1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu lễ hội đình hùng lô xã hùng lô thành phố việt trì tỉnh phú thọ

87 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 767,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời điểm lễ hội là lúc con người ta được hòa mình vào không khí huyền ảo, linh thiêng cùng cả cộng đồng, tạm gác lại những lo toan của đời sống thường nhật để thỏa sức chìm vào thế giới

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

ĐỖ PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 5

LỜI CẢM ƠN 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

2.1 Mục đích nghiên cứu 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Bố cục khóa luận 10

Chương 1 11

TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG HÙNG LÔ 11

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG HÙNG LÔ 11

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11

1.1.2 Lịch sử hình thành làng 12

1.1.3 Đặc điểm dân cư 15

1.1.4 Điều kiện kinh tế 16

1.1.5 Truyền thống lịch sử, văn hóa 18

1.2 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ LỄ HỘI 25

1.2.1 Quan niệm về lễ hội 25

Trang 3

1.2.2 Lễ hội đình làng Hùng Lô 27

Chương 2 29

LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI 29

2.1 KHÔNG GIAN DIỄN RA LỄ HỘI 29

2.2 NHÂN VẬT ĐƯỢC PHỤNG THỜ TRONG LỄ HỘI 37

2.3 DIỄN TRÌNH LỄ HỘI 40

2.3.1 Thời gian và lịch lễ hội 41

2.3.2 Công việc chuẩn bị 42

2.3.3 Các nghi thức nghi lễ 46

2.3.4 Các trò chơi dân gian và diễn xướng nghệ thuật 52

2.4 SỰ BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI ĐÌNH HÙNG LÔ HIỆN NAY 57

Chương 3 61

GIẢI PHÁP BẢO TỒN LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 61

TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 61

3.1 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI ĐÌNH HÙNG LÔ 61

3.1.1 Thực trạng lễ hội 61

3.1.2 Một số giải pháp bảo tồn phát huy giá trị lễ hội đình Hùng Lô 65

3.2 VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN 71

3.3 GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG 76

3.3.1 Giá trị cố kết cộng đồng 77

3.3.2 Giá trị hướng về cội nguồn dân tộc 79

Trang 4

3.3.3 Giá trị cân bằng đời sống tâm linh 80 3.3.4 Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa 80 3.3.5 Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 81

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 5

Ủy ban mặt trận Tổ quốc

VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch

VHTTTT Văn hóa thông tin thể thao

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Di sản văn hóa, em đã hoàn thiện bài khóa luận này

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, động viên và giúp đỡ em hoàn thiện bài khóa luận này

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Sỹ Toản - Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ và chỉ bảo cho em từ khi xác định đề tài, xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thiện bài khóa luận

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn các cụ cao niên trong làng đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để em tiếp cận, khảo sát lễ hội và

Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận

Đỗ Phương Thảo

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội - Một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng lâu đời, phổ biến đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam; trở thành một hoạt động thiết yếu trong đời sống tinh thần của cư dân Việt Thời điểm lễ hội là lúc con người ta được hòa mình vào không khí huyền ảo, linh thiêng cùng cả cộng đồng, tạm gác lại những lo toan của đời sống thường nhật để thỏa sức chìm vào thế giới tâm linh tín ngưỡng với các trò diễn dân gian, các nghi lễ, tục hèm… độc đáo đa dạng

Lễ hội gắn bó với mỗi bước đi của lịch sử dân tộc, lịch sử của mỗi vùng đất, lịch sử của mỗi cộng đồng dân cư Thông qua lễ hội, chúng ta có thể tìm hiểu lịch sử và giá trị văn hóa của vùng đất, cộng đồng người sinh sống trên vùng đất ấy; nó thể hiện sắc thái văn hóa riêng của mỗi vùng đất, phản ánh tinh thần đoàn kết của cộng đồng, đề cao truyền thống gia đình, dòng họ và cả những người có công trong việc sáng lập, bảo vệ và phát triển quê hương đất nước

Hội làng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống lễ hội bởi người dân Việt chủ yếu sống ở các vùng nông thôn với công việc chủ yếu là về nông nghiệp Hội làng đã gắn bó với người dân thôn quê qua nhiều thế kỷ, nó phản ánh những quan điểm, tư tưởng thẩm mỹ về thế giới quan, nhân sinh quan của

cá nhân và cộng đồng Nó có sức hút mạnh mẽ không chỉ bởi không khí vui vẻ, rộn ràng, háo hức mỗi khi làng vào hội mà còn bởi nó được gắn liền với phong tục, luật tục của làng xã và mang tín ngưỡng đặc trưng của mỗi địa phương

Với vị trí là trung tâm sinh tụ của người Việt cổ - Nơi ra đời của nhà nước Văn Lang và kinh đô Văn Lang - Kinh đô đầu tiên của nước Việt Nam; Phú Thọ là vùng có vị trí địa lý đặc biệt và còn tồn tại nhiều di chỉ văn hoá từ thời đại Hùng Vương dựng nước Lễ hội làng xã ở Phú Thọ mang những dạng

Trang 8

thức phổ biến của lễ hội người Việt nói chung đồng thời cũng có những biểu hiện riêng của địa phương mang tính đặc thù mà không nơi nào có được Những nghi lễ, tín ngưỡng cổ xưa nhất của dân tộc đã được bảo lưu qua các tục hèm như rước tiếng hú, tục thờ đá, thờ và rước sinh thực khí, gọi vía lúa… Điều đáng nói là, những nghi lễ, tín ngưỡng đó lại được đan xen, hòa quyện vào các lễ hội thời Hùng Vương và đôi khi liên quan đến cả những lễ hội từ thời Bắc thuộc, phong kiến Có thể nói, Phú Thọ là mảnh đất ươm mầm, phát tích văn hóa làng với biểu hiện tập trung là truyền thuyết và lễ hội Nói như nhà nghiên cứu văn hóa Phú Thọ Nguyễn Khắc Xương: “Đến với Phú Thọ người ta có thể tìm ra những lời giải đáp của quá khứ về văn hóa dân tộc đi từ cội nguồn, có thể xới lên nhiều tầng văn hóa chồng phủ lên nhau, trong đó có

cả tầng nền móng là cơ sở đi từ văn hóa Văn Lang đi đến văn hóa Đại Việt”

Trong những năm gần đây, Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nhịp sống hiện đại sẽ làm xã hội thay đổi; từ đó tư tưởng truyền thống của con người cũng ít nhiều bị ảnh hưởng; các lễ hội truyền thống đang có nguy cơ ngày càng mai một hoặc biến tướng thì việc tìm hiểu, nghiên cứu các lễ hội truyền thống ngày càng có ý nghĩa thiết thực Hơn nữa, các lễ hội truyền thống là sự tích hợp văn hóa của nhiều thời đại nên việc giải mã các lớp văn hóa được bảo lưu trong lễ hội là điều cần thiết bởi các mã văn hóa đó phản ánh thời đại mà các lễ hội đó được sản sinh Xuất phát từ ý nghĩa trên, để giữ gìn và phát huy những lễ hội truyền thống trên vùng đất chứa đựng nhiều dấu tích huyền thoại, truyền thuyết và các giá trị văn hóa đặc

sắc trên vùng đất Tổ, em xin chọn đề tài: “Tìm hiểu lễ hội đình Hùng Lô (Xã

Hùng Lô, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)” làm đề tài nghiên cứu khóa luận

tốt nghiệp, ngành Bảo tàng học tại khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về lễ hội đình làng Hùng Lô trong không gian văn hóa của làng Hùng Lô xưa và này Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn

và phát huy giá trị của lễ hội này trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về vùng đất, con người Hùng Lô; từ đó làm cơ

sở cho việc nghiên cứu lễ hội truyền thống của làng

- Tìm hiểu nguồn gốc, thời gian và diễn trình lễ hội, khảo sát các trò diễn dân gian trong hội làng để thấy được nét riêng biệt của hội đình Hùng Lô

- Nghiên cứu về những giá trị của hội làng Hùng Lô, những điểm tích cực và hạn chế, từ đó đưa ra phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị hội làng

và hệ thống trò diễn trong hội làng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của khóa luận là “Lễ hội đình làng Hùng Lô, xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian, tập trung ở xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú

Thọ Trong điều kiện cần thiết sẽ mở rộng nghiên cứu khảo sát các vùng xung quanh nhằm tìm hiểu, so sánh, tìm ra các nét chung và riêng với hội làng Hùng Lô

+ Về thời gian, chủ yếu tập trung nghiên cứu lễ hội đình Hùng Lô diễn

ra hiện nay, trong điều kiện cần thiết sẽ sử dụng phương pháp hồi cố để so sánh sự biến đổi của lễ hội xưa và nay

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: phân tích, tổng hợp, so sánh…

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa dân gian, bảo tàng học, sử học, dân tộc học, mỹ thuật học…

- Phương pháo khảo sát điền dã: quan sát, phỏng vấn, tham dự, ghi hình, mô tả…

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung bài khóa luận gồm có 03 chương:

Chương 1: Tổng quan về không gian văn hóa làng Hùng Lô

Chương 2: Lễ hội đình làng Hùng Lô và xu hướng biến đổi hiện nay

Chương 3: Gsiải pháp bảo tồn lễ hội đình làng Hùng Lô trong giai đoạn hiện

nay

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA LÀNG HÙNG LÔ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG HÙNG LÔ

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Xã Hùng Lô hiện nay xưa kia có tên gọi là Trang Khả Lãm, làng Xốm,

An Lãm, An Lão – một xã nằm cuối huyện Phù Ninh; đầu năm 2007 đã chuyển về Việt Trì, có chiều dài 1.300 m, chiều rộng 500 m, tính lại không đầy 1 cây số vuông

Về mặt địa lý, phía đông giáp sông Lô, phía tây giáp xã Kim Đức, phía bắc giáp xã Vĩnh Phú, phía nam giáp xã Phượng Lâu; các xã giáp ranh, giáp

cứ kể cả các xã thuộc bờ sông bên kia đều có lịch sử lâu đời từ thời Hùng Vương dựng nước và có mối quan hệ gắn bó trong lịch sử

