1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu sưu tập hiện vật đồng văn hóa đông sơn trưng bày tại bảo tàng lịch sử việt nam

132 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 5,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

19 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM .... 69 CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA BẢO TÀNG

*********

ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG

TÌM HIỂU SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒNG

VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH BẢO TÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của khóa luận 6

6 Bố cục của khóa luận 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỂ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN 7

1.1 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 7

1.1.1.Sự hình thành và phát triển 7

1.1.2.Vài nét về hệ thống trưng bày 11

1.2 Văn hóa Đông Sơn 17

1.2.1.Quá trình phát hiện và nghiên cứu 17

1.2.2.Những đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn 19

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 29

2.1 Khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng 29

2.2 Nội dung và không gian trưng bày sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 30

2.3 Đặc điểm hiện vật trong sưu tập 34

2.3.1 Nhạc khí 34

2.3.2 Vũ khí 37

2.3.3 Đồ dùng sinh hoạt 43

2.3.4 Công cụ sản xuất 48

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp 3

2.3.5 Đồ trang sức 50

2.3.6 Tượng nghệ thuật 51

2.4 Những giá trị tiêu biểu của sưu tập 51

2.4.1 Giá trị lịch sử 51

2.4.2 Giá trị văn hóa 57

2.4.3 Giá trị kỹ thuật 67

2.4.4 Giá trị nghệ thuật 69

CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP HIỆN VẬT ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM 73

3.1 Hiện trạng bảo quản sưu tập trên hệ thống trưng bày của bảo tàng 74

3.2 Bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập 75

3.2.1 Quán triệt và thực hiện hệ thống văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước về bảo quản Di sản văn hóa 75

3.2.2 Tăng cường công tác bảo quản hiện vật trên hệ thống trưng bày 81

3.2.3 Sưu tầm, bổ sung hiện vật cho sưu tập 82

3.3 Các giải pháp khác 83

3.3.1 Có kế hoạch luân chuyển hiện vật văn hóa Đông Sơn từ kho cơ sở lên hệ thống trưng bày 83

3.3.2 Phối hợp với các bảo tàng trong và ngoài nước để tổ chức trưng bày 84

3.3.3 Thông qua các phương tiện truyền thông giới thiệu về bảo tàng và văn hóa Đông Sơn 86

3.3.4 Tổ chức hội thảo khoa học 87

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ba nền văn hóa của thời đại kim khí được biết đến trên lãnh thổ Việt Nam

hiện nay là văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Dốc Chùa

Trong đó thì nền văn hóa Đông Sơn được nghiên cứu tường tận hơn cả Cách

đây 87 năm văn hóa Đông Sơn được phát hiện lần đầu tiên tại Thanh Hóa do

một người câu cá ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng ở bờ sông Mã thuộc xã

Đông Sơn, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ( nay là phường Hàm Rồng,

thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) Từ đó nền văn hóa Đông Sơn đã

được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Mặc dù văn

hóa Đông Sơn được phát hiện và nghiên cứu đến nay đã lâu nhưng nhiều vấn

đề của văn hóa này không phải vì thế mà đã được giải quyết trọn vẹn Vì vậy

mà sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn là nguồn sử liệu đặc biệt quan

trọng để tìm hiểu văn hóa Đông Sơn nói riêng và lịch sử nguồn gốc dân tộc

Việt nói chung

Đặc trưng về di vật của văn hóa Đông Sơn hết sức phong phú, đa dạng được

làm bằng nhiều chất liệu khác nhau ( đá, đồng, sắt, gốm, thủy tinh, xương,

sừng, gỗ…) với nhiều kích cỡ khác nhau Song tiêu biểu nhất, tạo nên diện

mạo văn hóa Đông Sơn là các di vật được làm bằng chất liệu đồng được chế

tác ở trình độ cao về kỹ thuật và mỹ thuật Các nhóm hiện vật phát triển mạnh

như vũ khí gồm: rìu, lao, giáo, dao, mũi tên, qua, tấm che ngực…Về công cụ

sản xuất có lưỡi cày, rìu, hái, nhíp, cuốc, thuổng…Dụng cụ sinh hoạt thì có:

thạp, thố, bình, âu, lọ…Nhóm nhạc cụ gồm trống, chuông, vòng ống tay, vòng

ống chân gắn chuông…Đồ trang sức có số lượng và loại hình phong phú như

vòng tay, vòng chân, khuyên tai, nhẫn, trâm cài…Ngoài ra còn có các loại

tượng người và động vật…Sự đa dạng về loại hình, độc đáo về phong cách

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp 5

nghệ thuật mà các hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn luôn chứa đựng những bí

ẩn của lịch sử mà chúng ta vẫn không ngừng nghiên cứu

Hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn mang tính thống nhất và đa dạng

Tính thống nhất tạo nên bản sắc riêng đồng thời cũng thể hiện được sự giao

lưu những yếu tố mới để toát lên tính đa dạng, phong phú của văn hóa Đông

Sơn Chính vì vậy mà sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn là nguồn sử

liệu vô cùng quý giá cho việc xác định giá trị lịch sử, văn hóa của nền văn hóa

nước ta thời tự lập nguyên khai Đồng thời đóng góp vào việc nghiên cứu, sưu

tầm, bảo quản, trưng bày và phát huy những giá trị của nền văn hóa này Như

vậy, nghiên cứu sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn là một việc làm có ý

nghĩa thiết thực

Bên cạnh đó, được thực tập tốt nghiệp tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

cũng là điều kiện rất thuận lợi để tác giả khóa luận tiếp cận khảo sát nghiên

cứu đề tài Với một sinh viên học chuyên ngành bảo tàng thì những hiện vật

bảo tàng luôn là nguồn tư liệu học tập thiết thực và hiệu quả Vì vậy, việc lựa

chọn đề tài “Tìm hiểu sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày

tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp là rất cần thiết

Nghiên cứu đề tài tác giả khóa luận sẽ được nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ và hiểu biết về một nền văn hóa thời dựng nước và hi vọng khi ra

trường sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm và giá trị của sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông

Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Nghiên cứu thực trạng trưng bày sưu tập đồng văn hóa Đông Sơn, trên

cơ sở đó, đưa ra giải pháp bảo quản, phát huy giá trị của sưu tập

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu khóa luận nghiên cứu Sưu tập hiện vật đồng văn

hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp 6

Phạm vi nghiên cứu khóa luận nghiên cứu sưu tập hiện vật đồng văn

hóa Đông Sơn trong mối tương quan tổng thể với hệ thống trưng bày tại Bảo

tàng Lịch sử Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân loại, so

sánh Phương pháp khảo sát, miêu tả, chụp ảnh và xử lý thông tin tư liệu…

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như: khảo cổ

học, sử học, bảo tàng học, nghệ thuật học, văn hóa học…

Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của

chủ nghĩa Mác - Lênin khi xem xét phân tích, đánh giá những vấn đề liên

quan của đề tài

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận cung cấp tư liệu tham khảo cho sinh viên Trường Đại học

Văn hóa nói chung và sinh viên ngành bảo tàng nói riêng

Phân tích những giá trị lịch sử văn hóa của hiện vật đồng văn hóa Đông

Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ đó khẳng định vị trí và vai trò của hiện

vật văn hóa Đông Sơn trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc

Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo quản, khai thác và phát huy giá trị

của sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử

Việt Nam

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và văn hóa Đông

Sơn

Chương 2: Đặc điểm và những giá trị tiêu biểu của sưu tập hiện vật

đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Chương 3: Vấn đề bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập hiện vật

đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỂ BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

VÀ VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

1.1 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

1.1.1.Sự hình thành và phát triển

Từ hoạt động của Trường Viễn Đông Bác cổ, năm 1910 bảo tàng đầu

tiên ở Việt Nam được thành lập tại Hà Nội đó là Bảo tàng Nghệ thuật Đông

Phương Các nhà khảo cổ học của trường đã mang về bảo quản trong kho của

bảo tàng hàng trăm sưu tập hiện vật

Năm 1909, bảo tàng tiến hành chỉnh lý, phân loại, sắp xếp, phân loại

các sưu tập hiện vật để tổ chức trưng bày và đến ngày 06/11/1910, Bảo tàng

Nghệ thuật Đông Phương bắt đầu mở cửa hoạt động Nội dung trưng bày của

bảo tàng bao gồm các sưu tập khảo cổ học, dân tộc học và một số trang phục

triều Nguyễn

Do các sưu tập ngày càng được bổ sung phong phú đòi hỏi phải có địa

điểm trưng bày mở rộng hơn cho nên ngày 28/02/1925, Toàn quyền Đông

Dương cho chuẩn y xây dựng một nhà bảo tàng mới và từ năm 1926 bắt đầu tiến

hành xây dựng, hoàn thành vào năm 1932 với tổng diện tích trưng bày là

1.835m2 Lúc này Bảo tàng Nghệ thuật Đông Phương được đổi tên thành Bảo

tàng Louis – Finot ( mang tên nhà dân tộc học, người giám đốc đầu tiên của

Trường Viễn Đông bác cổ Pháp) Bảo tàng chính thức mở cửa hoạt động vào

năm 1933 và trưng bày giới thiệu các bộ sưu tập cổ vật thuộc các nền văn hoá

Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Miến Điện, Nhật Bản,

Indonesia, Thái Lan, Tây Tạng…Có thể nói đây là một bảo tàng không chỉ đẹp

về kiểu dáng kiến trúc mà còn đẹp ở cả phong cách nghệ thuật trưng bày cổ vật

Trang 8

Khóa luận tốt nghiệp 8

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã ký sắc lệnh 65 đổi tên Bảo tàng Louis Finot thành Quốc gia bảo tàng

viện Tháng 12/1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bảo tàng lại trở về thuở

ban đầu thuộc Pháp

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ( 07/5/1954) cuộc kháng chiến chống

thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải

phóng, nhưng mãi đến ngày 22/04/1958 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

mới tiếp nhận được cơ sở Bảo tàng từ tay chính phủ Pháp và xúc tiến nghiên

cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật, chuyển đổi nội dung từ Bảo tàng nghệ

thuật Đông Phương thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, thực hiện chức năng xã

hội đích thực của mình Sau một thời gian ngắn, hệ thống trưng bày của bảo

tàng đã được chỉnh lý phù hợp với nội dung tính chất của một Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia

Ngày 03/09/1958 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức khánh thành

và mở cửa đón khách tham quan

Trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, công tác

nghiên cứu khoa học của bảo tàng đã được xúc tiến làm cơ sở cho các mặt

công tác khác của bảo tàng, góp phần nghiên cứu lịch sử chung của cả nước

Nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản như: “ Những hiện vật tàng trữ tại

Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về ngôi mộ cổ Việt Khê” (1965); “Những

hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về văn hóa Hòa Bình” (

năm 1967); “Tìm hiểu một số vấn đề về thời kỳ Hùng Vương (năm 1969);

“Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam” (năm 1975)

Công tác nghiên cứu sưu tầm, điều tra khảo sát, khai quật hiện vật khảo

cổ học được tiến hành ở nhiều địa phương trong cả nước, từ những miền rừng

núi hẻo lánh đến những vùng hải đảo xa xôi, tìm ra nhiều di tích có giá trị

thuộc các thời tiền sử, sơ sử cho đến thời phong kiến nhằm không ngừng bổ

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp 9

sung hiện vật cho kho cơ sở, phục vụ công tác trưng bày thường xuyên và các

cuộc trưng bày chuyên đề, lưu động

Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử sống của dân tộc Việt

Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến Cách mạng

Tháng Tám - 1945 Với diện tích trưng bày hơn 2.200 m2, gần 7.000 tư liệu

hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc

trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu

đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với

trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật

những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho

"diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem Không chỉ có trưng

bày cố định mà bảo tàng còn tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề hợp tác

với bảo tàng các nước khác trên thế giới như:

- Trưng bày: Đồ đồng Việt Nam – Truyền thống và bản sắc từ tháng

10/2007 đến tháng 03/2008 tại Bảo tàng Khu tự trị Dân tộc Choang tỉnh

Quảng Tây và Bảo tàng Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc

- Tổ chức trưng bày: Việt Nam! Từ huyền thoại đến hiện đại nhân kỷ

niệm 35 năm quan hệ hợp tác Việt Nam- Singapore từ tháng 4-7 năm 2008

- Trưng bày chuyên đề: Con đường tơ lụa trên biển – Đồ gốm, sứ từ

những con tàu đắm dưới đáy biển Việt Nam tại Nam Ninh- Trung Quốc vào

tháng 12 năm 2008

- Trưng bày chuyên đề: Nghệ thuật cổ Việt Nam: Từ châu thổ ra biển

lớn tại Mỹ từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010

- Trưng bày chuyên đề: 2.500 năm giao lưu Á –Âu tại Trung tâm Mỹ

thuật Vương quốc Bỉ từ ngày 25/6/2010- 10/10/2010 chào mừng Hội nghị cấp

cao ASEM 8 tại Vương quốc Bỉ vào năm 2010

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp 10

Hệ thống kho cơ sở của bảo tàng hiện lưu giữ hơn 100.000 tiêu bản

hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm: Sưu tập hiện

vật thuộc các nền văn hóa Núi Đọ, sưu tập văn hóa Đông Sơn, sưu tập gốm

men cổ Việt Nam, sưu tập điêu khắc đá Chămpa, sưu tập đồ đồng thời Lê -

Nguyễn Trong những năm vừa qua, kho cơ sở của bảo tàng đã được bổ sung

nhiều sưu tập mới có giá trị, đặc biệt là từ khu vực miền Trung, Tây Nguyên,

Nam Bộ và ngoài biển Đông từ các con tàu đắm cổ Hệ thống kho cơ sở được

sắp xếp khoa học, trang thiết bị hiện đại, đạt được chuẩn mực của kho lưu giữ

hiện vật bảo tàng

Công tác giáo dục Trong quá trình xây dựng và trưởng thành Bảo tàng

Lịch sử Việt Nam đã trở thành một trung tâm văn hoá - khoa học lớn của đất

nước Hàng chục triệu người ở khắp mọi miền đất nước và hàng trăm ngàn

khách quốc tế từ mọi châu lục đã đến tham quan, trong đó có nhiều vị nguyên

thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo cao cấp đã ghi lại những tình cảm tốt đẹp của

mình đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trong những trang sổ vàng lưu niệm

Đặc biệt là từ năm 2006, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã xây dựng trang

website của bảo tàng với cả ba thứ tiếng: Việt- Anh- Pháp Đây là kênh thông

tin vô cùng quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ Trong

những năm qua, bảo tàng thực hiện việc nâng cấp, thay đổi giao diện trang tin

được đánh giá cao trong các trang tin của hệ thống bảo tàng Việt Nam Số

lượng độc giả truy cập website của bảo tàng ngày càng tăng Con số thống kê

ngày 14/12/2010 là 2.156.049 người Tính đến thời điểm hiện tại (30/3/2011)

là 2.796.938 lượt người truy cập

Công tác đối ngoại luôn được chú trọng, mở rộng giao lưu, hợp tác với

các bảo tàng, các tổ chức văn hóa trên thế giới Bảo tàng thường xuyên trao

đổi các ấn phẩm chuyên ngành với hơn 100 bảo tàng và tổ chức văn hóa

Tham gia các cuộc hội thảo khoa học quốc tế: "Sự phát triển văn hóa - xã hội

Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp 11

trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Châu Á, 1994"; "Bảo tồn hiện vật khảo cổ,

1996"; "Vai trò của bảo tàng trong thế kỷ XXI, 1997" Tiếp nhận, triển khai

các dự án: Tổ chức các nước có sử dụng tiếng Pháp về giảng dạy đại học và

nghiên cứu (AUPELF-UREF) tài trợ cho việc làm các phụ đề; phương tiện

nghe nhìn phục vụ cho công tác tuyên truyền giáo dục, qua quỹ Viện trợ Văn

hóa (ODA) của Chính phủ Nhật Bản Bảo tàng cũng đã tổ chức nhiều đoàn

cán bộ đi tham quan, khảo sát tại một số bảo tàng ở Trung Quốc, Singapore,

Indonesia, Malayxia, Laos, Brunei

Hơn 50 năm qua, với những kết quả khả quan trong công tác nghiên

cứu, tuyên truyền giáo dục, phổ biến khoa học và các hoạt động khác đã đem

lại uy tín và tầm vóc cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, góp phần thúc đẩy quá

trình phát triển, hội nhập của hệ thống bảo tàng trong nước và quốc tế

1.1.2.Vài nét về hệ thống trưng bày

Phần 1: Việt Nam thời tiền sử

Nội dung phần này trưng bày những di tích thời tiền sử tương đương

với giai đoạn thời đại đồ đá cũ với hậu kỳ thời đại đá mới Tiến trình này bắt

đầu cách ngày nay khoảng 30 – 40 vạn năm đến khoảng 4000 – 5000 năm

Phần trưng bày này gồm hai giai đoạn:

Mở đầu phần trưng bày là những di tích sơ kỳ thời đại đồ đá cũ và

những di vật phát hiện ở các di chỉ khảo cổ học Núi Đọ, Quan Yên (Thanh

Hoá), Hàng Gòn, Dầu Giây (Xuân Lộc - Đồng Nai) như: rìu tay, công cụ chặt

thô, mảnh tước.v.v

Tiếp theo là phần trưng bày những di tích thuộc thời đại đồ đá mới, tiêu

biểu là văn hoá Hoà Bình (Hoà Bình) - một nền văn hoá khảo cổ nổi tiếng ở

khu vực Đông Nam Á và thế giới (cách ngày nay khoảng 10.000 - 16.000

năm) Hiện vật được trưng bày ở phần này gồm: rìu ngắn, công cụ hình đĩa,

công cụ hình hạnh nhân, bắt đầu xuất hiện rìu mài lưỡi và buộc ghép cán

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp 12

Phần 2: Việt Nam từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần

Thời dựng nước đầu tiên

Văn hóa Tiền Đông Sơn bao gồm: Văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá

Đồng Đậu, văn hoá Gò Mun Với một khối lượng di vật lớn phong phú về

chất liệu, đa dạng về loại hình đã được phát hiện cho thấy nền kinh tế thời kỳ

này khá phát triển Đặc biệt sự phát triển của kỹ thuật luyện kim đúc đồng

văn hóa Gò Mun là tiền đề cho sự ra đời của nền văn hoá Đông Sơn - cơ sở

vật chất chủ yếu của nhà nước Văn Lang sau này

Văn hóa Đông Sơn

Văn hoá Đông Sơn được phát hiện năm 1924 tại Thanh Hoá, ra đời và

phát triển rực rỡ dựa trên nền tảng của một quá trình hội tụ lâu dài của những

nền văn hoá trước đó Nền văn hoá này có phạm vi phân bố rộng nhưng chủ

yếu ở lưu vực 3 con sông lớn: sông Hồng, sông Mã, sông Cả Kỹ thuật luyện

kim và đúc đồng thời kỳ này đạt đến trình độ cao, đa dạng về loại hình, đặc

biệt với hệ thống hoa văn trang trí phong phú thể hiện trên trống và thạp

đồng Đã phản ánh chân thực và sinh động diện mạo xã hội Việt cổ trong

buổi đầu dựng nước

Bên cạnh đó là văn hóa Đồng Nai, văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo

Loại hình di vật phát hiện ở những di chỉ của những nền văn hóa này rất đa

dạng nhưng chủ yếu là đồ gốm, công cụ lao động bằng sắt, đồ trang sức với

các loại chất liệu quý hiếm như vàng, ngọc, mã não…

Thời kỳ chống Bắc thuộc

Phòng trưng bày tập trung giới thiệu những sưu tập hiện vật đặc sắc và

những hình ảnh về cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt

Nam chống phong kiến phương Bắc trong suốt 10 thế kỷ (thế kỷ 1 TCN – thế

kỷ 10) trên hai phương diện sau:

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp 13

- Quá trình đấu tranh bền bỉ của dân tộc Việt chống âm mưu đồng hoá

của phong kiến phương Bắc trên lĩnh vực văn hóa, gìn giữ bản sắc và tiếp thu

văn minh nhân loại, làm giàu cho văn hoá dân tộc

- Các phong trào đấu tranh quật cường chống phong kiến phương Bắc

xâm lược giành độc lập dân tộc mà mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà

Trưng (40 - 43 SCN)

Triều Ngô - Đinh - Tiền Lê

Mở đầu thời kỳ này là các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê (nửa sau thế

kỷ 10) Đây là các triều đại phong kiến đã góp phần đáng kể trong sự nghiệp

xây dựng và phát triển đất nước Hiện vật trưng bày giới thiệu ở phần này chủ

yếu được phát hiện trong các đợt nghiên cứu và khai quật khảo cổ ở khu thành

cổ Hoa Lư (Ninh Bình) năm 1970

Nước Đại Việt thời Lý (1010-1225)

