1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những ca khúc cách mạng trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sỹ phạm tuyên

84 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Nhạc sĩ Phạm Tuyên là một nhạc sĩ lão thành, đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền âm nhạc Việt Nam, ông là tác giả của hàng trăm ca

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi, em đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài Kết quả thu được không chỉ là sự nỗ lực của riêng cá nhân em mà còn có sự giúp đỡ của quý thày cô, gia đình và các bạn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới

Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý văn hóa – nghệ thuật trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện giúp

em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Cô Hoàng Bích Hà, người đã hướng dẫn, hỗ trợ em hoàn thành tốt đề tài về phương pháp, nội dung, lý luận trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Gia đình đã tạo điều kiện học tập tốt nhất

Các cơ quan : Thư viện âm nhạc quốc gia, Hội nhạc sĩ đã nhiệt tình cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành đề tài

Các bạn đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài trong quá trình thực hiện khóa luận

Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế, do vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét phê bình của quý thày cô và các bạn

Kính chúc quý thày cô và các bạn sức khỏe

Người thực hiện đề tài

Trần Thị Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI KỲ TÂN NHẠC 3

1.1 Tân nhạc Việt Nam 3

1.1.1 Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ 20 3

1.1.2 Giai đoạn hình tượng 4

1.1.3 Giai đoạn thành lập 1938 – 1945 : 5

1.1.4 Giai đoạn kháng chiến 1945 – 1954 : 6

1.1.5 Giai đoạn 1954 – 1975 : 8

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Tuyên 9

1.2.1 Thân thế nhạc sĩ Phạm Tuyên 9

1.2.2 Con người nhạc sĩ Phạm Tuyên 10

1.2.3 Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên 12

CHƯƠNG II: NHỮNG CA KHÚC CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN 17

2.1 Nhạc cách mạng 17

2.2 Những ca khúc cách mạng tiêu biểu của nhạc sĩ Phạm Tuyên 20

2.2.1 Những ca khúc ca ngợi Đảng và Bác Hồ 20

2.2.1.1 Ca khúc Đảng cho ta một mùa xuân 20

2.2.1.2 Ca khúc Màu cờ tôi yêu 27

2.2.1.3 Ca khúc Như có Bác trong ngày vui đại thắng 35

2.2.2 Những ca khúc ca ngợi tuổi trẻ, xây dựng quê hương đất nước trong thời chiến và trong thời kỳ đổi mới 39

2.2.2.1 Ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn 39

2.2.2.2 Ca khúc Hà Nội - Điện Biên Phủ 46

2.2.3 Những ca khúc ca ngời tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi 52

Trang 4

2.2.3.1 Ca khúc Gửi nắng cho em 52

2.2.3.2 Ca khúc Con kênh ta đào 58

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VỀ CHÙM CA KHÚC CÁCH MẠNG CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN 67

3.1 Tính nghệ thuật 67

3.2 Những đóng góp của ca khúc cách mạng do nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác 68

3.2.1 Trong thời chiến 68

3.2.2 Trong thời bình 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhạc sĩ Phạm Tuyên là một nhạc sĩ lão thành, đã có nhiều cống hiến

to lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền âm nhạc Việt Nam, ông là tác giả của hàng trăm ca khúc, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị to lớn phục

vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị của đất nước, được công chúng yêu thích, mến mộ

Phạm Tuyên được tiếp xúc với văn hóa từ khi còn nhỏ qua quá trình tự học Ông kể: “Về gia đình tôi, sau này một số nhà văn, một số nhà sử học cứ nói lung tung rằng ở đấy họ thấy vàng bạc, thấy đủ các thứ quý giá Tôi chả nhớ gì về những thứ đó cả nhưng có một cái mà tôi đoán chắc rằng, tất cả các quan lại trong triều đình Huế không thể nào có được cái tủ sách lớn như nhà tôi đã có Tuổi thơ tôi, những khi nào được nghỉ, không phải học ở trường thì bao giờ tôi cũng trốn vào trong buồng sách để đọc Thói quen đọc sách về sau

đã theo tôi suốt cả đời Thói quen ấy được hình thành trong buồng sách của cha tôi… Sau này ra Hà Nội, mình cũng toàn tới tới thư viện để đọc sách, để

tự học…”

Phạm Tuyên đã có đóng góp rất quan trọng cho nền âm nhạc cách mạng và có ảnh hưởng lớn đến công chúng Đó là một người yêu nước, suốt đời chỉ có một con đường phục vụ nhân dân, con đường đó rất rõ ràng, nhờ thế đã tạo được những cột mốc trong sự nghiệp âm nhạc cá nhân của ông và của cả nền âm nhạc

Nhắc đến nhạc sĩ Phạm Tuyên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ngay chân dung một nhạc sĩ đã giành trọn cuộc đời mình cho âm nhạc Những ca khúc của ông luôn phản ánh chân thật đời sống tinh thần của quân và dân cả nước, trong chiến đấu các ca khúc của ông đã góp nên sức mạnh ý chí làm lên chiến thắng, trong hòa bình những ca khúc của ông là niềm tự hào, là cầu nối cho sự gắn kết của tinh thần Việt Nam

Trang 6

Thông qua những tác phẩm của mình ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân cả nước, ông còn là người bạn gần gũi với mọi thế hệ, mọi tầng lớp nhân dân, mỗi tác phẩm của ông thường gắn bó với mỗi bước thăng trầm của dân tộc, đó là những hòa âm chủ đạo trong bản nhạc của tình yêu nước cho nên bài hát của ông trong chiến tranh, bài hát của ông trong hòa bình đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ trong lòng nhiều người dân Việt Nam

Nhạc sĩ Phạm Tuyên được nhắc tới như là một nhạc sĩ đa sắc màu, ông sáng tác các ca khúc giành cho mọi tầng lớp, từ mẫu giáo đến thiếu niên, từ đoàn viên thanh niên đến phụ nữ, từ người chiến sĩ nơi biên cương xa xôi hay giữa lòng thành phố đến người công nhân trong nhà máy, hoặc người nông dân trên ruộng đồng bao la bát ngát, đặc biệt là những ca khúc ông viết về cách mạng, viết về cuộc chiến tranh gian khổ của quân và dân ta, viết về những chiến sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước

1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhạc cách mạng

2 Phạm vi nghiên cứu

- Những ca khúc cách mạng trong sự nghiệp sáng tác của ngạc sĩ Phạm

Tuyên

3 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu

Chương 1 Bối cảnh lịch sử âm nhạc Việt Nam thời kỳ Tân nhạc

Chương 2 Những tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Chương 3 Đóng góp của những ca khúc cách mạng do nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác trong kháng chiến và trong thời bình

Trang 7

CHƯƠNG I BỐI CẢNH LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI KỲ TÂN NHẠC

1.1 Tân nhạc Việt Nam

Tân nhạc hay Nhạc mới, Nhạc cải cách là một loại nhạc của Việt Nam xuất hiện năm 1928

1.1.1 Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ 20

Bối cảnh ra đời của tân nhạc là Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong nghệ thuật văn học Việt Nam nói chung Tân nhạc xuất hiện sau phong trào Thơ mới và dòng văn học cách mạng vài năm

Sau thế chiến thứ nhất, ở Việt Nam xuất hiện một giai cấp mới, đó là giai cấp tư sản Chủ nghĩa tư bản của nguời Pháp cùng với nền văn hóa phương Tây vào Việt Nam gây nên những xáo trộn lớn trong xã hội Nhiều giá trị tư tưởng bền vững mấy ngàn năm trước đó lại bị giới trẻ có Tây học xem thường, thậm chí còn trở thành đối tường để mỉa mai của nhiều người Một tầng lớp tiểu tư sản ở thành thị hình thành

Giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên ( trí thức, viên chức cấp cao ) đã có một lối sinh hoạt thành thị mới với nhiều tiện nghi theo văn minh Tây phương Họ ở nhà lầu, đi ô tô, dung quạt điện, đi nghe hòa nhạc Sinh hoạt của tư sản và tiểu tư sản thành thị cũng thể hiện ngay cả trong cách

ăn mặc của thanh niên, mốt quần áo thay đổi mỗi năm Những thay đổi về sinh hoạt đồng thời với sự thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc Những thay đổi đó cũng do sự tiếp xúc với văn hóa lãng mạn Pháp

Giống như những nhà văn lãng mạn, thi sĩ của phong trào thơ mới chịu ảnh hưởng bởi văn học lãng mạn Pháp, các nhạc sĩ tiền chiến chịu ảnh hưởng bởi âm nhạc phương Tây

Tân nhạc Việt Nam được chia thành 5 giai đoạn hình thành và phát triển

Trang 8

1.1.2 Giai đoạn hình tượng

Giai đoạn trước 1937 được xem là giai đoạn chuẩn bị của Tân nhạc

Trong bài Lịch sử Tân nhạc Việt Nam nhạc sĩ Trần Quang Hải gọi đây là "giai

đoạn tượng hình" Còn Phạm Duy cho rằng những năm đầu thập niên 1930 là

"thời kỳ đi tìm nhạc ngữ mới"

