, đồi, quanh các thung

lũng và cánh đồng Bản của người Mường nơi đây không lớn, gần nguồn nước,

nơi có cây si hoặc cây đa Vì theo quan niệm của họ, đó là nơi trú ngụ của thần

trông coi bản Mường họ Giữa các nóc nhà trong bản ít có rào giậu ngăn cách

các bản đều có khu nghĩa địa riêng, thuộc phần đất đai của bản mình Người

Mường nơi đây giống như người Mường nơi khác gọi bản mình là quel

b) Dòng họ

Như chúng ta đã biết, trong xã hội Mường truyền thống có 4 dòng họ lớn, là

những họ gốc của người Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà Còn họ dân thường

phổ biến là họ Bùi Vì thế đa số cư dân Mường ở Ngọc Lặc phần lớn mang họ

Bùi Hệ thống dòng họ đến nay chỉ giới hạn trong phạm vi 4 đời Bên nội được

gọi là Tả giạ, bên ngoại gọi là cu mộng

c) Hôn nhân và gia đình

Gia đình của người Mường là gia đình nhỏ phụ quyền Người cha có quyền

quyết định mọi công việc quan trọng trong gia đình Quyền thừa kế chỉ dành cho

con trai trong đó con trưởng được phần nhiều hơn Trước kia, hôn nhân người

Mường mang tính chất mua bán, quyền quyết định hôn nhân là do bố mẹ Nghi

lễ cưới xin của người Mường ở Ngọc Lặc cũng gần giống với người Kinh Để

dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ăn hỏi (kháo thiếng), lễ bỏ trầu (ti nom

bánh), lễ xin cưới (nòm khẩu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (đi du)

Trang 25

d) Tập tục sinh đẻ và nuôi dạy con cái

Người Mường ở Ngọc Lặc , khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều thứ: làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nha Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà sau Cuống rốn của các con trong gia đình được dựng chung trong một ống nứa, như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo đến trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con

e) Nghi thức ma chay

Khi người chết tắt thở, người con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ Sau đó, gia đình nổi chiêng phát tang, thi hài người chết được nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ vải Trong tang lễ của người Mường Thanh Hoá nói chung và người Mường ở Ngọc Lặc nói riêng, vải thô trắng được

sử dụng rất nhiều Người Mường nơi đây quan niệm vải dùng trong tang lễ là vải trắng do chính người phụ nữ trong gia đình tự dệt mới là hiếu để Nếu đi mua vải thì sẽ bị người ngoài chê cười Đám tang bao giờ cũng do thầy mo chủ trì Trong đám tang bên cạnh sự đau thương người Mường có các hình thức sinh hoạt mang dáng dấp của sinh hoạt văn nghệ Có lẽ đây là một cách làm xoa dịu nỗi đau Trong tang lễ, bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn thấy ở người Việt thì riêng con dâu, cháu dâu chịu tang còn có bộ tang phục riêng gọi là

bộ quạt ma và hình thức múa quạt ma xuất phát từ đây

Trang 26

1.2.5 Đặc điểm văn hoá tinh thần

a) Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ của người Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Ngôn Ngữ người Mường rất phát triển không chỉ ở hình thức ngôn ngữ sinh hoạt mà cả

ở loại hình ngôn ngữ văn học nghệ thuật Từ ngôn ngữ sinh hoạt thường ngày,

người Mường đã nâng tầm ngôn ngữ trở thành các tác phẩm như: Đang vần Va,

Út Lót Hồ Liêu, Đẻ đất đẻ nước , Tuy nhiên, người Mường đáng tiếc lại không

có chữ viết riêng của mình

b) Tín ngưỡng, tôn giáo

Giống như hầu hết các tộc người thiểu số ở Việt Nam, người Mường ở

Ngọc Lặc nổi lên với quan niệm vạn vật hữu linh Họ luôn tin vào sức sống của

các vật xung quanh mình Họ không coi đó là những vật vô tri vô giác mà luôn tin rằng chúng cũng có linh hồn, biết suy nghĩ và có đời sống giống như con người vậy Do vậy, họ thực hiện rất nhiều các nghi lễ để cầu mong sự phù hộ độ trì của các đấng thần linh, sinh linh cho mùa màng tốt tươi, người an vật thịnh, loại trừ các vật làm hại mình

Người mường quan niệm thế giới có 3 tầng Trong cuốn vũ trụ luận Mường

qua đám tang, tác giả Trần Từ đã có cái nhìn khá sâu sắc về thế giới quan của người Mường Đó là vũ trụ 3 tầng, 4 thế giới được phân theo trục dọc

Tầng trên cao là Mường blơi hay khơi đều có nghĩa là Mường trời Theo

quan niệm dân gian của người Mường thì Mường trời do ông vua trời cai quản

và cũng được chia ra thành nhiều người giúp việc cho vua trời Mỗi vị có một

chức năng riêng Tầng giữa là Mương Pưa,có nghĩa là mường bằng phẳng Đó là cuộc sống thực nơi trần gian Tầng thấp nhất là tầng dưới Mường Pưa Đó là tầng gồm 2 thế giới: thế giới dưới đất và thế giới dưới nước Thế giới dưới mặt

Trang 27

đất có tên là Mường Pựa Tịn tức là Mường Bằng dưới Đó là thế giới của những

người tí hon, lấy đất làm thức ăn Đấy là hình ảnh của trần gian nhưng mọi thứ đều có qui mô nhỏ hơn Đặc biệt là giữa Mường Bằng (trần gian) và Mường

Bằng dưới có thể đi lại với nhau qua một cái rôông (lỗ đất), thậm chí còn quan

hệ hôn nhân với nhau Về sau quan hệ hôn nhân đó bị cắt đi vì không hợp nhau

và cái rôông đó bị lấp kín Còn thế giới dưới nước Mương Bua Khụ là Mường

của ma thuồng luồng ngự trị

Ngoài quan niệm ba tầng,bốn thế giới của vũ trụ luận, người Mường còn

cho rằng con người có 40 vía bên phải, 50 vía bên trái Như vậy, tổng cộng một người có 90 vía Các vía đó sẽ chuyên trách từng bộ phận của cơ thể Theo khảo sát thì hệ thống tín ngưỡng dân gian Mường gồm 29 nghi lễ khác nhau như: lễ

ma nhà, lễ ma làng, lễ vía lúa, lễ đầu năm …

Người Mường thờ cúng bản mường, tổ tiên Đạo phật có ảnh hưởng ít nhiều Kitô giáo không có chỗ đứng trong niềm tin của người Mường Các họ lang thường có tục kiêng kị, không giết, ăn một số loài cây, con nhất định Đấy chính là biểu hiện của tín ngưỡng Tôtem Tuy nhiên, so với người Mường ở các nơi khác thì người Mường Ngọc Lặc không phổ biến tín ngưỡng Tôtem Bởi lẽ,

họ lang trong cộng đồng Mường nơi đây không nhiều

d) Lễ hội

Người Mường ở khắp nơi trên sứ sở Mường đều thích múa hát và lễ hội Người Mường Ngọc Lặc không phải là ngoại lệ Tuy nhiên, cần khẳng định một điều là: do tôn giáo tín ngưỡng ở vùng này còn khá đơn giản Hầu hết chỉ là các loại hình tôn giáo sơ khai của quan niệm vạn vật hữu linh, cho nên các sinh hoạt

lễ hội cũng đơn giản, không phong phú như các vùng khác Mặt nữa, với loại hình kinh tế nông nghiệp trồng trọt mà phương thức canh tác ruộng nước là chủ

Trang 28

đạo, hầu hết cỏc nghi thức, nghi lễ và nội dung lễ hội ở đõy đều mang ý nghĩa cầu mựa Những nghi thức cầu mựa đú đều được thể hiện một cỏch sinh động bởi tớn ngưỡng phồn thực Chớnh vỡ thế, thời điểm lễ hội diễn ra phải phự hợp với lịch tiết sản xuất lễ hội của người Mường cú thể kể ra gồm: Tết nguyờn đỏn, lễ

hội sắc bựa –Xộc bựa, lễ xuống đồng – khuụng mựa, lễ hội tạ ơn tổ, lễ hội ăn

cơm mới

e) Tri thức dõn gian

Người Mường ở Ngọc Lặc cú vốn tri thức dõn gian khỏ phong phỳ về lịch phỏp, về trồng trọt, chăn nuụi, cõy thuốc nam, chữa bệnh bằng bựa chỳ … Hầu hết những tri thưc dõn gian nay phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống người dõn Như vậy, cũng như cỏc dõn tộc thiểu sú khỏc, trong đời sống của người Mường tồn tại song song hai loại hỡnh tri thức là tri thức hiện đại và tri thức dõn gian Người dõn Mường thụng qua tri thức dõn gian đó tạo lập được cung cỏch ứng xử, hài hoà với tự nhiờn và với đồng loại

1.3 Văn nghệ dõn gian Mường

Văn nghệ dân gian Mường khá đa dạng và phong phú Đó là những sáng tạo độc đáo, có giá trị của cộng đồng Mường trong lịch sử phát triển của mình

Đó là những sản phẩm thuộc kiến trúc thượng tầng, là minh chứng cho trình độ phát triển kinh tế – xã hội của người Mường Qua các sáng tạo văn nghệ dân gian, chúng ta khám phá được thế giới tâm hồn, đời sống tâm linh, khát vọng sống, ước mơ, lí tưởng thẩm mĩ của cộng đồng Mường Đó là kho tàng quí báu của người Mường Nó đã góp vào nền văn nghệ dân gian Việt nam và thế giới những nét đặc sắc, giàu tính nhân văn và có giá trị về lịch sử

Nằm trong tổng thể chung văn nghệ dân Mường, văn nghệ dân gian Mường ở Ngọc Lặc có nhiều nét tương đồng Chúng đều là sản phẩm lao động trí

Trang 29

óc phản ánh tồn tại xã hội Mường trong lịch sử; là cái nôi nuôi dưỡng, gắn bó với bao thế hệ người Mường Tuy vậy, do ảnh hưởng của đặc thù môi trường địa lí, yếu tố lịch sử nên văn nghệ dân gian Mường ở Ngọc Lặc có những đặc thù thú vị

