Xuất phát từ nhu cầu muốn tìm hiểu ca khúc của Thầy, vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu các giá trị nghệ thuật trong những ca khúc viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
Trang 1Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
Khoa quản lý văn hoá nghệ thuật
-
NGUYễN THU MAI
TìM HIểU CáC GIá TRị NGHệ THUậT TRONG CáC TáC PHẩM ÂM NHạC VIếT Về TRƯờNG sơn của nhạc sĩ
đào hữu thi
Khoá luận đại học ngành QUảN Lý VĂN HóA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bốn năm đại học trôi qua thật nhanh, em đã được các thầy cô giáo truyền đạt không chỉ kiến thức mà còn nhiều kĩ năng khác, giúp em tự tin vững bước trên con đường tương lai sắp đến Trong quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của nhà trường và nhiều thầy giáo, cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn: các thầy cô giáo khoa Quản lý văn hóa Nghệ thuật trường Đại học Văn hóa Hà Nội, các cán bộ Thư viện tại: Trường Đại học Văn hóa, thư viện Quốc gia, Thư viện Nhạc Viện Hà Nội đã giúp em
có đủ tư liệu để hoàn thành luận văn
Đặc biệt, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, thạc sĩ Hoàng Bích Hà – người hướng dẫn khoa học, đã tận tâm hướng dẫn, bồi dưỡng kiến thức và trực tiếp giúp đỡ em hoàn thành luận văn nay
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn tới nhạc sỹ Đào Hữu Thi đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình làm khóa luận
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Em kính mong nhận được những lời chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến trao đổi của các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thu Mai
Trang 3MỤC LỤC
Ơ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975 8
1.1 Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam giai đoạn 1954-1975 8
1.2 Con đường Trường Sơn – những dấu chân huyền thoại 16
1.2.1 Đường Trường Sơn – Đường mòn Hồ Chí Minh 16
1.2.2 Cuộc chiến đấu anh dũng của bộ đội và thanh niên xung phong mở đường 18
1.3 Những tác phẩm văn hóa nghệ thuật viết về con đường Trường Sơn huyết mạch 21
Chương 2: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG NHỮNG TÁC PHẨM ÂM NHẠC VIẾT VỀ TRƯỜNG SƠN CỦA NHẠC SỸ ĐÀO HỮU THI 24
2.1 Khái quát thân thế và sự nghiệp âm nhạc của nhạc sỹ Đào Hữu Thi 24
2.1.1 Đôi nét về nhạc sỹ Đào Hữu Thi 24
2.1.2 Sự nghiệp sáng tác của nhạc sỹ Đào Hữu Thi 26
2.1.2.1 Những tác phẩm âm nhạc của nhạc sỹ Đào Hữu Thi 26
2.1.2.2 Những tác phẩm khí nhạc, ca khúc, hợp xướng tiêu biểu 28
2.1.2.3 Biên soạn và xuất bản các tập nhạc 29
2.1.2.4 Các giải thưởng âm nhạc 30
2.2 Những giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm âm nhạc viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi 31
2.2.1 Giá trị lịch sử 31
2.2.2 Giá trị về nghệ thuật âm nhạc 33
2.2.2.1 Cấu trúc âm nhạc 33
2.2.2.2 Giá trị về giai điệu 37
Trang 42.2.2.3 Giá trị về lời ca 53
2.2.3 Giá trị nhân văn 63
2.2.4 Kết nối đồng đội 65
Chương 3: NHỮNG SUY NGHĨ VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TUỔI TRẺ NGÀY NAY VỚI NHỮNG ÂM HƯỞNG MANG TÊN TRƯỜNG SƠN 68 3.1 Âm nhạc Trường Sơn vẫn luôn trong lòng tuổi trẻ Việt Nam 68
3.2 Những phản hồi tiêu cực của tuổi trẻ thời nay 70
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 80
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngay khi bước vào giảng đường trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tôi đã được nghe các thầy cô giáo trong trường, các anh chị khóa trên kể về Thầy
Là một người thầy giáo tâm huyết với nghề – một người nhạc sỹ đã cống hiến
cả cuộc đời mình vì nghệ thuật Thầy là nhạc sỹ Đào Hữu Thi Thầy đã dìu dắt không biết bao thế hệ trẻ chúng tôi nối tiếp con đường nghệ thuật Không chỉ đối với tôi mà những ai đã được nghe kể về Thầy hay được nghe Thầy giảng bài đều yêu quý và kính nể người Thầy giáo nay
Nhạc sỹ Đào Hữu Thi nổi tiếng với tên gọi “ nhạc sỹ của Trường Sơn” Ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm âm nhạc viết về đề tài Trường Sơn Ông
đã trở thành một nhân chứng sống của lịch sử, của chiến tranh xây dựng và bảo vệ con đường Trường Sơn huyết mạch Ông đã từng tham gia chiến đấu, nếm trải trăm ngàn khó khăn, gian khổ, thiếu thốn nơi chiến trường cũng như cảm nhận được sự ấp áp của tình người, tình đồng đội, cảm nhận sự ác liệt của chiến tranh và những đau thương, mất mát
Thời gian càng trôi thì ký ức lại tràn về ào ạt với nỗi nhớ da diết và sự xót thương khắc khoải Để rồi những tình cảm đó trào dâng thành những dòng nhạc nóng hổi, chất chứa bao nỗi niềm Nhạc sỹ Đào Hữu Thi đã kể về chiến tranh, về những con người đã hi sinh, về những cô gái trẻ mãi mãi không bao giời trở lại cho tôi nghe Xuất phát từ nhu cầu muốn tìm hiểu ca khúc của Thầy, vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu các giá trị nghệ thuật trong những ca khúc viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi” để làm khóa luận cử nhân chuyên ngành Âm nhạc, khoa Quản lý Văn hóa nghệ thuật
2 Đối tượng nghiên cứu
Giá trị nghệ thuật trong các ca khúc viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
Trang 63 Phạm vi nghiên cứu
Các ca khúc viết về Trường Sơn được người viết chọn lọc
4 Mục đích của đề tài
- Hệ thống lại các ca khúc Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
- Tập hợp những ca khúc viết về Trường Sơn có giá trị nghệ thuật tiêu biểu của nhạc sỹ
- Làm sáng tỏ những thủ pháp sáng tác qua các tác phẩm tiêu biểu viết
về Trường Sơn của nhạc sỹ
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng âm nhạc học để so sánh, phân tích lời ca và chất liệu âm nhạc
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm tạo cho bài viết sống động chân thực
- Người viết còn thu thập tài liệu, thông tin và sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh để bổ trợ cho việc làm rõ nhiệm vụ của đề tài
Trang 7Chương 1 CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC CỦA NHÂN DÂN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975
1.1 Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Thời kì 1954-1975 là khoảng thời gian nhân dân ta vừa kết thúc 80 năm
đô hộ của thực dân Pháp, bước sang giai đoạn vừa kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội Đây là một thử thách đầy cam go đối với Đảng cộng sản Việt Nam – một chính Đảng còn non trẻ Lần này đối mặt với ta là đế quốc Mỹ, tên thực dân hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự thời bấy giờ Chiến tranh toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến tranh toàn dân có sự phát triển cao về chất cả về điều kiện mới – chiến tranh nhân dân bảo về Tổ quốc ở miền Bắc và chiến tranh nhân dân giải phóng ở miền Nam Đến thời kì này, lý luận “chiến tranh nhân dân” đã định hình rõ nét, phát huy tác dụng to lớn Đặc biệt nếu trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội khởi đầu cho chiến tranh nhân dân giải phóng thì trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Nội lại khởi đầu chiến tranh nhân dân thuộc loại hình chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn là một thời kỳ đất nước ta có những chuyển biến lớn nhằm chống lại