Âm nhạc của châu Âu theo chân những người Pháp vào Việt Nam từ rất sớm Đầu tiên chính là những bài thánh ca trong các nhà thờ Công giáo Cáclinh mục Việt Nam được cũng được dạy về âm nhạc với mục đích truyền giáo Tiếp đó người dân được làm quen với "nhạc nhà binh" qua các đội kèn đồng Tầng lớp giàu có ở thành thị được tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây

Từ đầu thế kỷ 20, các bài hát châu Âu, Mỹ được phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam với các đĩa hát 78 vòng rồi qua những bộ phim nói Những thanh niên yêu âm nhạc thời kỳ đó bắt đầu chơi mandoline, ghita và cả vĩ cầm, dương cầm

Thời kỳ này một số nhạc sĩ cải lương bắt đầu soạn các nhạc phẩm, thường được gọi là "bài tây theo điệu ta" Người tiêu biểu cho số đó là nghệ sĩ

cải lương Tư Chơi, tức Huỳnh Thủ Trung Ông đã viết các bài Tiếng nhạn

trong sương, Hòa duyên và soạn lời Việt cho một vài ca khúc châu Âu thịnh

hành khi đó để sử dụng trong các vở sân khấu như: Marinella trong vở Phũ

phàng, Pouet Pouet trong Tiếng nói trái tim, Tango mystérieux trong Đóa hoa rừng,La Madelon trong Giọt lệ chung tình Nghệ sĩ Bảy Nhiêu cũng có một

nhạc phẩm là Hoài tình rất được ưu chuộng

Năm 1930, trong thời gian bị tù ở Côn Đảo, nhạc sĩ Đinh Nhu đã viết

ca khúc Cùng nhau đi Hồng binh Theo Trần Quang Hải thì Cùng nhau đi

Hồng binh là ca khúc tân nhạc đầu tiên của Việt Nam

Không chỉ các nghệ sĩ, trong giới thanh niên yêu nhạc cũng có phong trào chuyển ngữ các bài hát của Tino Rossi, Rina Ketty, Albert Préjean, Georges Milton mà họ yêu thích Những nghệ sĩ sân khấu như Ái Liên, Kim

Trang 9

Thoa đã được các hãng đĩa của người Pháp như Odéon, Béka mới thu âm các bài ta theo điệu tây Khoảng thời gian từ 1935 tới 1938, rất nhiều các bài hát của Pháp đã được phổ biến mạnh mẽ với lời ca tiếng Việt, soạn bởi một nhà báo trẻ tên là Mai Lâm và bởi những tác giả vô danh khác Ca sĩ Tino Rossi đặc biệt được giới trẻ yêu thích, đã có những hội Ái Tino được thành lập ở Hà Nội, Hải Phòng

Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã tập trung cùng sáng tác Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, ba thành viên

của nhóm Tricéa đã viết nhiều ca khúc như Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành

khúc (1936) của Lê Yên; Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng

ai qua thềm (1937) của Văn Chung Tại Huế, Nguyễn Văn Thương viết

bản Trên sông Hương năm 1936 Lê Thương ở Hải Phòng cũng có Xuân năm

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên khi đó ở Sài Gòn, là người Việt duy nhất

tham gia hội Hiếu nhạc (Philharmonique) Ông bắt đầu hát nhạc Tây và đoạt

được cảm tình của báo chí và radio Năm 1937 ông phổ một bài thơ của người bạn và viết thành ca khúc đầu tiên của mình Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn, khi

đó làm việc cho đài Radio Indochine, có đưa thơ cho Nguyễn Văn Tuyên và giúp ông soạn lời ca Nguyễn Văn Cổn còn giới thiệu ông với Thống đốc Nam Kỳ Viên Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Pagès nghe ông hát và mời ông du lịch sang Pháp để tiếp tục học nhạc nhưng Nguyễn Văn Tuyên từ chối

vì lý do gia đình Ngược lại ông lại đề nghị và được thống đốc Pagès tài trợ cho đi một vòng Việt Nam ra Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định để quảng

Trang 10

bá những bài nhạc mới này Chính Nguyễn Văn Cổn là người đặt tên cho loại

nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musique renovée)

Tới Hà Nội vào tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Tuyên nói chuyện tại hội Trí Tri Nhưng trong cuộc vận động cải cách, ông đã gặp một cử tọa đông đảo, ồn ào không trật tự Một phần thất bại buổi đó do giọng nói địa phương của ông được ít người hiểu Hơn nữa, có thể nhiều thanh niên Hà Nội lúc đó như đã cho việc hô hào của ông là thừa, vì bài hát cải cách đã có sẵn ở đây

Tại hội Trí Tri Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuyên đã may mắn hơn Tuy số khán giả chỉ độ 20 người, nhưng Nguyễn Văn Tuyên đã có người thông cảm Trong buổi nói chuyện này, một vài nhạc sĩ của Hải Phòng cũng trình một bản nhạc mới của miền Bắc Sau đó nhân kỳ hội của trường Nữ học Hoài Đức, Nguyễn Văn Tuyên còn trình bày tại rạp chiếu bóng Palace một lần nữa Lần

này cử tọa rất tán thưởng giọng hát của ông trong bài Bông cúc vàng

Tiếp đó tháng 9 năm 1938, tờ Ngày Nay của Nhất Linh, một tờ báo uy tín khi ấy, cho đăng những bản nhạc đầu tiên Bông cúc vàng, Kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bình minh của Nguyễn Xuân Khoát, Bản đàn

xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây hàng, Cám

dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc

Nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành Từ đầu 1939, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành

1.1.4 Giai đoạn kháng chiến 1945 – 1954 :

Từ năm 1945, tân nhạc Việt Nam bắt đầu có sự phân tách Đa số các nhạc sĩ rời bỏ thủ đô và những thành phố lớn để tham gia kháng chiến Nhưng một số vẫn ở lại trong vùng kiểm soát của Pháp hoặc có những nhạc sĩ theo kháng chiến rồi lại quay trở lại thành phố

Với đề tài kháng chiến, ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông

Thao, Nhớ chiến khu, Hoàng Vân có Hò kéo pháo, Văn Chung viết Quê tôi

Trang 11

giải phóng, Lê Yên viết Bộ đội về làng Ở miền trung có Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Lời người ra đi của Trần Hoàn, Đoàn vệ quốc quân, Có một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu, Du kích Ba Tơ của Dương

Minh Viên Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng

Việt với Lên ngàn, Nhạc rừng, Nguyễn Hữu Trí với Tiểu Đoàn 307, Trần Kiết Tường với Anh Ba Hưng, Con kênh xanh xanh của Ngô Huỳnh Một đề

tài sáng tác mới nữa của các nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Lao

động Việt Nam Lưu Hữu Phước đã viết Chào mừng Đảng lao Động Việt

Nam, Lưu Bách Thụ viết Biết ơn Cụ Hồ Tham gia kháng chiến, Văn Cao đã

sửa lời Bến xuân thành Đàn chim Việt và viết Trường ca Sông Lô, Ca ngợi Hồ

Chủ Tịch

Các ca khúc này đánh dấu sự ra đời thực sự của nhạc kháng chiến, hay

"nhạc đỏ" Tuy vậy, ngay trong số những nhạc sĩ trên, nhiều người vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạn và được các chính quyền tại miền Nam Việt

Nam xếp vào dòng nhạc tiền chiến như Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Dư

âm của Nguyễn Văn Tý, Nụ cười sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang

Tham gia kháng chiến, Phạm Duy cũng có Chiến sĩ vô danh, Quê

nghèo, Bà mẹ Gio Linh Nhưng ông cũng viết Bên cầu biên giới và bài hát bị

coi là không hợp với hoàn cảnh chiến đấu khi đó và về sau ông rời bỏ miền Bắc vào Nam

Ở các vùng đô thị thuộc kiểm soát của Pháp, những nhạc sĩ vẫn sáng

tác nhạc lãng mạn như Văn Giảng với Ai về sông Tương, Lâm Tuyền với Tiếng thời gian, Văn Phụng với Mơ khúc tương phùng Lê Thương vào miền Nam viết các bản nhạc hài hước, trào phúng Hòa bình

48, Liên Hiệp Quốc Ở Hà Nội, năm 1947 Nguyễn Đình Thi viết ca

khúc Người Hà Nội

Trong giai đoạn này, tại Pháp trong những năm 1949 tới 1951, hãng đĩa Oria đã thu một số đĩa nhựa 78 vòng tiếng hát của các ca sĩ Hải Minh, Bích

Trang 12

Thuận, Hoàng Lan, Văn Lý những ca khúcHội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, Chiến sĩ vô danh của Phạm Duy, Tiếng thùy dương, Hòa bình

48 của Lê Thương, Trách người đi của Đan Trường

1.1.5 Giai đoạn 1954 – 1975 :

Hiệp định Genève năm 1954 tạm chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự để chờ tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956 Chính quyền Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa từ chối thi hành tổng tuyển cử theo hiệp định, hành động này đã chia Việt Nam thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam

Tại miền Bắc, nhạc kháng chiến tiếp tục và cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài phát thanh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Bắc Các ca khúc nhạc đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng

Ở miền Nam, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại Dòng nhạc tiền chiến được Cung Tiến, Phạm Đình Chương tiếp tục Một số nhạc sĩ trẻ như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An sáng tác các bản tình

ca mới Dòng "nhạc vàng" xuất hiện với các tên tuổi tiêu biểu Hoàng Thi Thơ, Trúc Phương, Lam Phương Văn hóa Âu Mỹ tràn ngập miền Nam dẫn đến sự hình thành dòng nhạc trẻ Bên cạnh đó là các phong trào Du ca và dòng nhạc phản chiến Một nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc phản chiến này và

cả tình ca là Trịnh Công Sơn

Trong giai đoạn phát triển của Tân nhạc Việt Nam có rất nhiều những nhạc sĩ đã gắn bó với từng thời kỳ và để lại những tác phẩm còn sống mãi với thời gian Một trong những đại diện cho thế hệ nhạc sĩ sáng tác những ca khúc viết về cách mạng đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên Một nhạc sĩ đã để lại nhiều sáng

Trang 13

tác hay cho nền âm nhạc và để lại một khối lượng bài hát lên tới gần 700 ca khúc trong sự nghiệp của mình, âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên gần gũi với đời sống thực tế và nhân dân nên được đông đảo quần chúng nhân dân yêu mến và giành tình cảm đặc biệt cho người nhạc sĩ tài ba này

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Tuyên

1.2.1 Thân thế nhạc sĩ Phạm Tuyên

Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Hưng (nay là Hải Dương) Ông là con thứ 9

ông là PGS.TS Tâm lý học Nguyễn Anh Tuyết

Nhạc sĩ Phạm Tuyên được sinh gia trong một gia đình khá giả, cha là học giả Phạm Quỳnh từng làm chủ bút của tạp chí Nam Phong, cụ cũng từng giữ chức thượng thư trong triều đình nhà Huế, nhưng là người có tư tưởng tiến bộ nên khi ra làm quan cụ chỉ mong sao có thể làm được việc gì có ích cho dân Mặc dù có tư tưởng tiến bộ không theo phong kiến cũng chẳng theo Tây nhưng sống trong buổi giao thời nên cụ Phạm Quỳnh và gia đình gặp nhiều thị phi Ngày tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám cả nước tưng bừng niềm vui thì gia đình nhạc sĩ gặp phải biến cố, từ đó 13 anh chị em của nhạc sĩ phải sống tự lập, ngôi nhà đầm ấm bổng chốc trở nên tan đàn xẻ nghé

Năm lên 6 tuổi Phạm Tuyên theo gia đình vào Huế, chính tại đây tâm hồn ông được bồi đắp vốn tri thức về văn hóa và âm nhạc đáng kể Năm 15 tuổi, cha mất, mẹ cũng lâm bệnh và qua đời sau đó nên nhạc sĩ cùng các anh chị em phải tự bươn trải lập nghiệp Ông tham gia vào đội thanh niên cứu quốc tại Huế

Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa

V Năm 1950, là Đại đội trưởng tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam Trong thời gian này, ông đã có những chum ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn và về Thiếu sinh quân Việt Nam

Trang 14

Năm 1954, ông được cử làm cán bộ phụ trách Văn – Thể - Mỹ tại khu học xá Trung ương ( Nam Ninh, Trung Quốc ) Từ năm 1958, ông về nước và công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc..

Ông là ủy viên thường vụ ban chấp hành hội nhạc sĩ Việt Nam từ năm

1963 – 1983

1.2.2 Con người nhạc sĩ Phạm Tuyên

Nhạc sĩ Phạm Tuyên là con thứ 9 của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, trong ông được thừa hưởng trái tim đau đáu yêu nước của cha, sinh ra ở Hà Nội, lớn lên ở Huế và trưởng thành trong từng hơi thở của đất nước, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã trả qua những bước thăng trầm của gia đình, của bản thân và của cả một dân tộc Người ta vẫn nhớ đến ông với nụ cười – một nụ cưới nhân hậu, người ta còn bắt gặp nụ cười đó trong cả những giai điệu vui tươi khi ông sáng tác ngay cả khi ông nắm trong hầm chứ bom số nhà 58 Quán Sứ, trụ sở của đâì phát thanh tiếng nói Việt Nam khi Hà Nội đánh Mỹ trên bầu trới thủ

đô, nụ cười đã theo những nốt nhạc thành bản giai điệu hào hùng, thành một niến tin chiến thắng và trong khi cả nước nô nức ra trận trong chiến dịch lịch

sử mang tên Bác thì nhạc sĩ đã viết bài Như có Bác trong ngày vui đại thắng,

kéo dài nụ cười cho những mong mỏi, niềm tin bất diệt cho sự thống nhất đất nước, mà có lẽ đó mà sự mong mỏi của từng người, từng người dân Việt Nam trong đó có người cha của ông

Bước vào cuộc sống độc lập năm 15 tuổi với bản sơ yếu lý lịch không mấy sang sủa, ít người tin rằng nhạc sĩ Phạm Tuyên có thể vượt lên được những định kiến về người cha nổi tiếng mà cũng lắm tai tiếng – học giả Phạm Quỳnh để lập nghiệp Thế mà, không chỉ vượt qua những định kiến ấy, Phạm Tuyên còn trở thành một trong những nhạc sĩ đóng góp hàng đầu cho nền âm nhạc nước nhà với một công trình đồ sộ khoảng 700 ca khúc

Âm nhạc đã “ăn vào máu” của Phạm Tuyên nên không khó để ông

tìm ra cái mới, cái độc đáo ngay trong những đề tài tưởng chừng như khô

Trang 15

khan nhất Năm lên 6 tuổi, Phạm Tuyên theo gia đình cùng cha ông vào Huế, sinh sống tại biệt thự Hoa Đường có khuôn viên hoa lá xanh tươi bên bờ sông

An Cựu Ông được bồi đắp vốn tri thức văn hóa và âm nhạc tại vùng đất cố

đô này Sáng tác đầu tiên của ông là năm 12 tuổi, cũng từ tác phẩm đầu tay sơ khai ấy, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã đến với âm nhạc bằng tình yêu và năng khiếu bẩm sinh của mình

Trong hơn nửa thế kỷ lao động, sáng tạo; nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có một gia tài tác phẩm âm nhạc đồ sộ với khoảng 700 ca khúc Nhiều ca khúc nổi tiếng, đa dạng về đề tài và giàu truyền cảm của ông song hành qua mọi thời khắc lịch sử của đất nước Sẽ không quá lời khi nói rằng: âm nhạc Phạm Tuyên là biên niên sử bằng âm thanh dõi theo từng ca khúc của nhạc sĩ ta có thể tìm thấy bước đi thăng trầm của đất nước Ông như một cây đại thụ có rất nhiều cành, nhiều nhánh, mà nhánh nào cũng sum suê Một trong những nhánh tươi nõn ấy, ông dành cho con trẻ, với hơn 200 ca khúc viết cho thiếu nhi Ông còn dịch hàng trăm bài hát của các nước, viết 10 tập sách về thường thức âm nhạc Ca từ trong các sáng tác của ông không cầu kỳ mà thấm sâu vào trong lòng mọi thế hệ

Tình cảm của người viết hòa cùng nhịp đập trái tim của mọi người thì

nó có sự cộng hưởng trở lại đã ăn sâu vào công chúng yêu âm nhạc Ông

khiêm tốn rằng: “đời sống âm nhạc ghi nhận đó là phút thăng hoa của tình

cảm chứ không phải là sự tài hoa”

Mùa xuân năm nay nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước qua tuổi 83 và đã

có 61 năm cống hiến cho sự nghiệp sáng tác, nhạc sĩ Phạm Tuyên, đã được mọi thế hệ người dân Việt nhắc tới như một tượng đài về âm nhạc, những giai điệu của ông vẫn ngày ngày vang lên khắp mọi nẻo đường, mọi miền quê, bởi các ca khúc của ông dành cho nhiều lứa tuổi khác nhau Lắng nghe những ca khúc của ông, điều mà mọi người nhận thấy rõ là cái tâm ông dành cho âm nhạc

Trang 16

Là một cây đa cây đề trong giới âm nhạc, nhạc sĩ Phạm Tuyên còn được giới âm nhạc nể trọng và cảm phục bởi sức làm việc không biết mệt mỏi, sự giản dị, hòa đống trong cách sống và tận tình giúp đỡ các nhạc sĩ trẻ với sự hòa đồng, thân thiện Sáu mươi năm theo cách mạng, hoạt động nghệ thuật vì nhân dân và Tổ quốc, Phạm Tuyên là một trong số các nhạc sĩ Việt Nam có nhiều thành công và được công chúng nhớ nhiều và mến yêu Điều ông mong mỏi lớn nhất giờ đây là thế nào để phát huy được tác dụng tích cực của âm nhạc với đời sống

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đáng được chúng ta – những người họ Phạm – tự hào về ông như một biểu tượng của sự bình dị mà luôn cao quý Bởi chúng ta biết, chỉ khi có một trái tim yêu cuộc đời tha thiết và một bản lĩnh vững vàng, người nghệ sĩ mới có tài chuyển hoá vị đắng thành hoa ngọt, trái lành Mỗi tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Tuyên là quà tặng quí giá mà ông dành tặng cho cuộc đời này Để rồi qua âm nhạc, cuộc đời tặng lại ông ấm áp tình thương mến của biết bao người