Làng tuy có địa dư nhỏ nhưng lại có cảnh núi non sông nước, trong làng

có nhiều tên đất, tên đồng rất hay như: Nanh Rồng, Mỏ Phượng - thuộc tên một loại vật tư linh mà người đời ngưỡng mộ, tôn kính; lại có xóm Kim Thanh, Phú Thị, Núi Vàng, Hàng Cơm mang nhiều dấu ấn lịch sử Xưa kia làng còn có nhiều cây cổ thụ, gạo, xi, đa thể hiện một làng quê có sức sống vĩnh cửu, trường tồn Làng có nhiều truyền thuyết, dấu tích lịch sử về thời Hùng Vương, Hai Bà Trưng; làng chỉ cách kinh đô Văn Lang, đền Hùng có 5km (theo đường chim bay) Cái tên sông Lô, Bạch Hạc, Cự Đà, Diền Triệt, Phượng Lâu là cả một vùng cách làng không xa đã có những chiến công to lớn mà cha ông ta đánh giặc giữ nước từ thời Hùng Vương, Bắc thuộc đến chống Pháp gần đây

Từ khi có người ở tới nay là một quá trình lịch sử lâu dài; cái tên Khả Lãm, An Lãm, Xốm đến Hùng Lô vẫn là một làng, một thôn, một xã nằm

Trang 12

trong lũy tre xanh và chỉ có một đình, một chợ, có nhiều họ tộc cùng nhau sinh sống; ở xen ghép trong từng giáp, từng xóm – cổ xưa là 4 giáp và nay là

10 xóm Trải qua nhiều biến cố lịch sử cha ông ta vẫn giữ truyền thống đoàn kết, chống giặc giữ làng, xây dựng một làng quê có đông dân, Đình lớn – một quần thể Đình làng mà các giáo sư sử học đến nghiên cứu cũng phải thốt lên, không ngờ một làng quê nhỏ ven sông mà lại có được một quần thể đình làng nguy nga, đồ sộ cổ kính, giữ gìn được toàn vẹn và mang nặng dấu ấn lịch sử, văn hóa, tâm linh đến như vậy

1.1.2 Lịch sử hình thành làng

Căn cứ vào các truyền thuyết, thần tích, di vật cổ, lịch sử quốc gia, gia phả các dòng họ, các lịch sử làng lân cận đủ để khẳng định rằng: Làng An Lão có từ thời Hùng Vương

* Căn cứ vào truyền thuyết

Theo truyền thuyết lưu truyền tại làng Hùng Lô cho biết như sau: Ở chỗ

bờ sông Tứ Ngõ ra, xưa kia có một ghềnh đá lớn (nay hòn ghềnh đã chìm sâu xuống đất 3m) Có truyền thuyết rằng: thời Hùng Vương, vua Hùng thường ra đây để dự luyện tập thủy quân, ra Hòn Ghềnh này tắm mát, mặt hòn ghềnh này còn có lỗ đáo và vạch ngang (quân chơi đáo) cho nên cả vùng này từ Bạch Lưu, Nha Môn xuống tới Bạch Hạc có tục bơi trải Hai làng đối diện với

An Lão là làng Yên Dương và làng Yên Lập tổ chức hội bơi hàng năm vào 3 ngày 25 đến 27 tháng 5 (âm lịch) – ngày 25 thi bơi, ngày 26 kết trải nghinh thần, sang tế tại Hòn Ghềnh; trải có lễ tên Đình An Lão, Đình có lễ xuống

trải, ngày hội dân làng An Lão tham dự rất đông

Vua Hùng thường đi săn bắn ở các vùng Phù Ninh, An Đạo Bắt được gà rừng đem về Tử Đà mổ lấy long sáo kiệu cúng thần khao quân, còn thân gà đem về Khả Lãm tế thần, khao quân, chiêu đãi cụ già nên làng có tục lễ thờ bằng xôi dẻo, gà béo để cúng tế vào các ngày tiệc làng hàng năm

Trang 13

* Căn cứ vào thần tích

Tại Đình Hùng Lô có một cuốn: “An Lão thần tích” do Nguyễn Bính – quan Hàn Lâm Viện Đông Các Đại học sỹ biên soan năm Hồng Phúc thứ nhất (1556) và có sao lại năm Thành Thái thập bát niên 1907 – cách ngày nay 107 năm, có ghi lại tích:

Vua Hùng cùng công chúa cưỡi ngựa hồng đi tuần thú, ngắm danh lam thắng cảnh; có đến Trang Khả Lãm gặp các cụ già bốn phương, mọi người đều vui sướng Vua khen đất này đẹp, có huyệt giáp canh, có sông Lô nước chảy êm đềm, xa trông Nghĩa Lĩnh; sau này ắt có nhiều văn nhân tài tử, làm ăn giàu có không đâu sánh kịp Sau đó dân làng làm ăn phát đạt, lập miếu thờ để nghìn năm hương khói, sự tích còn có hai ngựa hồng vẽ ở đốc Tam Quan Miếu

* Những hiện vật cổ

Dựa vào tập ảnh ngược dòng lịch sử mà Hùng Lô mới sưu tầm được các hiện vật từ đồ đá, đồ gốm, đồ đồng nằm trên đất Hùng Lô và một phần xã An Thái (xã cũ) đã chứng minh Hùng Lô là một làng cổ lâu đời

Khi hợp tác xã mở lò gạch ở đầu làng giáp với gò Chùa (Miếu Chùa) Vĩnh Phú, ông Huy Thành có đào được một lưỡi cuốc đá (Đài truyền hình VTV3 đến chụp ảnh Anh Nguyễn Văn Bình là cán bộ viện hán nôm chụp ảnh và nói hiện vật này ra đời trên 4000 năm (bức ảnh được lưu giữ tại đình) Hiện nay còn một lưỡi rìu đá nhỏ cũng đào được ở gần lưỡi cuốc đá trên, ông Tình Truyền còn giữ tại nhà Xung quanh địa điểm gò Chùa cũng đào được 1 số lọ nhỏ, miệng

bé, có nắp đậy hình vuông Theo một số người lớn tuổi ở xóm Ngà lúc còn nhỏ

đi chăn trâu bò có phát hiện ở ven bờ sông cạnh gò Chùa có một số tượng Phật bằng đá nhỏ chỉ bằng bắp tay, trẻ chăn trâu màng ra Hòn Ghềnh gần cửa Miếu chơi rồi thả xuống sông Cộng với truyền thuyết xưa kia có tướng vua Hùng về

Trang 14

ở đây, có tên là Độc Thạch Tràng, được Hùng Duệ Vương sai đi đánh giặc Ai Lao – quân Thục (300 năm trước công nguyên)

Từ đầu làng đến lũy đông cứ đào sâu từ 1m đến 6m nhiều chỗ có mảnh

đồ gốm, có chỗ còn cả một lò nung chưa dỡ, nhiều hoa văn, dải này kéo dài tới bờ sông Phượng Lâu, chưa có xác minh của khảo cổ

Có một số người được giới thiệu là cán bộ khảo cổ trên về đào ở Mả Nứa

có một ang, trong đó dựng một số mũi tên đồng rồi mang đi có sự chứng kiến của một số dân làng và ông Mỹ Trí lúc đó là Phó chủ tịch xã Đây là một trong 35 điểm có sự tích thời Hùng Vương (được ghi tại bản đồ trang 26 cuốn lịch sử Vĩnh Phú xuất bản năm 1980)

Ở Do De có người đến đào lấy đi không ai biết, khi đến hiện trường chỉ còn lại hố lõm hình chôn chum nhỏ Trước đó có người thường đến xóm Văn Tiến hỏi thăm đất Do De Cũng trong cuốn “Ngược dòng lịch sử” có sưu tầm được 11 đồng tiền bằng kim loại (đồng chinh lỗ vuông) Đồng sớm nhất là Thái Bình Thông Bảo thời Lý Thánh Tông 1054, đồng gần nhất là Khải Định Thông Bảo 1916 – tìm được ở chợ cũ và xóm Xy, Tứ Ngõ

tổ miếu ở núi Cảnh và có thơ đề tại hai phiến đá chôn sâu dưới đất mới được khai quật có chữ Hán đề “Bạt kiếm ma đao trừ Bắc tặc, Phất kỳ hịch tán hiệu Nam Bang” Bên cạnh đó, cần phải kể đến đặc điểm địa lý của làng Làng gần kinh đô Văn Lang, nơi thuận tiện đường thủy Lịch sử còn ghi chép

Trang 15

cả vùng này thật sự là một bãi chiến trường: Từ trước công nguyên, Hùng Vương thứ 6 đã phải chống giặc Nam Hán, giặc Ân; Hùng Thục đã đánh nhau suốt 10 năm, rồi đến Thục đánh Triệu Đà, Hai Bà Trưng đánh Hán

1.1.3 Đặc điểm dân cư

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Nhân dân xã Hùng Lô năm 2013 cho biết: Dân số hiện nay có 1.568 hộ, 6195 khẩu trên diện tích 1.2km2; bình quân đầu người chỉ có 13 thước điền ruộng đất Hùng Lô là một xã có địa dư nhỏ nhất trong vùng, nhưng dân số lại nhiều hơn hẳn

Hùng Lô là vùng đất có bề dày lịch sử, điều kiện tự nhiên thuận lợi nên

cư dân quần tụ lâu đời Do tính chất cư dân nông nghiệp cần phải có sự đoàn kết, gắn bó cộng đồng cùng nhau khắc phục thiên nhiên nên người dân nơi đây rất gắn bó với nhau mặc dù họ không cùng huyết thống

Làng là sự cố kết của nhiều dòng họ - là sự hình thành, phát triển, gắn kết, bổ sung và tồn tại nhiều dòng họ.Trong kết cấu của làng Việt, dòng họ là một trong những yếu tố quan trọng; tồn tại và phát triển của dòng họ qua các thế hệ, các thời kỳ đã tạo nên sự hình thành và phát triển của làng xã Trải qua nhiều cuộc chiến tranh cùng với sự đến, ra đi của nhiều dòng họ thì nhiều dòng họ đã không còn giữ được gia phả hoặc còn lại thì sự ghi chép trong gia phả đơn giản, khó xác định nguồn gốc Hiện nay, theo tư liệu điều tra khảo sát của tác giả khóa luận, làng có 31 dòng họ to nhỏ khác nhau; gồm 12 họ Nguyễn, họ Cao, họ Lã, họ Hoàng, họ Lê, họ Trầm, họ Vũ, họ Đồng, họ Trần,

họ Vương, họ Lý… Có 4 họ có nhà thờ riêng và ở gần đình nhất là họ Nguyễn Lớn, Nguyễn Bé, họ Cao và họ Lã Bùi Đông nhất là họ Nguyễn Lớn, 564 hộ

có 2.165 khẩu – chiếm 34% dân số trong xã Thứ hai là họ Cao (Cao Mạc) có

244 hộ - chiếm 26% dân số.Thứ ba là họ Nguyễn Bé – 14% dân số.Thứ tư là

họ Lã chiếm 7%

Trang 16

Xưa kia, các dòng họ có quyền bình đẳng như nhau và chịu sự phân công của làng hàng năm trong mỗi kỳ đăng cai giáp Qua quá trình phát triển, các thế hệ cư dân nơi đây cùng nhau chung lưng đấu cật, cùng xây dựng làng xóm ngày càng đông đúc và thân thiện Các dòng họ đều có ngày giỗ họ để tưởng nhớ công ơn ông tổ đã sinh ra dòng họ mình và củng cố sự đoàn kết của các thành viên trong dòng họ Hàng năm, cứ đến dịp giỗ họ, các gia đình trong họ

sẽ gặp mặt nhau để phân bổ đóng góp bằng cách quy định ra một mức tiền cụ thể để tổ chức ngày giỗ họ hàng năm Đây là một thể chế có đặc điểm giống như hầu hết các làng xã ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Tổ chức sinh hoạt của đàn ông trong làng lấy nguyên lý lớp tuổi để xác định vị thế xã hội,

vị thế của mỗi người trong làng xã theo sự tăng dần của độ tuổi, lần lượt được chuyển lên vị trí cao hơn trong sinh hoạt giáp; vì vậy, trong giáp cũng có tính dân chủ, tất cả các thành viên trong cùng một lớp tuổi đều có quyền bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ

1.1.4 Điều kiện kinh tế

Do đặc điểm đất ít, người đông, lại có thế mạnh về đường sông, đường bộ; dân An Lão biết làm rất nhiều nghề, từ làm ruộng, buôn bán, thủ công, đánh bắt tôm cá, vớt củi, sơn tràng, làm thuê, làm mướn Xưa nay An Lão vẫn

là một làng được xếp vào loại làm ăn thịnh vượng trong vùng

Xung quanh làng có nhiều đồng chiêm trũng, chứng tỏ làng cũng có nghề làm ruộng từ lâu Lúc đầu có thể nhờ đánh bắt tôm cá, buôn bán, làm nghề thủ công, tích lũy vốn, vỡ ruộng hoang, tậu ruộng dần Lúc có nhiều ruộng đất phải đi xâm canh tới 16 xã trong vùng Tuy nhiều ruộng nhưng trước cách mạng tháng tám, trước cải cách ruộng đất phần lớn vẫn tập trung vào nhà giàu có, người thiếu ruộng không ruộng phải làm thuê, làm mướn nhiều nghề khác Ngoài ruộng lúa còn có thời kỳ trồng mía rất lớn; suốt từ

Trang 17

đầu làng đến cuối làng 6,7 lò kéo mật Đi đôi với trồng trọt là chăn nuôi trâu

bò, lợn, gia cầm

Do có lợi thế được ở ven sông, làng Xốm xưa kia sớm trở thành trung tâm buôn bán nổi tiếng trên bến dưới thuyền, lại có chợ lớn, bờ sông từ Tứ Ngõ tới bến Tuần, lúc nào cũng có thuyền bè tấp nập, ra vào ngược xuôi Vạn chài dọc sông có cả thuyền hạng lớn từ Thanh Hóa ra mang theo mắm, cá khô, có thuyền từ Thái Bình chở đồ sành sứ lên bán rồi chở gạo, ngô, nâu về xuôi Lại có thuyền từ Quảng Ninh về đây buôn bán Trong làng còn có lái gỗ

từ Tuyên Quang về Hà Nội, cũng nhờ những lái gỗ này mà năm 1938 có đủ

gỗ tốt để sửa đình Lại có lái nâu, lái ngô gạo, sắn và các nông lâm sản khác người trong làng kinh doanh chuyển đi các vùng khác Sầm uất nhất vẫn là chợ Xốm, có thể ban đầu là nơi trao đổ sản phẩm tự sản tự tiêu trong làng như thóc, gạo, ngô, khoai, tôm cá; sau dần phát triển thành chợ lớn Chợ họp 1 tháng 6 phiên, sau họp thường xuyên, có đủ hàng hóa phục vụ sản xuất dân sinh từ trong làng ra giao lưu toàn vùng và xa hơn nữa Hồi kháng chiến chống Pháp chợ Xốm còn là nơi chu chuyển muối từ dịch hậu đi Việt Bắc Nay chợ Xốm vẫn là chợ lớn trong vùng nhưng chưa tổ chức khai thác đúng tiềm năng của chợ lớn

Nghề tôm cá là nghề có từ lâu đời ở làng; quanh làng có đồng chiêm trũng, ven sông có vạn chài, dụng cụ đánh bắt tôm cá ngày xưa là: lờ, đó, đụt, thời, thón, dận, nơm, đạp, xẻo, vó, lưới, diu Phàm là dân An Lão phần lớn trải qua nghề tôm cá, không phải chỉ kiếm trong làng mà còn sang các vùng lân cận như: Đồng Sậu, Ơn Bạch, Thượng Yên thuộc huyện Lập Thạch, Lâu Thượng, Việt Trì; còn đi xa hơn là Hải Phòng, Hà Tây, Chính Công, Yên Bái, Hòa Bình Trước đây trong làng hàng ngày có hàng trăm người đi đánh tôm diu, chồng đẩy vợ đãi, chiều về bán chợ cho người ta làm mắm tôm đem tiêu

Trang 18

thụ nhiều vùng Nay đồng cá, đồng tôm địa phương cho vào kinh doanh nên không còn chỗ kiếm Tuy vậy, vẫn còn số ít người còn diu đánh tôm

Trong làng lúc nào cũng có người làm nghề mộc, làm nhà cửa, đồ vật; cũng có nghề rèn, nghề làm đồ trang sức bằng bạc, vàng Làng có chợ lớn nên nghề làm bánh kẹo rất đa dạng phong phú như bánh đa, bánh đúc, bún, kẹo vừng, miến gạo Miến gạo, bánh đa, bánh gai có thời kỳ bán đi nhiều tỉnh Miền Bắc Làng còn có nghề đâm xay hàng sáo

1.1.5 Truyền thống lịch sử, văn hóa

1.1.5.1 Phong tục tập quán

Quần thể đình làng có văn chỉ thờ đức Khổng Tử, lại có nhiều thầy dạy chữ Nho nên phong tục tập quán xưa kia chịu nhiều ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến, có mặt tích cực là giữ gìn được kỷ cương, bảo vệ cho xã hội tồn tại và đi lên Bức hoành phi tại đình làng có ghi 4 chữ “Kính Tôn Ái Thân” nghĩa là khuyên mọi người biết tôn trọng kính nể người đi trước, người trên; phải đoàn kết với mọi người xung quanh mình Làng còn giữ được cuốn hương ước viết bằng chữ Nôm, có hai phần để mọi người từ chức dịch đến người dân đều phải thi hành

* Về hương ước: Trong hương ước của làng có 15 điều quy định về

trách nhiệm chức dịch, nguyên tắc quản lý tài chính chi tiêu cúng tế, thu thuế, phân chia công điền công thổ, địa chính, hộ tịch, bắt lính, bất bình dân sự, cắt

cử trách nhiệm tuần tráng, khuyến nông, vệ sinh y tế, giáo dục, lễ phép, ngụ

cư Tất cả đều vào quy ước, làm rõ trách nhiệm của chức dịch, quản lý dân nhưng không được sách nhiễu dân, chi tiêu việc công phải có kế hoạch sổ sách, chi vượt kế hoạch phải xin phép quan trên, mọi người dân phải tuân theo hương ước, tuần tráng phải canh phòng cẩn mật, nội hương ấp ngoại đông điền nếu mất trộm phải đền một nửa

Trang 19

* Về tục lệ: Trong hương ước của làng có 12 điều quy định về lễ tiệc,

rước sách, khao vọng, chủ tế, đáng chú ý nhất là việc cúng tế ở đình Một năm

có rất nhiều ngày tiệc trong đó có hai ngày đại tiệc là 10 - 3 giỗ tổ Hùng Vương và 12 - 9 tiệc thánh hóa Một năm có 10 ngày tiệc, dân đinh phải làm

cỗ thờ, cứ mỗi ngày tiệc có 3 người làm, thuộc 3 hàng: Thượng, Trung, Đông

Vì hàng Thượng ít người nên còn ít tuổi cũng phải làm, nhiều người trong một đời phải làm đến 2 lần; nhưng hàng Trung, hàng Đông một người chỉ làm một lần Một người làm cỗ thờ phải có từ 4 đến 5 lễ gà thiến béo làm thịt luộc chín với xôi gạo nếp thơm mang ra đình cúng tiệc xong hạ huệ, các cụ trong làng thừa huệ gọi là ăn yến, người làm cỗ thờ còn phải mổ lợn, nhờ anh em dựng rạp, thịt gà, chọn gạo, đồ xôi ra đình là, cỗ yến nên rất tốn kém Hiện nay việc cúng bái các ngày lễ vẫn duy trì, chi tiêu do xã cấp kinh phí

* Kết hôn cưới hỏi: Thường là cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, kén chọn

môn đăng hộ đối nên có khi yêu nhau mà không lấy được nhau, hoặc lấy rồi lại bỏ Khi lấy vợ phải gánh nặng về lễ dạm, phải có đủ cau để nhà gái chia cho bạn bè thân tộc mỗi nhà 2 quả Khi cưới phải mang đến nhà gái vài lễ gà, 30-40 kg thịt lợn móc hàm, một số tiền cọc bằng bạc trắng hoặc tiền Đông Dương Đón dâu về có lễ tơ hồng cầu cho vợ chồng bách niên giai lão, Do chi phí lễ cưới nặng nề mà một số nhà nghèo không lo được, một số đã đứng tuổi vẫn chưa có tiền cưới vợ, một số đi tìm vợ nơi khác, chi phí ít tốn kém hơn

Từ cách mạng tháng Tám đến nay tục cưới hỏi có nhiều thay đổi, lễ dạm có cành cau, nửa cân chè, hai chai rượu; lễ cưới 1 mâm cau, 2kg chè, 8 túi thuốc lá, 8 chai rượu, còn ăn uống bên nào bên đó tự lo Ngày nay việc ăn uống cũng là bên nào có bên đó tự lo nhưng mâm ăn đông hơn trước nhiều, có nhà ăn 2, 3 ngày mới hết khách

* Đám ma: Theo lệ làng nhà nào có người chết phải đến báo Lý Trưởng

ghi vào sổ khái tử, nộp lệ phí, báo Trưởng Seo (như trưởng xóm bây giờ) để

Trang 20

xóm đến cất ma; nhà khá giả để làm ma vài ba ngày, nhà nghèo cũng phải lo bữa ăn mời cả xóm, không có thì gia đình họ tộc phải lo Sau cách mạng đã đổi hẳn, đưa ma là nghĩa vụ của mọi người, xóm không ăn uống Tục lệ này vẫn được duy trì đến ngày nay

