1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Then bắc cầu xin hoa của người tày ở xã an lạc huyện sơn động tỉnh bắc giang

98 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người con dân tộc Tày sinh ra và lớn lên tại xã An Lạc huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, bản thân người viết cũng tự ý thức được rằng Then Bắc cầu xin hoa là một nét văn hóa tín ngưỡng t

Trang 1

Khoa v¨n ho¸ d©n téc thiÓu sè

Sinh viªn thùc hiÖn   : VI THỊ THUỶ

Gi¶ng viªn h−íng dÉn  : TH.S ĐỖ THỊ KIỀU NGA

Hμ Néi - 2014 

Trang 2

Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu số Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - ThS Đỗ Thị Kiều Nga - người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, UBND xã An Lạc, các nghệ nhân hát Then cùng tất các các anh chị em bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu và thu thập tài liệu tại địa phương

Do thời gian cũng như kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận được đầy đủ và hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Vi Thị Thủy

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, địa bàn nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục đề tài 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ AN LẠC, HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG 6

1.1 Đặc điểm địa bàn cư trú 6

1.1.1 Vị trí địa lí 6

1.1.2 Địa hình và khí hậu 7

1.1.3 Đất đai và sông ngòi 7

1.1.4.Tài nguyên thiên nhiên 8

1.2 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư 8

1.3 Tập quán mưu sinh 9

1.4 Xã hội truyền thống 9

1.5 Đặc điểm văn hóa 11

1.5.1 Văn hóa vật thể 11

1.5.2 Văn hóa phi vật thể 16

CHƯƠNG 2: THEN BẮC CẦU XIN HOA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ AN LẠC 22

2.1 Khái quát về Then của người Tày 22

2.1.1 Quan niệm về Then 22

2.1.2 Các loại hình của Then 24

2.2 Một số đặc điểm Then bắc cầu xin hoa của người Tày ở xã An Lạc 28

2.2.1 Nguồn gốc và mục đích của Then bắc cầu xin hoa 28

Trang 4

2.2.4 Các yếu tố bổ trợ trong Then 33

2.2.5 Nghi thức làm Then 43

CHƯƠNG 3: THEN BẮC CẦU XIN HOA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ AN LẠC HIỆN NAY 51

3.1 Những giá trị văn hóa của Then 51

3.1.1 Phản ánh thế giới tâm linh của người Tày 51

3.1.2 Nghệ thuật của Then bắc cầu xin hoa 52

3.1.3 Phản ánh các truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Tày 53

3.2 Thực trạng biến đổi của Then bắc cầu xin hoa hiện nay 54

3.3 Nguyên nhân biến đổi 60

3.4 Một số biện pháp bảo tồn và phát huy 63

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 690

PHỤ LỤC 701

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã An Lạc huyện Sơn Động là một xã vùng núi nằm ở phía đông bắc của tỉnh Bắc Giang, nơi đây có sự tập chung cư trú của các dân tộc anh em như Tày, Nùng, Sán Chay, Cao Lan Trong đó mỗi dân tộc lại mang một đặc điểm văn hóa riêng, với phong tục tập quán khác nhau nhưng tất cả đều sống gắn bó và đoàn kết với nhau tạo nên một vùng đất giàu truyền thống văn hóa Và hát Then là một nét văn hóa dân gian tiêu biểu đại diện cho di sản văn hóa phi vật thể của người Tày nói chung, người Tày

ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang nói riêng

Xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang có số người Tày cư trú chiếm 64% so với các dân tộc khác Chính vì vậy văn hóa Tày ở nơi đây đã trở thành chủ đạo và có sự ảnh hưởng tới văn hóa của các dân tộc láng giềng

Và nói đến sự ảnh hưởng đó không thể không nói đến Then Trong các loại hình sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày thì hát Then chiếm số lượng lớn và đạt đến trình độ nghệ thuật cao nhất Hát Then thường được dùng trong các dịp lễ tết, lễ nghi gia đình và các nghi lễ vòng đời của con người

Trong nhiều năm qua, trải qua quá trình thăng trầm của lịch sử người Tày ở Bắc giang nói chung, người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động nói riêng luôn tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của mình, trong đó có hát Then Đồng bào luôn yêu thích hát Then vì nó đã gắn bó với phong tục tập quán dân dã, thờ cúng tổ tiên và các vị thần, diệt trừ những điềm xấu, mang điều may mắn đến với cuộc sống, đem lại cho đồng bào những lời ca, tiếng hát hay Hình ảnh những ông Then, bà Then cầm chiếc đàn tính trên tay làm

lễ là một hình ảnh độc đáo và mang tính đặc trưng được biểu hiện qua các nghi lễ Then Có thể nói, Then là một loại hình nghệ thuật, một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đã có từ rất lâu đời và được quần chúng nhân dân ưa