1.2.3 Sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Hơn 60 năm gắn bó với Tổ quốc và nhân dân các cộng đồng dân tộc, ông vẫn trẻ trung và hồn nhiên Sự nghiệp âm nhạc của ông khởi đầu từ người lính Tình yêu nước, yêu nhà là mạch văn, là cảm hứng sáng tạo vô biên đối với nhiều văn nghệ sĩ tài hoa, trong đó có nhạc sĩ Phạm Tuyên

Thưở ấu thơ, Phạm Tuyên rất thông minh, học đờn ca tài tử với nhiều nghệ nhân bậc thầy ở Huế, học âm nhạc phương Tây Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Phạm Tuyên gia nhập thiếu sinh quân, anh đã lăn lộn với đồng bào

và chiến sĩ Vệ quốc đàn từ khu 4, khu 3 Việt Bắc, Tây Bắc

Nhạc sĩ Phạm Tuyên như một cây đại thụ có rất nhiều cành, nhiều nhánh mà nhánh nào cũng sum suê, một trong những nhánh tươi nõn ấy ông dành cho con trẻ, với hơn 200 ca khúc viết cho thiều nhi Đã hơn 60 năm qua, bạn bè và đồng chí của nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn không quên chùm sáng tác

đầu tay của ông viết năm 1950 tặng các đồng đội Thiếu sinh quân : Em vào

Trang 17

Thiếu sinh quân, Thiếu sinh quân ỏ một nơi thật vừa … Còn nhiều tác phẩm

nữa hun đúc trái tim trẻ thơ háo hức đi tới làm nên chiến thắng Đối tượng thiếu nhi vẫn là khách mời trân trọng nhất của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông đã viết rất nhiều ca khúc cho thiếu nhi đậm đặc chất trí tuệ nhưng lại dễ nhớ, dễ

thuộc như Tiến lên Đoàn viên, Hành khúc Đội thiếu niên Tiền Phong, Gặp

nhau dưới trời thu Hà Nội, Sơn ca ơi, Hát lên … chan chứa tình yêu con

người, tình yêu bạn bè cùng trang lứa Cho tới bây giờ những ca khúc thiếu nhi ông viết hồi đó vẫn được trẻ em hát trong những ngày Tết thiếu nhi, Rằm trung thu của mình, và có lẽ mãi mãi đến muôn đời sau thì thiếu nhi Việt Nam vẫn còn cất vang lời ca trong những bài hát thiếu nhi vẫn còn sống mãi với

thời gian của ông : Chú voi con ở Bản Đôn, Chiếc đèn ông sao, Tiến lên đoàn

viên, Em làm trực nhật, Bà còng, Con cò bay lả bay la

Nhạc sĩ Phạm Tuyên nói rằng : âm nhạc cho người lớn hay cho thiếu nhi đều bình đẳng và nghệ thuật, chỉ có sự bình đẳng trong nghệ thuật mới giúp cho các tác phẩm sống mãi với thời gian và sống trong lòng công chúng

Năm 1958, nhạc sĩ Phạm tuyên về công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, thời kỳ này, với một tình yêu Tổ quốc thiêng liêng, tình yêu sâu sắc và lòng biết ơn vô hạn đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu chính là nguồn cảm hứng sôi nổi, vô tạn để nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác những ca khúc cách mạng trữ tình, những ca khúc minh chứng cho tình cảm trong sáng của người nghệ sĩ với cuộc sống và con người trong suốt chiều dài sáng tác của mình Đó là các

bài hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ kính yêu Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng,

Đảng đã cho ta mùa xuân, Em được nghe chuyện Bác Hồ, Yêu biết mấy những con đường, Thành phố mười mùa hoa, và đặc biệt là một loạt bài hát ca

ngợi Hồ Chủ Tịch : Em được nghe chuyện Bác Hồ, Từ làng Sen, mà nổi tiếng nhất là bài Như có Bác trong ngày vui đại thắng viết đúng khoảnh khắc Bắc

Nam chuẩn bị giành độc lập

Nhạc của Phạm Tuyên luôn gắn bó với đời sống chiến đấu và lao động sản xuất với hình ảnh anh Vệ quốc đòa, người công nhân lâm nghiệp, cô nông

Trang 18

dân, anh bộ đội giải phóng … Những bài hát Bài ca người thợ rừng, Những

người con gái đồng chiêm, Hành khúc người thợ mỏ, Chiếc gậy Trường Sơn

… là những bức phù điêu về hậu phương lớn ngàn nghĩa vạn tình

Phạm Tuyên còn dành cả tâm huyết cho miền Nam ruột thịt mỗi khi có những sự kiện chính trị sôi động từ Sài Gòn và ông viết ngay những ca khúc

tác chiến kịp thời đó là Những tháng năm không thể nào quên, Văn nghệ sĩ

Sài Gòn không ngủ, Hát cho đồng bào tôi nghe

Từ Hà Nội, nhạc sĩ Phạm Tuyên hưởng ứng kịp thời bằng những ca

khúc do anh viết trên làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam như: Cánh ém tuổi thơ,

Tiếng chuông và ngọn cờ Chất chính luận, tính ngẫu hứng sáng tạo và hình

tượng âm nhạc phong phú đa dạng … Ông là người khởi xướng phong trào Khắp nơi ca hát (1960), Tiếng hát hoa phượng đỏ ( 1977 )

Năm 1978, Phạm Tuyên là cán bộ phụ trách ban Văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam, Trưởng ban sáng tác âm nhạc cho trẻ em … đi tới đâu, dù là ở

cơ quan nhà nước hay đoàn thể, về bất cứ địa phương nào, đơn vị chiến đấu nào Phạm Tuyên cũng để lại những tác phẩm khó quên

Ngoài viết ca khúc, Phạm Tuyên rất quan tâm tới công tác lý luận sáng tác Ông rất yêu mến thiếu nhi và viết rất nhiều cuốn sách vỡ lòng cho trẻ em :

Nhạc lý cơ bản ( 1956 ), Kinh nghiệm sáng tác ca khúc ( 1968 ), Âm nhạc và trẻ em ( 2000 )

Với những ca khúc của mình, người nhạc sĩ gốc Hải Dương này đã kể lại bao câu chuyên về lịch sử : Khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, ông viết về không khí sản xuất, chiến đấu trên các miền đất Quảng Ninh,

Quảng Bình, Hà Tây với Bài ca người thợ mỏ, Bám biển quê hương, Tiếng

hát những đêm không ngủ, Chiếc gậy Trường Sơn Tiếng hát những đêm không ngủ là nhạc khúc ông viết hướng về chiến tranh của thanh niên, sinh

viên đô thị miền Nam Chia sẻ với phong trào âm nhạc chống chiến tranh ở

Mỹ ông viết Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ Ngày 30/4/1975 lịch sử sẽ thiếu

đi sự sinh động nếu không có bài hát Như có Bác trong ngày vui đại thắng

Trang 19

của Phạm Tuyên Sau ngày thống nhất đất nước ông viết những bản nhạc xây

dựng quê hương thanh bình như Gửi nắng cho em ( thơ Bùi Văn Dung ), Con

kênh ta đào ( thơ Bùi Văn Dung )

Phạm tuyên còn là người có công giới thiệu các tác phẩm âm nhạc của

Thế giới đến với người Việt Nam và ông đã dịch lời rất thành công Mặt trời

của tôi, Trở về Suriento, I – ta – li – a , Hái chè bắt bướm ( dân ca Trung

Quốc ), Ka chiu sa – bài hát nổi tiếng của nước Nga trong cuộc đấu tranh

bắt đầu viết ra những giai điệu của chính mình với “ Trận Tây Kết ”, “ Sóng

sông Hương ” nhưng phải đến khi trở thành anh bộ đội cụ Hồ, Phạm Tuyên

mới thực sự phát lộ năng khiếu nhạc sĩ Sau chiến dịch biên giới, từ năm

1951, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã rời quân ngũ trở thành giáo viên văn hóa, nhiều

ca khúc nổi tiếng của Phạm Tuyên ra đời trong thời kỳ này, sau đó ông về công tác tại ban văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam, những ca khúc chan chứa

tình cảm sáng trong của người nghệ sĩ với cuộc sống “Đảng đã cho tôi sáng

mắt sáng lòng”, “Đảng đã cho ta một mùa xuân”… những ca khúc nổi tiếng,

đa dạng về đề tài và giàu truyền cảm luôn song hành cùng nhân dân và đất nước, bước chân của nhạc sĩ đã in dấu khắp mọi miền đất nước cả trong

những thời khắc nóng bỏng, chiến trận và không nhắc đến bài “Như có Bác

trong ngày vui đại thắng” được nhạc sĩ viết từ đêm 28 tháng 4 năm 1975, linh

cảm nhạy bén và cảm xúc chân thành của một nghệ sĩ công dân đã giúp Phạm Tuyên có những khoảnh khắc xuất thần lưu truyền mãi mãi

Trang 20

Từ năm 1958 – 1978, ông công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam Năm

1979 về Bộ văn hóa thông tin Phạm Tuyên viết từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng phải đến những năm 60 những ca khúc của ông mới có chỗ đứng

trong lòng công chúng Hợp xướng Miền nam anh dũng và bất khuất ( 1960 )