Bằng những sưu tập hiện vật phong phú, phòng trưng bày giới thiệu

thời kỳ phục hưng của văn hoá dân tộc: nền văn minh Đại Việt Sự phát triển

rực rỡ của nền văn hoá này được phản ánh qua những sưu tập hiện vật sau: Bộ

sưu tập gốm men độc sắc gồm men trắng ngà, men ngọc, men xanh lục, men

nâu Đồ gia dụng gồm: bát, đĩa, ấm, bình, chậu, thố thạp… Đồ trang trí gồm

tượng người, thú như vẹt, mèo, sư tử, bùa đầu người

Nước Đại Việt thời Trần (1226- 1400)

Thông qua nhiều sưu tập hiện vật qúy kết hợp tư liệu và hình ảnh

của các công trình tôn giáo thời Trần, phòng trưng bày giới thiệu những thành

tựu phát triển rực rỡ của nước Đại Việt thế kỷ 13 - 14 trên nhiều lĩnh vực:

chính trị, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tôn giáo Đây là thời kỳ nhà nước

phong kiến Đại Việt đã trở thành một quốc gia cường thịnh trong khu vực

Nhiều di vật lịch sử thời Trần đang được lưu giữ và trưng bày gồm vật liệu

Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp 14

trang trí kiến trúc và hình ảnh hiện trạng của các khu di tích nổi tiếng như

chùa, tháp Phổ Minh (Nam Định), đền Kiếp Bạc (Hải Dương), tháp Bình Sơn

(Vĩnh Phúc), chuông Vân Bản (Hải Phòng), mộc bài Đa Bối (Thái Bình)

Đặc biệt, võ công hiển hách ba lần chống Mông - Nguyên và những chính

sách phát triển kinh tế, xã hội, kiện toàn hệ thống tổ chức nhà nước thời

Trần đều được trưng bày

Phần 3: Việt Nam từ triều Hồ đến cách mạng thánh Tám năm 1945

Triều Hồ (1400 - 1407)

Những sưu tập hiện vật và tư liệu hình ảnh giới thiệu trong phần trưng

bày này gồm vật liệu kiến trúc khai quật ở Ly Cung (Thanh Hóa) như gạch,

ngói, trang trí kiến trúc; bức ảnh chụp thành Tây Đô; sử liệu về việc phát hành

tiền giấy đã góp phần chứng tỏ rằng tuy tồn tại ngắn ngủi (1400-1407),

nhưng triều Hồ đã để lại một dấu ấn khó phai về những cải cách tiến bộ của

triều đại này Đó là chủ trương về cải cách tiền tệ, những chính sách về thuế

khoá, hạn điền, hạn nô, tổ chức thi tuyển Thái học sinh, khuyến khích sử dụng

chữ Nôm…

Triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng

Bằng những hình ảnh, tư liệu và hiện vật với nhiều chất liệu khác nhau,

phần trưng bày này đã thể hiện một cách khái quát diễn biến của cuộc kháng

chiến chống quân xâm lược Minh ở thế kỷ 15 và tình hình kinh tế, văn hoá xã

hội thời Lê sơ

Sau 10 năm trường kỳ kháng chiến, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê

Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo đã giành được thắng lợi, nền độc lập dân tộc

được khôi phục, đất nước được giải phóng Triều đại Lê Sơ ra đời và phát

triển đến giai đoạn cực thịnh Ngoài những tư liệu lịch sử về việc cải cách chế

độ ruộng đất, thi cử, pháp luật … chúng ta còn thấy được sự phát triển của

Trang 15

Khóa luận tốt nghiệp 15

một số nghề thủ công cổ truyền như nghề làm gốm, làm đồ gỗ, đồ đồng

qua các sưu tập hiện vật đang được trưng bày

Triều Tây Sơn

Đến thế kỷ 18, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng

hoảng toàn diện, mâu thuẫn giai cấp trong lòng xã hội Việt Nam diễn ra hết

sức gay gắt Nội chiến liên miên, đời sống nông dân vô cùng cực khổ, phong

trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tiếp mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của

nông dân Tây Sơn năm 1771 đã phát triển mạnh mẽ, tiến tới dẹp tan các thế

lực phong kiến cát cứ của các chúa Nguyễn, lật đổ chính quyền hủ bại nhà Lê,

bước đầu thực hiện thống nhất đất nước Người tổ chức và lãnh đạo cuộc

kháng chiến chống quân xâm lược Thanh, làm nên chiến thắng oanh liệt mùa

xuân năm Kỷ Dậu (1789) là anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ

Tài liệu hiện vật đáng chú ý ở đây là bức thư do chính Nguyễn Huệ viết

gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nói về việc chọn đất đóng đô và chiếc trống

đồng niên hiệu Cảnh Thịnh 8 (1800)…

Triều Nguyễn (1802 - 1883)

Đầu thế kỷ 19, triều đại Tây Sơn chấm dứt, triều Nguyễn lên thay

(1802) Đây là triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Mặc dù ra đời và tồn tại trong một bối cảnh đầy biến động của tình hình trong

nước và quốc tế nhưng những thành tựu về kinh tế, văn hoá, xã hội thời kỳ

này vẫn tiếp tục phát triển, thể hiện qua một số tư liệu hình ảnh về kinh đô

Huế, Văn Miếu Huế, bức bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ năm 1838;

bức tranh vẽ lục bộ triều Nguyễn, các bản trích về khoa cử, luật pháp, quan

chế Những sưu tập quý lần đầu tiên được trưng bày như chuông đồng, ấn,

triện giàu sức biểu cảm, gây ấn tượng sâu sắc cho người xem Ngoài ra còn

nhiều sưu tập khác như khánh đồng, đồ đồng và đồng khảm tam khí, gỗ khảm

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp 16

trai, gỗ sơn thếp, tiền đồng, bạc đĩnh, sắc phong và phẩm phục triều Nguyễn

Đặc biệt hai khẩu súng săn nạm vàng của vua Minh Mạng, Tự Đức cũng như

khẩu thần công đồng được phong tước dưới đời Nguyễn Gia Long (1816)

Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam Sau 80 năm

phụ thuộc, năm 1884, nhà Nguyễn đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp

Nước Việt Nam trở thành một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến Năm 1885

đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng ở Việt Nam Thực dân Pháp hoàn tất

công cuộc xâm lược Việt Nam và một phong trào chống Pháp sôi nổi rộng

khắp trong cả nước đã bùng nổ

Phong trào chống Pháp và Cách mạng Tháng Tám 1945

Một số tư liệu, hiện vật và hình ảnh tiêu biểu được trưng bày như: la

bàn của Hoàng Hoa Thám, bút tích của Phan Đình Phùng, mảnh tàu Hy vọng

bị nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đánh đắm trên sông Vàm Cỏ năm 1861,

tranh sơn dầu "Lễ phong soái Trương Định"… là những minh chứng sống

động cho phong trào chống Pháp trên đất nước Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp

(1883-1945), nổi bật là những cuộc khởi nghĩa của một số văn thân yêu nước

trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời như: Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa

Thám, Phan Bội Châu, Lương Văn Can… Ngoài ra, khách tham quan còn

cảm nhận được khí thế sục sôi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm qua

một sưu tập vũ khí thô sơ gồm lưỡi lê, giáo, mác, chông, bom tự tạo

Song do nhiều sai lầm và hạn chế, các phong trào chống Pháp này lần lượt bị

thất bại Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc

sáng lập và lãnh đạo theo đường lối Mác - Lê nin thì công cuộc cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân mới thành công Phần trưng bày giới thiệu những

mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Bác Hồ trên trường quốc

tế, quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, diễn biến và kết quả của

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 17

Khóa luận tốt nghiệp 17

Kết thúc hệ thống trưng bày chính là bức tranh hoành tráng Chủ tịch

Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày

2/9/1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà

Phần 4: Trưng bày điêu khắc đá Chăm pa

Phần này được trưng bày theo niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII

Là một trong 54 tộc người sinh sống trên đất nước Việt Nam, người

Chăm đã xây dựng và để lại một kho tàng nghệ thuật quý giá, đó là những

tháp Chăm cổ kính, uy nghi và những điêu khắc gắn liền với kiến trúc tháp

Hiện vật tiêu biểu gồm tượng Siva Tháp Mẫm trong vòm tháp, đôi sư

tử với hình khối lớn đang quỳ Hai tấm bia đá Mỹ Sơn và Ponagar, niên đại

thế kỷ 7 đến thế kỷ 8 các phần trưng bày kế tiếp được sắp xếp theo niên đại:

thế kỷ 7-8, thế kỷ 9-10, thế kỷ 11 và kết thúc là nhóm hiện vật thuộc thế kỷ

12- 13

Ngoài ra, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn tiến hành trưng bày ngoài

trời trong một khuôn viên rộng, đẹp với những hiện vật độc đáo gây được sự

quan tâm chú ý của công chúng khi đến tham quan bảo tàng

1.2 Văn hóa Đông Sơn

1.2.1.Quá trình phát hiện và nghiên cứu

Nền văn hóa đồng thau nổi tiếng này mang tên một làng nhỏ, làng

Đông Sơn thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Năm 1924, một ông lão

đánh cá ở quê Đông Sơn ngẫu nhiên tìm thấy những di vật đồ đồng ở bên bờ

sông Mã, sau đó phát hiện ra di chỉ và mộ táng Đông Sơn Địa điểm Đông

Sơn từ khi khai quật đã được phát hiện nhiều lần:

Năm 1924 – 1932 được trường Viễn Đông bác cổ ủy nhiệm, L Pajot đã

tiến hành khai quật nhiều lần tại đây và phát hiện được khá nhiều di vật bằng

đá Đồng, sắt, mộ táng và nơi cư trú Ngoài hiện vật đào được Pajot còn mua

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp 18

lại của dân , hoặc chiếm đoạt từ tay các quan lang người Mường một số đồ

đồng, kể cả trống đồng Riêng trống đồng, Pajot đã đào được ở Đông Sơn 20

chiếc, nhưng chủ yếu là trống nhỏ, chỉ có một số trống lớn như: Đông Sơn 1

và Đông Sơn 2 đươc V.Goloubew công bố vào năm 1932

Năm 1929 V.Goloubew công bố kết quả khai quật của Pajot trong tác

phẩm Thời đại đồng thau ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ, sau đó là công bố các

nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn: Nguồn gốc và sự phân bố của trống đồng

kim loại ( 1932), Khai quật ở Đông Sơn (1932), Cư dân Đông Sơn (1936),

Nhà Đông Sơn (1938)…

Năm 1934 nhà khảo cổ học người Áo Heine-Geldern đề nghị gọi tên

nền văn hóa đồ đồng này là nền văn hóa Đông Sơn

Năm 1935-1939 Olov Janse nhà khảo cổ học Thụy Điển tiến hành khai

quật di tích Đông Sơn Năm 1935 thu được 700 hiện vật đồng thau Năm

1936 phát hiện được dưới độ sâu 2m đồ gốm, thạp đồng, xương răng trâu và

tàn tích nhà sàn Ở độ sâu 1m là mộ táng chồng nhau, trong đó có cả mộ

Đường và mộ Hán

Năm 1959 Vụ Bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa khai quật tại Đông Sơn có

sự tham gia của chuyên gia Trung Quốc ( Vương Trọng Thù)

