Mục đích nghiên cứu
Khoá luận nhằm mục đích tìm hiểu các mặt giá trị về lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật của di tích Chùa Dầu
Dựa trên khảo sát thực địa và ý kiến từ các nhà khoa học, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Dầu.
Khoá luận tốt nghiệp không chỉ cung cấp thông tin và tư liệu hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu, mà còn giúp nâng cao kiến thức chuyên ngành về di tích lịch sử - văn hoá, đặc biệt là di tích Chùa Dầu.
Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận tốt nghiệp sử dụng hệ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của LêNin là nền tảng lý thuyết trong khóa luận này Để thực hiện nghiên cứu, bài viết áp dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như bảo tàng học, bảo tồn di tích, mỹ thuật học, sử học và văn hóa học Đặc biệt, phương pháp khảo sát thực địa được sử dụng chủ yếu nhằm quan sát, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, phỏng vấn và thu thập tài liệu hiện vật từ các di tích.
Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khoá luận có kết cấu gồm 3 chương:
Ch ươ ng 1 Chùa Dầu trong diễn trình lịch sử
Ch ươ ng 2 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật và lễ hội Chùa Dầu
Ch ươ ng 3 Một số kiến nghị về vấn đề bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.
CHÙA DẦU TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ
Khái quát về lịch sử vùng đất nơi tồn tại di tích
1.1.1 V ị trí đị a lý và đ i ề u ki ệ n t ự nhiên
Xã Khánh Hoà ở phía Tây - Bắc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Xã Khánh Hòa nằm ở phía Bắc giáp xã Khánh Phú, phía Tây giáp xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình, phía Đông giáp xã Khánh An và phía Nam giáp sông Vạc Với diện tích tự nhiên 568,71 ha, trong đó 427,89 ha là đất canh tác, Khánh Hòa chủ yếu là xã thuần nông với các cây trồng như lúa, lạc, đậu tương và ngô Chăn nuôi tại đây tập trung vào gia súc và gia cầm, bên cạnh một số hộ gia đình nuôi các loài có giá trị kinh tế cao Ngoài nông nghiệp, người dân Khánh Hòa còn duy trì nghề truyền thống mây tre đan Địa hình xã không đồng nhất, với chiều dài hơn 5000m theo hướng Bắc - Nam và chiều rộng chưa đầy 1000m theo hướng Đông - Tây, phản ánh sự hình thành từ các cồn cát trước đây Quốc lộ 10 chạy qua xã, kết nối Khánh Hòa với các khu vực lân cận.
Vùng đất này, với di tích lịch sử phong phú, đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau qua các thời kỳ Trong thời kỳ nhà Trần (1225 - 1400), khu vực này được biết đến với tên gọi huyện Yên Ninh.
Huyện Yên Khang, được thành lập vào năm 1593, sau này đã trải qua nhiều lần đổi tên và thuộc quyền quản lý khác nhau, từ phủ Trường Yên đến phủ Yên Khánh vào năm 1821, rồi thuộc đạo Ninh Bình và cuối cùng trở thành tỉnh Ninh Bình vào năm 1831 Trước đây, phần lớn diện tích Yên Khánh là biển, nhưng qua quá trình lịch sử và nhờ phù sa bồi đắp, đến thời Lê, niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), đất đai đã mở rộng đáng kể.
Lê Thánh Tông đã cho xây dựng đê từ cửa biển Đại Nha đến Tiểu Nha nhằm ngăn mặn và tạo đất cho nông nghiệp Đến thế kỷ X, vịnh biển còn kéo dài tới bến Vạc và Đại Nha Sau khi đắp đê Hồng Đức vào năm 1471, nhiều làng xã mới hình thành dọc theo kênh rạch, với người dân tự đào ao và lấy đất xây dựng nhà cửa Ban đầu, các làng chỉ xuất hiện ven đê Hồng Đức, nhưng sau đó, chúng tiếp tục phát triển về phía đông, gần biển, dẫn đến sự gia tăng dân số và sự thịnh vượng của các làng xã như ngày nay.
Xã Khánh Hoà nguyên thời xa xưa là 2 xã Phương Du và Hương Du thuộc huyện Yên Ninh, phủ Trường Yên Xã Phương Du có 4 xóm, xã Hương
Du có 2 xóm, một xóm độc lập là xóm Thuần Đầu ở cuối xã
Theo triết lý của các cụ lão xã Khánh Hoà, chữ "Phương" mang nghĩa là xanh tươi, trong khi chữ "Du" chỉ cây bưởi xanh tốt Từ đó, tên gọi "Hương Du" được hình thành, với "Hương" có nghĩa là thơm và "Du" là Dầu Điều này cho thấy sự khéo léo của tổ tiên trong việc đặt tên cho quê hương, nơi cây bưởi sai quả và tinh chất dầu thơm tạo nên danh lam thắng tích, gợi lên vẻ đẹp dịu dàng và quý mến của Phủ Dầu.
Thôn Thuần Đầu, địa đầu của xã bên dòng sông Vạc, nổi tiếng với bến Dắt, được cho là thuỷ trại của Hoàng tử Ngự Câu Vương Trước đây, nước từ thượng nguồn sông Hoàng Long chảy qua sông Hang Luồn, đổ về hạ trạo và đến bến Dắt Khu vực này, từ thời Lê trở về trước, thường được gọi là “điền vô nhân canh, lộ vô nhân hình”, tức là ruộng không người cày cấy, đường không có người qua lại Thời Trần và Lê, vùng đất này đã thu hút dân cư, đặc biệt là vào cuối thời Lê khi ông Trịnh Văn Lượng đến lập chiêu dân, dẫn đến sự định cư đông đúc của các gia đình từ xã Hương Du, và từ đó, xóm được đặt tên là Thuần Đầu, với ý nghĩa con nghé con và địa đầu tiếp giáp ba huyện: Yên Khánh, Yên Mô và Gia Khánh.