âm mưu và hành động của Mỹ-Ngụy Mà trong đó những chủ trương, sách lược, những nhận định và hành động của Đảng là cực kỳ quan trọng
Các giai đoạn gồm có:
1954-1960: Xây dựng miền Bắc và đấu tranh cách mạng chống Mỹ - Diệm ở miền Nam
Trang 81961-1965: Đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chiến đấu chống “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam
1965-1968: Chiến đấu chống “chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ Tiếp tục xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
1969-1973: Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ Khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc
1973-1975: Khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc Cả nước dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn là một thời kì đất nước ta có những chuyển biến lớn nhằm chống lại
âm mưu và hành động của Mỹ-Ngụy Mà trong đó, những chủ trương, sách lược, những nhận định và hành động của Đảng là cực kì quan trọng Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Geneve được kí kết Cuộc chiến tranh kết thúc Quân Pháp rút về nước, lập lại hòa bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương
Giai đoạn 1: Xây dựng miền Bắc và đấu tranh cách mạng chống Mỹ – Diệm ở miền Nam (1954-1960)
Hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc phải bắt tay ngay vào cuộc đấu tranh để giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau: miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và các lực lượng tay sai thống trị Miền Bắc ra sức củng cố, xây dựng theo hướng Chủ nghĩa xã hội làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước Miền Nam từ đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần đánh bại cuộc chiến tranh của Mỹ Trong những ngày đầu ở miền Bắc, đế quốc Mỹ
Trang 9cùng với bọn phản động Pháp đã tìm mọi cách đề phá hoại, trì hoãn việc thi hành các điều khoản của hiệp định Geneve Phá hoại cơ sở hạ tầng miền Bắc gây khó khăn cho ta tiếp quản vùng giải phóng, trì hoãn việc ngừng bắn ở chiến trường,… đã không làm lung lay ý chí chiến đấu của nhân dân ta Ngày 10-10-1954, Hà Nội được giải phóng Ngày 13-5-1955, Hải Phòng được giải phóng Ngày 16-5-1955, toàn lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng, sạch bóng quân thù Đế quốc Mỹ có ý
đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, nhân cơ hội đã gạt Pháp ra và biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới Dân tộc ta bị chia cắt và bước vào cuộc chiến đấu chống xâm lược mới
Sau khi hoàn toàn được giải phóng, miền Bắc tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” [11;Tr.74] Mặc dù
có những hạn chế, việc cải cách ruộng đất đã đưa đến xóa bỏ triệt để chế độ
sở hữu ruộng đất phong kiến Sau cải cách, bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều thay đổi, khối liên minh công nông được củng cố
Giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Pháp đã hình thành trên thực tế một tập đoàn thân Mỹ trong quân đội và trong chính quyền Bảo Đại Đứng đầu tập đoàn này là Ngô Đình Diệm do Mỹ đưa về ngày 7-7-1954, buộc Pháp
và Bảo Đại phải để ông tat hay Bửu Lộc làm thủ tướng kiêm tổng trưởng nội
vụ và quốc phòng Tháng 9-1954, Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm trong nội các Ngô Đình Diệm, các thành viên thân Mỹ hoặc có quan hệ chặt chẽ với Diệm Dựa vào đó ngay sau khi hiệp định Geneve được
ký kết, Mỹ tuyên bố công khai không bị ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định này, can thiệp sâu hơn nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Để thực hiện âm mưu đó, Mỹ tập trung nỗ lực giúp cho Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Geneve, loại bỏ các thế lực thân Pháp, nắm trọn chính trị miền Nam
Trang 10Trước khí thế mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, tháng
1-1959, Hội nghị lần thứ XV Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác định:
“con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa dành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng nhân dân, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” [9;tr.117] Cách mạng miền Nam cần có Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của cách mạng nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và tay sai Cuối năm 1959-1960, một phong trào “Đồng khởi” nổi dậy khởi nghĩa giải tán chính quyền cơ sở, diệt đồn, phá ách kìm kẹp của địch nổ
ra rộng khắp các tỉnh Nam Bộ và vùng núi Trung Bắc Bộ, nhân dân giành được quyền làm chủ
Giai đoạn 2: Đẩy mạnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chiến đấu chống “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam (1961-1965)
Miền Bắc thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm, xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội Một phong trào thi đua xây dựng Chủ nghĩa
xã hội được dấy lên sôi nổi khắp miền Bắc: “Đại phong” trong nông nghiệp,
“Duyên hải” trong công nghiệp, “Ba Nhất” trong quân đội, “Thành công” trong thủ công nghiệp, “Bắc Lí” trong giáo dục,… Về công nghiệp được ưu tiên xây dựng Giá trị sản lượng ngành công nghiệp nặng năm 1965 so với năm 1960, thì số cày cải tiến tăng 3,7 lần, bơm thuốc trừ sâu tăng 4,5 lần, máy bơm nước tăng 10 lần, thuốc trừ sâu các loại tăng 8,1 lần [3;tr.173] Về nông nghiệp thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao và nông trường quốc doanh Năm 1965, có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân cả năm từ 5 tấn thóc/1 ha trở lên [3;tr.174] Thương
Trang 11nghiệp quốc doanh được ưu tiên phát triển, góp phần củng cố quan hệ sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học phát triển nhanh Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường hàng không được củng cố Việc đi lại trong nước và quốc tế thuận lợi hơn Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe được phát triển Nhờ kết quả đạt được, miền Bắc đứng vững trong thử thách của chiến tranh, hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam và là hậu phương của cách mạng ba nước Đông Dương
Cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm bị thất bại Chính quyền Kennedy công bố học thuyết chiến tranh mới: Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm “Chiến tranh đặc biệt” là một loại hình chiến tranh thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vẫn Mỹ dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật nhằm chống lại các lực lượng cách mạng yêu nước Ngụy quyền, ngụy quân và “ấp chiến lược” được coi là xương sống của “Chiến tranh đặc biệt” Tháng 1-1963, giành thắng lợi trong chiến dịch Ấp Bắc Chiến thắng Ấp Bắc quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa báo hiệu sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
Được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, Quân giải phóng miền nam Việt Nam phát triển lớn mạnh, từ tác chiến du kích tiến lên tác chiến tập trung, mở các chiến dịch tiến công lớn nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Ngụy: Bình Giã (Bà Rịa - Long Khánh), Ba Gia (Quãng Ngãi), An Lão (Bình Định), Đồng Xoài (Biên Hòa), đẩy quân đội Sài Gòn đứng trước nguy
cơ tan rã Đến tháng 6-1965 xương sống của “Chiến tranh đặc biệt” bị bẻ gãy, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-Ngụy sụp đổ
Giai đoạn 3: Chiến tranh chống “Chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ Tiếp tục xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc(1965-1968)
Trang 12Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biêt”, Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam “Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự
Mỹ liên tục mở hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966
và 1966-1967, với ý đồ tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực quân giải phóng miền Nam Việt Nam Quân và dân miền Nam giữ vững và phát triển thế tấn công Ngày 18-8-1965, quân đội Mỹ mở cuộc hành quân vào Vạn Tường Sau một ngày chiến đấu quân chủ lực và quân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân, loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên chứng tỏ quân ta có đủ khả năng diệt quân Mỹ Mở đầu cao trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” dâng cao khắp miền Nam Đập tan cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ nhất và thứ hai của Mỹ với trên 1.000 cuộc hành quân lớn nhỏ đánh vào các vùng giải phóng của ta, trong
đó có 8 cuộc hành quân lớn “Tìm diệt” và “Bình định”, lớn nhất là cuộc hành quân Gianxon Xiti đánh vào căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của cách mạng Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại một bước quan trọng
Quân dân miền Bắc quyết tâm vừa đánh thắng Mỹ vừa đảm bảo sản xuất và đời sống, vừa tích cực chi viện cho miền Nam Tháng 8-1964 đến tháng 11-1968, quân dân miền Bắc triển khai cuộc chiến tranh nhân dân, kết hợp ba thứ quân, kết hợp các quân chủng và binh chủng bắn rơi 3.243 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ; bắn chìm và bắn bị thương 143 tàu chiến và tàu biệt kích của chúng [3;218] Bị thất bại nặng nề ở Việt Nam, chính phủ
Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị phá sản
Trang 13Giai đoạn 4: Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh
và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ Khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc (1969-1973)
Sau thất bại của “Chiến tranh cục bộ”, Nixon chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thực hiện chiến lược “Đông Dương hóa chiến tranh” cũng là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ Tháng 6-1970, quân đội Việt Nam phối hợp với quân dân Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của Mỹ và quân đội Sài Gòn Mở rộng vùng giải phóng của cách mạng Campuchia trên 5 tỉnh Đầu năm 1971, quân đội Sài Gòn được yểm trợ, bộ đội Việt Nam phối hợp với quân dân Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn-719” , giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương Ngày 16-4-1972, Tổng thống Nichxon phát động trở lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Quân và dân miền Bắc đã làm nên trận
“Điện Biên Phủ trên không”
Ngày 6-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao Hội nghị cấp cao 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia, biểu thị quyết tâm của nhân dân 3 nước đoàn kết chiến đấu chống Mỹ Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris được kí kết về việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam Quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thất bại
Giai đoạn 5: Khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc, cả nước hồi sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc (1973-1975)
Trang 14Ngày 29-3-1973, toàn lính của Mỹ rút khỏi miền Nam, nhưng Mỹ vẫn
để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự, để lại vũ khí, trang bị chiến tranh
và tiếp tục viện trợ quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu Mỹ dung túng và cùng với chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Paris Chính quyền Sài Gòn tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, tạo lực để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam
Đầu 1975, thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam; quyết định nắm vững thời cơ chiến lược, mở cuộc tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với 3 đòn tiến công chiến lược:
- Đòn thứ nhất: Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3-1975) Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng nhất ở miền Nam Ngày 4-3-1975, quân ta tiến công cắt đường 19, 21 nối Tây Nguyên với đồng bằng khu V Ngày 10-3-1975, ta mở cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuật và giành thắng lợi Sau 2 ngày chiến đấu, hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên rung chuyển, quân địch mất tinh thần, hàng ngũ rối loạn Nắm bắt ý đồ của địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, ta bố trí đánh chặn và truy kích tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 – Quân khu 2 của địch, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ
- Đòn thứ hai: Chiến dịch Trị Thiên-Huế (từ ngày 5-3-1975 đến ngày 26-3-1975) và chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 28-3-1975 đến ngày 29-3-1975)
Ngày 21-3-1975, phát hiện địch ở Huế, quân ta đánh chặn các đường rút chạy của chúng, hình thành thế bao vây thành phố Huế Ngày 25-3, quân
ta tiến vào cố đô Huế, đến hôm sau thì giải phóng thành phố và toàn tỉnh Thừa Thiên Ngày 29-3-1975, quân ta từ 3 phía Tây, Nam, Bắc tiến công giải phóng Đà Nẵng