; ca khúc Bài ca người thợ rừng ( 1963 ), Bám biển quê hương ( 1964 ), Chiếc gậy Trường Sơn (1967), Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ ( 1969 ), Từ một ngã

tư đường phố ( 1971 ), Như có Bác trong ngày vui Đại thắng ( 1975 )……

Sau năm 1975 : Ngày thống nhất Bác đi thăm ( 1976 ), Gửi nắng cho em

(1976), Con kênh ta đào ( 1977 ), Khúc hát ru người mẹ trẻ ( 1980)….Những

ca khúc viết cho trẻ thơ : Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hát dưới trời

thu Hà Nội, Chú voi con ở Bản Đôn, Cánh én tuổi thơ…

Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được tặng giải thưởng Nhà nước về văn

học nghệ thuật cho các tác phẩm : Bám biển quê hương, Đảng cho ta mùa

xuân, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày vui đại thắng

Năm 2011, nhạc sĩ Phạm Tuyên được vinh danh là một trong 10 công dân

ưu tú của Thủ đô Hà Nội

Năm 2012, ông được nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí

Minh đợt IV về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm : Những ngôi sao đêm,

Từ làng sen, Đêm trên Chalo, Tiến lên đoàn viên, Đảng cho tôi sáng mắt sáng lòng

Trang 21

CHƯƠNG II NHỮNG CA KHÚC CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU CỦA NHẠC SĨ

PHẠM TUYÊN

2.1 Nhạc cách mạng

Nhạc cách mạng thường được gọi là Nhạc đỏ, là một dòng nhạc của Tân nhạc Việt Nam gồm những bài hát sáng tác trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương, ở miền Bắc Việt Nam và trong vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và sau năm 1975 khi Việt Nam thống nhất Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ, phục vụ kháng chiến, truyền đạt những chính sách của Nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, lý tưởng Xã hội chủ nghĩa, và những bài hát trữ tình cách mạng, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước hoặc

Nhạc đỏ được chia làm 3 giai đoạn :

+ Giai đoạn 1945 – 1954 : Nhóm tổng hội sinh viên với Lưu Hữu Phước than gia kháng chiến và nhiều nhạc sĩ lãng mạn như Phạm Duy, Phan Huỳnh Điểu, Hoàng Việt … đi theo kháng chiến sáng tác những ca khúc mới

có giai điệu hung mạnh

+ Giai đoạn 1954 – 1975 : Trong giai đoạn này Nhạc đỏ cùng với Nhạc dân ca, truyền thống là những thể loại nhạc duy nhất được phát trên Đài phát thanh Việt Nam ở miền Bắc Những bài dân ca được cải biến hoặc viết thêm lời để truyền đạt các chính sách của Nhà nước, nhiều bài nhạc đỏ trong thời lỳ này còn tính đấu tranh rất cao, ca từ mạnh mẽ

Trang 22

+ Giai đoạn sau năm 1975 : Sau năm 1975 một số nhạc sĩ trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe như Phạm Tuyên, Tôn Thất Lập cũng sáng tác một số bài có nội dung cổ vũ lao động, xây dựng, và cũng được xem

là nhạc đỏ Đến thời kỳ đổi mới những dòng nhạc khác được phép lưu hành song song nhưng nhạc đỏ vẫn được ưu tiên nâng đỡ và lưu truyền tại các đoàn thể, thanh niên, sinh viên, học sinh và tại các nhà hát, tụ điểm ca nhạc thuộc các đoàn thể trên hoặc của Nhà nước Những bài nhạc đỏ được phổ biến trong thời kỳ này ôn hòa hơn, không thể hiện tính chiến đấu và diệt địch nữa mà thay vào đó là ca ngợi tinh thần lao động, xây dựng đất nước

+ Thể hiện tính đấu tranh giai cấp theo lý tưởng cộng sản

+ Ca ngợi quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, liên kết trong tình yêu quê hương đất nước và nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng đất nước,, lý tưởng cộng sản

+ Ca ngợi tuổi trẻ, xây dựng quê hương đất nước trong thời chiến và trong thời kỳ đổi mới sau này

+ Ca ngợi tinh thần hòa đồng, nếp sống hướng về cộng đồng lành mạnh, lạc quant hay cho cái “ TÔI “ mang tính ích kỷ cá nhân

+ Cổ vũ và truyền đạt những chính sách của Nhà nước

Tuy nhiên các chủ đề này không bao giờ tách bạch mà thường liên quan, gắn

bó với nhau

Một số đặc điểm giúp phân biệt Nhạc đỏ với những dòng nhạc khác : + Nhạc đỏ thường liên kết tình yêu lứa đôi, gia đình trong tình yêu đất nước, yêu lý tưởng cộng sản và nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ đất nước

Trang 23

+ Thể hiện tính đấu tranh giai cấp và phân biệt địch - ta và thể hiện tinh thần ta thắng địch thua rất rõ rang

+ Luôn luôn thể hiện tinh thần lạc quan ngay trong cả chiến tranh Không có tinh thần chủ bại hoặc yếu thế Không có những bài phản đối chiến tranh như Nhạc phản chiến hoặc thương đau, thất bại, chết choc như những bài hát của phong trào Du ca Việt Nam sáng tác hoặc Nhạc vàng, ít nói về tổn thất chiến tranh

+ Tại miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và trong cả nước

kể từ sau năm 1975, Nhạc đỏ cũng như các dòng nhạc khác chịu sự kiểm duyệt của cán bộ lãnh đạo do Đảng và Nhà nước chỉ định Tuy nhiên, đa số các ca khúc đều được sáng tác từ cảm xúc cá nhân của tác giả Ngược lại, Nhạc đỏ lại bị cấm bới chính quyền thực dân Pháp và quốc gia Việt Nam trong thời kỳ trước năm 1954, và ở miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ 1954 – 1975

+ Những bài Tân nhạc Việt Nam được lưu hành ở miền Bắc 1954

-1975 hầu hết là thể loại Nhạc đỏ

Trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, Nhạc đỏ phản ánh đúng tâm tư của đại đa số người dân miền Bắc và hàng triệu người ở miền Nam, cùng với chất lượng giai điệu cao của nhiều ca khúc nên được ưa chuộng rộng rãi Từ năm 1975, với chiến thắng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và việc hai miền Nam – Bắc thống nhất, Nhạc đỏ càng được phổ biến rộng rãi hơn trên phạm vi cả nước Sau thời kỳ đổi mới, dù bị cạnh tranh bởi nhiều dòng nhạc khác như Nhạc tiền chiến, Nhạc vàng, Nhạc hải ngoại, Nhạc nước ngoài, Nhạc trẻ … Nhạc đỏ vẫn là một trong những dòng ca khúc được

ưa thích nhất

Trang 24

2.2 Những ca khúc cách mạng tiêu biểu của nhạc sĩ Phạm Tuyên

2.2.1 Những ca khúc ca ngợi Đảng và Bác Hồ

2.2.1.1 Ca khúc Đảng cho ta một mùa xuân

Hoàn cảnh sáng tác

Nhắc đến mùa xuân, nhắc đến Đảng chúng ta lại nghĩ ngay đến những giai

điệu tươi vui của ca khúc Đảng cho ta một mùa xuân

Năm 1960, nhân dịp Đảng cộng sản Việt Nam tròn 30 tuổi, nhạc sĩ Phạm Tuyên ấp ủ dự định viết một ca khúc ca ngợi Đảng nhưng phải mang tính phổ cập rộng rãi Thế nhưng dự định đó vẫn mãi ấp ủ vì chưa tìm được ra câu tứ thật hay Cho đến khi ông đọc được một bài viết của nhà văn, đồng thời là chiến sĩ cộng sản Pháp - Paul Vaillant Couturier, trong đó ông tâm đắc câu

Chủ nghĩa cộng sản là tuổi thanh xuân của Thế giới và chính cái tứ đó đã gợi

cho ông viết nên ca khúc Đảng cho ta một mùa xuân

Ca khúc Đảng cho ta một mùa xuân được ra đời khi miền Bắc được sống trong hòa bình hơn 5 năm, khắp nơi phơi phới một không khí lạc quan, phấn khởi nên tương ứng với những lời ca giàu tính khái quát Những giai điệu đẹp, mềm mại, thắm thiết được tác giả khống chế âm vực trong một quãng hẹp để

dễ dàng đến được với số đông công chúng Đây cũng là lý do để bài hát trở thành một trong những ca khúc thường hay được tốp ca nam nữ trình diễn trên các sân khấu ca nhạc trong các sự kiện trọng đại của đất nước

Khi viết xong ca khúc được phát liên tục trên Đài tiếng nói Việt Nam, nhạc

sĩ Phạm Tuyên cũng phải ngạc nhiên vì bài hát được lan truyền quá nhanh Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã nới với nhạc sĩ Phạm Tuyên rằng : “ Sao anh viết

đề tài chính luận mà lại tươi sáng vậy, chúng tôi có thể nắm tay nhau đung đưa mà hát chứ không phải đứng nghiên trang, cứng nhắc “

Sự hồn nhiên đã cho nhạc sĩ những tình cảm quý giá với Đảng, với Tổ quốc

và nhân dân để từ đó ông sáng tác ra những ca khúc còn mãi với thời gian như

Đảng cho ta một mùa xuân

Trang 26

Ý nghĩa của ca khúc

Ca khúc được nhạc sĩ sáng tác khi tuổi đời đang ở độ thanh xuân, và có lẽ cũng vì vậy mà tinh thần của bài hát thật sự phơi phới, trẻ trung, trong trẻo, đôn hậu và dễ nhận được sự đồng cảm của công chúng