Thiên nhiên nước lũ từ thượng nguồn dòng Hoàng Long gây ra lũ lụt nghiêm trọng, dẫn đến mất mát tài sản và an ninh Tình hình tại đây rất đặc biệt, khi một tiếng gà gáy hay chó sủa đều được cả ba huyện lân cận nghe thấy, cho thấy sự kết nối chặt chẽ giữa các vùng Người dân nơi đây tự ví mình là “trai ở trại, gái hàng cơm”, thể hiện sự linh hoạt và kiên cường trong cuộc sống Tên gọi Thuần Đầu, nghĩa là đầu của một nghé, biểu trưng cho sức mạnh và sự tự tin, như câu nói “con nghé mới sinh không kinh gì hổ” Điều này cho thấy họ cần có đủ chí lực và sức mạnh để tồn tại và phát triển trong môi trường đầy thách thức Cuối cùng, xóm Thuần Đầu đã sáp nhập vào xã Yên Khang, hiện thuộc Khánh Hoà.
Năm Kiến Phúc (1884) đời vua Nguyễn Giản Tông, xã Hương Du đổi thành xã Yên Khang
Trước năm 1945, xã Phương Du và Yên Khang thuộc tổng Yên Vệ, huyện Yên Khánh Xã Phương Du bao gồm 4 thôn: Đông, Xuân, Thượng và Rậm, trong đó thôn Rậm nằm riêng biệt Thôn Đông có 2 xóm nhỏ, gọi là xóm lẻ và xóm chợ Dầu Xã Yên Khang có 3 thôn: Nội, Ngoại và Thuần Đầu, với thôn Thuần Đầu cũng nằm riêng biệt Việc đào sông Vạc đã tách thôn Thuần Đầu thành hai khu, trong đó khu xóm Trại Bầu bên kia sông Vạc được gọi là Bầu Khoai, và sau này huyện đã điều chỉnh địa giới, nhập xóm Trại Bầu vào xã Khánh Thượng.
Năm 1946, huyện Yên Khánh hợp nhất 50 xã - làng, trang trại thành lập
20 xã Xã Phương Du, Yên Khang thành xã Khang Du
Tháng 7 năm 1949, huyện Yên Khánh hợp nhất 20 xã thành lập 7 xã Các xã Yên Vệ, Khang Du, Tân An hợp thành xã Khánh Hoà Như vậy địa danh Khánh Hoà có từ tháng 7 năm 1949
Trong kháng chiến chống Pháp 3 xã: Khánh An, Khánh Phú, Khánh Hoà hợp thành liên xã: Hoà - An - Phú
Sau ngày hoà bình lập lại (tháng 7 năm 1954) 3 xã lại tách ra như cũ là: Khánh Hoà, Khánh An, Khánh Phú thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Năm 1956, huyện Yên Khánh đã điều chỉnh địa giới các xã, tạo thành xã Khánh Hòa với hai thôn Phương Du và Yên Khang, xã Khánh Phú từ Yên Vệ và Hòa Phú, và xã Khánh An từ các thôn Yên Xuyên, Yên Bắc, Yên Phú, Yên Cống, Văn Giáp.
Tháng 12 năm 1975, hai tỉnh Ninh Bình và Nam Hà hợp nhất với Nam Định thành tỉnh Hà Nam Ninh, xã Khánh Hoà thuộc huyện Yên Khánh
Năm 1978, theo yêu cầu xây dựng các huyện theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), huyện Yên Khánh bị xoá bỏ 10 xã phía Nam được sáp nhập vào huyện Kim Sơn, trong khi 9 xã phía Bắc và Tây Bắc được gộp lại với huyện Yên Mô để hình thành huyện Tam Điệp Xã Khánh Hoà thuộc huyện Tam Điệp, tỉnh Hà Nam Ninh.
Tháng 12 năm 1991, Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 9 chia Hà Nam Ninh thành hai tỉnh Ninh Bình và Hà Nam như cũ Xã Khánh Hoà vẫn thuộc huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Năm 1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập, di tích thuộc xã Khánh Hoà, huyện Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
Theo quyết định số 59/CP của Hội đồng chính phủ ban hành ngày 04/7/1994, huyện Yên Khánh đã được tái lập với 18 xã như trước Di tích hiện nay thuộc xã Khánh Hoà, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Khí hậu xã Khánh Hoà tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm nhiệt đới gió mùa ẩm Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nóng và mưa nhiều, trong khi mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau khô ráo và lạnh Xã Khánh Hoà nhận lượng bức xạ mặt trời dồi dào quanh năm, tạo nên sự khác biệt rõ nét giữa hai mùa nóng và lạnh Hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10 giúp xã có đủ bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
1.1.2 Truy ề n th ố ng v ă n hóa – l ị ch s ử
Người dân Khánh Hòa nổi bật với truyền thống cần cù, sáng tạo và tinh thần kiên cường trong đấu tranh bảo vệ quê hương Truyền thống này đã được các thế hệ con cháu phát huy, đóng góp vào những chiến công hiển hách trong lịch sử dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ hai năm 1258, vua Trần đã chỉ đạo Hoàng tử Ngự Câu Vương thiết lập căn cứ tại miền duyên hải phía đông nam Ninh Bình để bảo vệ Hành cung Vũ Lâm Tại khu Mả Lăng, Hoàng tử đã chọn địa điểm thuận lợi để xây dựng hệ thống phòng ngự, tuyển quân, tích trữ lương thực và luyện tập quân sỹ, nhằm bảo vệ vững chắc khu vực này trong cuộc kháng chiến.
Diễn trình lịch sử chùa Dầu
1.2.1 Niên đạ i kh ở i d ự ng c ủ a di tích
Mỗi di tích, bất kể thời điểm ra đời, đều phản ánh tư duy nghệ thuật và tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của một thời kỳ lịch sử cụ thể, đặc biệt là vai trò của sinh hoạt cộng đồng làng xã trong đời sống con người liên quan đến các hình thái tôn giáo Do đó, việc nghiên cứu niên đại khởi dựng của từng di tích là rất cần thiết và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
Việc xác định niên đại khởi dựng của chùa Dầu gặp nhiều khó khăn do thiếu tài liệu ghi chép cụ thể về năm xây dựng cũng như niên đại các cấu kiện kiến trúc Các bằng chứng hiện có chưa đủ để đưa ra kết luận cuối cùng Do đó, việc xác định niên đại di tích cần dựa vào các cứ liệu lịch sử, thông tin từ cộng đồng cư dân địa phương và các dấu vết kiến trúc còn lại của di tích.
