Làng Hồ Khẩu là một làng cổ nằm trong vùng đất Bưởi, sở dĩ có tên như vậy là vì làng nằm ở cửa ngõ của Hồ Tây xưa.. Lễ hội của làng Hồ Khẩu là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA DI SẢN VĂN HÓA
Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN QUỐC HÙNG
Sinh viên thực hiện: ĐINH THỊ THU HIỀN
HÀ NỘI - 2013
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Đề tài khóa luận tốt nghiêp: “Tìm hiểu lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu,
học tập tại Khoa Di sản Văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm rất lớn từ các thầy cô giáo hiện là giảng viên khoa Văn hóa Di sản Văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng như gia đình và bạn bè
Qua đây, tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Di sản Văn hóa Và đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành nhất tới PGS TS Nguyễn Quốc Hùng, người đã tận tình định hướng, giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn trân trọng đến ông Vũ Văn Luân, Trưởng Tiểu ban di tích cụm II làng Hồ Khẩu, phường Bưởi vì ông đã tạo mọi điều kiện cho tôi tìm hiểu các di tích trên địa bàn làng Hồ Khẩu, giúp tôi thuận lợi hoàn thành bài nghiên cứu của mình
Tuy đã có nhiều cố gắng song do việc nghiên cứu tài liệu và sự hiểu biết còn hạn chế, đề tài nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy cô và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để tôi có thể rút ra kinh nghiệm trong các lần nghiên cứu tiếp theo Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội làng Hồ Khẩu 12
1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.2 Lịch sử vùng đất 13
1.2 Khái quát về đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội làng Hồ Khẩu 17
1.2.1 Con người làng Hồ Khẩu 17
1.2.2 Đời sống kinh tế - xã hội 18
1.2.3 Truyền thống văn hóa địa phương 21
1.3 Cụm di tích tiêu biểu trên địa bàn làng Hồ Khẩu 25
1.3.1 Chùa Tĩnh Lâu 25
1.3.2 Chùa Chúc Thánh 25
1.3.3 Đền Dực Thánh 26
1.3.4 Đền Vệ Quốc 27
Chương 2: LÀNG HỒ KHẨU - THẦN TÍCH VÀ LỄ HỘI CẦU MÁT 29 2.1 Truyền thuyết các vị thành hoàng làng 29
2.1.1 Theo Thần tích phường Hồ Khẩu 29
2.1.2 Theo truyền thuyết trong dân gian 31
2.2 Đình Hồ Khẩu - không gian của lễ hội 33
2.2.1 Lịch sử xây dựng đình làng Hồ Khẩu 33
2.2.2 Giá trị kiến trúc và các di vật trong đình làng Hồ Khẩu 35
2.2.3 Các vị thần được thờ trong đình làng Hồ Khẩu 39
2.3 Lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu 39
2.3.1 Mục đích tổ chức lễ hội 39
2.3.2 Thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội 40
2.3.3 Diễn trình của lễ hội cầu mát 41
2.3.4 Giá trị của lễ hội cầu mát ở làng Hồ Khẩu 55
Trang 4Chương 3: THỰC TRẠNG CỦA LỄ HỘI CẦU MÁT VÀ CÁC GIẢI
PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI 60
3.1 Sự biến đổi của lễ hội cầu mát trong đời sống hiện đại 60
3.1.1 Biến đổi về cách thức tổ chức lễ hội 60
3.1.2 Biến đổi về nghi lễ 61
3.1.3 Biến đổi về lễ vật dâng cúng 62
3.1.4 Biến đổi về trò chơi trò diễn 62
3.2 Đánh giá chung sự về thực trạng của lễ hội cầu mát 63
3.2.1 Về mặt tích cực 63
3.2.2 Những mặt hạn chế 64
3.3 Một số giải pháp bảo tồn, phát huy lễ hội cầu mát 65
3.3.1 Các quan điểm về bảo tồn 65
3.3.2 Một số giải pháp bảo tồn lễ hội cầu mát 66
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống là một trong những yếu tố cấu thành nên di sản văn hóa phi vật thể, là hoạt động phản ánh rõ nét những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư trong một không gian văn hóa cụ thể và là môi trường tốt
để lưu giữ những giá trị truyền thống qua các thời đại - là nhịp cầu bắc nối quá khứ và tương lai
Đất nước Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử dựng và giữ nước Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, cộng đồng người Việt đã xây dựng được cho mình một nền văn hóa phong phú và đa dạng, mang đặc sắc riêng của cư dân nông nghiệp lúa nước Trong kho tàng văn hóa của dân tộc thì lễ hội dân gian truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa hết sức độc đáo, có mặt ở mọi miền đất nước Đây là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú và đa dạng, phản ánh đầy đủ mọi mặt của đời sống văn hóa - xã hội mà nó trải qua Các yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội bảo lưu và truyền tụng từ đời này sang đời khác, trở thành vốn di sản văn hóa vô giá của dân tộc
Lễ hội trước hết là sản phẩm riêng của mỗi một cộng đồng dân cư, kết tinh từ sản phẩm văn hóa truyền thống làng xã và nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống địa phương Mỗi vùng quê trên đất nước Việt Nam đều mang trong mình những nét văn hóa đặc sắc rất riêng được tạo bởi chính những con người sống ở địa phương đó, góp phần làm nên bức tranh văn hóa các lễ hội phong phú mà đa dạng của dân tộc Qua lễ hội truyền thống của một địa phương, ta có thể nhận diện gương mặt văn hóa của địa phương đó Mỗi địa phương lại có một đặc thù văn hóa riêng, không vùng miền nào lẫn với vùng miền nào Chính thông qua các lễ hội cổ truyền mà chúng ta tìm ra được bản sắc và phát huy được những giá trị tốt đẹp của dân tộc mình
Vùng đất Bưởi quận Tây Hồ nằm về phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội,
là nơi tụ cư của một số làng cổ có bề dày truyền thống từ thuở xa xưa Các lễ
Trang 6hội ở vùng đất này mang đậm nét văn hóa làng xã, có sắc thái độc đáo đã từ
bao đời nay Nhắc đến lễ hội ở vùng đất Bưởi, ta không thể không kể tới lễ
hội cầu mát (còn gọi là lễ hội cầu an) của làng Hồ Khẩu
Làng Hồ Khẩu là một làng cổ nằm trong vùng đất Bưởi, sở dĩ có tên như vậy là vì làng nằm ở cửa ngõ của Hồ Tây xưa Làng có hai lễ hội chính trong năm là lễ hội Tháng Hai và lễ hội cầu mát diễn ra vào tháng tư âm lịch
Lễ hội của làng Hồ Khẩu là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của làng, là dịp mà những người con của làng gửi gắm vào trong đó những ước mơ, khát vọng về một cuộc sống bình an và hạnh phúc Tìm về lễ hội nơi đây, cũng là tìm đến chìa khóa giải mã phần nào về vùng đất và truyền thống văn hóa của con người Kẻ Bưởi
Nghiên cứu về lễ hội cầu mát của làng Hồ Khẩu phường Bưởi, tôi muốn khắc họa đôi nét về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của dân cư vùng Bưởi, góp phần sức nhỏ của mình vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp đang bị biến đổi mạnh mẽ trong xã hội hiện đại; qua
đó có thể phát huy giá trị văn hóa nhằm phục vụ đời sống tinh thần của cư dân trong vùng và hoạt động du lịch của địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế hiện nay
Qua đề tài nghiên cứu này, tôi muốn khẳng định vai trò quan trọng của sinh hoạt lễ hội trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng dân cư làng
Hồ Khẩu nói chung cũng như làng quê Việt Nam nói riêng
Với nghiên cứu của mình, tôi mong muốn cung cấp đôi chút tư liệu giúp cho các nhà nghiên cứu văn hóa bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống trong bối cảnh của xã hội hiện đại
Vì vậy, tôi chọn “Tìm hiểu lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 72 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian có lịch sử lâu đời và mang tính dân tộc sâu sắc Mặc dù nảy sinh, tồn tại và phát triển từ rất nhiều thế kỷ trước, nhưng lễ hội cầu mát cũng như hầu hết các lễ hội dân gian khác đều không được các sử gia phong kiến quan tâm, ghi chép lại
Từ những năm 1990 trở lại đây, cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại hóa, các lễ hội dân gian truyền thống - bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần phải biến đổi theo, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như các nhà văn hóa học, xã hội học, sử học, nhà văn, nhà thơ, nhà báo Mỗi một nhà khoa học với cách thức tiếp cận khác nhau của mình đã cùng tạo nên kho tư liệu phong phú về lễ hội cổ truyền Việt Nam
Trên thực tế, lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu hầu như không để lại nhiều ghi chép trên sách vở Hiện nay chưa có một tài liệu chính thức nào nghiên cứu về đề tài này Chính vì vậy, để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình, nguồn tư liệu mà tôi sử dụng chủ yếu là các tư liệu có được trong quá trình khảo sát thực tế tại địa phương
Các công trình nghiên cứu đáng kể nhất từng nhắc đến lễ hội cầu mát như:
- Đất Bưởi ngàn xưa của Lê Văn Kỳ và Vũ Văn Luân, NXB Văn hóa
thông tin 2011 Trong tài liệu này có đề cập đến các lễ hội của vùng đất Bưởi Đối với hai lễ hội chính của làng Hồ Khẩu là lễ hội Tháng Hai và lễ hội cầu mát thì sách trọng tâm nhắc lễ hội Tháng Hai, không đề cập nhiều đến lễ hội cầu mát, dù rằng đây là lễ hội chính của làng
- Lễ hội Việt Nam PGS Lê Trung Vũ và PGS Lê Hồng Lý đồng chủ
biên, nxb VHTT;
- Hà Nội, Văn hóa và phong tục của Lý Khắc cung;
- Từ điển hội lễ Việt Nam của Bùi Thiết Nxb Văn học 1993;
Trang 8- Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội của Đinh
Gia Khánh, Nxb Hà Nội 2008
Trong các tư liệu này, lễ hội cầu mát chỉ được gói gọn trong vài trang vài dòng về những thông tin cơ bản nhất như: ngày mở hội, các vị thần được thờ tự, địa điểm diễn ra lễ hội Đây chỉ là những thông tin mang tính chất điểm danh sơ lược nhất
Cũng có tư liệu cung cấp thông tin sai lệch, ví dụ như trong sách Đình
và đền Hà Nội của Nguyễn Thế Long, Nxb Văn hóa thông tin 2005, trang 363
có viết: “Tương truyền đền lập từ thời Lý để thờ Cống Lễ đại vương (tức Vệ
Quốc tướng quân) có công đánh giặc Chiêm Thành đời nhà Lý” Sự thực đền
Vệ Quốc thờ Cá Lễ công, em song sinh với Cống Lễ công, một trong nhị vị thành hoàng của làng Hồ Khẩu chứ không phải thờ Cống Lễ
Đa số các tư liệu cũ đều coi lễ hội làng Hồ Khẩu là thuộc phường Bưởi, quận Ba Đình Trong khi từ năm 1995, phường Bưởi đã trực thuộc quận Tây
Hồ, Hà Nội Tuy nhiên trong các sách được tái bản sau năm 1995 đều chưa có
sự sửa đổi lại địa danh cho phù hợp
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức, chưa có công trình nào nghiên cứu
lễ hội cầu mát một cách toàn diện và hệ thống
Việc tìm hiểu lễ hội cầu mát sẽ giúp cho chúng ta thêm một lần nữa đúc kết giá trị đích thực của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là lễ hội cầu mát tại làng Hồ Khẩu, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội trong bối cảnh tự nhiên và xã hội của một làng cổ ven Hồ Tây
Trang 94.1 Khảo sát một cách toàn diện và hệ thống diễn trình lễ hội cầu mát,
trên cơ sở đó nhận diện văn hóa làng Hồ Khẩu với những nét ưu trội của nó trong lịch sử phát triển và trong giai đoạn đô thị hóa hiện nay
4.2 Nghiên cứu về vùng đất, con người làng Hồ Khẩu; các giá trị văn
hóa phi vật thể của lễ hội cầu mát; thực trạng của lễ hội trong giai đoạn hiện nay
4.3 Đề xuất các phương án khả thi để bào tồn, phát huy giá trị vốn có
của lễ hội trong bối cảnh ngày nay
5 Nội dung của khóa luận
5.1 Khảo sát tổng quan về làng Hồ Khẩu, phường Bưởi, quận Tây Hồ,
Hà Nội về vị trí địa lý, cảnh quan, dân cư, lịch sử hình thành vùng đất
5.2 Tìm hiểu các truyền thuyết, di tích và lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu 5.3 Đề ra các biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội cầu
mát trong đời sống hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài sử dụng chủ nghĩa khoa học Duy vật lịch
sử và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận để xem xét quá hình thành, phát triển và chuyển đổi của lễ hội cầu mát
ở làng Hồ Khẩu để đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị phù hợp với quá trìnmh vận động của lễ hội cầu mát và các tác động qua lại của
sự phát triển xã hội ;
Trang 10Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp của bảo tàng học như: điều tra thực địa, khảo sát điền dã, trực tiếp quan sát, phỏng vấn và thu thập số liệu;
Sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp để điều tra mức độ tin cậy của thông tin thu thập được trong tương quan so sánh đối chiếu với thông tin điều tra phỏng vấn, quan sát nhằm đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác của thông tin;
Sử dụng các phương pháp khoa học liên ngành như Khoa học lịch sử, Dân tộc học, Xã hội học;
Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp phân tích nghiên cứu tài liệu thư tịch cổ, ghi hình, ghi âm, chụp ảnh, phỏng vấn Từ đó rút ra kết luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu
7 Những đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần phác thảo diện mạo văn hóa dân gian của một làng
cổ ven Hồ Tây Ngoài ra, đây là một đề tài có một cái nhìn tổng quan nhất về
lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu dựa trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống lâu dài, cho phép đưa ra những nhận xét xác đáng về giá trị lịch sử, giá trị văn hóa tinh thần của lễ hội này
Đề tài nghiên cứu đúc kết những giá trị của lễ hội cổ truyền trong việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa làng Hồ Khẩu trong bối cảnh hội nhập và đô thị hóa Qua đó, sẽ làm sáng tỏ thêm các vấn đề lịch sử, văn hóa của làng Hồ Khẩu nói riêng, vùng đất Bưởi và cả nước nói chung
Đặc biệt, kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu lịch sử, văn hóa, lễ hội truyền thống làng Hồ Khẩu, quận Tây Hồ,
Hà Nội
Trang 118 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục đề tài gồm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Làng Hồ Khẩu - Thần tích và lễ hội cầu mát
Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình điền dã, thu thập tư liệu, xử
lý thông tin, giải quyết các vấn đề đặt ra, song, đây là một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, bản thân người viết còn thiếu kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học nên khó tránh được thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô, các nhà nghiên cứu, các bạn đọc quan tâm đến chủ đề này
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội làng Hồ Khẩu
1.1.1 Vị trí địa lý
Trước năm 1995, làng Hồ Khẩu thuộc địa phận phường Bưởi, quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội Vị trí địa giới của phường Bưởi được phân định như sau:
Phía đông giáp Hồ Tây,
Phía tây giáp Nghĩa Đô,
Phía nam giáp Cống Vị,
Phía bắc giáp Xuân La
Phường Bưởi bao gồm các làng cổ: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thái, An Thọ, Trích Sài và Võng Thị Các làng này và một số làng nay thuộc Nghĩa Đô,
Từ Liêm, Hà Nội xưa kia (làng Dâu, An Phú, Tân, Nghè, Đoài Môn và Bái Ân) thuộc vùng đất Bưởi - vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời từ hàng nghìn năm nay
Theo nghị định 69/CP ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ Việt Nam; các phường Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ của quận Ba Đình chuyển sang trực thuộc quận Tây Hồ Kể từ đó, phường Bưởi thuộc địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Quận Tây Hồ hiện nay bao gồm 8 phường là: Phường Bưởi, phường Thụy Khuê, phường Yên Phụ, phường Tứ Liên, phường Nhật Tân, phường Quảng An, phường Xuân La và phường Phú Thượng Làng Hồ Khẩu thuộc địa bàn phường Bưởi
Nếu như phường Bưởi có hình tam giác thì làng Hồ Khẩu nằm ở đỉnh phía Nam của tam giác đó Một bên có sông Tô Lịch, một bên có dòng Long Khê chảy qua, một bên tiếp giáp với làng Đông Xã Phía Bắc làng có chùa
Trang 13Tĩnh Lâu, đền Dực Thánh; phía Nam có chùa Chúc Thánh; phía Đông có đền
Vệ Quốc; phía Nam có đền Mẫu Thăng Long
Trong tâm thức dân gian, chữ “Kẻ” là một từ cổ thường được ghép vào
với một làng, hoặc một vùng dân cư có nhiều làng, ví dụ như Kẻ Noi (Xã Cổ Nhuế, Từ Liêm), Kẻ Mơ (làng Hoàng Mai), Kẻ Rỗ (Xã Liên Hà, Đông Anh),
Kẻ Vẽ (vùng Đông Ngạc) hay là Kẻ Chợ (chỉ Hà Nội nói chung)
Như vậy, Kẻ Bưởi là từ dùng chỉ các làng cổ làm giấy, dệt lĩnh xung quanh khu vực chợ Bưởi như làng Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái, Võng Thị, Trích Sài cùng với các làng lân cận trên đất Nghĩa Đô như làng Tân, Nghè, Bái Ân Nay sáu làng đầu thì thuộc địa bàn phường Bưởi, quận Tây Hồ, còn ba làng sau thì trả lại cho Nghĩa Đô, thuộc quận Cầu Giấy
Phường Bưởi là một vùng đất cổ đã trải qua bao biến thiên lịch sử
Dưới thời các vua Hùng dựng nước, theo các thư tịch cổ để lại như Lĩnh Nam
chích quái thì vùng đất này có liên quan nhiều đến bộ Văn Lang trong thời kỳ
khai phá Hồ Tây, tạo lập khu vực đồng bằng Bắc Bộ Trong Hồ Tinh truyện
(truyện con cáo chín đuôi và sự tích Hồ Tây) vẫn còn ghi lại tích này [32, tr.51] Còn theo như các thư tịch cổ cũng như các di tích xưa của địa phương,
ta có thể đoán định vùng đất Bưởi là một vùng đất cổ đã có từ thời nhà Lý
Trang 14Theo như văn bia “Vĩnh Tộ ngũ niên” dựng tại Trích Sài (1623) đã ghi lại rằng:
Vào Thời Lý, vùng Bưởi thuộc vùng ngoại ô thành Thăng Long, nằm trong phủ Ứng Thiên
Năm Quang Thuận thứ bảy (1466) thuộc huyện Quảng Đức phủ Trung
Năm Minh Mệnh mười hai (1831) các phủ, tổng huyện này đều thuộc tỉnh Hà Nội
Năm 1888, khi chính quyền Pháp chia lại địa giới thì Bưởi tổng Trung, phủ Hoài Đức
Dưới thời Thuộc Pháp, nhà cầm quyền Pháp lại cắt một phần đất huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận lập ra huyện Hoàn Long Năm 1905, huyện Hoàn Long nhập về Hà Đông Năm 1923 huyện Hoàn Long đổi tên thành huyện Vĩnh Thuận, gồm có 5 tổng, 54 phường Trong đó phường Hồ Khẩu cùng với 4 phường Yên Thái, Võng Thị, Trích Sài đều thuộc Tổng Trung
Sau cách mạng tháng tám 1945 (tháng 11 năm 1945), nhà nước ra sắc luật quy định Hà Nội chia làm năm khu, vùng đất Bưởi thuộc khu Đại La Cho đến đầu năm 1948, chính quyền Pháp chia Hà Nội thành 36 khu phố, các phường vùng Bưởi thuộc quận Quảng Bá
Sau giải phóng thủ đô 10-10-1954, các phường thuộc vùng Bưởi chia làm hai xã là xã Đông Thái và xã Thái Đô, thuộc quận V Năm 1961, khi khu
Ba Đình lập ra thì Bưởi thuộc quận Ba Đình và được chia thành các khối từ
Trang 15K71 đến K75 Năm 1981, tất cả các khối này lại sát nhập với nhau để hình thành phường Bưởi cho đến tận ngày nay
Trải qua bao thời điểm thăng trầm của lịch sử; lúc hợp, khi tan, nhưng phường Bưởi bao giờ cũng là một khu vực hành chính của kinh đô nước Việt
Phường Bưởi nổi tiếng là một vùng đất địa linh Theo tài liệu ghi chép lại theo sách Tây Hồ chí thì mỗi một làng thuộc vùng đất Bưởi mang dáng hình của một linh vật đặc biệt Làng Yên Thái có hình con rùa, làng Trích Sài
có hình con ngựa còn làng Võng Thị và Hồ Khẩu có hình con cá Các đồi gò cũng mang dáng hình các con vật tương tự Yên Thái có gò Qui (con rùa), có giếng Long Tỉnh (giếng rồng); Võng Thị có gò Du Ngư (cá du ngoạn), Hồ Khẩu có gò Long Tảng (trán rồng), có dòng Long Khê (suối rồng) và gò Qui Đôi (đôi rùa)
Địa linh sinh nhân kiệt Chính nơi có phong cảnh hữu tình như thế đã được các vua Lý chọn làm nơi đặt các đền, chùa, đình, miếu, cung điện trong buổi đầu rời đô ra Thăng Long Theo tài liệu thống kê thì xung quanh Hồ Tây xưa có hơn 60 di tích thì riêng vùng Bưởi đã có tới 24 di tích Chưa nơi nào
mà di tích văn hóa thờ Lý tập trung nhiều như vùng đất này
Làng Hồ Khẩu là một vùng đất cổ nằm về phía Tây Bắc kinh thành Thăng Long xưa Ngược dòng thời gian trở lại xa xưa, vào thời Lý, Hồ Khẩu thuộc phủ Ứng Thiên Vào thế kỷ XI, khi vua Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư
ra Thăng Long năm 1010, vùng đất Bưởi chiếm lĩnh một vị trí quan trọng Nhìn trên bản đồ thành Thăng Long thời Lê thì vùng Hồ Khẩu có nước bao quanh như một bán đảo lớn Phía đông bắc là Hồ Tây, phía Nam là dòng sông
Tô Lịch chảy qua, phía Tây là sông Thiên Phù Sông Tô Lịch lúc bấy giờ rất rộng, khởi nguồn từ sông Hồng, quãng Chợ Gạo chảy qua phố Hàng Lược, xuôi về Quán Thánh, Thụy Khuê, đến Hồ Khẩu thì nối với Hồ Tây bằng hai cửa lớn Đến vùng Bưởi thì nối với sông Thiên Phù hòa dòng xuống phía Nam Hồ Khẩu là cửa ngõ ra vào duy nhất bằng đường thủy của Hồ Tây xưa,
Trang 16gồm 3 cụm dân cư, nơi hội tụ của 5 tộc họ lớn là: tộc Hồ, tộc Nguyễn, tộc Lý, tộc Đinh và tộc Bùi Làng Hồ Khẩu cũng là nơi tập trung nhiều di tích nhất trong vùng văn hóa Hồ Tây Theo như thống kê, trên địa bàn phường Bưởi có tất cả 17 di tích thì chỉ riêng Hồ Khẩu đã chiếm đến 7 di tích, gồm có: 1 đình (đình Hồ Khẩu); 2 chùa (Tĩnh Lâu tự, Chúc Thánh tự); 3 đền (đền Dực Thánh, đền Vệ Quốc, đền Mẫu Thăng Long) và 1 văn chỉ thờ Khổng Tử
Làng Hồ Khẩu thuộc địa bàn vùng đất Bưởi Dưới thời Lý, năm Quang Thuận thứ bảy (1466) làng là một thực ấp thuộc huyện Quảng Đức phủ Trung
Đô Năm Quang Thuận mười (1469) Hồ Khẩu thuộc huyện Vĩnh Thuận, rồi sau này thuộc huyện Hoàn Long Năm Vĩnh Tộ thứ sáu (1923), Hồ Khẩu lại thuộc tổng Trung huyện Vĩnh Thuận Năm 1946, làng thuộc quận Đại La Năm 1956 thuộc quận V, rồi thuộc quận Ba Đình Sau nghị định 69/CP ngày
28 tháng 10 năm 1995 đến nay thì làng thuộc địa bàn phường Bưởi, quận Tây
Hồ, Hà Nội
Từ bao đời nay, Hồ Khẩu là một làng nghề làm giấy đông dân và thịnh vượng nhất phường Bưởi Làng còn lưu giữ được nhiều dấu tích và sinh hoạt của một làng cổ với hệ thống cổng làng đồ sộ xây dựng từ năm Vĩnh Tộ thứ sáu (1923) Điều quý nhất của Hồ Khẩu là làng vẫn lưu giữ được bản hương ước khởi thảo từ thời Lê, bổ sung hoàn chỉnh vào thời Gia Long Đó là một quy ước dân chủ đã làm cho Hồ Khẩu trở thành một làng văn hóa có kỷ cương chặt chẽ
Giờ đây, làng Hồ Khẩu là một làng cổ trù phú nằm ven Hồ Tây Những
di tích lịch sử của làng được tôn tạo lại rất khang trang Trong làng có ngôi đình thờ nhị vị Thành hoàng Cống Lễ đại vương và Cá Lễ đại vương Trong
đình có tấm bia đá dựng năm 1622 với lời minh như sau: “Nay nhận thấy
phường Hồ Khẩu, huyện Quảng Đức xưa vẫn có chùa nổi tiếng, có đền linh thiêng, phía Đông xanh biếc dòng Long Khê, phía Nam trắng ngần Tô Lịch, Tản Viên Sơn từ phía Tây chầu lại, núi Tam Đảo từ phương Bắc chầu về”
(Cục Đào Huyến dịch) [3, tr.128]
Trang 171.2 Khái quát về đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội làng Hồ Khẩu
1.2.1 Con người làng Hồ Khẩu
Con người làng Hồ Khẩu bao giờ cũng lấy lối sống đôn hậu, thủy chung làm nề nếp Từ bao đời nay, người dân làng Hồ Khẩu bên nhau có nghĩa, có tình Làng có việc thì mọi người dân đều góp một phần sức nhỏ của mình mà tham dự Làng vui thì mọi nhà đều vui, ai là con của làng, từ phương xa trở về, đều được người trong làng niềm nở thăm hỏi bất kể là ruột thịt hay không Làng có người qua đời, chỉ cần nghe thấy ba hồi trống báo đưa đám là mọi người trong làng đều đại diện gia đình riêng của mình đến tiễn đưa Một điều đáng tự hào là cho đến tận đời nay, truyền thống này vẫn được gìn giữ
Cũng giống như cư dân vùng đất Bưởi nói chung, dân làng Hồ Khẩu đặc biệt quan tâm đến các lễ hội Theo thông lệ, cứ vào tháng Hai và tháng Tư
là các làng đều mở hội lớn, nhất là hai làng Hồ Khẩu và Đông Xã Vào ngày hội lớn của làng, nhà nào cũng gửi lễ thanh bông hoa quả đến Đình, ngoài ra còn thắp hương ở chính bàn thờ Gia tiên; như vậy cũng đủ thấy được truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” quý báu Làng có đình Hồ Khẩu là nơi thờ nhị vị Thành hoàng Cống Lễ công và Cá Lễ công Đình cũng là nơi diễn
ra các lễ hội, nơi hội tụ tâm linh của dân làng
Người dân làng Hồ Khẩu rất trọng văn hóa, lễ nghĩa Ở cổng giáp đông làng Hồ Khẩu có đôi câu đối ca ngợi cảnh đẹp quê hương và nhắc nhở mọi người mỗi khi bước chân vào làng thì phải gìn giữ nề nếp:
“Mỹ tục thuần phong vĩnh chiếu Tây Hồ minh giám
Thiện ngôn hảo sự trường lưu, mạt lợi danh hưng”
Dịch nghĩa là:
“Nếp sống đẹp mãi mãi như tấm gương Hồ Tây chiếu sáng
Lời nói hay như dòng nước thơm không màng danh lợi”
Trang 18Ở cổng giáp bắc cũng có đôi câu đối ca ngợi cảnh đẹp của làng:
Cổ vãng kim lai hành chính đạo
Nam du bắc ngoạn hướng danh lam
Dịch là:
Xưa nay qua lại theo đường chính
Bắc nam du ngoạn hưởng danh lam
Nhìn chung, mỗi làng trong phường Bưởi đều có cổng làng viết câu đối chữ Hán ở hai bên mang ý nghĩa giáo dục, khuyến thiện cùng ca ngợi cảnh đẹp quê hương Cổng làng lại được xây dựng, trang trí theo đường nét riêng của mỗi làng, cũng là phù hợp với cách sống của những người dân trên từng địa bàn cụ thể của vùng đất Bưởi Ở làng Hồ Khẩu có một hệ thống cổng cổ xây dựng trên thế đất cao có nhiều bậc lên Cổng giữa có hai cột đồng trụ cao
6 mét, trên có đôi nghê chầu Cổng chính này xưa kia có cánh cửa bằng gỗ lim bản to, chỉ mở trong những ngày làng vào hội hoặc dịp tết Bên cạnh có hai cổng ngách dẫn vào làng
Vốn là những người dân lao động từ nhiều đời, bản chất là thật thà đôn hậu như đã trình bày ở trên Song, sự gần gũi với phố phường, công cuộc đô thị hóa đã có ít nhiều tác động đến cư dân nơi đây Lối sống của người dân bắt đầu thực dụng hơn, nhưng nhìn chúng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, giữ
được tình làng xóm láng giềng
1.2.2 Đời sống kinh tế - xã hội
Với mục tiêu phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa – xã hội; từng bước hiện đại hóa kết cấu hạ tầng đô thị, bảo vệ môi trường; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; phường Bưởi quận Tây Hồ đã đạt được thành quả như sau:
• Về kinh tế:
Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành kinh tế do bình quân hàng năm:
16 – 17%
Trang 19Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ bình quân hàng năm là:
18 – 20%
Giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp bình quân hàng năm đạt trên 85 triệu đồng
Ủy ban nhân dân phường Bưởi đã xác định đường lối phát triển kinh tế
của phường là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế theo cơ cấu: dịch vụ - công
nghiệp - nông nghiệp; nghĩa là tập trung phát triển ngành kinh tế dịch vụ, trong
đó đặt trọng tâm ngành dịch vụ du lịch, lấy khu vực Tây Hồ làm trọng điểm cho sự phát triển, đầu tư và khai thác cảnh quan khu vực xung quanh Hồ Tây
• Về văn hóa - xã hội:
Giải quyết và tham gia giải quyết việc làm cho lao động: trên 3800 lao động/ năm
Tỷ lệ hộ nghèo giảm 85%
Tỷ lệ sinh tính đến năm 2010: 15‰
Tỷ lệ phổ cập bậc trung học năm 2010: đạt chuẩn phổ cập
Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa trên tổng số hộ: 85% Nhà ở của người dân trong các làng thuộc vùng Bưởi đều được xây dựng trên các dải đất cao để tránh ẩm thấp Đường ngõ dẫn vào làng đều được trải xi măng, thuận tiện cho người dân đi lại Ngày xưa, làng Hồ Khẩu có lệ bầu chọn ra một người trông coi đường công, cầu cống Người này sẽ chịu trách nhiệm tu sửa đường xá, các công trình công cộng trong làng, kinh phí lấy ở quỹ công Ngày nay, công việc tu sửa lại những công trình công cộng do
Tổ trưởng tổ dân phố cùng Ban di tích, các cán bộ cấp Phường cùng nhau quan tâm giải quyết
Làng Hồ Khẩu là một làng cổ nằm ở cạnh Hồ Tây nên việc khai thác
nguồn lợi thủy sản này luôn được chú trọng phát triển “Thuở xưa, nhân dân
ven Hồ làm ruộng chủ yếu, kết hợp với nghề nuôi cá cùng với một số nghề thủ
Trang 20công khác như nuôi tằm, dệt vải, trồng hoa” [3, tr.7] Trong suốt quá trình
sinh cơ lập nghiệp, dân làng Hồ Khẩu lấy nghề đánh bắt cá làm gốc Bởi vì vùng đất này vừa có phong cảnh đẹp, lại có hồ rộng, nhiều ao đầm, giao thông đường thủy thuận lợi, vì vậy nên càng ngày càng có nhiều người dân đổ về dựng trại ấp, và làng nghề bắt đầu hình thành
Đã từ lâu, mảnh đất và con người Hồ Khẩu đã nổi tiếng khắp cả nước bởi những bàn tay và khối óc tài hoa, đã dựng nên truyền thống của một ngành nghề thủ công độc đóa là nghề làm giấy dó Ai đặt chân đến vùng đất Bưởi, không thể không biết đến câu ca dao rằng:
“Bóng đèn là bóng đèn hoa
Ai về vùng Bưởi với ta thì về Vùng Bưởi có lịch có lề
so với những làng quê khác Nghề làm giấy dó này tồn tại đến những năm
1980 thì mai một dần và biến mất cùng với sự giải thể của hợp tác xã giấy vào những năm 1990 Trước thời gian ấy, có thể nói là nghề nghiệp, dân cư, sinh hoạt và các quan hệ xã hội ở vùng đất này khá ổn định Sự ổn định đó có lẽ là nền tảng để hình thành tính cách cư dân địa phương, hình thành nên tinh thần lao động cần cù, nhẫn nại
Do đặc thù là một làng cổ nằm bên cạnh Hồ Tây nên hiện nay, cư dân làng Hồ Khẩu vẫn duy trì nghề đánh bắt cá Làng cũng nằm kề sát ngay chợ Bưởi - một trong những chợ cổ nhất của thủ đô Hà Nội nên một số bộ phận
Trang 21dân cư làm ăn buôn bán ở chợ Bưởi, một số thì họp chợ ở ngay đất sân đình làng Hồ Khẩu
Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, việc mở rộng đất đai nội thành
đã tác động không nhỏ đến cơ cấu dân cư, nghề nghiệp và sinh hoạt văn hóa của làng Hồ Khẩu Quá trình đô thị hóa ở làng diễn ra sớm và sôi động Đất đai bị thu hẹp, ao hồ bị san lấp dần Rất nhiều hộ gia đình bán đất đi để xây nhà nên số người mua đất, đến nhập cư ở làng ngày một thăng thêm
1.2.3 Truyền thống văn hóa địa phương
Đất Bưởi vốn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa có bản sắc đậm đà
so với nhiều vùng ven hồ khác
Làng Hồ Khẩu có một điều đáng quý là làng vẫn còn giữ được bản Hương ước khởi thảo cuối thời Lê, bổ sung, điều chỉnh dưới thời Gia Long Bản hương ước cổ ấy có những điều như sau:
Điều 1: Quy định cho các chức dịch trong làng: “Luân thường, phong hóa được vâng Thánh dụ ban hành gắng gỏi mà tu tỉnh Các Lý dịch kế nhau phải tùy thời mà thực thi lễ nghĩa, cùng hưởng phú quý thái bình coi đó là khuôn phép kỷ cương của hàng xóm”
Từ điều 2 - điều 9: Quy định trách nhiệm của những người hành lễ; trong đó điều 9 quy định: “Khi có việc tế lễ ở đình miếu hoặc các tiết ẩm thực, những người có khăn, áo dài không được mặc áo ngắn Ai vi phạm bị đuổi ra như người không có áo dài Ai nấy ngồi xếp hàng trên chiếu không được ngồi lẫn tùy tiện Phải nghiêm túc chấp hành quy định này”
Điều 10: Quy định việc tang hiếu, người bản phường đến hành lễ, người đi tống táng tuy không phải có áo tang nhưng tùy vận, áo quần phải chỉnh tề không để lộ đầu ra để tỏ sự trọng hiếu
Điều 17, 18: Quy định quan hệ hàng xóm phải hòa mục không được gây hiềm khích giành giật của nhau, mượn rượu lăng mạ người khác… Trong
Trang 22làng cần yên tĩnh, nhà nào cãi cọ, hát xướng hô hoán to tiếng không kể ngày đêm đều phải tra xét theo lệ làng mà phạt tiền hoặc phạt trầu cau
Những điều qui định trong hương ước làng Hồ Khẩu đã góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa nghìn năm trong nếp sống văn hóa con người đất Bưởi, làm nền cho đạo đức, cho kỷ cương phép nước
Làng Hồ Khẩu là nơi hội tụ của 5 tộc họ lớn là: họ Hồ, họ Nguyễn, họ
Lý, họ Đinh và họ Bùi Tộc Hồ xây dựng nhà thờ dòng họ vào năm 1925 Dù tộc phả đã không còn nữa, nhưng theo văn bia ghi lại thì họ Hồ vốn là người gốc Nghệ An và chuyển ra đây sinh sống Cụ tổ của dòng tộc là cụ Hồ Văn Phổ (ghi trên văn bia) Trong dòng tộc này, con trai thì lấy họ Nguyễn Hồ, con gái thì theo họ Hồ
Tộc họ thứ hai trong làng là tộc Nguyễn, hiện có hai nhà thờ dòng họ ở làng, xây vào năm 1927 Trong tộc họ, chỉ lấy tên đệm là Nguyễn Văn, không
có đệm lót khác Theo tộc phả thì họ Nguyễn từ Phong Châu đến Hồ Khẩu sinh cơ lập nghiệp, đến nay đã trải qua 16 đời kế tiếp nhau
Tộc Lý đến làng Hồ Khẩu từ thế kỷ XVI, thủy tổ là Lý Khắc Đôn Tộc
họ này có truyền thống hiếu học Dưới thời vua Tự Đức, cả 3 anh em họ Lý là
Lý Văn Phức, Lý Văn Loát, Lý Văn Hiếu đều đỗ cử nhân, người làm quan tri huyện, người làm quan tri phủ Riêng Lý Văn Phức thì làm quan tới chức Hữu tam tri bộ Lễ, Hữu tam thị bộ Lễ, sau giữ chức Chánh sứ Nhà thờ tộc họ này xây dựng măm 1923 và xây dựng lại vào năm 1927
Ngoài ra làng có họ Bùi từ Hà Giang chuyển đến sinh sống Nhà thờ họ Bùi xây dựng năm 1927 Họ Đinh cũng có nhà thờ của tộc họ và vẫn có truyền thống hương khói ngày rằm, mồng một và ngày kỵ
Có lẽ quan hệ dòng tộc ở làng Hồ Khẩu khá phức tạp nên từ xưa tới nay, người dân nơi đây rất khắt khe trong vấn đề hôn nhân cùng dòng tộc Phải cách nhau đến 5 đời mới được lấy nhau Trừ những quan hệ hôn nhân tối
Trang 23kỵ giữa người trong cùng tộc họ, còn lại hầu hết các cuộc hôn nhân thường được diễn ra trong làng, giữa dòng họ này với dòng họ kia
Làng Hồ Khẩu có truyền thống hiếu học và khoa bảng Làng có người thi đỗ, làm quan, đó không chỉ là niềm vinh hạnh của gia đình, dòng họ mà còn là của cả làng Về truyền thống học hành khoa bảng, Hồ Khẩu có danh nhân Lý Văn Phức (1785-1849) và danh sĩ Nguyễn Văn Giai (không rõ năm sinh năm mất, sống ở thế kỷ XIX)
Lý Văn Phức tên chữ là Lân Chi, hiệu Khắc Trai Ông đỗ cử nhân năm
1819, giữ chức Hàn Lâm biên tu trong Quốc Sử quán Thơ văn chữ Hán của ông có nhiều nét mới mẻ và độc đáo Ông đã để lại cho đời sau nhiều tác
phẩm văn học quốc âm và văn học chữ Hán có giá trị Đơn cử bài Tây Hồ
hoài cổ của Lý Văn Phức, trong đó có bốn câu thơ rất đắt, nhắc lại những sự
tích gắn liền với danh thắng Hồ Tây:
Trất võng phao tàn chiêu cổ miếu
Lâu thuyền ca bãi thính thôn kê
Úy diên nhân dĩ thiên thu lão
Phục tượng phong hoành nhất thủy tê
Dịch nghĩa là:
Lưới ném từ xa, vẫn sáng ngời miếu cũ
Thuyền hoa ngừng hát, chỉ nghe tiếng gà trong thôn
Kẻ sợ diều hâu rơi, đã thành thiên cổ
Núi Voi còn đó, bên dòng nước chảy về tây
Bốn câu thơ trên đã nhắc về bốn cảnh tích xưa: Mục Thận quăng lưới cứu vua, lưới đã mục nhưng miếu thờ vẫn sáng ngời gương trung dũng Thuyền của vua rong chơi trên Hồ Tây đã không còn nữa, tiếng ca hát im bặt, chỉ còn nghe thấy tiếng gà trong thôn Mã Viện - kẻ sợ chướng khí Lãng Bạc, diều hâu bay qua cũng phải rớt xuống nay đã hóa thành thiên cổ, chỉ còn lại
Trang 24núi Voi nằm ngang sông Tô Lịch chảy từ đông sang tây Núi này nhắc thần Linh Lang từng dạy voi theo ý mình và cưỡi voi phất cờ hồng dẹp giặc ngoại xâm dưới triều Lý
Ngoài ra Lý Văn Phức còn có các tác phẩm thơ văn chữ Hán khác
như Chu nguyên tạp vịnh, Sứ trình tiện lãm khúc, Tây Thành kiền văn ký
lược, Mãn hành tạp vịnh và truyện nôm Nhị thập tứ hiếu, Bất phong lưu truyện Thành phố Hà Nội ngày nay có một con phố “Lý Văn Phức” là đặt
theo tên của ông
Làng Hồ Khẩu còn có Nguyễn Văn Giai, thường gọi là Ba Giai - một danh sĩ nổi tiếng cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam Không rõ ông sinh và mất năm nào, tuy nhiên theo nhiều nhà nghiên cứu văn học, thì rất có thể ông sống vào khoảng thời gian dưới triều Thiệu Trị (1841 - 1847) và Tự Đức (1848 - 1883) Ông được biết đến bởi những bài thơ châm biếm đả kích bộ phận quan lại
tham nhũng, những kẻ cường quyền Ông là tác giả của thi phẩm Hà thành
chính khí ca, gồm 140 câu thơ lục bát, sáng tác sau khi Hà Nội bị quân Pháp
xâm chiếm ngày 25 tháng 4 năm 1882
Làng Hồ Khẩu cũng là địa phương được biến đến với nhiều quần thể di tích nổi tiếng Theo thống kê khu vực Hồ Tây có 17 di tích thì riêng Hồ Khẩu
đã chiếm đến 7 Hiện nay, làng còn hai ngôi chùa từ có lịch sử từ bốn, năm trăm năm trước là chùa Tĩnh Lâu (tên gọi nôm là chùa Sải) và chùa Chúc Thánh Hai chùa còn lưu giữ được 14 văn bia, 2 chuông đồng lớn có niên hiệu Cảnh Thịnh I và Cảnh Thịnh VII cùng với 78 pho tượng phật Đình làng Hồ Khẩu thờ hai vị Thành hoàng là Cống Lễ đại vương và Cá Lễ đại vương Làng có ba đền là đền Dực Thánh thờ Cống Lễ công, đền Vệ Quốc thờ Cá Lễ công và đền Mẫu Thăng Long thờ Thủy công chúa và Mẫu tứ phủ
Nhân dân làng Hồ Khẩu có truyền thống yêu nước, vào thời chiến thì tham gia vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của nước nhà, vào thời bình
Trang 25thì luôn góp phần bảo vệ nền độc lập tự chủ ấy, hòa mình vào công cuộc xây dựng đất nước ngày một khang trang hơn, lớn mạnh hơn
1.3 Cụm di tích tiêu biểu trên địa bàn làng Hồ Khẩu
Như đã trình bày ở trên, làng Hồ Khẩu là một làng cổ tập trung mật độ
di tích vào loại đông nhất ở phường Bưởi Hiện trong làng vẫn còn giữ được 2 chùa, 3 đền, 1 đình và 1 văn chỉ, ngoài ra còn có 5 nhà thờ của năm tộc họ lớn trong làng Có ba di tích đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia là chùa Tĩnh Lâu, đền Dực Thánh và đền Vệ Quốc
1.3.1 Chùa Tĩnh Lâu
Chùa Tĩnh Lâu, xưa là Thanh Lâu Tự, tên gọi dân gian là chùa Sải nằm bên bờ Hồ Tây trên địa phận làng Hồ Khẩu Xưa, chùa thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Chùa có mặt tiền hướng ra Hồ Tây, đối diện với các di tích nổi tiếng bên kia hồ như chùa Trấn Quốc, phủ Tây Hồ
Trong chùa Tĩnh Lâu còn lưu giữ được nhiều di vật quí hiếm từ thế kỷ XVII, đáng chú ý nhất là tòa Cửu Long rất đặc biệt mang dáng dấp của một chiếc lọng che Ba pho tượng Tam thế trong chùa được tạo tác gần với kích cỡ của người thật, trong tư thế ngồi kiết già trên đài sen, miệng hơi mỉm cười và đôi mắt khép hờ như đang nhìn xuống Chùa vẫn còn lưu giữ được chuông đồng có niên đại Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), trên chuông khắc dòng chữ
“Thanh Lâu thiền tự”, nghĩa là chuông của chùa Thanh Lâu
Cùng với chùa Chúc Thánh, chùa Tĩnh Lâu là một trong hai ngôi chùa
cổ xưa của làng Hồ Khẩu Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa vào năm 1996
1.3.2 Chùa Chúc Thánh
Chùa Chúc Thánh nằm trong địa bàn làng Hồ Khẩu Chùa có mặt tiền hướng về thành Thăng Long, giáp sông Tô Lịch; hai bên tả hữu của chùa, bên
Trang 26trái giáp với Văn Chỉ - nơi thờ Đức Khổng Tử của làng và bên phải giáp với đình Hồ Khẩu - nơi thờ nhị vị thành hoàng đại vương Ở tam quan của chùa còn đôi câu đối ghi lại việc xây dựng chùa Chúc Thánh và Thanh Lâu - hai ngôi chùa cổ của làng Hồ Khẩu:
Tam bảo thổ linh bồi Chúc Thánh
Hồ thôn nhân kiệt lập Thanh Lâu
Về niên đại khởi dựng, theo như bia ký và chuông đồng của chùa ghi lại thì Chúc Thánh tự có niên đại vào khoảng đầu thế kỷ XVII Chùa có bố cục theo chữ Đinh Ở Thượng Điện có nhiều bức tượng phật sơn son thếp vàng rất đẹp, trong đó quý hơn cả là tòa Cửu long thích ca đúc bằng đồng Ngoài ra chùa còn lưu giữ được quả chuông đồng lớn có niên đại Cảnh Thịnh
7 (1799), là dấu tích văn hóa của thời Tây Sơn
Trải qua hai cuộc binh lửa (chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), ngày nay chùa nằm lọt trong khu vực dân cư, đất chùa bị chiếm dụng nhiều Bia ký và đồ thờ tự di dời trong chiến tranh không được quản lý nên mất mát Nay chùa chỉ còn lưu lại được hai văn bia, một bia đá lấy từ đình về có kích thước 90 x 60 cm ghi số ruộng hương hỏa của chùa Chúc Thánh và Thanh Lâu Bia đá này lập năm Nhâm Tuất 1622 Trên bia có ghi lại sự việc năm 1618, Thăng Long có nạn hồng thủy, các quan trong phủ chúa vâng mệnh đến chùa cầu đảo Nhờ ơn thần phật phù hộ mà nạn hồng thủy bị
đẩy lùi
1.3.3 Đền Dực Thánh
Đền Dực Thánh còn có tên gọi là miếu Giáp Bắc, bởi vào thời Lê, đền thuộc giáp bắc của phường Hồ Khẩu, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên
Theo như tài liệu Tây Hồ chí có ghi lại thì đền Dực Thánh vốn là nền
cũ của điện Càn Nguyên Đền quay về hướng đông nam, “xa xa trông thấy bến Thất Ngư, bãi Thất Tinh ngoài hồ.” [1, tr.256]
Trang 27Đền Dực Thánh có kết cấu nội công ngoại quốc Hai bên cuốn thư ghi
ba chữ Hán “Dực Thánh Từ” là đôi câu đối:
Bình Chiêm trị thủy danh thiên cổ
Phù Quốc hộ dân huệ vạn niên
Bên trong đền còn có 4 câu thơ ca ngợi công đức của thánh là:
Đại tướng bình Chiêm mãi tấu công
Hùng Vương thập bát thế hưng long
Hậu lai nhất ngộ binh tranh nhật
Mến tưởng đương sơ vũ liệt trùng
Dịch ra là:
Đại tướng bình Chiêm công lớn lao
Hùng Vương xuất thế bậc anh hào
Hậu lai mỗi trận tranh thắng bại
Liên tưởng năm nào thánh đước cao
Đền đã được xếp hạng di tích vào năm 2005
1.3.4 Đền Vệ Quốc
Đền Vệ Quốc có tên gọi cũ là miếu Giáp Đông, vì đền thuộc thôn đông của phường Hồ Khẩu xưa Một tên gọi khác của đền là đền Đức Thánh em, phân biệt với đền Đức Thánh anh - Cống Lễ công cách khoảng 100 mét
Dưới thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn, di tích thuộc thôn Giáp Đông của phường Hồ Khẩu Dưới thời Nguyễn, đền Vệ Quốc thuộc phường Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Xương, phủ Hoài Đức Trước cách mạng tháng 8 thì đền thuộc tổng An Thái, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội
Trong sách Tây Hồ chí, phần mộ có ghi:
“Vệ Quốc là em Dực Thánh công, nhà ở trên gò Ngự Đại, ấp Hồ Khẩu, quay xuống hồ, trông ra sông Tô Lịch Sau khi hóa, người trong ấp nhận nhà
cũ làm đền thờ, nay vẫn còn.” [1, tr 309]
Trang 28Đền Vệ Quốc tọa lạc trên một đỉnh gò bằng phẳng vẫn được biết đến là
gò Long Tảng (trán rồng), nơi ông Lê Quốc Công (thân phụ của hai thánh Cống Lễ, Cá Lễ) đã dựng nhà và cũng là nơi sinh ra hai thánh Đền được xây dựng vào thời vua Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Thuận
Đền được xếp hạng di tích vào năm 1995
1.3.5 Đền Mẫu Thăng Long
Đền Mẫu Thăng Long còn có tên gọi là Chính Đức Từ, nằm ở phía Nam làng Hồ Khẩu, giáp với sông Tô Lịch Đền thờ thủy công chúa Huỳnh Nương (có tài liệu viết Quỳnh Nương) Theo ghi chép trong Tây Hồ chí và các thần tích thì bà là vợ của Vệ Quốc đại vương Cá Lễ công
Cũng theo Tây Hồ chí, đền được xây dựng vào thời Lý Thần Tông
(1128 - 1138) Theo dòng lạc khoản của câu đối còn ở hai trụ đền, di tích này được xây dựng từ đời Cảnh Hưng (1740 -1786) và trùng tu nhiều lần vào đời Nguyễn
Đền làm theo kiểu chữ Đinh, quay mặt về hướng chính Đông Từ ngoài cổng vào có hai con voi đắp bằng vữa cao 1,5m, dài 2m Chính giữa gian tiền
tế có bức cửa võng đề bốn chữ: Cảm ứng linh thông Hai bên cửa võng có câu đối và hoành phi ca ngợi Thủy công chúa Hiện trong đền còn lưu giữ được bốn đạo sắc phong: ba đạo thời Cảnh Thịnh 4 (1796), một đạo thời Vĩnh Thịnh 6 (1710)
Đền Mẫu Thăng Long có liên quan về nội dung thờ cúng với đền Vệ
Quốc, đền Dực Thánh, đình Hồ Khẩu trên đất Thăng Long - Hà Nội xưa
Trang 29Chương 2 LÀNG HỒ KHẨU - THẦN TÍCH VÀ LỄ HỘI CẦU MÁT
2.1 Truyền thuyết các vị thành hoàng làng
2.1.1 Theo Thần tích phường Hồ Khẩu
Thần tích phường Hồ Khẩu ghi chép lại, vào thời Hùng Vương thứ 18,
ở động Đản Thánh, châu Bố Chính có vị Quốc công họ Lê, húy là Tín, làm Phệ sĩ trong triều được vua yêu thương nên gả Cẩn Nương công chúa cho Sau này công chúa mất sớm, chưa có điềm lành nên ông đã dâng sớ xin được
đi du lãm phong thủy Khi đến phường Hồ Khẩu, huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức, ông nhận thấy nơi đây là mảnh đất cát địa nên ở lại, dựng nhà, lấy vợ là
bà Thục Nương làm kế thất Ông cùng với phu nhân đến cầu tự ở đền Đông Hải vương, ban đêm nằm mơ thấy một vị thần tóc bạc phơ báo mộng rằng lòng thành của ông đã cảm động trời xanh, thiên quân sẽ ban cho thần rồng xuống đầu thai vào gia đình ông để sau này phù giúp đất nước
Phu nhân của ông là bà Thục Nương thường đi chơi ở Hồ Tây, bà thấy một con cá vẩy đỏ rực rỡ nhảy múa trên mặt nước Gần đến ngày sinh, bà lại
nằm mộng thấy hai người con trai đai mũ chỉnh tề chắp tay vái lậy thưa rằng:
“Chúng thần ở Bộ Lễ của Thủy Cung, phụng sắc đầu thai” Nghe xong thì bà
tỉnh giấc, thấy cảnh đất trời mù mịt, gió mưa kéo đến, bên trong phòng hương thơm ngào ngạt Bà hạ sinh được hai người con trai và đặt tên con trưởng là Cống Lễ, con thứ là Cá Lễ Cống Lễ sinh ra mình dài 9 thước, tướng mạo đường đường Cá Lễ hàm yến râu hùm, tay dài quá gối Cả hai anh em khi lớn lên đều văn võ toàn tài, là bậc anh hùng cái thế
Khi Duệ vương lên ngôi đã ban chiếu cầu người tài, hai anh em Cống
Lễ và Cá Lễ liền ra ứng tuyển Nơi hai ông yết kiến nhà vua có gió mát trong lành, vua ngầm đoán hai ông là thủy thần xuất thế nên phong cho chức Thị tòng Khi ấy, Hùng Vương mới vừa gả công chúa Mỵ Nương cho Tản Viên
Trang 30sơn thánh, có ý muốn nhường ngôi cho con rể thì bị vua Thục bất bình, đem quân sang đánh Nhà vua lệnh cho Cống Lễ công và Cá Lễ công nắm giữ thủy quân, phong Cống Lễ công làm Tả chưởng quân, Cá Lễ công làm Hữu chưởng quản, lãnh ấn Đại tướng quân, dọc theo sông Bạch Đằng đón đánh quân địch Cả hai lần vua Thục tiến binh đều bị đánh tan Sau đó 2 năm, vua Thục lại tập hợp hơn hai trăm vạn binh lính hùng mạnh, chia quân ra làm năm ngả tiến đánh nước ta Nhà vua lại phong cho hai ông chức Thủy tề hầu, lệnh cho các ông thống lãnh thủy quân, kết hợp với cánh quân của Tản Viên sơn thánh tiến đánh bọn giặc một trận lớn, khiến quân Thục đại bại
Ngày khải hoàn trở về, thuyền của hai ông đi đến sông Tô Lịch (nay là địa phận sông trước đền Vệ Quốc) thì trời đất tối đen, sóng gió cuồn cuộn, một đạo ánh sáng đỏ từ trên cao rọi thẳng xuống thuyền rồng Hai ông bèn áo
mũ chỉnh tề, hướng về về cung lạy tạ nhà vua rồi theo đường ánh sáng bay lên trời mà hóa Quân sĩ trên thuyền tâu lại với vua, vua Hùng thương tiếc ban tặng mũ áo, sắc phong hai ông làm thượng đẳng phúc thần, cho phép cư dân phường Hồ Khẩu phụng thờ Giáp Bắc thờ Cống Lễ đại vương, Giáp Đông thờ Cá Lễ đại vương, xuân thu nhị kỳ vua thường sai các quan đến tế lễ
Sau này Lý Thái Tổ đánh Chiêm Thành, hai vị đã linh hiển giúp vua
nên được ban phong mỹ tự “Linh ứng”
Khi Trần Thái Tông cùng Hưng Đạo Vương đánh quân Ô Mã Nhi, hai
vị thánh lại hiển linh, đón đánh địch ở hướng Tây Bắc, đánh tan quân địch,
triều đình lại ban tặng thêm bốn chữ “Phù quốc Tế thế”
Vào thời Lê, phường Yên Phụ bị lở đê, cứ đắp rồi lại vỡ, triều đình lệnh cho các quan đến cầu đảo hai vị vương này, quả nhiên sự phá hoại của nước
đã dần chấp dứt Hai vị lại được phong thêm mỹ tự “Hiển ứng” và “Uy linh”
Dân làng Hồ Khẩu thờ hai thánh làm Thành hoàng làng tại đình, và thờ riêng hai thánh tại hai đền khác trong làng Tương truyền, hai vị đã âm phù các đời vua sau đánh tan giặc, lại có công lai giúp dân trị thuỷ, khai khẩn lập
Trang 31ấp nên các đời vua đều phong tặng cho Cống Lễ là Dực Thánh đại vương và
Cá Lễ là Vệ Quốc đại vương
2.1.2 Theo truyền thuyết trong dân gian
Về hai nhân vật Cống Lễ công và Cá Lễ công, tức Dực Thánh đại vương và Vệ Quốc đại vương, chưa tìm thấy ghi chép nào về hai ông trong chính sử, nhưng trong dân gian vẫn còn khắc sâu và truyền tụng về công lao của hai vị thủy tướng dũng cảm trong công cuộc chống xâm lăng và xây dựng kinh thành Thăng Long dưới triều Lý
Truyền thuyết kể lại rằng: thời nhà Lý, vùng ven Hồ Tây còn hoang vu, bùn lầy nước đọng, dân cư thưa thớt sống chủ yếu bằng nghề dệt vải, trồng hoa, cung cấp cho vua quan kinh thành
Thuở ấy, ấp Hồ Khẩu có một gia đình nông dân nghèo, hai ông bà mãi đến 50 tuổi mới sinh hạ được một cô con gái đẹp người đẹp nết, nổi tiếng trong vùng Một hôm nhà Vua đi du ngoạn Hồ Tây, trông thấy cô gái đang bắt
ốc thì cho mời lên gặp Sau này cô hạ sinh được hai người con trai thông minh đĩnh ngộ, người anh đặt tên là Cống Lễ, người em là Cá Lễ Tương truyền khi còn nhỏ hai anh em thường qua một con sông nhỏ chơi là dòng Long Khê (nay đã mất, chỉ còn sót lại dấu vết là chiếc cỗng Đõ chảy qua đường Bưởi) Mỗi khi mưa to gió lớn, thường có hai con cá chép to nổi lên để giúp Cống Lễ và Cá Lễ qua sông
Hai anh em Cá Lễ lớn lên trong cảnh nước nhà bị giặc Chiêm Thành quấy phá Hai người đã tình nguyện giúp vua đi dẹp giặc, lập công Vua phong cho người anh là Dực Thánh công còn người em là Vệ Quốc tướng quân Nhà vua muốn giữ hai ông ở lại trong cung nhưng các ông từ chối, muốn quay về làng sống với dân nghèo
Thuở ấy dân cư ở vùng ven Hồ Tây vẫn còn thưa thớt, đầm bãi hoang tàn chưa được khai phá, dân chúng lúc nào cũng khốn khổ vì cảnh lũ lụt, hết
Trang 32mưa thì lại úng ngập khắp nơi Hai anh em Cống Lễ và Cá Lễ lại giúp dân đắp đập ngăn nước, trị thủy sông Tô, lại vận động dân làng khai khẩn đất hoang, lập làng lập ấp Cuộc sống của người dân Hồ Khẩu dần đi vào ổn định, ấm no
Truyền thuyết về hai vị thành hoàng đại vương tuy có nhiều điểm khác nhau, nhưng tựu chung lại thì:
- Cống Lễ công và Cá Lễ công đều là sự nhân hóa của hai vị thủy thần dòng dõi Lạc Long Quân
- Hai ông là hai anh em song sinh, cùng hóa thân đầu thai vào một gia đình có đức hạnh ở làng Hồ Khẩu
- Hai thánh có công dẹp giặc, giữ yên bờ cõi đất nước, lại có công giúp dân trị thủy
- Hai vị được lập đền thờ riêng, được triều đại phong tặng (sắc phong,
mỹ tự), được nhân dân địa phương thờ cúng
Ngọc phả phường Hồ Khẩu còn có dòng thơ ca ngợi công đức của hai
vị thánh là:
Nhất thành khả cách đạt thiên quân
Ứng hứa thần long tác thế nhân
Trang 332.2 Đình Hồ Khẩu - không gian của lễ hội
Đình Hồ Khẩu là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của dân làng
Hồ Khẩu Các hoạt động văn hóa tinh thần xoay quanh việc phụng thờ vị thần theo nghi thức thờ thần hoàng làng phổ biến của nước ta Kiến trúc và nội dung thờ tự cho ta thấy đình Hồ Khẩu là công trình di tích tôn giáo, có đầy đủ các chức năng của đình làng:
- Đình Hồ Khẩu là trung tâm sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư, nơi giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, cầu nguyện mọi điều tốt lành cho mọi tầng lớp nhân dân và bảo lưu giá trị, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân làng Hồ
- Đình là nơi thờ phụng nhị vị thành hoàng Cống Lễ công và Cá Lễ công;
- Ðình là trung tâm hành chính của làng xã, nơi hội họp của các cụ cao tuổi mỗi khi có việc làng và nơi diễn ra lễ hội hàng năm
2.2.1 Lịch sử xây dựng đình làng Hồ Khẩu
Đình Hồ Khẩu xưa nằm ở phía Đông Bắc làng, kề ngay bên cạnh Hồ Tây Thuở xưa, đất làng Hồ Khẩu giống như một bán đảo tiếp giáp với hồ, phía Tây là gò đồi, phía Đông là dải đất công điền dùng làm ruộng hương hỏa của nhà thờ 5 dòng họ lớn trong vùng Đường vào làng lúc đó chạy dài từ cống Đõ qua chùa Sải, men theo một ngòi nhỏ nối liền sông Tô Lịch với Hồ Tây, tạo thành một cửa ngõ ra vào duy nhất bằng đường thủy trong khu vực
Hồ Tây nên gọi là Hồ Khẩu
Đình Hồ Khẩu là di tích được tạo dựng từ lâu đời, để thờ phục hai vị thành hoàng có công với dân với nước Hiện nay trong di tích không còn tại liệu nào ghi chép cụ thể về niên đại khởi dựng của ngôi đình Nhưng căn cứ vào văn bia hiện vẫn còn lưu giữ ở chùa Tĩnh Lâu thì đình Hồ Khẩu được xây dựng cùng một năm với đình Võng Thị, niên đại Vĩnh Tộ (1619 - 1625) Đình
Trang 34Hồ Khẩu ban đầu nằm đối diện với Phủ Tây Hồ qua Hồ Tây, phía sau đình là miếu Giáp Bắc Đình được xây dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ sáu (1624) Sau vì đình đặt ở nơi đất thấp, bị sóng hồ làm cho xói mòn, mỗi khi mưa lớn thì hay
bị ngập úng nên dân làng đã di chuyển vị trí của đình vào trung tâm làng Ngôi đình cũ khi xưa chỉ còn sót lại nền đình Trong cuộc kháng chiến chống
đế quốc Mỹ, nền đình này là nơi đặt trật địa pháo của tự vệ làng
Đình Hồ Khẩu được dựng lại trên địa điểm hiện nay vào năm Chính Hòa thứ mười (năm Giáp Tuất - 1690), điều này vẫn còn được ghi lại trên văn bia của di tích
Đình di chuyển từ khu vực gần hồ vào trong làng Đình Hồ Khẩu có mặt tiền hướng ra đường Thụy Khuê, đối diện với sông Tô Lịch, phía Tây giáp với chùa Chúc Thánh và Văn Chỉ Ngôi đình Hồ Khẩu là nơi thờ cúng nhị vị thành hoàng Cống Lễ đại vương, Cá Lễ đại vương và thờ vọng ông tổ nghề giấy Thái Luân Đình cũng là nơi diễn ra các hoạt động lễ hội của dân
cư trong làng
Năm 1946, đình bị phá hủy trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Năm 1951, các bô lão và hội đồng kỳ mục cho xây dựng lại hậu cung ở
Trang 35Năm 1998, tiểu ban di tích của làng Hổ Khẩu và các tổ chức đoàn thể vận động dân làng xây dựng lại đình Hồ Khẩu theo kết cấu 5 gian 2 chái như hiện nay
Tháng 9 năm 1999, dân làng đóng góp tiền bạc để hưng công lại hậu cung Tiếp đó xây dựng nốt phần đại bái, hoàn chỉnh đình theo cấu trúc xưa, hoàn bị hoành phi câu đối và đồ thờ tự
2.2.2 Giá trị kiến trúc và các di vật trong đình làng Hồ Khẩu
2.2.2.1 Giá trị kiến trúc, điêu khắc
Sau khi xây lại vào năm Chính Hòa thứ mười (1690), đình có bố cục hình chữ Đinh, gồm có bái đường và hậu cung Vào các thời kỳ sau, người ta mới dựng thêm nghi môn (thế kỷ XIX), tả vu, hữu vu (thế kỷ XX)
Hiện tại, đình vẫn giữ kiến trúc hình chữ Đinh với hai đơn nguyên kiến trúc chính là bái đường và hậu cung Sân đình, hai bên tả vu - hữu vu đã bị chiếm dụng và xâm hại, nghi môn của đình đang trong quá trình bị xâm hại
Đình Hồ Khẩu ngày nay là một tổng thể kiến trúc gồm các đơn nguyên như: nghi môn, bái đường và hậu cung Đình có kết cấu 5 gian 2 chái, tường hồi bít đốc, vì kèo chồng rường quá dang, các liên kết để trơn không chạm trổ Sau lần trùng tu mới nhất thì đình Hồ Khẩu có kết cấu bê tông cốt sắt giả gỗ
Các đơn nguyên kiến trúc:
• Nghi môn:
Cũng như các ngôi đình khác ở đồng bằng Bắc bộ, nghi môn là thành phần có ý nghĩa sâu sắc về tín ngưỡng và tôn giáo Nghi môn đình Hồ Khẩu được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX cuối thời Nguyễn, hiện nay nằm ở sát mặt đường Thụy Khuê Nghi môn đình Hồ Khẩu có kích thước khá lớn, gồm gồm 3 cổng: Một cổng chính và hai cổng nhỏ ở hai bên Nghi môn đình được xây dựng theo kiến trúc tứ trụ có mái cong bên trên và mái hậu lợp ngói vẩy cá Hai cột giữa rộng 45cm, cao 7m Bên trên tứ trụ đều có đắp hình trái rành rành
Trang 36cách điệu có phương chầu về 4 phía Bốn mặt trụ đều được tạo khung để ghi câu đối Bậc cổng xây tam cấp, có chiếu nghỉ rộng, hai bên có đôi nghê chầu
Gắn liền với nghi môn đình về phía bên trái là cổng vào giáp bắc của làng Phía bên phải là cổng vào chùa Chúc Thánh (còn gọi là “Cổng Chùa”) Qua đền Vệ Quốc đến cổng vào Giáp Đông của làng
Đối diện với cổng đình là Điện thờ Đức Thánh Mẫu Thủy Tinh công chúa, con Động Đình vương, dân làng vẫn gọi là Điện Mẫu Thăng Long
“chữ thọ” rải lên trên hệ thống rui Sức nặng của mái cùng với hệ kèo ti khỏe dồn xuống tạo nên sự vững chắc cho công trình
Nhà bái đường cao hơn sân là 0.4 m Cửa tòa bái đường là cửa thượng song hạ bản chiều cao là 2.2 m, chất liệu gỗ, không có chạm trổ Ngưỡng cửa được coi là nơi chắc tà khí Cửa ở mỗi gian bên ngoài đều có hai mắt phía trên Hệ thống xà tử thượng, xà tử hạ không trang trí
Nhà bái đường gồm năm gian đầu hồi bít đốc, là một gian nhà hình chữ nhất gồm 5 gian 2 chái Nền bên trong được lát gạch Bát tràng, bề mặt nhẵn
Ở chính giữa có xây một bệ gạch vuông cao hơn mặt nền là 0.15 m
Về kiểu thức kiến trúc: kiến trúc tòa bái đường sau năm 2003 đã được xây dựng theo kiểu hiện đại với kết cấu bê tông cốt sắt giả gỗ Toàn bộ hệ thống cột đình đều làm giả gỗ chứ không còn bộ vì kèo truyền thống, vì vậy
Trang 37cũng không có các mảng trang trí Các cột đình đều có một kích thước đồng nhất Toàn bộ bái đường có tất cả 2 long đình, 2 tàn, 2 tán, ngoài ra hai bên chính giữa còn có các hiện vật Ở hai bên phải, trái của gian chính giữa, có đôi ngựa đứng trên bệ cao Bạch mã đứng bên trái và hồng mã đứng bên phải Ngoài ra còn có 1 chiêng, 2 trống lớn và các bộ trống nhỏ dùng trong các dịp
lễ của làng
• Hậu cung:
Nối liền với gian giữa nhà bái đường về phía sau là hậu cung của đình, gồm có 3 gian Ở chính giữa hậu cung là nơi đặt hai ngai thờ của nhị vị thành hoàng và một ngai thờ vọng của đức tiên hiền chỉ nghệ Phía trước hậu cung
có ban thờ, chính giữa là khán thờ, trong đặt long ngai và bài vị của thành hoàng làng Nền của hậu cung cao hơn bái đường 0.1m, có bậc lên xuống Nội thất của hậu cung khá đơn giản Cửa hậu cung là cửa bức bàn, bên trong chia làm 3 gian Bộ vì kèo theo kiểu chồng rường con nhị, có thể do diện tích hậu cung nhỏ nên các cột trốn không được chạy thẳng xuống dưới đất Hai bên xây theo kiểu tường hồi bít đốc
Gian chính của hậu cung là nơi đặt ngai thờ nhị vị thành hoàng Phía trước hai bên ngai thờ có hai con hạc đặt trên lưng rùa, toàn bộ đều được làm bằng đồng
Phần mái của hậu cung được lợp bằng ngói mũi hài, lót bằng các tấm lót hình vuông có khắc chữ “thọ” Phần bờ nóc có hình mặt trời, hai bên đầu bờ nóc là 2 đấu nắm cơm, bờ giải xây theo kiểu tay ngai giật cấp, có 2 con kìm
Có thể nhận thấy sau lần tu sửa gần đây nhất vào 2003, bái đường đã thay đổi theo lối kiến trúc hiện đại, chỉ duy có bên trong hậu cung vẫn còn giữ được kiểu thức kiến trúc truyền thống do chưa bị tác động của iệc tu sửa
Đình hiện không còn tả vu, hữu vu Sân đình đã bị chiếm dụng, ao trước sân đình đã bị lấp
Trang 38- 02 cuốn thư ghi lại công tích của hai thánh
- 06 đôi câu đối chữ Hán
Trang 392.2.3 Các vị thần được thờ trong đình làng Hồ Khẩu
Đình làng Hồ Khẩu là nơi thờ nhị vị Thành hoàng đại vương đã được nhiều triều đại sắc phong là phúc thần là Cống Lễ công và Cá Lễ công
Tương truyền, hai vị thần đã có công cùng với Sơn thần Tản Viên dưới thời
Hùng vương thứ mười tám đánh giặc, được phong là “Thượng đẳng Phúc thần”
Hai vị phúc thần còn linh hiển giúp Thái tử Phật Mã đánh Chiêm thành
nên được phong thêm mỹ tự “Hiển ứng”
Hai vị đã linh hiển giúp Trần Thái Tông đánh quân Nguyên trên sông
Bạch Đằng, được phong thêm mỹ tự “Phù quốc tế thế”
Hai vị đã linh hiển giúp vua Lê trị thủy, được phong thêm mỹ tự “Hiển
ứng uy linh”
Đình Hồ Khẩu là nơi tưởng niệm về hai nhân vật lịch sử đã có công lớn với dân, với nước, từng được nhiều triều đại phụng sự và tôn vinh; đồng thời đình làng cũng là nơi hội tụ tâm linh của đông đảo dân làng, nơi giao hòa giữa trời đất, thần linh với con người
Tuy không còn giữ được vẻ bề thế của một ngôi đình cổ, đình Hồ Khẩu vẫn mang những giá trị đáng kể về văn hóa, đó là minh chứng bất diệt của nền văn hóa làng đang được kế thừa, khôi phục, góp phần hướng con người ta trở
về với cội nguồn, với quê hương, với đạo lý uống nước nhớ nguồn
2.3 Lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu
2.3.1 Mục đích tổ chức lễ hội
Ở làng quê Việt Nam thì hội làng là một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc trưng, thuộc về lối sống và là mặt tiêu biểu nhất trong đời sống tinh thần của làng Với người dân quê xưa, hội làng đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu Ca dao đã từng có câu viết về tinh thần ngày hội làng như:
“Làng ta mở hội tưng bừng
Chiêng khua, trống gióng vang lừng bốn phương”
Trang 40Hàng năm cứ vào dịp giữa tháng tư âm lịch đầu mùa hạ, đất trời chuyển vận, thời khí nặng nề, bệnh dịch phát triển đã gây nhiều tổn hại cho con người cũng như hoa màu, gia súc quanh vùng Hồ Tây Do vậy các làng ở vùng Bưởi luôn tổ chức lễ hội cầu mát để thỉnh nguyện thần linh phù hộ cho dân làng tai qua nạn khỏi, khỏe mạnh bình an Có thể thấy lễ hội là một dạng thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, xuất phát từ nhu cầu niềm tin của toàn thể cộng đồng, trong đó có cả sự tồn vong của từng gia đình và sự bình yên của từng cá nhân, thể hiện nguyện vọng của mọi người, mong cho mùa màng bội thu, gia súc sinh sôi và ước mơ khát vọng “nhân khang vật thịnh” từ bao đời nay Lễ hội cầu mát làng Hồ Khẩu là một trong những lễ hội đặc sắc được tổ chức với mục đích cầu nguyện sự bình yên như vậy
Dường như các làng ven Hồ Tây đều có vị Thành hoàng bảo trợ là thủy thần, đây cũng là nét văn hóa tín ngưỡng đặc biệt của những cư dân sống ven
hồ Mục đích tổ chức lễ hội cầu mát của làng Hồ Khẩu là thỉnh hai vị Thành hoàng bản mệnh của làng phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, đồng thời các vị sẽ
“tống khứ” những ôn trùng gây hại cho con người cũng như gia súc, hoa màu Hội chính thì được tổ chức vào những năm phong đăng hòa cốc, kinh tế dân làng thịnh vượng, còn lại là Hội lệ được tổ chức hàng năm
2.3.2 Thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội
2.3.2.1 Thời gian diễn ra lễ hội
Lễ hội cầu mát diễn ra vào tháng tư âm lịch nên người dân địa phương quen gọi lễ hội cầu mát là lễ hội tháng tư hoặc lễ hội cầu yên
Thời điểm chính của lễ hội diễn ra từ ngày 15 đến 20 tháng tư âm lịch Vào những năm làm ăn thịnh vượng, dân làng phấn khởi thì mở hội từ 10 đến
15 ngày, kéo dài suốt từ 15 tháng tư đến cuối tháng
Lễ lớn được cử hành vào năm “Phong đăng hòa cốc” Các hội lệ không
tổ chức rước mà chỉ có lễ tế