* Đồng cốt: Trước đây trong làng có nhiều bà Đồng, có nhà có điện thờ

rất lớn; cũng có cả ông Đồng, thầy tự đi cúng bái, ốm đau là vừa thuốc vừa cúng, có năm cả làng ốm đau, trâu bò chết, làng cúng tiễn tà ma, đưa tiễn thuyền rồng; trên thuyền có ông tự cao tay ngồi hò hét đuổi tà ma, thuyền được khiêng đi quanh làng, dân đinh lên trượng chạy khắp làng, thuyền rồng được thả ra sông Đây là tục lệ mê tín được bỏ từ lâu

* Họ tương trợ: Ngày xưa phong trào họ tương trợ rất rộng rãi; họ thóc,

họ tiền, nhà nào có công việc lớn thì người trong họ góp giúp nhau hoặc gắp phiếu Kỳ góp họ rất đơn giản, đến góp tiền hoặc góp thóc có đủ lạc rang, chén rượu, họ nào to thì có lễ gà, góp xong hạ lễ mọi người cùng hưởng Tục họ tương trợ này rất rộng

1.1.5.2 Truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa của làng được thể hiện trên những hiện vật còn lưu giữ từ thời kỳ dựng nước, đồ đá, đồ gốm đến đồ đồng Nét đẹp văn hóa truyền thống còn được thể hiện qua phong tục lễ hội hàng năm của làng, còn được miêu tả trong kiến trúc điêu khắc và cả một bộ sưu tập như ngai thờ, đỉnh đồng, lô nhang, nhang án, các bộ kiệu và đồ tế khí phục vụ cho đám rước tại đình, tục ngày tiệc, các cụ 54 tuổi ra đình ăn yến

Trong làng còn tồn tại rất nhiều thơ ca hò vè ca ngợi truyền thống đất nước và con người An Lão được truyền khẩu trong dân gian như hát Ghẹo, ca ngợi 12 cô gái đẹp của làng, yêu nhau không lấy được nhau, chuyện ông đấu voi hủng cợt v.v Về văn nghệ, trước cách mạng có những đoàn hát bội lớn của Cụ Trùm tuyết, kép Tam, kép Tập đi biểu diễn trong và ngoài tỉnh Sau

Trang 21

cách mạng, phong trào văn nghệ lên rất mạnh, từng xóm có tổ văn nghệ động viên phong trào tòng quân cứu nước, đóng góp kháng chiến, xã có đội văn nghệ đi biểu diễn cả ở vùng khai hoang chuyển cư Nay đội văn nghệ Hùng

Lô có thể đi biểu diễn nhiều tiết mục hay được xếp hạng cao và được đưa lên đài truyền hình

An Lão còn có phong trào thể dục, thể thao khá Trước cách mạng có đội bóng đá thường đấu giao hữu với Việt Trì, Lâu Thượng Nay xóm nào cũng có đội bóng đá, cả xã là đội mạnh trong huyện Hàng năm có tổ chức đấu giao hữu trong xã và các xã lân cận vào các ngày kỷ niệm, ngày tết Tuy

là một làng ra đời sớm, làm ăn thịnh vượng, có dòng tộc từ quan lại triều đình

về đây, làng có thầy dạy chữ Nho, có trường Quốc Ngữ sớm nhưng chưa thấy

có người đỗ đạt cao, làm chức quan lớn Sau cách mạng, dân làng thắt lưng buộc bụng, nuôi con ăn học và bản thân người đi học cũng hết sức nỗ lực nên

đã có hàng trăm người đỗ đại học ra làm việc từ Trung ương tới địa phương;

có 1 giáo sư, 1 phó giáo sư, một số vụ trưởng, vụ phó, giám đốc, phó giám đốc các ngành của tỉnh; đại tá, thượng tá trong lực lượng vũ trang v.v

1.1.5.3 Truyền thống cách mạng

Hùng Lô là một làng giàu truyền thống cách mạng.Dân làng đã tham gia hoạt động của tổ chức Quốc dân Đảng từ năm 1930 Phong trào hoạt động cộng sản còn lên mạnh vào những năm 1939 – 1940; tại An Lão có xây dựng trụ sở hoạt động tại nhà cụ Phó hội Bách xóm Văn Tiến với các thành phần giác ngộ cách mạng đông đảo Tiếp đó là tham gia hoạt động về mọi mặt trong kháng chiến chống thực dân Pháp.Cách mạng tháng tám thành công, nước nhà độc lập giữa lúc phải trải qua nạn đói khủng khiếp.Theo lời Hồ Chủ Tịch, cả nước ra sức thi đua yêu nước chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm

Về chống giặc đói, mọi người ra sức tập trung vào sản xuất rau màu ngắn ngày để chống đói, đất đai được khai phá trồng trọt, Đảng dân chủ còn

Trang 22

tổ chức đi mở trại ở Lãng Công Cuộc vận động lá lành đùm lá rách và trước

đó là việc tham gia phá kho gạo của Nhật ở Tân Kiêng nên người An Lão thoát khỏi nạn đói năm 1945

Về chống giặc dốt; trong làng có cả một đội quân chống giặc dốt, phong trào dạy bình dân học vụ lên rất mạnh, ban đêm xóm nào cũng có lấp lóe ánh đèn của lớp bình dân, nam nữ già trẻ chưa biết chữ đều đến lớp Ban ngày, nhất là vào các ngày chợ buổi, việc kiểm tra xóa mừ chữ rất gắt gao Người tích cực đôn đốc tổ chức học tập, kiểm tra xóa mù phải kể đến là trưởng ban bình dân học vụ Nguyễn Văn Vỵ

Về chống giặc ngoại xâm; ngay từ sau cách mạng, việc tổ chức lực lượng tuyên truyền giác ngộ cách mạng, đưa tin hàng ngày về chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm rất được chú trọng Cả làng có một chòi thông tin lớn tại quán chợ bị đốt cháy; các xóm đều có chòi thông tin, có cán bộ đưa tin tức kịp thời, giúp dân sản xuất, sơ tán, hạn chế được nhiều thiệt hại mỗi khi địch tới Đội quân thông tin này còn kẻ nhiều khẩu hiệu phục vụ kịp thời cho yêu cầu mỗi giai đoạn của cuộc kháng chiến.Về dân quân tự vệ được tổ chức rất rộng rãi và chặt chẽ Các xóm đều thành lập trung đội dân quân tự vệ gồm cả nam và nữ Việc huấn luyện dân quân tự vệ có cán bộ huyện, tỉnh về phụ trách Đến năm 1946 – 1947 đã tổ chức du kích địa phương Ngoài đội du kích trẻ, ở làng còn có đội Lão du kích do cụ Hội Mạc làm đội trưởng; các cụ

có sáng kiến làm hầm chuông, cạm bẫy rất sáng tạo và hữu dụng; ngăn cản được bước tiến của giặc

Ngoài việc tổ chức dân quân du kích, An Lão còn xây dựng cả một hệ thống chống giặc bằng hàng rào kháng chiến, đào giao thông hào suốt từ đầu làng xuống tận núi Đồng Nai Lũy ngoài dựa vào tre xanh, chỗ nào không có lũy tre thì đẵn tre làng làm rào.Các cổng vào ngõ đều được đan bằng sắt Các

Trang 23

dọc đường khắp làng đều có hố cá nhân tránh phi pháo Làng còn thực hiện vườn không nhà trống để giặc đến không có gì sử dụng được

Làng còn tổ chức hội mẹ chiến sĩ, hội nuôi quân.Ngoài việc lo gạo nuôi quân, một số hộ khá giả nhận nuôi bộ đội, đỡ đầu bộ đội ngay từ những ngày đầu kháng chiến

Sơ bộ tổng quát trong hai cuộc kháng chiến, ngay từ đầu An Lão đã có công giúp đỡ cho cơ quan khu 10, cơ quan huyện Hạc Trì sơ tán Rồi đến tiêu thổ kháng chiến, dân làng thực hiện tuần lễ vàng hiến súng cho cách mạng Ngoài ra, dân An Lão còn mua hàng trăm tấn thóc công trái, đóng góp trên

2000 tấn thóc, hàng nghìn tấn gia súc gia cầm, hàng trăm cây tre, trên 100 thuyền nan, trên trăm bộ võng cáng, hàng vạn ngày công phục vụ chiến dịch… Riêng chống Pháp có trên 200 thanh niên vào bộ đội, 300 thanh niên vào bộ đội chống Mỹ Nhờ sự đóng góp lớn lao vào kháng chiến thắng lợi, xã được thưởng hàng chục lá cờ xuất sắc trong các phong trào thi đua, gần 100 bằng khen và một huân chương lao động hạng II

Dù có tổn thất hy sinh nhưng Nhà nước ta đã được độc lập thống nhất, dân An Lão hầu như người nào đến tuổi trưởng thành cũng tham gia dân quân

tự vệ, đi dân công phá đường phục vụ chiến dịch, bộ đội công an, thanh niên xung phong, cán bộ công nhân phục vụ khắp các chiến trường Nam Bắc và cả nước bạn Lào, Campuchia Công lao đó phải kể đến vai trò tuổi trẻ đi đầu trong mọi phong trào, và còn phải kể đến vai trò người phụ nữ An Lão giỏi giang việc nước đảm đang việc nhà Đến nay toàn xã có 2 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 114 liệt sĩ có bia mộ tại nghĩa trang, 71 thương binh, gần 100 sĩ quan từ cấp ủy trở lên trong đó có 6 đại tá (2 người đã tại ngũ), 5 thượng tá (2 người đã tại ngũ), hơn 300 bộ đội đã về làng, 174 cán bộ và bộ đội đã được chế độ hưu trí, trên 100 người đang công tác, 313 người đã được hưởng chế

Trang 24

độ kháng chiến; trong đó có 3 người được thưởng Huân chương độc lập là ông Hoàng Cần, Nguyễn Văn Ngải và ông Nguyễn Văn Kim

Nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời mà suốt hai cuộc chiến tranh giặc Pháp, Mỹ đổ bom đạn xuống làng càn quét, đốt phá mà cũng không đè bẹp được ý chí quật cường của nhân dân An Lão Không những không nản lòng

mà toàn dân An Lão càng ngày càng đoàn kết, nâng cao ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ cuộc sống yên bình cho dân làng cũng như góp phần vào thắng lợi chung của toàn quốc

