Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Bài khóa luận tập trung nghiên cứu, khảo sát nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin như: nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sin
Trang 1A TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN
TÌM HIỂU NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN
TẠI THƯ VIỆN VIỆN KHOA HỌC
THUỶ LỢI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… …… 4
LỜI NÓI ĐẦU……… …… ……… 6
1 Lý do chọn đề tài……… ………6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……… 7
3 Mục tiêu, nhiệm vụ………7
4 Phương pháp nghiên cứu……… ………8
5 Cơ cấu bài khóa luận……… ……… 8
Chương 1: NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM……… ……… 10
1.1 Khái quát về Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……….10
1.1.1 Khái quát về Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam………10
1.1.2 Khái quát về Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam ….13
1.2 Các nhóm NDT của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……… 18
1.2.1 Đặc điểm chung của các nhóm người dùng tin……… …18
1.2.2 Các nhóm người dùng tin……… … 20
Chương 2: NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM……….24
Trang 32.1 Mục đích, đối tượng và các phương pháp nghiên cứu NCT của
NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam………… 24
2.1.1 Mục đích……….…….24
2.1.2 Đối tượng…….……… ……… … 24
2.1.3 Các phương pháp nghiên cứu……….………… …….…25
2.2 Thực trạng NCT của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……… ……… 29
2.2.1 Theo lĩnh vực khoa học……… ……… … 29
2.2.2 Theo ngôn ngữ sử dụng……… ……… 39
2.2.3 Theo loại hình tài liệu……… ……… 42
2.2.4 Theo thời gian xuất bản của tài liệu 48
2.3 Thói quen và tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……….……… 50
2.3.1 Thời gian tới thư viện của người dùng tin……….… 50
2.3.2 Nơi khai thác thông tin của người dùng tin……… 52
2.3.3 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin mà người dùng tin sử dụng……… ……….……….…56
2.4 Ý kiến của NDT về việc thỏa mãn NCT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……… ……… 59
2.4.1 Đánh giá của người dùng tin về chất lượng thông tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi……… ……… ………….59
2.4.2 Đánh giá của người dùng tin về tính kịp thời của thông tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi……… ……… ……62
Trang 42.4.3 Đánh giá của người dùng tin về thái độ và tinh thần phục vụ của
cán bộ thư viện……….……… 64
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ……… ………67
3.1 Nhận xét về việc thỏa mãn NCT của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……… ……….67
3.1.1 Ưu điểm……….…… … 67
3.1.2 Hạn chế……….……… 70
3.2 Những giải pháp nhằm thỏa mãn NCT của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam……… ……… 72
3.2.1 Tăng cường nguồn lực thông tin……… …………72
3.2.2 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin………….……74
3.2.3 Đào tạo người dùng tin……….… …………75
3.2.4 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện……….…….76
3.2.5 Tăng cường cơ sở trang thiết bị kỹ thuật……… 77
KẾT LUẬN……… …….……… 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……….…81 PHỤ LỤC KHÓA LUẬN
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Trang 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB: Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển châu Á)
CNTT: Công nghệ thông tin
DAAD: Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức
FAO: Food and Agriculture Organizatio (Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
ICID: International Centre for Infectious Diseases (Trung tâm
Quốc tế cho Bệnh truyền nhiễm)
IPTRID: International Program for Technology Research on
Irrigation and Drainage(Chương trình Quốc tế về Nghiên cứu Công nghệ về thủy lợi và thoát nước)
IRRI: International Rice Research Institute (Viện Nghiên cứu
Lúa Quốc tế)
KHCN: Khoa học công nghệ
KHTLVN: Khoa học Thủy lợi Việt Nam
NCT: Nhu cầu tin
NDT: Người dùng tin
PTNT: Phát triển Nông thôn
VIFOTEC: Vietnam Fund for supporting Technological Creations
Trang 6(Quỹ hỗ trợ sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam)
WB: World Bank (Ngân hàng thế giới)
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, các ngành khoa học mới xuất hiện và đang ngày một chiếm lĩnh, có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội Thông tin khoa học là nguồn nguyên liệu của nghiên cứu khoa học Hiệu quả quá trình lao động của các nhà khoa học phụ thuộc rất nhiều vào lượng thông tin đó Vì thế, thông tin phải đi trước một bước so với công tác nghiên cứu, đồng thời phải có nguồn dự trữ cho nghiên cứu khoa học
Trong những năm gần đây, hoạt động thông tin - thư viện đang ngày càng được coi trọng và phát triển, thư viện được coi là chìa khóa giúp chúng
ta mở cánh cửa để bước vào kho tàng tri thức của nhân loại Vì vậy, thư viện được chọn là một trong những ngành nghề được yêu thích nhất
Ngày nay, hiện tượng “bùng nổ thông tin” trên thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, lượng thông tin mới được sản sinh tăng lên đáng kể, không phải hàng ngày mà hàng giờ Cũng như vậy, sản lượng tài liệu mới được xuất bản cũng tăng lên rất nhiều, không những đa dạng về nội dung, môn loại mà còn phong phú về hình thức Từ đó tạo ra hiện tượng nhiễu và tản mạn thông tin, đòi hỏi phải có sự đánh giá và tìm kiếm các nguồn thông tin tin cậy có giá trị Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các thư viện là phải đặt ra cho mình định hướng trong công tác xử lý nghiệp vụ, bổ sung tài liệu và phục vụ bạn đọc thế nào cho tốt nhất, nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của mọi đối tượng người dùng tin trong thư viện
Bên cạnh đó, quá trình sử dụng thông tin của mỗi người lại rất khác nhau Để tiếp thu, đánh giá thông tin là tùy thuộc vào người sử dụng như:
Trang 8trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và những tố chất khác của con người, kể cả
vị trí xã hội, trạng thái tâm lý,… nghiên cứu và nắm vững đặc điểm nhu cầu tin (NCT) của từng nhóm đối tượng người dùng tin (NDT) khác nhau, trên cơ
sở đó đáp ứng nhu cầu thông tin của họ một cách đầy đủ nhất là công việc rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với bất kỳ hoạt động của Trung tâm thông tin thư viện nào Với những lý do nêu trên, tác giả khóa luận đã chọn đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài khóa luận tập trung nghiên cứu, khảo sát nhu cầu tin của các nhóm người dùng tin như: nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý, cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay
3 Mục tiêu, nhiệm vụ
Mục tiêu của khóa luận tốt nghiệp là tìm hiểu và hoàn thiện việc khảo sát thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin ở Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu quả phục vụ NCT của bạn đọc tại thư viện này
Những nhiệm vụ mà tác giả khóa luận đã thực hiện:
+ Xác định rõ vai trò nghiên cứu NCT của các nhóm NDT trong thư viện
+ Nghiên cứu đặc điểm của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
+ Tìm hiểu các phương pháp để điều tra về NCT của NDT một cách hiệu quả nhất
Trang 9+ Khảo sát thực trạng nhu cầu thông tin của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
+ Khảo sát và đánh giá những thói quen và tập quán của NDT
+ Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp tăng cường, phương hướng phát triển cho công tác phục vụ NDT của thư viện, góp phần vào việc đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu tin cho bạn đọc tại thư viện
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket (điều tra bảng hỏi)
Quan sát trực tiếp
Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp, qua đó thu thập phân tích các số liệu đồng thời tổng hợp, đánh giá rút ra kết luận
Thống kê, mô hình hóa
Phân tích phiếu yêu cầu, nhật ký thư viện
Thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu nghiên cứu liên quan đến
đề tài
5 Cơ cấu bài khóa luận
Ngoài phần Lời nói đầu, Danh mục viết tắt, Tài liệu tham khảo và phần
Phụ lục, bài khóa luận tốt nghiệp được chia ra làm 3 chương:
Chương 1: Người dùng tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Chương 2: Nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Trang 10Chương 3: Nhận xét và kiến nghị
Đề tài khóa luận này được hoàn thành, em xin cảm ơn sự quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo của thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa cùng sự giúp
đỡ tận tình của Ban giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, sự chỉ dẫn
của cán bộ Thư viện cũng như tất cả các cán bộ đang công tác tại Viện
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, tuy đã có nhiều cố gắng, song do còn hạn chế về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm nên chắc chắn rằng khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế Em rất mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và các bạn để có thể sửa chữa rút kinh nghiệm
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
ĐINH THỊ LỆ
Trang 111.1.1 Khái quát về Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Sự phát triển đất nước luôn gắn liền với sự phát triển của ngành thủy lợi nói chung và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nói riêng Như Bác Hồ đã từng dạy: “Việt Nam ta có hai từ Tổ quốc Ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước,
có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh Nước cũng có thể làm lợi, nhưng nước cũng có thể làm hại Nhiều nước quá thì úng lụt, ít nước quá thì hạn hán Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất và nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội” [10, tr.3] Do vậy, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam ngay
từ những ngày đầu thành lập cho tới nay đã thể hiện rõ vai trò vô cùng quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (Tên tiếng Anh: Vietnam Academy for Water Resources), tiền thân là Học viện Thủy lợi – Điện lực, thành lập từ năm 1959, là viện nghiên cứu đầu ngành về lĩnh vực thủy lợi, được xếp hạng đặc biệt theo quy định tại Điều 10 Quyết định số 181/2005/QĐ – TTg ngày 19 tháng 07 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Ngày 10 tháng 05 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Quyết định số 594/QĐ – TTg về việc thành lập Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại hai Viện
Trang 12chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về thủy lợi là Viện Khoa học Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam nhằm “Xây dựng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam trở thành trung tâm khoa học lớn, vững mạnh cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ khoa học để nghiên cứu, phát triển công nghệ và tham gia đào tạo cán bộ trong lĩnh vực thủy lợi của đất nước”… và “đủ sức giải quyết nhiệm vụ chiến lược về khoa học thủy lợi của đất nước”… “xứng tầm các nước trong khu vực và các nước có trình độ khoa học tiên tiến trên thế giới” [2, tr.6]
Với bề dày 50 năm kinh nghiệm, xây dựng và phát triển trong lĩnh vực thủy lợi, thủy điện và môi trường, Viện được tuyển chọn chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Tỉnh trong đó có: 66 đề tài/dự án cấp Nhà nước,
01 chương trình KHCN thủy lợi cấp Bộ, 120 đề tài trọng điểm cấp Bộ, hơn
200 đề tài nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở Viện đã xây dựng và soát xét sửa đổi gần 220 tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng 01 bộ sổ tay kỹ thuật thủy lợi Thực hiện nhiều hợp đồng kinh tế kỹ thuật với các khách hàng từ Trung ương đến địa phương, với các tổ chức trong nước và quốc tế Nhiều sản phẩm khoa học công nghệ của Viện đã được ứng dụng vào thực tế, một số sản phẩm khoa học của Viện đã được cấp bản quyền sáng chế, đạt giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam VIFOTEC và đã có sản phẩm xuất khẩu
Hiện nay, tổng số nhân lực của Viện là 1.500 cán bộ với 04 Giáo sư và
16 Phó giáo sư, 01 tiến sỹ khoa học, 58 tiến sỹ, 216 thạc sỹ, trên 960 cán bộ
có trình độ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp khác: 300
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là tổ chức sự nghiệp khoa học công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có các chức năng chính là:
Trang 13- Chính trị sông, bảo vệ bờ biển, phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên
tai
- Phát triển tài nguyên nước và bảo vệ môi trường
- Thủy nông, cải tạo đất và cấp thoát nước
- Khoa học công nghệ xây dựng và bảo vệ công trình thủy lợi – thủy
điện
- Kinh tế chính sách và quản lý thủy lợi
- Thiết bị thủy lợi, thủy điện
- Công nghệ thông tin, tự động hóa và phần mềm
Về tổ chức của Viện, ngoài Ban Giám đốc còn gồm có: 03 ban chức
năng; các đơn vị chuyên môn là: 2 Viện vùng, 7 Viện chuyên ngành, 4 Trung
tâm, 1 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia; 1 công ty chuyển giao
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
2 Viện Khoa học Thủy lợi Miền Trung và Tây Nguyên
1.Viện Nước- Tưới tiêu và Môi trường 2.Viện Thủy công 3.Viện Thủy điện
và năng lượng tái tạo
4.Viện Kỹ thuật Biển
5.Viện Bơm – Thiết bị Thủy điện 6.Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi 7.Viện phòng trừ Mối và Sinh vật có hại
8.Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Quốc gia về Động lực học Sông
1.Trung tâm Đào tạo và Hợp tác Quốc tế 2.Trung tâm Công nghệ phần mềm Thủy lợi 3.Trung tâm Tư vấn PIM
1.Công ty xây dựng và chuyển giao công nghệ Thủy lợi 2.Các doanh nghiệp khoa học khác
Trang 14Với những nỗ lực của toàn thể cán bộ của Viện trong các thời kỳ, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã được Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu
và phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao Động Hạng Ba, hạng Hai, hạng Nhất; Huân chương Độc Lập hạng Ba, hạng Hai và được Nhà nước phong tặng Danh hiệu Đơn vị Anh Hùng trong thời kỳ Đổi mới (năm 2005) Năm 2009, nhân dịp kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển, Viện vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhất Đó chính là những kết quả mà Viện xứng đáng nhận được trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Khái quát về Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Lịch sử ra đời và phát triển:
Cùng với sự phát triển ngày một lớn mạnh của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là sự đóng góp một phần đáng kể của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Đây chính là thư viện đầu ngành về lĩnh vực thủy lợi lớn nhất Việt Nam, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kế hoạch Tổng hợp và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam được thành lập cùng năm
ra đời của Viện Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, thư viện đã và đang từng bước lớn mạnh, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình
Những ngày đầu mới thành lập, thư viện chỉ là một phòng lưu trữ sách
và các tài liệu của Viện, chưa mang tính chất như một thư viện thực sự Trải qua một thời gian dài phát triển của ngành thủy lợi cùng sự phát triển của đất nước, một thư viện mang tính chất chuyên ngành thủy lợi đã bắt đầu được hình thành, phục vụ chủ yếu cho việc nghiên cứu của các cán bộ trong Viện
Trang 15Những năm gần đây, khi Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam được một
số tổ chức quốc tế như: WB, ADB, UNDP, IPTRID, ICID, FAO, IRRI, Viện cải tạo đất Altera; nhiều nước lớn như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Đan Mạch, Australia, Hà Lan, Thái Lan, Cộng hòa Liên bang Đức, Somali, Nauy, Rumani, Pháp, Nga, Bỉ, Tanzania; các trường Đại học của Việt Nam và Đức,… biết đến và hợp tác, do vậy thư viện cũng có nhiều cơ hội được bổ sung nguồn tài liệu chuyên ngành Nhờ sự giúp đỡ và đóng góp của các tổ chức và một số cá nhân, Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
đã nhận được hàng nghìn cuốn sách và nhiều cuốn tạp chí chuyên ngành thủy lợi và KHCN có giá trị Đến nay, thư viện đã tổ chức được vốn tài liệu phong phú và đa dạng cho tất cả các nội dung lĩnh vực nghiên cứu của ngành, đảm bảo đủ và kịp thời thông tin cho người dùng tin
Vốn tài liệu của thư viện:
Có thể thống kê như sau:
4 Sách tiếng Trung Quốc: 633 quyển
* Tạp chí gồm có:
1 Tạp chí Thủy lợi: Từ năm 1963 đến năm 2000
2 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Từ năm 2001 đến năm 2004
Trang 163 Tạp chí Hoạt động khoa học: Từ năm 1963 đến năm 2004
4 Tạp chí Tài nguyên nước: Từ năm 2001 đến năm 2004
5 Thông tin Thủy lợi: Từ năm 1963 đến năm 2003
6 Tạp chí Xây dựng thủy công (Tiếng Nga): Từ năm 1963 đến năm
9 Tạp chí Tưới tiêu (Tiếng Anh): Từ năm 1963 đến năm 1974
10 Tạp chí Thủy lợi (Tiếng Anh): Từ năm 1956 đến năm 1992 Ngoài ra, còn có các tạp chí sau:
11 Thông tin tóm tắt Khoa học và công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
12 Tạp chí Khoa học công nghệ Thủy lợi
13 Tạp chí Hoạt động công nghệ
14 Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường
* Đề tài, dự án: 1207
* Báo: chủ yếu là các báo có liên quan tới ngành như: Tài nguyên
nước, Địa kỹ thuật, Khoa học công nghệ môi trường, Khoa học và Đời sống, Nông thôn ngày nay, Nông nghiệp Việt Nam, Khoa học công
nghệ, Lao động, Nhân dân,…
Trang 17Ngoài ra, thư viện còn có 1 bộ “Sổ tay kỹ thuật thủy lợi” và 1 bộ “Tiêu
chuẩn ngành”
Với nguồn tài liệu chuyên ngành thủy lợi phong phú và quý giá đó, Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã và đang xây dựng một hệ CSDL góp phần phục vụ nhu cầu tin về các ngành khoa học thủy lợi, xứng đáng là một thư viện đầu ngành về thủy lợi của nước ta Tất cả vốn tài liệu được cập nhật trên máy dưới dạng biểu ghi sẽ thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin
Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng
Cũng như các Trung tâm thông tin – thư viện khác, chức năng chính của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin, tư liệu về khoa học công nghệ nói chung và về khoa học Thủy lợi nói riêng, phục vụ cho hoạt động chuyên ngành thủy lợi của các cán
bộ của Viện, các nghiên cứu sinh, bạn đọc có nhu cầu về thủy lợi, Bên cạnh
đó, Thư viện cũng giúp cho bạn đọc có thể thư giãn sau những giờ nghiên cứu căng thẳng bằng số lượng báo tạp chí của mình (báo Nhân Dân, báo Lao Động,…)
Các chức năng cụ thể như sau:
Thu nhập, lưu giữ và xử lý mọi tài liệu chuyên ngành thủy lợi và những tài liệu KHCN liên quan
Xây dựng cơ sở dữ liệu về các loại tài liệu thuộc chuyên ngành thủy lợi
Phục vụ nhu cầu tra cứu, thông tin KHCN nói chung và thông tin về thủy lợi nói riêng cho đối tượng bạn đọc trong nước và quốc tế có nhu cầu dưới các hình thức thông tin thư viện
Trang 18 Thực hiện sự liên thông giữa các thư viện trong nước; hợp tác trao đổi tài liệu với thư viện nước ngoài theo quy định của Viện và chính phủ
Ứng dụng các thành tựu Khoa học và Công nghệ tiên tiến vào công tác thư viện, từng bước hiện đại hoá thư viện
Xử lý thông tin, biên soạn các ấn phẩm thông tin khoa học thủy lợi
* Nhiệm vụ
Cùng với chức năng, nhiệm vụ chung của Viện, Thư viện cũng nhận thức rõ chức năng và vai trò của mình nên đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng cần cố gắng để hoàn thành, đó là:
Xây dựng và trình Viện trưởng phê duyệt kế hoạch phát triển công tác thông tin- thư viện theo hướng hiện đại, từng bước xây dựng thư viện thành thư viện chuyên ngành thủy lợi lớn nhất
Lập kế hoạch và tổ chức mua bán, trao đổi các loại tài liệu thông tin
ở cả dạng in trên giấy và điện tử, phù hợp với diện nghiên cứu, đào tạo của Viện
Tổ chức quản lý bảo quản và lưu trữ vốn tài liệu quý
Tổ chức các loại hình tuyên truyền, giới thiệu các tài liệu mới, đẩy mạnh việc sử dụng có hiệu quả vốn tư liệu thông tin mà thư viện quản lý
Tổ chức cung cấp, phục vụ bạn đọc các tài liệu có hiệu quả
Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm quản lý, nghiệp vụ chuyên môn với các cơ quan thông tin – thư viện trong nước và ngoài nước
Trang 19 Lập và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, cho đội ngũ nhân viên thư viện
Cơ cấu tổ chức
Về cán bộ thư viện: hiện tại Thư viện Viện KHTLVN chỉ gồm 1 người, tất cả các khâu công việc nghiệp vụ của thư viện đều do cán bộ này đảm nhiệm vì đây là một thư viện chuyên ngành phục vụ cho một Viện nghiên cứu
Thư viện đang cố gắng phục vụ người dùng tin một cách tốt nhất bằng vốn tài liệu của mình, nhằm nâng cao hiệu quả và thúc đẩy cho việc nghiên cứu khoa học tại Viện Trong thời gian tới, Thư viện sẽ nâng cấp và cập nhật
hệ thống CSDL thư mục về vốn tài liệu lên website www.vawr.org.vn của
Viện để thu hút người dùng tin tới thư viện tìm tài liệu nhiều hơn