Trang 15- Đòn thứ ba: Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975) Ngày 14-4-1975, chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định được Bộ chính trị quyết định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh Do các tuyến phòng thủ bị chọc thủng, nội bộ Mỹ và chính quyền Sài Gòn càng thêm hoảng loạn Ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống Ngày 26-4, năm cánh quân ta tiến vào Sài Gòn 10 giờ 45 phút ngày 30-4, xe tăng ta tiến vào Dinh Độc Lập, tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng 11giờ 30 phút, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng
Kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Đó là kết quả của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỉ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội Đồng thời tạo điều kiện cho cách mạng Lào và cách mạng Campuchia giành thắng lợi quyết định, góp phần to lớp vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
1.2 Con đường Trường Sơn – những dấu chân huyền thoại
1.2.1 Đường Trường Sơn – Đường mòn Hồ Chí Minh
Trường Sơn là một dãy núi trùng điệp, chếch từ Tây Bắc xuống Đông Nam, dọc biên giới 3 nước Việt, Lào, Campuchia Trường Sơn còn được coi
là “nóc nhà bán đảo Đông Dương” bởi hệ thống núi kéo dài cao trên 1.000m, nhiều đỉnh cao trên 2.000m Trên dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước hình chữ S, con đường vinh danh được mang tên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc – đường mòn Hồ Chí Minh hay đường Trường Sơn đã trở thành huyền thoại
Để chi viện cho chiến trường miền Nam, nhất thiết phải mở những con đường
để vận chuyển vũ khí, hàng hóa từ hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến
Trang 16miền Nam Cho nên, ngày 19-5-1959 Trung ương Đảng quyết định mở đường Trường Sơn để đáp ứng nhu cầu chi viện cho miền Nam
Đường Trường Sơn hay đường mòn Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy từ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tới lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa Đoàn 559 ra đời ngày 19-5-1959, còn goị là Binh đoàn Trường Sơn, Đoàn vận tải quân sự Quang Trung, thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, là đơn vị triển khai các lực lượng công binh, hậu cần, quân y, bộ binh và phòng không để đảm bảo hoạt động cho hệ thống đường này Hệ thống này cung cấp binh lực, lương thực và vũ khí để chi viện cho quân giải phóng miền Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam trong 16 năm của thời kì Chiến tranh Việt Nam Ta chọn mở đường qua dãy núi Trường Sơn
vì đường đi giữa rừng khó bị địch phát hiện, quân ta dựa vào rừng để che mắt quân thù Ngày 20-8-1959, chuyến hàng gùi bộ đầu tiên được giao cho chiến trường Từ khi có tuyến đường, sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam ngày càng tăng lên Việc ngăn chặn hệ thống đường Trường Sơn
đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Mỹ – Ngụy liên tục dùng máy bay, bộ binh, chất độc hóa học,…ngăn chặn khiến việc chi viện trở nên vô cùng nan giải Đến năm 1967, với bước phát triển mới của hợp đồng binh chủng bảo vệ các đoàn xe, xây dựng các tuyến đường tránh, đường nghi binh, vấn đề này mới được giải quyết Tuyến đường từ đây hoạt động ngày càng thông suốt, hiệu quả Đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh vẫn hiên ngang vươn tới các chiến trường
Đường mòn Hồ Chí Minh bao gồm hai con đường thủy, bộ Bên cạnh đường mòn Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, còn có đường mòn Hồ Chí Minh trên biển Đó là tên gọi của tuyến đường vận tải bí mật trên biển Đông, được thành lập ngày 23-10-1959 để vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam Ngày 27-1-1960, chuyến đi đầu tiên được thực hiện vào đêm ba mươi Tết Canh Tý
Trang 17Đường Hồ Chí Minh quanh năm có mây mù che phủ, do đó mặt đường đất luôn luôn ẩm ướt, trơn trượt rất khó khăn cho di chuyển bằng xe hoặc đi bộ khi leo và tuột dốc Hàng năm, mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 5, mưa như trút nước Tháng 7 thường có lũ lớn làm tắc nghẽn giao thông, đến cuối tháng
9 mới ngớt mưa, hết lũ Vào tháng 11 chuyển sang mùa khô kéo dài hơn 6 tháng Đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh là nơi có nhiệt độ thấp nhất, lượng mưa nhiều và độ bốc hơi it nhất
Đã hơn một thế hệ được sinh ra kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, con đường mang tên vị lãnh tụ của dân tộc này đang mở ra cánh cửa của vùng đất cao nguyên xa xôi ở miền Trung Việt Nam Một cựu chiến binh của Việt Nam cũng bày tỏ: “Con đường mòn này đã chở nhân tài vật lực cho sự nghiệp thống nhất đất nước, và giờ đây, đang giúp đưa Việt Nam tiến vào kỉ nguyên hiện đại”
1.2.2 Cuộc chiến đấu anh dũng của bộ đội và thanh niên xung phong mở đường
Đường Trường Sơn trong chiến tranh đã ôm trong đó biết bao nhiêu số phận của những ai đã từng đi qua, đã từng chiến đấu hi sinh và cả những người trở về Đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh, nơi đây ghi dấu chân của không biết bao chàng trai, cô gái đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Hàng vạn thanh niên xung phung đã được điều động để xây dựng trên tuyến đường này, nhiều thanh niên đã tình nguyện xông pha vào “cõi chết” vì bom Mỹ bỏ ngày đêm Với ý chí “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ” hơn 20 vạn bộ đội, thanh niên xung phong trong đó học sinh, thanh niên từ biệt thầy
cô, bạn bè, gia đình xung phong lên đường vào Nam, trên tuyến đường Trường Sơn đã quật cường chiến đấu cho đến ngày đất nước giải phóng
Trang 18Nhiệm vụ của thanh niên xung phong là đội quân công tác đặc biệt, cơ động thường trực 24/24 Có trên 60 loại công việc khác nhau như: cáng thương binh, vận chuyển đạn, đào hào công sự, hầm pháo, ngụy trang, bảo vệ đường dây thông tin,… Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thanh niên xung phong cùng bộ đội, dân công đã sửa chữa và mở rộng 3.300km đường, phá hàng nghìn quả bom nổ chậm, đảm bao giao thông tại 60 bến phà Đặc biệt trong chiến dịch Điên Biên Phủ, việc đảm bảo giao thông, mạch máu của chiến dịch được thông suốt có ý nghĩa góp phần quyết định thắng lợi của chiến dịch Với khẩu hiệu “thanh niên xung phong có thể hi sinh, nhưng quyết không để huyết mạch giao thông bị tắc”, nên cứ sau mỗi trận địch đánh phá, anh em trong đội thanh niên xung phong lại xông ra vừa phá bom nổ chậm, vừa san lấp hố bom khôi phục đường Trước những trận đánh, họ luôn luôn đi trước để mở đường, xây dựng chiến tuyến, rồi trực tiếp tham gia chiến đấu
Họ là những người đi trước về sau
