Đến với lễ hội của người dân Lục Yên nói chung và người Tày nói riêng phải kể đến lễ hội đền Đại Cại, được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm, vào ngày này người dân nô nức đi dâng
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
… … o0o………
TÌM HIỂU TẬP QUÁN CƯỚI XIN
CỦA DÂN TỘC TÀY HUYỆN LỤC YÊN –
TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN NGỌC THANH
Sinh viên thực hiện : QUỐC THỊ DIỄM
Hà Nội – 2012
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số, các Giảng viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho
em trong suốt quá trình học tập và tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận này
Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh, người tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các Cụ ông, cụ bà, các anh chị, người dân tộc Tày, Nùng tại huyện Lục Yên đã cung cấp cho em những tư liệu quý báu trong quá trình đi thực tế tại địa phương để hoàn thành Khóa luận
Trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến thức còn hạn chế, bản Khóa luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vì vậy,
em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để Khóa luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Quốc Thị Diễm
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Bố cục của đề tài 8
Chương 1: TỔNG QUAN VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI HUYỆN LỤC YÊN - TỈNH YÊN BÁI 9
1.1 Lịch sử hình thành 9
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên 9
1.2.1 Vị trí địa lí 9
1.2.2 Địa hình 10
1.2.3 Đất đai 10
1.2.4 Khí hậu 10
1.2.5 Thủy văn 10
1.2.6 Tài nguyên 11
1.3 Khái quát về điều kiện xã hội 11
1.4 Khái quát về dân tộc Tày 12
1.4.1 Tên gọi, phân bố 12
1.4.2 Hoạt động kinh tế 12
1.4.3 Văn hóa vật thể 14
1.4.4 Văn hóa phi vật thể 16
Chương 2: TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở LỤC YÊN 21
2.1 Quan niệm chung về hôn nhân 21
2.2 Quan niệm cưới xin của người Tày 22
2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân truyền thống 23
2.3.1 Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ 23
2.3.2 Nguyên tắc cư trú sau hôn nhân 24
2.4 Tiêu chí chọn vợ, chọn chồng 26
2.4.1 Tiêu chí chọn một người vợ tốt 26
2.4.2 Tiêu chí chọn một người chồng tốt 26
Trang 44
2.5 Quy định độ tuổi kết hôn 27
2.6 Các tục lệ trước ngày cưới của người Tày ở huyện Lục Yên- Yên Bái 27 2.6.1 Chuẩn bị cho ngày cưới 27
2.6.2 Các nghi lễ trước ngày cưới 29
2.6.3 Ngày cưới 34
2.7 Nghi lễ sau ngày cưới 52
2.8 Trang phục ngày cưới 53
2.8.1 Trang phục cô dâu và phù dâu 53
2.8.2 Trang phục chú rể và phù rể 53
2.8.3 Trang phục cô đón 53
2.9 Các trường hợp hôn nhân ngoại lệ 54
2.9.1 Ở rể đời 54
2.9.2 Hôn nhân của những người góa vợ, góa chồng (đi bước nữa) 55
Chương 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG CƯỚI XIN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY NÉT ĐẸP TRONG CƯỚI XIN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN LỤC YÊN – TỈNH YÊN BÁI 57
3.1 Những biến đổi trong tập quán cưới xin ngày nay 57
3.1.1 Biến đổi trong quan niệm cưới xin 57
3.1.2 Biến đổi về độ tuổi kết hôn và tiêu chí chọn vợ, chọn chồng 57
3.1.3 Biến đổi trong các nghi thức cưới xin 58
3.1.4 Biến đổi về trang phục 59
3.1.5.Biến đổi về phương tiện đưa đón dâu 59
3.2 Nguyên nhân biến đổi 59
3.2.1 Tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 59
3.2.2 Tác động từ các chính sách của Đảng và nhà nước 63
3.3 Giải pháp bảo tồn, phát huy những nét đẹp trong cưới xin của dân tộc Tày huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái 72
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 80
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ BÀI CỌI THƯỜNG HÁT TRONG ĐÁM CƯỚI TRUYỀN THỐNG, CỦA DÂN TỘC TÀY 81
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP TƯ LIỆU 113
PHỤ LỤC 3: MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐÁM CƯỚI Ở XÃ MƯỜNG LAI, NƠI CÒN LƯU GIỮ NHIỀU PHONG TỤC TRUYỀN THỐNG 115
Trang 5
5
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, ngoài những nét chung, mỗi tộc người còn có sắc thái văn hóa riêng, làm nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng nhưng thống nhất
Việc tìm hiểu văn hóa dân tộc là trách nhiệm của các thế hệ đi sau, để
từ đó có được sự tôn trọng gìn giữ, phát huy những di sản văn hóa và có cái nhìn bình đẳng trong văn hóa giữa cộng đồng văn hóa các dân tộc
Nói đến văn hóa dân tộc không thể không kể đến tập quán cưới xin - một phong tục, nghi lễ đời người, đánh dấu bước mở đầu, hình thành gia đình (tế bào của cộng đồng dân tộc) Cưới xin chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam nói chung và từng tộc người nói riêng, trong đó
có dân tộc Tày- một dân tộc thiểu số đông nhất trong số 53 dân tộc thiểu số Việt Nam, có nền văn hóa khá đa dạng và đặc sắc, trong đó tập quán cưới xin
là một sinh hoạt văn hóa hội tụ cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Tày Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, sự giao lưu văn hóa diễn ra trên diện rộng, nhiều phong tục tập quán trong đó có tập quán cưới xin của người Tày đang có sự biến đổi mạnh mẽ
Dân tộc Tày cư trú ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc nước ta như Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai,…, Ngoài những nét chung cơ bản như ở nhà sàn, mặc áo chàm , người Tày ở mỗi nơi có một nét sinh hoạt văn hóa mang những sắc thái riêng
Người Tày ở huyện Lục Yên- Yên Bái sống xen kẽ với nhiều dân tộc khác, đặc điểm này được ghi dấu ấn trong văn hóa, truyền thống của đồng bào Tày nơi đây Tập quán cưới xin của người Tày Lục Yên cho đến nay tuy đã có một số biến đổi so với trước đây, song vẫn ít nhiều lưu giữ những nét đẹp độc đáo chỉ riêng có ở người Tày
Trang 66
1 Lý do chọn đề tài
Bản thân là một người con dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên ở mảnh đất quê hương Lục Yên tôi đã được tham dự nhiều đám cưới và nghe ông, bà kể nhiều về đám cưới truyền thống của dân tộc mình Tôi nhận thấy, đám cưới của người Tày Lục Yên hiện nay còn lưu giữ được nhiều yếu tố văn hóa độc đáo, cần được gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ sau Hiểu được phong tục cưới xin của dân tộc mình cũng là hiểu được phần nào nền văn hóa mà chính mình đang là một nhân tố tham gia sở hữu Vì lý do đó tôi chọn đề tài "Tìm hiểu tập quán cưới xin của dân tộc Tày huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái ", làm
đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, nghi lễ cưới xin của người Tày được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Dưới thời Pháp thuộc, đã có một số công trình của người Pháp đề cập đến khía cạnh này ở các dân tộc Tày - Nùng, tuy nghiên còn sơ lược và viết dưới góc nhìn của người phương Tây, phục vụ cho mưu
đồ cai trị của chủ nghĩa thực dân
Sau ngày miền Bắc được giải phóng ( 1954), việc nghiên cứu về các dân tộc thiểu số, đặc biệt là nghiên cứu về nghi lễ gia đình, trong đó có người Tày được chú ý hơn Về phong tục cưới xin của người Tày có các công trình
tiêu biểu sau: Dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, Viện Dân tộc học, 1992;
Phong tục cưới gả Việt Nam, Nxb Hội nhà văn Hà Nội, 1992; Văn hóa truyền thống Tày - Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc- Hà Nội , 1993; Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc, Hoàng Quyết- Tuấn Dũng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà
Nội, 1994; , Đỗ Thúy Bình, Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày Nùng,
Thái ở Việt Nam, Nxb KHXH Hà Nội, 1994; Triều Ân- Hoàng Quyết, Tục cưới xin của người Tày, Nxb Văn hóa dân tộc, 1995 Trong số này có hai
công trình miêu tả khá chi tiết về nghi lễ cưới xin của người Tày Đó là cuốn:
Dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam và Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày
Trang 77
Nùng, Thái ở Việt Nam Cả hai công trình đều dành nhiều trang để trình bày
về nghi lễ gia đình, trong đó có nghi lễ cưới xin Các tác giả cho rằng, các tập tục của nghi lễ hợp thành thể thức, khuôn mẫu hành vi, đạo đức tạo nên thành tố quan trọng của lối sống Trong lĩnh vực gia đình, các nghi lễ kết bện với nhau, không những phản ánh những nét đặc thù của văn hóa cộng đồng
mà còn thể hiên các mối quan hệ giao lưu văn hóa
Những năm gần đây, một số sinh viên, học viên chọn nghiên cứu về
tập quán cưới xin của người Tày ở các địa phương như: Tập quán cưới xin
của người Tày ở Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang, Tiểu luận năm 3, Ma
Thị Tố Loan K9A, Đại học văn hoá Hà Nội ; Tục cưới hỏi của người Tày ở
huyện Định Hóá, Thái Nguyên, Tiểu luận năm 3, Bùi Thị Hồng K9B, Đại học
văn hóa Hà Nội
Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu về tập quán cưới xin của người Tày ở huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái
3 Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở tư liệu dân tộc học và các nguồn tài liệu khác, bước đầu giới thiệu các đặc trưng lễ cưới từ truyền thống đến hiện đại của người Tày ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là lễ cưới của người Tày ở huyện Lục Yên
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu lễ cưới của người Tày truyền thống và biến đổi
- Địa bàn nghiên cứu: Vì địa bàn huyện Lục Yên khá rộng, do vậy chúng tôi lựa chọn hai xã: Xã Mường Lai nơi còn bảo lưu được các yếu tố truyền thống và xã Khánh Thiện hiện có nhiều biến đổi để so sánh
Trang 88
5 Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận áp dụng phương pháp điền dã Dân tộc học để thu thập tài liệu lưu trữ và tài liệu điền dã tại các địa phương, trong đó thu thập tài liệu điền dã là chính
- Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích thống kê; phương pháp đối chiếu so sánh và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân
6 Đóng góp của đề tài
Qua tìm hiểu tập quán cưới xin của dân tộc Tày ở huyện Lục Yên - Yên Bái, đề tài mong muốn chỉ ra nét đặc trưng cũng như những biến đổi trong nghi lễ cưới xin truyền thống và hiện đại của dân tộc Tày
Góp thêm nguồn tư liệu điền dã thực tế địa phương, cho những ai muốn tìm hiểu văn hóa Tày nói chung và người Tày ở Lục Yên nói riêng, góp phần gìn giữ và phát huy văn hóa tộc người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan vùng đất và con người huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái
Chương 2:Tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái
Chương 3: Những biến đổi trong cưới xin và một số giải pháp để phát huy nét đẹp trong cưới xin của dân tộc Tày
Trang 99
Chương 1 TỔNG QUAN VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI HUYỆN LỤC
YÊN - TỈNH YÊN BÁI
1.1 Lịch sử hình thành[DB1]
Năm 1910, Lục Yên là một trong bốn huyện của tỉnh Yên Bái Ngày 16/12/1964, hội đồng chính phủ ban hành quyết định số 117/CP, cắt 14 xã của huyện Lục Yên về huyện Bảo Yên Ngày 28/01/1967, bộ trưởng bộ nội vụ ban hành quyết định số 21/NV về việc điều chỉnh các đơn vị cấp xã, cắt 2 xã
An Phú và Phú Mỹ của huyện Yên Bình sáp nhập về huyện Lục Yên
Ngày 12/08/1991, tại kỳ họp thứ IX, quốc hội khóa VIII quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái, Lục Yên trở thành huyện của tỉnh Yên Bái
1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên[DB2]
Lục Yên có 24 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Yên Thế và 23 xã: Tân Phượng, Lâm Thượng, Khai Trung, Khánh Thiện, Mai Sơn, Minh Xuân, Tân Lĩnh, Tân Lập, Tô Mậu, Phan Thanh, Minh Tiến, An Phú, An Lạc, Minh Chuẩn, Mường Lai, Khánh Hòa, Liễu Đô, Vĩnh Lạc, Tân Lập, Động Quan, Trúc Lâu, Trung Tâm và Phúc Lợi
Trang 10Nằm giữa hai dãy núi và triền sông Chảy là vùng đất thấp bằng phẳng, sông Chảy chảy qua huyện Lục Yên dài 65km với nhiều chi lưu lớn như ngòi Trúc Lâu, ngòi Đại Cại, ngòi Biệc,….,
1.2.3 Đất đai
Tổng diện tích tự nhiên: 80.870ha, trong đó:
Đất nông nghiệp: 69,314,74ha
Đất phi nông nghiệp: 7.318,34ha
Lượng mưa trung bình hàng năm 1.500- 2.200mm, số ngày mưa trong năm khoảng 130 ngày
1.2.5 Thủy văn
Có hệ thống kênh suối phong phú, dày đặc chạy theo hướng Tây bắc- Đông nam đảm bảo nước tưới tiêu cho nông nghiệp và nước sinh hoạt của người dân
Trang 11Rừng có nhiều loại gỗ quý như : đinh, lý, lim, nghiến, lát, trò… và nhiều loại nứa, tre, mây cung cấp nguyên liệu cho làm nhà và đan lát của đồng bào các dân tộc huyện Lục Yên Có nhiều loại động vật như hổ, báo, gấu, hươu, nai, lợn rừng, chim, gà rừng,….,
Lục Yên có rất nhiều loại khoáng sản như: than nâu ở xã Hồng Quang
có trữ lượng 16.000 tấn; đá hoa cương ở xã Tân Lĩnh và xã Liễu Đô có trữ lượng khoảng 250 triệu m3; đá vôi có cường độ 300-500 kg/cm2, có hàm lượng CaO cao, trữ lượng khoảng 135 triệu m3, đá quý và bán đá quý phân bố trên diện tích 113km2, chủ yếu ở các xã như An Phú, Minh Tiến,…,Ngoài ra, Lục Yên còn có nguồn tài nguyên đá xây dựng cát, sỏi,…, rất phong phú
1.3 Khái quát về điều kiện xã hội
Dân số huyện Lục Yên năm 2012 là 105.140 người
Mật độ dân số bình quân là 130 người/km2
Toàn huyện có 16 dân tộc anh em cùng chung sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái Cao Lan, Dáy, Ngái, Pa Cô, Pa Dí, Xá, Tu Dí, Lô
Trang 1212
Lao động khu vực thành thị 4.903 người, chiếm 8,5%
Trình độ lao động nhìn chung còn thấp, lực lượng lao động phân bố không đều do sự phát triển của các nghành kinh tế, chủ yếu lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 90%, còn lại 10% lao động thuộc các nghành kinh
tế khác
1.4 Khái quát về dân tộc Tày
1.4.1 Tên gọi, phân bố
Theo nhiều nhà nghiên cứu, dân tộc Tày ở Lục Yên là cư dân bản địa,
cư trú ở đây từ rất lâu đời, sau đó các dân tộc khác dần chuyển cư đến sống xen kẽ với người Tày như người Kinh, Dao, Thái,….,
Người Tày ở huyện Lục Yên- Yên Bái tự gọi mình là Cần Tày, đây là tên gọi chung phổ biến nhất của đồng bào nơi đây
Họ phân bố ở khắp các xã và thị trấn Yên Thế, đông nhất là xã Lâm Thượng, Khai Trung, Mường Lai, Khánh thiện, Phan Thanh…
1.4.2 Hoạt động kinh tế
- Trồng trọt[A3]
Người Tày ở huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái với nguồn sống chính là trồng lúa nước trên các cánh đồng ven các sông suối lớn và các cánh đồng mầu mỡ trong các thung lũng chân núi Người Tày còn làm nương, trồng lúa nương, ngô, khoai, đậu tương, sắn… và các loại rau trên những khoảnh đất bằng trong thung lũng hay những quả đồi gần bản, làng mình sinh sống, nhất
là người Tày ở các xã vùng cao Khai Trung, Tân Phượng thì sản xuất nương rẫy là hoạt động kinh tế rất quan trọng, là nguồn thu nhập chính trong đời sống của đồng bào Người Tày còn trồng các loại cây ăn quả như Cam, quýt, hồng, nhãn, bưởi,…, đáp ứng nhu cầu thực phẩm hàng ngày, khi vụ mùa bội thu đồng bào còn mang các nông phẩm ra chợ phiên bán để đổi lấy thực phẩm
và những vật dụng sản xuất khác Ngoài ra đồng bào còn trồng các loại cây
Trang 1313
như quế, keo lấy gỗ, bồ đề, xoan, mỡ,….,để phủ xanh đất trống, đồi trọc và tăng thu nhập cho người dân Một bộ phận người Tày sống ở thị trấn, thị tứ và ven các trục đường chính của huyện cũng tham gia buôn bán như người Kinh,
họ chủ yếu ở nhà đất và nhà xây mái bằng
- Chăn nuôi
Đây là hoạt động kinh tế khá quan trọng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu sản xuất và cung cấp thực phẩm hàng ngày của người Tày Người Tày nuôi các loại gia súc (trâu, bò,dê, lợn…) và gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng…), thủy cầm (như cá, tôm, baba ) Vì là cư dân làm ruộng nước nên Trâu là vật nuôi quan trọng nhất của người Tày vừa để lấy sức kéo vừa để lấy phân bón cho cây trồng
- Nghề thủ công
Nghề thủ công truyền thống như trồng bông dệt vải, trồng cây nhuộm vải phát triển từ rất sớm, nuôi tằm lấy tơ dệt vải, đan dây dao (thai pịaa) Ngày nay, nghề dệt thổ cẩm, nghề rèn, đúc , đan lát các vật dụng như rổ, rá, sọt ghánh, và dệt các hoa văn làm vỏ chăn, gối cho con gái đi lấy chồng và làm Địu (tiếng Tày gọi là Ăn Đa) để địu con nhỏ vẫn còn nhưng chỉ phát triển ở quy mô gia đình để cung cấp vật dụng cho sinh hoạt hằng ngày, chứ không phát triển thành hàng hóa
- Săn bắn, hái lượm
Tuy địa bàn cư trú khá thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt và chăn nuôi, song người dân nơi đây vẫn chú trọng thu hái những sản vật sẵn có trong rừng như rau, các loại măng (măng đắng, măng nứa), mộc nhĩ, nấm,…,Đặc biệt người Tày còn rất giỏi dùng các loại dược liệu sẵn có trong
tự nhiên để chữa bệnh Thuốc thương, thuốc cảm cúm, thuốc gan, thận được các thầy thuốc người Tày bốc rất giỏi
Trang 1414
Từ xa xưa các ông, các chú và nam thanh niên người Tày đã biết đánh bẫy các loại muông thú trong rừng, dùng nỏ tự chế bắn chim, sóc,…,họ tổ chức những buổi đi săn tập thể,…,Các bà, các chị thì đan những cái nơm to ra suối bắt cá hoặc chặn những khe suối nhỏ để bắt cá, tôm, cua,…,cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày
1.4.3 Văn hóa vật thể
- Nhà ở
Người Tày Lục Yên chủ yếu ở nhà sàn, dùng vật liệu sẵn có trong tự nhiên (gỗ, tre, nứa), để xây dựng, lợp bằng lá cọ hoặc cỏ gianh Sàn nhà được dát bằng cây mai, cây diễn hoặc ván, cửa làm bằng phên nứa hoặc lịa bằng gỗ Kiến trúc nhà truyền thống là ba gian hai chái (5 gian) hoặc năm gian hai chái (7gian) Gia đình khá giả còn dựng thêm nhà bếp nối liền vuông góc gian nhà chính Gầm sàn là nơi buộc trâu, ngựa, chuồng gà,…,ngày nay do thực hiện nếp sống mới nhiều gia đình đã bỏ được tục này Mỗi nhà có hai cầu thang, mỗi cầu thang 9 bậc đi lên, và 2 bếp Cầu thang chính dẫn lên bếp ngoài, bếp ngoài để sưởi ấm về mùa đông và đun nước tiếp khách, không nấu nướng ở bếp ngoài này Cầu thang phía trong dẫn lên bếp trong, chủ yếu để nấu ăn hàng ngày và làm cám lợn,… ,Trên sàn nhà chính gian trung tâm thường là gian giữa, nếu số nhà lẻ Nếu số gian nhà chẵn thường chọn gian trung tâm là gian thứ hai kể từ cầu thang ngoài vào
Cùng với gian bếp lửa, phía trên lan can đằng trước là nơi đặt bàn thờ Bàn thờ được thiết kế ngang tầm ngực, dài theo chiều dài của gian, chiều sâu một mét, thường làm bằng gỗ tốt Nhìn vào bàn thờ và căn cứ vào số lượng bát hương có thể biết được gia đình thờ cùng bình thường hoặc chủ nhà làm nghề thầy cúng, nếu chủ nhà làm nghề thầy cúng thờ thêm một bát hương và được kê cao hơn Nếu nhà có hai bàn thờ thì chủ nhà ở rể, thờ cả họ nhà vợ và
họ nội mình
Trang 15ít vật liệu và chủ yếu là gia đình 2 thế hệ sinh sống nên người Tày làm nhà sàn nhỏ hơn, chỉ 3- 4 gian hoặc nhà đất, người Tày ở thị trấn cũng ở nhà xây mái bằng hoặc lợp nhà lợp bằng mái ngói, mái tôn, xi măng,…,
hè Thường ngày, phụ nữ Tày mặc váy dài đến bắp chân, mặc áo xẻ kiểu áo
bà ba, cài khuy giữa ngực Ngày nay chủ yếu mặc như người kinh Trang sức nổi bật của phụ nữ Tày là bộ xà tích, vòng tay bằng bạc…
Nam giới Tày, mặc áo tứ thân cổ tròn, khuy vải, quần lá tọa, y phục này người lớn tuổi thường dùng, thanh niên ngày nay mặc như người Kinh
Trang phục thầy cúng có trang trí nhiều hoa văn hình rồng, phượng màu sắc sặc sỡ
Trẻ em mới sinh thường quấn bằng quần áo cũ của bố mẹ đã giặt sạch,
vò nhầu mềm, ngày nay chủ yếu dùng đồ mua ở chợ
Trang 1616
- Ăn uống
Người Tày ăn thức ăn chế biến từ gạo là chủ yếu, gạo nếp đồ xôi hoặc chế biến các loại bánh vào dịp tết hoặc lễ cưới, mừng nhà mới,…,Thường ngày, ăn gạo tẻ với cach rau rừng, cá, rong suối, ăn các loại măng, nấm
Người Tày còn làm cơm lam (khảu lam), măng chua (mảy thẩm), thịt lợn treo gách bếp (nựa lạp), mắm cá (bẳm pia), mắm thịt lợn (bẳm mu), bánh trứng
kiến, làm mọc vịt,…,đây là những món ăn khá độc đáo của người Tày Lục Yên
Rượu là đồ uống không thể thiếu của người Tày trong dịp lễ tết, cưới xin, ma chay,…,chủ yếu là rượu sắn, rượu ngô, rượu gạo, rượu đao,…, làm bằng men lá cây rừng do đồng bào tự chưng cất Rượu uống rất thơm, còn dùng để ngâm thuốc uống cho người bệnh Thường ngày, uống nước chè, nước lá cây rừng vừa có tác dụng giải khát và chữa bệnh
1.4.4 Văn hóa phi vật thể
- Ngôn ngữ
Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái trong ngữ hệ Thái- Ka đai Tiếng Tày có vốn từ gốc khá lớn để giao tiếp và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày của đồng bào Cũng giống ngôn ngữ của người Kinh, ngôn ngữ của người Tày cũng có danh từ gọi người, địa danh, vật Ví dụ như:
Lườn(nhà), Cần(người), nà (ruộng), thuôn (vườn), lay (nương), pù (đồi), đông
(rừng), tua vài (con trâu), tua cáy (con gà), tua nu (con chuột),…, chỉ hiện tượng vằn (ngày), khăm (đêm), chỉ trạng thái giác(đói), ím(no), chỉ động thái
nòn (ngủ), pay(đi), lậm (ngã),…, Có hệ đếm tương đối hoàn chỉnh: nơng(1), thoong(2), tham(3), thí(bốn), há(5), sốc(6), chất(7), pét(8), cảu(9), thíp(10), thào ất(20), thào thoong(22), tham thíp(30), cảu thíp(90), lọi(100) Trong
quá trình giao thoa với các dân tộc khác tiếng Tày có vay mượn nhiều tiếng dân tộc khác nhất là tiếng Kinh làm phong phú thêm kho từ vựng của mình:
Trang 1717
xà phòng, xe máy, dép Ngôn ngữ Tày cũng ảnh hưởng khá sâu sắc tới các dân tộc khác trong huyện, có dân tộc không biết nói tiếng dân tộc mình mà dùng tiếng Tày làm ngôn ngữ chính như bộ phận người Nùng ở xã Khánh Thiện bây giờ Họ nói tiếng Tày, ăn mặc như người Tày, có gia đình còn nhận
là người Tày, làm ma, cúng tế như người Tày
Có một thực tế là hiện nay bộ phận người Tày sống ở khu vực thị trấn, thị tứ sử dụng tiếng Kinh trong giao tiếp hằng ngày chứ không dùng tiếng Tày Trẻ em người Tày không biết nói tiếng Tày hiện nay cũng đang trở nên phổ biến trong cộng đồng người Tày ở Lục Yên Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc gìn giữ văn hóa dân tộc, bởi "với một dân tộc mất tiếng mẹ đẻ ngang với mất linh hồn[MQ4]," ( câu nói của nhà văn Pháp) ngôn ngữ là thành tố rất quan trọng trong văn hóa của mỗi dân tộc nếu mất ngôn ngữ thì đồng nghĩa với việc văn hóa tiêu vong
- Chữ viết
Người Tày có chữ viết riêng của mình, gồm chữ Nôm Tày và chữ Tày
La Tinh Chữ Nôm Tày được xây dựng trên mẫu chữ tượng hình gần giống tiếng Nôm Việt, dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng Ngày nay chỉ còn các thầy cúng, thầy mo mới sử dụng được tiếng Nôm Tày, thế hệ trẻ ngày nay học chữ quốc ngữ
-Tín ngưỡng, tôn giáo
Người Tày thờ cúng tổ tiên, thổ công, thờ ma bếp, thờ bà mụ, thờ miếu làng,…,Do là cư dân bản địa nên trải qua quá trình chinh phục và cải tạo tự nhiên đồng bào sùng bái tự nhiên, những tàn dư tín ngưỡng tôn giáo như vật linh giáo, ma thuật, thờ cây si, cây gạo, cùng các nghi lễ nông nghiệp, săn bắn, đánh cá vẫn còn tồn tại đến ngày nay
Người Tày chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nho giáo, thể hiện rõ nhất ở quan niệm coi trọng con trai hơn con gái Tuy nhiên ngày nay quan niệm này
đã thoáng hơn
Trang 1818
Trong cầu cúng tín ngưỡng có một số thầy cúng hành nghề mang tính chuyên nghiệp như thầy Tào, thầy mo, bà muột, bà then,…, đây là tầng lớp có địa vị trong xã hội người Tày, họ có phép thuật và giao tiếp được với thần linh, ma quỷ Để trở thành thầy Tào theo quan niệm của người Tày, trước hết phải xuất thân từ gia đình có truyền thống làm thầy lâu đời, phải khổ công tu luyện, biết đọc các sách cúng bằng tiếng Hán, tiếng Nôm,…,và quan trọng là phải trải qua nghi lễ cấp sắc mới được hành nghề thầy Tào, thầy cúng
-Văn nghệ dân gian
Người Tày Lục Yên nổi tiếng với những điệu hát khắp, hát cọi, hát khảm hải, hát đưa dâu, đón dâu,…, Vào những dịp tết đến xuân về thanh niên nam nữ Tày lại cùng nhau hát lên những tiếng hát làm say lòng người bên mâm cơm ấm cúng của gia đình
Văn học dân gian Tày cũng rất phong phú, nhiều truyện cổ tích lý giải nguồn gốc loài người, lý giải các hiện tượng tự nhiên và dạy đạo lý làm người
như: Nam Kim- Thị Đan, Cảu khay, Tua nhình-Tua chài, Tặp Đảm Thì Dú-
Tặp Thú Thì Pay,…,
-Lễ tết, lễ hội
Là cư dân sản xuất nông nghiệp, nên người Tày Lục Yên tổ chức lễ tết gắn liền với mùa vụ sản xuất Mỗi lễ tết có một nghi thức riêng gắn với từng mùa vụ
Tết Nguyên đán là tết lớn nhất trong năm của đồng bào Tày, sau một năm lao động vất vả, đây là dịp để con cháu báo hiếu tổ tiên, cầu cho một năm mới may mắn, tốt đẹp đến với mọi người Đây cũng là dịp để những người xa quê trở về đoàn tụ cùng gia đình Người Tày ăn tết từ 23 tháng chạp đến mùng 5 tháng giêng Bắt đầu từ 25 mỗi nhà mổ một con lợn to khoảng 50-70kg, gói bánh chưng Tày (bánh lưng gù) để làm mâm cúng tổ tiên và mời anh em, hàng xóm láng giềng tới ăn bữa cơm cùng gia đình, cầu cho một năm
Trang 19Tết Đoan ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi
là tết giết sâu bọ, tết này làm theo từng gia đình Lễ vật gồm mâm hoa quả và xôi ngũ sắc được chuẩn bị từ sáng, người Tày quan niệm buổi sáng sớm là giờ sâu bọ đi ăn, nếu ăn hoa quả vào sáng mùng 5/5 sẽ trừ được sâu bọ, hoa trái sẽ bội thu vào vụ tới
Tết rằm tháng 7 cũng là tết lớn trong năm của người Tày, tết này thường gói bánh từ bột gaọ nếp nghiền nhỏ, nhân vừng, lạc, người Tày gọi là
Peéng ít Tết này thường dùng thịt vịt, thịt gà ít khi mổ lợn, để xá tội cho
những linh hồn người đã khuất
Người Tày còn ăn tết cơm mới vào dịp tháng 10 âm lịch hàng năm, gọi
là tết "khảu mảu" Vào dịp này người Tày tổ chức giã cốm rất đông, gia đình
nào cũng làm cốm để mừng lúa mới
Người Tày tổ chức lễ "lồng tồng" vào đầu tháng giêng hàng năm, đây
được coi là lễ khai xuân bắt đầu một vụ mùa sản xuất mới Đến với lễ hội của người dân Lục Yên nói chung và người Tày nói riêng phải kể đến lễ hội đền Đại Cại, được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm, vào ngày này người dân nô nức đi dâng hương Bà chúa lương thực và cũng là dịp để mọi người giao lưu văn nghệ, hát cùng nhau những điệu khắp, điệu cọi, chơi các trò chơi truyền thống như múa kiếm, đua thuyền trên sông Chảy,…,
Ngày tết, ngày hội là dịp để đồng bào Tày thể hiện mong ước mùa màng bội thu, chăn nuôi thuận lợi và cũng là dịp để nghỉ ngơi đoàn tụ sau những ngày làm việc mệt nhọc
Trang 2121
Chương 2 TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI TÀY Ở LỤC YÊN[DB5]
2.1 Quan niệm chung về hôn nhân
Ngay từ thời xa xưa, hôn nhân đã đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người, hôn nhân tạo ra sức mạnh cộng đồng để chống kẻ thù, chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, chống lại thú dữ để sinh tồn và phát triển Hôn nhân trở thành một tất yếu, với mục đích gắn kết cộng đồng, tái tạo ra con người, tăng cường sức mạnh và nguồn lực cho con người
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội giữa nam và nữ được hợp thức hóa bằng những quy định xã hội, từ đó có thể nâng cao được quyền hạn và trách nhiệm của vợ chồng trong quan hệ vớ nhau và với con cái của họ Xã hội loài người nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng đã trải qua nhiều hình thái hôn nhân khác nhau
Thời kỳ nguyên thủy, loài người sống theo chế độ quần hôn, tức là hôn nhân theo nhóm: nhóm đàn ông là chồng tập thể của nhóm đàn bà và ngược lại nhóm đàn bà là vợ tập thể của nhóm đàn ông Hôn nhân anh em chồng (tức là chồng chết người vợ góa có bổn phận và quyền lợi được lấy
em trai chồng làm chồng); Hôn nhân chị em vợ ( tức vợ chết người chồng góa có bổn phận và quyền lợi được lấy chị hoặc em gái vợ làm vợ) Cho đến nay hình thức hôn nhân này vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc thiểu
số ở Việt Nam qua tục nối dây
Ngày nay, pháp luật nước ta khẳng định hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng, để tạo ra một gia đình hạnh phúc, nòi giống khỏe mạnh, xã hội ổn định hơn
Phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình ở các dân tộc Việt Nam là bức tranh thu nhỏ của lịch sử hôn nhân và gia đình của xã hội loài người Nhưng trong 54 dân tộc Việt Nam, sự đa dạng về sắc thái văn hóa và trình độ
Trang 2222
phát triển là khác nhau Đối với các dân tộc đã phân hóa giai cấp thì hôn nhân gia đình là phụ quyền (con cái theo họ của bố) Trong khi đó nhiều dân tộc khác hôn nhân mới dừng ở chế độ mẫu hệ, như một số dân tộc vùng Tây Nguyên: Ba Na, Êđê Và hình thái hôn nhân gia đình tồn tại dưới dạng đại gia đình mẫu quyền (con cái theo họ mẹ)
Người Tày theo chế độ phụ quyền, trong hôn nhân đều phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Hiện nay, hôn nhân hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, các đôi trai gái có thể tự do tìm hiểu nhau Tuy nhiên, quan niệm hôn nhân của các thời kỳ trước vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến thời đại ngày nay, nhiều nghi lễ cổ truyền vẫn được gìn giữ, có những nghi lễ phù hợp nhưng cũng có những nghi lễ cần phải xem xét cho phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
2.2 Quan niệm cưới xin của người Tày
Từ xưa, ở nhiều dân tộc đó tồn tại hình thức làm lễ thành đinh cho các chàng trai đến tuổi trưởng thành Tùy từng địa phương, từng tộc người mà có những quy định khác nhau về lễ nghi này, chẳng hạn các dân tộc Tây Nguyên thì cà răng (đối với nam), căng tai (đối với nữ), dân tộc Dao thì làm lễ cấp sắc cho các chàng trai Các nghi lễ này thường được tổ chức cho người con trai trong độ tuổi từ 15- 18 tuổi, họ phải trải qua các nghi lễ thành đinh thì mới được công nhận là người lớn, được phép lấy vợ Ở dân tộc Ê đê, Chu Ru…hôn nhân chỉ đươc tiến hành sau lễ cà răng, căng tai cho nam, nữ thanh niên, nếu không sẽ bị dư luận chê cười [ 27: 117] Còn theo truyền thống người Tày, các chàng trai, cô gái chỉ được công nhận là người trưởng thành khi đã lập gia đình, do đó cưới xin đóng vai trò rất quan trọng Thường thì, con trai 15 tuổi bắt đầu đi hỏi vợ, con gái 13 tuổi bắt đầu lấy chồng
Đối với người Tày trong xã hội truyền thống, hôn nhân của mỗi cá nhân đóng vai trò rất quan trọng đối với cả gia đình và dòng họ, nó không được coi là vấn đề riêng của mỗi cá nhân nào mà được đưa ra để bố mẹ hai bên gia đình bàn bạc và sắp xếp "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", quan niệm
Trang 2323
này được xã hội phong kiến thừa nhận và ủng hộ Cũng như nhiều dân tộc khác, cưới xin của người Tày gắn liền với tư duy phồn thực, đó là sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường, để có người chăm lo thờ phụng cha mẹ khi ốm đau, lúc về già và là cư dân nông nghiệp, lao động chân tay là chủ yếu, vì thế cần nhiều nhân công để làm việc, nhất là phải có con trai làm những công việc nặng nhọc và làm trụ cột trong gia đình Người Tày quan niệm, một gia đình hạnh phúc phải có con đàn, cháu đống, và con cháu càng đông, khỏe mạnh, biết làm ăn, có đạo đức tốt thì chứng tỏ tổ tiên dòng họ đó có phúc lớn và được nể trọng Nếu cặp vợ chồng nào không sinh được con trai thì người chồng được phép lấy vợ lẽ để kiếm một cậu con trai nối dõi tông đường Gia đình nào không có con trai thì khi con gái lấy chồng, người chồng sẽ phải ở rể suốt đời, người con rể được coi như con đẻ của gia đình
2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân truyền thống
2.3.1 Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ
Như chúng ta đã biết, sự xuất hiện hôn nhân giữa những người không cùng huyết thống với nhau là một bước tiến lớn trong lịch sử loài người và lịch sử hôn nhân gia đình Sê mê nốp, nhà nghiên cứu Dân tộc học Nga đã chỉ ra rằng "với sự ra đời của chế độ ngoại hôn và chính cái đó cũng đồng thời làm cho thị tộc xuất hiện, quan hệ tính giao đã hòa toàn đưa vào khuôn phép nhất định[MQ6]"[ 27:121 ] Lúc đầu, hôn nhân ngoại tộc được áp dụng đối với những người cùng thị tộc, nguyên nhân xuất hiện ngoại hôn vẫn còn nhiều
ý kiến tranh luận Nhưng đa số ý kiến cho rằng ngoại hôn không tách rời khỏi yếu tố thị tộc và ngoại hôn là biểu hiện quan trọng nhất của thị tộc và thị tộc bao giờ cũng ngoại hôn
Ơ' người Tày, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo nguyên tắc ngoại[A7] hôn đã được thiết lập từ lâu Theo nguyên tắc này, những người trong cùng một dòng họ, cùng chung một ông tổ, có cùng một huyết thống tíơnh theo dòng cha mẹ tuyệt đối không được lấy nhau, không được quan hệ tính giao với nhau [.27:122 ]
Trang 2424
Người Tày quan niệm, ai cùng mang một tên họ, thì dù xa nhau đến mấy đời cũng không được lấy nhau, về sau do sự phát triển ngày càng đông, dòng họ gốc được chia thành nhiều chi nhánh, nên ngoại hôn chỉ được thực hiện đối với các chi nhánh Để tránh vi phạm quy tắc ngoại hôn dòng họ, khi con cái lớn lên bố mẹ thường dạy bảo rất kỹ, ai có thể kết hôn được, ai không thể kết hôn được.[A8]
Các thành viên trong một dòng họ tính theo trực hệ, nếu lấy nhau hay có quan hệ tính giao sẽ bị dư luận lên án Người Tày cho rằng anh em cùng dòng họ nếu lấy nhau thì sinh con sẽ bị dị tật, quái thai, mù mắt, coi là loạn luân và bị đuổi ra khỏi họ [.27:125 ] Người Tày có câu "Lục lùng, lục ao au căn phạ khá" (nghĩa là, con anh con chú lấy nhau trời diệt) Trường hợp con gái đi lấy chồng thì phải sau 5 đời con cái mới được phép kết hôn với nhau
Dân tộc Tày nói chung và người Tày ở Lục Yên nói riêng không có hình thức hôn nhân chị em vợ và hôn nhân anh em chồng, vì quan niệm những người đó đều là anh em trong nhà, nếu lấy nhau sẽ bị dư luận cộng đồng chê cười
2.3.2 Nguyên tắc cư trú sau hôn nhân
Nguyên tắc cư trú sau hôn nhân (hay còn gọi là hình thái cư trú sau hôn nhân), không chỉ mang ý nghĩa hình thức Nó không chỉ nói lên nơi cư trú của hai vợ chồng mới cưới mà còn mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc, là một thiết chế trong hôn nhân, được tập quán quy định, mỗi người đều phải tuân thủ, không ai được xem nhẹ và tùy tiện làm theo ý của riêng mình [.27:128 ]
Theo nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã nhận định: '' Loài người từ trước đến nay đã trải qua ba hình thái cư trú trong hôn nhân, tương ứng với 3 thời kỳ xã hội khác nhau, đó là: Hôn nhân cư trú bên vợ, tương ứng với thời kỳ mẫu quyền; hôn nhân cư trú bên nhà chồng, tương ứng với xã hội phụ quyền, đây cũng là hình thức cư trú phổ biến hiện nay; hôn nhân có nơi cư trú mới, tức là sau hôn nhân đôi vợ chồng không cư trú bên vợ cũng không cư trú bên nhà chồng mà xây dựng nơi cư trú mới, có khi nơi ở
Trang 2525
cách rất xa nơi ở [A9]của gia đình bố mẹ vợ hay bố mẹ chồng Đây là hình
thức cư trú ngày càng phổ biến cùng với sự phát triển của xã hội công nghiệp
[.27:129 ] Tuy nhiên ở một số dân tộc còn tồn tại một hình thức cư trú nữa
sau hôn nhân đó là: Cư trú luân phiên, nghĩa là sau khi cưới đôi vợ chồng cư
trú bên gia đình vợ một thời gian sau luật tục sau đó mới chuyển sang cư trú
bên nhà chồng và ngược lại, phổ biến như dân tộc Thái( còn gọi là tục ở rể)
Người Tày ở Lục Yên, theo truyền thống hôn nhân chủ yếu cư trú bên
nhà chồng, nghĩa là sau khi cưới đôi vợ chồng trẻ sẽ ở với gia đình chồng, nếu
có ra ở riêng thì cũng phải ở 3 -5 năm để cùng bố mẹ xây dựng kinh tế và
chuẩn bị làm nhà mới xong mới được ra ở riêng Theo lời kể của các cụ cao
tuổi trong làng, trước kia người Tày ở huyện Lục Yên cũng có hình thức cư
trú luân phiên, nghĩa là sau khi cưới đôi vợ chồng trẻ sẽ cư trú bên nhà vợ 3
năm, trong thời gian này họ cùng lao động sản xuất với gia đình bố mẹ vợ,
sau 3 năm họ sẽ chuyển về gia đình chồng ở cho đến suốt đời, phổ biến ở một
số xã như Lâm Thượng, Khai Trung, Minh Chuẩn[MQ10] Hình thức cư trú
này của người Tày- Lục Yên hiện nay không còn nữa Kết quả điều tra 50 hộ
ở bản Nà Khang, xã Khánh Thiện, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái như sau:
STT Năm Cư trú luân
phiên
Cư trú bên nhà chồng
Cư trú bên nhà vợ
Như vậy ta nhận thấy hình thức cư trú luôn phiên và cư trú bên nhà vợ
giảm dần, nhưng hình thức cư trú bên nhà chồng tăng dần, điều này cho thấy
Trang 26Một cô gái Tày có nhan sắc, nhưng không biết may vá thêu thùa, thì sẽ
bị mọi người chê bai, cho là lười biếng và rất khó lấy chồng
2.4.2 Tiêu chí chọn một người chồng tốt
Người Tày quan niệm, đàn ông là người chủ gia đình, gia đình giàu hay nghèo phụ thuộc vào người chồng Người chồng tốt phải biết làm mọi việc, phải khỏe mạnh, chịu khó, biết cày, bừa, biết làm nhà, giỏi săn bắn, đánh bẫy, tính tình hiền lành, thật thà , được mọi người quí trọng Nhưng quan trọng nhất vẫn là tiêu chí khỏe mạnh vì người chồng phải đảm đương những công việc đồng áng nặng nhọc của gia đình nên phải có sức khỏe tốt
Trang 2727
2.5 Quy định độ tuổi kết hôn
Xưa kia do quan niệm của người Tày, gia đình có phúc là gia đình đông đủ[A11] dâu, rể, cháu chắt đầy nhà, nên gia đình có con cái 13- 15 tuổi bố mẹ
đã lo việc dựng vợ gả chồng cho con Người con gái nếu đã đủ 13 tuổi mà chưa có đính ước với ai thì sẽ bị mọi người chê bai là không biết ăn ở, xấu nết, xấu duyên, bố mẹ bị cho là không biết dạy bảo con cái, phải hổ thẹn với
2.6.1 Chuẩn bị cho ngày cưới
Theo quan niệm của người Tày, cưới xin là một việc rất hệ trọng với
cả gia đình dòng họ, đám cưới tổ chức rất linh đình tồn kém, nhiều nghi lễ với nhiều lễ vật phức tạp Để tổ chức một đám cưới, cả hai bên gia đình chàng trai và cô gái đều phải chuẩn bị chu đáo, cẩn thận nhất là về mặt vật chất Trong đề tài này chỉ đề cập tới một số điểm cơ bản nhất phải chuẩn bị cho một đám cưới
- Đối với nhà trai
Con trai Tày xưa kia 15 tuổi đã đi hỏi vợ, để cưới vợ cho con trai bố mẹ phải chuẩn bị :
Tiền thách cưới, đây là số tiền mà nhà trai mang nộp cho nhà gái để cô gái chuẩn bị một số tư trang cá nhân trước khi về nhà chồng, số tiền này có thể ít hoặc nhiều theo yêu cầu của nhà gái (trước đây dùng đồng bạc trắng, từ khi có tiền giấy đồng bào Tày đổi sang dùng tiền giấy)
Trang 2828
Lợn cưới, trong một đám cưới theo phong tục tập quán, nhà trai phải có lợn dẫn lễ sang nhà gái và số lợn đủ để mổ mời khách ở nhà Lợn dẫn lễ sang nhà gái phải khoảng 80- 100kg, lợn mổ ở nhà tiếp khách cũng khoảng 200kg,
do đó gia đình không nuôi được đủ lợn phải có sự giúp đỡ của họ hàng và bạn
bè Nhưng đa số những gia đình sắp lấy vợ cho con cũng đã chuẩn bị sẵn lợn trong chuồng
Trong lễ vật dẫn cưới của người Tày, lễ vật đặc biệt không thể thiếu là
gà sống thiến, gà sống thiến phải to, màu lông đẹp Do đó gia đình phải nuôi, thiến gà trong mấy năm mới đủ gà cho con trai lấy vợ
Gạo nếp là lễ vật rất quan trọng trong đám cưới của người Tày Gạo nếp vừa để nấu ăn mời khách vừa để làm lễ vật đón dâu (đặc biệt người Tày không dùng gạo tẻ làm lễ vật đón dâu) Do đó, trước vụ mùa định cưới vợ cho con trai gia đình phải cấy rất nhiều lúa nếp, số gạo nếp dùng trong một đám cưới khoảng 400 kg trở lên
Đám cưới người Tày xưa kia, ăn uống rất linh đình, rất tốn kém và sử dụng hết nhiều tiền của, do đó để chuẩn bị cho một đám cưới cần rất nhiều thời gian và công sức của cả gia đình, sự giúp đỡ của anh em, họ hàng
- Đối với nhà gái
Ngày xưa, gia đình có con gái lớn khoảng 10- 13 tuổi đã được các mẹ, các chị dạy may vá thêu thùa, chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho bản thân và cho cuộc sống vợ chồng sau này như chăn, màn, quần áo Đặc biệt con gái phải biết dệt vỏ chăn ( nả phà), đan dây dao (thai pịa), mỗi cô gái trước khi đi lấy chồng phải chuẩn bị đủ 5 dây dao (dây này dùng để gói đồ dùng khi về nhà chồng, dây buộc kẹp đựng dao đi làm và để làm dây quai nón cho cả đoàn đưa dâu và đoàn nhà trai đến đón dâu), hai vỏ chăn, hai vỏ gối (người Tày không có tục dâu mới về nhà chồng phải chuẩn bị chăn, gối mới cho nhà chồng như người Thái), mà chỉ chuẩn bị đồ dùng cho bản thân và đồ dùng
Trang 29là việc phải chuẩn bị trong nhiều năm
Các cô gái đi lấy chồng còn phải chuẩn bị đồ trang sức mang theo, chủ yếu là đồ bằng bạc như: Vòng tay, vòng cổ và một bộ dây xà tích bằng bạc, gia đình nào giàu có thì cho đồ bằng vàng
2.6.2 Các nghi lễ trước ngày cưới
Người Tày rất coi trọng hôn nhân, do đó việc chuẩn bị cho một đám cưới chính thức trải qua rất nhiều nghi lễ phức tạp, các nghi lễ diễn ra theo những trình tự và thủ tục nhất định sau:
- Pay lạm pác (đi chuyển lời- ướm hỏi)
Xưa kia, việc hôn nhân là do cha mẹ sắp đặt Nam, nữ thanh niên Tày không được tự do yêu đương tìm hiểu, hôn nhân là do mối lái của gia đình, họ hàng Có trường hợp ở xa phải đến ngày cưới cô dâu, chú rể mới biết mặt nhau
Đây là nghi lễ đầu tiên trong các nghi lễ cưới xin của người Tày ở Lục Yên- Yên Bái Sau khi đã ngắm được cô gái cho con trai mình, gia đình nhà trai chủ động gửi lời một người quen của nhà gái báo cho nhà gái biết trước việc họ sẽ đến hỏi cô gái về làm dâu, nếu chấp thuận nhà gái sẽ chuyển lời đến nhà trai Nhà trai sẽ chọn một ngày tốt và cử một người thân của gia đình, gọi là "pú pà" ( nghĩa là ông mối, ông đón), thường là người trong họ Nhưng
Trang 3030
đó phải là đàn ông trung tuổi mẫu mực, có uy tín, (đàn bà không được làm việc này), cuộc sống song toàn, gia đình có đủ bề trai gái, nói năng lưu loát, lịch thiệp Người này sẽ đến nhà gái dùng lời nói lịch thiệp tế nhị ướm hỏi, chuyển lời của nhà trai với ý định xin được hỏi cô gái về làm dâu Nếu thuận thì nhà gái cũng dùng lời lẽ ngụ ý để trả lời và hai bên bàn ngày tiến hành những nghi lễ tiếp theo
Trong buổi "pay lạm" này, chỉ mình ông mối đến và nhà trai cũng chưa
mang lễ vật gì sang nhà gái, nhà gái cũng chưa phải làm cơm đón khách Một điều quan trọng nữa mà ông mối phải làm đó là xin được biết về ngày sinh, tháng đẻ của cô gái (lấy theo âm lịch) Nhà trai sẽ lấy tuổi của cô gái nhờ thầy
mo xem sách xe
m hợp hay khắc với con trai mình Người Tày rất chú trọng việc xem tuổi, nếu hợp nhà trai sẽ chủ động đưa lễ đến nhà gái tiếp; nếu không hợp (xung khắc nhau) thì việc hôn nhân coi như chấm dứt, nhà trai vẫn đến báo cho nhà gái biết Việc không hợp tuổi phải hủy hôn lễ là điều dễ thông cảm với người Tày ở Lục Yên, cô gái và chàng trai đều có thể tìm cho mình ý chung nhân khác mà không bị dư luận chê cười
- Pay moàu ( đi lễ trầu- dạm hỏi)
Theo phong tục truyền thống, nhà trai sẽ mang sang nhà gái hai gói trầu, cau, gói bằng giấy mầu và buộc lạt nhuộm mầu, thường là mầu đỏ hoặc mầu xanh Điều đặc biệt là nhìn vào mầu sắc lạt buộc, người ta biết được gia cảnh của nhà trai như thế nào Nếu gia đình không có tang thì nhuộm màu đỏ còn gia đình có tang thì nhuộm mầu xanh Tất cả các lễ vật sau này nhà trai mang sang nhà gái, kể cả đòn gánh gánh lễ vật cũng đều phải nhuộm giấy mầu và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này
Sau buổi ông mối đến nói chuyện và được nhà gái chấp thuận, nhà trai tiếp tục chọn ngày tốt và cử người sang nhà gái, thường vẫn lấy người lần
Trang 3131
trước đã sang thưa chuyện với nhà gái Lần này nhà trai phải chuẩn bị một gói trầu (khoảng 50 lá), 50 quả cau, để ông mối mang sang nhà gái Ông mối sang nhà gái nói chuyện, ý là đại diện nhà trai mang gói trầu đến xin hỏi cô gái về làm dâu, nếu chấp thuận nhà gái sẽ chia đôi gói trầu, cau đưa một nửa cho ông mối cầm về một nửa giữ lại và nhà gái (lúc này chỉ có bố mẹ cô gái chưa có người đại diện) xin thời gian để hỏi họ hàng và xem ý kiến con gái mình thế nào, và gói trầu cũng chưa phải đặt trình lên bàn thờ tổ tiên mà sẽ phân phát cho họ hàng nội ngoại của gia đình cô gái, như báo hiệu cho họ hàng biết nhà sắp gả con gái đi lấy chồng
Một thời gian sau khi nhận gói trầu thứ nhất (thường sau 1-2 tháng), nghe ngóng tin tức họ hàng, và cô gái đồng ý lấy chồng, nhà gái sẽ nhờ người chuyển lời cho nhà trai để nhà trai mang gói trầu thứ hai đến Việc nhận gói trầu thứ hai nghĩa là nhà gái đã đồng ý gả con gái cho nhà trai Gói trầu này nhà gái sẽ nhận hết (người Tày gọi là đắt mòau), và mời một số người thân, thường là ông bà nội, ngoại của cô gái đến chứng kiến việc nhận lễ và làm một mâm cơm để tiếp ông mối Trong lễ trầu này, nhà trai cũng xin ngày để dẫn lễ ăn hỏi chính thức
- Kin cáy (Ăn hỏi)
Sau một thời gian chuẩn bị và thông qua thỏa thuận của gia đình hai bên, lễ gà có thể dẫn sau lễ dạm hỏi vài tháng (phải là tháng chẵn), có khi vài năm (1-2 năm), đến ngày tốt nhà trai cử người đại diện đưa lễ ăn hỏi chính thức sang nhà gái Lần đưa lễ này ngoài ông mối còn có chú rể và người gánh
lễ (người gánh lễ phải là thanh niên chưa vợ)
Lễ vật gồm, 12 con gà sống thiến, 1con lợn 80-100kg (lợn đực đen không lấy lợn cái), 2 gói trầu (mỗi gói 100 lá), 1 buồng cau, 20 lít rượu, 40kg gạo nếp
Trang 3232
Nhà gái cử đại diện ra nhận lễ mà nhà trai mang tới, tất cả lễ vật đều được bày trước bàn thờ tổ tiên, thắp hương mang ý nghĩa thông báo cho ông
bà tổ tiên biết việc nhận lễ Sau đó đại diện nhà gái sẽ công bố trước toàn thể
họ hàng và nhà trai việc nhận lễ, ra mắt con rể mới (khươi mắng), đôi trẻ coi như đã thành vợ thành chồng và hai gia đình chính thức trở thành thông gia với nhau Ngày này nhà gái cho nhà trai biết (thách cưới),cụ thể nhà trai phải chuẩn bị bao nhiêu tiền mặt, bao nhiêu gạo, lợn, rượu để dẫn lễ sang nhà gái vào ngày cưới chính thức
Ăn hỏi, là nghi lễ lớn nhất trong các nghi lễ trước ngày cưới của người Tày Do đó cả nhà trai và nhà gái đều mời đầy đủ họ hàng nội ngoại đến giúp sắm lễ và chứng kiến việc nhận lễ, mừng cho hai gia đình có dâu, rể mới, lễ
ăn hỏi tổ chức khá linh đình, tốn kém
Đây còn là dịp để chàng trai, cô gái gặp mặt nói chuyện và cũng là dịp
để chàng rể mới thể hiện khả năng nấu nướng của mình trước gia đình, họ hàng nhà gái
Sau lễ ăn hỏi này, nếu vì một lý do mà hai người không đến được với nhau hoặc một trong hai người từ hôn thì việc đính ước giữa đôi trai gái coi như bị xóa bỏ Nếu điều rủi ro đó do nhà trai gây ra thì nhà trai phải chịu mất toàn bộ lễ vật, tiền của đã mang sang nhà gái trước đó, nhà gái không phải trả lại bất cứ thứ gì Tuy nhiên, nếu điều rủi ro đó do nhà gái gây ra thì gia đình nhà gái phải hoàn trả lại cho nhà trai toàn bộ những lễ vật mà trước đây nhà trai đã mang sang, cả trầu, cau, gà, lợn, gạo Quan niệm này phảng phất một chút ảnh hưởng của nho giáo, người phụ nữ không được coi trọng
- Pay chằng giam (lễ vào dịp tết)
Theo truyền thống, sau khi ăn hỏi 2-3 năm thì đôi trai gái mới tổ chức đám cưới chính thức Do đó từ khi ăn hỏi, vào dịp tết tháng bảy, nhà trai sẽ sắm một lễ để mang sang nhà gái, mà người Tày gọi là "Pay chằng giam", lễ
Trang 3333
vật bao gồm: 2 con gà thiến, 4 chai rượu, 12 ống gạo nếp, 1 chai mật mía, 1 ống đỗ xanh, 0,5kg chè Ngày nay, từ khi ăn hỏi đến lễ cưới chỉ diễn ra trong vòng một năm, có khi 1-2 tháng nên nghi lễ này không còn phổ biến nữa
Ngoài ra trong thời gian chờ cưới, hai gia đình thông gia có trách nhiệm giúp đỡ nhau, mọi việc nhỏ to đều phải mời nhau Vào mùa gặt, nhà trai sẽ nhờ người sang giúp nhà gái gặt nhà gái không phải trả công, người
Tày gọi là "au khươi pay tốc nà"
- So mự tón pặư (lễ xin ngày cưới)
Nhà trai định ngày cưới và chủ động đến báo ngày cưới cho nhà gái biết Lễ xin ngày cưới được tiến hành trước ngày cưới ít nhất bốn tháng để cả hai gia đình có đủ thời gian thông báo cho những người thân đã hứa hẹn giúp các lễ vật như tiền bạc, lợn, rượu, gạo Vì trước đây điều kiện kinh tế còn khó khăn, chưa có mua bán, trao đổi, do đó gia đình nào dựng vợ gả chồng cho con cái đều được hàng xóm giúp đỡ và gia đình đến giúp cũng coi đây là dịp mang gửi anh em, hàng xóm để khi gia đình mình có việc thì người ta giúp Việc giúp đỡ nhau thể hiện tình đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của đồng bào Tày Lục Yên Đồng thời do trước đây giao thông đi lại rất khó khăn, đi
bộ là chủ yếu, nên cần thời gian để đi mời họ hàng nội ngoại, bạn bè thân thích đến vui đám cưới cùng gia đình
Trong buổi lễ này, người ta quyết định mọi vấn đề cụ thể cho ngày cưới
và nhà trai trao số tiền thách cưới cho nhà gái để mua sắm thêm các đồ dùng cần thiết cho đám cưới, và chuẩn bị một số đồ dùng cá nhân (của hồi môn) cho cô gái về nhà chồng như: hòm đựng quần áo (có thể là hòm gỗ hoặc đan bằng nứa, tiếng Tày gọi là níp), chăn, màn, vải (vải hoa để cô dâu làm khăn buộc đầu trong những ngày mới về làm dâu), váy nhuộm chàm, áo bà ba và một bộ áo váy dài truyền thống và một bộ dây Xà tích bằng bạc Những gia đình có điều kiện còn sắm hoa tai, dây chuyền bằng vàng làm của hồi môn cho con gái về nhà chồng
Trang 3434
Hai bên bàn bạc và định ngày giờ dẫn đại lễ (lợn, rượu, gạo) sang nhà gái, giờ chú rể sang đón cô dâu, giờ cô dâu xuống cầu thang về nhà chồng và giờ cô dâu lên nhà chồng trong ngày cưới chính thức Tuy nhiên hai gia đình chỉ thống nhất ngày giờ với nhau, còn việc xem ngày giờ đã được tiến hành trước đó và do thầy mo xem cho, thầy mo người Tày biết xem sách, xem lịch, xem ngày giờ, tất cả những ngày giờ quan trọng này phải dựa vào tuổi của cô gái, chàng trai và bố mẹ hai gia đình, phải tránh giờ xấu
2.6.3 Ngày cưới
Sau một loạt những nghi thức và sau một thời gian chuẩn bị, đám cưới chính thức được tổ chức Về cơ bản đám cưới truyền thống của người Tày Lục Yên được tổ chức như sau:
Ngày cưới, người Tày gọi là "kin lảu"(uống rượu), được tổ chức đồng
thời ở cả hai bên gia đình, nhà trai và nhà gái đều mời đông đủ họ hàng dân bản đến ăn cỗ Đám cưới người Tày xưa kia tổ chức ăn uống từ hai đến ba ngày, đám cưới càng to thì đôi trẻ càng được hạnh phúc, gia đình cũng được dịp mở mày, mở mặt Cả hai bên gia đình đều có cỗ bàn ăn uống rất linh đình Đặc biệt đám cưới người Tày uống rất nhiều rượu, khách đến mừng uống rượu say suốt mấy ngày Mỗi gia đình phải chuẩn bị 4-5 con lợn thịt, mỗi con khoảng 80-90 kg, gia đình nào có nhiều anh em họ hàng, mời nhiều khách thường mổ thêm một con trâu hoặc một con bò nữa
Ngày cưới còn là dịp để mọi người gặp gỡ, chúc tụng nhau, trao nhau những điệu khắp, điệu cọi Đặc biệt các chàng trai cô gái Tày đến đám cưới thường hát đối đáp suốt đêm, không khí rất vui nhộn khó ai có thể dứt ra về
Khách tới dự lễ cưới, tùy vào mức độ quan hệ khác nhau với gia đình
mà có lễ vật mừng khác nhau, những người họ hàng thân thích thường đến từ ngày đầu tiên giúp sắm lễ sang nhà gái, còn bên nhà gái thì giúp nhận lễ, họ mang theo quà mừng cưới hiện vật (Chăn, gối, vòng bạc) hoặc tiền mặt để
Trang 3535
mừng cho đôi trẻ, mang rượu, gạo, gà giúp gia đình Chủ nhà sẽ cử một người ghi chép lại tất cả những lễ mừng của khách để sau này có dịp trả lễ
Nhà trai, mang lễ vật sang nhà gái vào sáng hôm trước ngày đón dâu
Lễ vật mà nhà trai mang sang nhà gái gồm có: Một triệu tiền mặt, một con lợn đực đen 80kg, 20kg gạo nếp, một cặp bánh dày to (đường kính 40cm), 20lít rượu, một ghánh trầu cau, 4 chai rượu, 3 gói trầu (mỗi gói 100 lá), 4m vải trắng hoặc xanh Tất cả các lễ vật trên đều được gói giấy đỏ, buộc lạt
đỏ, kể cả đòn ghánh và lồng lợn cũng nhuộm mầu đỏ (gia đình có tang nhuộm mầu xanh)