* Cỗ yến: Làng có 10 ngày tiệc, dân đinh phải làm cỗ thờ theo tục lệ gồm

có lễ gà thiến béo, xôi dẻo ra đình cúng tiệc, khi hạ huệ đem làm thành cỗ gồm mỗi mâm có hai đĩa thịt gà, một đĩa xôi, một đĩa bún nộm trong đó có thịt gà băm nhỏ rang vàng với lạc rang giã nhỏ trộn lẫn, trên dải trứng tráng mỏng thái chỉ và một bát nước mắm ngon, một đĩa muối trắng Người được ra đình ăn yến là các cụ già từ 54 tuổi trở lên, ăn tại nhà yến lão, ăn xong còn được biếu phần Điều này nói lên từ xa xưa phong tục rất tôn trọng người cao tuổi.Sau cách mạng đã bãi bỏ nghĩa vụ làm cỗ thờ

* Cá gỏi: Ngày xưa dân An Lão có tục đánh cá hồ thiếc làm gỏi cúng

thần ở núi cấm Dân An Lão phần đông là dân kiếm cá thường ăn gỏi chọn cá chép ngon lọc lấy thịt, làm sạch rồi thái lát mỏng; khi ăn gói với rau độn, lá võng, rau thơm chấm với cá băm nhỏ xào mật gọi là dấm cá

Trang 25

Ngoài ra còn có cá thính, mắm tép là loại thức ăn được nhiều người ưa thích, còn có chè kho, rau cần xào thịt bò ăn vào 3 ngày tết Các loại bánh đặc biệt là bánh gai, bánh chưng, bánh dầy, bánh đa vừng

1.2 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ LỄ HỘI

1.2.1 Quan niệm về lễ hội

Hiện nay ở nước ta có rất nhiều các tác giả nghiên cứu về lễ hội, mỗi tác giả qua quá trình nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm, quan điểm của riêng mình Để đi tới được ý kiến chung nhất, em xin nêu ra một số khái niệm của các tác giả đi trước về vấn đề lễ hội:

Trong cuốn Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam do nhóm tác giả Nguyễn

Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang viết năm 2000 có đưa ra quan niệm về

lễ hội như sau:

Lễ hội là một hoạt động sinh hoạt cộng đồng, một nét đặc trưng của đời sống tâm linh, nó phản ánh phong tục tập quán của người dân Việt Nam Lễ và hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo, còn hội là phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi người, của cộng đồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội [4, tr.32]

Lễ hội hàm chứa một tâm tưởng vừa kín đáo sâu xa vừa lan tỏa bao trùm là sự thờ cúng các vị thần thánh Xét về chiều sâu và cốt lõi, thần thánh của làng là hình ảnh hội tụ phẩm chất (thường

là cao đẹp) mà cả làng hướng tới: có công dựng làng, lập nước,

có công ơn truyền nghề, có công lao đánh giặc, chống thiên tai, dịch bệnh [4, tr.9]

Trang 26

Trong cuốn Lễ hội cổ truyền, tác giả Lê Trung Vũ đưa ra cách hiểu của

mình về lễ hội như sau:

Lễ hội là việc dân làng mở hội cốt nhằm mục đích hồi tưởng công lao của thần, qua đó thêm một lần tô đậm sự cộng cảm giữa những người cùng làng, tức là những người cùng hưởng ân đức của một vị thần Mở hội cũng là thêm một lần, trong không khí thiêng liêng, ôn lại điều tâm niệm chung của cộng đồng về phẩm chất cần trau dồi như sự gắn bó với những người cùng làng, hội làng được mở cũng là lúc dân lành hy vọng rằng ước nguyện của toàn thể cộng đồng về một đời sống chung no đủ, giàu có, bình

an, được trở thành hiện thực Họ gửi gắm vào lời cầu khấn thần Thành hoàng - vị thần bảo hộ của làng Hội làng là nơi biểu hiện

sự tập trung tư tưởng và tâm lý của dân làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng đồng, nguyện vọng, ước mơ về một cuộc sống thái bình thịnh vượng [38, tr.9]

Tác giả Tô Ngọc Thanh trong bài trả lời phỏng vấn Lễ hội là cách nói

duy lý dễ gây hiểu nhầm đăng trên báo Lao động ngày 18/8/2013 đã quan

niệm về lễ hội như sau:

Lễ hội là tên gọi mới của một số nhà nghiên cứu nhìn nhận Hội làng theo tư duy duy lý của phương Tây, trong đó theo họ, phần lễ thì nghiêm trang, còn phần hội thì vui vẻ giải trí Ngày xưa trong tiếng Việt không có từ Lễ, chỉ có từ Hội, người ta thường nói

“làng tôi mở Hội”, “làng tôi đóng đám”, “làng tôi vào đám” hay Hội làng tôi mở vào ngày này, tháng này chứ không ai nói là Lễ hội Vì người Việt nhận thức Hội làng như một tổng thể Cả hai phần mà ngày nay người ta phân tách ra đều mang những đặc trưng chung của hội Có thể nói gọn lại hội là một không gian và

Trang 27

thời gian chứa đựng đậm đặc năng lượng thiêng của cả vũ trụ và thời gian Với người Kinh không gian thiêng ấy được đặt vào cái sân đình Với các tộc thiểu số, nó bao quanh cây nêu Còn thời gian thiêng chung là các thời điểm của mùa Xuân Cho nên, kẻ giàu, người nghèo nô nức đến Hội trước hết để được đắm mình trong không gian thiêng và thời gian thiêng đó, để được tiếp nhận năng lượng thiêng của cả trời đất, quá khứ, hiện tại và để được trải nghiệm sự thăng hoa trong không gian, thời gian thiêng liêng ấy [30, tr.3-4]

Mỗi nhà nghiên cứu đều có quan điểm riêng nhưng chung nhất ở lễ hội

là một sự kiện, là nơi thể hiện sức mạnh gắn kết của cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là cả quốc gia dân tộc Lễ hội là dịp con người được trở

về nguồn cội, được giải tỏa, dãi bày với thần linh; mong được thần linh che chở giúp đỡ để thể hiện một niềm tin tín ngưỡng tươi sáng

1.2.2 Lễ hội đình làng Hùng Lô

Lễ hội Đền Hùng và tín ngường thờ Hùng Vương ở Phú Thọ và các địa phuơng đều có điểm tương đồng: buổi ban đầu do nhân dân thờ cúng, về sau đã được nhà nước hóa thờ cúng và trở thành nghi lễ Quốc Gia: trước đây do các Vua Quan tế lễ, ngày nay do nguyên thủ đứng đầu nhà nước tham gia Chủ tế Tín ngưỡng thờ Hùng Vương có ảnh hưởng rộng lớn, trước đây chỉ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, ngày nay tín ngưỡng thờ Hùng Vương đã vượt danh giới Khu di tích Đền Hùng và có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng cư dân các địa phương trong cả nước Tín ngường thờ Hùng Vương là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có sức hấp dẫn và thu hút công chúng mạnh mẽ, thể hiện lượng du khách tham gia ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng Ba hàng năm ngày càng tăng cao

Trang 28

Hùng Lô là một trong 326 di tích thờ cúng Hùng Vương tại tỉnh Phú Thọ Làng có 2 ngày hội chính là mồng 10 tháng 3 và ngày 12 tháng 9 Ngày hội, làng tổ chức rước, tế lễ rất tuần tự; dân cả làng đều tập trung tại đình, thành tâm cúng lễ cũng như tham gia các phần hội, trò chơi

Bất cứ lễ hội cổ truyền Việt Nam nào cũng đều mang những ý nghĩa nhất định Lễ hội góp phần tạo nên những giá trị văn hóa Lễ hội đình Hùng Lô cũng không phải là ngoại lệ Phần lễ của đình trang trọng, linh thiêng, khơi dậy ý thức dân tộc trong mỗi cá nhân Phần hội lại là lúc quy tụ được mọi người hòa nhập vào chỉnh thể sinh hoạt văn hóa cộng đồng Thời điểm diễn ra

lễ hội cũng chính là lúc mọi người trong thôn ngoài xóm đều háo hức tham gia, hưởng ứng không khí vui vẻ, hài hòa của cả cộng đồng cư dân Đây cũng chính là một cách giao lưu văn hóa để hoàn thiện quan hệ xã hội và cùng nhau

có những định hướng đúng đắn hơn cho cư dân cả trong và ngoài xã

Không gian lễ hội Hùng Lô vừa mang tính phân biệt vừa mang tính hòa nhập Sự phân biệt được thấy ở sắc thái của vùng văn hóa làng xã Hùng Lô, vùng địa lý xã Hùng Lô Đặc trưng này được thể hiện qua tên gọi, vai trò của

vị thần được thờ phụng, các sự tích, cách tổ chức lễ, cách tế lễ Tính hòa nhập lại là điều mà dễ nhận thấy hơn cả Vào ngày lễ hội, không chỉ có cư dân địa phương tham gia mà cả cư dân thập phương cũng đến trẩy hội, rất nhiệt tình trong các trò chơi và cũng vô cùng trang nghiêm trong các nghi thức tế Chính điều này làm tăng tính cộng đồng trong xã hội Thời gian lễ hội đình Hùng Lô vừa mang tính định vị vừa là sự nối tiếp liên tục trong dòng chảy của lịch sử Nó trở thành một điểm mốc thời gian khắc sâu vào tâm thức người dân Là thời điểm mà mọi người dân dù làm gì ở đâu cũng không bao giờ quên ngày diễn ra lễ hội ở làng mình Luôn khơi dậy trong ý thức mỗi người dân nhớ về truyền thống lịch sử, về nguồn văn hóa quê hương mình

Trang 29

Chương 2

LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI

2.1 KHÔNG GIAN DIỄN RA LỄ HỘI

Đình Hùng lô nằm ở vị trí trung tâm của xã Hùng Lô Muốn tới thăm đình chúng ta có thể đi bằng nhiều phương tiện:

Lấy trung tâm là Việt trì, đi bằng đường bộ, đường thủy

Từ Việt Trì (Gia Cẩm) đi tới nhà máy đóng tàu Sông Lô đi ngược theo

đê Sông Lô, qua xã Phượng Lâu là đến xã Hùng Lô (khoảng 10 km)

Từ huyện Phù Ninh đi xuôi qua xã Tử Đà, xã Vĩnh Phúc là tới xã Hùng

Qua nhiều biến cố lịch sử, dân làng Hùng Lô vẫn một lòng đoàn kết, chống giặc giữ làng, xây dựng được một làng quê có dân đông lại có đình lớn

mà các giáo sư sử học đến nghiên cứu cũng không ngờ được một làng quê nhỏ ven sông mà lại có được một ngôi đình làng nguy nga, đồ sộ, cổ kính và mang dấu ấn lịch sử văn hóa tâm linh mà còn giữ gìn được khá nguyên vẹn đến vậy Đình Hùng Lô hay còn gọi đình Xốm được xây dựng từ thế kỷ XVII, được bổ sung ở thế kỷ XVIII và sửa chữa ở thế kỷ XIX – XX Nay còn đầy