Trở thành thanh niên xung phong giải phóng miền Nam, phần đông là các cô gái học sinh rời ghế nhà trường ở độ tuổi đôi mươi, không kiến thức quân sự, chưa một lần xa nhà Một người mẹ của nữ thanh niên xung phong nhớ như in ngày chị xin đi vào chiến trường: “Mẹ ở nhà nuôi em khôn lớn, con đi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, khi nào hết giặc con về với mẹ” Vì câu nói ấy mà người mẹ đã đợi suốt từng ấy năm trời, trong tim mẹ đứa con gái bé bỏng ấy vẫn còn sống ở đâu đó, có điều nó chưa về thôi Trong thời gian chiến tranh, vai trò của lực lượng thanh niên xung phong thể hiễn rõ hơn bao giờ hết Mặc dù gian lao, đói khổ nhưng chưa bao giờ các cô gái lùi bước Cái chết cận kề trước mắt nhưng họ vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ Tình yêu đất nước tha thiết, khao khát hòa bình làm động lực cho thanh niên xung phong và bộ đội Trường Sơn chiến đấu không ngừng nghỉ Chỉ bằng những
Trang 19vật dụng rất đỗi bình thường, thô sơ như: chiếc cào, những đôi quang gánh, chiếc thuổng,…mà bộ đội và thanh niên xung phong có thể làm nên một con đường dài hàng ngàn kilomet len lỏi giữa rừng già trong bom đạn chiến tranh, cho ra con đường huyền thoại đi cùng năm tháng
Nhắc đến thanh niên xung phong không thể không nhắc tới sự hi sinh của 10 cô gái tại Ngã ba Đồng Lộc khi họ mới mười tám, đôi mươi Với tinh thần xả thân quên mình hiên ngang trước mưa bom, bão đạn, các chị chính là biểu tượng của truyền thống chống giặc của Việt Nam anh dũng Trưa ngày 24-7-1968, 10 cô gái thanh niên xung phong đang làm nhiệm vụ, sau khi máy bay Mỹ liên tục ném bom phá nát tuyến đường vận tải Vào 16 giờ 30 phút, trân bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc Một quả bom rơi xuống ngay sát miệng hầm, nơi 10 cô gái của tiểu đội 4, Đại đội 552 đang tránh bom Tất cả các chị đã hi sinh mà vẫn chưa ai lập gia đình
Đi trên đường Trường Sơn hôm nay, khi ngoảnh đầu nhìn lại, và ở đó hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong “đứng bên đường, vai áo bạc quàng súng trường” vẫn in hằn trong nỗi nhớ, niềm thương Có thể nói hình ảnh người nữ thanh niên xung phong năm xưa đã góp phần dệt nên những trang sử hào hùng cho dân tộc Việt Nam Sự hi sinh thầm lặng của các cô đáng được ghi công và kính nể
Trong hàng ngũ của đội quân ra trận thấp thoáng những nụ cười của các
nữ thanh niên xung phong và các anh bộ đội 20.000 nụ cười đã vụt tắt Những nụ cười trước lúc hi sinh đã làm nên huyền thoại Trường Sơn Trường Sơn người cũ giờ này ở đâu? Câu hỏi ấy là câu nhắn tìm đồng đội Câu hỏi ấy cũng dành cho tất cả những ai từng một lần tới Trường Sơn nhưng trong sâu thẳm của trái tim vẫn dành một góc cho những người xẻ núi mở đường vào mặt trận ngày nào
Trang 201.3 Những tác phẩm văn hóa nghệ thuật viết về con đường Trường Sơn huyết mạch
Tại Việt Nam, trong thời kì chiến tranh khốc liệt xảy ra ở đường Trường Sơn, hàng ngàn bài báo, bài thơ, truyện ngắn, truyện dài, hàng chục
ca khúc nổi tiếng viết về con đường này Có rất nhiều nhà văn, sử gia, giáo
sư, tiến sĩ khoa học, nhà báo, nhân chủng học,… của phương Tây đã nói nhiều về con đường này Các nhà xuất bản lớn trên thế giới đã phát hành hàng trăm tác phẩm nói về cuộc chiến tranh Việt Nam với con đường mòn huyền thoại Ca ngợi sức chiến đấu kiên cường, bền bỉ quyết giành thắng lợi của quân và dân Việt Nam
Trong những năm chiến tranh và cả trong thời kì hậu chiến, đường Trường Sơn là chủ đề cho rất nhiều tác phẩm âm nhạc và văn học Nhiều nhà thơ, nhà văn cũng đã là người lính Trường Sơn
Văn xuôi:
- Những ngôi sao xa xôi (1971) – Lê Minh Khuê
- Kể chuyện 12 con giáp Trường Sơn – Trọng Khoát
- Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc
Thơ:
- Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật
- Lá đỏ – Nguyễn Đình Thi
- Theo chân Bác – Tố Hữu
- Trận địa chiều nay – Trọng Khoát
- Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây – Phạm Tiến Duật
- Trường Sơn – Nguyễn Quang Huy
- Khát vọng Trường Sơn – Nguyễn Hữu Quý
Trang 21 Điện ảnh:
- Phim “Sinh mệnh”, đạo diễn Đào Duy Phúc
- Phim “Trở lại Trường Sơn huyền thoại”, đạo diễn Việt Bình
Làm nên huyền thoại Trường Sơn, ngoài những con người thầm lặng đóng góp hết sức mình cho những chuyến hàng, những đoàn quân ra mặt trận không thể không nhắc đến những giai điệu Trường Sơn – những bài hát đi cùng năm tháng đã góp thêm sức mạnh nâng bước quân hành cho các chiến sĩ của ta
Âm nhạc:
- Cô gái mở đường (1966) – nhạc và lời Xuân Giao
- Bước chân trên dải Trường Sơn (1967) – nhạc Vũ Trọng Hối, lời thơ Đăng Thục
- Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây (1971) – nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Phạm Tiến Duật
- Bài ca Trường Sơn (1966) – nhạc Trần Chung, lời thơ Gia Dũng
- Đường Trường Sơn xe anh qua (1971) – nhạc Văn Dung
- Đêm Trường Sơn nhớ Bác (1974) – nhạc Trần Chung, lời thơ Nguyễn Trung Thu
- Lá đỏ – nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Nguyễn Đình Thi
- Chiếc gậy Trường Sơn (1967) – nhạc và lời Phạm Tuyên
- Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (1971) – nhạc và lời Huy Du
Nhạc sỹ Đào Hữu Thi cũng từng là chiến sĩ phục vụ cho quân đội nhiều năm, đã từng cầm súng chiến đấu ở nhiều chiến trường, nhưng để lại những dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm trí ông vẫn là Trường Sơn, là đường mòn Hồ Chí Minh Ông đã trở thành một nhân chứng sống của lịch sử, của chiến tranh Ông đã từng tham gia chiến đấu, nếm trải trăm ngàn khó khăn, gian
Trang 22khổ, thiếu thốn nơi chiến trường, cũng như cảm nhận được sự ấm áp của tình người, tình đồng đội, cảm nhận sự ác liệt của chiến tranh và những đau thương mất mát
Chiến tranh đã qua đi, dấu ấn của nó để lại trên mảnh đất này, trên từng ngôi nhà, từng thửa ruộng, trên thân thể của biết bao con người Những vết thương đó theo thời gian có thể nguôi ngoai, có thể lành lặn lại nhưng những vết thương lòng thì khó có thể hàn gắn được Và nhạc sỹ của chúng ta là thế đấy Chiến tranh qua rồi mà tình người còn đó Để rồi từ những tình cảm ấy trào dâng thành những dòng nhạc nóng hổi, chất chứa biết bao nỗi niềm Đó
là những ca khúc bất hủ về Trường Sơn như: “ Viết tiếp bản hùng ca Trường Sơn ”, “ Đường Trường Sơn trăm ngả ”, “ Niềm vui em đón xe qua ”, “ Tình
em gửi trọn con đường ”,…
Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đường Hồ Chí Minh đã trở thành một huyền thoại được truyền tụng khắp thế giới Đường Hồ Chí Minh xuyên qua dãy Trường Sơn hũng vĩ và nối liền Bắc – Nam là công trình trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc Hình ảnh những chiến sĩ Trường Sơn hồn nhiên, tươi trẻ trên tuyến lửa anh hùng trong cuộc kháng chiến chẳng ngại đạn bom, vượt lên sự hi sinh, mất mát, gian khổ ngày đêm bám đường,
