Chính vì vậy, việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong nghi thức “cấp sắc” của người Sán Dìu là vấn đề cần được quan tâm một cách đúng mức, làm sao để những giá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
TÌM HIỂU NGHI LỄ CẤP SẮC CỦA DÂN TỘC
SÁN DÌU Ở XÃ GIÁP SƠN, NGẠN, BẮC GIANG
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa
Ngành: Văn hóa dân tộc thiểu số
Sinh viên thực hiện: Phạm Như Ngọc
Giảng viêng hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc Thanh
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Lời cảm ơn!
Để hoμn thμnh bμi khoá luận nμy, ngoμi sự nỗ lực, cố gắng của
bản thân, em còn được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Văn
hoá dân tộc Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thμnh tới các
thầy giáo cô giáo trong khoa Văn hoá dân tộc – Trường Đại
Học Văn Hoá Hμ Nội, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân
thμnh vμ sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Ngọc Thanh – Người đã
trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình viết vμ hoμn thμnh bμi
khoá luận
Đồng thời, qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng
Văn Hoá Thông Tin huyện Lục Ngạn, các cán bộ vμ nhân dân
xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang, nơi đã nhiệt tình giúp đỡ,
cung cấp tμi liệu vμ nhiều thông tin quý gía trong quá trình em đi
thực tế
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ vμ thời gian hoμn
thμnh đề tμi có hạn, nên chắc chắn bμi viết khó tránh khỏi những
sai xót Em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô vμ các
bạn để bμi viết của mình thêm đầy đủ vμ hoμn chỉnh hơn
Em xin chân thμnh cảm ơn!
Hμ Nội, ngμy 24 Tháng 05 năm 2010
Sinh viên Phạm Như Ngọc
Trang 4Mục Lục
Trang
Mở đầu 6
1.Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Bố cục của đề tài 9
Chương 1 Vμi nét về người Sán Dìu vμ x∙ Giáp Sơn, huyện Lục
Ngạn, tỉnh Bắc Giang 10
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của xã Giáp Sơn, Ngạn Lục, Bắc Giang 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Điêù kiện tự nhiên 10
Địa hình 10
Khí hậu 10
Thuỷ văn 11
Thổ nhưỡng 11
Tài nguyên rừng 11
1.2 Dân cư, dân số của xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 12
Dân cư, dân số 12
Giáo dục 12
Y tế 12
1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội của người Sán Dìu ở xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 13
Trang 51.3.1 Đặc điểm kinh tế 13
Trồng trọt 13
Chăn nuôi 15
Nghề thủ công 16
Khai thác lâm, thổ sản 17
1.3.2 Đặc điểm văn hoá, xã hội 17
Làng xóm 17
Nhà cửa 17
ẩm thực 18
Trang phục 19
Ngôn Ngữ 21
Tín ngưỡng 21
Quan hệ gia đình 23
Quan hệ dòng họ 24
Quan hệ xã hội 24
Chương 2 Các nghi thức truyền thống trong nghi lễ cấp Sắc 26
2.1 Các quy định trong lễ cấp sắc 26
2.1.1 Quy định đối với thầy cấp sắc 26
2.1.2 Quy định đối với người được cấp sắc 27
2.1.3 Quy định đối với lễ vật cúng tế, trang phục, thời gian, địa điểm của lễ cấp sắc 30
2.2 Các cấp bậc trong nghi lễ cấp sắc 33
2.3 Các nghi thức truyền thống trong lễ cấp sắc 38
Chương 3 Sự biến đổi trong các nghi thức truyền thống của Lễ Cấp Sắc của người Sán Dìu ở x∙ Giáp sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 55
Trang 63.1 Sự biến đổi trong các nghi thức truyền thống của lễ cấp sắc 55
3.2 Sự biến đổi trong trang phục, lễ vật, thời gian, địa điểm của lễ cấp sắc 56
3.3 Vai trò của lễ cấp Sắc trong đời sống cộng đồng của người Sán Dìu ở xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 59
3.4 Một số kiến nghị để bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của lễ cấp sắc 61
Kết luận 66
- Danh mục tài liệu tham khảo 68
- Danh sách người cung cấp tài liệu 70
- Phụ Lục 71
Trang 7
Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là một biểu hiện của bản sắc dân tộc, được hình thành trong môi
trường tự nhiên và xã hội nhất định, chính sự hình thành ấy đã tạo cho mỗi dân
tộc có những phong tục, tập quán, lối sống, những giá trị văn hóa khác nhau
Nói đến những giá trị văn hoá, chúng ta không thể không nhắc đến những
yếu tố thuộc về văn hoá tinh thần như: tín ngưỡng tôn giáo, lễ nghi, phong tục,
sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật, tất cả các yếu tố đó kết hợp với nhau tạo thành
một sắc thái văn hoá đậm đà màu sắc tộc người
Dân tộc Sán Dìu là một trong 54 dân tộc anh em cư trú trên đất nước Việt
Nam, với nhiều bản sắc văn hoá rất riêng và độc đáo, là một “mảnh tranh” trong
tổng thể bức tranh mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Cũng như
các dân tộc khác, dân tộc Sán Dìu hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều giá trị
văn hoá rất riêng của dân tộc mình, do đó việc nghiên cứu và tìm hiểu các giá trị
văn hoá truyền thống cần phải có những kế hoạch, phương hướng cụ thể Giới
hạn trong phạm vi đề tài, dưới sự gợi ý của Giảng viên hướng dẫn, tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu của mình là: “Tìm hiểu nghi lễ cấp sắc của dân tộc Sán Dìu ở xã
Giáp Sơn, Ngạn, Bắc Giang” Cũng có thể khi nhắc đến hai từ “cấp sắc” nhiều
người lại hình dung ra rằng sẽ giống với một số dân tộc khác như: Dao, Sán
Chay, Nùng Nhưng xem xét, tìm hiểu trong nội dung cấp sắc của mỗi dân tộc ta
lại thấy có sự khác nhau rõ rệt Lễ cấp sắc của dân tộc Sán Dìu có đặc điểm
riêng, phản ánh rõ bản sắc văn hoá tộc người
Chính vì vậy, việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống
trong nghi thức “cấp sắc” của người Sán Dìu là vấn đề cần được quan tâm một
cách đúng mức, làm sao để những giá trị truyền thống đó được gìn giữ theo đúng
nguyên bản của nó, đồng thời tiếp nhận những biến đổi tích cực để phù hợp với
điều kiện sống và xu hướng phát triển của xã hội
Trang 8Là sinh viên theo chuyên ngành văn hoá dân tộc thiểu số, tôi muốn tìm hiểu
và nghiên cứu nghi lễ cấp sắc của người Sán Dìu nhằm giới thiệu những nét đẹp
truyền thống của dân tộc mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Sán Dìu là một dân tộc còn lưu giữ được nhiều các giá trị văn hoá của dân
tộc mình Đây là đối tượng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu khoa
học Trong đó đã có những công trình có giá trị và được công bố như: Người Sán
Dìu ở Việt Nam, Ma Kháng Bằng, Nxb KHXH Hà Nội, 1983; Phong tục và nghi
lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam, Diệp Trung Bình, 2005;
Người Sán Dìu ở Bắc Giang, Ngô Văn Trụ, Nguyễn Xuân Cần, Nxb Văn hoá dân
tộc, 2003”
Ngoài ra, còn có các tác giả khác như trong cuốn: Văn hoá truyền thống dân
tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang, Nịnh Văn Độ, Nguyễn Phi Khanh,
Hoàng Thế Hùng, Nxb Văn hoá dân tộc, 2003; Bước đầu mô tả hệ thống ngữ âm
tiếng Sán Dìu ở Việt Nam, Nguyễn Thị Kim Thoa, Trường Đại học KHXH &
NV, 2007
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu kể trên, có tác giả đi sâu nghiên cứu
từng khía cạnh văn hoá như: hệ thống ngữ âm, lễ hội cổ truyền, phong tục, lễ
nghi hay dân ca người Sán Dìu Có tác giả nghiên cứu ở góc độ khái quát hơn
Riêng về lễ cấp sắc của người Sán Dìu thì chưa có công trình nghiên cứu nào đi
sâu
Qua những tác phẩm ấy, tuy chưa có một cái nhìn đầy đủ toàn cảnh bức tranh
về một lễ nghi, tôn giáo nhưng đó lại là những nguồn tài liệu tham khảo rất quý
báu, giúp cho người viết có cơ sở tin cậy để hoàn thành đề tài “Tìm hiểu nghi lễ
Cấp sắc của người Sán Dìu”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả nghi thức truyền thống và biến đổi trong lễ cấp sắc của người Sán
Dìu ở xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Trang 9Đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của lễ cấp
sắc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nghi lễ cấp sắc của người Sán Dìu bao gồm các nội
dung
Những quy định trong lễ cấp sắc; Các cấp bậc; Các nghi thức truyền
thống trong lễ cấp sắc
- Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu nghi lễ cấp sắc của người Sán Dìu truyền thống và biến đổi
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, người viết đã vận dụng
- Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng chủ nghĩa Mác -
Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét, đánh giá các vấn đề cần nghiên
Lễ Cấp sắc là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng
người Sán Dìu, có liên quan đến phong tục tập quán, dân tộc học, âm nhạc nên
phải nghiên cứu hệ thống và liên ngành
Ngoài ra còn sử dụng linh hoạt các thao tác kỹ thuật như: chụp ảnh, quan
sát, phân tích, mô tả để bài viết đạt kết quả tốt nhất
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần khẳng định tầm quan trọng của giá trị văn hoá truyền thống
trong lễ Cấp sắc của người Sán Dìu ở xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang Nhằm
bảo tồn và phát huy những gía trị văn hoá độc đáo, gíup cho người Sán Dìu nói
riêng và các dân tộc thiểu số nói chung có ý thức, nhìn nhận vấn đề một cách
Trang 10đúng đắn trong việc tiếp tục gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống của dân
tộc mình trước xu hướng phát triển của xã hội hiện nay
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, đề tài được chia làm ba
chương
Chương 1: Vài nét về người Sán Dìu và xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang
Chương 2: Các nghi thức truyền thống trong lễ cấp sắc
Chương 3: Sự biến đổi trong các nghi thức truyền thống của lễ cấp sắc
Trang 11
Chương 1 Vμi nét về người Sán Dìu vμ x∙ Giáp Sơn, huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của x∙ Giáp sơn, Lục ngạn, Bắc
giang
1.1.1 Vị trí địa lý
Giáp Sơn là xã miền núi của huyện Lục Ngạn, có tổng diện tích tự nhiên là
1866.24 ha Xã cách trung tâm huyện khoảng 6 km về phía tây Xã có vị trí ranh
giới được xác định như sau:
Phía bắc giáp xã Biên Sơn
Phía nam giáp xã Tân Quang
Phía đông giáp xã Phì Điền
Phía tây giáp xã Hồng Giang
Xã Giáp Sơn có đường quốc lộ 31 chạy qua chiều dài khoảng 5 km theo
hướng đông - nam nên có điều kiện thuận lợi trong đi lại và giao lưu kinh tế
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình
Địa hình của xã Giáp Sơn có nhiều đồi thấp lượn sóng dạng bát úp, không
bị chia cắt Nhìn chung, địa hình của xã tương đối bằng phẳng so với nhiều xã
khác của huyện Vì vậy, việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng cũng như bố trí quỹ đất
vào các mục đích sử dụng khác nhau trên địa bàn xã tương đối thuận lợi
- Khí hậu
Giáp sơn là một xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm
có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Nhiệt độ cao nhất tập trung vào tháng 5 và tháng 6; ngày nhiệt độ cao nhất
có thể lên tới 38 - 390C Nhiệt độ thấp nhất tập trung vào tháng 12 và tháng 1;
ngày thấp nhất có thể xuống 8 - 100C, kéo theo gió mùa đông bắc Nhiệt độ
trung bình của xã là 240C
Trang 12Độ ẩm cao nhất tập trung vào tháng 2, 3 và ngày có độ ẩm cao nhất là từ 95
- 100% Độ ẩm trung bình khoảng 80 - 85 % Lượng bốc hơi trung bình vào
khoảng 50 55 lượng mưa/ năm Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1500
-1550 giờ
Lượng mưa tập trung vào tháng 6, tháng 7 và có những trận mưa lên tới 200 -
300 mm Lượng mưa trung bình khoảng 1300 - 1350 mm/ năm
- Thuỷ Văn
Xã Giáp sơn có đập Hồ Đá Mài, đập Muối là nguồn cung cấp nước chủ yếu
phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân trong xã Nguồn nước mặt
còn tập trung ở ao, hồ nhỏ Nhìn chung, nguồn nước mặt của xã khá thuận lợi
cho việc tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp
- Thổ Nhưỡng
Đất đai của xã Giáp Sơn hầu hết phát triển trên nền đá mẹ là sa phiến và
thạch sét, là loại đá mẹ giàu dinh dưỡng Tầng đất mặt của đất đồi màu vàng hầu
hết là có độ dày khá tơi xốp và khá giàu dinh dưỡng, có khả năng giữ ẩm tốt cho
các loại đất
Khu đất đồi phía bắc (giáp khu trường bắn Biên Sơn) có độ dốc cao Trước đây
do bị xói mòn nhiều nền tầng đất mỏng, trơ sỏi đá xen kẽ các đồi thấp là đất lúa,
đất màu Nhìn chung đất đai của xã thuận lợi cho canh tác cây hàng năm và cây
lâu năm, đặc biệt là cây ăn quả như: vải, nhãn, hang, nơi đây còn mệnh danh là
đất vải
- Tài nguyên rừng
Giáp Sơn có 243.50 ha đất rừng, chiếm 13.05% tổng diện tích tự nhiên toàn
xã Công tác quản lý và bảo vệ rừng được quan tâm và tuyên truyền sâu rộng
trong nhân dân Hiện nay, rừng của xã đang phát triển tốt góp phần bảo vệ môi
trường sinh thái, bảo vệ rừng đầu nguồn, cải thiện cảnh quan đồi núi Đặc biệt,
tài nguyên rừng đã từng bước góp phần vào việc dịch chuyển cơ cấu cây trồng
theo hướng nông, lâm kết hợp tạo thêm việc làm, nâng cao mức sống của đồng
bào
Trang 131.2 Dân cư, văn hoá x∙ hội của x∙ Giáp sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang
- Dân cư, dân số
Xã Giáp Sơn có 1921 hộ, có 269 hộ thuộc hộ dân tộc thiểu số (theo số liệu
năm 2009), hiện nay có bẩy dân tộc anh em cùng chung sống bao gồm : Tày,
Nùng, Dao, Kinh, Sán Chí, Cao Lan, Sán Dìu Trong đó dân tộc Sán Dìu là dân
tộc chiếm phần lớn trong xã, chiếm tới 80% dân số của toàn xã
Mật độ dân số trung bình là 450 người/ km2 Số người trong độ tuổi lao động
lớn có 8216 người (trong đó nữ 415, nam 4101) cung cấp một nguồn lao động
dồi dào
- Về giáo dục
Công tác giáo dục ở các cấp học thường xuyên được xã quan tâm, cơ sở vật
chất cho việc dạy và học từng bước được đáp ứng yêu cầu Năm học 2008 -
2009, lượng học sinh ở các trường là: Trung học cơ sở 699 học sinh, ở 20 lớp
học; Tiểu học có 798 học sinh, ở 30 lớp học, mầm non là 334 học sinh
Chất lượng giáo dục, đào tạo duy trì ổn định sau tổng kết năm học, số học
sinh khá, giỏi tăng nhiều so với các năm trước trong đó con em người dân tộc
Sán Dìu chiếm tỷ lệ khá cao Xã Giáp Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu
học, số học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 100%
- Về Y Tế
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh
được quan tâm chỉ đạo thưc hiện, trong năm không có dịch bệnh xảy ra trên địa
bàn, hoạt động khám, chữa bệnh được duy trì và nâng cao chất lượng Hàng năm
xã đã tổ chức khám, chữa bệnh cho hơn 6000 lượt người đạt 88.34% kế hoạch
Công tác kiểm tra, quản lý, tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm được đẩy
mạnh Riêng năm 2009, xã đã tổ chức tuyên truyền và thực hiện tốt 02 đợt chiến
dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản; công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em
được quan tâm đạt kế hoạch đề ra là 23.6%.(1) [(1) Báo cáo cuối năm của UBND xã Giáp Sơn
năm 2009, tại kỳ họp thứ 15, khoá XVII ]
Trang 141.3 Đặc điểm kinh tế, x∙ hội của người Sán Dìu ở x∙ Giáp sơn, Lục ngạn,
Bắc giang.
1.3.1 Đặc điểm kinh tế
- Trồng trọt
Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người Sán Dìu Trong đó lúa
là cây lương thực đóng vai trò chủ đạo Ngoài ra, họ còn trồng các cây lương
thực, thực phẩm, hoa màu khác như: Ngô, khoai, sắn, đậu tương, lạc, vừng, củ từ,
củ mỡ, các loại cây hoa màu này đóng vai trò quan trọng bổ trợ và làm giàu,
phong phú cho bữa ăn hàng ngày của người Sán Dìu
Trong quá trình sản xuất, đồng bào Sán Dìu canh tác trên năm loại ruộng
khác nhau:
Ruộng lầy thụt (sec then)
Đây là loại ruộng ở trong thung lũng hẹp, do quá trình rửa trôi từ đồi bãi bồi
tụ lại, loại ruộng này đồng bào thường dùng để trồng lúa nếp là chính
Ruộng nước (then súi)
Là những chân ruộng ở các thung lũng rộng, bằng phẳng, loại ruộng này đồng
bào chủ yếu sử dụng để trồng lúa tẻ và trồng các loại hoa màu
Bãi (phô)
Đây là loại ruộng được đồng bào Sán Dìu quan tâm bởi đây là loại ruộng đất
tơi xốp, giàu dinh dưỡng rất thích hợp để trồng xen canh, luân canh các loại cây
lương thực, thực phẩm: ngô, khoai lang, sắn, mía
Ruộng bậc thang (cao then)
Là những chân ruộng được cải tạo từ những nấm đồi bằng thoải, loại ruộng
này thường cấy được một vụ lúa sớm, còn vụ sau để trồng hoa màu: lạc, đỗ…
Nương (phô)
Là loại ruộng trên đồi cao chủ yếu đồng bào dùng để trồng ngô, sắn, vừng,
bông, nếu trời thuận cho mưa thì trồng được lúa
Đồng bào Sán Dìu rất coi trọng tính thời vụ trong việc sản xuất nông nghiệp
Thường thì sau khi ăn tết Nguyên đán đồng thời cũng là kết thúc chu kỳ một
Trang 15năm lao động sản xuất, bắt đầu cho một chu kỳ sản xuất mới, một vụ mùa mới
Sau tết, đồng bào Sán Dìu bắt tay vào cày ải, làm nương, cấy lúa hay trồng hoa
màu Người Sán Dìu còn quan tâm đến năng suất và sản lượng cây trồng, do đó
mà vấn đề chọn đất và kỹ thuật chăm sóc là những yếu tố được coi trọng hàng
đầu, dựa vào đặc tính của từng loại cây trồng có phương thức canh tác cho hợp
lý
Lúa (Vố)
Là cây trồng đóng vai trò quan trọng chủ đạo trong đời sống của đồng bào
Sán Dìu Họ trồng cả lúa nếp (khai nô) và lúa tẻ (chem may), loại lúa tẻ để phục
vụ cho đời sống hàng ngày, còn lúa nếp thì đồng bào sử dụng chủ yếu trong việc
cúng tế
Công đoạn cấy lúa phải chuẩn bị nhiều: mạ thường được gieo, trước khi gieo
đồng bào ngâm thóc trong nước rồi ủ 2 - 3 ngày Khi thóc nảy mầm đem gieo,
khi thóc được gieo tầm khoảng 15 - 30 ngày thì nhổ mạ đem cấy Trong quá
trình đó đồng bào thường làm cỏ và bón thúc cho lúa hai lần đến lúc thu hoạch
lúa
Ngô (mác)
Đây là loại cây trồng cũng được đồng bào coi trọng Họ trồng chủ yếu là ngô
đỏ và ngô nếp Ngô được trồng ở bãi và thường được xen canh với lạc hoặc khoai
lang Ngô được chọn để làm giống cho vụ sao phải là những bắp ngô to, hạt mẩy
đều, không bị sâu và thường để các bắp ngô giống này trên gác bếp chống mối
mọt
Khoai Lang (hống sí)
Đây là loại cây lương thực được đồng bào Sán Dìu trồng nhiều để lấy củ, lấy
dây làm thức ăn cho người và gia súc Khoai lang thường được đồng bào trồng
vào hai vụ: Vụ mùa (tháng 5) và vụ đông (tháng 9, tháng 10), khoai lang được
trồng nhiều vào tháng 5, bởi đây là thời điểm thích hợp để trồng do có mưa Họ
thường trồng xen khoai lang với các loại hoa màu ở ngoài bãi hay trên nương
Trang 16Đồng bào chủ yếu trồng loại khoai lang đỏ, bởi đây là loại khoai lang rất sai củ,
nhiều bột, cây chịu hạn tốt, dễ trồng
Sắn (môc suý)
Loại cây này chủ yếu được đồng bào trồng trên các nương đồi, có độ dốc
lớn Họ trồng chủ yếu là sắn trắng và sắn đỏ Sắn được đồng bào trồng vào tháng
Giêng, sau khi ăn tết xong
Củ từ, của mỡ (thém suý, cu mở)
Được trồng trên các nương đồi, trồng vào tháng hai hàng năm trên các đám
nương đã trở nên cằn cỗi sau khi đã được trồng lúa, trồng ngô và lạc Loại củ này
sử dụng để nấu canh, luộc để ăn, đặc biệt loại củ này còn được nấu với gạo thành
cháo là món ăn đặc sản của người Sán Dìu
Lạc (thi thói)
Đây là loại cây thực phẩm trồng ở ruộng rộc, ruộng cao và trên nương
Hàng năm, lạc trồng hai vụ: Vụ mùa trồng từ tháng 1- 5 tháng 6 được thu hoạch;
Vụ chiêm được trồng từ tháng 5 đến cuối tháng 7, đầu tháng 8 thu hoạch Đây là
loại thực phẩm được người Sán Dìu ưa chuộng trong bữa ăn hàng ngày, hay trao
đổi buôn bán với các loại thực phẩm khác
Đỗ tương (tương thói)
Trồng trên các ruộng cao, nương đồi, ruộng Đỗ tương cũng trồng hai vụ/
năm Vụ mùa từ tháng 5 đến tháng 7; Vụ chiêm từ tháng 1 đến tháng 4, người
Sán Dìu thường trồng đỗ tương xen lẫn với cà chua, ngô, sản phẩm này được sử
dụng làm tương, nấu canh
Nói tóm lại, đối với đồng bào Sán Dìu nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ
yếu của họ Ngoài việc trồng các loại cây lương thực chủ đạo, họ còn trồng các
loại cây hoa màu phần lớn để phục vụ đời sống hàng ngày của đồng bào
- Chăn Nuôi
Cùng với trồng trọt người Sán Dìu còn chú trọng đến vấn đề chăn nuôi, đặc
biệt là chăn nuôi đại gia súc và các loại gia cầm Sở dĩ họ chọn nuôi trâu vì trâu
là loại phàm ăn, sức đề kháng tốt, lại thích hợp với điều kiện khí hậu ẩm nhiệt
Trang 17đới gió mùa Đặc biệt hơn, trâu ngoài việc đồng bào sử dụng sức kéo còn được
sử dụng trong các đám chay, lễ cúng tế
Ngoài ra, đồng bào còn nuôi lợn, gà, vịt, chủ yếu để phục vụ trong cuộc sống
hàng ngày để cải thiện bữa ăn, đồng thời là để phục vụ trong các lễ nghi chu kỳ
đời sống con người: sinh đẻ, cưới xin, ma chay
- Nghề thủ công
Người Sán Dìu ở xã Giáp Sơn, tuy rằng sống bằng nghề sản xuất nông
nghiệp là chính song bên cạnh đó để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày đồng bào
cũng biết làm một số nghề thủ công như: đan lát, nghề rèn, dệt vải, đa số các
nghề này thường được làm lúc nông nhàn chủ yếu là phục vụ cuộc sống gia đình
chứ không mang tính chất trao đổi, mua bán
Nghề thêu dệt: (chếch bụ)
Trước đây, gia đình người Sán Dìu nào cũng có một mảnh nương để trồng
bông Thời điểm trồng bông thích hợp nhất là sau tết Thanh Minh Giống bông
được trồng nhiều là loại bông đa quả nhỏ nhưng sợi bông trắng ít bị sâu bệnh
Sau năm tháng kể từ ngày gieo hạt, bông được tách khỏi vỏ phơi khô Bông phơi
càng được nắng càng trắng, khi bông đã khô đồng bào dùng cán bông gồm hai
con lăn bằng gỗ gắn với tay quay để tách bông ra khỏi hạt bông Bông tơi xốp
được vắt thành từng con bông dài chừng gang tay Sau đó chúng được xe thành
sợi bằng khung quay sợi Những cuộn sợi nhỏ đều được chọn riêng để dệt áo,
những sợi to, thô được dùng để dệt vỏ chăn Vào những lúc nhàn dỗi đồng bào
đem sợi ra nhuộm chàm hoặc nâu tuỳ theo sở thích và mục đích sử dụng để dệt
thành quần áo, váy hay vỏ chăn phục vụ cho cuộc sống của đồng bào
Nghề đan lát (chếch nha)
Đồng bào Sán Dìu chủ yếu sử dụng các loại nguyên liệu ở trong tự nhiên
như: tre, vầu, nứa, mây, để làm ra các loại sản phẩm: dần, sàng, nong, các loại
bồ, cót, đơm, chủ yếu là để phục vụ cho cuộc sống đồng thời còn có thể trao
đổi, mua bán bởi các sản phẩm này có giá trị thẩm mỹ và công dụng cao mà
nguyên liệu thì sẵn có, rất phong phú
Trang 18- Khai thác lâm thổ sản
Do địa bàn sinh sống của đồng bào Sán Dìu gần các khu rừng cho nên vào
những lúc nhàn rỗi, đồng bào thường vào rừng khai thác gỗ, tre, nứa, mây về xây
dựng sửa chữa nhà cửa, đóng các vật dụng trong gia đình, các công cụ lao động
sản xuất và còn đem trao đổi mua bán tạo nguồn thu nhập cho gia đình Tuy
nhiên đây chỉ là nghề phụ bên cạnh nghề chính là sản xuất nông nghiệp
1.3.2 Đặc điểm văn hoá, x∙ hội
- Làng Xóm
Người Sán Dìu thường lập làng bản ở những gò đất bằng phẳng, những
thung lũng nhỏ hoặc dưới chân các quả đồi thấp Làng bản thường dựa vào đồi
và trước mặt nhìn thẳng ra cánh đồng
Trong bản có nhà ở, vườn, giếng nước, đường giao thông, cánh đồng, con suối,
con sông Thường mỗi thôn bản của người Sán Dìu có đình hoặc miếu riêng, họ
không có khu nghĩa địa riêng
Người Sán Dìu sống thành những chòm xóm nhỏ có từ năm đến mười nóc
nhà cửa phân bố rải rác và thường cách xa nhau, giao thông đi lại khó khăn, địa
hình phức tạp
- Nhà cửa
Nhà cửa người Sán Dìu chủ yếu là trình tường rất đơn giản Kết cấu không
phức tạp vì kèo thường có ba cột, kèo đơn nhỏ, gỗ hoặc tre nguyên cây không
đẽo, không bào, xà và kèo gác lên đầu cột rồi được buộc lại với nhau bằng lạt và
mái nhà thường được lợp bằng gianh hoặc cỏ tranh, có khi cả bằng ngói máng
Nhà thường có ba gian, hai gian hồi nhô ra hoặc một gian hồi nhô ra và tạo thành
hiên
Công việc xây nhà phải chuẩn bị lâu dài, các nguyên liệu làm nhà chủ yếu
lấy từ trong tự nhiên: gỗ, tre, nứa, vầu, cỏ tranh, rất đơn giản Công việc đầu tiên
để làm ngôi nhà mới là phải tiến hành xem và chọn đất, người Sán Dìu ở xã Giáp
Sơn có tục “bói thóc” để chọn đất dựng nhà mới Khi họ định chọn một địa điểm
nào đó, họ đều phải phát quang và san phẳng một khoảng đất nhỏ sau đó nện lèn
Trang 19cho nhẵn và phẳng, rồi bỏ bẩy hạt thóc vào đó, úp một cái bát bên trên và họ sẽ
chờ qua một đêm để xem báo mộng vào người đi chọn đất Đêm hôm đó người
chọn đất sẽ mộng thấy điều lành hay điều dữ của công việc làm nhà Sáng hôm
sau người đó dậy và đi lật bát lên xem thóc còn nguyên vẹn hay bị sự xê dịch
Nếu những hạt thóc vẫn ở nguyên vị trí ban đầu, thì đó là điều lành, mảnh đất có
thể dựng nhà được Còn nếu mở bát thấy những hạt thóc đó bị xê dịch đi thì họ
sẽ không dựng nhà
Khi đã chọn được đất, họ còn phải tìm phương hướng hợp với chủ nhà, chọn
được năm làm nhà hợp tuổi, tránh những năm tuổi không hợp (con số 1, 3, 6, 8)
Nếu mà người chủ nhà không được tuổi làm nhà thì họ phải làm thủ tục mượn
tuổi của người thân trong gia đình
Những công việc cơ bản trên phải được tiến hành trước đó Sau đó người chủ
nhà đi đến nhà thầy cúng, nhờ thầy xem và chọn cho ngày giờ để “phạt mộc”
(hay còn gọi là cúng thổ công) Theo phong tục cổ truyền của người Sán Dìu,
dựng nhà vào nửa đêm hoặc gần sáng và bắt buộc phải dựng xong vì chính đặt
được nóc lên, sau đó tiếp tục dựng các vì còn lại và hoàn tất các công việc Theo
giải thích làm như thế gia đình mới được yên ấm, no đủ
Đồng bào Sán Dìu chọn thời điểm làm nhà vào cuối năm âm lịch và họ rất kỵ
làm và dựng nhà mới vào đầu năm, bởi vì họ cho rằng dựng nhà mới vào đầu
năm hay có sấm sét thì mọi điều không hay sẽ ập đến gia đình nhà họ nên họ rất
kiêng làm nhà đầu năm
- ẩ m thực
Đối với dân tộc Sán Dìu, ngoài ăn cơm còn ăn cháo bởi đây là tập quán
truyền thống của dân tộc chứ không phải do thiếu đói mà phải nấu cháo ăn thay
cơm
Trong bữa ăn hàng ngày của người Sán Dìu rất đơn giản, đạm bạc, họ ăn cơm tẻ,
nấu canh bằng các loại rau trồng được như: rau muống, rau cải, su hào, bắp cải
cà chua, các loại củ Các món ăn được chế biến đơn giản, thường luộc hoặc xào,
Trang 20nấu canh Ngoài ra họ còn có các loại thịt đậu, cá nhưng không nhiều, đa phần
họ ăn nhiều rau
Người Sán Dìu thường ăn hai bữa chính và hai đến ba bữa phụ trong một
ngày; bữa tối và bữa trưa là hai bữa chính, còn các bữa phụ thì họ ăn khi đi làm
đồng áng về, họ thường ăn cháo hay ăn các loại củ như: khoai lang, khoai sọ,
sắn
Trong các ngày lễ tết thì món ăn cũng thịnh soạn hơn Điều đặc biệt là trong dịp
tết Nguyên đán, các gia đình ăn chay vào sáng mùng Một và chủ yếu dùng món
cháo để ăn, cháo hôm tết là loại cháo bột nấu với thịt lợn nạc băm nhỏ trộn với
hành, rau thơm và các loại gia vị
Trong các dịp đám tang, đám cưới, lễ cấp sắc hoặc Tết Đồng bào thường mổ
nhiều lợn, do đó họ thường bảo quản thịt đó bằng cách muối để ăn dần
Người Sán Dìu thường làm thịt thính và thịt muối, đây là cách bảo quản thịt được
lâu, dùng dần trong năm Đối với các loại thịt thú rừng hay đánh bắt được nhiều
cá, ăn không hết họ thường sấy khô và để trên gác bếp dùng dần
Các loại gia vị người Sán Dìu thường dùng là: gừng, giềng, ớt, tỏi, hạt dổi, mẻ,
các lá rau thơm như: rau húng chó, mùi tàu
- Về thức uống
Người Sán Dìu thường nấu lá vối, sa nhân, lá chè và các loại lá rừng khác
Đặc biệt là nước chè là loại nước được đồng bào sử dụng phổ biến nhất trong đời
sống hàng ngày Ngoài ra, họ còn sử dụng cả rượu, chủ yếu là rượu tự cất và
rượu cái làm bằng gạo nếp Men rượu là loại lá cây rừng hoặc làm bằng các vị
thuốc bắc mua ở chợ Và loại rượu cất được đồng bào sử dụng phổ biến để đãi
khách, loại rượu này họ thường ăn cả bã
- Trang Phục
Nhìn chung trang phục truyền thống rất đơn giản, đơn giản về cả cách may,
kiểu dáng, màu sắc và cách trang trí thêu thùa
Trang phục của nam giới
Trang 21Đó là loại áo năm thân, cổ cao, cài khuy bên phải áo dài quá gối, ống tay
hẹp, loại áo này được sử dụng trong các dịp lễ
Còn trong lao động, mặc hàng ngày là loại áo ngắn, năm thân, màu nâu hoặc
màu chàm bên trong của thân áo may một túi để đựng thuốc lào hay tiền bạc
Đàn ông Sán Dìu mặc quần trắng hoặc quần nâu, cắt theo kiểu chân què, cạp lá
toạ, đầu để trần hay vấn khăn đầu rìu bằng vuông vải màu chàm
Trang phục của nữ giới
Bộ nữ phục bao gồm: khăn đội đầu, áo dài, áo ngắn, yếm, váy, thắt lưng, xà
cạp Yếm của phụ nữ Sán Dìu màu nâu, áo dài và áo ngắn thường được mặc
thành cặp nhưng cắt theo một kiểu chỉ có khác độ dài ngắn của áo Đây là loại áo
“tứ thân” áo ngắn mặc bên trong có màu nâu, cổ cao có ba khuy cài và hai túi
nhỏ ở hai bên thân áo, phần gần gấu áo áo dài được may quá gối và chia làm
hai nửa Nửa trên màu nâu nửa dưới màu đen, cả hai loại áo này đều được cắt
theo kiểu cổ cao 1cm, nẹp trơn, không đính khuy
Trong cách mặc áo dài, người Sán Dìu có quy định riêng, phân biệt giữa
người già và người trẻ Người già thì mặc lấy vạt áo bên trái vắt sang bên phải rồi
buông thõng, không thắt nút Người trẻ thì lấy vạt áo bên phải vắt sang bên trái
ngang lưng thường thắt bao sồi hoặc thắt lưng vải màu Ngoài ra, phụ nữ Sán Dìu
còn mặc váy - là một trong những đặc trưng độc đáo của người Sán Dìu
Kiểu váy màu đen không khâu, gồm hai hoặc bốn mảnh đính trên một cạp
Mảnh nọ chờm lên mảnh kia chừng 15 cm Thân váy màu đen, phụ nữ Sán Dìu
thường quấn xà cạp bằng vải màu trắng hoặc màu nâu, đeo dép quai ngang, guốc
guộc
Đồ trang sức bao gồm: khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn, xà tích bằng bạc
hoặc đồng Điều đặc biệt là họ thường có túi được trầu hình múi bưởi, được may
trang trí thêu thùa rất công phu, đây là vật làm duyên của phụ nữ Sán Dìu
Trang phục của thầy cúng
áo thầy cúng được thêu thùa rất cầu kỳ, áo dài 1.2m được khâu bằng tay
mầu chàm thẫm, phía trước để mở ở giữa bụng Thân sau khâu liền nên áo không
Trang 22có ống tay Nẹp áo là một miếng vải trắng rộng 1.5 cm được kéo dài từ cổ xuống
tận gấu áo Gấu áo là một miếng vải trắng rộng 1,5 cm được nối ở dưới thân áo,
hai bên vai áo cũng được ghép bằng miếng vải trắng, áo có hai dây buộc ở hai
bên vạt trước Cả thân trước và thân sau đều được thêu thùa dầy đặc những chữ
Hán cổ và các hoạ tiết hình người cưỡi chim, cưỡi ngựa, đó là những hình tượng
về vũ trụ, các vì sao, các tiết âm dương ngũ hành
- Ngôn ngữ
Ngôn ngữ chính của dân tộc Sán Dìu là tiếng Sán Dìu được sử dụng trong
nội tộc cộng đồng tộc người, gia đình và làng xóm Người Sán Dìu dùng chữ Hán
đọc theo âm Sán Dìu (Hán - Sán Dìu), còn lại chữ viết của dân tộc Sán Dìu cũng
được vay mượn từ chữ Hán, tạo nên nét tương đồng giữa hai ngôn ngữ Đồng bào
chỉ mượn chữ Hán và đọc theo phiên âm của tiếng Sán Dìu, tạo nên nét độc đáo
riêng biệt mang nét đặc trưng riêng trong ngôn ngữ của dân tộc Sán Dìu
Ngày nay, để phổ cập cho tất cả mọi người, người Sán Dìu đã sử dụng hệ
thống chữ cái la tinh để ghi lại tiếng nói của mình cho bà con dễ tiếp thu Ngôn
ngữ của người Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán Tạng Việc vận dụng nét bút và nguyên
tắc biểu âm, biểu ý của chữ Hán để tạo ra chữ viết cho dân tộc mình Ngoài tiếng
nói của dân tộc mình người Sán Dìu cong sử dụng tiếng phổ thông để giao tiếp
với các dân tộc láng giềng, trong trao đổi buôn bán Hay nói cách khác, dân tộc
Sán Dìu sử dụng “song ngữ” trong đời sống hàng ngày
- Tín ngưỡng
Người Sán Dìu có một thế giới phong phú Họ quan niệm con người có linh
hồn và thế giới có ba tầng: Thiên, Trần, Âm Lý do có quan niệm này là do
người Sán Dìu chưa làm chủ được tự nhiên và có những hiện tượng không thể
giải thích được thì niềm tim vào thánh thần và ma quỷ chi phối đời sống tâm linh
một cách sâu sắc và mạnh mẽ Từ niềm tin ấy các tập tục thờ cúng đã được hình
thành như một phương thuốc hữu hiệu nhất để xoa dịu tinh thần Với người Sán
Dìu các tập tục thờ cúng, các tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thường xuyên
với các nghi lễ độc đáo
Trang 23Cũng như nhiều tộc người khác, người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên là chính, đồng
thời đồng bào còn thờ Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, ngoài ra đồng bào còn
tin vào nhiều thứ thần và các loại ma
Thờ cúng tổ tiên (nam chù công)(2)
Mỗi gia đình người Sán Dìu đều có một bàn thờ được đặt sát tường chính
gian giữa, gian trung tâm của ngôi nhà Thường ban thờ được kê đặt trên một tủ
ly sát tường Ngoài ra có gia đình còn đặt bát hương bên ngoại trên ban thờ tổ
tiên Thờ cúng tổ tiên là một nghi lễ được cúng vào các dịp lễ, tuần tiết, lễ cúng
có cả lễ chay, lễ mặn, nước cúng không phải là nước trắng mà là nước chè
Thờ Thần Phật (nam hụt)(3)
Người Sán Dìu thờ cả phật bà quan âm tại nhà, coi phật như một thứ ma rất
linh thiêng, có nhiều phép thần thông biến hoá, có lòng độ lượng từ bi cao cả,
luôn luôn cứu giúp người gặp hoạn nạn, khó khăn Bàn thờ phật Quan Âm được
đặt ở một nơi riêng biệt trang nghiêm, bên trên có một bát hương Những gia
đình thờ phật đều hạn chế sát sinh, kiêng không ăn thịt trâu, thịt chó
Thờ Táo Quân (chao cun cùi)(4)
Bát hương táo quân được đồng bào đặt chung với bàn thờ tổ tiên nhưng đặt
thấp hơn bát hương tổ tiên một cấp Ngày cúng Táo Quân là ngày 23 tháng Chạp
Thờ Thổ Công (thù thi cống)(5)
Thổ công không có ban thờ mà chỉ có một ống hương bằng tre để ở dưới
gầm bàn thờ tổ tiên Thờ thổ công đồng nghĩa với vị thần trông nom chăm sóc
thành viên trong gia đình cũng như các loài vật nuôi trong gia đình
Thờ thần giữ cửa (món sếnh)(6)
Không có ban thờ nhưng có dặt một ống tre để cắm hương đặt ở cửa chính ra
vào bên tay phải ( nếu nhìn từ ngoài vào ) Đồng bào thờ như vậy với ý nghĩa là
thần giữ cửa sẽ không để ma tà, quỷ dữ xâm nhập vào nhà gây hại cho gia đình
Thờ Mụ (nam mu)(7)
Trang 24Chỗ đặt bàn thờ mụ là một phên tre, cài đặt ngay đầu giường của sản phụ bên
trên có đặt mộ bát hương Khi mới sinh làm bàn thờ mụ và cúng cho đến khi
đứa trẻ lên ba tuổi mới thôi
Đồng bào Sán Dìu quan niệm rằng, bà mụ đã nặn ra người, đồng thời cũng có
nhiệm vụ và bảo vệ chăm sóc cho trẻ nhỏ; mỗi đứa trẻ ở người Sán Dìu đều được
mọi người quan tâm cho đến khi trưởng thành
Ngoài ra, đồng bào Sán Dìu nơi đây còn thờ cúng Thần cúng thần nông, thần
Hoàng làng và thờ cúng Tổ Sư (đối với người theo nghề thầy cúng), thờ Tam
Thanh
Đồng bào Sán Dìu có quan niệm về ma là sự bình đẳng giữa thần thánh, ma quỷ
Trong thế giới thần linh, nên ma bao hàm một nghĩa rộng nhằm chỉ tất cả các
Thần thánh, ma quỷ có mặt trên trời, trên mặt đất hay dưới nước Tất cả các lực
lượng siêu nhiên được đồng bào chia thành hai loại: ma lành và ma dữ
Ma lành thường bảo vệ con người và gia súc, mùa màng, giúp đỡ con người tránh
khỏi mọi tai ương khó khăn trong cuộc sống Ma lành được thờ cúng ở nhà và
cũngđược thờ cúng ở Đình, Miếu; Ma dữ là ma luôn làm hại con người, đó là ma
rừng, ma chết đường chết chợ, chết bất đắc kỳ tử
- Quan hệ gia đình
Người Sán Dìu theo gia đình phụ quyền, trong đó người cha đứng đầu là có
trách nhiệm điều hành mọi công việc, về đối nhân xử thế trong gia đình, dòng họ
và làng xóm Còn người vợ là người giúp việc đắc lực cho chồng nhất là trong
vấn đề nội trợ, nuôi dạy con cái Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội ở người
Sán Dìu là sự xuất hiện những gia đình nhỏ tách hẳn ra khỏi những gia đình lớn
tuy nhiên, họ vẫn có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ, ông bà lúc về già Vị trí
của người già được coi trọng
Từ xưa sự phân công lao động trong gia đình người Sán Dìu đã rất rõ ràng
Người phụ nữ đảm nhiệm các công việc nội trợ là chính ngoài ra còn chăm sóc
con cái Còn người đàn ông điều hành sản xuất và quyết định mọi việc lớn trong
gia đình Do ảnh hưởng của chế độ phụ quyền trong gia đình người Sán Dìu có tư
Trang 25tưởng trọng nam khinh nữ Trước đây, con gái không được đi học, không được
tham gia tất cả các công việc chung thuộc về các lĩnh vực xã hội Con gái và con
dâu không được đến gần nơi thờ cúng Con dâu khi về nhà chồng không được ăn
cùng mâm, ngồi cùng chiếu hoặc đưa bất cứ một vật gì cho bố chồng hay anh
chồng Muốn đưa con nhỏ cho bố chồng hay anh chồng, người con dâu phải đặt
đứa bé xuống chiếu để bố hay anh chồng ra đón Do đó người Sán Dìu đẻ càng
nhiều con trai thì càng tốt, càng được coi trọng
Trong gia đình, việc cha mẹ đánh chửi con cái ít xảy ra, con cái lớn lên được
cha mẹ bảo ban dạy dỗ Con trai được cha chỉ dẫn làm những công việc của đàn
ông và những công việc nặng nhọc như: Phát nương, săn bắn, hướng dẫn cách
làm ăn, cách lo toan điều hành công việc Còn con gái lớn lên được mẹ dậy làm
những công việc nội trợ, hay đi làm đồng, chăm sóc ruộng nương
Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước các tập tục trong gia đình
người Sán Dìu có phần giảm nhẹ hơn, vị thế của người phụ nữ được coi trọng
hơn, vợ chồng bình đẳng, con cái yêu thương nhau Mọi người cùng nhau sản
xuất, tài sản là chung
- Quan hệ dòng họ
Người Sán Dìu coi trọng dòng họ Nếu một người vì nghèo khổ, loạn lạc
phải tha hương cầu thực đến một nơi đất lạ thì việc đầu tiên là họ phải tìm cho
được người cùng họ, cùng quê hương xứ sở và có thờ chung một ông tổ
Với người Sán Dìu nhờ tên đệm chặt chẽ mà họ nhận ra trong thứ bậc là anh em
hay ông cháu, chú cháu Nếu đã là người trong cùng một họ thì tuỳ theo quan hệ
xa gần thì họ sẽ phải có trách nhiệm gánh đỡ, gây dựng cho nhau, giúp đỡ đùm
bọc lẫn nhau
- Quan hệ xã hội
Đồng bào Sán Dìu có ý thức cộng đồng cao Những người già có uy tín
được bầu làm già làng hay trưởng bản, có quyền, uy lực Trong làng bản ít xảy ra
trường hợp xung đột lớn Họ luôn đùm bọc giúp đỡ nhau, ví như trong làng (bản)
một gia đình nào đó có công việc gì thì các thành viên trong làng sẽ tự đến giúp
Trang 26đỡ nhau mà không cần phải bảo Người Sán Dìu sống với nhau đoàn kết có
khuôn phép riêng
Trang 27Chương 2 Các nghi thức truyền thống trong lễ cấp sắc
Dân tộc Sán Dìu có một cuộc sống sinh hoạt văn hoá tinh thần phong phú,
mang đặc trưng riêng biệt của dân tộc mình Trong cuộc sống người Sán Dìu
thường tin vào số mệnh, tin vào thần linh, ma tà và quỷ dữ Xuất phát từ quan
niệm và nhận thức nguyên sơ về thế giới và vũ trụ, người Sán Dìu cho rằng con
người đang sốngkhông những bị chi phối bởi các mối quan hệ trong cộng đồng
mà còn chịu sự chi phối của thế giới thần linh Do vậy, để cuộc sống hàng ngày
bình yên vô sự về mặt tinh thần người Sán Dìu thường có tập quán thờ cúng
Trong đó đội ngũ thầy cúng là những người hiểu biết về lễ nghĩa, được mọi
người trong cộng đồng tôn trọng và kính nể
Trong cộng đồng người Sán Dìu, những người làm nghề thầy cúng là những
người đại diện, là trung gian làm cầu nối để liên hệ giữa thế giới thần linh, ma
quỷ với dương gian, nơi con người đang sinh sống Do vậy để có thể hành nghề
thầy cúng thì phải trải qua các thủ tục bắt buộc, các quy định chặt chẽ Đặc biệt
là nghi thức cấp sắc - có trải qua cấp sắc thì mới có thể trở thành người thầy cúng
thực thụ
2.1 Các quy định trong lễ cấp sắc
Qua cuộc đi khảo sát ở xã Giáp Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang, theo lời kể của
thầy cúng Lục Văn An và một số thầy cúng khác trong xã Muốn trở thành thầy
cúng và được đứng trong hàng ngũ của tầng lớp thầy cúng thì điều bắt buộc là
phải trải qua các thủ tục, các quy định bắt buộc của lễ Cấp sắc
2.1.1 Quy định đối với thầy cấp sắc
Điều quan trọng đối với thầy cấp sắc phải là người thầy đã qua lễ cấp sắc, đã
có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề thầy cúng, đặc biệt là họ đã có danh tiếng,
uy tín cao trong cộng đồng và đã đạt ở chức Thầy cả
Người thầy cấp sắc phải là người hiểu sâu biết rộng, hiểu biết lễ nghĩa, có uy tín
đức độ, được cộng đồng tín nhiệm, đã có gia đình ổn định, hiểu biết tất cả các
Trang 28nghi lễ, phong tục tập quán của cộng đồng mình Có học thức biết sử dụng thành
thạo chữ Hán, chữ Nôm
Người thầy cấp sắc phải là nam giới, đồng thời người ở cương vị đi cấp sắc
phải là người có chức bằng hoặc cao hơn người được cấp sắc Tuyệt đối không có
trường hợp thầy đi cấp sắc lại có cấp bậc thấp hơn người cuẩn bị cấp sắc Người
cấp sắc phải là người dạy cho mình trước đó chứ không phải là học thầy này lại
do thầy khác cấp sắc cho mình được
Người ở cương vị cấp sắc luôn được đệ tử của mình ghi nhớ công ơn và mỗi lần
người đệ tử đi cúng đều nhắc đến tên người thầy cấp sắc cho mình
Người thầy đi cấp sắc phải tuyệt đối kiêng một số hành vi sau: Khi đi cúng
tuyệt đối không được sát sinh, không thiến gà, không được ăn thịt chó, không
kiêng người chết sợ bị uế tạp thánh thần không phù hộ cho Thầy cấp sắc phải là
người đã được cấp sắc, phải trải qua các quy định của một thầy cúng, trải qua lễ
Đại Phan hay đã gia nhập tín đồ của Đạo giáo Thầy cấp sắc phải trải qua lễ Đại
Phan để được Ngọc Hoàng công nhận và cấp cho một tờ sớ điệp cần thiết để làm
cơ sở cho việc cấp sắc, người thầy cấp sắc tuyệt đối không thể bỏ qua nguyên tắc
này, họ được cấp đầy đủ các ấn để hành nghề
Thầy cấp sắc phải tiến hành nghi lễ cấp sắc cho đệ tử của mình theo đúng các
quy định trong lễ cấp sắc
2.1.2 Quy định đối với người được cấp sắc
Người muốn được cấp sắc phải trải qua những thủ tục bắt buộc Trước hết
người được cấp sắc phải đi học chữ Hán, chữ Nôm để biết đọc và viết trong khi
hành nghề, phải là người có học thức, được mọi người trong cộng đồng tín nhiệm
và đã có quá trình đi theo học và giúp đỡ thầy của mình hành lễ tương đối thành
thạo
Người muốn được cấp sắc thì gia đình người này phải là gia đình nề nếp, gia
phong, sống hoà thuận, có uy tín với bản thân cộng đồng Đồng thời về mặt tâm
linh thì người được cấp sắc ít nhiều phải có niềm tin vào đấng Ngọc Hoàng, thần
Trang 29linh tối cao, tin vào sức mạnh siêu nhiên, thần thánh để diệt trừ ma, triệt phá quỷ
đem lại cuộc sống yên bình cho cộng đồng
Người được cấp sắc phải trải qua nghi thức “gia nhập Đạo giáo” hay còn gọi là
lễ Đại Phan Có thể coi giai đoạn này là giai đoạn đầu bắt buộc của người được
cấp sắc, có nghĩa là:
Người muốn được cấp sắc phải tiến hành “trình làng”, gia nhập vào hàng
ngũ những người làm thầy cúng Phải tổ chức lễ Đại Phan nhằm củng cố, duy trì
sự cúng bái và mọi thủ tục hành lễ của tầng lớp thầy cúng trong cộng đồng người
Sán Dìu, bên cạnh đó còn nhằm mục đích tiễn trừ ma ác quỷ, bảo vệ cuộc sống,
sự bình yên của cộng đồng
Việc tiến hành lễ Đại Phan không quy định cụ thể về thời gian, mà phải căn
cứ vào số người có nhu cầu mua sớ điệp, muốn được cấp sắc để hành nghề thầy
cúng Tổ chức lễ Đại Phan tương đối tốn kém cả về thời gian, công sức lẫn tiền
của, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt trong cộng đồng Lễ Đại Phan do
một thầy cúng cao tay đứng đầu chủ trì và điều hành công việc Họ chọn một
khu đất cao ráo, bằng phẳng, phong quang sạch sẽ ở ngay rìa bản để làm địa
điểm tổ chức lễ Đại Phan Những người tham gia lễ đều phải dựng lều lán cho vị
thầy cúng ngự, để thầy cúng có điều kiện thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của
mình là hướng dẫn việc cúng lễ và viết sớ điệp Để tổ chức lễ Đại Phan được chặt
chẽ, đúng phong tục nghi thức và trang trọng, trong buổi lễ này nhất thiết phải
thành lập một ban tổ chức gồm 10 - 15 người, nhiệm vụ của từng người được
phân công rõ ràng, người thì viết sớ điệp, người thì lo việc bếp núc, người Thầy
Cả là người điều hành công việc trong buổi lễ Mọi người tham gia lễ Đại Phan
bắt buộc phải mua sớ điệp và nộp ít tiền lệ phí (gọi là tiền đóng góp lệ phí)
Khi đã chọ được ngày chính thức tổ chức lễ Đại Phan, mọi người dựng một cây
phướn bằng tre, bên trên có buộc một tấm vải dài hoặc giấy đỏ, khổ rộng khoảng
35 cm, trên tấm vải hay trên giấy có đề hàng chữ Nho có nội dung là “trừ tà ma
quỷ dữ” Ngoài ra còn dùng một chiếc thang bằng tre hoặc bằng gỗ có 12 bậc
(trên 12 bậc thang đó, mỗi bậc là một lưỡi dao sắc với ý nghĩa tượng trưng cho
Trang 3012 tầng trời) để người thầy cúng đọc thầy chú làm bùa phép bước lên đó Dưới
đất trải một đường than hồng dài khoảng 8 mét, nhằm mục đích để rửa linh hồn
cho những người chết oan, chết đường, chết chợ Trước khi đi vào lễ chính thức,
thầy cúng tiến hành làm bùa phép để nhốt giữ tất cả mọi tà ma, quỷ quái không
cho chúng tự do hoạt động gây rối, quậy phá làm hại mọi người ảnh hưởng tới
cuộc hành lễ vào một chiếc bát úp
Trong khi tiến hành lễ Đại phan, nếu gia đình nào có nhu cầu làm lễ Kỳ yên,
trừ tà ma thì thầy cúng sẽ làm cho luôn một thể, mong cho mọi người bình yên
khoẻ mạnh, mọi vật sinh sôi nảy nở Chính vì những nội dung của lễ Đại phan
như vậy nên thường được mọi người nhiệt tình ủng hộ
Mọi nghi thức thủ tục của lễ Đại phan đều được tiến hành ở trong lán đã
dựng trước đó Họ thắp hương, thắp đèn dầu hoả, lễ vật bày cúng tế có xôi trắng,
thịt gà, thịt lợn, chuối cắt từng quả, cam quýt, kẹo, bánh bích quy, rượu, chè
Trong khi cúng các thầy cúng đọc sớ điệp Còn thầy cả cầm xúc xắc, tù và,
mặc áo thầy cúng nhảy múa liên tục Khi lễ Đại phan được tổ chức xong, ban tổ
chức mổ trâu để làm lễ hiến sinh và lấy tiết trâu để trừ ma quỷ dữ Sau khi tiến
hành xong mọi nghi thức, thầy cúng đưa cho tất cả hững người đã ghi tên để
chuẩn bị cấp sắc, mỗi người bốn tờ điệp mỗi tờ điệp ghi những điều quy định cụ
thể của lễ Đại phan và tất cả những điều cần thiết cho người làm thầy cúng để họ
ra về và vững tâm về các thủ tục nghi lễ Tất cả những tờ sớ điệp ấy trước khi
trao tay cho người muốn làm nghề thầy cúng đều phải được đóng dấu giáp lai
hay còn gọi là dấu hợp đồng (Hạp thông ịn) Nửa dấu hợp đồng in ở bảng tổng
hợp đã đem đi đốt từ trước (nửa thuộc về cõi âm) Cũng trong buổi lễ này mỗi
người học làm thầy cúng được cấp 500 âm binh cùng với những vị thần khác kể
cả tà ma và quỷ dữ
Lễ Đại phan là một thủ tục bắt buộc không thể thiếu được cho bất kỳ ai
muốn được cấp sắc để trở thành thầy cúng thực thụ, đồng thời để chứng nhận cho
người đó có đủ điều kiện để tiến hành lễ cấp sắc tại gia đình mình hay không
Trang 31Người muốn được cấp sắc phải; là nam giới đã đến tuổi trưởng thành, có
phẩm chất đạo đức tốt và nhất thiết người đó phải có gia đình ổn định
Người được cấp sắc phải kiêng không được ăn thịt chó, thịt rùa, thịt ba ba,
hổ ,rắn, cò trắng Phải chịu đựng mọi gian khổ dốc hết lòng cứu giúp mọi người,
không phân biệt giàu nghèo, không dùng phép thuât để hại người Đồng thời
người được cấp sắc phải có thời gian đi theo thầy chuẩn bị cấp sắc cho mình chứ
không phải học một thầy, thầy khác cấp sắc cho mình được
Thời gian để trở thành thầy cúng thật sự, thời gian dài hay ngắn là phụ
thuộc vào khả năng nhận thức nhanh hay chậm của người học nghề Họ học
theo sách tam thiên tự, ngũ thiên tự Người muốn được cấp sắc phải là người có
đời ông, đời cha đã làm thầy cúng hoặc là người trong dòng họ, dòng tộc làm
nghề thầy cúng Ngoài ra người được cấp sắc phải đọc thông biết thạo và từng
bước làm thủ tục, nghi lễ phong tục để có thể trở thành thầy cúng
2.1.3 Quy định về lễ vật cúng tế, trang phục, thời gian, địa điểm của lễ cấp
sắc
- Quy định về lễ vật cúng tế trong lễ cấp sắc
Để tiến hành một buổi lễ cấp sắc gia chủ phải lo liệu tất cả về vật chất và
chuẩn bị công việc này có khi phải mất hàng nhiều tháng, thậm chí cả năm
Công việc chuẩn bị này ngoài điều kiện vật chất sẵn có, gia đình cần phải có
thêm sự hỗ trợ của anh em, họ hàng và cả mọi người trong làng giúp đỡ để có thể
tổ chức buổi lễ cấp sắc
Trong lễ cấp sắc thì việc quy định về lễ vật rất quan trọng Tất cả các lễ vật
phải đầy dủ, không được thiếu bất kì lễ vật nào Tuy nhiên tuỳ thuộc vào nghi lễ
cấp sắc được tổ chức lớn hay nhỏ thì phần lễ vật cũng được tăng hay giảm Điều
này phụ thuộc chủ yếu vào kinh tế của gia đình người được cấp sắc
Lễ vật của người Sán Dìu trong lễ cấp sắc bao gồm:
Có lễ vật “ngũ sinh”: Hai con lợn (tầm 35kg trở lên), Ba mươi con gà (trong
đó có hai con gà trống to)
Trang 32Rượu, Chuối (cắt rời từng quả), bánh sung nhân đường (được nặn từ bột nếp,
nhân đường)
Cá con, Xôi, oản, gạo, canh thịt nạc
Tất cả các lễ vật trên đều được nấu chín mới đem cúng (chỉ riêng rượu, gạo,
hoa quả, hai đầu lợn, chín xương sườn lợn, hai thịt vai là để sống nguyên)
Khi đặt cúng, số lễ vật cúng này đều là số lẻ Mỗi lễ vật trên được cúng trong
từng nghi thức cấp sắc, còn cách sắp xếp là do ông thầy cả bố trí
- Quy định về trang phục trong lễ cấp sắc
Trong buổi lễ cấp sắc về trang phục của người cấp sắc hay người được cấp
sắc và những người phụ giúp xung quanh phải có những quy định riêng.Và mỗi
trang phục được sử dụng trong từng giai đoạn trong nghi thức của buổi lễ cấp
sắc
Trong bước: “Đại kết giới” thì trang phục là
Đối với các thầy từ thầy cả đến các thầy giúp việc đều phải mặc áo “ngũ
quỷ”; áo màu đỏ may dài gối, không có ống tay, nền màu đỏ có thêu hình rồng
tượng trưng cho người dẫn binh Đối với người được cấp sắc thì mặc trang phục
áo thầy cúng màu đen, ống tay thụng lửng, có dây thắt ngang bụng màu hồng
nhạt, đầu đội mũ đường tăng; áo được thêu con rồng, phượng, có hình người cưỡi
ngựa, cùng cỏ cây hoa lá, một lệnh bài, một ấn và thủ hương
Trong bước làm thủ tục “Tặng vải đỏ” thì trang phục lại khác
Ông thầy phong chức cấp sắc mặc áo cà sa xanh, phía trước ngực thêu hình
long nhan, phía dưới có thêu hình rồng, hai bên cầu vai có thêu hình long nhan,
phía sau lưng cũng thêu các hình như mặt trước áo Phía sau lưng cài một lá cờ
bằng giấy hình chữ nhật màu đỏ, phía cán cờ có trang trí hoa văn màu vàng, hai
bên cạnh trang trí hoa văn màu ghi, phía dưới để trơn Đầu để trần không đội mũ
Ngang phần bụng có một dải luạ màu đỏ Mặc quần đen
Người được cấp sắc mặc áo thầy cúng nền màu đen, không có ống tay phía trước
thêu hai con rồng và hình thêu cảnh người, ngựa, chim thú, hoa lá, phía sau thêu
cảnh sinh hoạt trên thiên đình cùng các thần thánh nhà trời Đầu đội mũ thất phật
Trang 33hay còn gọi là mũ Đường Tăng, mặc quần đen, ngang lưng thắt dải lụa màu
hồng Lưng cài một lá cờ màu đỏ hình chữ nhật
Ông thầy truyền pháp mặc áo cà sa màu đỏ, phía trước ngực và sau lưng có đính
hai miếng vả đỏ có thêu hình chim thú nơi tiên cảnh, đầu đội mũ thất phật (hay
mũ Đường Tăng), mặc quần màu nâu, ngang lưng thắt một dải lụa màu đỏ, lưng
có cài một lá cờ màu đỏ hình chữ nhật, xung quanh có trang trí các loại hoa văn:
cỏ cây, hoa lá, hình người cưỡi ngựa, cá, màu vàng và màu ghi
Trong nghi thức “Báo Thánh” thì trang phục như sau:
Thầy phong chức cấp sắc mặc áo cà sa xanh, đầu đội mũ thất phật, mặc quần
trắng (hoặc quần màu xanh), có quàng một miếng vải đỏ chéo qua vai trái, chân
đi dép không quai hậu, lưng cài hai lá cờ màu đỏ
Người được cấp sắc mặc áo thầy cúng (áo chuyên dùng), bên trong, bên
ngoài quàng những tấm vải đỏ, đầu đội mũ Đường tăng (hay mũ thất phật), chân
đi giày đen, lưng cài hai lá cờ màu đỏ hình chữ nhật, ngả về phía bên phải
Hai người giúp việc cho thầy cả đều mặc áo tứ thân màu đỏ, không có ống tay,
áo dài tới gối, xung quanh áo có viền nẹp xanh, thân áo thêu rồng, phượng, mỗi
người cầm một tù và như để dẫn binh
Còn trang phục trong các nghi thức giao tiếp thì trang phục mặc giống
nhau.Thầy cấp sắc mặc áo thầy cúng màu đỏ, đầu đội mũ thất phật, có thêu hoa
văn rồng, phượng, các vị tinh tú
Người được cấp sắc mặc áo thầy cúng màu xanh, đầu đội mũ Đường tăng,
có thêu hoa văn rồng, phượng, hoa lá, cỏ cây
Nói chung quy định của trang phục tuỳ thuộc vào từng giai đoạn trong nghi
lễ cấp sắc, tất cả đều phải được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, mỗi người đều có
trang phục riêng
- Qui định về thời gian và địa điểm của lễ cấp sắc
Về thời gian
Đối với người Sán Dìu, thời gian cấp sắc tuỳ thuộc vào kinh tế của từng gia
đình, người chuẩn bị cấp sắc giàu hay nghèo Nếu giàu thì thời gian cấp sắc sẽ
Trang 34dài hơn (khoảng năm ngày); còn nếu nghèo thì cấp sắc sẽ ngắn hơn (khoảng hai
ngày)
Việc chọn thời gian để cấp sắc thì người được cấp sắc phải nhờ người thầy của
mình xem ngày, giờ tốt để cấp sắc, ngày cấp sắc phải là ngày tốt, tháng sinh,
thích hợp với ngày sinh tháng đẻ của người được cấp sắc
Tất cả công việc chọn ngày giờ đều phải nhờ thầy của người được cấp sắc
xem cho thì mới tiến hành cấp sắc được, còn gia đình người chuẩn bị cấp sắc chỉ
chủ yếu lo liệu về vấn đề tiền bạc
Về địa điểm
Thường thì người nào cấp sắc thì tổ chức ở ngay tại nhà người đó, chứ không
được tổ chức ở nhà người khác Đồng bào tối kỵ điều này bởi đồng bào quan
niệm rằng nếu mà tổ chức ở nhà người khác thì sẽ không thể hoàn thành xứ
mệnh, không trở thành thầy cúng được bởi vì khi được cấp sắc thì sẽ cấp cho
“âm binh” nên phải tổ chức ở nhà nếu không số “âm binh” đó sẽ không nghe
theo sự chỉ huy của người được cấp sắc và sẽ làm loạn gây hại cho gia đình
người được cấp sắc Đây là điều quan trọng khi chọn địa điểm để chuẩn bị cấp
sắc, tuy nhiên không có trường hợp này xảy ra, bởi đồng bào Sán Dìu coi việc
này là quan trọng không thể sơ xuất
2.2 Các cấp bậc trong lễ cấp sắc
Trong lễ cấp sắc của người Sán Dìu có ba bậc, cứ mỗi lần được thăng cấp
bậc là được cấp thêm âm binh và kèm theo các lễ nghi Muốn được thăng cấp
chuyển từ cấp này sang cấp kia thì người học phải có thời gian học tập, học các
sách cúng, học thêm các pháp thuật cho trình độ hiểu biết cúng bái nâng cao
thêm, tay nghề và phép thuật giỏi hơn
Các cấp bậc: có ba cấp
Những người đã trải qua cấp bậc này về cơ bản còn non tay, tuổi đời còn ít,
chủ yếu là vẫn đang theo các thầy cả, thầy hai, để học nâng cao tay nghề, về cơ
bản là họ mới trải qua lễ Đại Phan Họ chỉ có thể hành nghề cúng cho gia đình là
Trang 35chính, chưa có uy tín cao trong cộng đồng, không thể đi cúng độc lập được, mà
phải theo các thầy cả mới có thể hành nghề được
Những người ở cấp “Pháp sư” này phải luôn theo các thầy ở tầng lớp trên,
giúp việc cúng bái và học hỏi thêm các thầy
Người “pháp sư” này được cấp một ấn “Thái Thượng Lão Quân” (láo cun ịn) và
được cấp 1000 âm binh ấn “Thái Thượng Lão Quân” này có kích thước chiều
dài 7,5 cm , chiều rộng 6 cm, chiều cao 5 cm Cạnh bên trái có khắc chữ nho
“Tâm tướng”, trên chóp khắc “sắc”, cạnh bên phải khắc chữ nho “Hộ tướng”
Khi người ở chức có dấu này thì quyền hành được củng cố và tăng cường, điều
khiển và chỉ huy âm binh đi bắt tà ma, quỷ dữ đồng thời còn có thể làm những
công việc như những thầy thuốc chăm sóc và điều trị bệnh
Để có chứng chỉ, người được cấp phải tiến hành những thủ tục bắt buộc và
phải có ba thầy cấp pháp đảm nhiệm công việc đó là các thầy có tên: thầy Thân
Độ Bản Sư, thầy Chứng Minh và thầy Bảo Cử
Thủ tục sớ điệp phải có: một tờ điệp dương, một tờ điệp âm, một lá sớ Tờ
điệp âm dương được cấp lại để sát nhau sau đó đóng dấu giáp lai hay còn gọi là
dấu hợp đồng (hạp thông ịn) Mực dấu hợp đồng bắt buộc phải là mực đen Sau
khi đã đóng dấu hợp đồng xong, bản âm sẽ được đem đi đốt đồng nghĩa với việc
chuyển giao về dưới âm để lưu giữ Còn phần bản dương thì được người cấp phải
giữ gìn cẩn thận cho tới khi chết Nếu chết thì mang luôn theo bản dương đó để
đối chiếu với bản âm xem có khớp nhau không, nếu sau khi so thấy khớp nhau
thì người đó sẽ được trọng vọng, kính nể, được xếp vào hàng ngũ thứ bậc của
những người có chức có quyền dưới âm phủ, có người hầu kẻ hạ
Ngược lại, nếu so mà thấy không khớp nhau thì sẽ bị đi đày và chịu mọi sự đau
khổ (đây là quan niệm của đồng bào Sán Dìu) Tuy nhiên, việc sơ xuất này
không bao giờ xảy ra được bởi họ tiến hành nghi lễ rất cẩn thận
Để tiến hành buổi lễ này, người xin cấp sắc phải xem xét ngày, giờ cụ thể
Địa điểm tổ chức là tại nhà người xin cấp sắc Lễ vật để tiến hành lễ này ngoài
hoa quả, bánh kẹo, xôi oản, rượu, nước, đèn nhang, còn phải làm thịt “ngũ sinh”
Trang 36(thường là năm con gà, có một con gà trống to để làm lễ) sau đó tiến hành cúng
lễ và làm các thủ tục buổi lễ
Chức pháp sư này ngoài được cấp dấu “Thái Thượng Lão Quân” người này
còn được cấp một ấn nữa gọi là “ấn Phật” (hut ịn)
Người sử dụng dấu ấn phật này trong các buổi lễ: giải hạn, kỳ yên nhà, kỳ
yên tổ tiên, làm chay Ngoài ra còn có một pho tượng Thích Ca bằng gỗ, tư thế
đứng chỉ một tay lên trời, một tay chỉ xuống đất, đầu đội mũ nhà phật một con
rồng gỗ có chiều dài là 22cm, cao 8cm, dày 4 cm, tạo theo tư thế uốn lượn trông
rất dũng mãnh, đồng thời còn có hai vỏ hến để xin quẻ âm dương (xin đài) khi đi
hành nghề và một xúc xắc
Mặc dù đã có hai ấn: ấn thái thượng lão quân và ấn phật cùng với một số đồ
dùng phục vụ cho việc hành nghề cúng tế, nhưng thực ra người chức Pháp sư này
chưa đủ mạnh để có thể tiến hành những nghi thức cúng tế lớn và phức tạp Do
đó những người này phải tiến hành tổ chức một nghi lễ nữa để trở thành thầy
cúng có nhiều uy lực hơn, có âm binh nhiều hơn để trừ các loại tà ma quỷ dữ, đó
là cấp bậc “Chức sư”
- Cấp bậc thứ 2: Cấp bậc “Chức Sư”
Người đạt được cấp bậc này thì tay nghề được tăng thêm một bậc, được cấp 5
vạn âm binh Những người này mới trải qua lễ cấp sắc cho nên phần nào đó vẫn
còn hạn chế và non tay trong việc cúng bái các công việc lễ lớn Những người
này vẫn đi theo các thầy cao tay để giúp việc trong các cuộc đại lễ như đám ma,
cúng kỳ yên thôn bản và trong các buổi lễ cấp sắc
Cấp bậc chức sư này chỉ cấp cho những người đàn ông ở lứa tuổi trung niên
Công việc tiến hành lễ này phải có tám thầy chủ trì, các thầy đó là
Trang 37Thầy Chứng minh có nhiệm vụ phải xem xét các văn bản, thủ tục, nghi lễ, nếu
có thiếu xót thì báo cho gia chủ hoặc thầy chủ trì sửa lễ và bổ sung cho đúng và
đầy đủ
Thầy Kết quy và thầy Đinh đẩu phụ trách thổi tù và nhảy múa cũng như phải
xếp đặt ban thờ tượng trưng con rùa và các án hương trong tổng thể nơi tổ chức
nghi lễ
Còn các thầy Thân độ bản sư, thầy Gia bổ chức sư thì có nhiệm vụ ban chức
tước cho đệ tử; đọc sớ điệp tâu lên Ngọc Hoàng và hướng dẫn mọi người làm
đúng các bước trong nghi lễ ban chức cho người đệ tử cấp chức
Ngoài các nghi lễ trên gia chủ phải chuẩn bị hai con lợn, mỗi con nặng
khoảng 35kg trở lên và ba mươi con gà, rượu Những người đến dự thì mừng
tiền, còn họ hàng thân thích thì mừng một miếng vải đỏ dài khoảng hai mét Khi
thịt lợn xong thì phải sắp cỗ cúng thần hoàng ở ngoài trời gồm: ba đĩa thịt, ba đĩa
lòng, ba bát tiết canh, ba bát cơm tẻ, ba chén rượu, ba quả cau, ba lá trầu có quệt
vôi, ba chén nước chè, một đèn dầu, một đĩa muối trắng
Nội dung khấn ông thần hoàng có đại ý như sau: “Khấn ông Thành Hoàng, hôm
nay gia đình có công việc, mời ông thần hoàng về dự lễ, những điều tốt đẹp để
cho gia đình, điều xấu thì tiễn đi” Cứ khấn như vậy khoảng ba lần thì xin quẻ,
nếu quẻ đó được thì mới trình bày công việc cụ thể cho thần hoàng nghe
Trên ban thờ của người xin cấp chức sư có treo bốn bức tranh chân dung của
Ngọc Hoàng và bốn vị thần linh Trên bệ có ba bình hương - bình ở giữa để thờ
tổ tiên, bình bên trái là bình thờ bát hương của người làm thầy, bình bên phải thờ
táo quân
Sau đó họ tiến hành nốt các thủ tục còn lại là phong cấp “Chức sư”
Trang 38Người được phong cấp bậc chức sư được sử dụng hai lá cờ và có thêm một ấn
nữa gọi là “ấn chức danh” (chếch ịn) và một thẻ lệnh để làm công cụ hành pháp
Hai lá cờ được cấp : một lá cờ màu trắng, một lá cờ màu đỏ, lá cờ màu trắng có
ghi hai chữ: “mệnh lệnh”, còn lá cờ màu đỏ có ghi hai chữ “chức lệnh” Trên hai
lá cờ đều ghi tên của chức sư hai lá cờ và ấn chức sư, thẻ lệnh luôn phải để ở nơi
trang trọng nhất, thường là để trên ban thờ gia đình, chỉ khi nào đi cúng mới
được mang theo Khác với cấp bậc “Pháp sư” thì ở cấp bậc chức sư cờ và ấn chức
sư không thể cho mượn được, đây là điều tối kỵ nhất
- Cấp bậc thứ 3: cấp bậc “Thứ Gia Tổng Xuyến”
Đây là cấp bậc cao nhất trong ba cấp bậc của lễ cấp sắc ở cấp bậc này là
ông thầy đại cao thủ, cao tay trong nghề cúng bái, đa số các ông thầy trong cấp
bậc này đều cao tuổi, tầm 60 tuổi trở lên Để có được cấp bậc này người thầy
phải có điều kiện kinh tế, có uy tín, đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt những
quy định như : ăn kiêng, không sát sinh, chay tịnh, không ngủ chung với vợ, phải
làm lễ phóng sinh
Những ông thầy đạt được cấp bậc cao nhất này đều phải trải qua ba lần phong
chức cấp sắc, có quyền uy tối cao trong hàng ngũ thầy cúng Họ rất thông thạo
về các mặt: trừ tà ma, quỉ dữ, chữa bệnh cho mọi người, cứu giúp mọi người
trong cộng đồng mình qua cơn tai hoạ Họ là những người đại diện cho cộng
đồng, lo toan đầy đủ và trách nhiệm về mặt tâm linh, tinh thần trong cuộc sống
hàng ngày của mỗi gia đình
Đây là chức cao nhất, là bậc thầy của các thầy cúng Lễ này do một thầy cúng đã
đạt được chức “Thứ gia tổng xuyến” này đảm nhận và điều hành làm các nghi
thức thủ tục Trong khi tiến hành lễ cũng phải có một lá cờ, hai tờ điệp: một âm
và một dương đã đóng dấu giáp lai (hay còn gọi là dấu hợp đồng)
Lễ này chỉ tổ chức vào một buổi tối Lễ vật gồm: một con lợn khoảng 50 kg, gà
oản, bánh kẹo, hoa quả, rượu, đèn nhang Ban lễ, câu đối, rồng phượng, treo
tranh Ngọc Hoàng, Tam thanh được trang trí bằng giấy ngũ sắc (đỏ, xanh, vàng,
Trang 39tím, cam) Những thứ này là để cúng tế Ngọc Hoàng và các thần linh có liên
quan đến buổi lễ
Người được phong cấp chức này được cấp một ấn gỗ to hơn bậc Chức sư và
cờ lệnh để tiến hành khi hành nghề Điều đặc biệt là người được phong chức này
thì vợ của những người này cũng được cấp sắc tương tự như chồng mình Lễ này
làm chỉ mang tính chất hình thức thủ tục, do chính các ông thầy đó tổ chức tự
hành lễ để phong chức cấp sắc cho vợ mình Mặc dù chỉ là tính chất hình thức
nhưng cũng phải làm đầy đủ các thủ tục nghi lễ, cũng có lợn, gà, hoa quả, đèn
nhang Họ quan niệm rằng, có làm như vậy thì khi chết vợ chồng mới được ở
cùng nhau và được sống một cuộc sống bình yên, an nhàn, ấm no hạnh phúc,
mặc dù việc phong chức cho vợ chỉ mang tính chất thủ tục nhưng người vợ của
người được phong chức này không cần phải học chữ Hán, học cách cúng bái, hay
cấp ấn, cờ mà họ vẫn lao động sản xuất bình thường
2.3 Các nghi thức truyền thống của lễ cấp sắc
Trong nghi thức cấp sắc của đồng bào Sán Dìu ngoài những qui định về
trang phục, thời gian, địa điểm, và lễ vật riêng thì qui định về các nghi thức của
lễ cấp sắc cũng được tổ chức có quy củ, chặt chẽ, không được sơ xuất, phải thực
hiện đủ các bước trong buổi lễ
Lễ cấp sắc của người Sán Dìu có 15 nghi thức bắt buộc mà người muốn được
cấp sắc phải thực hiện đầy đủ thì mới có thể trở thành người thầy cúng thực sự,
có uy tín và mới được đứng trong đội ngũ Thầy cúng
Công việc đầu tiên của buổi cấp sắc là gia chủ phải chuẩn bị tất cả các điều
kiện của lễ cấp sắc từ thời gian địa điểm đến các lễ vật, trang trí trong buổi lễ
Lễ cấp sắc được tổ chức ngay tại nhà của người muốn được cấp sắc, công tác
chuẩn bị là công việc trang trí các vật dụng trong buổi lễ
- Trang trí cổng trong lễ cấp sắc (món hoi siéo)
Cổng được dựng ở trước cửa nhà sát thềm dưới sân, khung cổng làm bằng
nguyên liệu tre, nứa, vầu, tất cả được dán giấy màu hay còn gọi là giấy “ngũ sắc”
(tức là phải đủ năm màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, cam) Hai bên cột cổng là một