1.2 Các nhóm người dùng tin của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã có tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực thủy lợi Trong những năm gần đây, ngành thủy lợi đã có những bước phát triển vượt bậc, đã và đang trở thành mũi nhọn trong quá trình phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay Sự phát triển và biến đổi đó đã có ảnh hưởng lớn tới người dùng tin của Viện Khoa học Thủy lợi – những người đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực thủy lợi ở nước ta
1.2.1 Đặc điểm chung của các nhóm người dùng tin
Khác với các ngành nghề khác, ngành thủy lợi có những đặc thù phát triển riêng và có các nhóm người dùng tin khác nhau như: nhóm cán bộ lãnh
Trang 20đạo, quản lý; nhóm cán bộ nghiên cứu; nghiên cứu sinh,… mỗi nhóm NDT có những nhu cầu thông tin khác nhau phụ thuộc vào tính chất hoạt động của nhóm đối tượng đó Viện Khoa học Thủy lợi những năm gần đây đã có những bước phát triển rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu khoa học hàng năm của Viện tăng lên, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, tăng năng suất và chất lượng cho các công trình thủy lợi và thủy điện trên cả nước Điều đó có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu tin của người dùng tin tại Viện
Người dùng tin của Viện là những người làm công tác nghiên cứu có trình độ học vấn cao (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học), có học hàm (Giáo sư, Phó Giáo sư) Là những người có vai trò đặc biệt quan trọng trong
hệ quản lý cơ quan về lĩnh vực khoa học công nghệ thủy lợi Họ hiểu rõ vai trò đặc biệt quan trọng của thông tin đối với công tác nghiên cứu khoa học, nắm được các nguồn thông tin khoa học và công nghệ trong nước và quốc tế, cách khai thác nguồn thông tin để phục vụ cho công tác nghiên cứu, có khả năng đánh giá hiệu quả của các nguồn tin, có khả năng tạo ra các thông tin khoa học mới để chuyển tới các cơ quan phục vụ thông tin như thư viện của Viện, làm giàu thêm vốn tài liệu cung cấp cho những người dùng tin khác
Bất kỳ một chuyên gia nào, ngoài việc cần thiết phải nắm vững những thông tin thuộc lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp của mình, họ còn cần phải nắm bắt kịp thời những thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và thế giới
Khác với người dùng tin đơn thuần, người dùng tin tại Viện phần lớn trong số họ là vừa là người dùng tin vừa là người tạo ra thông tin mang tính chiến lược, sản phẩm của họ lại phục vụ cho một đối tượng dùng tin nhất định khác Về năng lực thông tin, họ là người có năng lực tìm kiếm và xử lý thông
Trang 21tin với phương pháp mang tính khoa học, đủ để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của mình
Sản phẩm của họ là đề tài, dự án, báo cáo khoa học,…đi sâu vào cuộc sống, tác động to lớn tới đời sống của các nhà khoa học của ngành
1.2.2 Các nhóm người dùng tin
Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý
Người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý tuy số lượng không nhiều bằng nhóm cán bộ nghiên cứu, khoảng 400 cán bộ, nhưng có vai trò quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Viện nên cần được quan tâm đáp ứng nhu cầu tin ở mức cao Họ là những người có năng lực chuyên môn cao, vừa
có khả năng tổ chức vừa có khả năng quản lý Họ điều hành các công việc và
bộ máy quản lý hành chính trong từng phòng, ban của Viện, đó chính là những Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng, Phó phòng, Để lãnh đạo tốt thì nhóm người dùng tin này cần những thông tin tổng hợp, chính xác và đầy đủ vừa mang tính vĩ mô vừa mang tính vi mô, đã được xử lý, phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn tin khác nhau Vì vậy, dựa vào tính chất công việc
mà người dùng tin nhóm này không chỉ cần thông tin về lĩnh vực chuyên môn
mà còn có nhu cầu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, bởi đó là những thông tin rất cần thiết cho việc hoạch định các chính sách ra quyết định, quản
lý đúng đắn thích hợp
Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý, người dùng tin nhóm này còn tham gia làm công tác nghiên cứu khoa học, phụ trách các đề tài/dự án khoa học chuyên ngành được giao từ cấp Cơ sở, cấp Viện đến cấp Bộ, cấp Nhà nước Ngoài ra còn có thể tham gia giảng dạy ở các trường Đại học Cho nên thời gian tới thư viện để đọc và tìm kiếm tài liệu gốc là rất thiếu, chủ yếu nhu
Trang 22cầu của họ là cung cấp thông tin theo yêu cầu đối với cán bộ thư viện hoặc tìm trên mạng Internet
Nhóm cán bộ nghiên cứu
Đây là nhóm bạn đọc năng động nhất và chiếm số lượng nhiều nhất, gần 1000 cán bộ Nhìn chung, họ đều có trình độ Đại học trở lên, có trình độ chuyên môn cao về các chuyên ngành thủy lợi Do tính chất công việc, họ cần nghiên cứu tìm tòi trong một khối lượng thông tin rộng lớn để rút ra những thông tin cần thiết cho bản thân, chính vì vậy mà họ dành nhiều thời gian để đọc tài liệu và tự xử lý các thông tin và tạo ra sản phẩm thông tin mới cho xã hội nói chung và cho ngành đang nghiên cứu nói riêng Vậy nên họ có tần suất sử dụng thư viện khá cao
Các cán bộ nghiên cứu tại Viện KHTLVN chủ yếu thuộc các Viện trực thuộc và các Trung tâm thuộc Viện, nhưng nhóm những người dùng tin này ngày nay không những cần có kiến thức sâu về một lĩnh vực mình nghiên cứu
mà phải hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác như: chính trị, kinh tế, xã hội, sản xuất và đời sống, đặc biệt có các kiến thức thực tế, có kỹ năng thực hành, biết kết hợp nghiên cứu với sản xuất Có yêu cầu đó là bởi vì những lĩnh vực nghiên cứu của Viện KHTLVN đều thuộc chuyên ngành thủy lợi, thủy điện phát triển đất nước, các cán bộ muốn thực hiện công trình nghiên cứu của mình đều phải dành một thời gian dài để đi thực tế tại cơ sở Nhưng nhìn chung, thông tin mà nhóm người dùng tin này cần là thông tin chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà cấp trên giao cho để thực hiện đề tài/dự án Ngoài những tài liệu bằng tiếng Việt, phần lớn họ cần những tài liệu tiếng nước ngoài ở các nước trên thế giới – nơi khoa học công nghệ rất phát triển
Nhóm nghiên cứu sinh
Trang 23Nhóm bạn đọc này có số lượng khá ít Họ được quan tâm rất nhiều vì Viện KHTLVN đã được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Trong 10 năm gần đây, Viện đã và đang đào tạo 93 nghiên cứu sinh, Viện có
07 mã ngành đào tạo tiến sỹ kỹ thuật, giai đoạn 2001 - 2009 tuyển được 54 nghiên cứu sinh trong đó 31 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ thuộc các chuyên ngành được giao, hiện nay có gần 40 nghiên cứu sinh đang học tập và nghiên cứu tại Viện Viện đã liên kết đào tạo sau đại học với Trường Đại học Quốc gia Hà Nội , đào tạo thạc sỹ từ năm 2005 đến nay; liên kết với Trường Đại học Cologne (Cộng hòa Liên Bang Đức), đào tạo thạc
sỹ về quản lý tài nguyên nước do cơ quan trao đổi Hàn lâm Đức – DAAD tài trợ Khóa 2009 có 22 học viên, trong đó đã có 12 học viên được DAAD cấp học bổng Đây chính là cơ hội tốt để đào tạo toàn diện cho đội ngũ cán bộ của ngành nói chung và của Viện nói riêng đạt tiêu chuẩn quốc tế