mở lối cho các đoàn xe ra tiền tuyến Tuyến chi viện cho chiến lược này đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra một trang sử vẻ vang mới cho dân tộc Việt Nam Những bài ca viết về Trường Sơn là bản hùng ca đất nước, dân tộc, con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nó đã để lại một dấu son lịch sử
Ai đã hành quân qua Trường Sơn, ai đã đánh giặc ở Trường Sơn càng thấy giá trị hơn bao giờ hết
Trang 23Chương 2 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG NHỮNG TÁC PHẨM ÂM NHẠC VIẾT VỀ TRƯỜNG SƠN CỦA NHẠC SỸ ĐÀO HỮU THI
2.1 Khái quát thân thế và sự nghiệp âm nhạc của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
2.1.1 Đôi nét về nhạc sỹ Đào Hữu Thi
Nhạc sỹ Đào Hữu Thi sinh ngày 11-7-1944 tại làng Tình Quang, xã Giang Biên, huyện Gia Lâm; trước năm 1960 thuộc tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội Nơi đây vốn xưa thuộc xứ Kinh Bắc, một làng quê trải dài, thoai thoải bên bờ sông Đuống, cách cầu Đuống về phía hạ lưu đúng một cây số Một miền quê đã thắm sắc những làn điệu dân ca quan
họ nồng nàn, tha thiết; những cánh đồng thẳng tắp cánh cò bay, chiều chiều những con diều chao nghiêng trong gió thỏa sức chơi đùa trên bầu trời bao la, rộng lớn Nơi của bạt ngàn những đền chùa, miếu mạo cổ kính, rêu phong như Chùa Râu, Bút Tháp, Con sông quê, đồng lúa, vườn chuối, bãi ngô là những sản phẩm quê hương đã nuôi ông lớn lên và đọng lại một tâm hồn thật chân quê, mộc mạc Tất cả những cảnh vật, âm thanh xao xuyến ấy đã làm nên những giai điệu dân ca sâu nặng tình người Tuổi thơ của nhạc sỹ Đào Hữu Thi đã tắm mình trong những khúc dân ca ngọt ngào ấy
Tuổi thơ của nhạc sỹ qua đi với tiếng sáo diều vi vu ven đê, những đêm trăng sáng vui chơi trên sông Đuống Ngay từ thuở nhỏ, Đào Hữu Thi đã rất yêu thích âm nhạc Ông tự học nhạc và đã sáng tác được vài bài hát dễ hát cùng bạn bè Nhưng khi lớn lên, ông trở thành thầy giáo dạy văn ở trường phổ thông Năm 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta bước vào thời kỳ gian khổ và khốc liệt Theo tiếng gọi của con tim, Đào Hữu Thi tình nguyện tham gia quân đội Tạm chia tay với nghề dạy học, chàng thanh niên trai trẻ sẵn sàng lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Trang 24Từ Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân ở Trung đoàn tên lửa 285 và Sư đoàn 363 đóng tại Hải Phòng, ông được vinh dự cùng hai tiểu đoàn tên lửa đầu tiên vào chiến trường miền Nam 3 năm sống và chiến đấu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ trên vùng trời thành phố cảng Hải phòng, những trận chiến đấu ác liệt, tình cảm quân dân sâu nặng cùng với những kỉ niệm vui buồn ông đã sáng tác các ca khúc: An Dương quê tôi, Hải Phòng quê hương tôi, Tình người An Dương viết về thành phố Hải Phòng Đến năm 1969, hành quân vào Nam chiến đấu, với ý chí chung duy nhất lúc bấy giờ: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Khi Đào Hữu Thi được điều động về Đoàn Văn công cung kích Sư đoàn 473 và sau đó tham gia vào bộ phận sáng tác của Đoàn Văn công Trường Sơn, thì những gì đã trở thành ấn tượng xao động khó quên ẩn giấu trong suy cảm của bản thân, liền có dịp bộc hiện trong các bài hát đầu tay nơi chiến trường của anh: Em là cô gái Trường Sơn, Tình em gửi trọn con đường, Những mùa trăng chờ mong, Đường Trường Sơn trăm ngả,… lần lượt được vang lên từ những cảm xúc âm thanh tràn ngập tình yêu người chiến sĩ Từ bước ngoặt đó, ông cho ra đời hàng trăm ca khúc về Trường Sơn
Đất nước thống nhất, ông từ chiến trường trở về thi vào Khoa Sáng tác Nhạc viện Hà Nội vào tháng 4 năm 1976 Năm 1983, sau khi tốt nghiệp Đại học Khoa Sáng tác Nhạc viện Hà Nội, ông tiếp tục về công tác tại Binh đoàn Trường Sơn phụ trách công tác văn hóa,văn nghệ Năm 1988, ông chuyển ngành về làm Chủ nhiệm Khoa Âm nhạc, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Trong những năm qua, dù bước qua tuổi 70, nhưng nhạc sỹ Đào Hữu Thi vẫn giữ cho mình hình ảnh một người chiến sỹ không tuổi, năng động, chân thành, khỏe khoắn, sáng tác không ngơi nghỉ Ông thấy mình vẫn đúng
Trang 25chất anh bộ đội, ngay cả khi lên giảng đường Đại học Văn hóa giảng bài Sinh viên của ông, sau tốt nghiệp cả chục năm vẫn nói về ông với lòng kính trọng, biết ơn tới người thầy tận tâm, tận lực Nhạc sỹ không cho rằng mình đến tuổi nghỉ ngơi Ông hàng ngày vẫn đi dạy học, đi thực tế, đi sáng tác Ông sẽ làm việc hăng hái cho đến khi nào không thể ra khỏi giường mới thôi Bởi vì ông làm việc là niềm vui, chứ không là gánh nặng
Lớn lên trong thời kì Cách mạng, khi cuộc sống còn khó khăn, thiếu thốn nhưng không vì thế mà nhạc sỹ Đào Hữu Thi nản lòng Tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc sâu sắc đã trở thành sức mạnh để ông vượt mọi gian khổ
Cả tuổi trẻ ông hi sinh vì đất nước, phấn đấu theo lý tưởng Cách mạng, tư tưởng tiến bộ Ngôi làng mà ông lớn lên mọi người sống vì nhau, chan hòa và rất tình cảm Con đê đã dẫn chúng tôi đến nhà riêng của nhạc sỹ Ngôi nhà và cảnh quan nơi ông sống đúng là không gian lý tưởng nhất cho bất kỳ người nghệ sỹ nào làm công việc sáng tác nghệ thuật, một không gian rất yên bình
và thơ mộng Nhạc sỹ đã giúp người nghe sống lại những kí ức Trường Sơn vừa bi tráng, vừa hào hùng
2.1.2 Sự nghiệp sáng tác của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
2.1.2.1 Những tác phẩm âm nhạc của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
Với số lượng hơn 200 bài hát đã sáng tác về đề tài mùa xuân, người lính, tình yêu đất nước,… thì phần nhiều tác phẩm của nhạc sỹ là những bài
ca về Trường Sơn Những ca khúc của ông đều rất hay và ý nghĩa Tuy sáng tác nhiều ca khúc với đề tài khác nhau nhưng không bài nào giống bài nào, mỗi bài hát của ông đều mang âm hưởng và phong thái khác nhau Khi nghe các tác phẩm của ông sáng tác, người nghe cảm thấy rất thích thú và lôi cuốn, ca từ phong phú, độc đáo và mới lạ làm nên thương hiệu nhạc sỹ Đào Hữu Thi
Trang 26Đề tài về người lính:
Trang 27Đề tài về Đất nước – tình yêu:
17 Hàng chò nâu trên đại lộ Hùng Vương 2005
2.1.2.2 Những tác phẩm khí nhạc, ca khúc, hợp xướng tiêu biểu
* Khí nhạc
1 Giao hưởng thơ “ Huyền thoại Trường Sơn ”
2 Bản biến tấu “ Hương bốn mùa ”
Trang 283 Bản Fantasie “ Đồng đội ”
4 Bản Fantasie “ Nhớ về Trường Sơn ”
5 Giao hưởng “ Khoảnh khắc Trung du ”
6 Bản Fantasie “ Huyền thoại con đường ”
7 Bản biến tấu “ Chuyện tình núi đôi ”
8 Bản Sonatta “ Bản tình ca người lính ”
* Ca khúc
1 Mái trường em yêu
2 Lời thế sắt son
3 Nhớ mãi một chiều thu
4 Niềm vui em đón xe qua
5 Nỗi nhớ cựu chiến binh
* Hợp xướng
1 Anh Văn của đồng đội
2 Huyền thoại Trường Sơn
3 Viết tiếp bản hùng ca Trường Sơn
2.1.2.3 Biên soạn và xuất bản các tập nhạc
1 Bài ca Trường Sơn (1999)
2 Hát mãi với Trường Sơn (2001)