Chùa Dầu, hay còn gọi là Linh Nha Tự, là một công trình kiến trúc tôn giáo lâu đời với nhiều di vật quý giá như bệ đá hoa sen thời Trần và các pho tượng Tam thế Chùa còn lưu giữ 11 đạo sắc và 5 bia đá, trong đó có tấm bia được tạo dựng vào năm Diên Thành thứ 5 (1582) Hệ thống tượng Phật và nghệ thuật điêu khắc tinh tế của thời Nguyễn cũng được bảo tồn tại đây Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng không còn dấu vết kiến trúc hay tài liệu chữ viết từ thời Lý Dấu vết niên đại sớm nhất hiện còn là tấm bia “Trùng tu thạch bi” khắc năm 1582, ghi nhận về ngôi chùa xưa tại phủ Tràng An, huyện Yên Ninh.
Chùa Dầu, được biết đến với 50 mẫu ruộng do vua cấp cho Huyền Tư công chúa triều Trần, có thể có niên đại trước năm 1582 Mặc dù niên đại chính xác của di tích chưa được xác định, việc nghiên cứu để khẳng định nguồn gốc từ thời Lý là rất quan trọng Đặc biệt, bệ đá hoa sen trong Hậu cung, thường ít được di chuyển, có thể cung cấp thông tin quý giá Nếu bệ đá này có họa tiết điêu khắc mang dấu ấn thời Trần, nó sẽ là cứ liệu đáng chú ý trong việc xác định niên đại khởi dựng của chùa.
Chùa Dầu, hay còn gọi là "Linh Nha Tự", theo lời kể của các cụ cao niên xã Khánh Hòa, được xây dựng vào thời Lý, năm Quý Dậu (1054) Tại khu rừng Bồ, nhà Lý đã lập một toà sen thờ dưới gốc cây đa, được tạc bằng đá trắng với kích thước dài 3m và rộng 1,50m Toà sen có chạm chổ tinh vi theo hoa văn thời Lý, trên đó đặt ba bát hương bằng sành cổ Bốn góc toà sen có bốn lỗ đục sâu 0,10cm, đường kính 0,4cm để cắm bốn cột trụ, phía trên có mái tranh che cho ba bát hương.
Chùa Linh Nha, tọa lạc trên địa bàn hai xã Hương Du và Phương Du thuộc phủ Trường An, huyện Yên Ninh, tỉnh Ninh Bình, được xây dựng lại vào năm Nhâm Ngọ (1102) bởi nhà Lý Chùa có kiến trúc mái ngói và bên trong là toà sen thờ cùng với ba pho tượng Tam thế Nơi đây đã trở thành điểm đến linh thiêng, thu hút đông đảo nhân dân hai xã đến cầu cúng.
Chùa Dầu được xây dựng từ thời Lý do hai xã Hương Du và Phương
Chùa "Dầu" mang ý nghĩa sâu sắc từ các chữ Hương, Phương và Du, trong đó "Hương" và "Phương" đều biểu thị cho sự thơm ngon, trong khi "Du" có nghĩa là dầu Ghép lại, tên chùa thể hiện hình ảnh của "Dầu thơm", ghi nhận sự phụng sự của hai làng cổ xưa và khẳng định giá trị của ngôi chùa như một loại dầu thơm quý giá.
Chùa Dầu, tên gọi được lấy từ tên làng Dầu, đã từng là một làng duy nhất trước khi chia thành hai làng Hương Du và Phương Du Tên chữ của chùa là “Linh Nha Tự”.
Hiện nay, ở mặt sau Tam quan (cửa Đại) chùa Dầu vẫn còn một đôi câu đối bằng chữ hán:
Lý triều nhi khởi Trần triều nhi hưng vạn cổ danh lam
Thiên trụ dĩ duy, địa trục dĩ lập, thiên niên thắng tích
(Thời Lý dựng lên, thời Trần hưng thịnh, muôn thủa chùa này
Cột trời đã vững, trục đất đã bền, ngàn thu cảnh ấy)
Mặc dù chưa xác định chính xác niên đại khởi dựng của di tích, nhưng đây là một bằng chứng lịch sử quan trọng cho việc nghiên cứu sự ra đời của chùa Dầu.
Một đôi câu đối ở hai đầu cột của tòa tiền đường khẳng định rằng Đại Việt đã tạo ra liên đài, lưu truyền những thắng tích qua thiên tải, và Đông A đã khai mở bảo tạng, ghi dấu ấn kỳ quan suốt ức niên.
(Đại Việt dựng đài sen ngàn năm lưu truyền thắng cảnh
Nhà Trần mở kinh báu muôn đời chiêm ngưỡng kỳ quan)
Bệ đá hoa sen trong Hậu cung chùa nổi bật với các đường nét hoa văn chạm trổ tinh vi theo phong cách thời Trần, điều này không chỉ thể hiện nghệ thuật tinh xảo mà còn là tư liệu quý giá giúp xác định niên đại khởi dựng của di tích.
Cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 vào năm 1285 đã kết thúc thắng lợi, một năm sau, Công chúa Huyền Tư, chi ruột của Hoàng tử Ngự Câu Vương, được triều đình giao nhiệm vụ đến đại bản doanh của Hoàng tử để thăm em và động viên quân sỹ Tại đây, Công chúa đã đi vãn cảnh chùa và tình cờ gặp Linh.
1 Thích Minh Đức – Lã Đăng Bật (2008), chùa Dầu – Di tích lịch sử Văn hóa, NXB Văn hóa dân tộc, Hμ Néi, tr.23,24
Chùa Dầu, với vẻ đẹp cổ kính và yên tĩnh, rất phù hợp với ý tưởng tu hành, nhưng cho đến nay, chưa có bằng chứng xác thực nào chứng minh chùa được xây dựng từ thời Lý Mặc dù không thể xác định niên đại tuyệt đối của di tích, bệ đá hoa sen tại chùa cho phép xác định niên đại tương đối, ít nhất cũng thuộc thời Trần.