Nhóm bạn đọc này cần những thông tin chuyên sâu để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình Nhóm này thường nghiên cứu theo chuyên đề, đề tài hẹp (cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Viện) dưới sự chỉ dẫn của các giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ, những người giàu kinh nghiệm và vốn hiểu biết chuyên sâu về các vấn đề trong một khoảng thời gian nhất định Những người thuộc nhóm này hầu hết vừa công tác vừa nghiên cứu nên thời gian lên thư viện tìm kiếm thông tin tài liệu không nhiều Do đó, họ cần khai thác những thông tin theo chuyên ngành hẹp và theo chiều sâu Những tài liệu mà họ cần nhiều là luận
án, luận văn, bài trích tạp chí, tạp chí chuyên ngành, đề tài khoa học, các dự án về lĩnh vực mà họ đang quan tâm cho đề tài nghiên cứu của mình
Nhóm thành phần người dùng tin khác
* Sinh viên
Trang 24Đây là nhóm bạn đọc có số lượng hơi ít của Thư viện Nhóm bạn đọc
này chủ yếu là sinh viên của Trường Đại học Thủy lợi, vì thuộc chuyên ngành
đào tạo là thủy lợi, hơn nữa trường nằm ngay cạnh Viện nên sinh viên của
trường gặp thuận lợi khi đến Thư viện của Viện để tìm tài liệu phục vụ cho
công việc học tập của mình Tài liệu mà nhóm bạn đọc này cần là tài liệu
tham khảo, tạp chí chuyên ngành, sách Ngoài ra, luận án, luận văn cũng được
các sinh viên năm cuối sử dụng khá nhiều Họ đã dành nhiều thời gian để
nghiên cứu tài liệu gốc và có nhu cầu về những kỹ năng thiết yếu để tra cứu
các nguồn thông tin của thư viện
* Cán bộ về hưu
Đây là nhóm bạn đọc khá đặc biệt Nhóm này gồn những cán bộ đã
nghỉ hưu trước đây làm việc tại Viện Tuy đã nghỉ hưu nhưng họ vẫn có nhu
cầu nghiên cứu Tài liệu họ cần là tạp chí và báo Nhóm bạn đọc này có số
lượng không nhiều nhưng tấn suất sử dụng Thư viện của họ khá cao
* Cán bộ giảng dạy
Gồm các giảng viên của một số trường đại học, cao đẳng khối KHCN
thuộc chuyên ngành thủy lợi, nhiều nhất vẫn là cán bộ giảng viên của Trường
Đại học Thủy lợi Nhóm bạn đọc này cần những tài liệu chuyên sâu về
chuyên ngành thủy lợi để phục vụ cho công tác giảng dạy Đó là loại hình tài
liệu tham khảo, sách, luận án, luận văn, các đề tài khoa học Số lượng bạn
đọc thuộc nhóm này đến Thư viện không nhiều
Tóm lại, sự phân chia các nhóm người dùng tin trên đây chỉ mang tính
chất tương đối Bởi vì có một số người dùng tin thuộc nhóm này, cũng vừa
thuộc nhóm kia, do công việc cụ thể quyết định
Trang 25
Chương 2
NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN
TẠI THƯ VIỆN VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI
VIỆT NAM
Thông tin ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng, là yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất và quản lý, thông tin hiện nay gắn bó mật thiết, hữu cơ với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nó trở thành điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động khoa học của các nhà nghiên cứu Để đảm bảo cho hoạt động thông tin đúng hướng và đạt hiệu quả cao, một trong những yếu tố quan trọng là phải thường xuyên nghiên cứu NDT và NCT của họ Khóa luận tốt nghiệp đã tiến hành điều tra NCT của các nhóm NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
2.1 Mục đích, đối tượng và các phương pháp nghiên cứu NCT của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
2.1.1 Mục đích
Mục đích của cuộc điều tra này là tìm hiểu NCT và thực trạng tiếp cận,
sử dụng thông tin của NDT hiện nay tại Thư viện, xác định được những nội dung và các loại hình tài liệu mà NDT sử dụng nhiều nhất Qua đó, biết được những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển NCT của NDT để điều chỉnh lại
và bổ sung thêm vốn tài liệu của thư viện cho phù hợp với những yêu cầu tin hiện nay của người dùng tin
2.1.2 Đối tượng
Trang 26Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là một thư viện chuyên
ngành thủy lợi, do đó người dùng tin của thư viện cũng là những người có
nhu cầu về vấn đề thủy lợi Sau khi xem xét cơ cấu, chức năng hoạt động của
Viện và của thư viện, chúng tôi đã chọn đối tượng điều tra là các nhóm người
dùng tin: nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý, nhóm cán bộ nghiên cứu, nhóm
nghiên cứu sinh,… tại một số phòng ban như: Ban Tổ chức Hành chính, Ban
Kế hoạch Tổng hợp, Ban Tài chính Kế toán; các Viện trực thuộc như: Viện
Nước tưới tiêu và Môi trường, Viện Thủy công, Viện Bơm và Thiết bị thủy
lợi, Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo, Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi,
Viện phòng trừ mối và Bảo vệ công trình, Trung tâm tư vấn quản lý thủy
nông PIM, Trung tâm Công nghệ phần mềm thủy lợi
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
Để điều tra NCT của NDT tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, tác
giả khóa luận đã tìm hiểu và áp dụng các phương pháp nghiên cứu của xã hội
học cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành thư viện học Đây là nền
tảng quan trọng để nắm được nhu cầu về thông tin của NDT tại Viện
Hiện nay, tìm hiểu NCT của từng nhóm NDT trong các thư viện và
Trung tâm thông tin nói chung và đối với Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi
nói riêng có nhiều phương pháp, có thể chia ra hai nhóm là: Phương pháp
nghiên cứu định lượng (quantitative research) và phương pháp nghiên cứu
định tính (qualitative research)
* Phương pháp nghiên cứu định lượng
Các phương pháp nghiên cứu dạng này bao gồm:
- Phân tích phiếu điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp Anket)
- Phân tích phiếu mượn sách
Trang 27- Phân tích phiếu đăng ký người đọc
- Phân tích phiếu theo dõi thẻ sách
* Phương pháp nghiên cứu định tính
Các phương pháp nghiên cứu dạng định tính bao gồm:
- Trao đổi
- Quan sát
Những phương pháp trên mỗi phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế nhất định Do vậy, để điều tra được chính xác NCT của các nhóm NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, tác giả khóa luận đã chọn một
số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp Anket)
Mục đích của phương pháp này là thu thập những thông tin về các khía cạnh hoạt động của thư viện nói chung và nhu cầu tin của người dùng tin nói riêng Thực chất đây là sự khảo sát sâu sắc về sự phát triển của thư viện Trên
cơ sở đó so sánh trình độ, mức độ hoạt động và thiết lập các tiêu chuẩn nghề nghiệp, đặc điểm nghề nghiệp của NDT, nhu cầu về vốn tài liệu của họ trong thư viện, về thái độ của cán bộ và các ý kiến riêng của họ trong quá trình sử dụng các sản phẩm và dịch thông tin của thư viện
Các câu hỏi trong phương pháp này đã sử dụng các loại câu hỏi như: câu hỏi dữ kiện, câu hỏi liên quan đến công việc, câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi
mở, câu hỏi đóng, và được tập hợp trong một bảng câu hỏi, đó là “Phiếu điều tra nhu cầu tin”
Hệ câu hỏi này khá đơn giản, không làm mất nhiều thời gian của NDT, khả năng tiếp cận với họ dễ dàng, nhanh chóng nhận được thông tin phản hồi
Trang 28và mang tính đại chúng mà không cần tiêu phí nhiều công sức cho việc tiến hành Tuy nhiên, do tính chất là câu hỏi thiên về định tính, công việc của NDT bận rộn nên đôi chỗ còn trả lời chủ quan, nhiều trường hợp người trả lời không trả lời theo ý mình mà đi hỏi ý kiến của người khác hoặc hoàn toàn không muốn trả lời, thậm chí không gửi phản hồi phiếu trả lời Đây chính là nhược điểm chung khi sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Phương pháp phỏng vấn
Bên cạnh phương pháp điều tra bằng phiếu Anket, tác giả khóa luận đã tiến hành phương pháp phỏng vấn, gặp gỡ trao đổi với một số NDT tại Viện Phương pháp này sẽ hỗ trợ cho những gì chưa có điều kiện làm rõ trong phương pháp Anket Phỏng vấn là một công cụ điều tra rất có ích trong nghiên cứu về NCT, bằng cách đưa ra những câu hỏi đối với NDT để thu thập các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu cho đề tài khóa luận tốt nghiệp Qua quá trình phỏng vấn, chúng tôi đã thu thập được những ý kiến, quan điểm, kinh nghiệm và sự phản ứng, đánh giá của NDT về sự phát triển, về tình thình hoạt động của thư viện cũng như sự thỏa mãn về nhu cầu thông tin của họ đối với Thư viện của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Khi phỏng vấn trao đổi nên có thái độ thân mật trong bầu không khí thoải mái sẽ giúp người dùng tin cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy hơn
Phương pháp quan sát
Quan sát là sự cảm thụ bằng các giác quan về các sự vật, hiện tượng trong trạng thái tự nhiên vốn có của chúng nhằm một mục đích nhất định
Phương pháp quan sát được tiến hành trong thư viện là nhằm phát hiện
ra quy luật vận động của hoạt động thư viện Biện pháp này làm rõ hơn về tập quán, thói quen của người dùng tin trong thư viện Quan sát trong toàn bộ thư
Trang 29viện giúp chúng ta hiểu thêm về nội dung thông tin của người dùng tin hơn, nhưng quan trọng nhất vẫn là quan sát bạn đọc trong khi họ tới thư viện tìm tài liệu
Phương pháp điều tra gián tiếp
Để tìm hiểu nhu cầu tin thực sự của các nhóm người dùng tin, tác giả khóa luận cũng đã tiến hành thống kê, phân tích một số yêu cầu tin, sổ theo dõi bạn đọc, sổ mượn tài liệu, sổ đăng ký bạn đọc,…của thư viện Đây là phương pháp nhằm thu thập thông tin chính xác về nhu cầu tin của họ cũng như khả năng đáp ứng của cơ quan thông tin
Ngoài ra, tác giả khóa luận còn tiến hành nghiên cứu các tài liệu có liên quan và có ích cho đề tài Mục đích của phương pháp này là nhằm tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu, chủ trương chính sách liên quan, kế thừa kết quả nghiên cứu, thu thập các số liệu phát hiện ra các vấn đề khoa học cần giải quyết Các tài liệu đó chính là những tài liệu của Viện, những tài liệu nội bộ như: Tuyển tập khoa học công nghệ 50 năm xây dựng và phát triển (1959 - 2009), Kỷ yếu 50 năm xây dựng và phát triển, Kỷ yếu hội thảo khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế - xã hội,…
Mỗi phương pháp đã nêu trên đều có ưu điểm và hạn chế nhất định Điều tra bằng phiếu Anket sẽ cho ra những kết quả khách quan Nếu như câu hỏi được nêu rõ ràng, rành mạch, tránh hiểu lầm và được phát đi một cách ngẫu nhiên thì kết quả thu về đạt yêu cầu Nếu câu hỏi bị hiểu lầm thì sẽ thu được những kết quả sai lệch Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là người dùng tin nhiều khi trả lời không thật chính xác Phỏng vấn trực tiếp và quan sát có ưu điểm là thấy rõ phản ứng và thái độ của người được điều tra trong từng vấn đề nhưng không tránh khỏi tính chất hình thức, không
Trang 30phương pháp gián tiếp nói chung và phương pháp phân tích các tài liệu và phiếu yêu cầu của thư viện là phương pháp đặc trưng cho nhu cầu tin, nhu cầu đọc, cho những kết quả chính xác nhưng chưa đầy đủ về kho sách, kho tài liệu, không thể chứa nội dung của các loại thông tin, vì người dùng tin không chỉ tới một cơ quan thông tin – thư viện mà còn tìm hiểu thông tin ở các cơ quan thông tin – thư viện khác Sử dụng tổ hợp các phương pháp trên cho phép thu được những số liệu khách quan, phản ánh nhu cầu tin của bạn đọc
2.2 Thực trạng NCT của NDT tại Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Để phục vụ cho bài khóa luận tốt nghiệp, tác giả khóa luận đã khảo sát
và trao đổi với cán bộ thư viện để lập một Phiếu điều tra nhu cầu tin bao gồm các câu hỏi về vấn đề người dùng tin tại Viện Khoa học Thủy lợi và nhu cầu tin của họ Sau khi hoàn thành việc lập hệ câu hỏi, tác giả đã tiến hành việc phát phiếu điều tra Với 150 phiếu phát ra, số phiếu thu về được 134 phiếu, đạt tỷ lệ 89,33% Việc điều tra được tiến hành từ ngày 31/03/2010 đến ngày 20/04/2010
Những số liệu thống kê được cho chúng ta thấy thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin trong thời điểm hiện nay Sau đây là kết quả điều tra đã thu thập được
2.2.1 Theo lĩnh vực khoa học
Đây là kết quả sau một thời gian khảo sát các lĩnh vực nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đồng thời tìm hiểu vốn tài liệu và trao đổi với cán bộ Thư viện Viện
Bảng 1: Người dùng tin theo lĩnh vực khoa học
Trang 31Các lĩnh vực khoa học Tổng số
Cán bộ lãnh đạo quản lý
Cán bộ nghiên cứu
Nghiên cứu sinh
Thành phần khác
Khai thác và sử dụng
hiệu quả tài nguyên nước
và bảo vệ môi trường
73 54,4 35 26,1 26 19,4 7 5,2 5 3,7
Thủy nông - cải tạo đất,
quản lý và khai thác công
lợi, thủy điện, năng
lượng tái tạo
Trang 32nghiên cứu hoặc được đào tạo Phần lớn người dùng tin khi được điền vào phiếu điều tra nhu cầu tin hay khi được phỏng vấn: “Lĩnh vực bạn quan tâm là gì?” đều đưa ra 2, 3, thậm chí tất cả các lĩnh vực khoa học mà tác giả đã gợi ý Điều đặc biệt là các lĩnh vực đó đều được xuất phát từ cơ cấu nội dung vốn tài liệu của thư viện và cơ cấu tổ chức của Viện Những lĩnh vực khoa học đó đều phản ánh về thủy lợi và các vấn đề xung quanh thủy lợi (như bảng trên)
Sau khi đã thống kê các lĩnh vực mà người dùng tin cần thông tin cho công việc nghiên cứu, tác giả thấy rằng những vấn đề đó không nằm ngoài những chương trình KHCN các cấp mà Viện đang chủ trì hay những đề tài,
dự án mà các cán bộ của Viện đang thực hiện
Qua kết quả thống kê quá trình khảo sát cho thấy nhu cầu tin của người dùng tin về tài liệu lĩnh vực khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và bảo vệ môi trường chiếm tỷ lệ cao nhất trong các lĩnh vực khoa học mà người dùng tin tại Viện quan tâm, có tới 73 người trong tổng số 134 người dùng tin, chiếm 54,4%, trong đó nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm
tỷ lệ cao nhất là 26,1%, cán bộ nghiên cứu là 19,4%, nhóm nghiên cứu sinh chiếm 5,2% và thành phần khác là 3,7% Sở dĩ nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm tỷ lệ cao nhất là vì đây là một lĩnh vực nghiên cứu truyền thống của Viện và luôn được quan tâm từ trước tới nay Các cán bộ lãnh đạo quản lý là những người đứng đầu mọi hoạt động của cơ quan, họ có trách nhiệm phải quản lý tất cả các hoạt động nghiên cứu của Viện mình, cho nên đối với các vấn đề trọng điểm của Viện, họ phải là những người quan tâm nhiều nhất
Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu đứng thứ hai sau nhóm cán
bộ lãnh đạo quản lý có nhu cầu tin về lĩnh vực khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và bảo vệ môi trường Có thể nói, đây là một vấn đề quan trọng mà Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã, đang và sẽ đầu tư nghiên cứu
Trang 33với quy mô cấp Nhà nước và kết quả bước đầu đạt được rất thành công Các cán bộ nghiên cứu chính là những người đi đầu trong việc đóng góp quan trọng đó Lĩnh vực này được Viện coi như vấn đề cấp bách hàng đầu cần giải quyết, Viện đã đưa ra mục tiêu phải đạt được kết quả nghiên cứu về nhiều mặt như: Phát triển thủy lợi đảm bảo đủ nước phục vụ nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh, nuôi trồng thủy sản; phát triển cơ sở hạ tầng, cung cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn; đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác chương trình thủy lợi theo hướng bền vững và tiết kiệm nước Ngoài
những mục tiêu đó, Viện cũng đã đặt ra “Chương trình mục tiêu quốc gia về
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ” trong thời gian tới nhằm đưa
hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ của Viện bám sát hơn nữa những mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước, cùng những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Về vấn đề bảo vệ môi trường, các đề tài dự án của Viện đã đưa ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ xử lý chất thải phù hợp với điều kiện nông thôn Việt Nam Nước ta là nước nhiệt đới gió mùa có mùa khan hiếm nước và có mùa lại bị úng lụt Cho nên, vấn đề khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, bảo vệ môi trường là vấn đề mà Viện coi trọng đầu tư nghiên cứu, nhằm xây dựng Viện thành một tổ chức KHCN hàng đầu về quản lý và khai thác tài nguyên nước Vì vậy, các cán bộ của Viện chính là những nhà khoa học đi đầu trong nhiệm vụ quan trọng đó, Thư viện của Viện cũng sẽ góp phần cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho họ để họ
có thể hoàn thành công việc đó
Sau tài liệu về khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và bảo vệ môi trường, lĩnh vực được người dùng tin quan tâm đứng thứ hai là Thủy nông – cải tạo đất, quản lý khai thác công trình thủy lợi: chiếm tỷ lệ 46,2%
Trang 34Trong đó, người dùng tin là cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm tỷ lệ cao nhất là: 20,2%, tiếp theo là nhóm cán bộ nghiên cứu chiếm tỷ lệ 19,4%, nhóm người dùng tin là nghiên cứu sinh chiếm: 5,2%, thành phần khác là: 3,7%
Việt Nam là một nước đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, lại nằm trong vùng chịu nhiều tác động của thiên tai Vì thế, công tác thủy lợi luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhiệm vụ của công tác thủy lợi còn rất nặng nề trong việc thực hiện Nghị quyết số 26 của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và thích ứng với biến đổi khí hậu trong các thập kỷ tới Chính vì vậy, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là đơn vị đi đầu trong nghiên cứu đề xuất các quy trình công nghệ, sơ đồ tưới tiêu, cải tạo đất, chế độ tưới tiêu cho lúa và các loại cây trồng cạn Nhiều mô hình canh tác phù hợp cho các vùng sinh thái khác nhau đã được đề xuất, hàng loạt công trình tạo nguồn như: bơm va, bơm thủy luân, hồ treo,…đã được xây dựng để cung cấp nước cho các vùng khan hiếm nước, vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển và hải đảo Kết quả nghiên cứu của Viện về lĩnh vực này đã được áp dụng rộng rãi cho nhiều địa phương trên cả nước, góp phần cải tạo hàng triệu hecta đất chua phèn, mặn vùng Tứ Giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà Mau,…đưa năng suất và sản lượng lương thực, cây ăn trái tăng lên gấp nhiều lần, cải tạo thành công trên 30 vạn hecta đất vùng trũng đồng bằng Bắc Bộ bị nhiễm chua, mặn, sình lầy thành đồng ruộng 2 vụ, góp phần
vào “ Chiến lược đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia” và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân Do có vị trí quan trọng như vậy mà nhu cầu tin của người dùng tin về lĩnh vực Thủy nông – cải tạo đất và quản lý khai thác các công trình thủy lợi càng cao hơn chỉ sau lĩnh vực tài nguyên nước và bảo vệ môi trường Cả hai nhóm người dùng tin cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ nghiên cứu đều có nhu cầu cao như nhau về lĩnh vực này, Thư viện của Viện hiện nay cũng đã đáp ứng phần lớn các tài liệu cho công tác nghiên
Trang 35cứu về Thủy nông Tuy nhiên, kho sách của thư viện cũng chỉ cung cấp được phần nào nhu cầu tin của bạn đọc Vì vậy, trong thời gian tới thư viện cần phối hợp với Ban lãnh đạo của Ban Kế hoạch Tổng hợp và Ban lãnh đạo Viện, cùng với các thư viện khác có liên quan như: Thư viện Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Thủy lợi,… để ngày một đáp ứng nhu cầu tin của bạn đọc
Lĩnh vực đứng thứ ba được người dùng tin quan tâm đó là Thủy lực sông biển và phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai, chiếm 32,8% Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo quản lý: 17,1%, tiếp theo là nhóm cán bộ nghiên cứu chiếm: 8,9%, các thành phần khác chiếm 4,6%, nhóm nghiên cứu sinh là: 2,2%
Việt Nam là nước có đường bờ biển dài từ Bắc tới Nam, bị ảnh hưởng nhiều bởi lũ lụt, ngập úng Vì thế, vấn đề phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai cũng được Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam coi trọng hàng đầu Viện đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng phục vụ phòng chống lụt, bão, bảo vệ bờ sông ở những ùng trọng điểm với những nội dung cơ bản như: nghiên cứu và dự báo lũ, nghiên cứu điều tiết lũ, các giải pháp phân lũ, kiểm soát lũ; nghiên cứu diễn biến xói lở bờ sông, bờ biển, nghiên cứu các giải pháp công nghệ bảo vệ bờ sông, bờ biển; các giải pháp chính trị sông, cửa sông ven biển
Kết quả nghiên cứu của Viện đã cung cấp cơ sở khoa học, giải pháp kỹ thuật cho việc củng cố đê điều, phòng chống vỡ đê, xây dựng hành lang thoát
lũ, góp phần ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại qua các trận lũ lịch sử đã xảy ra Các nghiên cứu của Viện cũng đã được ứng dụng có hiệu quả cho trên 230 công trình sạt chống lở trên Sông Cửu Long và nhiều điểm nóng khác trên các
Trang 36tuyến sông biên giới Góp phần đắc lực cho việc giữ vững an toàn đê điều phòng chống lụt, an ninh biên giới suốt từ 1971 đến nay
Nói chung, lĩnh vực nghiên cứu thủy lực sông biển để phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai cũng là một vấn đề cấp bách trong thời điểm hiện nay của nước ta Các cán bộ của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam lại là những người đi đầu trong lĩnh vực quan trọng này Do đó, để có đủ tài liệu để tìm hiểu, nghiên cứu cho người dùng tin tại Viện, Thư viện của Viện cần cập nhật
và bổ sung thêm thông tin về vấn đề này nhiều hơn nữa Cán bộ lãnh đạo quản lý vẫn là những người dùng tin quan tâm đầu tiên trong mọi lĩnh vực, cán bộ nghiên cứu thì quan tâm tới vấn đề này chủ yếu do đây là nội dung mà
họ lựa chọn để làm đề tài, dự án cho các vấn đề nghiên cứu khoa học tại Viện, các thành phần khác trong đó có sinh viên cũng là những người cần có tài liệu
để phục vụ cho công việc học tập và cũng là để tăng thêm vốn hiểu biết nền tảng cho công việc sau này khi ra trường
Lĩnh vực KHCN xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện, năng lượng tái tạo chiếm 20,8% nhu cầu của người dùng tin tại Viện Trong đó, 2 nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo quản lý và nhóm cán bộ nghiên cứu chiếm
tỷ lệ như nhau:8,2%, nhóm nghiên cứu sinh chiếm 2,9%, các thành phần khác chiếm tỷ lệ ít nhất: 1,5% Đây là lĩnh vực đi đầu của Viện nhằm ứng dụng KHCN phục vụ phát triển thủy lợi theo hướng tổng hợp, khai thác đa mục tiêu nhằm cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt, phòng chống lũ, phát điện, chống xâm nhập mặn, thích ứng biến đổi khí hậu, nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới và vật liệu mới phục vụ xây dựng và bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện, năng lượng tái tạo Thời đại mà công nghệ thông tin luôn phát triển từng ngày, từng giờ, các nhà khoa học phải nhạy bén để tiếp cận và ứng dụng vào sản xuất và đời sống, đó cũng chính là tiêu chí của Viện, đưa sự phát triển của
Trang 37KHCN ứng dụng vào xây dựng công trình thủy lợi Để ứng dụng vào thực tiễn cần có một thời gian dài và sự tích cực của những cán bộ nhiệt huyết, đó
là người dùng tin của thư viện Nhu cầu tin của họ về lĩnh vực này bắt buộc thư viện cần phải cập nhật nhanh, đủ các thông tin về KHCN Có như vậy thư viện mới có thể đáp ứng được tốt nhu cầu tin của người dùng tin quan tâm tới lĩnh vực KHCN xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện và năng lượng tái tạo
Lĩnh vực tiếp theo đó là Phòng trừ mối và sinh vật có hại, chiếm 12,6% Trong đó, cán bộ lãnh đạo quản lý có tỷ lệ cao nhất: chiếm 5,2%, hai nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và nghiên cứu sinh có tỷ lệ bằng nhau: 3,7% Sở dĩ lĩnh vực này chiếm tỷ lệ ít so với các lĩnh vực khác và thu hút người dùng tin ít hơn là do: chỉ có những người dùng tin là các cán bộ hoạt động trong chuyên ngành này mới có nhu cầu tin về các tài liệu có liên quan Họ phần lớn chính là những người đang làm việc tại Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình – đây là Viện trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (Địa chỉ: số 267 – Chùa Bộc – Đống Đa – Hà Nội) Người dùng tin còn là các nghiên cứu sinh đang học tập tại Viện và được Viện giao cho thực hiện các đề tài về Phòng trừ Mối, sinh vật có hại và bảo vệ công trình thủy lợi Đây là một lĩnh vực mang tính chất hẹp nên người dùng tin cũng bị thu hẹp Vì vậy, vốn tài liệu của thư viện càng phải có khả năng phục vụ cho nhu cầu của người dùng tin tốt hơn, khi họ cần tài liệu về lĩnh vực này thì đáp ứng được ngay
Bơm và Thiết bị thủy lợi chiếm tỷ lệ 11,1% Trong đó, nhóm cán bộ nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm khác: 3,7%, nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm 3,0%, hai nhóm nghiên cứu sinh và thành phần khác có tỷ lệ bằng nhau: 2,2 % Các cán bộ nghiên cứu sở dĩ chiếm tỷ lệ cao hơn vì hầu hết
đó là những cán bộ ở Viện Bơm và thiết bị thủy lợi (Địa chỉ: số 7 – Ngõ 95 –
Trang 38Chùa Bộc – Đống Đa – Hà Nội), đặc trưng công việc của họ chủ yếu là nghiên cứu khoa học công nghệ, phục vụ công ích, chuyển giao công nghệ, tư vấn đầu tư và xây dựng các công trình về lĩnh vực Bơm, Trạm Bơm, thiết bị thủy lợi và môi trường phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước, phát triển ngành Nông nghiệp và PTNT trên phạm vi cả nước
Cuối cùng là các lĩnh vực khác, chiếm 4,4% Trong đó, cán bộ nghiên cứu chiếm 2,2%, nghiên cứu sinh là 1,5%, thành phần khác: 0,7% Sở dĩ người dùng tin lại quan tâm tới nhiều lĩnh vực khác là bởi vì xã hội ngày càng phát triển, con người không thể chỉ biết đến lĩnh vực mình hoạt động mà phải luôn quan tâm tới tất cả các lĩnh vực khác Kết quả điều tra cho thấy ở lĩnh vực này nhóm cán bộ nghiên cứu và nghiên cứu sinh có nhu cầu tin đối với các lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực chính mà họ đang nghiên cứu, cũng từ kết quả điều tra và phỏng vấn, các lĩnh vực này đều có ít nhiều liên quan tới vấn
đề mà họ nghiên cứu như: sinh học, kinh tế và quản lý thủy lợi, kỹ thuật, công nghệ thông tin, KHCN mới, xã hội,…Từ kết quả này cho thấy Viện cần có chính sách bổ sung thêm về các lĩnh vực nói trên bằng cách liên kết với các Viện nghiên cứu, các thư viện khác để phục vụ tốt hơn nhu cầu tin của người dùng tin Tuy nhiên, vốn tài liệu của Viện phần nhiều vẫn là tài liệu về KHCN thủy lợi, đó là đặc trưng của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Từ những số liệu và phân tích trên ta thấy rõ nhu cầu về tài liệu chuyên ngành thủy lợi chiếm tỷ lệ người dùng tin quan tâm nhiều Đất nước đang chuyển mình nhanh chóng, đặc biệt là những vùng nông thôn, quá trình hiện đại hóa và phát triển nông thôn Việt Nam đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách Vì vậy, những lĩnh vực mà Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đang nghiên cứu chính là nhằm góp phần vào sự phát triển đó
Trang 39Biểu đồ minh họa về người dùng tin theo lĩnh vực khoa học của Thư viện Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam sẽ cho ta thấy rõ hơn nữa về vấn đề này
Nghiên cứu sinh Thành phần khác
LVKH1: Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và bảo vệ môi trường
LVKH2: Thủy nông - cải tạo đất, quản lý khai thác công trình thủy lợi
LVKH3: Thủy lực sông biển và phòng tránh lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai
LVKH4: Khoa học công nghệ xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện, năng lượng tái tạo
LVKH5: Bơm và thiết bị thủy lợi, thủy điện
Trang 40Cán bộ nghiên cứu
Nghiên cứu sinh
Thành phần khác
Tiếng Việt 134 100 56 41,8 43 32,1 20 14,9 15 11,2Tiếng Anh 54 40,2 24 17,9 19 14,1 11 8,2 0 0
Tiếng Trung Quốc 3 2,2 0 0 1 0,7 1 0,7 1 0,7
Qua thống kê cho thấy người dùng tin của Thư viện Viện Khoa học
Thủy lợi Việt Nam có nhu cầu đọc tài liệu bằng tiếng Việt chiếm 100% Lý
do mà người dùng tin muốn đọc tài liệu bằng tiếng Việt nhiều hơn bất cứ
ngôn ngữ khác vì tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ Trong khi đó người dùng tin của
thư viện chủ yếu là người Việt Hơn nữa, tiếng nước ngoài không phải bạn
đọc nào cũng thông thạo đến mức có thể đọc và hiểu được
Đứng thứ hai là nhu cầu sử dụng tiếng Anh, chiếm 40,2% người dùng
tin có nhu cầu sử dụng Trong đó, cán bộ lãnh đạo quản lý chiếm tỷ lệ lớn
nhất: 17,9%, cán bộ nghiên cứu chiếm 14,1%, nghiên cứu sinh là 8,2% Qua