Bắt đầu từ năm 1960 – 1967 công tác thăm dò khai quật các di tích văn

hóa Đông Sơn được triển khai trên lưu vực các con sông lớn như : lưu vực

sông Hồng, phát hiện các di tích Đào Thịnh, Yên Hưng, Yên Hợp ( Yên Bái);

Vạn Thắng, Chính Nghĩa, Thanh Đình, Phú Hậu ( Phú Thọ), Phượng Cách,

Nam Chính, Châu Can ( Hà Tây); Việt Khê ( Hải Phòng); trên lưu vực sông

Mã phát hiện di tích Phà Công, Núi Nấp, Núi Sỏi, Hoàng Lý, quỳ Chử (Thanh

Hóa); trên lưu vực sông Cả, phát hiện di tích Xuân An ( Hà Tĩnh)

Năm 1969 – 1970 Viện khỏa cổ học và trường Đại học Tổng hợp Hà

Nội khai quật 932m2

Trang 19

Khóa luận tốt nghiệp 19

Các lần khai quật này phát hiện di vật bằng đá, bằng đồng, bằng sắt,

các loại mộ đất, mộ gạch, loại hình cũng giống các phát hiện trước đó nhưng

số lượng hết sức phong phú

1.2.2.Những đặc trưng cơ bản của văn hóa Đông Sơn

1.2.2.1.Địa bàn phân bố

Địa danh Đông Sơn được dùng để đặt tên một nền văn hóa khảo cổ thời

đại kim khí nổi tiếng ở Việt Nam đó là nền văn hóa Đông Sơn Các địa điểm

của nền văn hóa này thường được phân bố trên các vùng đất chân đồi, nằm

cạnh ven sông, ven suối, các ngã ba sông lớn, vùng đồng bằng hẹp giữa các

chi lưu sông, suối, thành từng cụm ở các tỉnh miền núi, đồng bằng ven biển,

thuộc các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Di tích tập trung đậm đặc ở các lưu

vực sông: sông Hồng, sông Cả và sông Mã Kết quả thống kê ở 28 tỉnh thành

cho biết văn hóa Đông Sơn có 379 di tích, trong đó Thanh Hóa có 104 di tích,

Hà Tây 52 di tích, Nghệ An 25, Hà Nội 20, Nam Định và Cao Bằng mỗi tỉnh

có 1 di tích…

1.2.2.2 Loại hình di tích

Di chỉ cư trú

Loại hình này nằm trên các cồn đất nổi lên giữa đồng bằng cách sông

khoảng 1-5km, hoặc trên các sườn đồi, sườn núi ven sông suối, có diện tích

vài trăm đến hàng vạn m2 Tầng văn hóa dày trung bình từ 0,6-1,50m

Di chỉ mộ táng

Di tích làng Cả: cũng có tên gọi Chính Nghĩa, thuộc TP Việt Trì Di

tích này nằm trên đồi cao so với mặt ruộng 10m Chân đồi nằm sát mép nước

sông Hồng về tả ngạn, cách ngã ba Hạc 2,5km, cách sông Lô 3,7km Diện tích

ước chừng hàng chục vạn m2 Di tích này trước là nơi cư trú, sau đó chôn mộ

vào Có 311 mộ, tìm thấy rất nhiều đồ đồng hình loại phong phú, điển hình

của văn hóa Đông Sơn

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp 20

Di tích Vinh Quang: ở làng Cát Quế huyện Hoài Đức, Hà Tây , nằm

trên một gò đất cao hơn mặt ruộng 1m, cách sông đáy 1,5km, cách sông

Hồng 5 km Lớp cư trú rất dày 1,5m-5,50m

Di tích Đình Tràng: thuộc xã Dục Tú, Đông Anh.Hà Nội, có diện tích

khoảng 20.000m2, nằm cách sông Hồng 600m, chạy dọc theo nhánh sông Ngũ

Huyện Khê, ngoại thành Cổ Loa Lớp đất cư trú dày 1,50-2,15m, lớp cư trú

biểu hiện liên tục Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, mộ Đông Sơn

Di tích Đông Sơn: thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, nằm dọc bờ hữu

ngạn sông Mã Di tích này đã có nhiều đợt khai quật Kết quả cho thấy một di

chỉ vừa cư trú vừa mộ táng và có địa tầng rõ ràng: dưới cùng là lớp trước

Đông Sơn ( thuộc giai đoạn Quỳ Chử), lớp Đông Sơn sớm và trên cùng là lớp

Đông Sơn muộn Độ dày trung bình của tầng văn hóa này là 1,0-1,4m

Di tích mộ táng

Loại hình di tích mộ táng được tách ra như một nghĩa trang Các di tích

mộ táng Đông Sơn thường có nhiều loại mộ chôn cất khác nhau: Loại mộ

thuyền là loại quan tài bằng một thân cây khoét rỗng tức là loại thuyền độc

mộc thường gặp nhiều ở những vùng đồng bằng chiêm trũng như ở Hà Nam,

Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng…

Loại mộ đất là loại gặp phổ biến nhất trong các di tích Đông Sơn

thường không có quan tài, chôn trực tiếp xuống đất như ở Núi Thấp ( Thiệu

Dương, Thanh Hóa), có một kè đá ở Đồng Mỏm ( Làng Vạc, Nghệ An), một

kè gốm hay lát gốm ở Đồng Mỏm ( Diễn Châu, Nghệ An)

Có loại mộ chôn trong thạp đồng như ở Thiệu Dương ( Thanh Hóa) và

trong một số đồ đồng phát hiện ngẫu nhiên như trong chiếc thạp đồng Vạn

Thắng ( Phú Thọ), thạp đồng Đào Thịnh, thạp Hợp Minh, trống đồng Đào

Thịnh (Yên Bái)…Trong những đồ đồng này đều phát hiện thấy xương, răng

Trang 21

Khóa luận tốt nghiệp 21

của tử thi Hình thức mai táng trong đồ đồng hiếm thấy nhưng không loại trừ

dạng chôn cất ấy

Có loại mộ quan tài bằng mành tre, nứa ( Đọi Sơn, Hà Nam ) Có loại

mộ chôn nồi gốm, đặt nằm hay đặt đứng có loại chôn trong chậu nồi, thường

là những mộ được cải táng

Tất cả những loại mộ nói trên, phần lớn đều có các loại hiện vật chôn

theo là đồ tùy táng Những hiện vật ấy đều mang đặc trưng văn hóa Đông

Sơn Đồ tùy táng bằng đồng phổ biến là đồ minh khí, các đồ dùng được chôn

theo thường trải qua nghi lễ hạ sát: bẻ cong, gãy các hiện vật đồng, đập vỡ

hay bẻ gãy miệng các đồ đựng bằng gốm Đại bộ phận tử thi nằm ngửa, có

loại chôn nằm co, hoặc hỏa táng nhưng hiếm

Di chỉ xưởng

Loại hình này được phát hiện rất ít Cho đến nay mới phát hiện 3 di tích

thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đó là những địa điểm

Bái Tê, Cồn Cấu, Mả Chùa Những di vật, phác vật ở đây cho thấy di chỉ

mang tính chất của một công xưởng chế tạo đồ trang sức

Di tích phát hiện lẻ tẻ

Những di tích loại này thường không phát hiện vết tích cư trú, mộ táng,

không có dấu hiệu của văn hóa khảo cổ Đáng chú ý là nơi cất dấu mũi tên

đồng Cầu Vực ( Cổ Loa, Hà Nội) được phát hiện năm 1959 có hàng vạn

chiếc, nặng 93kg Cũng tại đây năm 1982 phát hiện một chiếc trống đồng ở

Mả Tre nằm giữa khu vực thành trung và thành nội Cổ Loa Trong chiếc trống

loại I này có 200 hiện vật đồng thau: trong đó có 100 chiếc lưỡi cày,ngoài ra

có xẻng, cuốc, đục, rìu, giáo, chôn trong một hố nhỏ ở sườn gò, có tên là

giếng Sãi Hoặc ở xã An Lão (Bình Lục, Hà Nam) người ta đã phát hiện ra

một chiếc trống đồng cỡ lớn trong đó có 3 chiếc thố lồng vào nhau

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp 22

Loại di tích được phát hiện lẻ tẻ này ngày càng thấy ở nhiều nơi Loại

hình này không phải ngẫu nhiên mà là hiện tượng cất giấu các vật quý hiếm

trong các trường hợp xã hội có sự bất ổn

1.2.2.3 Đặc trưng di vật

Đồ đồng

Nói đến văn hóa Đông Sơn là nói đến sưu tập đồ đồng Các di vật bằng

đồng hết sức phong phú vê số lượng và đa dạng về loại hình mang sắc thái và

diện mạo của một nền văn hóa riêng không giống bất kỳ một nền văn hóa nào

trong nước và trên thế giới

Công cụ sản xuất: rìu có lưỡi không cân xứng thường được gọi là rìu

lưỡi xéo bao gồm: rìu lưỡi xéo hình bàn chân gót vuông và gót tròn, gót cao;

rìu hình dao xén Rìu vai ngang vai kép như rìu đá, rìu hình chữ nhật, rìu xòe

cân hình cung, rìu xòe cân hình bán nguyệt Lưỡi cày đồng có các kiểu sau:

Lưỡi cày hình tam giác, lưỡi cày hình quả tim, lưỡi cày hình cánh bướm, lưỡi

cày hình chân vịt.Cuốc đồng có vai hình chữ U Ngoài ra còn có các loại vên,

thuổng, liềm, dùi, đục, giũa, lưỡi câu, kim, đinh ba, móc, dao…

Vũ khí: Có giáo hình lá mía, hình búp đa Lao cũng giống giáo nhưng

kích cỡ nhỏ Dao găm có nhiều kiểu, phân biệt chủ yếu là phần cán và lá

chắn, kiểu đốc như củ hành, hình thấu kính, hình động vật, hình người, lá

chắn quặp vào như sừng trâu, lá chắn thẳng Dao găm có nhiều kích cỡ, lớn

thường xếp vào trường kiếm, ngắn gọi là đoản kiếm Vũ khí còn có các loại

rìu chiến, búa chiến, mũi tên, tấm che ngực, bao chân bao tay, qua, nỏ…

Đồ dùng trong sinh hoạt: Có thạp, bình, bát, khay, đĩa, lọ, ấm, muôi,

thìa, quả cân, bàn chải…

Nhạc cụ: Cư dân Đông Sơn sử dụng các loại nhạc cụ như trống đồng,

cồng chiêng, thanh la, lục lạc, khèn nhưng mới chỉ phát hiện được trống,

chuông đồng và lục lạc; nổi bật nhất là trống đồng Trống đồng cổ ở Việt

Trang 23

Khóa luận tốt nghiệp 23

Nam có nhiều loại, những trống đồng của văn hóa Đông Sơn đều thuộc loại I

Heger và hiện nay các nhà khoa học đều thống nhất gọi chúng là trống đồng

Đông Sơn Đến nay đã phát hiện được hơn 150 trống lớn và 100 trống minh

khí.Đại biểu cho trống Đong Sơn là trống đòng Ngọc Lũ

Đồ trang sức, tượng nghệ thuật

Đồ trang sức bằng đồng đã xuất hiện từ giai đoạn trước, nhưng đến văn

hóa Đông Sơn đồ trang sức phong phú hơn Có thể kể đến các loại vòng ( đeo

cổ, tay, chân, tai), vật đeo, khóa thắt lưng, trâm cài, tượng tròn hình người,

động vật Ngoài ra còn có đồ trang sức làm bằng đá, thủy tinh…

Do tính chất của vật liệu nên các đồ trang sức bằng đồng có loại được

đúc liền, có loại được uốn, gò từ các thanh đồng, dây đồng, có loại được tết

bằng nhiều sợi đồng nhỏ, có móc hoặc khóa ở hai đầu Mặt cắt của vòng có

thể là hình tròn, hình bầu dục, hình bán nguyệt, lòng máng, chữ V, hình tam

giác, hình chữ T Có loại mới xuất hiện như vòng tay, vòng chân hình ống và

chúng thường được gắn đeo các nhạc đồng ( lục lạc) Các vòng tay, chân

thường được trang trí hoa văn các đường chỉ chìm, các hoa văn khắc vạch,

hoa văn hình bông lúa, khuyên tai cũng vậy, có loại tiết diện tròn đơn giản, có

loại tiết diện dẹt có khe hở và bốn mấu, trang trí hoa văn các vạch song song

trên nền các hình tam giác Ở làng Vạc có loại khuyên tai tròn dẹt, có khe hở

đặc biệt ở một mặt có bốn quai hình chữ U để gắn bốn nhạc đồng Việc gắn

các nhạc đồng kèm theo đồ trang sức hình như là phổ biến, chẳng hạn người

ta gắn 2 nhạc đồng lên một vòng đồng nhỏ như chiếc nhẫn ( có người gọi là

nhẫn) và xâu chúng lại để đeo vào cổ ( di chỉ lang Vạc)

Khoá thắt lưng được cho là loại hiện vật có ảnh hưởng từ cư dân du

mục, song một trong 3 chiếc tìm thấy ở Làng Vạc có đúc nổi 8 tượng rùa Rõ

ràng các đồ trang sức Đông Sơn mang nhiều yếu tố kế thừa từ các giai đoạn

trước ( mặt cắt chữ T, khuyên tai bốn mấu, tượng rùa)

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp 24

Tượng đúc trong văn hóa Đông Sơn không nhiều, chúng thường được

đúc liền với các vật dụng, vũ khí như trên cán dao găm, nắp thạp, cán muôi,

các tượng đúc riêng rẽ nhưng ít

Các đối tượng được thể hiện là người, chim, cóc, voi, rùa, hổ, rắn,

chó,hươu, trâu, gà, cá, ốc…Các tượng mang phong cách tả thực cuộc sống

thường nhật của con người, động vật và đôi khi nhấn mạnh ý nghĩa phồn thực

( tượng nam nữ trên nắp thạp đồng Đào Thịnh, tượng cóc cõng nhau trên mặt

trống, rắn quấn nhau trên cán dao găm làng Vạc) Những tượng trên ngoài ý

nghĩa nghệ thuật, còn cung cấp cho chúng ta tư liệu về trang phục, sinh hoạt

vật chất và tinh thần của người Việt cổ

Đồ sắt

Đồ sắt chủ yếu là công cụ và vũ khí, gồm các loại: nồi nấu đồng, cuốc,

lưỡi mai, liềm, dao, đục, rìu, kiếm, giáo, lao, dao găm…Có loại cuốc hình

dáng có vai rất giống cuốc bằng đồng, có loại hình chữ U Giai đoạn muộn

của văn hóa Đông Sơn có loại hiện vật được chế tạo lưỡng kim, nửa sắt, nửa

đồng như giáo lưỡi sắt chuôi đồng Đồ gia dụng ít khi làm bằng sắt, nhưng

cũng có một chiếc cối sắt nhỏ ở di chỉ làng Vạc Tuy nhiên, có lẽ do sắt là kim

loại quý buổi đầu, nên người Đông Sơn cũng chế tạo các đồ trang sức từ sắt

như vòng tay, vòng cổ, khuyên tai

Đồ sắt trong văn hóa Đông Sơn không nhiều bằng đồ đồng, nhưng kỹ

thuật khai mỏ luyện quặng theo thực nghiệm thì bằng phương pháp hoàn

nguyên hoặc phương pháp thổi sống Người Đông Sơn đã biết đúc gang và

biết các phương pháp gia công chế tạo đồ sắt trong quá trình rèn

Đồ đá

Trong văn hóa Đông Sơn tuy không phải đại diện cho lực lượng sản

xuất như các thời đại trước, nhưng đồ đá vẫn còn tồn tại Rìu tứ giác, rìu có

Trang 25

Khóa luận tốt nghiệp 25

vai bằng đá vẫn thường gặp Các loại hòn kê, hòn ghè, đặc biệt là bàn mài,

khuôn đúc bằng đá bên cạnh khuôn đúc đất, quả cân, chày nghiền hạt là

những hiện vật đá hay gặp trong di chỉ Xu hướng chung là vào giai đoạn văn

hóa Đông Sơn đồ đá giảm sút về số lượng và đơn giản về loại hình, tuy nhiên

đồ trang sức bằng đá vẫn được quý trọng; bằng chứng là sự tồn tại của trung

tâm chế tác đồ trang sức đá ở Đông Lĩnh (Đông Sơn, Thanh Hóa) với các di

chỉ xưởng như Bái Tê, Bái Khuynh, Cồn Cấu, Mả Chùa

Đồ thủy tinh

Đây là loại nguyên liệu mới dùng trong chế tác đồ trang sức.Vào

khoảng giữa thiên nhiên kỷ I trước Công nguyên, người Đông Sơn biết chế

tạo đồ trang sức từ thủy tinh Hiện đã phát hiện hơn 5000 đồ trang sức bằng

loại nguyên liệu này, với 3 loại hình là vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi Tất cả

các đồ thủy tinh trên phần lớn đều là đồ thủy tinh nhân tạo, có một số ít là

được làm từ thủy tinh núi lửa và chúng được sản xuất tại chỗ Mặc dù màu sắc

của chúng khá phong phú: trắng đục, xanh đen, xanh lơ, xanh lá mạ, dâu,

cam, đen, đỏ,tím…nhưng chưa có kỹ thuật phối màu, cũng như một số chiếc

còn bọt khí bên trong

Đồ gốm

Đồ gốm vẫn là loại di vật thu được nhiều trong các đợt khai quật Rõ

ràng đồ gốm vẫn là vật dụng phổ biến và thường xuyên trong sinh hoạt của

người Đông Sơn Hơn thế trong mai táng đồ gốm không chỉ là đồ tùy táng, là

quan tài mà người ta còn sử dụng các mảnh gốm vỡ để kè, lát mộ

Về loại hình có công cụ sản xuất như khuôn đúc, nồi nấu đồng, chì

lưới, dọi xe chỉ; đồ gia dụng như chõ, bình, vò, chậu, bát, và các loại chạc

gốm, bi, tượng động vật còn chưa rõ lắm về chức năng Những đồ gốm của

giai đoạn Đông Sơn sớm thường ít nhiều bảo lưu phong cách gốm Gò Mun,

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp 26

sang giai đoạn muộn hoa văn nghèo nàn, cẩu thả đôi khi có những nét ảnh

hưởng hoa văn thời Chiến Quốc, Hán Nồi thường gặp đại bộ phận có miệng

loe, lõm lòng máng, bụng phình, đáy tròn hoặc bằng, màu sắc gốm thường có

màu hơi hồng, trắng mốc, các đồ dùng thường nhỏ Cũng ghi nhận rằng ở mỗi

khu vực có những loại hình đồ gốm phổ biến hơn; chẳng hạn ở lưu vực sông

Hồng phổ biến loại nồi, bình; ở lưu vực sông Mã phổ biến bình ( hình con

tiện), vò; khu vực sông Cả phổ biến loại vò miệng rộng hơn thân, thân vò

phình ở trên rồi thu dần xuống chân đế

1.2.2.4 Thời đại, niên đại và chủ nhân của văn hóa Đông Sơn

Thời đại

Trước đây người ta xếp văn hóa Đông Sơn vào thời đại đồng thau,

Ngày nay do tìm thấy một số công cụ sắt trong các di chỉ thuộc văn hóa Đông

Sơn và cũng để thống nhất với thuật ngữ khảo cổ của thế giới, nên giới khảo

cổ học Việt Nam xếp văn hóa Đông Sơn thuộc thời đại kim khí ở nước ta

Niên đại

Có thời gian niên đại của khu khảo cổ Đông Sơn ( Thanh Hóa) đặt cho

nền văn hóa Đông Sơn tồn tại Lưỡng Hán ( trước và sau Công nguyên 2 thế

kỷ) Nhờ những phát hiện mới về khảo cổ học, đặc biệt là việc áp dụng

phương pháp định niên đại bằng phương pháp khoa học tự nhiên (C14) nên ý

kiến tương đối thống nhất cho rằng văn hóa Đông Sơn đã hình thành và phát

triển trong khoảng từ thế kỷ VIII - VII trước Công nguyên đến thế kỷ II - III

sau Công nguyên

Chủ nhân

Chủ nhân của văn hóa Đông Sơn là người Việt cổ, theo sử gia Đào Duy

Anh thì đó là người Lạc Việt tồn tại vào thời kỳ vua Hùng dựng nước Như

vậy văn hóa Đông Sơn là cơ sở vật chất, phản ánh các hình thái tồn tại của xã

hội học thuộc thời đại vua Hùng

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp 27

Văn hóa Đông Sơn là nền văn hóa có cội nguồn từ những nền văn hóa

bản địa, phát triển liên tục từ thời cổ đại, sơ kỳ đồ đá mới (các văn hóa Hòa

Bình, Bắc Sơn), qua trung kỳ ( các di chỉ văn hóa Quỳnh Văn, Đa Bút) đến

hậu kỳ (văn hóa Hạ Long) chuyển qua văn hóa đồng thau ( các di chỉ văn hóa

Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun) rồi phát triển văn hóa Đông Sơn vào

thời kỳ rất sớm Văn hóa Đông Sơn tồn tại trong thời gian 1000 năm và chia

ra ba giai đoạn phát triển:

Giai đoạn đầu ( giai đoạn sớm) từ thế kỷ VIII – VI trước Công nguyên

Giai đoạn giữa ( giai đoạn điển hình) từ thế kỷ V – III trước Công

nguyên

Giai đoạn cuối (giai đoạn muộn) từ thế kỷ II trước Công nguyên đến

thế kỷ II sau Công nguyên

Nền văn hóa Đông Sơn đó là nền văn hóa của nhiều tộc người, quan

trọng nhất là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, trước khi có sự tiếp xúc với

các nền văn hóa Trung Hoa, thì nền văn hóa ấy đã đạt tới sự phát triển rực rỡ

mang tính cách mạng trên nhiều phương diện

Tiểu kết

Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở của Bảo tàng Loui Fino (Louis Finot) –

một bảo tàng do Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp xây dựng năm 1926, khánh

thành năm 1932, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn và ngày

3/9/1958 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức mở cửa đón khách tham quan

Qua hệ thống trưng bày Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã giới thiệu cho khách

tham quan về lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến Cách mạng tháng Tám

1945 Tuy còn một số mặt hạn chế nhưng Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã đem

đến cái nhìn khái quát nhất về sự phát triển của lịch sử của dân tộc

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp 28

Di tích Đông Sơn được phát hiện năm 1924 Từ đây, văn hóa Đông Sơn

được các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Văn hóa Đông

Sơn là nền văn hóa có cội nguồn từ nền văn hóa bản địa, thuộc thời đại kim

khí, hình thành trên ba lưu vực sông chính là sông Hồng, sông Mã và sông

Cả, chủ nhân là người Việt cổ

Sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn nói chung và hiện vật đồng văn hóa

Đông Sơn nói riêng là cơ sở quan trọng để xây dựng nội dung trưng bày về

văn hóa Đông Sơn trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

và là nguồn sử liệu vô cùng quý giá cho những ai muốn nghiên cứu về nền

văn minh sơ khai này

Trang 29

Khóa luận tốt nghiệp 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA SƯU TẬP

HIỆN VẬT ĐỒNG VĂN HÓA ĐÔNG SƠN TRƯNG BÀY

TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

2.1 Khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng

Hiện nay, khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng được đề cập đến khá

nhiều trong các công trình bảo tàng học trên thế giới và Việt Nam Sau đây là

một số khái niệm gần đây nhất về sưu tập của các nhà bảo tàng học của nước

ngoài và Việt Nam:

Các chuyên gia bảo tàng học của Cộng hòa Liên bang Nga đã viết:

Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật khác nhau cùng

chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi hiện

vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử,

nghệ thuật, khoa học hay văn hóa.[30, tr.235 ]

Các nhà nghiên cứu về bảo tàng và bảo tàng học ở Việt Nam đã đưa ra

khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng như sau:

Sưu tập hiện vật bảo tàng hay sưu tập cổ vật là một tập hợp những hiện

vật bảo tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung về hình thức, chất

liệu, nội dung; có tầm quan trọng và có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật

và được sắp xếp, nghiên cứu có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn

chỉnh [ 31, tr.37]

Sưu tập hiện vật bảo tàng là một tổng thể hiện vật được tập hợp theo

những dấu hiệu đặc trưng nào đó liên quan đến các mặt nội dung đề tài, loại

hình (hiện vật) chất liệu, công dụng, địa điểm, thời gian xuất hiện và nó chứa

đựng các giá trị thông tin trở thành nguồn khai thác cho các lĩnh vực hoạt

động khoa học giáo dục lịch sử văn hóa, nghệ thuật [31, tr 53]

Trang 30

Khóa luận tốt nghiệp 30

Vậy, một sưu tập hiện vật bảo tàng cần phải có những yếu tố sau:

Đối tượng tập hợp thành sưu tập phải là các hiện vật bảo tàng

Chúng có cùng một hay nhiều dấu hiệu chung ( hình thức, nội dung,

chất liệu…)

Chúng đang được lưu giữ bảo quản trong bảo tàng

Chúng cùng ơhanr ánh về một vấn đề nào đó…

Như vậy, hiện vật bảo tàng là những hiện vật gốc của chính bảo tàng

đó, nó phù hợp với nội dung loại hình bảo tàng, nó có hồ sơ khoa hoc – pháp

lý kèm theo và trải qua một quy trình khoa học bảo tàng đã được dăng ký

chính thức trong sổ kiểm kê bước đầu Vì vậy, hiện vật bảo tàng được lựa

chọn đưa vào sưu tập nó đã mang đầy đủ các giá trị như giá trị pháp lý, nội

dung lịch sử, xuất xứ và có khả năng bảo quản lâu dài

Sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn bao gồm những hiện vật độc

đáo,đáp ứng được tất cả yêu cầu cần có của một sưu tập Sưu tập hiện vật

đồng văn hóa Đông Sơn không chỉ là đặc trưng của không gian trưng bày văn

hóa Đông Sơn mà còn là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống trưng bày

cuả bảo tàng Lịch sử Việt Nam

2.2 Nội dung và không gian trưng bày sưu tập hiện vật đồng văn

hóa Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Sau khi tiếp quản bảo tàng Loui Fino (Louis Finot) (1958) đến nay Bảo

tàng Lịch sử Việt Nam đã trở thành một cơ quan văn hóa – khoa học – giáo

dục có nhiệm vụ sưu tầm, lưu giữ, trưng bày và giáo dục lịch sử dân tộc

Trong các sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thì sưu tập hiện vật

văn hóa Đông Sơn đóng vai trò quan trọng trong Bảo tàng và chiếm diện tích

trưng bày khá lớn ( khoảng 1/7 diện tích nhà trưng bày) Sưu tập hiện vật

đồng văn hóa Đông Sơn được trưng bày là những bằng chứng vật chất có thật

Trang 31

Khóa luận tốt nghiệp 31

chứng minh cho giai đoạn dựng nước đầu tiên của dân tộc ta, đồng thời là

nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu, tìm hiểu tiến trình lịch sử nước ta từ

buổi đầu cách mạng đá mới đến khi nhà nước đầu tiên được thành lập

Qua những lần chỉnh lý, bổ sung, nâng cấp hệ thống trưng bày hiện vật

của bảo tàng, phần trưng bày văn hóa Đông Sơn cũng được bổ sung nhiều hiện

vật gốc Trưng bày về văn hóa Đông Sơn chiếm diện tích khoảng 300m2 trên

tổng số 2.200m2 diện tích trưng bày chính của Bảo tàng Trên hệ thống trưng

bày hiện nay của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đang trưng bày khoảng 6.071

hiện vật và sưu tập, trong đó có sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn với số

lượng là 550 hiện vật, chiếm tỷ lệ 9,1% tổng số hiện vật trưng bày.[ 6, tr.26]

Trong sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn thì hiện vật có chất liệu đồng

chiếm số lượng nhiều nhất hơn 300 hiện vật Ngoài ra còn có những hiện vật

có chất liệu là thủy tinh, gốm, đồ da, đồ sắt, đồ gỗ…Đặc biệt trong sưu tập

hiện vật đồng văn hóa Đông sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam có

những hiện vật cực kỳ quý hiếm được xếp trong danh sách “ Bảo vật quốc

gia” như trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh…

Phần trưng bày này được trưng bày theo các giải pháp như: trưng bày

theo chủ đề, trưng bày theo sưu tập, trưng bày theo phương pháp liên tưởng,

trưng bày theo đời sống thực, trưng bày đối xứng…

Ví dụ: Trưng bày theo chủ đề nông nghiệp bao gồm các hiện vật phong

phú về chất liệu và loại hình khác nhau như cày đồng, nhíp đồng, hái

đồng…giúp cho khách tham quan hình dung ra được quá trình sản xuất cũng

như thu hoạch của cư dân Đông Sơn

Trưng bày theo sưu tập công cụ sản xuất chủ yếu bằng đồng có số

lượng và loại hình rất phong phú và đa dạng như rìu lưỡi xéo, rìu xòe cân,

lưỡi cày đồng, nhíp, hái…trưng bày sưu tập vũ khí bao gồm rất nhiều hiện vật

mà cư dân Đông Sơn đã sử dụng trong chiến đấu có vũ khí đánh gần như rìu,

Trang 32

Khóa luận tốt nghiệp 32

dao găm, kiếm, vũ khí đánh xa như mũi tên, mũi lao, lẫy nỏ đã cho ta thấy cư

dân thời kỳ này luôn phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm và họ có một tiềm

năng quân sự hùng hậu Người xem có ấn tượng mạnh qua khối mũi tên đồng

3 cạnh gồm hàng ngàn chiếc kết chặt với nhau, được phát hiện ở Cổ Loa Đó

là bằng chứng nói lên cái lõi thực lịch sử của truyền thuyết nỏ thần thời An

Dương Vương

Phương pháp trưng bày hàng loạt là dùng số lượng hiện vật, hiện tượng

để nói lên tính chất của sự kiện, hiện tượng được xây dựng

Trong phần trưng bày đã đặt ở trung tâm một sưu tập trống loại I, từ

nhóm sớm nhất đến nhóm muộn nhất với hai dòng trống lưng thẳng (trống

cao) và lưng choãi (trống lùn) Ý tưởng trưng bày vừa mang tính phổ cập với

thị hiếu đông đảo quần chúng nhân dân vừa mang tính khoa học để các học

giả hiểu rõ hơn về trống đồng Việt Nam Đây là những hiện vật có thể khối

lớn nặng từ 40 – 70kg với các họa tiết hoa văn đúc nổi, đúc chìm tinh mỹ, nói

lên nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn đã đạt đến một trình độ cao, trống đồng là

một loại hình hiện vật độc đáo và tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn

Ngoài ra, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn dùng thủ pháp trưng bày hiện

vật đơn lẻ, độc đáo cũng thể hiện nội dung của phần trưng bày và giúp người

xem nhận biết được những giá trị mà hiện vật mang lại Tuy là trưng bày cá

biệt nhưng nó vẫn không tách rời mà nằm trong hệ thống trưng bày Tiêu biểu

là chiếc thạp đồng Đào Thịnh tự thân là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo

Thạp được trang trí nhiều họa tiết hoa văn Đông Sơn, bên trong thạp có chôn

theo răng, than tro người chết và một số vật dụng thông thường Khi nghiên

cứu chiếc thạp, khách tham quan hiểu được phần nào quan niệm về cuộc sống

và tín ngưỡng của người Việt cổ

Phương pháp trưng bày liên tưởng được sử dụng để trưng bày nguyên

vẹn một khái niệm lịch sử bằng cách kết họp giữa hiện vật và các tài liệu khoa

Trang 33

Khóa luận tốt nghiệp 33

học bổ trợ để người xem có thể đưa ra các giả thiết Ví dụ cây cột chắt lọc

tổng hợp họa tiết tuyệt mỹ văn hóa Đông Sơn được đặt giữa dàn trống đồng

Quốc bảo thể hiện ý niệm phồn thực của người Việt cổ và quá trình phát triển

từ sớm đến muộn, từ thấp đến cao của văn hóa Đông Sơn Phần trần được

trang trí những họa tiết hoa văn vạch xiên Điều này như được tiếp nối từ văn

hóa Phùng Nguyên ( giai đoạn Tiền Đông Sơn), 14 chiếc đèn rọi xuống dàn

trống và ngôi sao 14 cánh trên cùng với đàn chim Lạc bay ngược chiều kim

đồng hồ càng tăng thêm hiệu quả thẩm mỹ của dàn trống phía dưới

Phương pháp trưng bày theo đời sống thực đó là trưng bày ngôi mộ

cổ Việt Khê Với thủ pháp trưng bày này người ta không đặt hiện vật một

cách riêng lẻ mà đặt chúng tương quan với môi trường cụ thể Ở đây toàn

bộ đồ tùy táng được đặt nguyên trong quan tài hình thuyền như lúc phát

hiện ban đầu để khách tham quan có thể hình dung phong tục tập quán ma

chay hay sinh hoạt của người Việt cổ Quan sát các di vật trong mộ ta thấy

xã hội Đông Sơn đã bước vào giai đoạn phân hóa giai cấp và chủ nhân ngôi

mộ có lẽ thuộc tầng lớp trên

Phương pháp trưng bày đối xứng được bảo tàng áp dụng để sắp xếp

hiện vật không cân đối trong một phòng mà trên các diện tường, trên nền cân

đối mảng, khối chứ không phải là đối xứng chi tiết Trong tủ các nhóm di vật

được trưng bày xen kẽ theo các chất liệu khác nhau Nhóm di vật rìu đồng

cạnh nhóm di vật rìu đá, nhóm nông cụ sản xuất rồi đến nhóm vũ khí chiến

đấu bảo tàng đã biết tận dụng không gian rộng lớn của phòng và các cửa sổ

để bố trí tủ - đai trưng bày mà vẫn hứng được ánh sáng bên ngoài

Văn hóa Đông Sơn ra đời và phát triển rực rỡ trên nền tảng hội tụ

những nền văn hóa Tiền Đông sơn Sự phát triển rực rỡ của văn hóa Đông

Sơn biểu hiện bằng kỹ thuật luyện kim và đúc đồng đã đạt tới trình độ hoàn

mỹ Đồ đồng văn hóa Đông Sơn là những hiện vật không thể nào lẫn với bất

Trang 34

Khóa luận tốt nghiệp 34

kỳ một nền văn hóa khảo cổ nào trên thế giới Với không gian trưng bày hiện

vật văn hóa Đông Sơn khách tham quan không chỉ có cái nhìn toàn cảnh về

cuộc sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ mà thêm tự hào về một giai

đoạn lịch sử của dân tộc đã qua Phần trưng bày sưu tập hiện vật đồng văn

hóa Đông Sơn không chỉ là nguồn sử liệu quan trọng trong công tác nghiên

cứu nền văn minh cổ xưa mà còn là bộ phận cực kỳ quan trọng và không thể

thiếu trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

2.3 Đặc điểm hiện vật trong sưu tập

Trong sưu tập hiện vật văn hóa Đông Sơn trưng bày tại Bảo tàng Lịch

sử Việt Nam thì hiện vật bằng đồng chiếm số lượng nhiều hơn cả Có hơn 300

hiện vật đồng ( riêng mộ thuyền Việt Khê đã có 107 hiện vật) được trưng bày

với hình dáng, kích thước, loại hình vô cùng đa dạng phong phú, có thể phân

thành các nhóm cơ bản với những hiện vật tiêu biểu

2.3.1 Nhạc khí

Nhóm này có 43 hiện vật bao gồm trống đồng, chuông đồng và trống

minh khí Trên một số trống Đông Sơn như: Ngọc Lũ, Hoàng Hạ còn có hình

ảnh của những chiếc cồng, hay thanh la cũng thuộc bộ gõ nhưng trong thực tế

khảo cổ chúng ta chưa tìm thấy chúng Những hiện vật này không chỉ là đối

tượng của văn hóa vật chất mà còn thể hiện đời sống tinh thần của cư dân

Đông Sơn đồng thời thể hiện tài năng, sự sáng tạo và trình độ phát triển của

người Đông Sơn

Trống đồng có khoảng 31 chiếc, lớn, nhỏ và trống minh khí Trống

đồng chủ yếu được sử dụng trong các cuộc hội hè, tế lễ Ngoài ra, trống đồng

còn là biểu trưng của quyền lực, dùng trong quân sự và các nghi lễ tôn giáo

Tiêu biểu cho nhóm hiện vật này là trống đồng Ngọc Lũ Trống có kích

thước lớn, cao 63cm, đường kính mặt trống 79cm, nặng 86kg Đây là chiếc

Trang 35

Khóa luận tốt nghiệp 35

trống Đông Sơn cổ nhất, đẹp nhất và còn nguyên vẹn vốn không phải địa

danh của nơi phát hiện như người ta thường nghĩ đối với các chiếc trống khác

Theo lời cụ Nguyễn Đăng Lập, 85 tuổi, người xã Ngọc Lũ, huyện Bình

Lục (Hà Nam) thì khoảng năm 1893 – 1894, những người đi đắp đê Trấn

Thủy ở bờ bên phải sông Hồng, thuộc xã Như Trác, huyện Nam Sang (nay là

Lý Nhân), đã phát hiện được trống Ngọc Lũ Nơi này cách xã Ngọc Lũ 30km

về phía Đông Bắc

Đang lúc đào đất ở bãi cát bồi đến độ sâu 2m thì thấy lộ ra một phần

của một vật lạ bằng đồng, đào tiếp lấy lên được một trống đồng rất lớn bên

trong có một nắp thạp Trống và nắp thạp được mang cúng vào chùa Long

Đọi Sơn Chỉ những khi có lễ cúng mới mang trống ra đánh, còn ngày thường

để ở hậu cung

8 năm sau, một họa sĩ Pháp đến vẽ chùa, thấy vật lạ này và báo cho

công sứ Hà Nam biết Viên công sứ này, sai dân xã mang trống và nắp thạp về

trưng bày ở cuộc đấu xảo tại Hà Nội ngày 15-11-1902 Sau đó trường Viễn

Đông bác cổ Pháp đã mua lại hiện vật nói trên và để vào Bảo tàng Loui Fino (

Louis Finot) năm 1903, với giá 550 đồng Đông Dương Hiện nay thì trống

đồng Ngọc Lũ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với ký hiệu

ĐT.2112

Trống có 4 phần: phần mặt, phần tang, phần thân và phần chân

Mặt trống không chờm ra khỏi tang Trên mặt trống được trang trí hoa

văn như sau: chính giữa là một ngôi sao nổi 14 cánh, xen giữa các cánh là

hình lông công Từ trong ra ngoài có 16 vành hoa văn:

Vành 1, 5, 11,14, 16 là những vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa

Vành 3 là những chữ S gấp khúc nối nhau

Vành 12, 15 là những hình răng cưa

Trang 36

Khóa luận tốt nghiệp 36

Vành 6 được diễn tả như sau:

- Có 2 nhóm người đối diện nhau, nhóm 7 người và nhóm 6 người

Nhóm 7 người có 1 người không có mũ; còn lại tất cả đều đội mũ hóa trang

bằng lông chim, vừa đi vừa múa

- Có 4 nhà sàn, 2 cái mái vòng cung, hai cái hình thuyền đối diện nhau

- Có 2 khối đối diện nhau , mỗi khối có 3 người

Luận về họa tiết của vành hoa văn này có nhiều ý kiến khác nhau

Người thì cho là bát quái, người thì bảo là cảnh đúc trống,người lại cho là giã

gạo, có người lại cho là cảnh rước thuyền hồn

Vành 8 là hình 2 động vật: hai đàn hươu gạc dài tận đuôi, mỗi đàn có

10 con xen giữa 2 đàn hươu là hai đàn chim đang giang cánh bay, mắt to, mỏ

quặp, 1 đàn có 6 con và 1 đàn có 8 con

Vành 10 có 18 con chim mỏ dài ( gọi là chim Lạc) đang bay, xen giữa

đàn chim là 18 con chim nhỏ đang đứng Tất cả hình người và động vật ngược

chiều kim đồng hồ

Phần tang trống được trang trí như sau:

Từ nơi tiếp giáp với mặt trống xuống có 6 băng hoa văn

Băng 1 và 6 là những đường chấm nhỏ

Băng 2 và 5 là răng cưa có chấm nhỏ xen kẽ

Băng 3 và 4 là những vòng tròn đồng tâm chấm giữa

Dưới 6 băng hoa văn đó là 6 con thuyền, 3 chiếc có 7 người, 2 chiếc có

6 người, 1 chiếc có 5 người Người được hóa trang như trên mặt trống, mỗi

người đang thể hiện một động tác

Phần thân trống có các băng hoa văn hình học bố trí theo chiều thẳng

đứng chia thân thành 6 ô hình chữ nhật bằng nhau, giữa mỗi ô có 2 người múa

giống như trên mặt trống

Phần chân trống choãi ra hình nón cụt không trang trí

Trang 37

Khóa luận tốt nghiệp 37

Gắn vào tang và phần giữa thân trống là 4 quai chia thành hai cặp được

trang trí hoa văn hình bông lúa

Chuông đồng: Có 12 chiếc với nhiều cỡ to nhỏ và hình dáng khác nhau

Có những chuông nhỏ nửa hình bầu dục, mặt cắt ngang hình bầu dục Đầu

tròn có núm, hai bên thân xẻ rãnh ở gần miệng Bên trong có một then ngang

treo một quả lắc hình quả chuông nhỏ xíu Những quả chuông nhỏ xíu, còn

được gọi là nhạc hay lục lạc, thường gắn vào những hiện vật khác như: vòng

ống, muôi…Chuông hình nón, chóp có núm là một quai đeo Hai bên thân có

xẻ rãnh gần miệng, mặt cắt hình bầu dục Ngoài ra, còn có chuông ống, có

dạng hình ống, gần miệng hơi loe, ở đầu có núm là một quai đeo…

Được trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử là loại chuông có tai mang số hiệu

LSb 1425 , gần như nguyên vẹn, cao khoảng 30cm , đầu chuông tròn có hai tai

bẻ ra như hai sừng, phía dưới hai sừng có hai lỗ thủng chữ nhật đối nhau, hai

bên thân gần miệng có xẻ rãnh Phần lớn không có hoa văn

Chiếc chuông có kích thước lớn nhất ( khoảng 35cm) có dáng nửa hình

bầu dục bẹt Hoa văn trang trí là hình hồi văn nửa phần trên của chuông, cùng

với hoa văn chữ S có xoắn móc, có hình hai con chim đứng, tiếp theo là hai

băng hoa văn hình hồi văn

Chuông có thể dùng bằng cách gõ, lắc, có thể xâu dây treo hoặc cầm

2.3.2 Vũ khí

Nhóm vũ khí trong sưu tập hiện vật đồng văn hóa Đông Sơn trưng bày

tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam có khoảng 53 hiện vật, trong đó hiện vật giáo

và lao chiếm số lượng tương đối lớn Ngoài ra còn có dao găm, rìu chiến, mũi

tên, qua đồng, tấm che ngực, kiếm ngắn, kiếm dài…Những hiện vật này đã

giúp khách tham quan thấy được trình độ và bản lĩnh quân sự trong việc đấu

tranh chống ngoại xâm giữ nước của cư dân Đông Sơn Căn cứ vào tính năng,

tác dụng, có thể phân nhóm vũ khí ra làm hai loại:

Trang 38

Khóa luận tốt nghiệp 38

Vũ khí đánh gần như rìu, giáo, dao găm, tấm che ngực…

Vũ khí đánh xa như mũi tên, lao…

- Giáo: là loại vũ khí đánh gần của cư dân Đông Sơn, trong các cuộc

chiến nó được sử dụng khá phổ biến Trong sưu tập hiện vật đồng văn hóa

Đông Sơn thì giáo được trưng bày có số lượng khoảng 20 chiếc, căn cứ vào

cách tra cán có thể chia giáo thành hai nhóm: Giáo có chuôi tra cán và giáo có

họng tra cán

Giáo có chuôi tra cán còn gọi là giáo lá mía Loại giáo này không

nhiều và được trưng bày cũng chỉ có 2 chiếc Loại giáo này phình hơi rộng ở

khoảng 1/3 kể từ mũi rồi lại thu hẹp dần, gần tới chuôi lại phình ra để tạo

thành hai ngạnh ở hai bên, dưới hai ngạnh lưỡi nhập vào phần sống giáo, kéo

dài để tạo thành chuôi Hai bên ngạnh có khi có lỗ thủng Sống giáo cao

Giáo có họng tra cán có phần họng dài bằng khoảng 1/2 đến 1/3 chiều

dài của cả lưỡi Mặt cắt lưỡi hình thoi, mặt cắt họng hình tròn, cánh giáo

phình đều, hai bên cánh giáo nơi rộng nhất có hoặc không có các lỗ thủng

Ngoài ra giáo có họng tra cán còn có loại có mặt cắt hình thoi biến

dạng tạo cho sống giáo nổi cao sắc cạnh, lưỡi giáo dẹt Giáo có phần họng dài

bằng khoảng 1/2 đến 1/4 chiều dài của cả lưỡi Mặt cắt họng hình tròn hoặc

gần tròn Mặt cắt lưỡi hình thoi biến dạng Cánh phình rộng, sắc cạnh Không

có lỗ ở cánh Một số lưỡi có hoa văn đúc chìm hình trám lồng hoặc giữa phần

lưỡi và phần họng có đường chỉ chìm Giáo này thường có kích thước trung

bình và nhỏ

Còn có giáo có họng tra cán họng lõm Mặt cắt họng có hình gần lục

giác vì phần họng có bốn đường gân nổi không rõ,hoặc mắt cắt họng hình

thoi, hình gần tứ giác, mặt cắt lưỡi hình thoi và giáo có họng tra cán có họng

rất ngắn, phần lưỡi dài Cánh giáo hơi phình rộng thuôn bàu

Trang 39

Khóa luận tốt nghiệp 39

- Lao: Lao cũng được chia làm hai loại: Lao có chuôi tra cán và lao có

họng tra cán Phần lớn là lao có hình dạng giống giáo và là những chiếc lao

minh khí Trưng bày ở bảo tàng có 2 chiếc lao

Lao có chuôi tra cán, có rất ít, mới chỉ thấy ở di tích Việt Khê, Vinh

Quang Về chức năng có phần chưa khẳng định, nhưng trước mắt dựa vào

hình dáng vẫn tạm xếp những hiện vật này vào lao Loại lao này có lưỡi hình

lá tre, ở giữa có sống nổi kéo dài tới đuôi, chuôi ngắn, mặt cắt hình chữ nhật

Có chiếc lưỡi hình lá lúa, đầu nhọn, phình dần xuống dưới, ở giữa có sống mờ

từ mũi tới chuôi, chuôi thu nhỏ đầu thành mũi nhọn…

Lao có họng tra cán hình dáng hoàn toàn giống giáo có họng tra cán

nhưng thu nhỏ Tuy nhiên cũng có chiếc hơi khác biệt, phần lưỡi hình búp đa,

lưỡi bầu, mặt cắt ngang hình bầu dục bẹt, có chiếc phần lưỡi rộng giống hình

tam giác…

- Mũi tên: Mặc dù mũi tên có số lượng lớn nhưng chưa phải là hiện vật

phổ biến trong các di tích Đông Sơn như giáo, rìu

Mũi tên cũng có nhiều loại: mũi tên hình cánh én có chuôi ngắn, mũi

tên hình chánh én có chuôi dài, mũi tên ba cạnh, mũi tên hình búp đa

Nhưng được trưng bày chủ yếu là mũi tên ba cạnh Phần mũi thuôn dần

lên tới đầu mũi, cánh không phát triển và không tạo thành góc nhọn

Mũi tên hình cánh én có chuôi dài Phần mũi có hình cánh én, ở giữa

có sống nổi cao là phần chuôi kéo dài và thu nhỏ dần lên tới đầu mũi, cánh

dẹt phần chuôi phình ra ở cuối, dưới phần phình này có một đoạn đuôi ngắn

và nhỏ

- Dao găm: Đây là vũ khí đánh gần , là vật tùy thân lợi hại và cũng là

loại vũ khí tối ưu được người Đông Sơn sử dụng khá phổ biến Dao găm có

nhiều kiểu như: dao găm tay chắn thẳng, dao găm có tay chắn vểnh, dao găm

cán hình chữ T…Dao găm được trưng bày tại bảo tàng có 12 chiếc trong đó

có 3 chiếc chỉ còn lại cán dao

Trang 40

Khóa luận tốt nghiệp 40

Đặc biệt có dao găm cán hình tượng người Những dao găm cán hình

tượng người là một loại hình hiện vật độc đáo của nền văn hóa Đông Sơn,

một biểu tượng gây cho chúng ta lòng trân trọng, tự hào Loại dao găm này

được phân bố trên một diện rất rộng, bao gồm miền đồng bằng Bắc Bộ và Bắc

Trung Bộ, miền ven biển Bắc Bộ, miền lưu vực sông Cả, là những khu vực

phân bố dày đặc các di tích của văn hóa Đông Sơn

Lưỡi dao rất giống những con dao găm có đốc củ hành, rất phổ biến

của văn hóa Đông Sơn: lưỡi hình tam giác, không có sống ở giữa Chắn tay

chỉ rộng hơn lưỡi một chút, uốn vào thành tai có lỗ thủng ở giữa Cán dao là

tượng người đứng thẳng, hai tay khuỳnh ra chống nạnh Mũi, miệng nhìn

thẳng thường ít được rõ ràng, nhưng nhìn nghiêng lại khá rõ Chỉ có đôi mắt

là được chú ý, mắt hình tròn ở giữa có chấm

Tiêu biểu có dao găm cán là tượng đàn ông mang số hiệu LSb1604-154,

không còn nguyên vẹn, phần lưỡi dao đã mất Tượng người đàn ông cởi trần,

mặc khố, vú được thể hiện rất rõ bằng hai vòng tròn ở ngực Chúng ta biết

rằng tượng đàn bà ở hậu kỳ thời đại đá cũ, vú và các bộ phận quan trọng đã

được cường điệu hóa lên: đó là thời kỳ chế độ mẫu hệ đang thống trị Nhưng

đến giai đoạn này, thì lại ít được thể hiện ra Cái đẹp của đôi vú thuộc về

người đàn ông, giai đoạn mà chế độ phụ quyền được củng cố Tóc được búi

trên đầu, bên ngoài đội một loại khăn xếp

Dao găm đốc hình củ hành có đốc hình củ hành, phần đầu đốc có một

đoạn hình trụ nhô lên Một số ở phần đốc có những lỗ thủng hình chữ nhật

Lưỡi hình lá tre, thu nhỏ dần tạo thành mũi Lưỡi dày ở giữa, mỏng dần về hai

bên rìa, vì vậy không rõ sống Mặt cắt ngang gần hình thoi Ở lưỡi trang trí

hoa văn hình học rất đẹp trong khung hình tam giác Kiểu dao găm này trưng

bày ở bảo tàng chỉ còn 1 chiếc và khá nguyên vẹn

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w