Trang 27

Ca từ trong ca khúc giản dị mà tinh tế Đảng đã cho ta một mùa xuân

đầy ước vọng, một màu xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi … Ca khúc

được viết ở giọng Rê trưởng, nhịp 3/8, nhịp độ vừa phải

Ca khúc gồm 2 lời, mỗi lời được chia thành 2 đoạn nhạc

+ Đoạn 1 là đoạn chủ đề của tác phẩm gồm có 2 câu nhạc

Câu 1:

Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng, một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi

Câu 1 gồm có 8 ô nhịp, mỗi ô nhịp có 3 nốt đơn, ở ô nhịp thứ 4 và thứ

8 tác giả sử dụng trường độ ngân dài bằng một nốt đen chấm dôi, âm hình chủ đạo của câu 1 là 3 nốt đơn, đơn chấm dôi kép đơn Câu 1 gồm 2 tiết nhạc, tiết

nhạc thứ 1 ( Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng )và tiết nhạc thứ 2 (

Một mùa xuân tươi tràn ánh sáng khắp nơi nơi ) Câu 1 mang tính chất là câu

chủ đề

Câu 2 : Đảng đã mang về tuổi xuân cho nước non, vang tiếng hát ca

chứa chan niềm yêu đời

Câu 2 gồm 8 ô nhịp, mỗi ô nhịp tương ứng với 3 nốt đơn, âm hình chủ đạo của mỗi ô nhịp là đơn chấm dôi kép đơn, tác giả sử dụng trường độ ngân dài là nốt đen và nốt đen chấm dôi Câu 2 gồm 2 tiết nhạc, tiết nhạc thứ 1 (

Đảng đã mang về tuổi xuân cho nước non ) và tiết nhạc thứ 2 ( Vang tiếng hát

ca chứa chan niềm yêu đời ) Câu 2 là câu nhắc lại câu chủ đề và phát triển

thêm cho câu chủ đề

Ở đoạn nhạc đầu mở bài cho ca khúc tác giả đã nói lên sứ mệnh của Đảng, mang lại cho đất nước sự ấm no hạnh phúc, mùa xuân là mùa của sự sinh sôi nảy nở, có Đảng như có một mùa xuân của cuộc đời, soi rọi ánh sáng

tự do tới khắp mọi người, mọi nhà Đất nước qua những năm tháng bị đô hộ, nhân dân sống trong cảnh lầm than, cơ cực Dân tộc Việt Nam mong chờ vào một tổ chức lãnh đạo để đưa nhân dân thoát khỏi kiếp sống đâu khổ và Đảng

đã ra đời, đưa dân tộc tới ánh sáng bình minh của tự do, độc lập như mang mùa xuân đến cho đất nước đã bao đời sống trong cảnh tối tăm

Trang 28

Với giai điệu vui vẻ, lạc quan đoạn nhạc mở đầu đã cho ta thấy niềm hân hoan của những con người đã chịu bao đắng cay trong cảnh đọa đày khi đất nước được hòa bình, nhân dân được nhận lại quyền con người, đất nước như được thay áo mới đẹp và tươi sáng hơn, khắp nơi tràn ngập niềm vui, tiếng cười của chiến thắng, hạnh phúc của hòa bình, con người thêm yêu thương đất nước, quê hương của mình, yêu cuộc sống tự do mà Đảng đã đem lại, yêu mến nhau để càng thêm gắn bó với nhau hơn, nâng cao tình đoàn kết dân tộc mình

Đoạn nhạc đầu tác giả sử dụng cách đảo phách trong mỗi câu nhạc để tạo nên sự vui tươi, trẻ trung cho toàn bộ tác phẩm, âm hình chủ đạo ở đoạn 1

là 3 nốt đơn, nhưng xen vào đó có những nốt đảo phách đơn chấm dôi và nốt kép khiến cho câu hát được nảy lên tươi vui Nhịp 3/8 là loại nhịp có tiết tấu vừa gồm 3 phách trong một ô nhịp, mỗi phách tương ứng với một nốt đơn, mang âm hưởng của điệu Vans khiến cho ca khúc có giai điệu nhẹ nhàng, tình cảm Những nốt ngân dài cũng được tác giả sử dụng ở cuối mỗi câu hát, những dấu luyến láy được lặp lại trong từng câu hát khiến cho đoạn đầu mang

âm sắc trong sáng

+ Đoạn 2 là đoan tương phản và phát triển bao gồm 3 câu nhạc

Câu 1 : Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân, cuộc đời tăm tối chốn

lao tù bao hờn căm

Câu 1 gồm có 8 ô nhịp, âm hình chủ đạo là 3 nốt đơn trong 1 ô nhịp, tác giả sử dụng đảo phách ( đơn chấm dôi kép ) và trường độ ngân dài ( đen chấm

dôi ) Câu 1 gồm có 2 tiết nhạc, tiết nhạc thứ 1 ( Bao năm khổ đau đất nước ta

không mùa xuân ) và tiết nhạc thứ 2( Cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm ) Câu 1 mang tính chất tương phản với đoạn chủ đề

Câu 2 :

Vầng dương hé sáng đi khắp nơi ta có Đảng, bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang

Trang 29

Câu 2 gồm có 8 ô nhịp, ở câu nhạc này tác giả ít sử dụng đảo phách làm cho câu nhạc thêm phần thiết tha, tiết tấu vừa Câu nhạc gồm có 2 tiết nhạc,

tiết nhạc thứ 1 ( Vầng dương hé sáng đi khắp nơi ta có Đảng ) và tiết nhạc thứ 2 ( Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang ) Câu 2 mang tính chất tương

đen chấm dôi đen Câu nhạc gồm có 2 tiết nhạc, tiết nhạc thứ 1 ( Và rồi từ đây

ánh dương soi đời mới ) và tiết nhạc thứ 2 ( Tiến theo cờ Đảng là thấy tương lai sáng tươi ) Câu nhạc mang tính chất phát triển câu chủ đề

Đoạn nhạc thứ 2 tác giả nói lên hoàn cảnh của đất nước dưới ách đô hộ của quân xâm lược, quê hương chìm trong tăm tối nô lệ, dân lành bị bọn cướp nước đô hộ, áp bức bóc lột đến cùng cựa, nhân dân cực khổ, đau thương, khắp nơi trên đất nước chỉ thấy cảnh đọa đày, cả dân tộc sống trong bóng tối của súng đạn, đất nước không có 1 ngày được bình yên, quân xâm lược đã cướp

đi mùa xuân của đất nước, để thay vào đó là những tháng ngày tăm tối triền miên, nhân dân nung nấu mối căm hờn ngất trời, nỗi căm hờn đó đối với quân xâm lăng đã đẩy lên tới cao trào và mùa xuân năm 1930 Đảng ra đời như ngọn đuốc sáng ngời soi đường cho tầng lớp cần lao nhất tề xông lên giành lại quyền sống, quyền độc lạp, tự do Đảng đã mang một ánh sáng mới cho dân tộc, ánh bình minh của sự tự do, hòa bình Đảng đã đưa nhân dân đến với một buổi sớm của mùa xuân, xua tan đi những bóng tối đang vây trùm lên đất nước, thay vào đó là những tiếng chim, tiếng hát líu lo của một đất nước đang tưng bừng, đẹp đẽ trong hòa bình, độc lập Và từ đó đất nước mở sang một trang sử mới, trang sử của những con người sống trong độc lập, hạnh phúc Cuộc đời của những con người cùng khổ đã tươi đẹp trở lại, mùa xuân của

Trang 30

cuộc đời họ đã được Đảng mang tới, nhân dân một lòng theo Đảng để tương lai được tươi sáng hơn

Trong đoạn này tác giả viết giai điệu thiết tha để nói lên nỗi lòng của toàn dân với Đảng, một lòng trung thành với lý tưởng của Đảng, vị lãnh đạo

đã mở đường dẫn lối đưa dân tộc thoát khỏi ách đô hộ của quân thù

Lời 2 của ca khúc có kết cấu giống như lời 1 nhưng mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, Đảng ra đời mang mùa xuân đến cuộc đời của những con người đang hừng hực mối căm hờn, đưa những con người đó tới một tương lai tươi sáng hơn, truyền cho họ một niềm tin, một niềm hi vọng và tinh thần quyết tâm đấu tranh để đến với một cuộc sống yêm bình, không còn khổ cực, đau thương Muốn làm được điều đó, Đảng đã gắn kết tình yêu thương dân tộc, chung sức, chung lòng, yêu thương đùm bọc, đoàn kết lại với nhau, cùng nhau đứng lên đánh đuổi quân thù để mang lại những tiếng cười thay cho những giọt nước mắt, những tiếng khóc bi ai Chiến tranh đã ngự trị trên đất nước này quá lâu, nó làm cho con người nơi đây sống trong cảnh lầm than, làm cho đất nước bị bao trùm bởi tiếng súng đạn, tiếng khóc thương, tiếng căm hờn oán trách, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể dân tộc quyết cùng lên chống lại chiến tranh, đẩy lùi màn đêm mà chiến tranh đã gieo giắt những khổ đau cho đất nước mến yêu để đất nước khoác lên mình bộ áo mới, bộ áo của mùa xuân tươi đẹp Với một niềm tin vào Đảng cộng sản, toàn thể nhân dân Việt Nam đã một lòng trung thành với Đảng dù có bị đàn áp, bị bắt, bị giết, bị