đủ bằng chứng và cả trên thư tịch Khởi dựng nơi đây là ngôi Miếu trước kia chỉ được làm bằng tre, nứa, lá , qua thời gian được tôn tạo lại với từng lớp

gỗ, gạch vữa chắc chắn như ngày nay

Trang 30

Đình Hùng Lô được xây dựng trên một quả đồi thấp mà dân làng gọi là đồi con Cua Theo các cụ già ở làng kể lại rằng: ngôi đình này được xây dựng trên mai của con cua, hai bên tả hữu đình lưu truyền rằng còn có hai cái ao như hai mắt của con cua nhưng ao này nay đã bị lấp đi

Đình Hùng Lô được làm theo hướng Tây chếch Nam – là hướng hội tụ được những tinh hoa tốt đẹp nhất để trường tồn được với thời gian Đây là một trong những hướng cổ truyền của người Việt gắn với hệ tư duy nông nghiệp và ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung - Ấn Và theo quan niệm của người xưa thì hướng Tây là hướng ổn định nhất, hợp với sự vận hành của âm dương; còn chếch Nam là hướng gió mát vào mùa hè Đình trông về núi Nghĩa Lĩnh - nơi có mộ vua Hùng; phía trước đình là núi Rịa Ngập; phía bên phải là xóm Xi; bên trái là xóm Ngà được ví như tay Long tay

Hổ mà các cụ ta gọi là “Tả thanh long, hữu bạch hổ” Đình được xây dựng ở gần khu dân cư, xung quanh đình có trồng rất nhiều cây như đa, cọ, si và các cây lưu niên tạo thành một màu xanh vừa thâm nghiêm vừa cổ kính

Trong kiến trúc cổ truyền của người Việt không tồn tại những công trình đơn lẻ mà bao giờ cũng là một tổng thể các đơn nguyên để tạo nên một

bố cục mặt bằng Đình Hùng Lô có cả một quần thể di tích lịch sử văn hóa tâm linh, trải qua nhiều biến cố mà vẫn giữ được dáng vẻ khá đồ sộ, nguy nga,

cổ kính và nguyên vẹn tới ngày nay Từ xưa trong làng đã tồn tại bài ca dao nói về quần thể đình Hùng Lô như sau:

Chúc mừng An Lão làng ta

Có ngôi thiên trụ thật là tối linh Lại có bên Miếu, bên Đình Một bên văn chỉ tối linh phật trời Thần nông xây bệ ở ngoài

Trang 31

Quán vuông ở giữa, quán dài hai bên Hai quán trông thấy đây rồi Trông lên phía ngược thấy nơi nhà trường Trong quần thể này có đình, có miếu, có chùa, có nhà văn chỉ, bệ thần nông, có quán chợ, nhà trường Ngoài ra còn phải kể đến nhà yến lão; cửa nhà yến lão còn có một ao sen mùa hoa tỏa hương ngào ngạt

* Ngôi Miếu lâu đời

Trong quần thể đình trước hết phải kể đến ngôi Miếu thờ Hùng Vương, hiện còn lưu giữ 11 đạo sắc phong từ thời Tây Sơn đến thời Nguyễn, có 9 đạo phong Hùng Vương Miếu Các đạo sắc phong này có từ thời Quang Trung ngũ niên là năm 1787 đến Khải Định cửu niên là năm 1934, trong khoảng 147 năm mà được phong 9 đạo cho Hùng Vương Miếu chứng tỏ các triều đại nhà vua rất quan tâm đến vị thế của ngôi Miếu

Ngôi miếu nằm ở phía Nam đình, hướng về Nghĩa Lĩnh Miếu được xây dựng theo kiểu nhà hai mái, cửa mở ra đầu đốc, nhà có chiều dài 9m, rộng 5.5m Bàn thờ được bố trí dọc nhà, giáp đốc trong là cung thờ; trong cung có một cỗ ngai (cỗ chéo) lớn, trước cửa cung cũng có thượng ban, hạ ban và hương án Trước cửa miếu có 3 chữ đại tự “Tổ Vương Miếu” – Miếu thờ Tổ Vua Cách cửa miếu 3m là một tam quan có hai mái chồng, trước cửa có bức hoành phi đề 4 chữ “Nam Thiên Thánh Tổ” – Ông Tổ trời Nam Ngoài tam quan có hai trụ đắp rồng phượng Ngôi miếu được trùng tu vào thời Lý Cao Tông năm Đinh Tỵ (1197) Trải qua nhiều lần tu tạo miếu còn giữ được 4 cánh cửa rồng đun (thời Lý); trong miếu có 4 câu đối, 1 câu đối máng, 3 câu đối bản

Dưới gầm cung miếu có một huyệt lõm, các cụ xưa truyền rằng từ xưa đã

có như thế; đây là một huyệt có khí thiêng bốc lên, cứ đổ đất vào rồi lại hõm

Trang 32

xuống, lát gạch vào gạch bị vỡ dần Đây chính là huyệt giáp canh mà sự tích vua Hùng ra thăm có nói đến Ở đầu đốc phía trong tam quan có hình hai người và hai ngựa – tượng trưng vua Hùng và công chúa cưỡi ngựa hồng ra đây Ngoài cửa từ tam quan đến cột trụ có 2 voi đắp nổi, không thấy có sử sách nào ghi chép về điển tích này song có ý kiến cho rằng đây là dấu tích ghi lại Bà Trưng có đến đây

* Ngôi đình cổ kính

Ngôi đình được xây dựng từ thời Lê Huy Tông niên hiệu Chính Hòa năm Đinh Sửu (1697) Đình có kết cấu kiến trúc kiểu chữ công nằm trên diện tích 4.482m2 gồm có Đại đình, Long đình, Tiền tế; hai bên Long đình có lầu chuông, lầu trống Từ sân đình lát gạch đỏ nhìn ra là cổng Nghi môn uy nghi; đình không có tả vu hữu vu nên tạo được không gian rất thoáng đãng mà lại

gần gũi không bó buộc

Kết cấu kiến trúc của nghi môn được giới hạn bởi hai hàng cột trụ cao to, thân trụ vuông thành sắc cạnh, dành ba mặt để đắp chữ cân đối Phía trên là đèn lồng đắp tứ linh, tiếp đến là mái đèn 4 mặt đắp hổ phù và bốn góc đắp rồng Tận cùng là bốn con phượng chụm đuôi lại bốc lên như đóa hoa

Qua sân đình là tòa Tiền tế được đặt trên nền cao hơn so với sân 0.65m, nền được lát gạch đỏ có kích thước 20cm x 20cm Tòa Tiền tế có kết cấu kiến trúc gồm bốn hàng chân cột với kiểu liên kết kẻ ngồi bẩy hiên, vì nóc chồng rường Toàn bộ tòa Tiền tế được đặt trên hệ thống 32 cột gỗ to mỗi chiếc có đường kính từ 0.46m đến 0.53m Tòa này gồm 5 gian 2 chái, xung quanh là các cửa sổ chắn song con tiện khiến lòng nhà rất thoáng, gian chính giữa là hệ thống cửa bức bàn Ở tòa Tiền tế xưa kia có hệ thống ván sàn gỗ còn để lại dấu tích trên các cột Điều này giúp khẳng định nó có niên đại sớm

Trang 33

Long đình được xây dựng từ khi xây dựng nhà tiền tế nhưng rất nhỏ, đến

tu tạo đình năm 1938 mới đẩy tiền tế ra trước để xây dựng long đình vuông rộng 6m, có 2 mái lợp chồng, 4 cột dựng

Đại đình được xây dựng các vì kèo theo kiểu trên giường dưới kẻ, bên dưới hình thành 3 gian rộng với 2 chái nhỏ - là một kiểu kiến trúc cổ truyền của làng quê Việt Nam Tòa đại đình có chiều dài 19m, rộng 13m, cao 7m, hình thành 4 mái có 4 đao cong vút đắp rồng hút nước và có những con kìm, con so chạy trên bờ mái – được làm bằng đất nung Kết cấu mỗi vì gồm 6 hàng chân cột, hệ thống cột có kích thước lớn, các cột mẫm và thấp Quanh tòa đại đình là hệ thống cửa bức bàn, riêng ở gian giữa là cửa chạm thủng hoa văn hổ phù cách điệu lồng chữ “thọ” tròn; Phía dưới được trang trí tứ linh, tất

cả đều được sơn son thiếp vàng

Về không gian nội thất bố trí rất hài hòa hợp lý, hệ thống tường và cửa đan xen để tạo những khoảng cho ánh sáng và gió lùa vừa đủ Gầm cung có một phòng cửa mở về hướng đông - ấm về mùa đông thoáng mát về mùa hè; thể hiện sự tính toán khoa học của người xưa

Trong đình có trên 10 bản chạm khắc gỗ thể hiện sự công phu tỉ mỉ có giá trị nghệ thuật cao; tập trung ở các đầu bẩy, cốn, ván gió được thể hiện rất đa dạng và hài hòa Trang trí lấy rồng làm nền tảng như “lưỡng long chầu nhật”, “long mã vờn ngọc”, “phượng ngậm hóm sách”, “cúc nở mãn khai”, tứ linh, tứ quý Với kỹ thuật chủ yếu là chạm bong kênh kết hợp chạm nổi khắc chìm trong đó mô tả những nét sinh hoạt nhiều mặt của con người trong xã hội Việt ta Có cảnh dã sử như các hoạt động của Đinh Bộ Lĩnh hồi nhỏ, có cảnh truyện Tây Du ký; các hoạt cảnh dân gian như các trai tráng cởi trần đóng khố đấu vật trên đầu rồng, thiếu nữ cưỡi trên râu rồng với dáng điệu vui tươi như đang nhảy múa Đặc biệt có bức chạm cả một dàn nhạc có đàn đáy, đàn tì bà, trống chầu, sáo nhị với chừng 50 nhân vật được khắc họa mỗi người

Trang 34

một vẻ mặt, một cá tính nhưng đều thể hiện niềm vui hồ hởi trong khung cảnh thanh bình

Nổi bật ở gian chính giữa là ban thờ vua Hùng hình thành 3 lớp trong đó

có 3 cỗ ngai thờ Tam Vị Vương được ghi ở bài vị ngai giữa “Ất sơn thánh Vương, Viễn sơn thánh Vương, Áp đạo quan đại Vương” Trên cửa cung có 3 bức hoành phi, cuốn thư trên cửa được chạm khắc rất tinh xảo, công phu, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy

Trong quần thể đình có tất cả 43 câu đối, 7 bức hoành phi và 3 cuốn thư bằng chữ Nho nói lên sự ca ngợi công đức Vua Hùng và cảnh đẹp quê hương Riêng Đại đình có 15 đôi câu đối, trong đó có 9 đôi câu đối máng, 6 đôi câu đối bản, 3 bức hoành phi và 2 cuốn thư

* Quả chuông: Đình có một quả chuông lớn, ngày xưa treo ở đình dưới

Từ năm 1938 xây dựng lầu chuông mới treo vào lầu chuông Đây là vật quý của làng Quả chuông được đúc vào năm 1843 do dân làng và chức sắc thập phương cung tiến Ngày nay, chuông vẫn được sử dụng rất tốt vào mỗi dịp tế

lễ của đình

* Nhà văn chỉ: Cũng không biết rõ nhà văn chỉ được xây dựng từ bao

giờ, có truyền thuyết là trước ở xóm Văn Tiến chuyển lên cạnh miếu, là nơi thờ Khổng Tử Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 2 và rằm tháng 8, các cụ đồ đưa học trò ra làm lễ thánh Ngôi nhà được làm theo kiểu 4 mái, 3 gian, cột

gỗ, mái lợp ngói mũi hài Nhà văn chỉ bị hư hại hồi kháng chiến nhưng vẫn còn giữ lại được một bức hoành phi và đôi câu đối bản

* Nhà yến lão: Khu vực nhà yến lão từ sau miếu đến ao sen gồm 2 căn

nhà, một nhà lớn 6 gian làm bằng gỗ mít, 6 hàng chân cột, mái lợp ngói mũi hài và một nhà nhỏ giáp ao sen Nhà lớn để các cụ ra đình dự tiệc rồi ăn yến tại đây, nhà nhỏ dùng để bày cỗ yến

Trang 35

* Bệ thần nông: Bệ thờ lộ thiên – Thờ Thần Nông, là vị thần làm ra lúa,

ngô, lương thực Hàng năm tế lễ vào hai ngày: 25-10 âm lịch gọi là lễ hạ điền, 25-5 âm lịch là lễ thượng điền Cầu xin được mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhà nhà no đủ Bệ thần nông có 3 chữ “Tế như tại”

+ Về lịch sử xây dựng và tôn tạo

Đình Hùng Lô được xây dựng từ rất sớm Đây là ngôi đình mà niên đại xây dựng và những đợt trùng tu lớn còn được khắc rõ trên câu đầu Ở câu đầu bên trái cho biết: “Bắt đầu đặt nóc giờ Ngọ ngày 12 tháng chạp năm Chính Hòa 18” – tức năm 1697 Còn câu đầu bên phải cho biết: “Đặt nóc dịp sửa chữa vào giờ Tý ngày mồng 1 tháng 8 năm Bính Ngọ” – tức năm 1846 Khi bắt đầu xây dựng đình được làm theo kiểu hình chữ nhị, đến năm 1938 đình được tu sửa lại toàn bộ Năm 1846 đình được tu tạo lần thứ nhất, đến 1938 là lần tu tạo có quy mô lớn Tất cả những lần tu sửa ấy đều có sự đóng góp của nhân dân Đợt tu tạo thứ 2 rất lớn, do cụ Nguyễn Đức Hợp phụ trách, cụ Nguyễn Huy Giới làm thủ quỹ và tất cả những người cung tiến đều được ghi lại ở tấm bia đá tại lầu chuông

Sau cách mạng ngôi đình vẫn được bảo vệ tốt Năm 1968 đã thay một

xà ở phía đông bắc do ông Tuyết Hồng phụ trách, năm 1974 lại thay cột cái phía tây bắc do ông Tuyết Hồng phụ trách Đến năm 1986 thành lập ban tu tạo

do ông Hoàng Cần làm trưởng ban đã đi vận động quyên góp được nhiều tiền của ở nhiều nơi và đều được ghi chép tại 3 tấm bia đá phía bắc tòa Tiền tế

Đến năm 1996 tỉnh cấp cho trên 70 triệu để tu sửa do ông Nguyễn Văn Ngải làm trưởng ban Đợt này xây thêm một ngôi chùa nhỏ thờ Phật ở bên trái đình, sửa toàn bộ mái tòa Tiền tế, lợp toàn bộ đình và miếu, lát nền Đại đình Cũng trong đợt này vận động cơ quan ngành huyện tỉnh cung tiến gần 100 trệu đồng xây dựng khuôn viên; ngoài ra còn mua rất nhiều chậu cảnh lớn tạo thành vườn cảnh trước và quanh đình Nhiều cây đa, si, cây

Trang 36

đề, cây hòe của nhân dân cung tiến cũng được trồng và được chăm sóc cẩn thận thay vào những cây cổ thụ của đình đã bị chết; tạo không gian cảnh quan xanh cho di tích

+ Về các hiện vật trong di tích:

* Hiện vật bằng giấy: Đáng chú ý nhất hiện nay là ở đình còn lưu giữ được

7 đạo sắc phong bằng giấy màu vàng, chữ viết màu đen có chiều dài 125cm, rộng 50cm; trong đó có ghi rõ các đời vua ban sắc phong cho các vị thần

- Đạo thứ nhất: Năm Quang Trung thứ 5, ngày 28 tháng 7

- Đạo thứ hai: Năm Thiệu Trị thứ 6, ngày 17 tháng 7

- Đạo thứ ba: Năm Thiệu Trị thứ 6, ngày 18 tháng 8

- Đạo thứ tư: Năm Tự Đức thứ 3, ngày 3 tháng 7

- Đạo thứ năm: Năm Đồng Khánh thứ 2, ngày 1 tháng 7

- Đạo thứ sáu: Năm Duy Tân thứ 3, ngày 11 tháng 8

- Đạo thứ bảy: Năm Khải Định thứ 9, ngày 29 tháng 7

* Hiện vật bằng gỗ: Đình hiện còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật gỗ

quý giá Đáng chú ý là 2 nhang án bằng gỗ đặt ở giữa tòa Đại đình có niên đại

từ thế kỷ XVII được chạm nổi rất tinh xảo Ngoài ra còn có 5 cỗ kiệu chạm trổ rồng và được sơn son thiếp vàng, 1 cỗ kiệu bát cống, 6 cỗ long ngai thờ, đôi hạc thờ cao 3m ở gian giữa tòa đại đình, 3 chiếc sập gỗ chân quỳ, 3 bức cuốn thư cùng với rất nhiều hoành phi câu đối Hai bên gian giữa tòa đại đình còn lưu giữ 2 bộ bát bửu của Nho giáo được chạm khắc tỉ mỉ, chau chuốt Đây đều là những di vật vừa mang tính thờ tự vừa mang giá trị nghệ thuật cao

* Hiện vật bằng đồng: Đình hiện còn lưu giữ được quả chuông đồng được

đúc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), chuông 4 núm, 4 mặt đều khắc chữ, phía dưới

có khắc nổi hình tứ linh; chuông hiện treo ở lầu chuông bên trái tòa Phương đình Ngoài ra còn có 3 cây đèn đồng, 6 chiếc đỉnh đồng và 1 chậu đồng

Trang 37

* Hiện vật bằng đá: Đình Hùng Lô hiện còn một bát nhang bằng đá

kiểu chân vại được chạm khắc hình “lưỡng long chầu nguyệt” Tại lầu chuông còn một tấm bia bằng đá chạm nổi, trán bia là hình “lưỡng long chầu nguyệt”, hai bên là họa tiết hoa dây, chân bia có mặt hổ phù Bia được làm vào năm Bảo Đại thế kỷ 13 để ghi những người công đức trong việc tu sửa đình

* Hiện vật bằng sứ: Tiêu biểu là 14 chiếc bát nhang sứ kiểu chân vại

được trang trí “Lưỡng long chầu nguyệt” Sự phong phú về hiện vật sứ còn có

10 chiếc lộc bình sứ, 29 chiếc chén sứ với nhiều đề tài trang trí phong phú,13 chiếc bát sứ trang trí hoa dây, 21 chiếc nậm rượu và 1 chén có hình quả chuông đường kính 7cm

Với những giá trị di sản văn hóa để lại cho hậu thế, đình làng Hùng Lô đã

có một vị thế văn hóa tâm linh rất quan trọng đối với đời sống tinh thần của toàn

bộ cư dân trong làng.Nó đã thực sự là nơi gặp gỡ, gắn bó, cố kết cộng đồng trong mọi vấn đề của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội từ xưa đến nay

2.2 NHÂN VẬT ĐƯỢC PHỤNG THỜ TRONG LỄ HỘI

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ, đã lý tưởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình.Thời đại Hùng Vương

là thời đại có thật trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc nhưng chưa có chính sử ghi chép lại một cách đầy đủ

Thời đại Hùng Vương tồn tại, đồng hành gắn liền với sự phát triển văn hóa Việt Nam bởi hiện đang tồn tại và lưu giữ một kho tàng văn hóa Hùng Vương mà trong đó mảng truyền thuyết dân gian chiếm vị trí quan trọng Những câu chuyện truyền thuyết là do cộng đồng sáng tạo ra trong trường kỳ lịch sử, sự sáng tạo này làm rõ thêm của biểu tượng Hùng Vương trong tiềm thức dân gian Chính nhờ những câu chuyện này mà tín ngưỡng thờ Hùng Vương và các Vua Hùng sống mãi cùng non sông đất nước, là nơi hội tụ dân

Trang 38

tộc, cội nguồn dân tộc Truyền thuyết dân gian Hùng Vương là linh hồn sống động góp phần to lớn tạo ra diện mạo Văn hóa Hùng Vương Truyền thuyết dân gian là những câu truyện được lưu truyền trong dân gian, là nhịp cầu nối quan trọng kết nối giữa các thế hệ hôm nay với quá khứ truyền thống tốt đẹp của cha ông Mặc dù còn những nét mộc mạc, dung dị không cầu kỳ nhưng truyền thuyết dân gian đã phản ánh đa dạng cuộc sống sinh hoạt và truyền thống đạo lý tốt đẹp của cha ông từ ngàn đời xưa