1.3.1 Nghệ thuật tạo hình, trang trí dân gian

Nhắc tới người Mường ta nghĩ ngay tới cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn

thui Câu thành ngữ đó cho thấy nhà sàn là một trong những biểu trưng văn hóa

tộc người, nó thể hiện đặc thù trong lối kiến trúc, tạo hình, trang trí dân gian Nhà sàn không chỉ mang giá trị sử dụng làm nơi che mưa nắng, ngăn thú dữ, cất trữ lương thực mà nó đích thực là những sáng tạo nghệ thuật Những nếp nhà sàn, nhỏ nhắn, xinh xắn, hài hoà với núi rừng, thiên nhiên là thành qủa của các thế hệ Mường Trong việc xây dựng nhà sàn thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của những người Mường trong lịch sử Đó là lí tưởng hài hoà và cân đối Những mái nhà sàn của người Mường như tâm hồn thuần hậu của họ Từ những nguyên liệu sẵn có của tụ nhiên, họ làm nên những mái nhà sàn thể hiện tư tưởng thẩm mĩ riêng Những mô típ hoa văn trang trí trong nhà, trên bàn thờ của nhà sàn đều rất tinh tế, vui tươi, mộc mạc Ngoài ra các công trình kiến trúc tín ngưỡng của người Mường cũng có giá trị với các mô típ tang trí như : tượng đá hình đầu người, đầu thú, tượng thành hoàng, bà chúa, tiên cô Chúng đều được những bàn tay của người dan Mường tạc hoặc vẽ theo lối thủ công

Tuy nhiên, đặc sắc và có giá trị hơn cả trong nghệ thuật tạo hình dân gian Mường phải kể đến tạo hình trên trang phục Đặc biệt trên cạp váy Mường Điều này đã được nhà dân tộc học Từ Chi dày công tìm hiểu, khám phá và đưa ra cụm

từ hoa văn cạp váy Mường Những người say mê tìm hiểu văn hoá dân gian

Mường đều rất quen thuộc với cụm từ nói trên, nó dường như đã trở thành thuật ngữ khoa học của giới nghiên cứu văn hoá dân tộc Hoa văn cạp váy Mường không đơn thuần chỉ là những môtíp hao văn trang trí thông thường mà nó ẩn

Trang 30

chứa những giá trị lịch sử thú vị và qúi giá về mối quan hệ Việt - Mường Các mô típ hoa văn trên cạp váy Mường có nhiều nét tương đồng với những môtíp hoa văn trên trống đồng Nó trở thành tài liệu minh chứng cho mối quan hệ của người Việt và người Mường Cạp váy Mường được dệt bằng chất liệu tơ tằm, nhuộm nhiều màu sắc khác nhau Nó thể hiện tài năng, phẩm chất, tâm hồn của người phụ nữ Mường, tôn vẻ đẹp cho phụ nữ Mường, làm nên đặc trưng văn hoá cho người Mường

Ngoài ra, người Mường còn được biết đến với bộ trang phục tế quạt ma

Đó là trang phục nghi lễ dành cho các cô con dâu, cháu dâu trong tang ma Trang phục này được mặc khi các con dâu và cháu dâu cầm quạt để quat mát cho linh hồn người chết Bộ trang phục này khá đơn giản, không có tính nghệ thuật trong tạo hình trang phục mà lại có các dải tua rua khá cầu kì diêm dúa trên mũ đội Vì

vậy, người Mường có câu: diện như nàng dâu đi quạt ma

1.3.2 Âm nhạc dân gian

Âm nhạc dân gian của ngươi Mường khá đặc sắc, phong phú, có giá trị.Theo

số liệu thống kê về âm nhạc dân gian Muờng đến cuối năm 1965 đã sưu tầm

được1443 bài dân ca các loại gồm 32975 câu, 12 bài nhạc cồng, 5 bài nhạc sáo

ôi, 3 bài kèn, 4 bài nhị sáo, 1 bài độc tấu đàn tam, 19 điệu nhạc dân ca Đến nay,

số lượng thống kê đó chắc hẳn đã tăng lên Qua đó, chúng ta thấy được những giá trị của âm nhạc dân gian Mường đóng góp cho văn nghệ dân gian Việt Nam, cũng như thấy được tài năng âm nhạc của người Mường Người Mường ở Ngọc Lặc cũng vậy, họ có vốn âm nhạc phong phú thể hiện ở số lượng bài dân ca, thể loại, hệ thống nhạc cụ

Trước hết là về hệ thống nhạc cụ Người Mường là chủ nhân của trống đồng Môi trường sử dụng của trống đồng là tang lễ, đám cưới, sinh hoạt ca múa của cộng đồng Trống đồng không chỉ là nhạc cụ đơn thuần mà nó là vật thiêng của

Trang 31

người Mường Vì vậy, âm nhạc của trống đồng là âm nhạc có tính chất thiêng liêng, trầm hùng và luôn được người Mường gìn giữ và trân trọng Ngày nay, những âm thanh trầm hùng không còn phổ biến trong đời sống của cộng đồng Mường bởi sinh hoạt văn hoá của người Mường đã đổi thay khác trước rất nhiều

và trống đồng không còn nhiều để sử dụng làm nhạc cụ

Phổ biến hơn trống đồng là cồng chiêng Từ xa xưa, âm thanh cồng chiêng

đã trở thành món ăn tinh thần quen thuộc trong sinh hoạt của người Mường Cồng chiêng có môi trường diễn xướng đa dạng và nổi bật là được sử dụng trong

lễ hội xéc bùa Vì vậy mà xéc bùa trong tiếng Mường nghĩa là xách cồng Với

mụch đích khác nhau thì việc bố trí só lượng khác nhau, cách đánh khác nhau

Có lúc cồng chiêng được sử dụng đơn, lúc lại được tổ chức thành dàn với nhiều

bộ chiêng và cồng từ nhỏ đến lớn Tuỳ theo hoàn cảnh vui hay buồn mà âm thanh của cồng chiêng cũng thay đổi cho phù hợp Cồng chiêng được sử dụng trong

đám ma khác hẳn với đám cưới, lễ hội về tính chất âm thanh, số lượng cồng chiêng với độ dài ngắn của bản hoà tấu khác nhau Ngoài ra, người Mường còn

sử dụng nhiều loại nhac cụ khác nhau như: sáo, nhị, chũm choẹ, trống, kèn, sinh

la với môi trường diễn xướng khác nhau

Kèm theo sự phong phú của nhạc cụ là sự đa dạng của các làn điệu dân ca Người Mường có nhiều loại hình dân ca đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao Mỗi hoàn cảnh đều có những làn điệu phù hợp với tâm trạng, tình cảm Dân ca sinh hoạt của người Mường nổi tiếng với những làn điệu: hát ru, hát thường đang, hát giao duyên, hát đúm, hát bộ mẹng, hát xéc bùa Những làn điệu dân ca này gắn

bó với cộng đồng Ai là người Mường cũng đều say mê những làn điệu dân ca này Bởi lẽ qua những khúc hát trên đều tìm thấy những tâm sự của chính bản thân mình Điều này xuất phát từ sự đặc sắc trong nội dung và hấp dẫn của nghệ

Trang 32

thuật Và quan trọng hơn, chúng là sản phẩm văn hoá của người Mường nên hoàn toàn phù hợp với tâm lí tiếp nhận của người Mường

Xéc bùa là loại dân ca gắn liền với sinh hoạt cồng chiêng Xéc bùa theo nghĩa

đen nghĩa là xách cồng( chiêng) Cứ hát xong một bài lại đánh một bài nhạc

cồng theo những giai điệu phong phú Xéc bùa thường được hát trong những dịp

tết nhất, vui chơi, hội hè, cưới xin với nội dung chúc mừng ca ngợi Hàng năm, vào dịp tết, mường nào cũng có phường bùa đi hát chúc từ nhà này sang nhà khác rất đông đảo và thú vị

Người Mường hát thường đang Thường nghĩa là thương, đang nghĩa là ca

Nội dung của các bài hát thường là ca ngợi công việc làm ăn, phản ánh những phần nào phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc ( thường mừng mùa, thường mời rượu, thường đám cưới, thường cô dâu chú rể, thường mừng nhà mới) Thường có lúc hát tập thể, có lúc hát riêng, có lúc lại hát đối đáp Môi trường diễn xướng đa dạng: trong bữa rượu, bên bếp lửa,trong cuộc họp, trong hội hè Tóm lại nơi nào vui là nơi đó có thường , người ta không dùng thường trong trường hợp có chuyện buồn Thậm chí ngày xưa, khi lang cun chết người ta không được hát thường trong một thời gian nhất định Đang có tính chất cơ bản giống thường, ở một số

địa phương vẫn gọi đang là thường Chúng được sử dụng như một cặp đôi

Người Mường còn có hình thức hát bộ mẹng, nghĩa đen là nói miệng Đây

là hình thức hát trao đổi tâm tình giữa nam và nữ Môi trường diễn xướng của bộ mẹng tương đối phong phú: trong đám cuới, trong phiên chợ, ven đường,… với hình thức hát đối đáp tâm tình giữa nam và nữ Nội dung chính của bộ mẹng là diễn tả tâm sự của nam nữ thanh niên trong tình yêu Vì vậy, đây là loại hát phong phú, súc tích nhất Từ bước đầu thăm hỏi, mời chào, đắn đo, tỏ tình, nhớ nhung, trách móc, giận hờn Trong bộ mẹng có đủ các cung bậc tình cảm trong tình yêu Bộ mẹng là tiếng nói của cõi lòng có sức truyền cảm, tác động sâu sắc

Trang 33

và mạnh mẽ Có lúc bộ mẹng là tiếng nói phản kháng trước những hủ tục hà khắc, tập quán lạc hậu và sự cai trị ác độc của tầng lớp lang đạo trong xã hội cũ

Một điểm độc đáo trong dân ca Mường là người Mường cũng hát ví như người Việt Nội dung của các bài hát ví cũng là tình yêu nhưng mức độ thể hiện

và nội dung thể hiện chưa đạt tới độ sâu xa, phong phú như thường, đang, bộ mẹng Ngoài nội dung về tình yêu, hát ví còn phản ánh các vấn đề của xã hội Hiện nay, đang có nhiều ý kiến bàn về nguồn gốc của hát ví của người Mường

Có những ý kiến cho rằng hát ví đã tồn tại lâu đời trong đời sống sinh hoạt văn hoá của người Mường, nhưng có số lại cho rằng hát ví của người Mường là hát ví của người Kinh được đưa lên Sở dĩ khẳng định như vậy vì trong hát ví có nhiều bài tuy phản ánh về nội dung cuộc sống, tâm trạng, thế giới tâm hồn của người Mường nhưng lại giữ nguyên thể thơ lục bát

Ngoài những loại dân ca chính kể trên, người Mường còn có nhiều loại hát khác như : ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố Nó cũng nằm trong đặc trưng chung của dân ca Việt Nam Tuy nhiên nó mang hơi thở, suy nghĩ, trăn trở, ước mơ, khát vọng của người Mường Những gì được phản ánh đều đậm chất Mường: không gian văn hoá Mường, tính cách Mường, đặc trưng văn hoá Mường Nội dung chính của các bài hát trên mang tính chất giả trí, mua vui, phản ánh phần nào thế giới tâm hồn, tri thức dân gian về tự nhiên xã hội Mường Có nhiều loại hát dùng cho người lớn, có nhiều loại hát dàng riêng cho trẻ con, có những loại thì dùng chung cho người lớn lẫn trẻ con Những bài hát kể trên càng hát càng thấm thía về ý nghĩa sâu xa được gửi gắm trong đó Đáng chú ý là thể loại hát ru

em Ngoài ý nghĩa chính dùng để ru cho trẻ con ngủ, người Mường còn gửi gắm những nổi niềm tâm sự sâu kín về tình yêu, về bất công xã hội, về bất bình đẳng trong quan hệ gia đình

Trang 34

Trên đây là những làn điệu dân ca được dùng trong sinh hoạt hàng ngày của người Mường Bên cạnh dân ca sinh hoạt, người Mường còn có dân ca nghi

lễ Những bài dân ca được xếp trong thể loại này gồm những bài dân ca tương đối dài hơi, có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, được dùng trong các nghi lễ đậm chất tôn giáo, tín ngưỡng của người Mường Qua các bài dân ca nghi lễ chúng ta sẽ hiểu được thế giới tâm linh của người Mường Bất cứ tộc người nào cũng vậy, thế giới tâm linh luôn là điều bí ẩn, thu hút sự tìm hiểu, khám phá của con người Tuy nhiên, nó vẫn luôn thực sự là cõi lòng sâu kín Qua dân ca nghi lễ, chúng ta

sẽ thực sự hiểu được phần nào đó thế giới tâm linh của người Mường Đó thực sự

là những bài lễ ca đậm chất Mường và có giá trị lịch sử, văn hoá Khác với dân ca sinh hoạt, dân ca nghi lễ có nội dung trừu tượng, dài hơi, khó nhớ và bị giới hạn môi trường diễn xướng, nghệ nhân diễn xướng Dân ca nghi lễ của người Mường gồm có hát mỡi và hát mo

Mo là những bài dân ca mang tính chất tôn giáo có thể dùng để tống tiễn linh hồn người chết trong tang ma của người Mường hoặc dùng trong một số nghi

lễ cầu cúng khác của người Mường Người am hiểu sâu sắc, có khả năng diễn xướng thành thạo thể loại hát mo là thầy mo Mường Thầy mo là người có một quá trình học mo kì công và lâu dài nên có khả năng diễn xướng mo một cách linh hoạt, chuyên nghiệp Hình thức hát mo có nhiều yếu tố mê tín dị đoan trong nội dung cũng như hình thức diễn xướng Yếu tố saman giáo làm nổi bật tính chất tâm linh của mo Hiện nay, các nghiên công trình nghiên cứu đã chỉ ra được tính chất và giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của dân ca nghi lễ Có một thời gian dài, người ta đánh đồng dân ca nghi lễ với mê tín dị đoan, hủ tục cần phải

được tiêu hủy và bài xích Tuy nhiên, khi đi sâu vào khám phá, nghiên cứu kĩ về dân ca nghi lễ nói chung và mo Mường, người ta đã hiểu ra được nhiều giá trị đặc sắc về âm nhạc, văn học, diễn xướng, lịch sử, phong tục tập quán, tri thức dân

Trang 35

gian.v.v…Bởi lẽ, mo là sáng tạo nghệ thuật được hình thành và phát triển trong giai đoạn lịch sử xa xưa Lúc đó, các sáng tạo nghệ thuật được hình thành với tính chất cơ bản là nguyên hợp trong nhận thức và sáng tạo Vì vậy, trong mo có thể nhận diện được nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, chúng cùng tồn tại hài hoà, chặt chẽ trong một chỉnh thể thống nhất

Mo là thể loại vừa thuộc dân ca, vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học tương đối dài hơi Có những bài mo là những câu chuyện kể hàng vài đêm mới hết, dài hàng nghìn câu Nội dung của các bài mo phản ánh quá trình xây dựng đất nước bản mường, lí giải các hiện tượng tự nhiên, lịch sư ra đời và phát triển loài người; có những bài giới thiệu cảnh quan thiên nhiên giàu đẹp; có những bài là lời nhắn nhủ, khuyên răn người ở lại cư xử cho đúng đạo lí làm người Nội dung của bài mo mang nhiều yếu tố nhân đạo, giàu tính nhân văn Vì vậy, dù chỉ là bài dân ca cúng lễ nhưng khi thầy mo mo thì nhân dân kéo tới nghe rất đông và say sưa chìm đắm với thời gian, không gian của quá khứ của người Mường Yếu tố tâm linh và yếu tố nghệ thuật ; yếu tố hiện thực và yếu tố huyền

ảo đan cài vào nhau làm nên tính chất hấp dẫn của mo mà những ai chưa từng nghe mo không thể hiểu, cảm nhận và lí giải được vì sao mo có sức sống mạnh

Tuy là loại hát nghi lễ nhưng có lúc chúng vẫn được tách ra thành những

đoạn nhỏ có ý nghĩa nhất định dùng trong sinh hoạt hàng ngày Việc hát những

Trang 36

trích đoạn trên với mụch đích tâm tình, khuyên răn hay giải bày tâm sự của cá nhân người hát Khi tách ra thành những đoạn riêng biệt khỏi chỉnh thể nguyên bản của nó thì tính chất tâm linh không còn giữ được như ban đầu Nhưng vì vậy

mà tính chất diễn xướng của hát mo, hát mỡi trở nên đa dạng hơn Hay nói cách khác, việc tách các đoạn trong hát mo và hát mỡi để sử dụng trong môi trường sinh hoạt hàng ngày đã phát huy thêm tính ích dụng của sản phẩm văn hoá dân gian

Múa dân gian bao gồm múa nghi lễ và múa sinh hoạt Hai dạng thức múa đó tuy được phân chia nhưng chỉ mang tính tương đối Có những bài múa được dùng trong cả hai trường hợp, như múa trống đồng, múa gậy Múa sinh hoạt bao giờ cũng giản dị, dễ hiểu, vui tươi; môi trường diễn xướng rất phong phú đa dạng Nơi nào người Mường cũng có thể múa: ngoài suối, trên nương, trên đường, trong cuộc vui, trong lễ hội, trong đám cưới,…Còn môi trường diễn xướng của múa nghi lễ hạn hẹp, tính chất múa thần bí, khó hiểu và thường không có tính chất cộng đồng mà chỉ do cá nhân đứng ra đảm nhiệm

Múa nghi lễ của người Mường khá phong phú Điều này xuất phát từ sự phong phú của nghi lễ tôn giáo trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng Mường Tuỳ theo từng nghi lễ mà múa được sử dụng ít hay nhiều, tính chất nghệ thuật có

đặc sắc hay không Trong hoạt động tín ngưỡng của người Mường, múa được nảy sinh và có vai trò quan trọng Múa là một phương thức để người Mường thông

Trang 37

linh với thế giới thần linh, với tổ tiên Thông qua các điệu múa đơn, tổ hợp động tác múa hay những bài múa hoàn chỉnh, người Mường muốn gửi gắm những uớc vọng, tình cảm, suy nghĩ, tâm sự của những người đang sống đối với một thế giới khác tồn tại song hành với đời sống thực của con người Những thông điệp đó đã

được gửi gắm với thế giới khác bằng cách mã hoá thành ngôn ngữ của nghệ thuật múa Ngoài việc cúng bái, dâng lễ vật, người ta đã dùng ngôn ngữ múa để chuyển tải những ước mơ, nguyện vọng của mình

Múa nghi lễ của người Mường gồm: múa quạt ma, múa kiếm, múa trống

đồng, múa trống, múa mỡi Trong đó, múa quạt ma là điệu múa của các cô con dâu, cháu dâu trong đám tang của người Mường Múa quạt ma có trang phục riêng Các cháu dâu, con dâu với quạt cầm tay, theo tiếng chuông của thầy mo

đưa quạt ra phía trước rồi kéo lại phía người mình Động tác đó mô phỏng động tác quạt ngày thường nhưng được cách điệu hơn và thực hiện nhịp nhàng theo tiếng chuông và sự chỉ đạo nghệ thuật của thầy mo Số lượng người múa không hạn chế, tùy theo số lượng con dâu và cháu dâu của người chết Dụng cụ của múa

tế quạt ma là chiếc quạt bằng lá cọ được làm tương đối đẹp mắt, kì công bằng bàn tay của người Mường Điều đáng nói ở đây là ý nghĩa nhân văn của điêụ múa Qua động tác múa quạt ma, người Mường muốn an ủi, quạt mát cho linh hồn của người chết để họ ra đi trong nhẹ nhàng và tình yêu thương của đồng loại Làn gió từ những động tác múa sẽ là niềm an ủi, là tình yêu mà những người

đang sống gửi đến ngừơi chết, trong đau thương vẫn có những hạnh phúc Đó là triết lí sống tốt đẹp của người Mường ý nghĩa nhân văn thật sâu sắc từ động tác hết sức đơn giản Múa tế quạt ma không cầu kỳ nhưng thấm đẫm tình người Múa trống đồng là điệu múa vừa được sử dụng trong cả nghi lễ lẫn trong sinh hoạt với đạo cụ là trống đồng và gậy múa Múa có thể sử dụng trong khi thực hiện nghi lễ, có thể sau khi thực hiện nghi lễ cúng hoặc trong sinh hoạt văn

Trang 38

hoá của cộng đồng như mừng ngày mùa, mừng thắng trận, chào đón năm mới,…Trống đồng là nhạc cụ nhưng là vật thiêng của cộng đồng nên tính chât múa trống đồng cũng tương đối đa dạng và phụ thuộc vào đặc điểm của môi trường diễn xướng Nếu như sử dụng trong nghi lễ cúng thần linh, múa trống

đồng có sắc thái nghiêm trang, nếu múa trong ngày hội thì mang sắc thái vui tươi, sôi nổi

Múa kiếm của người Mường ở Ngọc Lặc do thầy mo đảm nhiệm Đây là hình thức múa cá nhân chứ không phải múa tập thể Trong quá trình diễn xướng

mo trong các đám tang hoặc các nghi thức chữa bệnh, cầu yên,…thầy mo có sử dụng đến kiếm để biểu diễn một số động tác có hình thức ma thuật Các động tác với ý nghĩa chính nhằm thể hiện sức mạnh của thầy mo, mô phỏng hành động của nhân vật được phản ánh trong mo, biểu trưng cho quyền lực, uy thế để diệt trừ ma quái nhằm đem lại bình yên, may mắn cho cộng đồng tham gia hành lễ Nhưng với khả năng diễn xuất của thầy mo, kiếm trở thành đạo cụ tạo nên những

động tác múa có tính chất biểu trưng, thần bí để chuyển tải những nội dung tâm linh sâu sắc

Múa mỡi là hình thức múa có tính chất tâm linh của các bà mỡi trong nghi

thức cúng Tuy nhiên múa của người Mường không mấy đặc sắc, gần với múa lên

đồng của người Việt nhưng tính chất nghệ thuật cũng như ý nghĩa không đạt đến trình độ như múa lên đồng Hơn nữa hoạt động của mỡi trong cộng đồng của người Mường ở Ngọc Lặc không sôi nổi nên múa mỡi không mấy được chú ý Múa sinh hoạt của người Mường gồm múa sạp, múa khua đuống, múa pồn pông, múa xéc bùa và múa gậy Mỗi loại múa có ý nghĩa, đạo cụ, môi trường diễn xướng khác nhau nhưng đều được dùng trong sinnh hoạt cộng đồng với tính

chất vui tươi, sôi nổi và tập thể Múa xéc bùa được dùng trong lễ hội xéc bùa với

đạo cụ là cồng chiêng Múa theo tiếng nhạc công chiêng với ý nghĩa cầu may

Trang 39

mắn cho năm mới Múa khua đuống là hình thức múa gồm nam và nữ đứng đối

diện nhau với đạo cụ múa là những cây chày gỗ dùng để đập lúa và cái đuống

Họ đi lại xung quanh đuống theo những bài cho sẵn Tiếng chày khua vào nhau

và khua vào đuống theo những nhịp điệu đều đặn tạo nên âm thanh và hình ảnh vui nhộn Múa khua đuống là loại múa xuất phát trực tiếp trong lao động, được người dân sáng tạo thêm thành điệu múa đặc trưng của người Mường, rất đơn giản nhưng vui vẻ, thoải mái, thu hút đông người tham gia Múa sinh hoạt đem lại cho con người sự hứng khởi, giải toả buồn phiền, lo lắng và giúp gắn kết các cá nhân trong cộng đồng Mường lại với nhau

1.3.4 Văn học dân gian

Người Mường trong quá trình lao động sáng tạo đã tạo dựng nhiều giá trị văn hoá dân gian độc đáo và có giá trị Trong đó, văn học dân gian được coi là nổi bật hơn cả Văn học dân gian của người Mường rất phong phú, đa dạng và có

những tác phẩm nổi bật, có giá trị đặc sắc vượt ra khỏi giới hạn tộc người như đẻ

đất, đẻ nước, Nàng Nga Hai Mối, vườn hoa núi cối, Nàng Nga Chàng Bồng Hương, Những tác phẩm văn học này đã trở nên quen thuộc đối với độc giả, đặc

biệt là tác phẩm đẻ đất đẻ nước Đó là sử thi sáng thế hay còn gọi là sử thi thần

thoại của người Mường, nó có giá trị điển hình cho thể loại văn học mà trong nghiên cứu sử thi không thể không nhắc đến Nó trở thành kinh điển trong việc lựa chọn tác phẩm để tìm hiểu sử thi Việt Nam Không chỉ có nhiều tác phẩm mà người Mường còn đạt đến trình độ cao trong sáng tạo nghệ thuật về nội dung cũng như nghệ thuật Điều này khẳng định khả năng sáng tạo nghệ thuật xuất sắc của người Mường cũng như minh chứng cho trình độ phát triển của người Mường trong quá khứ So với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì tộc người Thái cùng với người Mường là hai tộc người có trình độ phát triển cao hơn cả về tập quán

Trang 40

sản xuất, phương thức quản lí xã hội cũng như văn hoá nghệ thuật Người Mường

đã có những đóng góp quan trọng đối với văn nghệ dân gian Viêt Nam

Trong giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Phạm Việt Long và Nguyễn Thị Việt Hương đã xếp văn học dân gian Mường thuộc hình thái văn học bản

mường tương ứng với hình thái xã hội mà người Mường đạt đến trong khi sáng

tạo những tác phẩm văn học dân gian Người Mường có nhiều thể loại văn học gồm : tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cười, truyện cổ tích, truyện thơ, sử thi

Về tục ngữ: Trong quá trình sản xuất, sinh hoạt, người Mường đã đúc rút ra những kinh nghiệm quí báu truyền lại cho thế hệ sau Đó có thể là những kinh nghiệm trong sản xuất được người Mường rút ra từ thực tiễn lao động:

Mây kéo ngược chẳng có nước mà uống Mây kéo xuống chẳng có ruộng mà cấy

Hay là:

Ruộng được bừa như dưa được nén

Không chỉ là những kinh nghiệm trong sản xuất mà còn là những kinh nghiệm trong việc đối nhân, xử thế giữa con người với nhau:

Rượu ai người đó uống Vóng ai người đó ngồi

Hoặc là :

Trai bỏ vợ không mất một đồng Gái bỏ chồng mất một bằng hai [12;45]

Đó là những bài học quí báu rất có ích đối với việc giáo dục con cháu Bởi

lẽ trong xã hội truyền thống, người Mường không có chữ viết, chưa có trường học nên những sáng tạo ngắn gọn rất phù hợp và có hiệu quả giáo dục cao

Người Mường có các truyện thơ như : Nàng Nga Hai Mối, Nàng ờm chàng

Bồng Hương, Vườn hoa núi Cối, út Lót Hồ Liêu Đó là những tác phẩm tương đối

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Đinh Văn Ân, Đường lên trời, Nxb, Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lên trời
2) Đinh Văn Ân, Nhạc lễ của người Mường và người Thái ở Phù Yên, tỉnh Sơn la, Nxb, KHXH, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc lễ của người Mường và người Thái ở Phù Yên, tỉnh Sơn la
3) Bùi Chỉ, Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình, Nxb VHDT, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình
Nhà XB: Nxb VHDT
4) Jean Cuisinier, Người Mường (Địa lý nhân văn và xã hội học), Nxb Lao động, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường (Địa lý nhân văn và xã hội học)
Nhà XB: Nxb Lao động
5) Ban chấp hành Đảng bộ huyện Ngọc Lặc, Lịch sử Đảng bộ huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Ngọc Lặc, Thanh Hoá
6) Hoàng Tuấn Cư, Ngô Quang Hưng, Vũ Ngọc Kỳ, Hợp tuyển văn học Mường, Nhà xuất bản văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển văn học Mường
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá Dân tộc
7) Trần Bình, Văn hoá các dân tộc thiểu số vùng Tây bắc (Bài giảng), Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc thiểu số vùng Tây bắc
8) Trần Bình, Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở tây Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở tây Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc
9) Trần Bình, Người Mường ở VIệt Nam, NXB Thông tấn, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở VIệt Nam
Nhà XB: NXB Thông tấn
10) Bộ Văn Hoá - Thông tin, Một con đường tiếp cận di sản văn hoá, tập III Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hoá, tập III
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
11) Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
13) Cao Sơn Hải , Tục ngữ Mường, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Mường
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
14) Cao Sơn Hải, Truyện Nàng Nga hai mối, Nxb KHXH, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Nàng Nga hai mối
Nhà XB: Nxb KHXH
15) Cao Sơn Hải , Văn hóa dân gian Mường, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Mường
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
16) Bùi Văn Kín, Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình, Ty văn hóa tỉnh Hòa Bình, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình
17) Vũ Ngọc Khánh. Truyền thống văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, tập 1 (2004), tập 2 (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh. Truyền thống văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2004
18) Bùi Văn Kín, Về văn nghệ dân gian của dân tộc Mường, Tạp chí Văn học, số 4/1998, tr 62 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn nghệ dân gian của dân tộc Mường
19) Hồ Liên, Về yếu tố thiêng trong văn hoá Việt Nam, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6 /2004, tr 4 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về yếu tố thiêng trong văn hoá Việt Nam
20) Đặng văn Lung, Mo trong tang lễ Mường, Tạp chí Văn học số 3/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo trong tang lễ Mường
21) Đặng văn Lung, Sử thi thần thoại Mường, nhà xuất bản Dân tộc, Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi thần thoại Mường
Nhà XB: nhà xuất bản Dân tộc

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.2. Tập quỏn mưu sinh - Vai trò của thầy mo đối với vốn văn nghệ dân gian mường ở huyện ngọc lặc tỉnh thanh hoá
1.2.2. Tập quỏn mưu sinh (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w