Chùa Dầu, với hơn 700 năm lịch sử, đã chứng kiến nhiều biến động của đạo thiền môn, nơi mà thời gian và con người đã tạo nên những thăng trầm Tại đây, lòng thành hướng về Tam Tổ Chúc Lâm giúp rũ sạch bụi trần, làm sáng tỏ Thiện - Ác, Chính - Tà Người dân cùng Nhà nước đã chung tay tu sửa, tôn tạo và bảo vệ nơi cửa Phật, tạo nên không gian linh thiêng với khói hương thơm toả Điều này thể hiện mong mỏi của người dân xã Khánh Hoà và trách nhiệm của ngành văn hoá trong việc gìn giữ di sản văn hoá quý báu này.
Sau nhiều năm, chùa đã bị hủy hoại bởi địch và bị ảnh hưởng bởi bụi bẩn, khiến cho cấu trúc nội thất của chùa không còn giữ được hình dáng nguyên vẹn như trước đây.
Sự kiện nhân vật liên quan đến di tích
Người Việt từ xưa đã luôn ước vọng gửi gắm sự linh thiêng vào các di tích, nơi mà họ có thể cầu viện những "sinh lực vũ trụ" cho cuộc sống Sự linh thiêng này không chỉ tồn tại trong tâm thức mà còn ngày càng mạnh mẽ theo thời gian Quan niệm về vũ trụ, với Trời là linh hồn và nguồn sinh lực tiềm ẩn vô biên, cho thấy sự kết hợp giữa sinh lực và lòng đất mẹ là điều kiện cần thiết cho sự sống Do đó, việc xây dựng chùa cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và tuân thủ nguyên tắc phong thủy, bởi vị trí và thế đất có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người.
1119), nhà sư thời Lý: “Tuyển đắc xà địa khả cư”, nghĩa là “Chọn được thế đất rồng rắn, có thể ở yên”
Trong văn hóa dân gian, việc chọn ngày tháng tốt và giờ hoàng đạo để tìm kiếm đất đẹp là rất quan trọng Đất đẹp thường có vị trí cao ráo, thoáng mát, với vượng khí và long mạch Đặc điểm của một thế đất lý tưởng bao gồm sự bao bọc của núi, đồi, và gò từ phía sau, cùng với các điểm cao đột khởi làm án che ở phía trước Bên cạnh đó, các vùng thấp tụ thuỷ ở mặt trước và não đường ở phía sau giúp tạo nên sự cân đối và hài hòa, được coi là đất thiêng, nơi tụ linh và phúc.
Người Việt tin rằng trong vũ trụ tồn tại một khối sinh lực vô hình, không thể xác định, nhưng lại là nguồn cội của mọi hạnh phúc Dòng sinh lực này tuôn chảy xuống trái đất, mang đến sự sống và sự nảy nở cho con người.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - NGHỆ THUẬT VÀ LỄ HỘI CHÙA DẦU
Giá trị kiến trúc
Người Việt từ xưa đã luôn có ước vọng gửi gắm sự linh thiêng vào các di tích, nơi mà họ có thể cầu viện những "sinh lực vũ trụ" cho cuộc sống Sự linh thiêng này không chỉ tồn tại trong tâm thức con người mà còn ngày càng mạnh mẽ theo thời gian Quan niệm về vũ trụ cho rằng Trời là thực thể tuyệt đối, chứa đựng nguồn sinh lực vô biên, và sự kết hợp giữa dòng sinh lực này với lòng đất mẹ là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của mọi sinh vật Vì vậy, trước khi xây dựng chùa, người ta thường nghiên cứu kỹ lưỡng và tuân thủ các nguyên tắc phong thủy, vì vị trí và thế đất có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người Quan niệm này đã được thể hiện qua những câu thơ của Không Lộ.
1119), nhà sư thời Lý: “Tuyển đắc xà địa khả cư”, nghĩa là “Chọn được thế đất rồng rắn, có thể ở yên”
Trong văn hóa dân gian, việc chọn ngày lành tháng tốt và giờ hoàng đạo để tìm kiếm đất đai có vị trí đẹp, cao ráo, thoáng mát là rất quan trọng Đất đẹp thường có núi, đồi, gò, bãi bao quanh, tạo thành thế vững chãi với những điểm cao làm án che phía trước và vùng thấp tụ thuỷ ở phía trước, tạo nên sự cân đối hài hòa Đây được coi là đất thiêng, nơi hội tụ linh khí và phúc lộc.
Người Việt tin rằng có một nguồn sinh lực vô hình từ tầng trên, không xác định, chảy xuống đất và mang lại hạnh phúc, làm nảy nở sự sống Con người đã mượn một phần sinh lực từ trời đất để tạo ra linh hồn riêng Điều này chỉ xảy ra ở những vùng đất có điều kiện nhất định, nơi mà tổ tiên đã nhận thấy và thường xây dựng các kiến trúc tôn giáo Do đó, các di tích này đã hòa quyện vào nguồn sinh lực vô biên, tạo nên sự kết nối sâu sắc với vũ trụ.
Mảnh đất tụ linh tụ phúc thường cao hơn các vùng xung quanh và cần kết hợp nhiều yếu tố khác để duy trì vai trò lâu dài Hướng Bắc được người Việt coi là gắn liền với sự u ám và hắc ám, đặc biệt là ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có khí hậu gió mùa và giá lạnh.
Hướng Đông, nơi của các thần, gắn liền với mặt trời mọc, thường được người Khơ Me ở Nam Bộ chọn làm hướng cho ngôi chùa của họ Trong khi đó, người Bắc Bộ ít theo hướng này do thời tiết nóng nực và ánh sáng mặt trời có thể làm giảm linh khí của di tích.
