LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian nghiên cứu về tra cứu tin và các vấn đề liên quan, với sự giúp đỡ tận tình của thầy cô và trung tâm thông tin thư viện Đại học Văn Hóa Hà Nội, em đã hoàn thà
Trang 1- -
TÌM HIỂU NĂNG LỰC TRA CỨU TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : TH.S TRƯƠNG ĐẠI LƯỢNG
SINH VIÊN : NGUYỄN NGỌC NAM
MÃ SỐ SINH VIÊN : TT1.027
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu về tra cứu tin và các vấn đề liên quan, với
sự giúp đỡ tận tình của thầy cô và trung tâm thông tin thư viện Đại học Văn
Hóa Hà Nội, em đã hoàn thành khóa luận với đề tài: “Tìm hiểu năng lực tra cứu tin của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội”
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên, Thạc sỹ Trương Đại Lượng, người đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình làm khóa luận Em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Thư viện Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã trang bị những kiến thức bổ ích cho em trong suốt 4 năm học Cảm ơn trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Văn Hóa Hà Nội đã tạo điều kiện để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thành
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song khóa luận cũng còn nhiều thiếu sót,
em rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý chân thành của thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 10/5/2015 Sinh viên Nguyễn Ngọc Nam
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: NĂNG LỰC TRA CỨU TIN VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 11
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRA CỨU TIN VÀ NĂNG LỰC TRA CỨU TIN 11
1.1.1 Khái niệm tra cứu tin và năng lực tra cứu tin 11
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tra cứu tin 13
1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 14
1.2.1 Khái quát về Đại học Văn Hóa Hà Nội 14
1.2.2 Đặc điểm sinh viên trường đại học văn hóa Hà Nội 19
1.3 VAI TRÒ CỦA TRA CỨU TIN VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 23
1.3.1 Khai thác nguồn thông tin một cách hiệu quả 23
1.3.2 Phát triển khả năng tự học 24
1.3.3 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học 26
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TRA CỨU TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 28
2.1 NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NGUỒN TIN 28
2.1.1 Nguồn tin trong thư viện 28
2.1.2 Nguồn tin ngoài thư viện 30
2.2 HIỂU BIẾT VỀ CÔNG CỤ TRA CỨU 34
2.2.1 OPAC 34
2.2.2 CSDL 39
2.2.3 Máy tìm tin 41
2.3 KỸ NĂNG TRA CỨU THÔNG TIN 45
2.3.1 Xác định nhu cầu tin 46
Trang 42.3.2 Xây dựng chiến lược tìm tin 50
2.3.3 Thực hiện tìm kiếm 55
2.3.4 Đánh giá kết quả tìm 57
2.4 THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC TRA CỨU TIN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 61
2.4.1 Nguồn tin và tổ chức bộ máy tra cứu 61
2.4.2 Công tác đào tạo người dùng tin của thư viện 66
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TRA CỨU TIN 69
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 69
3.1 NHẬN XÉT 69
3.1.1 Về khả năng tra cứu thông tin của sinh viên 69
3.1.2 Về công tác đào NDT tại thư viện 71
3.2 KIẾN NGHỊ 73
3.2.1 Nâng cao chất lượng đào tạo công tác đào tạo NDT 73
3.2.2 Phát triển kỹ năng tra cứu thông tin 74
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 MỤC LỤC PHỤ LỤC II
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nhu cầu tin về nội dung Tài liệu
Bảng 1.2: Nhu cầu tin về loại hình tài liệu
Bảng 2.1: Cơ cấu vốn tài liệu truyền thống
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn tài liệu điện tử
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát sự hiểu biết của sinh viên về nguồn tin thống kê
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát phân biệt CSDL toàn văn và CSDL bài
trích
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát thực tế khả năng hiểu biết về các máy siêu tìm tin
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về việc xác định nguồn tham khảo
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về việc xác định lệnh tìm kiếm
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát sinh viên về chiến lược tìm tin
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát về vấn đề xác định toán tử phù hợp cho việc tìm kiếm them nhiều tài liệu
Bảng 2.10: Kết quả lựa chọn tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin
Internet
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang làm cho thế giới thay đổi nhanh chóng từ “xã hội công nghiệp” sang “xã hội thông tin” và “nền kinh tế tri thức” Sự thay đổi này đã dẫn tới hiện tượng bùng nổ thông tin Nhiều nguồn tin được phổ biến ở các dạng thức khác nhau
và thông qua nhiều kênh khác nhau, nhiều công cụ thông tin được phát triển gần đây để hỗ trợ con người trong việc kiểm soát và tìm kiếm thông tin
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội, vai trò của thư viện trong đời sống ngày càng được khẳng định Thư viện đảm bảo rằng những nguồn thông tin mà họ cung cấp sẽ phục vụ tốt và đem lại lợi ích thiết thực cho bạn đọc Công nghệ không ngừng phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có ngành thư viện thông tin Thông tin trong xã hội ngày càng nhiều và càng trở nên đa dạng và phong phú về nội dung và hình thức Nhiều loại hình tài liệu mới xuất hiện như: sách, báo điện tử, CD, CD – ROM, microfilm, thông tin được truyền tải trên Internet
Sự xuất hiện của Internet đã đem lại những lợi ích to lớn cho người sử dụng Internet giúp chúng ta truy cập và phổ biến thông tin một cách nhanh chóng Tuy nhiên trên mạng Internet lại chứa đựng khối lượng thông tin khổng lồ mà con người khó có thể kiểm soát hết được, trong đó có những thông tin đáp ứng nhu cầu cuộc sống, học tập và công việc, giúp hoàn thiện nhân cách con người, bên cạnh đó có những thông tin làm phương hại đến thuần phong mỹ tục, đến các giá trị đạo đức và giá trị xã hội của cộng đồng
Ngày nay, với sự trợ giúp của các phương tiện thông tin và truyền thông hiện đại, với những ưu điểm nổi trội do công nghệ mới đem lại, con
Trang 8người có khả năng truy cập thông tin mọi lúc và mọi nơi Tuy nhiên không phải bất cứ ai cũng có khả năng truy cập tới thông tin mình cần một cách nhanh chóng và chính xác vì sự hiểu biết của con người có giới hạn Vì vậy, cần phải có kĩ năng căn bản để tra cứu và tiếp cận được thông tin mà mình cần một cách nhanh chóng mà không cần mất quá nhiều thời gian và công sức
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội (ĐHVH HN) là một trong những trường Đại học lớn nhất của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Trải qua 55 năm hình thành và phát triển, trường đã đào tạo được hàng chục nghìn cán bộ văn hoá hiện đang công tác trên khắp mọi miền đất nước
Với những ý nghĩa đó, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu năng lực tra cứu tin của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội” làm khóa luận của mình
với hy vọng sẽ tìm ra giải pháp để nâng cao khả năng tra cứu của sinh viên giúp họ làm chủ kho tàng kiến thức rộng lớn này
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nâng cao năng
lực tra cứu tin cho sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tra cứu tin và năng lực tra cứu tin;
+ Tìm hiểu đặc điểm sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; + Khảo sát thực trạng năng lực tra cứu tin của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội;
Trang 9+ Đánh giá thực trạng năng lực tra cứu tin của sinh viên trong trường
+ Đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực tra cứu tin của sinh viên trong trường
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tra cứu tin của sinh viên
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Năng lực tra cứu tin của sinh viên Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội trong thời điểm hiện tại
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được kết quả sát thực và tốt nhất, bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra xã hội học Do số lượng sinh viên trong khá lớn nên tác giả chỉ chọn mẫu nghiên cứu đại diện ngẫu nhiên với số lượng là 200 sinh viên
- Phương pháp nghiên cứu nội dung tài liệu
- Phương pháp thu thập, phân tích, so sánh dữ liệu
- Phương pháp phỏng vấn và trao đổi với cán bộ và sinh viên trong trường
Trang 105 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của Luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Năng lực tra cứu tin với sinh viên trường Đại học Văn hóa
Hà Nội
Chương 2: Thực trạng năng lực tra cứu tin của sinh viên Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị các giải pháp nâng cao năng lực tra
cứu tin cho sinh viên trường Đại học Văn Hóa Hà Nội
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài song do hạn chế về năng lực và thời gian nên đề tài không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, cùng toàn thể cán bộ hiện đang công tác tại Thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn Trương Đại Lượng, các thầy cô trong khoa, cùng cán bộ thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành bài khóa luận này
Trang 11CHƯƠNG 1
NĂNG LỰC TRA CỨU TIN
VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRA CỨU TIN VÀ NĂNG LỰC TRA CỨU
TIN
1.1.1 Khái niệm tra cứu tin và năng lực tra cứu tin
Tra cứu tin
Khái niệm tìm tin / tra cứu tin được nhiều tác giả đề cập đến Sau đây là một số định nghĩa:
Tra cứu tin là tập hợp các công đoạn kỹ thuật và logic với các mục đích cuối cùng là tìm được các tài liệu, thông tin về chúng hoặc những sự kiện, dữ kiện riêng biệt về vấn đề mà người dùng tin cần thiết
Tìm tin, tra cứu tin là tập hợp các công đoạn có mục đích, nhằm cung cấp cho người dùng tin những chỉ dẫn hoặc trả lời câu hỏi đột xuất hay thường xuyên của họ
Tìm tin là quá trình bao gồm những hoạt động mang tính logic nhằm mục đích cung cấp cho NDT những thông tin phù hợp với yêu cầu của
họ theo các dấu hiệu đã có
Tìm tin là quá trình so sánh những yếu tố đặc trưng của yêu cầu với những yếu tố đặc trưng của tài liệu nằm trong hệ thống, nhằm xác định sự tương hợp về nội dung, ý nghĩa của các dữ liệu được so sánh và lựa chọn các tài liệu / thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu
Từ những định nghĩa trên cho thấy các tác giả tương đối thống nhất khi xem xét vấn đề tra cứu / tìm tin
Trang 12Hiện nay, ở Việt Nam thuật ngữ tra cứu tin / tra cứu thông tin, tìm tin vẫn chưa có sự thống nhất Trong các cơ quan thông tin, thuật ngữ tìm tin được sử dụng tương đối thông dụng
Sở dĩ có hiện tượng trên là do quá trình dịch và sử dụng thuật ngữ chưa
có sự thống nhất Cùng chỉ hoạt động tra cứu tin nhưng trong một số tài liệu Anh – Mỹ của tác giả William A Katz, Mary Gosling… dùng thuật ngữ Information retrieval hoặc Charl T Meadow, Chris Grogan dùng Refernence work… Trong các tài liệu tiếng Việt cũng sử dụng các thuật ngữ khác nhau như : PGS.TS Đoàn Phan Tân, PGS.TS Phan Văn, TS Vũ Văn Nhật dùng thuật ngữ “tìm tin”, các giảng viên Trịnh Kim Chi, Dương Bích Hồng và nhiều tác giả khác dùng thuật ngữ “Công tác tra cứu” Thuật ngữ “Tra cứu tin” được sử dụng tương đối phổ biến trong hoạt động thư viện ở Việt Nam Tuy việc sử dụng thuật ngữ của các tác giả có khác nhau nhưng cùng chỉ một mục đích là quá trình tìm tin / tra cứu tài liệu / thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Như vậy, tra cứu tin là một thuật ngữ chung dùng để phản ánh quá trình tìm kiếm dữ liệu hoặc các nguồn tin, trong đó có cả số liệu, dữ kiện Tra cứu tin là quá trình xảy ra giữa con người và mảng tin thông qua các phương tiện, công cụ / hình thức lưu trữ thông tin cần thiết khác nhau như hệ thống mục lục, các bảng tra cứu, các ấn phẩm thông tin, các bộ phiếu tra cứu truyền thống / điện tử, CSDL… Đó là những công cụ tra cứu thông tin quen thuộc trong các cơ quan thông tin – thư viện Để tra tìm thông tin cần thiết phải sử dụng một ngôn ngữ tìm tin
Chất lượng của tra cứu tin phụ thuộc vào chất lượng của bộ máy tra cứu và năng lực tra cứu tin của người sử dụng
Trang 13Năng lực tra cứu tin
Ngày nay dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin, các nguồn tin trở nên vô cùng đa dạng, bộ máy tra cứu tin ngày càng hiện đại, phức tạp, đòi hỏi người dung tin phải có kiến thức về nguồn tin, về bộ máy tra cứu và quan trọng hơn là phải có kỹ năng tra cứu tin cao
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tra cứu tin
Năng lực tra cứu tin của mỗi người phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
Yếu tố khách quan
- Sự phong phú đa dạng của các nguồn tin Nguồn tin càng đa dạng phong phú người sử dụng càng khó định hướng đến những nguồn tin hữu ích nhất Người dùng tin cần phải có hiểu biết về những nguồn tin cần thiết một cách đầy đủ nhất để có thể lựa chọn nguồn tin một cách hiệu quả
- Sự hoàn thiện của các công cụ tra cứu Công cụ tra cứu được tổ chức một cách khoa học, thuận tiện sẽ giúp người dùng tin tìm tin một cách hiệu quả Ngược lại, nếu công cụ tra cứu bị lỗi, dù người dùng tin có kỹ năng tra cứu cao đến đâu cũng không thể truy cập được thông tin cần thiết một cách nhanh chóng
- Công tác đào tạo người dùng tin của các thư viện Thư viện là nơi tập trung nhiều nguồn tin hữu ích nhất, đồng thời cũng là nơi tổ chức các công cụ
Trang 14tra cứu đa dạng nhất Nếu thư viện thực hiện tốt việc đào tạo người dùng tin, năng lực tra cứu của người sử dụng sẽ ngày càng nâng cao và ngược lại
Yếu tố chủ quan
Mỗi người là một cá thể riêng biệt, có những năng lực riêng và những phẩm chất cá nhân Những đặc điểm cá nhân đó chính là nền tảng phát triển các hiểu biết về nguồn tin, về công cụ tra cứu và kỹ năng tìm kiếm thông tin
Tuy nhiên trong những điều kiện nhất định, những nhóm người nhất định thường có những đặc điểm tâm sinh lý giống nhau Vì thế có thể xem xét các yếu tố cá nhân trong phạn vi một nhóm người, chẳng hạn như nhóm sinh viên trường Đại học Văn hóa
1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
1.2.1 Khái quát về Đại học Văn Hóa Hà Nội
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc xây dựng một nền Văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, qua đó phục vụ thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng Để xây dựng được thì công tác đào tạo đội ngũ cán bộ Văn hóa được
ưu tiên chú trọng và quan tâm Do vậy, vào ngày 26/03/1959, theo quyết định
số 134/VHQĐ của Bộ Văn Hóa, trường “Cán bộ Văn Hóa” được thành lập.Nhiệm vụ của trường khi đó là bồi dưỡng kiến thức, chính trị và nghiệp vụ cho cán bộ văn hoá
Trên tinh thần sáng tạo và phát huy nội lực, hơn 55 năm qua, từ trường
“Cán bộ Văn Hóa”, trường đã không ngừng phấn đấu để trở thành một trung tâm đào tạo cán bộ ngành Văn hóa lớn nhất của cả nước – trường Đại học Văn Hóa Hà Nội
Trang 15Hiện tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội có hai chức năng chính là
“Đào tạo cử nhân Văn hóa và nghiên cứu khoa học” Về chức năng Đào tạo, hiện tại trường có các hình thức đào tạo Chính quy, đào tạo Không chính quy
và đào tạo hệ Vừa học vừa làm Trường ĐHVHHN có 11 khoa, đào tạo chuyên sâu chuyên ngành về các lĩnh vực : Khoa học Thư viện, Thông tin học, Văn hóa Du lịch, Quản lý Văn hóa Dân tộc, Nghệ thuật Đại chúng, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Di sản học, Kinh doanh xuất bản phẩm, Sáng tác lý luận và phê bình Văn học …
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 5 về Văn hóa, nhà trường đã tích cực cải tiến bổ sung chương trình giảng dạy, liên tục đổi mới phương pháp dạy, nâng cao chất lượng và số lượng của đội ngũ giảng viên cũng như tăng cường cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân và thực hiện tốt công tác đào tạo giảng dạy các cử nhân cán bộ Văn hóa
Trong xu thế hội nhập văn hóa thế giới, nhà trường đã thực hiện việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ Đào tạo theo hình thức niên chế sang Đào tạo theo phương thức tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo mới, đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, có nhiều ưu điểm trong quá trình tổ chức quản lí đào tạo, triển khai đào tạo và đặc biệt là thuận lợi cho người học có thể chủ động chọn lựa kế hoạch học tập cho phù hợp với bản thân
Năm 2011, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã có kế hoạch chuẩn bị cho công tác tổ chức đào tạo tín chỉ Sau khi các nguồn lực phục vụ đào tạo được rà soát, bổ sung, nâng cấp đủ điều kiện bước đầu cho tổ chức đào tạo Ngày 12/12/2012, Nhà trường bắt đầu tổ chức đào tạo theo hình thức tín chỉ cho sinh viên trình độ đại học chính qui khóa K53
Trang 16Để thực hiện được bước chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ Nhà trường đã thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Xây dựng hoàn chỉnh chương trình đào tạo: cùng với việc hoàn thiện mục tiêu, chuyển đổi học chế, phát triển qui mô đào tạo, từ năm 2011 Nhà trường đã tích cực hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo các ngành theo chủ trương “mềm hóa” chương trình hai giai đoạn và xây dựng chương trình khung các ngành đào tạo đại học, cao đẳng theo chủ trương của Bộ
Hệ thống mã môn học được thiết lập theo hướng đồng bộ 3 cấp:đại học, cao đẳng, liên thông Đặc biệt, hệ thống mã môn học được thiết kế theo hướng liên thông toàn trường để sinh viên các ngành đào tạo có nhiều cơ hội lựa chọn môn học Toàn bộ chương trình đào tạo đã được cập nhật vào hệ thống Sinh viên được biết đầy đủ về mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra và các kiến thức cụ thể cần tích lũy trong cả quá trình học tập của mình
Sau khi thông qua chương trình đào tạo, việc xây dựng đề cương môn học được đồng loạt triển khai Hiệu quả của việc áp dụng đề cương chi tiết môn học mới sẽ còn phải kiểm định trong thực tiễn nhưng khi toàn trường phải tổng kiểm tra lại nội dung giảng dạy của các học phần cũng đã phát hiện
ra nhiều điều bổ ích Đề cương chi tiết được thiết kế đến từng tiết học thể hiện
sự nỗ lực cố gắng của tất cả giảng viên Sinh viên K53 đã được nhận đầy đủ
đề cương môn học trước khi các học phận được triển khai Tất cả tạo nên một diện mạo mới trong hoạt động đào tạo của nhà trường Các đề cương chi tiết học phần này được công bố cho sinh viên vào đầu mỗi học kỳ, giúp cho sinh viên chủ động rất nhiều trong việc tham khảo tài liệu, chuẩn bị lên lớp, tự học
và thi
Các bước tiếp theo là đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp đánh giá: đi đôi với việc đổi mới chương trình, giáo trình là yêu cầu đổi mới
Trang 17cơ bản phương pháp dạy - học Với phương pháp giảng dạy mới, người học được xem là trung tâm của hoạt động đào tạo; phương pháp giáo dục đại học mới phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành.v.v…Với quan niệm ấy, trong xây dựng nội dung chương trình giảng dạy cần chú ý xu hướng giảm bớt tính hàn lâm và tăng kỹ năng thực hành (tăng số giờ thực hành, thảo luận, xêmina, tự học của sinh viên hoặc tự nghiên cứu tài liệu.v.v…) Điều này giúp sinh viên đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công việc sau khi ra trường
Tính đến năm 2013, số lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường đã đạt đến con số là 300 người, trong đó có 157 Giảng viên và 143 cán bộ, nhân viên Cùng với đó chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên cũng được nâng cao khi trong nhiều năm qua nhà trường đã tạo điều kiện cho các giảng viên
có cơ hội được học tập và nâng cao trình độ của bản thân Kết quả là hiện tại nhà trường có 12 PGS, 25 Tiến sỹ, 132 Thạc sỹ, 101 Cử nhân … Nhà trường
có sự kết hợp tốt giữa đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm với các giảng viên trẻ, năng động và tâm huyết Chất lượng đào tạo của nhà trường trong hơn 50 năm qua ngày càng phát triển và cũng đạt được nhiều thành thích đáng ghi nhận
Ngoài Đào tạo thì hoạt động Nghiên cứu cũng được nhà trường chú trọng phát triển Nhà trường đưa ra nhiều chế độ khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, đóng góp ý kiến xây dựng hoàn thiện các bộ giáo trình phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy Ngoài ra hằng năm nhà trường cũng tổ chức các hội thảo nghiên cứu khoa học cũng như cử các giảng viên sinh viên đi tham gia các hội thảo trong và ngoài nước
Trang 18Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là nơi đào tạo ra các cử nhân Văn hóa
Do vậy các cán bộ giảng viên và sinh viên cũng có nhu cầu tin tương đối đặc biệt liên quan chủ yếu để các ngành học
+ Cán bộ: 143 người (2.6%), gồm BAN GIÁM HIỆU, trưởng, phó các
khoa, phòng ban chức năng Họ thực hiện những công việc chuyên môn giúp cho Nhà trường quản lý và duy trì hoạt động của mình Tuy rằng số lượng của nhóm này không nhiều nhưng lại rất quan trọng Qua khảo sát thực tế, đặc điểm nhu cầu tin của đối tượng này là những tài liệu cung cấp thông tin phục
vụ cho công việc hành chính, quản lý nhân lực, hồ sơ, … Hình thức phục vụ cho nhóm này thường là các bản tin nhanh, các bản tóm tắt, tổng quan, tổng luận Phương pháp phục vụ chủ yếu là phục vụ từ xa cung cấp đến từng người theo những yêu cầu cụ thể
+ Giảng viên: 157 người (2.9%) Đây là đối tượng NDT có trình độ
chuyên môn cao, và cũng là nhóm có hoạt động thông tin năng động và tích cực nhất Họ là chủ thể của hoạt động thông tin, cung cấp thông tin qua hệ thống bài giảng, các bài báo - tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, kiến nghị… Đồng thời họ cũng chính là khách thể, thường xuyên tìm kiếm và cập nhật thông tin Giảng viên là người thực hiện công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học của Nhà trường Vì thế, đặc điểm nhu cầu tin của họ là những tài liệu có thông tin phục vụ và hỗ trợ trực tiếp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các cấp Trường, Bộ, Nhà nước
Họ cần những thông tin chuyên sâu, chi tiết về các môn học, chuyên ngành, lĩnh vực mà họ đang phụ trách Hình thức phục vụ nhóm này là các thông tin chuyên đề, thông tin chọn lọc, thông tin tài liệu mới Hiện nay, nhà trường chuyển sang phương thức đào tạo mới theo học chế tín chỉ thì những tài liệu
có nội dung liên quan tới phương pháp sư phạm, công nghệ dạy học cũng rất quan trọng với giảng viên
Trang 191.2.2 Đặc điểm sinh viên trường đại học văn hóa Hà Nội
Đặc điểm chung
Sinh viên là trung tâm của quá trình đào tạo, nhà trường luôn chăm lo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giúp sinh viên, học viên trong quá trình nghiên cứu và khuyến khích mỗi cá nhân phát huy hết tài năng và trí tuệ của mình, biến quá trình đào tạo của nhà trường thành quá trình tự đào tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường đa dạng và năng động như hiện nay Hiện nay, trường có 5.208 sinh viên (94.5%) hệ đào tạo chính quy học tại 9 khoa chuyên ngành Cũng như sinh viên nói chung, sinh viên ĐH VHHN được thừa hưởng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, được giáo dục về kiến thức ở nhiều mặt Ngoài những đặc thù chung của sinh viên thì sinh viên trường ĐH VHHN mang những nét khác biệt, do đặc thù ngành nghề đào tạo của trường Sinh viên là nhóm bạn đọc đông đảo nhất của trường bao gồm sinh viên các khóa, các khoa, các hệ đào tạo: chính quy, tại chức, cao đẳng… trong đó chủ yếu là sinh viên hệ chính quy nên có đặc điểm nhu cầu tin khá phong phú Mục đích sử dụng tài liệu của họ là để học tập, nâng cao hiểu biết hoặc giải trí Từ năm 2012, Nhà trường bắt đầu áp dụng phướng pháp học chế tín chỉ Vì thế, sinh viên ĐHVHHN có nhu cầu lớn về tài liệu tham khảo, sách giáo trình để tự học, tự nghiên cứu
Đặc điểm nhu cầu tin
Qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy nhu cầu tin của sinh viên các trường đại học khối văn hóa nghệ thuật nói chung và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nói riêng mang một số đặc trưng sau:
Tính chuyên sâu: Nhìn chung, nhu cầu tin của sinh viên ngày càng đòi
hỏi cao hơn, mức độ chuyên sâu hơn Sự “chuyên môn hóa” trong từng ngành
Trang 20khoa học đòi hỏi sinh viên phải đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể và chi tiết
Tính năng động: Đặc trưng này thể hiện ở chỗ nhu cầu tin của sinh viên
luôn phát triển theo không gian và thời gian Trước kia trong thời kì nền kinh
tế tập trung bao cấp, Việt Nam còn phụ thuộc kinh tế Nga thì hầu hết sinh viên chọn học ngoại ngữ là tiếng Nga Nhưng từ khi Nhà nước có chính sách
mở cửa hợp tác kinh tế với các nước phát triển, sinh viên lại có xu hướng chuyển sang sử dụng tiếng Anh, tiếng Pháp… Họ sẽ quan tâm đến nhiều tài liệu bằng tiếng Anh hơn Chính việc thay đổi nhu cầu nhận thức đã dẫn đến nhu cầu tin của sinh viên thay đổi Hơn nữa các môn học ở trường lại luôn thay đổi theo từng học kì trong suốt bốn năm học nên sinh viên phải cập nhật thông tin mới cho môn học này Chính vì thế nhu cầu tin của họ năng động và phát triển theo sự phát triển của xã hội
Tính đa dạng: Do yêu cầu xã hội hiện nay, sinh viên nói chung thường
có xu hướng học song ngành hoặc học văn bằng 2 Sinh viên không chỉ đi sâu vào một chuyên ngành mà còn học rất nhiều ngành nghề khác nhau Xu hướng này đã làm cho nhu cầu tin của họ phong phú Chẳng hạn, một sinh viên học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cũng đồng thời học thêm tại chức ngoại ngữ hay tin học thì dễ hiểu rằng nhu cầu tin của sinh viên này ngoài các môn học trên trường còn quan tâm tới các lĩnh vực ngoại ngữ và tin học Chính vì vậy, họ đã được trang bị kiến thức về tin học vững vàng nên việc trang bị thêm kiến thức về tra cứu thông tin là điều hết sức cần thiết giúp họ làm chủ được kho tàng kiến thức
Dưới đây là kết quả khảo sát nhu cầu tin của sinh viên trường ĐHVHHN
Trang 21- Về nội dung tài liệu
STT
Tài liệu thường sử dụng
Trang 22STT
Tài liệu thường sử dụng
- Về loại hình tài liệu:
STT Tài liệu thường
3 Tài liệu tra cứu 97 32.55 54 22.22
4 Khóa luận, Luận
Trang 236 Băng từ, đĩa CD, DVD, tài liệu số 50 16.78 33 13.58
7 Các loại hình tài
Bảng 1.2: Nhu cầu tin về loại hình tài liệu Với đặc thù của một trường đào tạo đa lĩnh vực về văn hóa – nghệ thuật, nhu cầu tin của các đối tượng NDT trường ĐHVHHN không chỉ đơn thuần là những tài liệu dạng giấy thông thường như sách giáo trình, tài liệu tham khảo Đặc điểm nhu cầu tin của họ đa dạng hơn, phức tạp hơn; họ có nhu cầu cao hơn trong việc sử dụng những tài liệu dạng đặc biệt như: tranh, ảnh, biểu đồ, bản đồ, đồ hoạ, bản ghi âm, video, phim,… để phục vụ việc học tập và nghiên cứu của mình Đối với các tài liệu tồn tại ở nhiều dạng thức phức tạp, một thư viện truyền thống có lẽ không thể nhanh chóng, linh hoạt trong quá trình phục vụ và thoả mãn nhu cầu của NDT Do đó, vấn đề tạo lập cách thức linh hoạt nhằm cung cấp những tài liệu đặc biệt đó, để phục vụ NDT trường ĐH VHHN là một việc làm vô cùng cần thiết
1.3 VAI TRÒ CỦA TRA CỨU TIN VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ
NỘI
1.3.1 Khai thác nguồn thông tin một cách hiệu quả
Ngày nay, các nguồn tài nguyên thông tin trong xã hội thật vô cùng phong phú và đa dạng không chỉ nội dung mà còn ở phương tiện lưu trữ và phổ biến chúng Nếu chúng ta không biết cách tìm kiếm thông tin thì nguồn tài nguyên vô tận đó chưa phát huy được hết tác dụng Đối với thư viện truyền thống, việc tra cứu dựa hoàn toàn trên các tủ mục lục, các phiếu tra cứu Điều này cũng tạo điều kiện dễ dàng cho bạn đọc ở bước đầu trong quá trình tiếp cận các công cụ tra cứu song xét về nhiều góc độ tra cứu truyền
Trang 24thống rất tốn thời gian của bạn đọc và không cho phép bạn đọc tra cứu được những yêu cầu tin phức tạp Từ khi ứng dụng tin học hóa trong lĩnh vực thư viện, việc tra cứu từ thủ công lại chuyển sang tra cứu bằng máy Bước chuyển này đòi hỏi người dùng tin phải có trình độ tra cứu nhất định Bởi muốn sử dụng thông tin một cách hiệu quả đòi hỏi người dùng tin phải biết vận dụng thuần thục các kỹ năng tra cứu Không chỉ những kỹ năng cơ bản mà họ cần được trang bị kiến thức nâng cao và kết hợp nhiều kỹ năng tra cứu vì có những thông tin nếu chỉ dùng kỹ năng tra cứu đơn giản thì khó có thể tra cứu được
1.3.2 Phát triển khả năng tự học
Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, sự bùng nổ thông tin, con người có thể phổ biến thông tin qua nhiều cách khác nhau đặc biệt là Internet Chưa kể đến các nguồn thông tin đa phương tiện, các tài liệu dưới dạng giấy vẫn hàng ngày tăng theo cấp số nhân Điều này tất yếu dẫn đến tính phức tạp và sự phong phú của các nguồn tin Vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được lượng thông tin khổng lồ đang ngày càng gia tăng một cách nhanh chóng? làm sao kiểm soát được chính xác và độ chân thực của thông tin? Hơn thế nữa, chính do thế giới thông tin đang ngày trở nên phức tạp, xu thế liên ngành trong các lĩnh vực khoa học xuất hiện, sự xuất hiện mạnh mẽ của rất nhiều kênh thông tin đã khiến cho con người gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết nhu cầu thông tin của chính họ Hơn lúc nào hết, họ cần
có một công cụ để tiếp cận và làm chủ thế giới thông tin một cách hiệu quả
Tuy nhiên, trở ngại lớn mà chúng ta gặp phải chính là chất lượng nguồn nhân lực Câu hỏi đặt ra là: liệu chúng ta đã sẵn sàng để tiếp cận công nghệ mới, tri thức mới? Thật khó mà khẳng định điều này, bởi lẽ thực trạng ngành giáo dục Việt Nam, nhất là giáo dục đại học, đang gặp nhiều vấn đề Có thể
Trang 25thấy rằng, những người mới tốt nghiệp, do ảnh hưởng từ phương pháp giảng dạy và học tập thụ động tại trường đại học, thường rất hạn chế trong khả năng tiếp cận nguồn thông tin, tri thức mới, không chủ động trong việc tự nghiên cứu để đào sâu và mở rộng kiến thức chuyên môn Điều mà chúng ta cần làm
là trang bị cho sinh viên tốt nghiệp những kỹ năng và kiến thức để làm chủ thế giới thông tin Tức là giúp họ rèn luyện kỹ năng nhận dạng nhu cầu thông tin bản thân, định vị nguồn thông tin phù hợp với những nhu cầu đó, tổ chức nguồn thông tin tìm được một cách hợp lý, thẩm định nguồn thông tin đã được lựa chọn, và sử dụng thông tin đó một cách hiệu quả và hợp pháp Chính
vì vậy, tra cứu thông tin có vai trò hết sức quan trọng đặc biệt đối với sinh viên
Trong xã hội hiện nay, thông tin trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với người học Để thỏa mãn nhu cầu thông tin cho mình, đòi hỏi người học phải có những kĩ năng tra cứu và đánh giá thông tin Việc nắm bắt được các
kỹ năng tra cứu thông tin giúp người học không những trang bị tốt cho mình nguồn tài liệu phong phú mà còn giúp mình làm chủ được nguồn tin, đánh giá được những thông tin mình tìm thấy để phục vụ cho quá trình học tập Ngoài việc học trên lớp với những tài liệu của giảng viên cho sẵn, nếu được trang bị
kỹ năng tra cứu vững vàng, người học không bị bó hẹp trong nguồn tài liệu sẵn có đó mà họ có thể tìm kiếm thêm được tài liệu ở những nơi khác, từ nhiều nguồn khác hoặc trong thư viện Hơn nữa, nếu có khả năng tìm kiếm thông tin tốt thì sau khi ra trường chúng ta vẫn có thể tự mình cập nhật được thông tin cách dễ dàng
Khả năng tự định hướng và tự thích nghi chính là yếu tố đặc biệt quan trọng để mỗi cá nhân có thể phát triển một cách bền vững và tích cực trong bối cảnh thị trường lao động đầy biến động Xu thế xã hội cho thấy việc thay đổi nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi con người ngày càng diễn ra phổ biến và
Trang 26tất yếu Điều này đòi hỏi mỗi người cần có khả năng tiếp cận và làm việc với những lĩnh vực kiến thức mới một cách hiệu quả Sẽ là nguy hiểm nếu như mọi người coi việc học tập chính quy của mình là công cụ cứu cánh duy nhất cho sự nghiệp của mình, đồng thời bỏ qua việc tiếp cận và áp dụng những tri thức mới liên quan đến công việc và cuộc sống cá nhân của mình
Khi đã có kiến thức về tra cứu vững vàng, chúng ta có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình Chúng ta sẽ nâng cao được khả năng học tập độc lập bởi chúng ta nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất, do đó những người khác có thể học tập được từ chúng ta Chúng ta luôn chủ động tìm được những thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào
1.3.3 Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học
Tra cứu thông tin có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng
và nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học Nếu thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch chắc chắn sẽ dẫn tới những quyết định phiến diện hoặc sai lệch trong nghiên cứu và phát triển ứng dụng
Tra cứu thông tin giúp nhà nghiên cứu giải quyết được vấn đề dữ liệu thiếu cập nhật và không toàn diện thông qua những chiến lược tìm kiếm thông tin hợp lý, cách thức sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin một cách linh hoạt, các phương pháp thẩm định thông tin khách quan và khoa học, cũng như khả năng tổ chức thông tin chặt chẽ Nguồn thông tin đầy đủ, đa chiều, và có chất lượng sẽ giúp nhà nghiên cứu đưa ra những luận cứ khoa học có tính khách quan và khả thi rất cao
Một thách thức nữa đối với người làm công tác nghiên cứu khoa học đó
là phương pháp nghiên cứu thiếu tính khoa học Đây là nguyên nhân sâu xa
Trang 27của mọi nguyên nhân Phương pháp được thể hiện từ việc lựa chọn đề tài, xây dựng chiến lược nghiên cứu, thu thập thông tin, xử lý thông tin, tổng hợp thông tin, và đưa ra những đề xuất, cải tiến dựa trên chính những thông tin đó Bất kỳ một sai lầm nào trong số những bước chính như trên đều dẫn tới những kết quả nghiên cứu không như ý muốn Tuy nhiên điều này có thể cải thiện khi đã có kiến thức tra cứu thông tin từng bước chắc chắn rõ ràng
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TRA CỨU TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
2.1 NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NGUỒN TIN
Nguồn tin là những nguồn tài liệu giúp cho NDT có thể tra cứu, sử dụng các tài liệu hữu ích nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Nguồn tin đóng một vai trò rất quan trọng Nó cung cấp cho NDT những nguồn kiến thức vô tận, những thông tin hữu ích nhằm làm cho cuộc sống của mỗi người thêm phong phú hơn, mỗi tổ chức thêm vững mạnh, mỗi quốc gia thêm thịnh đạt và phát triển hơn Đồng thời nó cũng giúp con người giảm và tránh được hậu quả khó lường nếu chúng ta biết cách khai thác tốt nguồn thông tin Để khai thác tốt được nguồn tin đó phục vụ cho đời sống đòi hỏi mỗi người phải có hiểu biết nhất định về nguồn tin, phải biết được mình cần loại thông tin gì và khai thác ở đâu để có hiệu quả Muốn vậy, mỗi người phải
tự trang bị cho mình những kiến thức cần có hầu chúng có thể giúp ích cho mỗi cá nhân, mỗi cơ quan, mỗi quốc gia trong từng giây phút
Để tìm hiểu khả năng sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiểu biết về các nguồn tin, tác giả tìm hiểu từ hai góc độ là nguồn tin trong thư viện và nguồn tin ngoài thư viện
2.1.1 Nguồn tin trong thư viện
Mặc dù đã được thư viện tạo điều kiện thuận lợi nhưng theo kết quả điều tra chỉ có 35,3% số lượng người sử dụng báo, tạp chí của thư viện, còn lại số người không sử dụng chiếm 64,7% Con số này nói lên một điều rằng Internet đang chiếm dần ưu thế Các bạn trẻ thường tham khảo thông tin qua web vì nó cung cấp thông tin nhanh và kịp thời Hầu hết, các bạn lên thư viện
Trang 29để mượn giáo trình và tham khảo phục vụ mục đích học tập Nguồn tài liệu học tập, giảng dạy, luận văn điện tử cũng đang dần dần thu hút bạn đọc 57,1% số lượng người tham khảo nguồn tin này để phục vụ cho việc học tập Ngoài ra, những tài liệu luận văn bằng giấy cũng được khai thác khá nhiều Những tài liệu truyền thống như từ điển, bách khoa thư, sổ tay cũng được bạn đọc quan tâm sử dụng 44,2% số lượng người sử dụng bách khoa thư, sổ tay
để phục vụ cho chuyên ngành của mình
Để tiến hành tìm hiểu khả năng hiểu biết của bạn đọc về các nguồn tin, tác giả luận văn đặt câu hỏi “Để tìm thông tin tiểu sử Nguyễn Du anh chị tham khảo nguồn nào trước tiên?” Kết quả điều tra cho thấy 14,3% số người lựa chọn tạp chí chuyên ngành; 45,9% số người lựa chọn bách khoa thư; 6%
số người lựa chọn CSDL báo chuyên ngành; 13,5% số người lựa chọn sách tham khảo; 10,5% số người lựa chọn nguồn khác; số người không biết lựa chọn đáp án nào chiếm 9,8%
( Xem phụ lục 1 trang III )
Như vậy phần đông bạn đọc sử dụng bách khoa thư để tra cứu nên đối với câu hỏi này, các bạn cũng trả lời đúng chiếm 45,9% Tuy nhiên, số bạn trả lời không đúng và số người không biết cũng chiếm tỷ lệ khá lớn Vì vậy, thư viện cần hướng dẫn để bạn đọc hiểu rõ hơn về đặc trưng nội dung của các loại nguồn tin trong thư viện của mình và sử dụng cách hiệu quả hơn
Thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội có số lượng đầu sách tra cứu rất lớn khoảng 3.850 đầu sách tương đương 7.000 bản Về phía sinh viên có 54,9% số lượng sinh viên tham khảo nguồn tin này Còn 45,1% sinh viên chưa sử dụng nguồn này
Trang 302.1.2 Nguồn tin ngoài thư viện
Về kỹ năng kỹ năng tra cứu thông tin ngoài thư viện và đặc biệt trên Internet thì sinh viên trường Trường Đại học Văn hóa Hà Nội có khả năng định vị nguồn tra cứu khá tốt Điển hình như khi được hỏi “Kiểm tra kết quả bóng đá mới nhất ở đâu?” thì có 50% số sinh viên tìm trên web, 23,6% số sinh viên tìm ở tạp chí chuyên ngành, 26,4% sinh viên lựa chọn tìm ở báo Đối với kĩ năng này, đa số sinh viên lựa chọn nhanh và đúng nguồn tìm Chỉ còn một số thì chọn tạp chí chuyên ngành và báo Theo kết quả khảo sát thì số sinh viên chọn nguồn để xem kết quả bóng đá trong các tạp chí chuyên ngành hầu hết sinh viên năm thứ nhất Có lẽ sinh viên năm đầu các bạn chưa có điều kiện tiếp xúc với Internet nhiều nên lựa chọn báo và tạp chí chuyên ngành là giải pháp tối ưu của họ Với những sinh viên này, cần khuyến khích họ tiếp xúc nhiều với Internet vì có những thông tin không thể chỉ tra cứu ở thư viện
mà còn khai thác thông tin từ bên ngoài qua các mạng thông tin trong nước và quốc tế để có được những thông tin mới đáp ứng yêu cầu của mình
Có 2 nguồn tin rất cần thiết trong quá trình học tập và nghiên cứu cho bạn đọc đó là nguồn tài liệu chính phủ và nguồn tin thống kê
Nguồn tin thống kê
Thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân
Khoản 1 Điều 3 Luật thống kê quy định: "Hoạt động thống kê là điều
tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất
Trang 31và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành"
Khoản 2 Điều 3 Luật thống kê quy định: "Thông tin thống kê là sản
phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm số liệu thống kê và bản phân tích các
số liệu đó"
Vì vậy, nguồn thống kê này có vai trò rất quan trọng Số liệu thống kê đáng tin cậy, được thu thập theo các chuẩn mực qui định và thực tiễn tốt là vô cùng thiết yếu đối với quản lý kết quả phát triển Không thể đánh giá tiến bộ hay xây dựng chính sách và chương trình giảm nghèo hiệu quả nếu không có
số liệu thống kê Số liệu thống kê đánh giá tình trạng phát triển của một quốc gia và giúp định ra ưu tiên cho các hoạt động trong tương lai Nó cũng đánh giá hiệu quả của chính sách và hoạt động hỗ trợ phát triển của các nhà tài trợ Tuy số liệu thống kê tốt không thể thay thế cho việc ra quyết định chính trị nhưng nó là đầu vào trọng yếu của quá trình đó Số liệu thống kê chính thức thường là những hàng hoá công, đặc biệt những dữ liệu cần thiết cho việc quản lý và đánh giá nền kinh tế của một quốc gia, quản lý việc cung cấp dịch
vụ của chính phủ và giảm tác động của các sự kiện bên ngoài Chúng được hệ thống thống kê quốc gia thu thập, biên soạn và phổ biển với nguồn kinh phí
do chính phủ cấp Tất cả các nước, cho dù chính phủ nước đó là như thế nào, đều cần năng lực để thực hiện khảo sát và tổng điều tra thống kê, chỉnh lý số liệu từ các nguồn khác nhau, xây dựng chỉ số cũng như số liệu thống kê khác phục vụ cho việc ra quyết định Ở các nước đang phát tiển, nhu cầu số liệu là đặc biệt trầm trọng, tuy nhiên nhiều nước lại thấy khó khăn trong việc xây dựng và duy trì một hệ thống thống kê quốc gia hiệu quả Nó giúp cho các nhà nghiên cứu tìm và sử dụng tài liệu chính xác, giảm thời gian cho việc tìm kiếm Giúp họ phân tích được quá khứ trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và có thể đưa ra định hướng cho tương lai
Trang 32Đối với sinh viên, việc nắm bắt được những số liệu thống kê giúp cho sinh viên có cái nhìn tổng quan hơn về những gì mà mình quan tâm Để có cái nhìn toàn diện hơn về nguồn thông tin này, các bạn có thể tham khảo trong trang web của tổng cục thống kê theo địa chỉ: http://www.gso.gov.vn
Khi khảo sát sự hiểu biết của sinh viên về nguồn tin này thì thấy như sau:
“Để tìm thông tin thống kê về dân số, văn hóa, giáo dục, kinh tế tôi tìm ở đâu?” Kết quả được thể hiện ở bảng sau: ( Số lượng phiếu phát ra là
150 Số phiếu thu về là 140 phiếu )
Trang web của tổng cục
thống kê
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát sự hiểu biết của sinh viên về nguồn tin
thống kê Trong nguồn tin thống kê này, các sinh viên cũng đã có hiểu biết nhất định về nguồn tin Vì vậy, đã có 57,9% số sinh viên trả lời đúng Những người lựa chọn đáp án là sách, tạp chí và niên giám thống kê thì chưa thực sự
đủ thông tin Kết nối tới trang web của Tổng cục thống kê sẽ cho ta đầy đủ thông tin mình cần một cách nhanh chóng Việc tham khảo các số liệu thống
kê qua sách báo, tạp chí mất thời gian mà không tìm được đầy đủ thông tin mình cần Niên giám thống kê cũng cho chúng ta những số thống kê nhưng cũng chưa đầy đủ Bạn có thể tìm thấy số liệu thống kê trong niên giám thống
Trang 33kê của website tổng cục thống kê Nhưng tổng cục thống kê không chỉ dừng lại ở niên giám thống kê mà còn bao hàm tất cả các lĩnh vực, tất cả các con số thống kê của từng tháng, từng quý, từng năm nữa
Nguồn tài liệu chính phủ
Hiện nay, chính phủ đã thực hiện chiến lược đưa các thông tin của mình lên Internet Vì vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho NDT có thể tiếp cận
và truy cập tới nguồn tin chính phủ Chính phủ đã công bố thông tin trên các website của chính phủ, văn phòng Quốc hội, Bộ tài chính, Bộ Lao động xã hội, Bộ giáo dục… Điều này được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ban hành quyết định số 83/2008/QĐ-TTg ngày 25/6/2008, quy định chức năng, nhiệm vụ của cổng thông tin điện tử Chính phủ gồm 19 điểm, trong đó
có nhiệm vụ: tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức của Chính phủ trên Internet, làm đầu mối kết nối mạng thông tin hành chính điện tử của Chính phủ trên Internet và tích hợp thông tin các dịch vụ công của Chính phủ trên Internet Theo đó, cổng thông tin điện tử chính phủ có nhiệm vụ quan trọng là phối hợp với các tổ chức có liên quan để đưa công báo điện tử lên trên Internet Thông qua các nguồn lực này mà bạn đọc có thể tìm kiếm được các văn bản chỉ đạo của chính phủ như hiến pháp, luật, thông tư chỉ thị…; các văn bản hướng dẫn thực hiện các luật trên; văn bản quy định;…
Để khảo sát khả năng hiểu biết của sinh viên về nguồn tài liệu này, tác giả đã
đặt câu hỏi: “Để tìm các văn bản luật toàn văn dạng điện tử, tôi tìm ở đâu?” Về câu hỏi này có thể thấy qua biểu đồ sau: ( Xem phụ lục 2 )
Nếu bạn tìm văn bản luật toàn văn dạng điện tử ở trang web trung ương Đảng thì sẽ không tìm thấy tài liệu Số khác lại tìm ở CSDL của thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Họ cho rằng thư viện thì tài liệu gì cũng có Không ít người lầm tưởng như vậy Con số 28,2% đã chứng minh điều đó
Trang 34Hơn nữa, nếu tìm ở đó thì bạn sẽ không tìm đầy đủ thậm chí không tìm được tài liệu bạn cần Muốn tìm nguồn tài liệu chính phủ này, bạn có thể tìm tới trang web của Chính phủ là nơi cung cấp đầy đủ thông tin cho bạn
Hai nguồn thông tin thống kê và nguồn tài liệu Chính phủ cũng như cơ quan cung cấp ra những nguồn thông tin này có vai trò rất quan trọng đối với
cá nhân mỗi người và cho tổ chức Bởi nếu nắm bắt được những thông tin này, chúng ta sẽ sống đúng và sống theo pháp luật, nắm được những con số thống kê giúp ta có cái nhìn toàn diện hơn về đất nước mình Nắm bắt được thông tin và khai thác được chúng đòi hỏi mỗi người phải có khả năng nhất định
2.2 HIỂU BIẾT VỀ CÔNG CỤ TRA CỨU
OPAC ( tiếng anh là Online Public Access Catalog ) là một mục lục điện tử Nó tương đương như mục lục thẻ nhưng nó có thể tìm dựa trên nền web gọi là webPac WebPac được dùng bởi các thư viện để chia sẻ thông tin thư mục
OPAC của thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được đặt trên nền phần mềm ILIB Đây là phần mềm phát triển dựa trên các tiêu chuẩn tiên tiến trong lĩnh vực thư viện, độ tích hợp cao, linh hoạt và có tính mở Việc áp dụng phần mềm quản lý thư viện ILIB vào thư viện Trường Đại học Văn hóa
Trang 35Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xử lý thông tin, đặc biệt là việc chuẩn hóa và trao đổi dữ liệu với các thư viện khác; ILIB cho phép cán
bộ thư viện quản lý tài liệu, quản lý bạn đọc một cách nhanh chóng thuận tiện
và hiện đại theo phương thức và quy mô của các thư viện tiên tiến
Muốn truy cập vào OPAC của thư viện, bạn chỉ cần truy cập theo địa chỉ: http://opac.huc.edu.vn Bạn nhấn vào biểu tượng của mục tra cứu trên trang chủ của phần mềm ILIB Giao diện của chức năng này sẽ hiện ra với 2 phần: Phần thanh công cụ và phần giao thức tìm kiếm Ở thanh Menu là các chức năng như: trang chủ, tìm theo từ khóa, từ khóa đề mục, lưu trữ CSDL khác, chuyên nghiệp, giỏ hàng và phần trợ giúp Ở phần giao thức tìm kiếm
có sẵn những cách tìm tin như: Tìm nhanh, tìm lướt
Có các cách tra cứu chính sau:
Tìm kiếm cơ bản: Bao gồm tìm nhanh và tìm lướt Với những yêu cầu tin cơ bản, bạn đọc thường lựa chọn cách tìm tin cơ bản Bởi yêu cầu tin của họ được thể hiện rõ qua các cách tìm như: tìm theo tiêu đề, theo năm xuất bản, tác giả, chủ đề, kí hiệu xếp giá, tiêu đề tạp chí hay tìm tin theo số xếp giá nội bộ Yêu cầu tin được nhập vào không bị giới hạn bởi độ dài kí tự, sau đó chỉ cần lựa chọn cách tìm kiếm và nhấp nút “tìm kiếm” ở phía cuối Nếu yêu cầu tin thỏa mãn, máy sẽ lần lượt hiện ra các tài liệu cần tìm
- Tìm nhanh: Là cách tìm kiếm đơn giản nhất giúp độc giả có thể tìm kiếm được những tài liệu mình cần qua các bước như sau:
+ Nhập từ ngữ cần tìm kiếm vào khung “ điều kiện tìm kiếm”
+ Lựa chọn loại tài liệu cần tìm kiếm: Tất cả loại tài liệu, sách, báo, tạp chí
+ Nhấn nút tìm kiếm
Trang 36Nếu tìm tài liệu theo hình thức tìm nhanh này thì kết quả tìm kiếm rộng
và đa dạng Nó thích hợp với tìm tài liệu chuyên ngành sâu, hiếm và tác phẩm văn học
- Tìm lướt: Là cách tìm kiếm đơn giản giúp độc giả có thể truy xuất nhanh tới một tài liệu mình cần Cách tìm này được sử dụng khi bạn đọc nắm
rõ yêu cầu tin của mình ở dạng nào thì sẽ tiến hành tìm kiếm theo lựa chọn khác nhau Việc tìm kiếm dựa trên các bước như sau:
+ Nhập từ ngữ cần tìm kiếm vào khung “ điều kiện tìm kiếm”
+ Lựa chọn khu vực tìm kiếm như: Tiêu đề, tác giả, chủ đề, ký hiệu xếp giá, nhà xuất bản, tiêu đề tạp chí, số xếp giá nội bộ
+ Nhấp nút tìm kiếm
Với việc tìm lướt này sẽ cho kết quả là một danh sách các tài liệu bắt đầu bằng từ khóa đã cho Nhưng việc tìm kiếm này thích hợp để thu gọn kết quả tìm kiếm khi ta biết chính xác một yếu tố cần tìm của tài liệu như tên tài liệu, tác giả…
Tìm theo từ khóa: Đây là cách tìm tin được sử dụng phổ biến ở thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Cách này giúp bạn đọc dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm tài liệu Bạn chỉ cần nhớ từ chính của vấn đề cần tìm kiếm, không phải nhớ chính xác tên tác giả, nhan đề… Cách tìm này cung cấp cho độc giả cách tìm kiếm tài liệu qua việc kết hợp nhiều từ khóa với nhau bằng các toán tử tìm kiếm Các toán tử tìm kiếm được sử dụng bao gồm:
+ AND dùng để kết hợp các từ khóa ( thu hẹp phạm vi tìm kiếm ) + OR tìm tin với các từ khóa được chỉ định ( mở rộng phạm vi tìm kiếm )
Trang 37+ NOT: Loại trừ các từ khóa không cần thiết ( giới hạn phạm vi tìm kiếm )
+ NEAR: Dùng để kết hợp các từ khóa đứng gần nhau
Các bước thực hiện tìm tin theo từ khóa:
+ Chọn một hoặc nhiều trường cần tra cứu trong khung “ kiểu tìm ” + Nhập thuật ngữ tìm kiếm vào khung “ các từ ”
+ Sử dụng các toán tử AND, OR, NOT, NEAR để mở rộng hoặc giới hạn phạm vi tìm kiếm
+ Thiết lập bộ lọc Filter để chi tiết hóa các yêu cầu tìm bằng tính năng:
bao gồm hoặc loại trừ
+ Nhấn nút tìm kiếm
Một số cách tìm khác:
- Tìm kiếm nâng cao: Khi lựa chọn cách tìm này, bạn có thể sử dụng các toán tử AND, OR, NOT để thu hẹp, mở rộng, loại trừ các kết quả tìm Sự kết hợp có thể là kết hợp tên tác giả và năm xuất bản, nhan đề tài liệu
và nhà xuất bản… máy sẽ hiển thị các ấn phẩm phù hợp với yêu cầu tin của bạn đọc Đây là cách tìm tin cho độ chính xác cao, giải quyết được những yêu cầu tin phức tạp Nhưng cách này vần chưa được đưa vào áp dụng triệt để
- Tìm kiếm ở các thư viện khác: Đây chính là khả năng khả năng kết nối CSDL với các thư viện khác trong cả nước cũng như thế giới Thực hiện việc chia sẻ nguồn tài liệu giữa các thư viện với nhau, để làm được việc này không chỉ riêng thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mà cần có sự phối hợp giữa nhiều thư viện với nhau để hình thành nên mạng lưới thư viện Giúp cho các thư viện mở rộng khả năng liên kết, phát huy tối đa khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời, nhanh nguồn tin cho bạn đọc
Trang 38- Thu hẹp phạm vi tìm kiếm: Có những tài liệu được tái bản, sửa chữa nhiều lần Có những tài liệu cùng nghiên cứu một vấn đề nhưng do nhiều nhà xuất bản khác nhau xuất bản và có cả những tài liệu cùng có ở những phòng khác nhau Mà nhu cầu tin của mỗi người lại khác nhau Có người muốn tìm tài liệu ở gần phòng mình nhất để đỡ tốn thời gian, có người muốn tìm tài liệu đã được tái bản… Vì vậy, việc thu hẹp phạm vi tìm kiếm có vai trò rất quan trọng Chức năng này hỗ trợ rất nhiều trong việc giảm bớt thời gian tìm kiếm và cho ta kết quả nhanh, chính xác Đây chính là việc đặt chế
độ lọc trong quá trình tìm tin Nó hỗ trợ chúng ta giới hạn phạm vi tìm kiếm Đặc biệt là khi tìm nhanh, tìm theo từ khóa ta đặt chế độ lọc để thu hẹp phạm
vi tìm kiếm Có thể đặt chế độ lọc theo phạm vi tìm kiếm: theo biểu mẫu, theo ngôn ngữ, theo địa chỉ nhà xuất bản hay ngôn ngữ tài liệu…
Đặc biệt có thể sử dụng giỏ hàng để lưu giữ kết quả tìm kiếm: Khi tiến hành tìm kiếm, có lúc bạn đọc không tìm được taì liệu hoặc cũng có thể tìm được 2 hay 3 tài liệu Việc đọc một lúc không thể hết được những tài liệu đó
Do vậy, giỏ hàng là sự hỗ trợ hữu ích cho bạn đọc Họ có thể lưu giữ vào trong giỏ hàng để lần truy nhập sau không mất thời gian tìm kiếm Với những tài liệu đã tham khảo xong thì có thể dễ dàng xóa đi trong giỏ hàng
Mặc dầu khi vào trường, sinh viên trường Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã được học cách tra cứu OPAC nhưng trong quá trình tìm kiếm tài liệu, rất nhiều sinh viên lại không sử dụng mục lục tra cứu trực tuyến này để tìm tài liệu Theo số liệu khảo sát được, con số này chiếm 54,9 % Chỉ có 45,1 % sinh viên tra cứu theo OPAC để tìm kiếm tài liệu
Vì vậy mà nhiều bạn đọc không có cái nhìn tổng quát hay nói đúng hơn
là không biết đến mục lục thư viện Đơn cử như trong ví dụ sau:
Trang 39Khi hỏi “Mục lục thư viện bao gồm các loại tài liệu nào?” thì kết quả
thu lại được biểu diễn qua đồ thị sau: ( Xem Phụ lục 3 )
Từ việc quan sát biểu đồ trên ta thấy, phần lớn sinh viên đã nhận biết được mục lục tra cứu của thư viện gồm những tài liệu nào nhưng cũng còn một số lượng lớn sinh viên chưa biết đến mục lục thư viện cũng như không hiểu về mục lục tra cứu thư viện Bằng chứng là có 37,6% số sinh viên chưa biết đến mục lục và hiểu sai về mục lục Thư viện cần hướng dẫn và khuyến khích bạn đọc sử dụng mục lục thư viện mình để việc tìm kiếm được nhanh hơn và hiệu quả hơn
2.2.2 CSDL
CSDL là một tập hợp có cấu trúc các dữ liệu về đối tượng được quản
lý, lưu trữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và được quản
lý theo phương thức thống nhất nhằm giúp cho việc tìm tin được dễ dàng và nhanh chóng
Các thư viện đại học thường có một số loại CSDL sau:
OPAC: CSDL thư mục tổng hợp (Sách, từ điển, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ v.v.)
Báo: Danh mục báo của Thư viện trường
Tạp chí: CSDL thư mục tạp chí Tiếng Việt và tiếng nước ngoài
Luận án, Luận văn: CSDL thư mục Luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tài liệu hội nghị, hội thảo: Các tài liệu báo cáo hội nghị khoa học, hội thảo của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Tài liệu đa phương tiện: bao gồm các loại băng đĩa từ, băng Cassette
Trang 40 Tài liệu điện tử: Các tạp chí kỹ thuật fulltext hiện có tại Thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
CSDL trực tuyến: Tra cứu online các CSDL thư mục và fulltext các tài liệu khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, v.v
Nguồn CSDL trên trang web của thư viện Trường Đại học Văn hóa Hà Nội không có nhưng trên mạng hiện nay nguồn này rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội lại rất ít khai thác CSDL trực tuyến Chỉ có 39,8% số sinh viên khai thác CSDL còn lại 60,2%
số sinh viên chưa khai thác CSDL Điều này cũng có thể giải thích được Một mặt do bạn đọc chưa nhận biết được nguồn CSDL vô cùng phong phú của các thư viện Mặt khác, bạn đọc không biết cách để khai khác CSDL nên còn ngại khai thác Chính vì vậy, khi hỏi “ CSDL báo, tạp chí của thư viện bao gồm những loại tài liệu nào?” thì có 36,4% số sinh viên trả lời là báo, tạp chí; 28,6% số sinh viên trả lời sách của thư viện; 19,3% số sinh viên trả lời là bài tạp chí toàn văn; 15,7% số sinh viên trả lời là bản đồ Điều này do bạn đọc không khai thác CSDL nên sẽ không trả lời được chính xác câu hỏi này
Hay một ví dụ điển hình nữa như khi được hỏi “ CSDL trực tuyến của thư viện bao gồm những loại tài liệu nào?” Ta có thể thấy qua biểu đồ sau:
T
ỷ lệ %