3 Tuyển tập ca khúc: Những mùa trăng chờ mong
4 Phim ca nhạc: “ Ký ức Trường Sơn ” Nhà xuất bản Âm nhạc 2001
5 Xuất bản tuyển tập ca khúc chọn lọc: “ Trường Sơn – những dấu chân huyền thoại ” (2-2007)
Trang 292.1.2.4 Các giải thưởng âm nhạc
1 Thanh nhạc:
Nỗi nhớ cựu chiến binh - Hội nhạc sỹ Việt Nam 1998
Nhớ mãi một chiều thu - Hội nhạc sỹ Việt Nam 2003
Mái trường em yêu - Hội nhạc sỹ Việt Nam 2005
Những ngôi sao trong lòng đất - Năm âm nhạc Quảng Ninh 2005
Khúc quân hành chiến sĩ văn hóa - Bộ Văn hóa thông tin
Nỗi nhớ bài ca xanh - Môi trường
Tiếng hát trên đồng mía - Bộ Nông nghiệp
Kỷ niệm mái trường - Hội nhạc sỹ Việt Nam 2003
2 Khí nhạc:
Biến tấu “ Hương bốn mùa ” Hội Nhạc sỹ Việt Nam 1998
Fantaisie “ Nhớ về Trường Sơn ” Hội nhạc sỹ Việt Nam 1999
Biến tấu “ Đồng đội ” Giải thưởng văn học nghệ thuật Bộ Quốc phòng 1994-1999
Hòa tấu “ Con đường huyền thoại ” Giải thưởng văn học nghệ thuật
Bộ Quốc phòng 1999-2004
Bằng khen “ Nhạc sỹ của Trường Sơn ” Bộ Tư lệnh Binh đoàn 2004
Giao hưởng “ Chuyện tình Núi Đôi ” Giải thưởng Văn học nghệ thuật
Bộ Quốc phòng 1999-2004
Nhạc sỹ Đào Hữu Thi nếu bạn bắt gặp ông dù chỉ một lần cũng có thể cảm nhận được con người dung dị, cởi mở với nụ cười thường trực và đôi mắt biết nói Nhưng ẩn sau nụ cười ấy, ánh mắt ấy, không chỉ có vậy Ở tận sâu thẳm trong tâm hồn ông là cả một ký ức oanh liệt nhưng cũng đầy đau thương của chiến tranh, của những ngày gian khổ Một ký ức mà cả tuổi thanh xuân của ông đã trải qua
Trang 302.2 Những giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm âm nhạc viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi
2.2.1 Giá trị lịch sử
Đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh, con đường nối liền đau thương do chiến tranh để lại, chính có con đường đó mà mạch lưới giao thông trong thời chiến tranh mới có thể thông được Cũng chính vì con đường đó đất nước chúng ta mới có thể thống nhất, hòa bình, phát triển như ngày hôm nay Đất nước ta có rất nhiều con đường nhưng con đường mang cái tên đẹp nhất,
ý nghĩa nhất và có lịch sử hào hùng nhất chính là con đường này Lúc đó lịch
sử đất nước khi bị chia cắt hai miền đất nước do đế quốc Mỹ xâm lược; miền Bắc đã giành được chính quyền và tiến lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội nhưng
ở miền Nam thì còn đang bị bon đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền chiếm giữ và nắm chính quyền, nhân dân miền Nam gặp muôn vàn khó khăn Lúc đó chúng ta phải vận chuyển lương thực, thuốc men, đạn dược và con người vào trong miền Nam để tiến hành cuộc kháng chiến giành lại độc lập, thống nhất dân tộc Con đường Hồ Chí Minh đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam và đi vào thơ ca Việt Nam
Có thể nói hiếm có con đường nào mà sự ra đời và tồn tại của nó lại gắn liền với vận mệnh dân tộc như đường mòn Hồ Chí Minh Con đường ấy chạy dọc theo dãy Trường Sơn của đất nước để làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình Giờ đây con đường lịch sử – con đường huyền thoại ấy chỉ con trong quá khứ, trong tâm hồn của những người đã sinh tử cùng với nó Con đường ấy ngay từ lúc sinh ra đã mang trên mình nó những tổn thất hi sinh của cả một dân tộc, đã góp phần làm nên những bản hùng ca của đất nước Cho nên nó vẫn mãi còn trong những trang sử bi tráng của dân tộc Người đời vẫn nhớ và mãi còn viết
về nó vì nó là biểu tượng của những năm tháng không thể nào quên
Lịch sử thì chỉ có một, không bao giờ lặp lại Những người con đã hy sinh, ngã xuống nới chiến trường cũng không bao giờ trở về Đó là một sự đau thương , mất mát lớn đối với người thân nói riêng và đối với đất nước nói chung
Trang 31Trong bom đạn khốc liệt của chiến tranh, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo đã vượt Trường Sơn tỏa đi các chiến trường miền Nam để có những tác phẩm đỉnh cao của văn nghệ cách mạng Nhiều nghệ sĩ đã hòa mình vào bom đạn để cống hiến nghệ thuật cho nước nhà
Những ca khúc về Trường Sơn đã khảm khắc vào người yêu nhạc ấn tượng sâu đậm về một Trường Sơn, về những con người không tiếc tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng đất nước Khúc ca Trường Sơn là một tài sản quý giá, một sự đóng góp không nhỏ của các nhạc sỹ đối với kho tàng âm nhạc Việt Nam Là nguồn động viên khích lệ to lớn đến sức mạnh thần tốc của cuộc kháng chiến, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Các tác phẩm viết về Trường Sơn của nhạc sỹ Đào Hữu Thi hầu như được ông sáng tác đúng lúc cuộc chiến giữa ta và địch đang đến hồi cam go ác liệt nhất Khi chứng kiến cảnh đồng đội khiêng về gần 20 cô gái bị thương, máu me bầm dập thì ông đã không kìm nén được cảm xúc mà đặt bút sáng tác bài “Tình
em gửi trọn con đường” Tác giả là nhân chứng, chứng kiến các cuộc chiến tranh khốc liệt để rồi trải lòng mình vào những bài hát chân thực, xúc động nhất Bản thân ông cũng là một người lính nên ông có thể hiểu được sự gian khổ, mất mát
mà các chiến sĩ phải trải qua Bao nhiêu năm sống trong quân ngũ, chưa bao giờ ông ngừng nghĩ đến họ, những người lặng lẽ hi sinh cho chúng ta cuộc sống hôm nay Với nhạc sỹ Đào Hữu Thi thì tình yêu là hai chữ vô cùng thiêng liêng và đẹp đẽ; và nhất là tình yêu đối với Tổ quốc thì không có gì sánh bằng “Em là cô gái Trường Sơn” là ca khúc thể hiện sự hồn nhiên, lạc quan của các cô gái vượt dãy núi Trường Sơn vào trong chiến trường lo từng cái ăn, cái mặc cho các chiến
sĩ của chúng ta vững tâm chiến đấu diệt hết quân thù, bảo vệ đất nước Các cô người là nuôi quân, người là quân y và người luôn lo đường dây thông tin luôn được thông suốt Không quản khó khăn, vất vả, các cô luôn phục vụ chu đáo cho chiến sĩ để yên lòng chiến đấu Vẻ đẹp của các cô không phải vẻ đẹp về thể xác, đẹp ở đây là cái đẹp về tâm hồn, vẻ đẹp ẩn chứa bên trong của mỗi người Các
Trang 32cô là đại diện cho lớp người đi trước mà thế hệ mai sau phải noi theo Tác giả đã nói lên được đức tính đáng quý của người con gái Việt Nam: cần cù, anh dũng, trung hậu, đảm đang Trong tác phẩm “Đường Trường Sơn trăm ngả” thì tên của tác phẩm đã nói lên được hiện thực vốn có của đường trường Trường Sơn huyền thoại Con đường Trường Sơn với hàng trăm ngã rẽ, hàng trăm lối nhỏ, là nơi xảy ra nhiều cuộc chiến tranh ác liệt nhất, là nơi bao người chiến sĩ đã hy sinh xương máu của mình vì một ngày mai độc lập dân tộc Mặc dù ngày đêm bom đạn chắn lối, những người chiến sĩ vẫn ra chiến trường vì miền Nam yêu dấu, ruột thịt Miền Nam là tiếng gọi thiêng liêng, là mệnh lệnh trong trái tim của mỗi người chiến sĩ
Với tiếng lòng của người lính, nhạc sỹ Đào Hữu Thi đã bộc bạch hết tình cảm của mình về Trường Sơn, nơi ghi dấu ấn của không biết bao nhiêu chàng trai, cô gái mới tuổi đôi mươi trên mảnh đất này Những người đã sống chiến đấu và hi sinh trên chiến trường khốc liệt để bảo vệ cho Tổ quốc thân yêu Tác phẩm của ông nói lên cái hiện thực xảy ra lúc bấy giờ và cũng là tiếng lòng của những người chiến sĩ ở thời điểm đó Những tác phẩm đó sẽ là những tác phẩm oanh liệt, hào hùng đi cùng năm tháng và không phai nhòa trong lòng người nghe nhạc
2.2.2 Giá trị về nghệ thuật âm nhạc
2.2.2.1 Cấu trúc âm nhạc
Ca khúc “Những dấu chân huyền thoại” được viết ở giọng dmoll, nhịp hình thức 3 đoạn đơn không tái hiện với sơ đồ cấu trúc tổng quát như sau: abc coda
Trang 33Đoạn a được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
Trang 34Đoạn b được viết ở dạng đoạn nhạc 3 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
Intro a nối b a’
Đoạn mở đầu Intro 11 nhịp
Đoạn a được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
a
Đoạn nối tiếp 8 nhịp
c1 (4 nhịp) T/Cdur c2 (4 nhịp) S/Cdur c3 (5 nhịp) S/Cdur
c1 (4 nhịp) T/Cdur c2 (4 nhịp) S/Cdur c3 (5 nhịp) S/Cdur c4 (5 nhịp) T/Cdur
c1 (10 nhịp) D/Esdur
c2 (6 nhịp) t/cmolldur
Trang 35Đoạn b được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
Đoạn a được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
Trang 36Đoạn c được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại:
c
2.2.2.2 Giá trị về giai điệu
Nhạc sỹ Đào Hữu Thi được sinh trưởng bên bờ sông Đuống, một miền quê đã thắm sắc những làn điệu dân ca quan họ nồng nàn Tất cả những cảnh vật, âm thanh ấy đã làm nên những làn điệu dân ca sâu nặng tình người Để khi trở thành nhạc sỹ, những ẩm hưởng ngọt ngào đó đã được đi vào từng giai điệu lúc nào không hay Ở ca khúc của ông, âm điệu dân ca thấm đẫm vào trong giai điệu làm ca khúc trở nên mượt mà, đằm thắm; đôi lúc thôi thúc ngọn lửa chiến đấu vượt lên sự đau thương, mất mát
Ca khúc “Đường Trường Sơn trăm ngả” được viết ở giọng Esdur (Mi giáng trưởng) nhịp , hình thức 2 đoạn đơn tái hiện với sơ đồ tổng quát như sau:
Intro a nối b a’
Mở đầu ca khúc là intro với độ dài 11 nhịp kết trên bậc I của giọng c-moll
Ngay từ đầu ca khúc tác giả đã dẫn giải về những lý do để vượt qua dãy núi Trường Sơn Vì nghe theo lời Bác dạy, nghe theo con tim mách bảo mà các chiến sĩ không ngại nguy nan, vất vả lên đường đi cứu nước Dù có bao
c1 (4 nhịp) SII/Ddur
c2 (4 nhịp) D-T/Ddur
Trang 37khó khăn, dù bom đạn của kẻ thù trút xuống ngày đêm, nhưng với ý thức của một người lính, người dân đất Việt mà các chiến sĩ của chúng ta đã không ngần ngại mở những con đường để quân ta tiến bước vào chiến trường xa Lời
ca tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa đã làm nổi bật lên ca khúc
Âm vực phần intro có vẻ bị hạn chế do tác giả muốn tạo một cảm giác
bí ẩn gì đó trước khi mở ra trong phần sau chăng? Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa trong phần intro tính chất sôi nổi, lạc quan, hào hùng cũng đã được khắc họa khá rõ nét Tuy bị hạn chế bởi âm vực nhưng với việc sử dụng các bước
đi liền bậc theo hình làn sóng đi lên rồi lại đi xuống kết hợp với âm hình tiết tấu có độ nhấn như: tiết tấu đảo phách, tiết tấu móc giật làm thành tiết tấu chủ đạo của tác phẩm Những tiết tấu này rất phù hợp để diễn tả những sắc thái cảm xúc hào hùng như thế
Một sự kết hợp tài tình giữa lời ca, giai điệu và tiết tấu Tác giả đã khéo léo sử dụng tính chất nhấn lệch của âm hình tiết tấu đảo phách để tạo tính sôi nổi, hào hùng cho ca khúc Ngoài tiết tấu đảo phách còn có âm hình tiết tấu móc giật càng làm tăng tính sôi nổi, lạc quan cho ca khúc Lạc quan về một tương lai tươi sáng, về một cuộc chiến kết thúc thắng lợi Tuy trải qua bao gian khổ nhưng các chiến sĩ không bao giờ lùi bước Bên cạnh những bước đi liền bậc, tác giả cũng khéo léo với việc đan xen các bước nhảy quãng xa và ngay sau đó là các bước phẩn hồi tạo sự cân đối, hài hòa cũng như góp phần
mở rộng âm vực
Trang 38Ca khúc được viết ở giọng Esdur nhưng trong phần intro tác giả lại kết trọn trên bậc I của c-moll là giọng có quan hệ song song với giọng gốc
Đoạn a được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại (x,y)
Câu 1(x) gồm 10 nhịp kết trên bậc V của Esdur
Âm vực giữa phần intro và câu 1 của đoạn a là một sự tương phản rõ rệt khi trong phần intro là âm khu trung trầm nhưng tới đây âm khu đã được đẩy lên khá cao Vẫn là sự khéo léo trong việc đan xen sử dụng các bước đi liền bậc, bình ổn và bước nhảy theo hình lượn sóng; nhạc sỹ Đào Hữu Thi đã làm tăng thêm tính sinh động cho ca khúc, không bị gò bó, gò
ép vào trong khuôn khổ mà đã phần nào thoát ra khỏi khuôn khổ đó Tính chất nhịp đi trong ca khúc còn được nhấn mạnh hơn nữa khi tác giả sử dụng bước nhảy quãng 4(C-G,…) Bước nhảy này khá phổ biến và được rất nhiều nhạc sỹ sử dụng trong các cuộc kháng chiến vì tính chất dứt khoát, hào hùng được thể hiện trong nó Có thể kể ra đây những ca khúc tiêu biểu trong việc sử dụng các giai điệu có bước nhảy quãng 4 như: “Cùng nhau đi hồng binh”, “Quốc ca”,…
Tiết tấu vẫn là 2 âm hình chủ đạo: đảo phách và móc giật lấy từ phần intro tạo sự uyển chuyển, nhịp nhàng
Câu 1 đoạn a kết trên bậc V của điệu tính chính là sự gợi mở cho sự xuất hiện của câu 2
Câu 2 (y) gồm 6 nhịp kết trên bậc I của c-moll
Trang 39Giai điệu lại một lần nữa được đẩy xuống ở âm khu trung trầm tạo sự tương phản với câu 1 Vẫn với âm hình tiết tấu đảo phách và móc giật, tuy nhiên ý nhạc như được chậm dần lại để chuẩn bị đưa về kết trên bậc I của c-moll Và một lần nữa tác giả không đưa về kết trên điệu tính chính mà kết trên điệu tính chuyển đến có quan hệ họ hàng gần (giọng song song) với giọng gốc tạo kết mở để dẫn nhập vào phần tiếp theo
Phần nối tiếp gồm 8 nhịp kết trên bậc I của c-moll
Lời ca thật giản dị và đầy tinh thần tri ân với vị lãnh tụ của dân tộc Những người lính đứng trên đỉnh Trường Sơn hát vang bài ca, ca ngợi Hồ Chí Minh, ca ngợi con đường mang tên Bác dẫn “ta” tới chiến trường Âm nhạc ở đây có phần trở nên tha thiết,thi vị, mềm mại Không còn đó những âm hình tiết tấu thể hiện sự mạnh mẽ mà thay vào đó là âm hình tiết tấu đều đặn Tác giả đã khéo léo thay đổi tính chất âm nhạc của ca khúc, đang từ những âm hưởng khỏe khoắn, sôi nổi, tác giả chuyển hẳn sang sự nhẹ nhàng, tha thiết đến bất ngờ Ngay trong ca khúc tác giả cũng đề Cantabile tức là hát không có nhạc cụ đi kèm Mục đích của tác giả ở đây muốn để cho ca sĩ ngân tự do, hát theo cảm xúc của mình Và tác giả cũng muốn người hát có thể dễ dàng hơn trong việc biểu diễn ca khúc
Đoạn b được viết ở dạng đoạn nhạc 2 câu với lối cấu trúc không nhắc lại (z,w)
Câu 1 (z) gồm 8 nhịp kết trên bậc I của c-moll