Hướng Tây được coi trọng, đặc biệt với các di tích cổ từ thế kỷ XVI trở về trước, vì phù hợp với quy luật âm dương Quy luật này đảm bảo thần ngự trị yên ổn tại di tích, không rời bỏ dân Theo quan niệm, mặt trước của thần (di tích) thuộc dương, hướng Tây thuộc âm; lưng thần (âm) quay về Đông (dương), tay trái (âm) hướng Nam (dương), và tay phải (dương) hướng Bắc (âm) Do đó, mọi hướng đều hài hòa, giúp thần gần gũi với dân và ban phúc cho họ.
Hướng Nam được coi trọng vì mang lại gió mát mùa hè và ấm áp mùa đông, thể hiện triết lý “Lấy vợ hiền hoà làm nhà hướng Nam” Theo đạo Phật, hướng này biểu trưng cho trí tuệ, giúp diệt trừ ngu tối và mầm mống tội ác, đồng thời gắn liền với hạnh phúc và điều thiện Trong văn hóa Trung Hoa, hướng Nam cũng được xem là hướng của đế vương, nơi thánh nhân ngồi để lắng nghe ý kiến của dân chúng Chùa Dầu, được xây dựng theo hướng Tây Nam, đã đạt được hướng đẹp nhất, kết hợp giữa ý nghĩa tâm linh và phong thủy.
Chùa Dầu, tọa lạc trên khu đất cao gần 7000 m² nhìn ra sông Vạc, là một di tích kiến trúc nổi bật với bố cục cân bằng âm dương Phía sau chùa có ao nhỏ, thể hiện điểm tụ phúc và ước vọng nông nghiệp Nằm bên con đường chính của làng, chùa Dầu thuận lợi cho du khách tham quan Không gian xung quanh chùa quang đãng, càng tôn thêm vẻ đẹp của di tích trên “hàm một con rồng”.
Khu đất này được cho là nằm trên “hàm một con rồng”, với con đường từ chợ Dầu đến chùa được ví như thân rồng uốn lượn, mang tên đường Hương Du hay đường cái tổng Yên Vệ Khu Mả Lăng được xem là trán rồng, trong khi văn chỉ xã Yên Khang, hay văn chỉ xã Hương Du, là mũi rồng gần chùa Hai giếng trong khu chùa tượng trưng cho mắt rồng Nếu toàn bộ khu đất rộng lớn là đầu rồng, thì chùa nằm trên hàm của đầu rồng, còn gò Mả Mây gần chùa thể hiện hình ảnh rồng uốn lượn trong mây trời.
Chùa có một giếng đất đặc biệt, gọi là giếng chùa, nằm ở phía Nam, hiện tại thuộc khu chùa mới Giếng này sâu hơn 2 mét và có đường kính khoảng 10 mét, nhưng nước trong giếng luôn đầy, ngay cả trong mùa khô hạn khi các giếng nước khác trong làng đều cạn kiệt Trong những năm hạn hán kéo dài, người dân trong làng thường phải đến giếng chùa để lấy nước, điều này thật kỳ lạ.
Giếng trong khu chùa Dầu cũ không chỉ là mắt rồng mà còn giúp điều hòa âm dương Trước chùa có các ao như Võng, Gáo, Long, và sau chùa là Ao Huê Chùa nằm trên cao đại diện cho dương, trong khi nước ở dưới thấp biểu thị cho âm Nước phản chiếu ánh sáng từ trên trời xuống, thể hiện sự tương phản giữa âm và dương Do đó, để duy trì sự cân bằng, trước chùa thường có dòng nước chảy qua, hoặc nếu không có, cần phải đào giếng hoặc xây hồ bán nguyệt trong chùa.
Trong không gian kiến trúc, cây cối đóng vai trò quan trọng trong việc trang trí và hòa quyện di tích với môi trường xung quanh Cây cối được xem như bộ quần áo đẹp, giúp di tích trở nên hấp dẫn và không tách biệt Hơn nữa, sự hiện diện của cây cỏ còn khẳng định rằng mảnh đất có di tích là tươi tốt và thích hợp với thiên nhiên, thể hiện sự kết nối với đất thiêng và đất lành của muôn loài.
Trong khuôn viên chùa Dầu, người hành hương cảm nhận không gian tĩnh lặng, nơi mà những lo toan đời thường như bị ngưng lại, cho phép tâm hồn hòa nhập vào thiên nhiên Vẻ đẹp của cây cối bên bờ nước giúp con người xóa bỏ những vướng mắc, trở về với sự hồn nhiên và tìm lại bản chất nguyên sơ của chính mình, lắng nghe tiếng thì thầm của vũ trụ Tại đây, con người dễ dàng cảm nhận được sự hòa quyện với triết lý của Thiền và Lão, mong muốn thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống để trở về với quy luật tự nhiên Không gian này thể hiện rõ tư tưởng “kiến tính” của Phật giáo, đặc biệt qua hình ảnh pho tượng Phật Thích Ca cầm bông sen.
Khác với đình, cây cối ở chùa thường hòa quyện với kiến trúc, tạo thành một tổng thể thống nhất và mang yếu tố triết mỹ Dù di tích chiếm vị trí trung tâm, nhưng chúng như thu mình lại trước cây cỏ, trả lại không gian sự vĩnh hằng Tại chùa, nhiều cây lớn được trồng và thường mang những ý nghĩa vượt ra ngoài kiếp sống bản nguyên.
Vườn chùa Dầu rộng lớn, với nhiều cây đại thụ và cây ăn quả, luôn xanh tươi, thu hút nhiều chim chóc đến làm tổ Đây là nơi “đất lành”, “chim đậu”, tạo nên một khung cảnh tĩnh mịch và hiền hòa bên cửa Phật.
Giá trị nghệ thuật
2.2.1 Trang trí trên ki ế n trúc
Trong kiến trúc cổ, trạm khắc là yếu tố thiết yếu, giúp làm mềm mại và tăng tính thẩm mỹ cho công trình Những đề tài chạm khắc không chỉ phản ánh dấu ấn của thời đại mà còn chứa đựng những ước vọng về cuộc sống bình yên và hạnh phúc, là thông điệp từ thế hệ trước gửi tới thế hệ sau Đặc biệt, chạm khắc tại các ngôi chùa mang chiều sâu về nội dung và hình thức, tổng hợp nhiều góc nhìn khác nhau, tạo cảm giác động và huyền ảo cho mỗi tác phẩm.
Chùa Dầu từng là một công trình kiến trúc lớn với nhiều cấu kiện được chạm khắc tinh xảo, phản ánh đa dạng đề tài nghệ thuật Tuy nhiên, do tác động của thời gian và yếu tố tự nhiên, nhiều bộ phận của chùa đã bị hư hỏng và phải thay thế Hệ quả là các cấu kiện kiến trúc không còn giữ được những yếu tố trang trí nguyên vẹn, thậm chí có những khu vực trở nên thô mộc.
2.2.1.1 Trang trí bên ngoài kiến trúc Đề tài trang trí chủ yếu ở bên ngoài đó là hình ảnh mây, hoa lá, vân mây… một cách đơn giản nhưng vẫn tạo được yếu tố tâm linh của di tích Ngoài ra nó còn được xuất hiện lẻ tẻ trên trang trí những cấu kiện và hiện vật khác Chất liệu chủ yếu của đề tài trên là vôi vữa, đôi khi được ốp mảnh sành Hai bên có 2 trụ hình tròn chóp hướng lên trời giống như một búp sen Đây là những đồ án trang trí đầu tiên, bắt gặp trên Tam quan của chùa Mặt trước có đắp 2 trụ vuông, bên trái có chữ Thọ; bên phải chữ Phúc (kiểu chữ chân), 2 ô hình chữ nhật 2 bên trang trí cây thông
Chính giữa bờ nóc tòa Tiền đường là hình ảnh tứ thư cuốn quanh bầu rượu, được hai bên tứ thư triện vuông hình hoa cúc ôm lấy, phía dưới là bông sen tinh tế.
Trên nóc phía 2 đầu của toà Tiền đường có xây hai trụ hình vuông, không trang trí, để nguyên nhưng vẫn mang yếu tố tâm linh gì đó
Hoa văn hoa lá và cỏ cây trang trí hai bờ nóc của toà Tiền đường, tạo nên vẻ đẹp tinh tế Gắn liền với bờ nóc là hai cột lớn được xây dựng bằng vôi, gạch và vữa, thể hiện sự kiên cố và bền vững của kiến trúc.
Mặt sau Hậu cung được trang trí hoa văn tứ quý gồm cúc, trúc, thông, mai, chia thành 6 ô hình chữ nhật không đều, với 6 chữ Hán nổi bật trên 6 trụ Ở giữa là cuốn thư trang trí ba chữ Hán “Liên hoa đài” cùng đôi câu đối hai bên, đầu cuốn thư có hai cây thông Mái cong được trang trí với hai con rồng chầu hổ phù, và bốn góc mái là các đầu đao hình rồng hướng vào trung tâm Phía bên phải tòa Hậu cung, trên cùng có hình cụm sen nở rộ, dưới là cụm sen ở giữa mái, kèm theo hai cây hoa lựu Bốn trụ của bốn ô có khắc bốn chữ Hán “Pháp chính cường dương”, thể hiện sự nghiêm trang và bảo hộ của đạo lý nhà Phật Các kẻ cổ ngỗng ngoài hiên khắc chữ “Đỉnh” vuông, trong khi ba mặt bên được dựng bằng cột gạch, vôi vữa, xi măng để hỗ trợ hệ mái tòa Hậu cung, với bốn góc là bốn kèo sông.
Trên bờ nóc của Hậu đường, có trang trí “lưỡng long chầu nguyệt” kèm theo hai bên triện vuông góc cành trúc Dọc theo lá mái là một bảng vuông cạnh theo kiểu tam cấp Mặc dù điêu khắc bên ngoài chùa Dầu mang phong cách đơn giản và không nổi bật, nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp và tính thâm nghiêm của di tích.
2.2.1.2 Trang trí bên trong kiến trúc
Các công trình tôn giáo, đặc biệt là chùa, thường có các chạm khắc trang trí tinh xảo trên các cấu kiện kiến trúc như cốn, rường, và xà nách Những hình ảnh được thể hiện bao gồm tứ linh, tứ quý, cỏ cây, vân mây, và hoa lá, tạo nên bố cục công phu Trong gian chính giữa của tòa Tiền đường rộng, có hai vì với xà ngang kéo dài từ ngoài vào trong; trên xà là hệ thống ván bưng được chạm khắc tinh vi, thể hiện hai phong cách khác nhau từ hai hiệp thợ xã Phương Du và Yên Khang.
Bức vì ván mê được đặt ở góc của xà nách được thể hiện khá công phu và tỉ mỉ, với đề tài tứ linh, tứ quý
Chính giữa mê đội thượng lương, một mặt rồng được chạm khắc với đôi chân vững chắc, cặp mắt uy nghiêm và hàm răng to chầu vào nhau Hai bên là hai con lân kiêu hãnh chầu vào rồng theo kiểu nhị lân chầu long điện Cánh mê đội thượng lương còn chạm khắc hình một con rồng vươn mình tung trên sóng, bên cạnh là một con phượng hàm thư Ở bên phải con rồng, hình long mã phụ đề được chạm khắc, trong khi bên trái là hình con rùa núp dưới tán lá sen, đang tắm mình trên sóng Những hình ảnh này thể hiện rõ nét mô típ tứ linh: long, ly, quy, phượng, như câu ca dao đã nói.
“Bạn vàng lại gặp bạn vàng Long, ly, quy, phượng một đoàn tứ linh”
Nghệ thuật chạm khắc gỗ tại Việt Nam, bao gồm chạm bong kênh và chạm lộng, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật sống động, thể hiện sức mạnh và linh thiêng của rồng trong văn hóa phương Đông Rồng không chỉ là một sinh vật huyền bí mà còn là biểu tượng của sự sống, kết hợp giữa nhiều loài động vật, mang ý nghĩa sâu sắc đối với dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ Hình ảnh rồng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, từ tên gọi Thăng Long của Hà Nội đến các danh lam thắng cảnh như Hạ Long và dòng sông Cửu Long Rồng không chỉ là biểu tượng cho nguồn gốc nòi giống mà còn là thần linh mang lại sức sống, thể hiện uy quyền của triều đình, đặc biệt trong thời kỳ phong kiến Hình tượng rồng đã được cách điệu qua các thời kỳ, từ ảnh hưởng của các triều đại phương Bắc đến sự hình thành rồng Việt Nam dưới triều Lý, và vẫn tiếp tục được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo ngày nay với những đặc điểm độc đáo.