Không gian vật chất Vương triều Hùng Vương đóng đô thuộc kinh

đô Văn Lang (nay là địa bàn Thành phố Việt Trì-tỉnh Phú Thọ), tại nơi đây

ở bất cứ một địa danh nào nơi này đều gắn với truyền thuyết phản ánh tập tục, đời sống sinh hoạt, lao động…của nhà Vua Truyền thuyết Hùng Vương gắn với mỗi địa danh thành phố: Cung điện của Nhà Vua thuộc thôn Việt Trì (Khu Di tích khảo cổ làng Cả-nay thuộc Phường Tiên Cát, Thành phố Việt trì); Gò Tiên Cát là nơi vua sai dựng lầu kén rể, hình thành câu truyện truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh; Khu cung lầu vua và vợ con ở

có 15 sở là: Lầu Thượng, Lầu Hạ, Lầu Nam, Lầu Rồng, Gác Thượng, Lầu Thần, Gác Nguyệt, Lầu Trên, Lầu Dưới, Lầu Tả, Lầu Hữu, Lầu Long Tú, Lầu Long Hương, Lầu Thiên Bảo, Lầu Nhật Trung Đình (nay thuộc xã Trưng Vương, Thành phố Việt Trì); Lầu Phượng bên bờ sông Lô để Vua hóng mát và xem thuyền bè xuôi ngược (nay thuộc xã Phượng Lâu, Thành phố Việt Trì); Nhà Thái miếu Vua thờ Tổ tiên, sau lập ra làng Thanh Miếu-nay thuộc Phường Thanh Miếu-Thành phố Việt Trì; Tháp Lọng (nay thuộc

xã Kim Đức-Thành phố Việt Trì) là nơi các Lạc hầu ở; Thôn Cẩm Đội (nay thuộc xã Thụy Vân, Thành phố Việt Trì) đặt trại huấn luyện quân sỹ; Đồng

Lú (nay thuộc Phường Minh Nông, thành phố Việt Trì) là ruộng của nhà Vua, dùng dạy dân làm ruộng lạc, cấy lúa chiêm; Chợ Lú vua lập ra để mua bán thóc gạo; Gò Mã lao là nơi Vua Hùng nghỉ ngựa khi đi săn; Đồi Hòa

Trang 39

Phong (nay thuộc Phường Nông Trang, thành phố Việt Trì) là nơi để kho thóc và chứa rơm của Vua; Xứ đồng Hương Trầm (nay thuộc Phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì) là nơi Hoàng tử Lang Liêu cấy nếp thơm làm bánh chưng, bánh dày dâng tiến nhà Vua; cũng tại đây có Vườn trầu Nhà Vua; Làng Thậm Thình (nay thuộc Phường Vân Phú-Thành phố Việt Trì) là nơi dân giã gạo để dâng vua; Làng Khang Phụ (xã Chu Hóa), làng Cổ Tích (xã

Hy Cương) có phần mộ của Nhà Vua…

Các truyền thuyết dân gian thời Hùng Vương đã ăn sâu, bắt rễ trong đời sống tinh thần của nhân dân, mỗi làng, xã…nhân dân đều lưu truyền những câu truyện truyền thuyết dân gian thật hấp dẫn và sinh động về hình ảnh một ông Vua dân dã đời thường Trong tâm thức của người dân Phú Thọ lưu truyền lại kho tàng truyền thuyết dân gian vô cùng phong phú, các cụ cao niên

cư trú tại các xã phường thuộc địa bàn thành phố Việt Trì đều thuộc lòng nhiều câu chuyện truyền thuyết dân gian về các Vua Hùng

Đình Hùng Lô là nơi thờ vọng vua Hùng Gian giữa tòa đại đình, trên long cung thờ tam vị thánh vương gồm: Ất Sơn Thánh Vương – Là vua Hùng Hoa Vương, tên húy là Bảo Lang;Viễn Sơn Thánh Vương – Là vua Hùng Hy Vương, tên húy là Viên Lang; và tướng bảo vệ vua Hùng được phong vương còn gọi là Áp đạo quan đại vương Nếu tính từ Kinh Dương Vương là vua Hùng thứ nhất thì Đình Hùng Lô thờ vua Hùng thứ tư, thứ năm; nếu tính từ vua Hùng Quốc Vương là con trưởng thì đình thờ vua Hùng thứ hai, thứ ba Cuốn ngọc phả còn lưu giữ được ở đình ghi lại như sau: vua Kinh Dương Vương ở ngôi được 215 năm, thọ 260 tuổi; Lạc Long Quân nối ngôi, lấy Âu

Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, trăm trứng này nở ra 100 người con trai Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con ra để nuôi, 50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên núi Trăm con tuân theo mệnh lệnh của cha mẹ, họ tôn người con

cả lên làm vua gọi là Hùng Vương; đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở

Trang 40

Phong Châu Họ Hùng truyền ngôi được 18 đời, đến vua Hùng thứ 18 không

có con trai, chỉ có hai công chúa là Tiên Dung và Ngọc Hoa Tiên Dung lớn lên kết duyên với Chử Đồng Tử, Ngọc Hoa kết duyên với Tản Viên Sau mất ngôi về nhà Thục

Khi vua Hùng thứ 18 mất được dân Hy Cương lập đền thờ trên núi Hùng (núi Nghĩa Lĩnh) Dân Hùng Lô cũng lập đình thờ vọng vua Hùng thứ

18 tại miếu và hàng năm tổ chức lễ rước kiệu về Đền Hùng hòa cùng với nhiều làng khác vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch

2.3 DIỄN TRÌNH LỄ HỘI

Lễ hội là một thể thống nhất không thể chia tách Hội làng gắn với lễ nhưng lại chịu sự chi phối của lễ, có lễ mới có hội Nếu như lễ là một hệ thống nghi thức mang tính quy phạm nghiêm ngặt với những chuẩn mực mang tính khuân mẫu, bắt buộc mọi thành viên trong buổi lễ hành động trong một không khí trang nghiêm đầy yếu tố thiêng; thì trái lại, hội lại là một sinh hoạt dân dã phóng khoáng được diễn ra nhằm để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với hàng loạt các hoạt động hấp dẫn Mọi người đến với hội trong niềm cộng cảm, cùng nhau hưởng thụ niềm vui, cùng bị lôi cuốn vào những trò chơi hấp dẫn, lý thú Sau những ngày làm việc chăm chỉ vất vả, dân làng đến với hội thật hồn nhiên; họ đến để vui chơi cho thỏa thích mà không bị ràng buộc bởi các nghi lễ, không phân biệt tôn giáo, địa vị, tuổi tác…v.v Trong quá trình vận động, lễ là phần gốc rễ đã hòa nhập vào với hội là phần tái sinh tích hợp để tạo nên một tổng thể thống nhất không thể chia tách như ngày nay

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, lễ hội đã trở thành tấm gương phản chiếu trung thực hoàn cảnh và lối sống của dân tộc Là một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết khí hậu nên từ lâu đã hình thành tư duy cầu mùa theo tâm linh Bởi vậy, trong chu kỳ khép kín của thời gian trong tư duy ấy, người nông dân không chỉ lo cày cấy, vun trồng mà

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (1996), Nếp cũ hội hè đình đám, tái bản, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Nxb trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 2005
3. Nguyễn Chí Bền (trưởng ban tuyển chọn) (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb VHDT và Tạp chí VHNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb VHDT và Tạp chí VHNT
Năm: 2000
4. Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2000
5. Nguyễn Chí Bền (2011), “Đặc điểm của tín ngưõng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, Tạp chí DSVH, (35), tháng 2, tr.35-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của tín ngưõng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Tạp chí DSVH
Năm: 2011
6. Vũ Kim Biên (1999), Văn hiến làng xã vùng đất Tổ, Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hiến làng xã vùng đất Tổ
Tác giả: Vũ Kim Biên
Năm: 1999
7. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (Cục Văn hóa cơ sở) (2008), Thống kê Lễ hội Việt Nam, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê Lễ hội Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (Cục Văn hóa cơ sở)
Năm: 2008
8. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Cục Văn hóa cơ sở (2008), Thống kê lễ hội Việt Nam, tập 2, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê lễ hội Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Cục Văn hóa cơ sở
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
9. Cục Di sản Văn hóa - Bộ VH, TT & DL (2008), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 1, 2, 3,4, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục Di sản Văn hóa - Bộ VH, TT & DL
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2008
10. Phạm Xuân Độ (1940), Phú Thọ tỉnh địa chí, Nxb Nam Kỳ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Thọ tỉnh địa chí
Tác giả: Phạm Xuân Độ
Nhà XB: Nxb Nam Kỳ
Năm: 1940
11. Trịnh Thị Minh Đức – Nguyễn Đặng Duy (1992), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức, Nguyễn Đặng Duy
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1992
12. Trịnh Thị Minh Đức, Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức, Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2007
13. Phan Khanh (1995), Cuộc sống hiện đại và văn hóa cội nguồn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống hiện đại và văn hóa cội nguồn
Tác giả: Phan Khanh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
14. Vũ Ngọc Khánh (1994), Tín ngưỡng làng xã, Nxb VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng làng xã
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1994
15. Vũ Ngọc Khánh (1998), “Vua Hùng trong đời sống tâm linh người Việt”, Tạp chí VHNT Phú Thọ, (3), tr.17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Hùng trong đời sống tâm linh người Việt
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Tạp chí VHNT Phú Thọ
Năm: 1998
16. Thu Linh, Đặng Văn Lung (1984), Lễ hội truyền thống và hiện đại, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống và hiện đại
Tác giả: Đặng Văn Lung, Thu Linh
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1984
17. Luật Di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hoá năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Nhà XB: Nxb CTQG
18. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam, khu vực phía Bắc, Nxb ĐHQG HN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam, khu vực phía Bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
Năm: 2002
19. Hoàng Nghi (2006), Người làng Xốm qua một số truyện ngắn, Văn bản lưu hành nội bộ, bản đánh máy, khổ A4,104tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người làng Xốm qua một số truyện ngắn
Tác giả: Hoàng Nghi
Nhà XB: Văn bản lưu hành nội bộ
Năm: 2006
20. Hoàng Nghi (2006), Thơ ca hò vè làng Xốm, Văn bản lưu hành nội bộ, bản đánh máy, khổ A4, 134tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca hò vè làng Xốm
Tác giả: Hoàng Nghi
Nhà XB: Văn bản lưu hành nội bộ
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

tình. Sân khấu chèo từ bao đời nay đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa  nghệ  thuật  quen  thuộc,  góp  phần  quan  trọng  vào  việc  nuôi  dưỡng  đời  sống  tinh  thần  dân  tộc - Tìm hiểu lễ hội đình hùng lô xã hùng lô thành phố việt trì tỉnh phú thọ
t ình. Sân khấu chèo từ bao đời nay đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc, góp phần quan trọng vào việc nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm