1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu sưu tập tiền cổ của nhà sưu tập nguyễn văn thạo thị xã bắc ninh tỉnh bắc ninh

95 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện qua nghiên cứu sưu tập của ông Thạo đồng tiền nμy có 4 loại sau: Loại 1: Tiền “ Thái Bình Hưng Bảo” có hình tròn, lỗ vuông ở giữa, gờ mép rộng, lưng trơn, chữ trên tiền đọc chéo, vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu Trang

1 Lý do chọn đề tμi……… 1

2 Mục đích nghiên cứu của khoá luận………2

3 Đối tượng nghiên cứu của khoá luận……… 2

4 Phương pháp nghiên cứu của khoá luận……… 2

5 Bố cục của khoá luận……… 3

Nội dung của khoá luận Chương 1 vμi nét về tình hình nghiên cứu, sưu tầm cổ vật tư nhân ở bắc ninh vμ sự hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập nguyễn văn thạo 1.1 Vμi nét về tình hình nghiên cứu, sưu tầm cổ vật ở Bắc Ninh………… 4

1.2 Quá trình hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo……… ……… 6

1.2.1 Vμi nét về tiền cổ vμ sự xuất hiện tiền cổ ở Việt Nam……… 6

1.2.2 Quá trình hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo……… 13

Chương 2 Sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập nguyễn văn thạo 2.1 Phân loại tiền cổ trong sưu tập qua tiến trình lịch sử………16

2.1.1 Tiền thời Đinh……….16

2.1.2 Tiền thời Tiền Lê………18

2.1.3 Tiền thời Lý……… 19

2.1.4 Tiền thời Trần……… ……23

Trang 3

2.1.5 Tiền thời Hồ……… …… 29

2.1.6 Tiền thời Hậu Trần……… ….30

2.1.7 Tiền thời Lê Sơ……….….……30

2.1.8 Tiền thời Mạc……… ……… 35

2.1.9 Tiền thời Hậu Lê ……… 38

2.1.10 Tiền thời Tây Sơn……….………43

2.1.11 Tiền thời Nguyễn 45

2.2 Giá trị tiền cổ Việt Nam qua sưu tập của ông Nguyên Văn Thạo 59

2.2.1 Giá trị lịch sử 59

2.2.2 Giá trị văn hoá- nghệ thuật 62

2.2.3 Giá trị kinh tế……… ………… 64

2.2.4 Giá trị khoa học……… … …… 66

Chương 3 Vấn đề bảo tồn vμ phát huy giá trị tiền cổ trong sưu tập 3.1 Về vấn đề quản lý trong sưu tập …… ………68

3.2 Thực trạng bảo quản sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo………75

3.3 Giải pháp bảo tồn, phát huy sưu tập tiền cổ của ông Nguyễn Văn

Thạo………77

3.3.1 Tiếp tục sưu tầm bổ xung hiện vật……….………77

3.3.2 Tổ chức các cuộc trưng bμy 78

3.3.3 In ấn, xuất bản, giới thiệu sưu tập 78

Kết luận 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

Việt Nam lμ một quốc gia có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, lại có

vị trí nằm ở trung tâm bán đảo Đông Nam á nên tiền tệ cũng sớm được hình thμnh Đồng tiền đầu tiên của nước ta được chính thức ra đời dưới thời vua Đinh Tiên Hoμng Từ đó về sau trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ… đều cho

đúc tiền không hề bị gián đoạn

Tiền cổ lμ một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng của các nhμ nghiên cứu khảo cổ học cũng như các nhμ nghiên cứu về lịch sử, văn hoá truyền thống của dân tộc

Nghiên cứu tiền cổ chúng ta có thể hiểu được tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá đương thời của nó Mỗi vị vua lên ngôi đều nghĩ đến việc đúc tiền.Trên mặt đồng tiền thường đúc bốn chữ Hán Hai chữ đầu lμ niên hiệu đức Vua, hai chữ sau nói về vật bán dùng để lưu thông Do đó đồng tiền khi phát hμnh ngoμi giá trị lưu thông thì nó còn lμ một “Tín bμi” tác dụng tâm lý bố cáo thiên hạ về vị Vua đương triều trị vì đất nước

Tiền còn được sử dụng như một vật thông linh giữa trần tục với thế giới thần linh siêu phμm khi được sử dụng trong tế lễ Ngoμi ra tiền còn được sử dụng lμm thần hộ mệnh cất giữ trong nhμ hay đeo vμo người nhằm trừ ma quỷ để phúc lộc gia hưng Tiền còn được sử dụng trong cưới hỏi với ý nghĩa lμ đạo lý vuông tròn bách niên giai lão

Tiền cổ lμ di sản văn hoá của dân tộc được giữ gìn từ thế hệ nμy sang thế hệ khác Nhưng ở nước ta việc nghiên cứu tiền cổ còn ít được quan tâm Các nhμ nghiên cứu tiền cổ Việt Nam còn rất khiêm tốn Mặt khác số lượng tiền cổ đã

Trang 5

phát hiện được lại nằm rải rác trong các bảo tμng, các nhμ sưu tập, các cửa hiệu, trong nhân dân…

Trong giai đoạn hiện nay khi cánh cửa giao lưu hội nhập mở rộng với thế giới bên ngoμi thì việc giữ gìn bản sắc văn hoá của cha ông từ bao đời nay cμng cần thiết hơn bao giờ hết

Chính vì những lý do trên để góp phần vμo việc bảo tồn vμ phát huy giá trị tiền cổ nước ta tôi mạnh dạn chọn đề tμi “Tìm hiểu sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo- Thị xã Bắc Ninh- Tỉnh Bắc Ninh” lμm khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu của khoá luận

Thống kê, phân loại nhẵm xác định số lượng, loại hình vμ niên đại tiền cổ

có trong sưu tập qua các triều đại theo tiến trình lịch sử Việt Nam

Nghiên cứu đặc điểm về hình dáng, chất liệu, chữ viết, hoa văn trên mỗi

đồng tiền trong sưu tập Đồng thời qua đó xác định giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học của sưu tập

Đề xuất phương án bảo tồn vμ phát huy giá trị của sưu tập

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu của khoá luận

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận lμ sưu tập tiền cổ của ông Nguyễn Văn Thạo thị xã Bắc Ninh- Tỉnh Bắc Ninh

Phạm vi nghiên cứu lμ nghiên cứu các loại tiền cổ Việt Nam từ thế kỷ X

đến thế kỷ XX có trong sưu tập

4 Phương pháp nghiên cứu của khoá luận

Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống như điều tra điền dã, phân loại, khảo tả di vật, vẽ, chụp ảnh, dập hoa văn, thống kê, xử lý tư liệu

Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngμnh như bảo tμng học,

mỹ thuật học, dân tộc học, văn hoá học, văn bản học, kỹ thuật học

Trang 6

Khoá luận vận dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng để xem xét, đánh giá sưu tập trong mối tương quan với các nguồn tμi liệu có liên quan đến tiền cổ

5 Bố cục của khoá luận

Ngoμi phần mở đầu vμ phần kết luận, tμi liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của khóa luận được bố cục thμnh 3 chương

Chương 1: Vμi nét về tình hình nghiên cứu sưu tầm cổ vật tư nhân ở Bắc Ninh vμ sự hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo

Chương 2: Sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo

Chương 3: Vấn đề bảo tồn vμ phát huy giá trị của sưu tập

Đây lμ một đề tμi tương đối mới, các nguồn tμi liệu liên quan, các công trình nghiên cứu còn quá ít ỏi cộng với sự hạn hẹp về kiến thức của bản thân vμ thời gian nên khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy bản thân tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các nhμ nghiên cứu vμ các bạn sinh viên

Qua đây tôi cũng xin được cảm ơn nhμ sưu tập tiền cổ Nguyễn Văn Thạo

đã cung cấp cho tôi khá nhiều tư liệu bổ ích để tôi hoμn thμnh đề tμi

Xin chân thμnh cảm ơn!

Trang 7

1.1 Vμi nét về tình hình nghiên cứu, sưu tầm cổ vật ở Bắc Ninh

Bắc ninh - vùng quê hương Kinh Bắc, đây được xem như lμ chiếc nôi của nền văn hoá, nơi đây xa xưa đã xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán sầm uất, với

sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Vì vậy tiền tệ ở

đây cũng sớm được hình thμnh

nước, chắc chẵn song hμnh với nó lμ một lịch sử tiền tệ vô cùng đa dạng vμ có rất nhiều điều phải tìm hiểu nghiên cứu Tuy nhiên tình hình nghiên cứu sưu tầm tiền Việt Nam ở trong nước cho tới nay còn vẫn chưa có nhiều “điểm nhấn”, mμ chỉ có một số ít những công trình nghiên cứu hiếm hoi về một số giai đoạn lịch sử tiền tệ Việt Nam, mμ hầu như chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ, bμi bản Nghiên cứu về tiền tệ hay nói đúng hơn lμ khoa học về tiền tệ ở Việt Nam chưa

được chú ý đúng mức, chưa có một chiến lược dμi hơn vμ chưa vạch được một kế hoặc bμi bản Trong khi đó ở Trung Quốc, Nhật, Pháp… kết quả nghiên cứu còn tốt hơn rất nhiều thế nhưng với tư cách lμ một nguồn sử liệu, không ít các công trình nghiên cứu đã lấy tiền cổ đặc biệt lμ tiền kim loại lμm cứu cánh nhằm giải quyết nhiều vấn đề có liên quan, mμ chủ yếu lμ việc định nhận niên đại cho các di tích khảo cổ học thuộc về các triều đại phong kiến Việt Nam Bởi thế cho dù nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam chưa được thúc đẩy, nhưng chúng vẫn luôn lμ một