Rồng được coi là biểu tượng của cội nguồn dân tộc Việt Nam, với niềm tự hào rằng mỗi người dân đất Việt đều là con rồng, cháu tiên, con của bố rồng Lạc và mẹ tiên Âu.
Rồng, biểu tượng của sự linh hoạt và khả năng thích nghi, phản ánh tính cách của người Việt Nam Nó có thể tồn tại dưới nước, được gọi là Long vương, giữ gìn sự thịnh vượng cho thiên hạ Đồng thời, rồng cũng xuất hiện trên đất liền và đầm lầy, như một điềm báo quan trọng, được ghi nhận trong lịch sử khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại.
Rồng vàng là biểu tượng của điềm lành, tượng trưng cho những điều tốt đẹp Với khả năng bay cao trên bầu trời và vùng vẫy trong mây, rồng vàng không chỉ mang lại mưa mà còn tưới tắm cho đồng ruộng, giúp mùa màng bội thu.
Bốn loại cây quý được khắc họa trong bức chạm nổi, bao gồm cây trúc, hoa mai, cây tùng và hoa cúc, tạo nên vẻ đẹp sinh động cho tác phẩm Cây trúc nằm gần cột hiên với chữ “thọ” cách điệu, trong khi hoa mai lớn nở rộ phía trên Giữa bức chạm là những thân cây tùng được cách điệu, và dưới cùng là ba bông cúc đang nở Để giảm sự thô cứng của các đàu bẩy, nghệ nhân đã trang trí hoa văn lá lật dạng sóng nước, với đầu bẩy gắn mảng gỗ mỏng khắc chìm chữ “thọ” theo kiểu chữ Triện.
Tượng thờ xuất hiện không chỉ ở chùa mà còn ở nhiều di tích khác, thể hiện sự phong phú và đa dạng của nghệ thuật điêu khắc Đặc biệt, các chùa được coi là "bảo tàng điêu khắc cổ truyền," nơi lưu giữ nhiều tác phẩm đạt đỉnh cao trong nghệ thuật tạc tượng, phản ánh dòng chảy nghệ thuật dân gian.
4 Nguyễn Văn C−ơng, Sđd, tr 123,124
5 Chu Quang Trứ, T−ợng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc, NXB Mỹ thuật 2001
Trong chùa Dầu, ngoài tượng Phật chiếm đa số còn có tượng Thánh, tượng Tổ, tượng Mẫu, tự chung đều biểu hiện sự linh thiêng và uy nghiêm
Thượng điện là nơi tập trung nhiều tượng nhất, các pho tượng này được đặt trên các bệ thờ xây từ thấp đến cao
* Tượng Tam Thế (pho số 1,2,3 - sơ đồ bài trí tượng)
Lễ hội Chùa Dầu
Chùa Dầu, giống như nhiều ngôi chùa khác ở làng quê Việt Nam, thường tổ chức các lễ tụng kinh niệm Phật hàng ngày bởi các nhà sư Ngoài ra, chùa còn có một số lễ hội quan trọng trong năm theo âm lịch.
- Tháng giêng lễ Vía (cúng tưởng nhớ) Phật Di Lặc vào ngày mồng một Tết, tiếp đó là lễ Thượng Nguyên (Rằm tháng giêng)
Ngày 4 tháng 4 là lễ Vía Bồ Tát Văn Thù, trong khi ngày 8 tháng 4 là lễ Phật Đản, ngày sinh của Đức Phật, được coi là một ngày hội lớn Vào thời Lý và Trần, Phật Đản được tổ chức như một ngày quốc lễ, với Vua trực tiếp chủ trì Lễ hội bắt đầu bằng lễ mộc dục, nơi tượng Phật được tắm bằng nước thơm Tiếp theo là lễ phóng sinh, thả chim từ các lồng Vào ban đêm, có lễ phóng đăng, thả đèn trời trên các sông hồ, tạo nên không khí trang trọng và linh thiêng.
- Ngày 19 tháng sáu, lễ Vía Quan Thế Âm Bồ Tát
Vào ngày 13 tháng 7, lễ Vía Đại Thế Chí Bồ Tát diễn ra, tiếp theo là lễ Vu Lan vào ngày 15 tháng 7 (Trung nguyên), còn được biết đến là ngày lễ báo hiếu Theo truyền thống Phật giáo, trong ngày này, Diêm Vương cho phép các âm hồn được lên trần để hưởng lộc Các gia đình thường tổ chức lễ hội trang trọng để cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ được siêu độ.
“Cha già là phật Thích Ca
Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm Nhớ ngày xá tội vong nhân Lên chùa lễ Phật, đền ơn sinh thành”
Lễ Vu Lan là dịp tưởng nhớ Đại đức Mục Kiện Liên, người đã cứu mẹ khỏi sự đau khổ ở A Tỳ địa ngục để bày tỏ lòng hiếu thảo Tại các chùa, lễ cúng tế cho cô hồn và các nghi thức cầu vong, phá ngục, giải oan được tổ chức suốt cả ngày, chủ yếu diễn ra vào buổi chiều và kéo dài đến khuya.
- Ngày 19 tháng 9, lễ Vía Quan Thế Âm Bồ Tát xuất gia; ngày 30 lễ Vía Phật Dược Sư
- Ngày 17 tháng mười một, lễ Vía Phật A Di Đà
- Ngày mồng tám tháng 12, lễ Vía Phật Thích Ca thành đạo
Lễ Phật Đản và các hội chùa như Hội chùa Dầu là những sự kiện lớn, thu hút đông đảo người tham gia với nhiều hoạt động vui chơi Hội chùa thường diễn ra song song với các lễ hội làng, phản ánh nhu cầu kết nối tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng Đặc biệt, vào dịp đầu xuân, Hội chùa Dầu trở nên nhộn nhịp, nơi người dân đến lễ Phật, cầu may và cầu phúc cho năm mới.
Chùa Dầu không chỉ là nơi thắp hương lễ Phật mà còn là không gian giao lưu tình cảm, giúp con người hòa mình vào cái "ta" lớn lao trước cửa Phật Tại đây, những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc được gìn giữ và phát triển Người dân đến chùa để cầu mong điều lành trong tâm linh, làm thêm nhiều điều thiện, tránh xa điều ác, và hy vọng cho cuộc sống được bình an, thuận lợi.
Ngoài ra, chùa Dầu còn tổ chức lễ hội lớn ba năm một lần vào các năm:
Vào ngày giỗ Công chúa Huyền Tư, diễn ra vào ngày 29 tháng 2 âm lịch (tháng 2 âm lịch thiếu nên được gọi là ngày 30), các con giáp Tý, Ngọ, Mão, Dậu sẽ cùng tham gia lễ hội kéo dài ba ngày đêm.
Kỳ Đại hội tại chùa Dầu diễn ra trong năm ngày đêm, chỉ tổ chức một lần sau sáu mươi năm Câu đối nổi bật tại chùa ghi lại sự kiện này: "Đại hội lục thập niên nhất khoá, Giao hiếu bát cửu xã đồng tôn."
(Đại hội sáu mươi năm một khoá
Giao hảo tám chín xã đồng tôn)
Chín xã tham gia kỳ Đại hội ở huyện Yên Khánh thời Nguyễn gồm: Yên Xuyên, Yên Vệ, Văn Lâm, Vũ Lâm, Tuân Cao, Khê Đầu, Phúc Lộc, Thiện Trạo, và Yên Phúc Các xã này đều phải rước kiệu và tổ chức lễ tế tại chùa, hiện nay tương ứng với các xã Khánh An, Khánh Phú (huyện Yên Khánh); Ninh Hải, Ninh Thắng, Ninh Xuân (huyện Hoa Lư); Ninh Phong, Ninh Sơn, Ninh Phúc (thành phố Ninh Bình).
Kỳ Đại hội tổ chức vào năm 1920, sau năm Khải Định thứ 4, đã đánh dấu sự khôi phục Tiền đường vào năm 1919 Sau 60 năm, vào năm 1980, và dự kiến năm 2040 sẽ tổ chức Đại hội lớn tại chùa Dầu Đoàn rước kiệu được bố trí bắt đầu với hai lá cờ Tiết và Mao, biểu trưng cho uy thế thần linh, tiếp theo là năm lá cờ ngũ hành (xanh, đỏ, trắng, vàng, đen), rồi đến cờ Tứ linh hoặc cờ Bát quái Những người cầm cờ mặc trang phục như lính thời xưa, theo sau là trống cái và chiêng do hai người khiêng, tạo nên âm thanh nhịp nhàng Đoàn còn có đôi ngựa gỗ hồng hoặc bạch, hoặc đôi khi là voi, và cuối cùng là đoàn mang đồ nghi trượng và bát bửu.
Trong lễ rước, người mặc áo thụng xanh cầm biển đề “Thượng đẳng tối linh” dẫn đầu, theo sau là phường đồng văn với các nhạc cụ như trống khẩu, thanh la, sinh tiền và trống bản, tạo nên âm thanh đặc sắc Tiếp theo là phường bát âm với tám loại nhạc khí, sau đó là kiệu bát cống do tám người khiêng, trên kiệu đặt bài vị của các Vua Trần, Công chúa Huyền Tư và Hoàng tử Ngự Câu Vương Kiệu thờ Công chúa Huyền Tư được trang trí đẹp mắt với lọng cắm, đung đưa Tiếp theo là kiệu bốn người khiêng mang theo lễ vật, hương hoa và oản quả Cuối cùng, đoàn rước có các vị sư, Phật tử và quần chúng mặc áo dài nâu, cầm cành phan, biểu trưng cho sự vươn lên cao.
Các cỗ kiệu sơn son thếp vàng lộng lẫy được rước trang nghiêm bởi trai thanh, nữ tú theo phong tục lễ hội xưa, từ khắp các nẻo đường huyện Yên Khánh đổ về chùa Dầu Không khí ngày hội trở nên tưng bừng, náo nhiệt với sự di chuyển của các kiệu tiến, kiệu lùi, mang lại niềm vui tươi cho mọi người.
Tổ chức rước kiệu xong thì đến phần tế ở chùa Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh, dâng đồ lễ lên Phật và Thánh Thần
Trong ban tế, chủ tế thường là người cao tuổi nhất và có uy tín trong làng, được hỗ trợ bởi bốn vị bồi tế Một vị đứng bên hữu chuyên xướng "bái" (lạy), trong khi một vị bên tả xướng "hưng" (đứng dậy) Hai vị này đứng bên hương án để thực hiện nghi lễ Ngoài ra, có một vị điểu văn (người viết văn) và một vị độc chúc văn (người đọc văn) Hai vị nội tán đứng bên cạnh chủ tế để dẫn dắt khi ra vào, cùng với hai vị đồng văn đảm nhiệm việc đánh chiêng và trống Thêm vào đó, một số người chấp sự cũng có mặt để phục vụ dâng rượu, dâng hương, bưng văn tế và đốt văn tế.
Lễ phục của ban tế bao gồm áo thụng xanh hoặc huyền, với tay áo dài rộng và cổ áo cao gấp đôi áo thường Áo được may với tà và gấu lớn, cài 5 khuy, kèm theo mũ và hia Trong buổi lễ, các nhà sư và Phật tử, cùng quần chúng, đều mặc áo dài nâu và cầm cành phan.
Sau khi hoàn tất lễ Phật, các nhà sư tiến hành lập đàn cúng Phật, thực hiện lễ giải oan, khai phương phá ngục và múa đèn Tiếp theo là tuần lễ đại chúng thăng bảo đài, trong đó rước các vong linh về nơi cực lạc, tổ chức lễ phóng sinh và cầu siêu cho các vong linh.