Đoàn đón dâu bên nhà trai gồm Ông đón (Pú pà), Bà đón (Da Tón), Chú rể (khươi), 2 phù rể (Ao pạu), 2 cô đón (A Tón) Ông đón là người đại
diện thay mặt nhà trai ứng xử mọi việc và tiến hành mọi nghi lễ bên nhà gái,
do đó phải là người có uy tín trong làng, biết hát và thuộc nhiều bài hát quan làng, giỏi ứng đối và thông hiểu các tục lệ về đám cưới Bà đón cũng phải là người thuộc nhiều bài hát đối đáp Điều này cho thấy nét độc đáo riêng trong đoàn đón dâu là mẹ chồng không được đến đón dâu như đám cưới của người Kinh Phù rể và cô đón phải là những nam thanh, nữ tú chưa có gia đình, thường là những người bạn thân của chú rể Họ là những người sang giúp mang đồ dùng của cô dâu sang nhà chồng như hòm đựng quần áo,chăn, màn Theo quan niệm truyền thống cuả người Tày, những người mà nhà gái nhờ đi đón dâu thì nhà trai phải cho họ tiền hoa hồng, cũng có khi cho thịt lợn vừa để cảm ơn, vừa là để những chàng trai cô gái không bị mất duyên Đối với đoàn đưa dâu bên nhà gái cũng được trả ơn bằng tiền mặt hoặc thịt lợn
Bên nhà gái cũng cử đại diện đưa cô dâu về nhà chồng, đoàn đưa dâu
gồm: Ông đưa (Ta Thống), Bà đưa (Da Thống), Cô dâu (Pặng), 2 phù dâu (Na thống), 2 cậu em trai cô dâu, không lấy em trai ruột (Khú thống), Ông
đưa (Ta thống), là người dẫn đầu đoàn đưa dâu, có trách nhiệm đưa cô gái về
Trang 3636
đến nhà chồng, và thực hiện mọi nghi lễ giao nộp dâu bên nhà trai Do đó cũng phải là người hoạt bát, giỏi ăn nói, thuộc nhiều bài hát quan làng Phù dâu và cậu cũng phải là người chưa vợ, chưa chồng
Ngày cưới, là ngày lễ quan trọng nhất trong tập quán cưới xin của người Tày Do đó, tất cả nghi lễ đều được thực hiện rất nghiêm ngặt, theo đúng giờ lành đã chọn Người Tày quan niệm làm như vậy đôi trẻ mới có được hạnh phúc
Đúng ngày giờ đã được ước định, đoàn nhà trai bắt đầu sang nhà gái đón dâu Ngay khi đoàn nhà trai bắt đầu vào đầu làng, các chàng trai, cô gái trong bản ra đón chào đông đảo, họ tiếp tục theo đoàn nhà trai qua ngõ, vào sân, lên nhà cô dâu ở mỗi chặng, họ bắt đầu hát những bài khắp, bài cọi mừng đám cưới Những bài hát được nhà gái quan tâm, hưởng ứng rất nhiệt tình, vì đó là hình thức sinh hoạt văn hóa và xem tài ứng xử của đoàn nhà trai
Tuy trải qua rất nhiều nghi lễ và có sự khác nhau cơ bản giữa người Tày ở một số xã trong huyện, nhưng cơ bản đám cưới người Tày huyện Lục
Yên - Yên Bái tiến hành các nghi lễ cơ bản và theo trình tự như sau:
2.6.3.1 Các nghi lễ bên nhà gái
- Lệ chăng chược (lễ căng dây chặn đường)
Khi đoàn đón dâu của nhà trai đến ngõ nhà gái, nhà gái cử một nhóm các cô gái trẻ trong làng chuẩn bị một sợi dây hoặc một tấm vải căng ngang lối vào nhà và hát bài hát với ý chất vấn: các vị là ai? Đi đâu? qua đây làm gì? đây là cửa cấm? muốn đi qua phải nói rõ lý do? Lập tức đoàn nhà trai hát một bài hát đáp lại, nói rõ lý do và yêu cầu mở đường cho đi qua Đây được coi là cuộc so tài đầu tiên về tài đối đáp giữa hai họ Có nhà hát hai, ba bài mới đi qua được, có khi đại diện bên nhà trai không hát đối đáp lại được thì phải bỏ tiền xin qua đường
Trang 3737
- Lệ khay tu (lễ giữ cửa)
Vượt qua được lệ căng dây chặn đường, đoàn đón dâu lại gặp chặng giữ cửa Trên các bậc cầu thang lên nhà có bày các chướng ngại vật như chậu nước, chổi quét nhà, dao, thớt hay những chiếc sọt, đòn gánh Với những chướng ngại vật này đoàn nhà trai có thể lách qua để lên nhà, nhưng không bao giờ người ta làm vậy, vì làm như vậy sẽ bị nhà gái chê cười cho là mất lịch sự và kém tài hát đối đáp Cho nên quan làng nhà trai phải hát một bài xin nhà gái cất bỏ những vật chướng ngại để có lối lên nhà
- Lệ pói phục (lễ trải chiếu)
Nhà của người Tày Lục Yên chủ yếu là nhà sàn 5 gian rộng rãi, bếp và bàn thờ đặt ở gian giữa Người Tày có tục rải chiếu mời khách ở gian ngoài cùng Những khi đoàn nhà trai vượt qua chặng giữ cửa lên nhà và ngồi ở gian ngoài, nhưng gian này vẫn chưa có chiếu rải, ông mối nhà trai khi đó sẽ hát một bài hát giới thiệu về đoàn nhà trai và tỏ ý trách chủ nhà không trải chiếu đón mình Đại diện nhà gái sẽ hát đáp lại với ý xin lỗi vì sự thiếu sót của mình
và lúc này mới cho người trải chiếu trịnh trọng mời đoàn nhà trai ngồi
-Lệ mơi lảu, mơi nặm (lễ mời rượu, mời nước)
Sau khi đoàn nhà trai ngồi xuống, đại diện nhà gái sẽ hát bài háĩt mời rượu và mời nước ý hỏi thăm đi đường có vất vả không và cảm ơn sự có mặt đúng giờ của nhà trai Sau đó nhà gái sẽ bê ra một khay nước và một khay có
4 chén rượu rót đầy mời đại diện nhà trai uống
Nội dung bài mời rượu, mời nước được nhạc sĩ Hoàng Nừng cung cấp như sau:
Trang 38Cha mẹ mừng lệ đại xuân
Hôm nay có ông bác ông chú
Vả lại thêm giàu mì phú quý
Phua đay đảy mìa ỷ đẹp đôi
Xuân họ mơi quan làng cin
thoong phần lảu
Lảu nay lảu quan làng
Lảu nay chang họ nội
Vằn nay là kin cưới lan nhình
Thúc hăư lan thớ thinh tó ké
Chúc hăư lan thọ tuế pác pi
Giỏa lườn đảy giàu mì lai lẳm
Em dì với em cô đến hộ
Đi khắp đường đều gặp bác bá,
cô chú
Ai cũng đến giúp, mừng lễ cưới
Bố mẹ được nhận hai lễ mừng Gia đình thêm giàu sang, phú quý
Chồng hiền lấy được vợ sinh Xuân họ mời quan làng hai chén rượu mừng
Rượu này rượu quan làng Rượu này là rượu gia đình Hôm nay là ngày cưới cháu gái Chúc cho cháu hạnh phúc đến già
Chúc cho cháu bách niên giai lão
Trang 3939
Sau khi quan làng nhà trai hát bài mời nước mời rượu nhà gái xong, quan làng bên nhà gái có đủ khả năng uống hết 4 chén rượu nhà trai mời Nhưng nếu làm như vậy sẽ bị họ hàng nhà trai chê cười, và để giữ thể diện cho nhà gái, quan làng nhà gái sẽ hát bài từ chối uống rượu Nội dung bài hát chối rượu do nhạc sĩ Hoàng Nừng cung cấp như sau:
QUAN LÀNG CHỔI LẢU(Quan làng chối rượu)
Chước khỏi chiềng mừa phụ
Cần mì lảu phác thâng tu khỏi
Tam tử nhi hầu hội nam minh
Thiên lý vạn tàng thích khổn
phuốc
Ơn cần coi thương đuổi lảu,
Lời đầu cho tôi xin phép ông
bà thông gia
Thưa toàn thể họ hàng nhà trai Thưa tất cả khách mời hôm nayNgười không rượu không nói nên lời
Tôi xin vui ngày cưới hôm nay Thiên lý dọc đường không người hái
Ơn người xin thương chén rượu đầy
Vả lại đảy giàu mì phú quý
Phua đay đảy mìa ỷ đẹp đôi
Xuân họ mơi lảu quan làng,
kin thoong phần lảu mà thôi
Nhà cửa được đẹp rộng lẫy Nhà có nhiều nước, nhiều chè Nước trong nguồn chảy mãi không hết
Nhà có phú quý, phúc đức Nhà được vinh hoa phú quý Chồng đẹp lấy được vợ hiền
Họ hàng tôi xin mời quan làng uống hai phần rượu mà thôi
Trang 4040
chè
Dếp thêm lảu lai tha khuổn
ngoac
Lụm lằm mạy tờ khát khen kha
Mừa mụn khỏi teo mà bấu thúc
Lảu nay lảu vạn phúc tăng
thinh
Luồm mừng khỏi so kin hẹt lệ
Chiềng quý họ po me còi đu
Thoong bưởng hăư khươi lùa
Đạo đức tại phụ mậu
Ơn cần khẻo cắt pần đạc tâm
Cần mỳ lảu phác thâng tu khỏi
Rượu này rượu mừng rượu vui Tôi xin uống lấy lệ cho nhà Xin quý họ thông gia xem giúp Hai bên vui mừng cho đôi trẻ hạnh phúc mà thôi
Tôi xin khấn tới tổ tiên gi đình
họ nhà trai
Họ hàng nội ngoại hai bên gia đình thông gia
Phức đức có cha mẹ Cảm ơn gia đình đã có lời mời
Có rượu mời đến chúng tôi Chúng tôi xin nhận lễ với nhà người
Chúc cho đôi trẻ được bền lâu, trăm năm
Sớm có quý tử, nữ nhi Hai bên được hòa thuận, bình
an mà thôi