Trang 8

đối tượng được quan tâm vμ chúng ta thường đọc đây đó trong các công trình nghiên cứu thuộc về sử học, khảo cổ học…

ở Bắc Ninh nói riêng vμ ở Việt Nam nói chung vẫn chưa có sách nμo viết

đầy đủ về tiền tệ chỉ thi thoảng có một vμi đoạn sơ lược viết về tiền

Vμo thế kỷ thứ XVIII nhμ bác học Lê Quý Đôn trong cuốn “Phủ Biên Tạp Lục” có nói đến tình trạng lưu thông tiền tệ ở đμmg trong nhưng chỉ lμ tình hình lưu thông thời đó mμ thôi

Cuối thế kỷ thứ XIX trong cuốn “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” của Ngô

Sỹ Liên vμ cuốn “ Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim có ghi vμi đoạn ngắn

đóng góp đáng kể, hoặc lμ mở ra một hướng tiếp cận với một mảng tư liệu vô cùng quan trọng như tiền cổ hoặc lμ bổ xung tư liệu để có một cách nhìn hệ thống

vμ toμn diện về tiền kim loại Nhưng cả ba công trình vẫn chỉ lμ động tác mở cánh cửa chính để vμo ngôi nhμ tiền cổ Việt Nam với biết bao phòng ốc vẫn còn im ỉm

đóng nhưng biết bao kỳ thú

Song song với nghiên cứu cho đến nay ở việt Nam đã xuất hiện nhiều nhμ sưu tập tiền cổ nói chung vμ tiền Việt Nam nói riêng, nhưng nhìn toμn cục các sưu tập tiền vẫn còn khá lỗ mỗ vμ khuyết trống

Trang 9

Khái quát bước đầu cho thấy ở Bắc Ninh đến nay có khoảng 100 người đan nghiên cứu sưu tầm cổ vật Các nhμ sưu tập cổ vật tư nhân có xu hướng phát triển mạnh mẽ từ khi “Luật di sản văn hoá” được ban hμnh vμ đi vμo đời sống Các nhμ sưu tập cổ vật tư nhân Bắc Ninh quan tâm nghiên cứu sưu tầm nhiều loại hình cổ vật thuộc các loại chất liệu khác nhau vμ có niên đại trải dμi theo tiến trình lịch

sử Đặc biệt họ quan tâm nhiều đến những chất liệu thuộc đồ gốm sứ vμ đồ đồng Thμnh phần các nhμ sưu tập cổ vật tư nhân khá đa dạng vμ phong phú, họ thuộc các đối tượng vμ tầng lớp khác nhau trong lịch sử Có những người còn rất trẻ nhưng vì tình yêu di sản văn hoá đã khiến họ đam mê vμ thôi thúc họ phải bảo vệ

vμ phát huy giá trị của cổ vật Việt Nam nói chung vμ cổ vật trên quê hương Bắc Ninh nói riêng Trong số hμng trăm người sưu tập cổ vật tư nhân ở Bắc Ninh thì lĩnh vực tiền cổ chỉ có 2 người, ông Nguyễn Văn Thạo lμ một trong nhưng người

có sưu tập tiền cổ tương đối hoμn chỉnh

Bên cạnh đó thì vấn đề nghiên cứu về cổ vật nói chung vμ tiền cổ nói riêng,

ở Bắc Ninh vẫn chưa có được một công trình nghiên cứu chuyên về tiền, đó chỉ lμ những bμi tham luận, những ý kiến đóng góp trong các hội thảo

Điểm qua tình hình nghiên cứu tiền cổ ở Bắc Ninh nói riêng vμ Việt Nam nói chung để thấy rằng tiền cổ Việt Nam đang lμ vấ đề rất được quan tâm vμ tất cả chỉ mới lμ khởi đầu dù lμ ấn tượng nhưng vẫn chưa thấm tháp gì với sự vô cùng phong phú của tiền cổ khi nó đã có mấy nghìn năm lịch sử, khi nó đã trải qua bao

sự thăng trầm của các triều đại phong kiến, khi nó còn bao nhiêu vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc đang luận bμn

1.2 Quá trình hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo

1.2.1.Vμi nét về tiền cổ vμ sự xuất hiện tiền cổ ở Việt Nam

Nói đến tiền cổ thì đây có lẽ lμ loại cổ vật mang nhiều đặc tính khác nhất

so với những cổ vật khác bởi nhiều yếu tố:

Trang 10

Tiền cổ không phải lμ loại cổ vật xưa nhất trong lịch sử loμi người, hơn nữa nói đến tiền cổ lμ nói đến sự phong phú đa dạng của nó Trước khi có đồng tiền kim loại con người đã biết sử dụng vỏ ốc, xương thú… lμm phương tiện trao đổi

Đây lμ hình thức sơ khai của tiền

Tiền cổ lμ loại hiện vật lưu giữ được trong khoảng thời gian rất dμi có thể hμng nghìn hμng vạn năm cũng có thể lâu hơn nữa Với các cuộc khai quật khảo

cổ người ta đã tìm thấy ở những di chỉ ấy những đồng tiền nguyên vẹn, thậm chí hoa văn chữ viết còn nhìn được rõ trong khi các di vật cùng thời chỉ còn lμ những phế vật

Đồng tiền còn được tìm thấy ở khắp mọi miền đất nước, từ núi cao cho đến miền hải đảo, từ nơi đô thị phồn hoa cho tới miền xa xôi hẻo lánh Điều đó chứng

tỏ tiền được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt địa vị,

đẳng cấp Vì vậy rất thuận lợi cho việc tìm kiếm, khai thác vμ nghiên cứu

Tiền cổ từ lâu đã trở thμnh một đối tượng khoa học rất quan trọngvμ hứng thú ở một số nước đã có một ngμnh khoa học độc lập chuyên khảo về tiền cổ gọi

lμ “Tiền cổ học” Còn ở Việt Nam tuy chưa có một ngμnh nghiên cứu riêng về tiền cổ, song nó cũng có vai trò vị trí hết sức quan trọng, có nhiều công trình nghiên cứu về loại hình cổ vật nμy Nhiều bảo tμng có riêng một phần trưng bμy

về tiền cổ, ngoμi ra còn rất nhiều nhμ sưu tập tư nhân cũng chuyên nghiên cứu về tiền cổ Từ khi ngμnh khảo cổ học Việt Nam ra đời, tiền cổ được sưu tầm phát hiện ngμy cμng nhiều, các sưu tập tiền ngμy cμng trở nên hoμn chỉnh

Như chúng ta biết, trong dòng chảy lịch sử tiền tệ từ thủa ban đầu, đồng tiền chỉ được đúc lμm tín vật trung gian trao đổi hμng hoá Song từ khi trên mặt

đồng tiền có chữ, tiền còn lμ báu vật tâm linh vμ mang một số ý nghĩa sau:

Một văn bản cổ mang dấu tích lịch sử phát triển chữ viết, mỗi dân tộc có một loại hình chữ viết riêng

Trang 11

Một loại văn bản mang đậm nét thư pháp học Qua đồng tiền có thể tìm thấy rất nhiều loại thư pháp như chân, thảo, triện, hμnh, lệ,bát phân thư…

Một văn bản mang tính niên đại học Mỗi loại tiền đều khắc dấu một triều

đại, mỗi vị vua lên ngôi đều cho đúc tiền riêng mang phong cách của mình Do vậy qua đồng tiền có thể xác định được niên đại của thời kỳ đó lμ không khó Hơn nữa nó còn lμ một văn bản trực tiếp gi những tư tưởng của vua

Dẫu chưa nói hết ta đã thấy những đồng tiền cổ nhỏ bé nhưng có ý nghĩa thật quan trọng Thật chẳng lạ lùng khi xem những bảo tμng ta thấy những đồng tiền gỉ mốc xanh mốc đỏ được đặt trên nền nhung của những hộp gỗ đóng thật

đẹp trong tủ kính sang trọng đắt tiền

quốc gia có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời Nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam á, vì vậy nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam thì không thể không nghiên cứu tiền cổ ở Đông á, vì thời phong kiến các nước vùng Viễn đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên…Đều sử dụng chung một hình thức tiền tệ

Mặt khác với lịch sử 1000 năm Bắc thuộc cho nên việc lưu hμnh tiền tệ của Trung Quốc lμ không thể tránh khỏi Vì vậy cho nên bμi viết nμy tôi xin nêu qua lịch sử tiền tệ ở Đông á, đặc biệt lμ Trung Quốc để góp phần nhìn một cách toμn diện hơn về tiền tệ ở Việt Nam

Thoát ra khỏi thời kỳ ăn lông ở lỗ, con người bắt đầu nhóm họp lại vμ tìm vùng đất mới Cμng ngμy họ cμng trở nên phát triển hơn về mọi mặt, hơn nữa nguồn thực phẩm trong tự nhiên ngμy cμng khan hiếm, họ không thể săn bắt vμ hái lượm, họ phải tiến hμnh trồng trọt để đổi cái thừa lấy cái thiếu Giá trị hμng hoá trao đổi được chiểu theo một vật như một số sắn đổi lấy một buồng chuối, một rổ khoai đổi lấy một rổ rau…Đó gọi lμ vật hoá

Trang 12

Dần dần việc trao đổi theo cách hμng đổi hμng không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, cho nên đã xuất hiện “ vật lμm ngang giá chung” để đo

được giá trị nhiều vật phẩm hơn Những vật đó có chức năng như tiền sơ khai Vật

đầu tiên được con người sử dụng lμm tiền lμ vỏ ốc

Vμo thời kỳ nμy Trung Quốc lμ nước có nền văn minh sớm nhất nên đây cũng lμ nơi sử dụng vỏ ốc lμm hoá tệ đầu tiên Về mặt ngôn ngữ, hình tượng con

ốc được viết thμnh chữ “bối” vừa có nghĩa lμ con ốc vừa có nghĩa lμ tiền tệ Khi các loại hình tiền tệ phát triển các loại hμng hoá quý cũng có giá trị như tiền tệ, chúng được gọi lμ “ hoá”, “ bảo”… trong các chữ đó đều có bộ “bối” để ẩn chứa khái niệm tiền tệ ban đầu Vỏ ốc gồm nhiều loại, mỗi vùng sử dụng một loại vỏ

ốc khác nhau

Việc dùng vỏ ốc lμm hoá tệ ngμy cμng phổ biến cho đến lúc vỏ ốc khan hiếm người ta nghĩ đến việc lấy xương thú lμm vật trung gian để trao đổi vμ vẵn trạm hình vỏ ốc Người ta gọi đó lμ “Cốt bối hoá”

Cho đến đời nhμ Chu mới thay xương thú bằng chất liệu đồng được đúc theo hình vỏ ốc Người ta gọi lμ “ đồng bối”

Thời Xuân Thu chiến quốc, Trung Hoa chia lμm nhiều nước nhỏ với chủ quyền riêng, hình thức tiền tệ phát triển theo kinh tế địa phương, vùng nông nghiệp thì đúc tiền lưỡi mai đμo đất, gọi lμ “ bố tiền”, vùng săn bắn thì đúc có dạng lưỡi đao gọi lμ “đao tiền”, có vùng đúc thμnh hình tròn gọi lμ “ hoμn tiền” hay “ xiên tiền”

Cuối thời Xuân Thu lại xuất hiện loại tiền lỗ vuông ở giữa Đó lμ đồng tiền

đầu tiên thể hiện sự vuông tròn của cμn khôn Hình dạng nμy được sử dụng hơn

2000 năm

Trang 13

Năm 221 khi vua trần Thuỷ Hoμng lên ngôi Hoμng đế đặt ra phép đo lường vμ thống nhất tiền tệ, đã đúc hμng loạt tiền mới hình tròn, lỗ vuông,ở giưa

có hai chữ “Bán lạng” để xác định giá trị của nó

Sau khi nhμ Hán lên ngôi cũng cho đúc tiền “Bán lạng” nhưng chỉ mang ý nghĩa của một loại tiền mμ thôi

` Đến năm 118 TCN, Hán Võ Đế cho lưu hμnh loại tiền “Ngũ thù”(nặng 5 thù) trong khoảng thời gian khá dμi

Năm thứ 9 SCN Vương Mãng chiếm ngôi nhμ Hán có “Hoá tuyền”, “Bố tuyền”, “Đại tuyền”…Nhưng nó không đồng nhất

Thời Tam Quốc ba nước đúc các loại tiền khác nhau để lưu hμnh: Nước Nguỵ dưới sự đứng đâù của Tμo Tháo dùng tiền Ngũ Thù Nước Thục, Lưu Bị cho

đúc tiền “Trị bách Ngũ Thù” Nước Ngô, Tôn Quyền cho đúc tiền “Đại Tuyền Ngũ Thù”, “Đại Tuyền Đương Thiên “

Những thế kỷ tiếp theo Trung Quốc vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống tiền

“Ngũ Thù”, “Hoá Tuyền”.Nhưng bắt đầu xuất hiện các loại tiền có niên hiệu như

Niên hiệu Hiếu Kiến nguyên niên (454) cho đúc tiền “Hiếu Kiến “ Niên hiệu Thái Hoμ năm thứ 19 cho đúc tiền “ Thái Hoμ Ngũ Thù”, rồi “ Vĩnh An Ngũ Thù” năm 529

Khi Đường Cao Tổ lên ngôi (621) nhμ vua ra lệnh bác bỏ các loại tiền cổ

để dùng tiền “Khai Nguyên Thông Bảo” mở đầu cho việc xác định đồng tiền lμ

“báu tệ lưu hμnh” trong quần chúng,

ở Việt Nam vμo thời nhμ Tần, Triệu Đμ được cử lμm thái thú phương Nam, nhân cơ hội nhμ Tần suy yếu Triệu Đμ đem quân đánh chiếm vùng lân ấp lập nên nước Nam Việt, tách biệt khỏi nhμ Tần xưng lμm Triệu Vũ Vương

Tuy nhiên Triệu Đμ vẫn đem nền văn hoá Hán áp đặt lên đất nước ta chính vì thế tiền tệ lưu thông cũng lμ tiền Bán Lạng của nhμ Tần đúc

Trang 14

Năm 112TCN Triệu Ai Vương lại một lần nữa dâng nước Nam Việt cho người Hán Lúc nμy Hán Vũ Đế cho đúc tiền Ngũ Thù Vì vậy nước ta lại một lần nữa chuyển từ tiền Bán lạng sang lưu thông tiền Ngũ Thù

Cho đến năm 40, mã Viện đem quân sang đánh lại cuộc khởi nghĩa của Hai

Bμ Trưng khiến cho loại tiền “Ngũ Thù” nμy lan toả khắp nước ta

Năm 544 ở nước ta Lý Bôn chống lại ách đô hộ của nhμ Lương, thμnh lập nước Vạn Xuân độc lập xưng lμ Lý Nam Đế hiệu lμ Thiên Đức, sử sách có gì thời

kỳ Lý Nam Đế có cho đúc tiền nhưng không ai biết lμ loại tiền gì Hơn nữa cơ nghiệp nhμ Lý chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn (544-548) sau đó lại bị phương Bắc đô hộ nên loại tiền nμy đã mất dấu vết

Tuy nhiên khảo cổ học nước ta đã tìm thấy một số đồng tiền mang niên hiệu Thiên Đức như: “ Thiên Đức Thông Bảo”, “Thiên Đức Trọng Bảo” Vâỵ đây

có phải lμ những đồng tiền sớm nhất nước ta hay không? Xung quanh vấn đề nμy

có hai ý kiến đưa ra

Một ý kiến cho rằng đây lμ những đồng tiền đầu tiên của nước ta, vì biểu dương cho chủ quyền nhμ Lý đã cho đúc tiền mang niên hiệu nước ta lμ Thiên

Đức Tuy nhiên ý kiến nμy chưa có chứng cớ xác thực chỉ lμ những giải thích chung chung

ý kiến thứ hai lμ của Giáo sư Đỗ Văn Ninh vμ một số nhμ nghiên cứu tiền

cổ khác cho rằng đồng tiền Thiên Đức không phải lμ của Việt Nam vì thời kỳ nμy Việt Nam đang sử dụng đồng tiền Ngũ Thù, hơn nữa loại tiền có hai chữ Thông Bảo ra đời sớm nhất lμ đồng Khai nguyên Thông Bảo do Đường Cao Tổ đúc năm

621, do đó không thể có đồng Thiên Đức Thông Bảo hay Thiên Đức Trọng bảo

đúc năm 544-548 Bước đầu có thể cho rằng đó lμ những đồng tiền của nhμ Mãn

do vua Phúc Kiến Ân đúc năm 944

Trang 15

Tuy nhiên cho đến nay đồng tiên Thiên Đức vẫn chưa được công bố trên sách báp, tạp chí Vì vậy đây vẫn lμ câu hỏi trong giới tiền cổ

Những thế kỷ tiếp theo nước ta vẫn bị lệ thuộc vμo Trung Quốc nên hoμn toμn sử dụng đồng tiền của Trung Quốc Nhμ Đường trị vì gần 300 năm nên đồng Khai Nguyên Thông Bảo vẫn được coi lμ đồng tiền mẫu mực được đúc đi đúc lại nhiều lần ngay cả trên lãnh thổ Việt Nam

Năm 906 Khúc Thừa Dụ được nhμ Đường phong lμm Tiết độ sứ Năm 917 Khúc Thừa Mỹ sang thông hiếu với nước Nam Hán vμ đồng tiền Cμn Hanh Trọng Bảo được đưa sang lưu hμnh ở nước ta cùng với đồng Ngũ Đại hiện đã tìm thấy tại một số di chỉ khảo cổ học

Như vậy trong hơn 1000 năm Bắc thuộc nước ta không đúc tiền mμ sử dụng tiền của Trung Quốc

Đến năm 970, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoμng đế cho đúc tiền ‘Thái Bình Hưng Bảo’ Tiền có hình tròn, đường kính 2,5cm.Có lỗ hình vuông đúc nổi trên mặt tiền bốn chữ Thái Bình Hưng Bảo, mặt sau có chữ

Đinh Tiền được đúc theo mẫu của đồng Khai Nguyên Thông Bảo thời nhμ

Đường, tuy nhiên cũng có cải biến

Cách thiết kế của đồng tiền chứa đựng nhiều ý nghĩa tượng trưng sâu sắc theo quan niệm Phương đông: Trời tròn, đất vuông Học thuyết về âm dương ngũ hμnh cũng được thể hiện trên đồng tiền Đồng tiền nμo cũng có hai mặt sấp ngửa, tức âm dương, chứa đựng năm phương hướng của vũ trụ lμ Đông, Tây, Nam , Bắc

vμ Trung phương, còn lỗ vuông thuận lợi cho việc chế tạo vμ lưu thông Từ đó trở

đi nước ta mỗi triều đại hay mỗi vị vua lên ngôi đều cho đúc tiền Tuy nhiên mỗi triều đại mang những đặc điểm về kinh tế, chính trị khác nhau nên cũng ảnh hưởng đến tμi chính Bởi vậy chất liệu để sử dụng đúc tiền cũng hết sức đa dạng,

Trang 16

ngoμi bằng đồng còn có chất kiệu khác như vμng, bạc, kẽm đặc biệt các chất liệu quý thường dùng để ban thưởng

Với sự ra đời cuả đồng tiền đầu tiên của nươc ta, đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo của vua Đinh Tiên Hoμng mở đầu cho việc Việt Nam độc lập đúc tiền vμ phát triển không ngừng về số lượng, chất lượng ở các triều đại sau Với hμng trăm loại tiền như thế các nhμ nghiên cứu lịch sử dễ dμng hình dung một nền kinh tế hμng hoá, phương tiện thanh toán lưu thông rộng rãi của các triều đại đã qua

1.2.2 Quá trình hình thμnh sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo

Trong quá trình lμm việc tôi đã được nghe ông Thạo- chủ bộ sưu tập tâm sự rằng: Ngay từ thời còn rất nhỏ, từ hồi ông còn học cấp I, cấp II ông đã có sự đam

mê tiền cổ Trong những lần chơi đánh đáo với các bạn ở trường ông đã thấy được những đồng tiền thật đẹp vμ có những lúc ông đã cất một vμi đồng trong cặp như

lμ bảo bối Cứ như vậy với niềm đam mê đó đến năm 16 tuổi, ông bắt đầu sưu tập tiền cổ Việt Nam, bởi sự tò mò với những chữ trên tiền vμ những hình ảnh đẹp đã thôi thúc ông phải có một cái gì đó Đến năm 1993 (khi ông 17 tuổi ) ông đọc

được cuốn “Tiền Cổ Việt Nam” của giáo sư Đỗ Văn Ninh vμ từ đó ông đã có phương hướng để sưu tập theo trình tự thời gian Ông bắt đầu liên hệ với những nhμ sưu tập có tên tuổi để học hỏi thêm, được sự giúp đỡ của Hội khoa học lịch sử Việt nam, Viện sử học, Viện Hán - Nôm mμ ông đã có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử tiền từ đó ông bắt đầu xây dựng sưu tập của mình bằng nhiều phương pháp Có những đồng tiền ông có được hết sức dễ dμng mμ không phải khổ công tìm kiếm, đó lμ ông vô tình thấy được lúc đi dạo, khi về quê, cũng có khi ông

đựơc bạn bè vμ người thân tặng cho Tuy nhiên những đồng tiền nμy ông có được không nhiều, phần lớn lμ ông phải mua bán trao đổi thậm chí có những đồng ông phải đổi cả bằng máu của mình Ông kể: Đó lμ vμo hồi tháng 4 năm 1995, ông

Trang 17

theo một số người lên vùng Hμ Giang để đμo khảo cổ học, ông phải ở trong rừng

đến cả tháng, thức ăn, nước uống đều thiếu thốn cộng với bệnh sốt rét rừng đã hμnh hạ khiến ông tưởng như kiệt sức, nghĩ rằng không thể theo đuổi tiếp nghề của mình vì nó gian nan quá Nhưng tình yêu nghề quá lớn khiến ông không thể

từ bỏ Đặc biệt có những lần ông phải lặn lỗi sang tận Trung Quốc để tìm mua tiền cổ với giá lên tới hμng trăm triệu tiền Việt Nam chỉ vì muốn sưu tập của mình hoμn thiện hơn

Cứ như vậy vμi năm sau khi bộ sưu tập của ông đã tương đối ông có mang

đi trưng bμy ở một vμi nơi Tuy nhiên đến tháng 12 năm 2009, tại Bảo tμng Bắc Ninh lần đầu tiên bộ sưu tập của ông đã đến được với đông đảo công chúng không những trong tỉnh mμ còn các tỉnh bạn

sản văn hoá thời Lý vμ cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh lần thứ hai” để chμo mừng Festivan Bắc Ninh vμ hướng tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hμ Nội, sưu tập tiền cổ của ông Nguyễn Văn Thạo cũng lμ một trong số những tiêu điểm các hiện vật được trưng bμy trong bảo tμng Tại đây tiến sĩ Đặng Văn Bμi - Nguyên cục trưởng cục Di sản văn hoá vμ một số cán bộ cấp cao của tỉnh đã đến

dự vμ rất tâm đắc với sưu tập

Đến nay ông Nguyễn Văn Thạo đang sở hữu một bộ sưu tập tiền kim loại gần như đầy đủ nhất với con số lên tới gần 200 đồng tiền xu (ngoμi ra còn rất nhiều tiền giấy)

Sưu tập tiền xu của ông gồm: Đại diện cho các triều đại vua chúa từ đồng tiền đầu tiên của vua Đinh Tiên Hoμng năm 968 cho đến tiền xu thời Bảo Đại năm 1926 vμ tiền xu của thời Pháp Đông Dương vμ sμi Gòn (Mỹ) cho tới nay

Trang 18

Cuối cùng ông tâm sự rằng với trách nhiệm của một công dân Việt Nam với lịch sử nước nhμ, ông muốn mình phải thường xuyên triển lãm tiền để phục vụ cho sự hiểu biết của nhân dân, giữ gìn lại bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

Trang 19

Chương 2 sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập nguyễn văn

để nhằm giáo dục, giải thích, sử dụng

Theo Luật di sản văn hoá thì “sưu tập lμ một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hoá phi vật thể được thu thập, giữ gìn hay xắp xếp có

hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung, chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên vμ xã hội”

Như vậy sưu tập tiền cổ của nhμ sưu tập Nguyễn Văn Thạo lμ tập hợp các

di vật, cổ vật được thu thập, giữ gìn hay xắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung, chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiều lịch sử tự nhiên vμ xã hội

2.1 Phân loại tiền cổ trong sưu tập qua tiến trình lịch sử

Căn cứ vμo niên đại tiền cổ trong sưu tập, để tiện cho việc theo dõi vμ nghiên cứu, dưới đây tôi phân loại theo tiến trình lịch sử từ thời Đinh (thế kỷ X)

đến thời Nguyễn (thế kỷ XX)

2.1.1 Tiền Thời Đinh (968-980)

Từ năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoμng đế, thμnh lập nước Đại Cồ Việt lấy niên hiệu lμ Thái Bình Sử sách cũ như: Đại Việt Sử Ký Toμn Thư, Lịch Triều Hiến Chương Loạn Chí, chưa thấy có ghi việc vua Đinh đúc

Trang 20

tiền, song cho đến nay các nhμ nghiên cứu cổ tiền trên thế giới đã công nhận tiền

“ Thái Bình Hưng Bảo” hay “Thái Bình Trọng Bảo” lμ của nhμ Đinh do vua Đinh Tiên Hoμng đúc Đây lμ đồng tiền đầu tiên của nước Việt nam tự chủ, nó mở ra

kỷ nguyên tiền tệ sau nμy

Hiện qua nghiên cứu sưu tập của ông Thạo đồng tiền nμy có 4 loại sau: Loại 1: Tiền “ Thái Bình Hưng Bảo” có hình tròn, lỗ vuông ở giữa, gờ mép rộng, lưng trơn, chữ trên tiền đọc chéo, viết theo kiểu chữ chân, đúc bằng đồng

đỏ, đồng tiền nμy trong sưu tập hiện còn nguyên vẹn

Đường kính 23,5cm độ dμy 1mm ( bản ảnh 1) Loại 2: Tiền “ Thái Bình Hưng Bảo” về hình dáng vμ chất liệu, kỹ thuật đúc tương tự như loại trên Duy chỉ có điểm khác lμ mặt lưng có chữ “Đinh” nằm bên dưới lỗ vuông, loại tiền nμy trong sưu tập cũng còn nguyên vẹn

Đường kính 23,5mm ( bản ảnh 1) Loại 3: Giống như loại 2 nhưng điểm khác lμ chữ “Đinh” nằm bên trên lỗ vuông

Loại 4: Tiền “Thái Bình Hưng Bảo” loại nμy cũng có đặc điểm giống như loại 2 vμ 3 Tuy nhiên mặt lưng có chữ “Đinh” ở bên trên lỗ vuông, bên dưới có dấu “.”, loại tiền nμy cũng còn nguyên vẹn

Đường kính 23,5mm ( bản ảnh1 )

Kỹ thuật đúc tiền “ Thái Bình Hưng Bảo” tương đối thô nhưng mặt tiền thuần phúc, phong cách cơ bản thống nhất, có nhiều điểm giống với tiền “Ngũ

Đại” của Trung Quốc nhưng vẫn có điểm khác biệt rõ rệt Chữ “Hưng” trong tiền

“Thái Bình Hưng Bảo” của Đinh Bộ Lĩnh lμ một điểm sáng tạo của tiền Việt Nam “Hưng Bảo” tức lμ khác với “Trọng Bảo” truyền thống của Trung Quốc Câu nμy còn mang ý nghĩa chúc phúc nước Đại Cồ Việt quốc vận hưng thịnh, đời

đời hưởng thái bình

Trang 21

Mặt khác trên hầu hết các đồng tiền của vua Đinh Tiên Hoμng chữ “ Thái” viết thμnh chữ “Đại” xung quanh vấn đề nμy có hai ý kiến đưa ra:

Giáo sư Đỗ Văn Ninh trong cuốn “Tiền cổ Việt Nam” cho rằng có thể do lâu ngμy đồng tiền bị gỉ, lμm mất nét chấm dưới chữ “Thái”

Cách thứ hai trong cuốn “Hán Việt từ điển” của Thiều Chửu nói: chữ “Đại”

đều có âm nghĩa như chữ “Thái” Bởi vậy đồng tiền có thể đọc lμ “Thái Bình Hưng Bảo” rất phù hợp với niên hiệu của vua Đinh

Nhμ Đinh ngoμi Đinh Tiên Hoμng, còn có một triều vua nữa lμ Đinh Toμn con trai của Đinh Tiên Hoμng, song vì quá nhỏ, không đủ sức lãnh đạo đất nước nên đã phải thay thế bằng một triều đại mới Đó lμ triều Tiền Lê

-2.1.2 Tiền Thời Lê (980-1009 )

Năm 980 lê Hoμn phế Đinh Toμn tự lập lμm đế, sử cũ gọi lμ nhμ Tiền Lê, lấy niên hiệu lμ “Thiên Phúc” (980-988), Hưng Thống (989-9994), ứng Thiên (994-1005)

Thời kỳ nμy đã được ghi chép rằng “Lê Hoμn tương đối coi trọng nông nghiệp, cho đμo sông, lμm cầu, sửa dịch trạm, đóng thuyền bè Trình độ kỹ thuật của các nghề xây dựng, nghề mộc, nghề trạm bạc, luyện sắt đều được nâng lên Các nhμ buôn đi lại dễ dμng, dần dần sức sản xuất của xã hội tăng lên” Đây cũng

lμ điều kiện để thúc đẩy tiền tệ phát triển

Sách “Đại Việt Sử Ký Toμn Thư” có chép “ Thiên Phúc năm thứ năm (984), mùa xuân, tháng hai đúc tiền Thiên Phúc”

Trong sưu tập khoá luận nghiên cứu hiện đồng tiền “Thiên Phúc” nμy có 4 loại sau

Loại 1: Tiền “Thiên Phúc Trấn Bảo” đúc theo kiểu hình tròn, lỗ vuông, nhưng lỗ tiền tương đối to, biên tiền rộng vừa phải, mặt lưng có chữ “Lê” nhỏ gờ

Trang 22

viền nổi rõ, chữ viết theo lối chân, đọc chéo Được đúc bằng đồng thau, loại tiền nμy trong sưu tập còn khá nguyên vẹn

Đường kính 23mm (bản ảnh 1) Loại 2: Tiền “Thiên Phúc Trấn Bảo” loại tiền nμy có đặc điểm cơ bản giống với loại 1, song mặt lưng có đúc nổi một chữ “Lê” to Trong sưu tập loại tiền nμy cũng còn nguyên vẹn

Đường kính 23mm (bản ảnh 1) Loại 3: Tiền “Thiên Phúc Trấn Bảo” mặt lưng có chữ “Lê” viết giản thể,lỗ tiền to, chữ viết chân phương, dễ đọc, tuy nhiên có phần mỏng hơn các loại tiền trước

Đường kính 23mm (bản ảnh 1) Loại 4: Tiền “Thiên Phúc Trấn Bảo” đúc theo hình tròn, lỗ vuông, gờ viền nổi rõ, chữ viết chân phương rõ rμng, sắc nét Lưng tiền để trơn, loại tiền nμy cũng còn nguyên vẹn

Đường kính 23mm (bản ảnh 1) Tiền triều Lê đúc bằng đồng thau, chất liệu cũng như kỹ thuật đúc đẹp hơn tiền thời Đinh, chữ viết cũng rõ rμng, sắc nét hơn Tuy nhiên nền kinh tế thời kỳ nμy vẵn còn non yếu nên việc trao đổi bằng tiền vẫn còn chưa phổ biến, tiền đúc

ra chủ yếu để khẳng định độc lập, chủ quyền chứ chưa phát hμnh rộng rãi

2.1.3 Tiền Thời Lý (1010-1255)

Sau gần 30 năm trị vì, triều đình nhμ Lê đã đi vμo suy yếu, vị vua cuối cùng không đủ sức khoẻ phải nằm thiết triều còn gọi lμ vua Lê Ngoạ Triều hoang tμn, bạo ngược, lòng dân oán hận, ý trời đã thuận nên việc thay thế một triều đại mới

lμ không thể tránh khỏi

Nhμ Lê đại bại, nhμ Lý lên thay, năm đó lμ năm 1009 Truyền thuyết kể rằng trước khi Long Đĩnh chết, sét đánh vμo cây gạo ở Châu Cổ pháp vết hằn

Trang 23

thμnh bμi thơ chữ Hán mang điềm báo trước rằng nhμ Lê sụp đổ, nhμ Lý lên thay, thμnh lập vương triều mới

Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi vua, kết thúc tập đoμn phong kiến quân

sự thống trị từ thời nhμ Đinh

Sau khi lên ngôi ông cho dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long để phát triển đất nước về mọi mặt Nền kinh tế phát triển nhanh tróng, cả nông nghiệp vμ công nghiệp đều tương đối ổn định vμ mang lại hiệu quả cao Thương nghiệp buôn bán dần dần tập chung, xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán sầm uất tiêu biểu lμ cảng Vân Đồn Điều nμy khẳng định rằng dưới triều Lý có đúc tiền

Dưới triều Lý chỉ có 3 đời vua không đúc tiền đó lμ: Lý Thánh Tông 1072); Lý Huệ Tông (1211-1224); Lý Chiêu Hoμng (1224-1225), còn lại các vua khác đều cho đúc tiền theo niên hiệu của mình

Như vậy theo khảo sát, trong sưu tập của ông Nguyễn Văn Thạo tổng số tiền thời Lý có 8 đồng gồm: Lý Thái Tổ: 1 đồng, Lý Thái Tông: 2 đồng, Lý Nhân Tông: 1 đồng, Lý Anh Tông: 2 đồng, Lý Cao Tông: 2 đồng

Tiền đời Lý Thái Tổ (1010-1028)

Sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ đổi niên hiệu lμ Thuận Thiên với niên hiệu nμy, ông đã cho đúc tiền “Thuận Thiên Đại Bảo”

Trong sưu tập của ông Thạo số lượng tiền nμy có tương đối nhiều, đúc kiểu hình tròn, lỗ vuông, biên tiền rộng, gờ viền không nổi rõ, chữ đọc chéo, viết chân phương, sắc nét, dễ đọc, tiền được đúc bằng chất liệu đồng tốt, trong sưu tập loại tiền nμy hiện còn nguyên vẹn

Mặt lưng tiền có một chữ “nguyệt”

Đường kính 24mm (bản ảnh 1)

Lý Công Uẩn tuy tiếp thu đặc điểm của tiền thời kỳ trước nhưng lại không dùng

“Thông Bảo” hay “Nguyên Bảo” … mμ dùng “Đại Bảo” khiến cho khác biệt hẳn

Trang 24

với các loại tiền Trung Quốc, đồng thời cũng khác biệt với các loại tiền của thời

kỳ trước

Tiền đời Lý Thái Tông (1028-1054)

Niên hiệu Thuận Thiên năm thứ 19, Lý Thái Tổ băng hμ, thái tử Lý Chính

Đức kế vị , gọi lμ Thái Tông hoμng đế, ở ngôi 26 năm Với niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ, ông cho đúc tiền “Thiên Cảm Nguyên Bảo”

Đồng tiền nμy trong sưu tập hiện còn nguyên vẹn, tuy nhiên chữ trên tiền không nhìn được rõ, tiền đúc hình tròn, lỗ vuông vừa phải, biên tiền rộng, gờ viền không nổi rõ, chữ viết chân phương, được đúc bằng chất liệu đồng không nguyên chất nên có hiện tượng bị gỉ

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1) Năm 1042 Lý Thái Tông đổi niên hiệu lμ Minh Đạo vμ cho đúc tiền “Minh

Đạo Nguyên Bảo”.Về điều nμy trong “ Đại Việt Sử Ký Toμn Thư” viết “Đổi niên hiệu lμ Minh Đạo… đúc tiền Minh Đạo”

Loại tiền nμy được đúc có vẻ dμy dặn hơn tiền “Thiên Cảm Nguyên Bảo”,

gờ viền nổi rõ, biên tiền rộng, lỗ vuông vừa phải, chữ viết chân phương, rõ rμng Tiền nμy trong sưu tập còn khá nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1)

Tiền đời Lý Nhân Tông (1072-1127)

Tháng 10 năm 1072, Thánh Tông mất con trai lμ Lý Cμn Đức nối ngôi, tức

Lý Nhân Tông Đây lμ thời kỳ duy trì sự ổn định kinh tế, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam cho đắp đê Cơ Xá để bảo vệ mùa mμng Thời kỳ nμy thủ công nghiệp gia đình cũng phát triển tương đối nhanh, thương nghiệp cũng có bước tiến bộ hơn so với thời kỳ trước,

Trang 25

Lý Nhân Tông lên ngôi cho đúc tiền “ Thiên Phù Nguyên Bảo”

Tiền đúc bằng đồng, lỗ vuông không rộng lắm, biên tiền rộng, gờ viền nổi

rõ, chữ đọc vòng, chữ “Nguyên” viết bằng chữ Triện, còn các chữ khác viết bằng chữ Chân, theo thời gian chữ trên tiền đã bị mờ đi rất nhiều

Lưng tiền để trơn

Đường kính 22,5cm (bản ảnh 1)

Tiền đời Lý Anh Tông (1138-1175)

Năm 1138, Lý Thần Tông bị bệnh mất, con trai lμ Lý Thiên Tộ kế vị, gọi lμ

Lý Anh Tông Trong thời gian trị vì Lý Anh Tông sử dụng 4 niên hiệu: Thiệu Minh (1138-1140); Đại Định (1140-1162); Chính Long Bảo ứng (1163-1174); Thiên Cảm Chí Bảo(1174-1175)

Niên hiệu Đại Định cho đúc tiền “Đại Định Thông Bảo”

Loại tiền nμy đúc mang đặc trưng phong cách thời Lý, gờ viền nổi rõ, lỗ vuông to vừa phải, chữ đọc chéo theo lối Khải, tương đối dμy dặn Trong sưu tập loại tiền nμy còn khá nguyên vẹn

Lưng để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1) Với niên hiệu Chính Long cho đúc tiền “Chính Long Nguyên Bảo” loại tiền nμy trong sưu tập của ông Thạo gồm:

“Chính Long Nguyên Bảo” được đúc bằng chất liệu đồng nhưng tương đối mỏng hơn các đời vua trước, chữ viết theo lối Khải, lỗ vμ biên tiền rộng, gờ viền không nổi rõ, các nét hoa văn cũng như chữ trên tiền không còn nhìn rõ, trong sưu tập nó cũng còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1)

Tiền đời Lý Cao Tông (1176-1210)

Trang 26

Lý Cao Tông ở ngôi 34 năm, sử dụng 4 niên hiệu Chính Phù , Thiên Tư Gia Thuỵ, Thiên Gia Bảo Hựu, Trị Bình Long ứng

Ngay sau đó cho đúc tiền ‘Thiên Tư Nguyên Bảo’

Loại tiền nμy trong sưu tập của ông Thạo có đặc điểm như sau : Tiền đúc bằng

đồng có dạng hình tròn, lỗ vuông, chữ trên tiền viết theo lối chân, đọc vòng, gờ viền nổi rõ, biên tiền tương đối rộng Đồng tiền nμy được giữ gìn rất cẩn thận trong sưu tập vì nó vô cùng quý hiếm

Lưng để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1) Đây cũng lμ loại tiền mang phong cách thời Lý điển hình, loại tiền nμy còn lại rất hiếm do vậy việc sưu tầm đồng tiền nμy của ông Nguyễn Văn Thạo cũng gặp nhiều khó khăn

Đến niên hiệu Trị Bình cho đúc tiền ‘Trị Bình Nguyên Bảo’

Loại tiền nμy cũng đúc bằng đồng nhưng có dáng vẻ thanh mảnh hơn, lỗ tiền tương đối to, biên tiền rộng nhưng không nổi rõ, chữ trên tiền viết chân phương,ỏtong sưu tập đồng tiền nμy cũng còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 1) Nhìn chung tiền thời Lý đúc bằng chất liệu vμ kỹ thuật khá đẹp, hơn nữa đã

có sự kết hợp cả ba loại chữ Chân, Triện, Thảo Tuy nhiên tiền thời kỳ nμy phát triển còn khá khiêm tốn, do vậy viêc sưu tầm cũng còn gặp nhiều khó khăn

2.1.4 Tiền Thời Trần (1125-1400)

Thời kỳ nμy nhμ Lý bắt đầu đi vμo suy yếu, Lý Huệ Tông bị bệnh, không mμng đến chính sự đã xuất gia đi tu, nhường ngôi cho con gái lμ Lý Chiêu Hoμng khi mới 7 tuổi Thân gái, tuổi nhỏ nên triều đình nhanh chóng rơi vμo tay họ Trần bằng một cuộc hôn nhân giữa Trần Cảnh vμ Lý Chiêu Hoμng

Trang 27

Vừa lên ngôi nhμ Trần bắt tay ngay vμo việc phát triển kinh tế như khai khẩn đất hoang, tu sửa đê điều, thợ thủ công, thương nhân đều có các phường hội, quan hệ giữa hμng hoá vμ tiền tệ có bước phát triển Đặc biệt thời kỳ nμy các loại thuế như thuế đinh, thuế tang (trồng dâu nuôi tằm) phu phen lao dịch đều thu bằng tiền Vì vậy có thể khẳng định thời kỳ nμy đồng tiền đã thâm nhập phổ biến vμo cuộc sống người dân Qua khảo sát thực tế bộ sưu tập của ông Nguyễn Văn Thạo thấy tiền nhμ Trần có tổng số 10 đồng Trong đó Trần Thái Tông : 3 đồng, Trần Thánh Tông : 1 đồng, Trần Minh Tông : 1 đồng, Trần Dụ Tông : 3 đồng, Dương Nhật Lễ : 1đồng, Trần Nghệ Tông : 1đồng Cụ thể đặc điểm của các loại tiền của các thời như sau

Tiền đời Trần Thái Tông (1225-1258)

Thời gian trị vì Thái Tông sử dụng ba niên hiệu Kiến Trung (1225-1232); Thiên ứng Chính Bình (1232-1251); Nguyên Phong (1251-1258)

Niên hiệu Kiến Trung nhμ vua cho đúc tiền “Kiến Trung Thông Bảo”

Loại tiền nμy nhμ vua đúc theo kiểu hình tròn, lỗ vuông, với chất liệu đồng tốt chữ đọc vòng, viết theo lối chữ Chân, chữ “Trung” nhỏ hơn ba chữ còn lại trên tiền, biên tiền rộng, lỗ to vừa phải,gờ viền nổi rõ, hiện trong sưu tập loại tiền nμy còn tương đối tốt

Lưng để trơn

Đường kính 24mm ( bản ảnh 1) Niên hiệu Chính Bình lại cho đúc tiền “Chính Bình Thông Bảo”

Loại tiền nμy có hình thức vμ kiểu dáng giống với tiền đời trước, tuy nhiên chữ trên tiền đọc vòng, viết theo lối Chân, biên tiền rộng, chữ nhỏ, gờ viên nổi rõ

Đồng tiền nμy trong sưu tập cũng còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm ( bản ảnh 1)

Trang 28

Niên hiệu Nguyên Phong cho đúc tiền “ Nguyên Phong Thông Bảo”

Trong sưu tập của ông Thạo loại tiền nμy được đúc bằng đồng, theo kiểu hình tròn, lỗ vuông, chữ trên tiền đọc vòng, viết theo lối triện, gờ viền nổi rõ, biên tiền rộng, đúc dμy dặn Trong sưu tập đồng tiền nμy cũng còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 23mm ( bản ảnh 1) Tuy nhiên hiện nay Khảo cổ học đã phát hiện nhiều tiền “Nguyên Phong Thông Bảo” chủng loại rất phức tạp, có loại do Tống Thần Tông đúc, có loại lμ tiền mậu dịch Nhật Bản Do vậy việc xác định đâu lμ tiên của Trần Thái Tông lμ rất khó, cần có những căn cứ xác định

Tiền đời Trần Thánh Tông (1258-1278)

Trần Thánh Tông ở ngôi 21 năm, sử dụng hai niên hiệu Thiệu Long vμ Bảo Phù Tuy nhiên chỉ thấy đúc tiền theo niên hiệu Thiệu Long, đó lμ “Thiệu Long Thông Bảo”

Trong sưu tập đồng tiền nμy có đặc điểm như sau: Tiền đúc bằng chất kiệu

đồng tốt, lỗ tiền rộng, gờ viền rộng vμ nổi rõ, biên tiền nhỏ nên diện tích viết chữ còn ít do vậy chữ trên tiền nhỏ vμ khó đọc, viết theo lối Chân, đọc vòng Đồng tiền trong sưu tập còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 2)

Tiền đời Trần Minh Tông(1314-1329)

Trần Minh tông tức vị, lấy niên hiệu Đại Khánh (1314-1323), sau đó đổi thμnh Khai Thái (1324-1329) Trong Đại Việt Sử Ký Toμn Thư chép “ Năm Đại Khánh thứ 10, tháng 11 đúc tiền chì” đến tháng 12 niên hiệu Khai Thái ra lệnh cấm dùng tiền chì vμ đúc tiền đồng “ Khai Thái Nguyên Bảo”

Trang 29

Ông Thạo hiện lưu giữu loại tiền nμy đúc bằng đồng, dμy khoảng 1mm, chữ đọc chéo, kiểu chữ Chân, chữ “Bảo” có bộ bối viết vuông, biên tiền rộng, gờ viền nhỏ, lỗ tiền to Tiền nμy trong sưu tập đến nay còn nguyên vẹn

Lưng để trơn

Đường kính 23mm ( bản ảnh 2) Cũng có đồng tiền “Khai Thái Nguyên Bảo” có đặc điểm giống như đồng tiền trên, tuy nhiên chữ đọc chéo, viết theo lối chân phương, biên tiền rộng Hiện nay cũng còn nguyên vẹn trong sưu tập

Lưng tiền có chữ “Trần”

Đường kính 24mm ( bản ảnh 2)

Tiền đời Trần Dụ Tông (1341-1369)

Trần Dụ Tông ở ngôi 28 năm dùng hai niên hiệu Thiệu Phong 1357) ; Đại Trị (1358-1369)

(1341-Niên hiệu Thiệu Phong cho đúc tiền ‘Thiệu Phong Nguyên Bảo’ vμ ‘Thiệu Phong Thông Bảo’

Trong sưu tập hai loại tiền nμy có đặc điểm sau

Tiền “Thiệu Phong Nguyên Bảo” được đúc bắt đầu niên hiệu Thiệu Phong,

có nhiều bản khác nhau

Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Thiệu Phong Nguyên Bảo”, chữ trên tiền đọc vòng, viết treo lối Chân, được đúc bằng đồng, lỗ vuông rộng vừa phải, biên tiền rõ nét Trong sưu tập đồng tiền nμy cũng còn nguyên vẹn tuy nhiên chữ đã hơi mờ

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm ( bản ảnh 2) Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Thiệu Phong Nguyên Bảo”, đọc vòng, biên tiền rộng, gờ viền nổi rõ, chữ “ Nguyên” viết theo lối Triện, các chữ còn lại viết theo

Trang 30

Lưng tiền để trơn

Đường kính khoảng từ 23,5-24mm ( bản ảnh 2) Năm thứ hai niên hiệu Thiệu Phong, bắt đầu đúc tiền “Thiệu Phong Thông Bảo”

đồng, lỗ tiền rộng, chữ đọc chéo viết theo lối chân phương, gờ viền nổi, biên tiền khá rộng Đồng tiền nμy trong sưu tập cùng vẫn còn nguyên

Lưng tiền đúc nổi chữ “Trần”

Đường kính 23mm (bản ảnh 2) Loại thứ hai, mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Thiệu Phong Thông Bảo” đọc chéo, chữ đã mờ, tiền tương đối dμy dặn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm ( bản ảnh 2) Niên hiệu Đại Trị (1358-1369) cho đúc tiền “Đại Trị Nguyên Bảo” vμ “Đại Trị Thông Bảo”

Hiện trong sưu tập của ông Thạo tiền “Đại Trị Nguyên Bảo” gồm 7 kiểu cả

đọc vòng cả đọc chéo

Đọc vòng gồm 4 loại:

Viết theo lối chân, chữ “bảo” có bộ “ bối” viết phương gọi lμ phương bối Bốn chữ trên đồng tiền viết theo lối hμnh thư

Bốn chữ trên tiền viết theo lối Thảo

Bốn chữ trên tiền viết theo lối Triện

Đọc chéo gồm 3 loại

Trang 31

Tất cả các đồng tiền nμy lưng đều để trơn Đường kính23mm

Tiền Đại Trị Thông Bảo có các kiểu sau : Loại đọc vòng

Chữ trên tiền viết theo lối chân

Chữ trên tiền viết theo lối Triện

Loại đọc chéo

Chữ trên tiền viết theo lối Chân

Bốn chữ viết theo lối Triên nhưng hình thức khác nhau

Tiền đời Dương Nhật Lễ (1369-1370)

Năm 1369 Trần Dụ Tông mất, không có con nối dõi, bèn truyền ngôi cho

con trai của Thái Túc lμ Dương Nhật Lễ lấy niên hiệu Đại Định vμ đúc tiền “Đại

Định Thông Bảo”

Trong sưu tập đồng tiền nμy có đặc điểm lμ đúc bμng chất liệu đồng, theo kiểu hình tròn, lỗ vuông, chữ viết chân phương dễ đọc, tiền có gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ ở cả hai mặt Hiện loại tiền nμy cũng còn khá nguyên vẹn

Hiện trong sưu tập của ông Thạo cũng có loại tiền nμy với đặc điểm Tiền

đúc bằng đồng, lỗ vuông nổi rõ ở cả hai mặt, chữ trên tiền viết theo kiểu chữ Chân, đọc chéo, tiền có gờ mép nổi rõ Đồng tiền nμy trong sưu tập còn tương đối

đẹp vμ nguyên vẹn

Lưng để trơn

Trang 32

Đường kính 24,5mm (bản ảnh 2)

2.1.5 Tiền Thời Nhμ Hồ (1400-1407)

Tiền giấy Hồ Quý Ly(1400)

Đến cuối thế kỷ thứ XIV, nhμ Trần đi vμo con đường suy vong, nhân cơ hội

đó Hồ Quý Ly soán ngôi nhμ Trần vμ đổi họ gốc của mình- họ Hồ Tự xưng đế

đổi quốc hiệu lμ Đại Ngu, đặt niên hiệu lμ Thánh Nguyên vμ cho phát hμnh tiền giấy Thông Bảo Hội Sao Về điều nμy trong Đại Việt Sử Ký Toμn Thư có ghi

“Mùa hạ, tháng 4 bắt đầu phát hμnh tiền giấy Thông Bảo Hội Sao”

Ngoμi tiền giấy nhμ hồ còn cho đúc cả tiền đồng về sử sách thì không thấy ghi chép gì việc Hồ Quý Ly cho đúc tiền đồng, song trên thực tế người ta đã sưu tầm được nhiều đồng mang niên hiệu Thánh Nguyên khác nhau

Thực tế sưu tập tiền cổ của ông Nguyễn Văn Thạo cũng có đồng tiền

‘Thánh Nguyên Thông Bảo’, gồm 2 loại sau

Loại 1 : Mặt tiền đúc nổi 4 chữ ‘Thánh Nguyên Thông Bảo’ chữ đọc chéo, viết chân phương, gờ mép vμ viền lỗ nổi rõ, lỗ vuông nhỏ, tiền đúc bằng đồng thau, dμy khoảng gần 1mm

Lưng tiền để trơn

Đường kính 23mm ( bản ảnh 3) Loại 2 : Mặt tiền đúc nổi 4 chữ “Thánh Nguyên Thông Bảo” chữ đọc chéo, viết theo lối theo lối Triện, gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ, lỗ vuông nhỏ, tiền

đúc bằng đồng đỏ, dμy 0,75mm Hiện cả hai đồng tiền nμy đều còn nguyên vẹn trong sưu tập

Lưng tiền để trơn

Đường kính 23mm (bản ảnh 3)

Trang 33

Tóm lại dưới triều Hồ cả tiền đồng vμ tiền giấy đều được lưu thông Tuy nhiên người dân đã quen với giá trị thực tế của đồng tiền do bản thân nó lμ kim loại vμ tiền đồng có tính chất bền vững dễ cất dấu

2.1.6 Tiền Thời Hậu Trần (1407-1426)

Mặc dù nhμ Minh sau khi diệt nhμ Hồ, tuyên bố con cháu họ Trần không còn ai nữa Nhưng trên thực tế các tôn thất nhμ Trần vẫn tìm cách tập hợp lại, nổi lên chống ách đô hộ của nhμ Minh.Tiêu biểu lμ hai cuộc khởi nghĩa của Trần

Ngỗi vμ Trần Quý Khoáng, sử cũ gọi lμ nhμ Hậu Trần

Năm 1418 Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, lấy khẩu hiệu lμ phản Minh phục Trần Năm 1426 Lê Lợi tìm trong dân gian một người trong họ Trần lμ Trần Cảo

vμ lập lμm vua đặt niên hiệu lμ Thiên Khánh sau đó cho đúc tiền ‘Thiên Khánh Thông Bảo’

Trong sưu tập loại tiền nμy có đặc điểm sau Tiền đúc bằng đồng chất liệu tốt, hình tròn với biên tiền rộng, lỗ vuông nhỏ, chữ trên tiền đọc chéo, viết theo lối Chân, thư pháp khô cứng, chữ nhìn không còn rõ, tiền đúc dμy dặn khoảng gần 1mm Hiện đồng tiền nμy vẫn còn nguyên vẹn

Trang 34

Sau đó Lê Lợi hạ chiếu sửa tịch điền, lập hộ tịch, phân phối lại ruộng đất, thậm chí binh sĩ cũng thay nhau về lμm ruộng, dần dần nền kinh tế từng bước

được phục hồi, lμm cơ sở để tạo cho việc đúc tiền được thống nhất vμ từng bước

được quy phạm hoá

Trong sưu tập của ông Nguyễn Văn Thạo tiền thời Lê Sơ có 11 đồng tiền gồm: Lê Thái Tổ: 1 đồng, Lê Thái Tông: 2 đồng, Lê Nhân Tông: 2 đồng, Lê Nghi Dân: 1 đồng, Lê thánh Tông: 2 đồng, Lê Hiển Tông: 1 đồng, Lê Uy Mục: 1 đồng,

Lê Tương Dực: 1 đồng, Lê Chiêu Tông: 1 đồng Các đồng tiền nμy có những đặc

điểm sau

Tiền đời Lê Thái Tổ (1428-1527)

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua, đặt niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433) vμ cho đúc tiền “Thuận Thiên Nguyên Bảo”

Qua khảo sát sưu tập thấy rằng đây lμ loại tiền được đúc rất tinh tế, chữ đọc chéo viết theo lối Chân, đậm nét rõ rμng, lỗ vuông nhỏ, gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ ở cả hai mặt, đúc đầy đặn vμ chất đồng tốt Dμy khoảng 1mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 3)

Tiền đời Lê Thái Tông (1434- 1442)

Năm 1433 Lê Thái Tông lên ngôi ,đổi niên hiệu Thiệu Bình (1434- 1439)

vμ cho đúc tiền “Thiệu Bình Thông Bảo”.Trong Đại Việt Sử ký toμn thư chép

“ngμy 4 tháng 9 năm Thiệu Bình thứ nhất, ban hơn 600 quan tiền Thiệu Bình mới

đúc cho các quan văn võ

Tiền “Thiệu Bình Thông Bảo” trong sưu tập của ông Thạo chữ đọc chéo, viết chân phương sắc nét nhưng không chắc khoẻ như tiền đời trước, ghờ mép vμ viền lỗ vuông đúc nổi, tiền đúc bằng đồng, dμy 0,5mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Trang 35

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 3) Thời kỳ nμy, do nền kinh tế hμng hoá còn chưa phát triển, lương bổng của quan lại chủ yếu dựa vμo địa tô, dân gian tiêu dùng vμ nộp thuế vẫn dùng vật thực.Thêm vμo đó nhμ Lê còn có chính sách hạn chế ngoại thương Do đó hai triều vua, đầu triều Lê tiền tệ vẫn chưa phát huy tác dụng to lớn trong đời sống kinh tế xã hội

Tiền đời Lê Nhân Tông (1443-1459)

Năm 1443 Lê Bang Cơ lên ngôi, đổi niên hiệu lμ Đại Hoμ vμ cho đúc tiền

“Đại Hoμ Thông Bảo”

Qua khảo sát sưu tập thâý tiền “Đại Hoμ Thông Bảo” chữ đọc chéo chữ viết chân phương, rõ rμng tinh xảo, sắc nét, tuy nhiên loại tiền nμy nhỏ, biên tiền hẹp,

gờ viền nổi rõ, được đúc bằng đồng, dμy khoảng 1mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 23mm (bản ảnh 3)

Đến năm 1454 đổi niên hiệu vμ đúc tiền ‘Diên Ninh Thông Bảo’.Trong đại Việt sử ký toμn thư có ghi ‘Năm Giáp Tuất, muμ xuân tháng giêng, đúc tiền Diên Ninh”

Trang 36

Loại tiền nμy chữ viết chân phương, đọc chéo có gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ vμ mảnh ở cả hai mặt vμ lưng tiền Song được chia thμnh ba loại sau :

Nét ngang của chữ ‘Đinh’ rất dμi

Bộ “Mãnh” có nét ngang dưới dμi hơn nét ngang của chữ “Đinh”

Bộ “Mãnh” thiếu nét ngang dưới

Tất cả các loại tiền nμy mặt lưng đều để trơn.Đường kính 24mm

Tiền đời Lê Nghi Dân (1459-1460)

Năm 1459 Lê Nghi Dân tự lập lμm vua, lên ngôi Hoμng đế đổi niên hiệu lμ Thiên Hưng, cho đúc tiền “Thiên Hưng Thông Bảo”

Qua khảo sát sưu tập thấy loại tiền nμy đúc bằng chất liệu đồng tốt, biên tiền rộng vμ nổi rõ Chữ viết theo lối chân, đọc chéo, dμy khoảng 1mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Trong sưu tập, tiền “Quang Thuận Thông Bảo” chữ đọc chéo, viết theo lối chân, bốn chữ sắc cạnh, có đường gờ mép vμ lỗ vuông nổi rõ, biên tiền rộng, gờ viền nổi rõ, dμy 0,75mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 3) Sau khi đổi niên hiệu lμ Hồng Đức, Lê Thánh Tông còn cho đúc tiền “Hồng

Đức Thông Bảo”

Trang 37

Loại tiền nμy trong sưu tập chữ viết chân phương, sắc nét vμ rất rễ đọc, gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ cả ở hai mặt vμ lưng tiền, dμy khoảng 0,5mm Được

đúc bằng đồng đỏ Hiện trong sưu tập đồng tiền nμy vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh3)

Tiền đời Lê Hiển Tông (1498-1504)

Năm 1497 Lê Thánh Tông Băng hμ, con trai lμ Lê Tăng nối ngôi, gọi lμ Lê Hiển Tông đổi niên hiệu lμ Cảnh Thống vμ cho đúc tiền ‘Cảnh Thống Thông Bảo’

Trong sưu tập loại tiền nμy chữ đọc chéo, viết theo lối chân phương, rõ rμng, đẹp mμ dễ đọc, gờ mép vμ viền lỗ vuông nổi rõ, dμy khoảng 0,75mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 3)

Tiền đời Lê Uy Mục (1505-1509)

Năm 1504 Lê Hiển Tông băng hμ, Lê Túc Tông lên ngôi đặt niên hiệu lμ Thái Trinh, nửa năm sau Túc Tông qua đời, em trai lμ Lê Tuấn nối ngôi, đổi niên hiệu lμ Đoan Khánh, sử cũ gọi lμ Lê Uy Mục vμ cho đúc tiền “Đoan Khánh Thông Bảo”

Qua khảo sát sưu tập thấy loại tiền nμy chữ viết theo lối Chân, đọc chéo, bố cục cân xứng, dμy 1mm, gờ viền nổi rõ, biên tiền rộng Hiện còn nguyên vẹn

Trang 38

Trong sưu tập của ông Nguyễn Văn Thạo đồng tiền nμy viết theo lối Chân,

đọc chéo, biên tiền rộng vừa phải bố cục tiền hợp lý, mặt tiền không sâu lắm, kỹ thuật đúc tương đối đẹp Hiện còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 3)

Tiền đời Lê Chiêu Tông (1516-1522)

Đầu năm 1516, tướng quốc Trần Cảo lμm loạn, Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết chết, lập Lê ý lên lμm vua, đổi niên hiệu lμ Quang Thuận vμ cho

đúc tiền ‘Quang Thuận Thông Bảo’

Đồng tiền nμy trong sưu tập có đặc điểm lμ chữ viết theo lối Chân, đọc chéo, chữ đã mờ Biên, viền rõ nét Lỗ vuông nhỏ, được đúc bằng chất liệu đồng tốt Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Tiền thời Mạc Đăng Dung (1529)

Năm 1527 Mạc Dăng Dung cướp ngôi nhμ Lê lập ra nhμ Mạc vẫn đặt quốc hiệu lμ Đại Việt, lấy Thăng Long lμ kinh đô Đây lμ thời kỳ chính cục rối ren, chiến tranh Nam Bắc triều Triều Mạc vốn bị coi lμ “Nguỵ triều” nên ít được sử sách ghi chép

Mạc Dăng Dung đăng cơ, đổi niên hiệu lμ Minh Đức sau đó cho đúc tiền

“Minh Đức Thông Bảo”

Trang 39

Loại tiền nμy trong sưu tập được đúc bằng đồng, chữ theo lối Chân, đọc chéo, biên tiền vừa phải, đúc tinh mỹ, văn tự vμ điêu khắc tinh tế, gờ viền nổi rõ

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 4)

Tiền Thời Mạc Đăng Doanh (1530-1540)

Ba năm sau khi lên ngôi, Mạc Thái Tổ tự phong lμm Thái Thượng Hoμng, nhường ngôi cho Thái tử Mạc Đăng Doanh Năm sau Mạc Đăng Doanh đổi niên hiệu lμ Đại Chính vμ cho đúc tiền “Đại Chính Thông Bảo”

Trong sưu tập của ông Thạo loại tiền nμy đọc chéo, chữ viết chân phương, biên tiền rộng vừa phải, gờ viền nổi rõ, chữ trên tiền đã mờ Tiền được đúc bằng

đồng Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 4)

Tiền Thời Mạc Phúc Hải (1541-1546)

Năm 1541 Mạc Phúc Hải nối ngôi, đặt niên hiệu Quảng Hoμ, cho đúc tiền

“Quảng Hoμ Thông Bảo”

Chữ trên tiền đọc chéo, viết chân phương, biên tiền rộng, gờ nổi rõ, tiền đúc dμy dặn khoảng 1mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền để trơn

Đường kính 23mm (bản ảnh 4)

Tiền Thời Mac Phúc Nguyên (1547-1564)

Năm 1546 Mạc Phúc Hải băng, con lμ Mạc Phúc Nguyên Đăng Cơ, dùng 3 niên hiệu Vĩnh Định (1547); Cảnh Lịch (1548-1564); Quang Bảo (1555-1564) vμ cho đúc tiền theo niên hiệu “Vĩnh Định vμ Quang Bảo”

Trang 40

Tiền “ Vĩnh Định Thông Bảo” chữ viết chân phương, đọc đối, lỗ tiên rộng vừa phải, biên tiền nhỏ, gờ viền nổi rõ được đúc bằng đồng, dμy khoảng 0,5mm Hiện vẫn còn nguyên vẹn

Lưng để trơn Đường kính 22mm (bản ảnh 4) Tiền “ Vĩnh Định chí Bảo” chữ đọc chéo, viết theo lối chân, biên tiền không nổi rõ, lỗ vuông vừa phải Trong sưu tập loại tiền nμy cũng còn nguyên vẹn, tuy nhiên chữ có phần hơi mờ

Lưng để trơn

Đường kính 24mm (bản ảnh 4) Tiền “Quang Bảo Thông Bảo” chữ đọc chéo, viết theo lối chân, biên tiền nhỏ, lỗ vuông không to, được đúc bằng đồng, dμy khoảng 1mm Trong sưu tập loại tiền nμy cũng vẫn còn nguyên vẹn

Lưng tiền trơn

Đường kính 24mm ( bản ảnh 4)

Tiền Thời Mạc Kính Cung(1593-1625)

Sau khi lên ngôi nhμ vua cho đúc tiền “ Thái Bình Thánh Bảo”

Trong sưu tập tiền “Thái Bình Thánh Bảo” chữ đọc chéo, biên tiền nhỏ, gờ viền to nhưng không nổi rõ, chữ trên tiền viết thanh, mảnh.Được đúc bằng đồng

Lưng tiền để trơn

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w