đe dọa nhưng tinh thần ngoan cường của những con người không bao giờ khuất đã quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ lý tưởng cao đẹp của mình Và dưới

sự lãnh đạo tài tình của Đảng, lòng trung thành tuyệt đối của những con người dũng cảm đã đưa nước ta đến với độc lập, đưa dân ta đến với cuộc sống yên bình, hạnh phúc, chiến tranh đã bị đẩy lùi, cuộc sống mới được mở ra, mùa xuân của dân tộc đã tới, khắp nơi tràn ngập ánh sáng của hòa bình, niềm hân hoan bao trùm lên cả dân tộc cần lao, lý tưởng của Đảng luôn mãi được giữ trong tim của những con người yêu đất nước, dân tộc để từ đó làm sáng lên tinh thần bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương

Trang 31

Một sự ngẫu nhiên mà cũng hết sức thú vị là ngày Đảng ta thành lập đúng vào dịp mùa xuân đang đến Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm mới với thời tiết ấm áp, mưa nắng chan hòa, muôn cây đâm chồi nảy lộc và trăm hoa đua sắc khoe hương Bởi vậy, sự ra đời của Đảng ta trong dịp xuân mới là một tín hiệu tốt lành cho tiền đồ của đất nước và tương lai của dân tộc Việt Nam Với những câu từ vui nhộn, rộn rã và giàu hình tượng trong ca

khúc Đảng cho ta một mùa xuân nhạc sĩ Phạm Tuyên đã ca ngợi những công

lao, cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân ta

Có thể khắc họa diện mạo Đảng ở tầm khái quát hay chỉ là vài nét khám phá ở những khía cạnh cụ thể, nhưng viết về Đảng, nhạc sĩ Phạm Tuyên bao giờ cũng xuất phát từ một tấm lòng thành kính, niềm tin sâu sắc và tình yêu bao la của mình dành cho Đảng Những ca khúc viết về Đảng là một món quà rất ý nghĩa thể hiện sự trân trọng, biết ơn của nhạc sĩ đối với Đảng cộng

sản Việt Nam Và qua bài hát Đảng cho ta một mùa xuân chúng ta càng thêm tin yêu vào sự lãnh đạo của Đảng, suốt đời tâm nguyện Vượt mọi gian khó

tiến lên đi theo Đảng / băng giá tan dần ánh dương càng huy hoàng / bạn ơi mùa xuân khắp nơi tươi đẹp quá / khi lý tưởng Đảng rực sáng trong tim chúng ta

2.2.1.2 Ca khúc Màu cờ tôi yêu

Hoàn cảnh sáng tác

Bài hát Màu cờ tôi yêu ra đời vào cuối năm 1979 khi đất nước ta vừa

giành toàn thắng, thống nhất đất nước, với một tâm tư chung của cả nước khi bước ra khỏi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 30 năm trường thì ai cũng

có một ước ao cháy bỏng là làm sao đất nước được bình yên tiến lên ngang hàng với các nước trên thế giới

Nhạc sĩ Phạm Tuyên những ngày năm ấy được vào thành phố Hồ Chí Minh công tác, để chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng vào mùa xuân năm 1980 ( 3/2/1980 ), nhạc sĩ Phạm Tuyên bàn với nhạc sĩ và nhà thơ Diệp Minh Tuyền lúc đó là Phó tổng thư ký Hội âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh là chính lúc này mới cần đến chúng ta

Trang 32

Sau mấy đêm trằn trọc nhà thơ Diệp Minh Tuyền đã gửi cho nhạc sĩ Phạm Tuyên một bài thơ nhỏ gồm 2 khổ thơ lục bát, mỗi khổ có 8 câu , thể hiện những gì mà hai người đã trao đổi với nhau Trên máy bay trở về Hà Nội khi đọc bài thơ tự nhiên vang lên trong tâm hồn nhạc sĩ những âm hưởng thật tha thiết và trong sáng Và từ đây, ca khúc Màu cờ tôi yêu được ra đời và được lan tỏa nhanh chóng trên các phương tiện thông tin và trong đời sống của người dân Việt Nam ngày ấy và bây giờ

Trang 34

Ý nghĩa của ca khúc

Bài hát Màu cờ tôi yêu là một trong những bài hát về Đảng được Đài

tiếng nới Việt Nam và các báo đánh giá cao qua những lần bình tuyển Với giai điệu nhẹ nhàng, lời ca giản dị đã khiến bài hát lắm đọng lại trong tâm trí mỗi người nghe

Trang 35

Bài hát được viết ở giọng Son trưởng, toàn bài hát gồm có 45 ô nhịp, với nhịp 3/8, mỗi ô nhịp tương ứng với 3 nốt đơn, phách mạnh được đánh vào nốt đầu ô nhịp, 2 phách sau là phách nhẹ, tính chất âm nhạc nhẹ nhàng, tình cảm Bài hát gồm 2 đoạn nhạc :

Đoạn 1 : Hồng như màu của bình minh

Đỏ như màu máu của mình tim ơi

Búa liềm vàng rực giữa trời

Là niềm hi vọng chói ngời tim ta

Trong đêm tối lúc mưa sa

Màu cờ đỏ vẫn sáng lòa hồn tôi

Thênh thang trên bước đường đời

Ôi màu cờ ấy là màu giục tôi

Đoạn 1 là đoạn chủ đề của tác phẩm được chia làm 2 câu nhạc:

+ Câu 1 : Hồng như màu của bình minh / Đỏ như màu máu của mình tim

ơi / Búa liềm vàng rực giữa trời / Là niềm hi vọng chói ngời tim ta

Trong câu 1 được chia làm 2 tiết nhạc : Tiết nhạc thứ nhất ( Hồng như

màu của bình minh / Đỏ như màu máu của mình tim ơi ) gồm có 9 ô nhịp, mỗi

ô nhịp tương ứng với 3 nốt đơn, âm hình chủ đạo trong tiết nhạc này là đen chấm dôi, 3 nốt đơn, nốt đen nốt đơn, phách mạnh rơi vào nốt đầu tiên của ô nhịp, 2 nốt sau là phách nhẹ, tác giả dử dụng nốt ngân dài là nốt đen chấm

dôi, cường độ âm nhạc trong tiết nhạc này là mạnh vừa Và tiết nhạc thứ 2 (

Búa liềm vàng rực giữa trời / là niềm hi vọng chói ngời tim ta ) gồm có 9 ô

nhịp mang tiết tấu và trường độ giống nhi ở tiết nhạc thứ 1 nhưng ở đây tác giả sử dụng nhiều dấu luyến láy để tô điểm cho câu hát

+ Câu 2 : Trong đêm tối lúc mưa sa / màu cờ vẫn đỏ sáng lòa hồn tôi / Thênh

thang trên bước đường đời / Ôi màu cờ ấy là màu giục tôi

Câu 2 gồm 2 tiết nhạc : Tiết nhạc 1 ( Trong đêm tối lúc mưa sa / màu cớ vẫn

đỏ sáng lòa hồn tôi ) gồm có 9 ô nhịp, mỗi ô hịp tương ứng với 3 nốt đơn, âm

hình chủ đạo là đen đơn, nốt ngân dài là đen chấm dôi Và tiết nhạc thứ 2 (

Trang 36

Thênh thang trên bước đường đơi / Ôi màu cờ ấy là màu giục tôi ) gồm có 9 ô

nhịp, có cấu trúc nhắc lại tiết nhạc 1

Đoạn 1 của ca khúc nói lên hình tượng búa liềm – hình tượng của Đảng, lá

cờ búa liềm là biểu tượng của lý tưởng, của mục đích hành động Đó là hình ảnh thiêng liêng đối với bất cứ ai khi nghĩ về Đảng Ở đoạn này những khái niệm, những lời ca ngợi Đảng được khắc họa bằng hình tượng lá cờ, màu hồng được ví như màu của bình minh soi sáng đường cho nhân dân ta trong chiến đấu bằng dòng máu đỏ đang hừng hực chảy trong trái tim của mỗi con người Việt Nam, hình ảnh búa liềm được khắc họa trên lá cờ là hình ảnh đại diện cho tầng lớp nông dân, những con người bị đọa đày, áp bức của chiến tranh Những con người sống trong đau khổ, mất mát nay được lý tưởng của Đảng dẫn lối giành lại quyền tự chủ, quyền độc lập, Đảng đã truyền cho họ niềm tin vào một tương lại tươi sáng, dẫn bước cho dân tộc thoát khỏi những năm tháng đau thương, cùng cực, trong hoàn cảnh khó khăn hay nguy hiểm thì lá cờ của Đảng vẫn luôn trong tim, đưa lối cho những người con yêu quê hương, đất nước, thúc giục họ đi lên không lùi bước trước kẻ thù để được bước trên con đường thênh thang của tự do, hòa bình

Một đất nước Việt Nam thống nhất, một Việt Nam anh hùng thỏa lòng mong ước của cha ông ta, của các thế hệ cộng đồng dân tộc Việt Nam, một Việt Nam kiêu hãnh nhưng cũng đã phải hy sinh và đã có biết bao đau thương, mất mát Ai cũng có một niềm mơ ước Việt Nam tiến lên trong kỷ nguyên mới thắng đói nghèo Nhưng mọi người lại phải đối mặt với những thế lực phản động ở trong nước và ngoài nước không muốn dân ta yên ổn làm

ăn, muốn phá hoại những thành quả cách mạng cao quý mà nhân dân ta vừa đạt giành được Đất nước lại phải đối mặt với nhiều loại kẻ thù từ biên cương đến nội địa và các hình thức phá hoại mới, do đó nhân dân ta lại phải gồng mình, phải hi sinh để giữu vững nền độc lập tự chủ của dân tộc, đứng trước những khó khăn, thách thức mới, Đảng vẫn kiên trì lãnh đạo nhân dân vượt qua gian khổ xây dựng nước nhà

Trang 37

Đoạn 2 : Cờ bay màu của niềm tin

Đỏ như lời hứa của mình em ơi

Suốt đời lòng dặn giữ lời

Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau

Trong vui sướng giữa thương đau

Màu cờ đỏ vẫn thắm màu lòng tôi

Ru em trong ánh mặt trời

Ôi màu cờ ấy là màu tình yêu

Đoạn 2 là đoạn nhạc nhắc lại và phát triển của đoạn 1, với cấu trúc

âm nhạc giống với đoạn 1 nhưng lời ca mang tình hình tượng mới, lời ca trong sáng viết về lá cờ của Đảng nhưng ẩn sâu trong đó là lòng biết ơn, ca ngợi Đảng quang vinh đã đưa dân tộc đến với những năm tháng yên bình, hạnh phúc

Lá cờ bay phấp phới trong vùng trời nước nhà thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tự do, vào chủ quyền dân tộc Màu đỏ được ví như lời hứa của

cả một dân tộc, quyết tâm đoàn kết vượt mọi khó khăn trong tình hình đất nước đang khắc phục những hậu quả chiến tranh và những loại giặc mới, dù con đường phía trước còn nhiều chông gai nhưng với một niềm tin, sự cố gắng vượt khó khăn của cả một dân tộc sẽ đưa đất nước ta đi lên cùng với năm châu, trong mọi hoàn cảnh lịch sử của đất nước, dù là những lúc đau thương hay những ngày vui sướng thì Đảng vẫn luôn sát cánh cùng với nhân dân, chỉ đường dẫn lối để nhân dân vượt qua gian khó, để quê hương bớt đi cái khổ, đất nước không còn tăm tối, để những em bé lại được ngủ yên trong những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ dưới ánh sáng độc lập Màu đỏ của lá

cờ, màu vang của búa liềm chính là biểu tượng của một Việt Nam anh hùng, biểu tượng của tình yêu trong lòng mỗi người con đất Việt

Tương ứng với một lời ca giàu sức khái quát, ít nhiều mang tính lý trí là một giai điệu đẹp, mềm mại, thắm thiết được tác giả khống chế âm vực trong một quãng hẹp để dễ dàng đến được với số đông công chúng Đây cũng là

Trang 38

một đặc điểm nổi rõ của ca khúc Phạm Tuyên Bao giờ ông cũng đặc biệt lưu

ý đến yếu tố dễ hát, dễ thuộc, dễ vào quần chúng của mỗi bài hát Màu cờ tôi

yêu là lời nhắn nhủ ân tình của tự thân mỗi người khi gặp cơn hoạn nạn cũng

như phút may mắn ; lời gửi đến nhau của những người bạn tri ân trong cuộc

sống, đó chính là điểm tạo nên sự sâu sắc của bài hát này Trong đêm tối, lúc

mưa sa, màu cờ vẫn đỏ sáng lòa hồn tôi / Thênh thang trên bước đường đời,

ôi màu cờ ấy là màu giục tôi Qua bài hát này, chúng ta thấy một năng lực đặc

biệt của nhạc sĩ Phạm Tuyên khi ông phổ thơ lục bát Thể thơ này vốn dĩ rất khó phổ nhạc, nhất là vẫn tuân thủ tính hàm súc, chặt chẽ, khúc chiết của kết

cấu ca khúc, trong khi không cần thêm bất cứ một hư từ nào ( ví như Tình

bằng / ới a ) hoặc nhắc lại ( điệp từ ) Nhưng Màu cờ tôi yêu vẫn rất hoàn

chỉnh về khúc thức âm nhạc và phong phú về cấu trúc âm điệu Đó quả là một

sự cao tay

Ai cũng yêu Tổ quốc mình, những khi đất nước gặp nguy biến, lòng yêu nước củ a nhân dân Việt Nam ta sẽ càng được thổi bùng lên mạnh mẽ

Màu cờ tôi yêu là màu của trái tim, màu của niềm tin và hi vọng, là lời tự dặn

lòng mình của những người con yêu nước, mỗi khi đất nước lâm nguy, chúng

ta – những người con của quê hương Việt Nam yêu dấu hãy cùng nắm tay nhau, tạo nên một khối đoàn kết vững chắc Đoàn kết là sức mạnh giúp chúng

ta vượt qua chông gai và giành chiến thắng

Bước vào thế kỷ 21, trong buổi bình minh của đất nước, xây dựng nước Việt Nam hòa bình – thống nhất – giàu mạnh vẫn là niềm mơ ước của nhân dân ta gửi lòng tin vào Đảng, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay trong hoàn cảnh mới hội nhập có nhiều thuận lợi, thời cơ và thách thức thì câu

hát trong bài Màu cờ tôi yêu lại vang lên

Suốt đời lòng dặn giữ lời

Đường dài muôn dặm chớ rời tay nhau !

Trang 39

2.2.1.3 Ca khúc Như có Bác trong ngày vui đại thắng

Hoàn cảnh sáng tác

Đầu tháng 4 năm 1975, Phạm Tuyên được Trần Lâm – Tổng giám đốc của Đài tiếng nói Việt Nam giao nhiệm vụ sáng tác một tác phẩm lớn để mừng ngày chiến thắng sắp đến Ông đã chuẩn bị và phác thảo một bản hợp xướng

gồm 4 chương : Miền Bắc lũy thép, Miền Nam thành đồng, Tiến công và nổi

dậy, Toàn thắng Nhưng cuối cùng tác giả lại ngừng việc hoàn thành bản hợp

xướng trên vì ông cho rằng dựng lên như vậy nhưng vẫn cảm thấy có cái gì đó gợn lên trong lòng Hơn nữa, nếu đất nước giải phóng, người dân sẽ đổ ra đường chứ chẳng ai ở nhà mà nghe hợp xướng cả

Đêm ngày 28 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe bản tin cuối cùng của đài có tin phi công Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ trong vòng chưa đấy 2 tiếng đồng hồ, từ 9 giờ 30 phút tối đến 11 giờ ông đã viết

xong bài Như có Bác trong ngày vui đại thắng Tuy vậy, bài hát chỉ được hội

đồng duyệt nhạc của đài thông qua và đưa vào kế hoạch dàn dựng, thu thanh phục vụ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 do có ý kiến cho rằng bài hát đơn giản và ngắn quá, có lạc quan hơi sớm, lạc quan tếu

Sáng ngày 30 tháng 4, nhạc sĩ được ban biên tập đài triệu tập và bài Như có

Bác trong ngày vui đại thắng đã được chọn để phát vào chương trình thời sự

đặc biệt lúc 17 giờ chiều khi Việt Nam chính thức công bố tin giải phóng miền Nam trước toàn Thế giới

Nói về bài hát của mình tác giả đã tâm sự : Lời bài hát như là tiếng lòng,

là ước vọng bao nhiêu lâu mình mong ước, có không biết bao nhiêu người cảm động và khóc khi hát vang ca khúc này và cảm giác bài hát như có sẵn rồi, không phải là tôi thì sẽ là một nhạc sĩ khác của dân tộc viết ra nó

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tập ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn ( Nhà xuất bản Âm nhạc năm, 1973 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiếc gậy Trường Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Âm nhạc năm
2. Tập ca khúc Phạm Tuyên ( Nhà xuất bản Văn Hoá , 1982 ) 3. Gửi nắng cho em ( Nhà xuất bản Âm nhạc, 1991 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Tuyên" ( Nhà xuất bản Văn Hoá , 1982 ) 3. "Gửi nắng cho em
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá
4. Cuốn sách Tiểu sử nhạc sĩ Phạm Tuyên bằng ảnh ( Nhà xuất bản Kim Đồng, 2008 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu sử nhạc sĩ Phạm Tuyên bằng ảnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
6. Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể sử bằng âm nhạc ( Báo quân đội nhân dân Việt Nam số ra ngày 11 tháng 12 năm 2012 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc sĩ Phạm Tuyên kể sử bằng âm nhạc (
8. Website www.cinet.gov.vn ( trang thông tin của bộ văn hóa thể thao và du lịch ) Khác
10. Báo Phụ nữ số ra ngày 12 tháng 10 năm 2012 Khác
11. Báo Gia đình và xã hội số ra ngày 20 tháng 7 năm 2011 Khác
12. Website www.vov.vn ( trang thông tin của Đài tiếng nói Việt Nam ) 13. Cuốn sách Cửa sổ âm nhạc tập 1 do Nguyễn Thanh Bình biên soạn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w