Trang 6

thích, không chỉ vậy Then còn là hình thức cúng bái có nguồn gốc bản địa và

có ảnh hưởng nhiều mặt tới cuộc sống của người dân Tày hiện nay Có một thời gian dài Then đã bị coi là một loại thực hành nghề mê tín và các thầy Then cũng bị cấm hành nghề Điều đó đã tạo nên sự lúng túng và mâu thuẫn trong sự nhận thức của các nhà quản lý trong việc xác định vai trò và hạn chế của Then Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc Then đang ngày càng bị mất dần ở một số địa phương Các nghệ nhân hát Then cũng ngày càng ít và một số nghi thức Then đã không còn phổ biến, trong đó có Then bắc cầu xin hoa

Then bắc cầu xin hoa góp phần làm cho đời sống tinh thần ngày càng phong phú, lành mạnh và có khả năng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của bà con dân tộc Tày ở xã An Lạc huyện Sơn Động nói riêng và đồng bào các dân tộc nói chung

Là người con dân tộc Tày sinh ra và lớn lên tại xã An Lạc huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang, bản thân người viết cũng tự ý thức được rằng Then Bắc cầu xin hoa là một nét văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của bà con dân tộc nơi đây, cần phải giữ gìn, phát huy và truyền dạy cho các thế hệ mai sau

Và cuối cùng là sự ham mê với mong muốn tìm hiểu về Then một trong những bản sắc văn hóa đặc trưng tiêu biểu của dân tộc mình nên người viết đã chọn đề tài: “Then bắc cầu xin hoa của người Tày ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” làm khóa luận tốt nghiệp đại học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dân tộc Tày là một trong những dân tộc có nguồn gốc lịch sử khá lâu đời ở nước ta vì vậy người Tày có nền văn hóa rất đa dạng và đặc trưng Hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về người Tày cũng như văn hóa của người Tày như:

Lã Văn Lô, Hà Văn Thư (1984) Văn hóa Tày Nùng, Nhà xuất bản Văn hóa

Trang 7

Bế Văn Đảng (1992) Các dân tộc Tày Nùng, Nhà xuất bản khoa học xã hội

Vũ Ngọc Khánh (1997) Văn hóa tín ngưỡng Tày Nùng, Viện Văn hóa

dân gian Việt Nam

Nịnh Văn Độ (2003) Văn hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán

Dìu ở Tuyên Quang, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc

Then là loại hình sinh hoạt tín ngưỡng dân gian phổ biến của người Tày và là hình thức diễn xướng dân tộc có từ ngàn xưa Then mang một giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc cần được sưu tập tìm hiểu nhiều hơn để bảo tồn và phát huy

Việc nghiên cứu về Then Tày ở Việt Nam trước đây đã được nhiều nhà khoa học thực hiện Trong mọi mặt đời sống của đồng bào Tày như các giá trị vật chất, giá trị tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng đã được không ít nhà khoa học tìm hiểu và nghiên cứu Trong đó cũng đã có không ít các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu về một lĩnh vực nào đó trong đời sống của người Tày

Đối với Then Tày, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu như nhà

nghiên cứu Triều Ân đã có tác phẩm “Then Tày- những khúc hát” xuất bản năm 2000 Cuốn Then Tày cuả tác giả Nguyễn Thị Yên xuất bản năm 2006 đã

miêu tả những nghi thức cúng trong làm Then, những gia điệu lời hát Then và vai trò của Then trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Tày PGS.TS

Ngô Đức Thịnh Viện nghiên cứu Văn hóa với tác phẩm “Then - một hình thức

sa man giáo của dân tộc Tày ở Việt Nam” năm 2002 GS Hoàng Nam - Đại

học Văn hóa Hà Nội với tác phẩm “Then - một cái nhìn từ hệ thống tín

ngưỡng” năm 2006 đã giới thiệu một cách chi tiết và đầy đủ hệ thống tín

ngưỡng dân gian trong Then “một số biểu tượng của lễ vật và đạo cụ

cúng” năm 2006

Đặc biệt quan trọng hơn là cuốn Then bắc cầu xin hoa của tác giả

Nguyễn Thanh Hiền xuất bản năm 2008 đã miêu tả về Then bắc cầu xin hoa

Trang 8

với các nội dung như các mâm cúng và các nghi lễ trong Then bắc cầu xin hoa, ý nghĩa lời Then, các phương diện nghệ thuật của Then Bắc cầu xin hoa Không chỉ vậy tác giả đã đem đến cho người đọc nhiều nội dung phong phú với nguồn tư liệu khoa học chính xác

Nhìn chung các tài liệu trên chưa có tài liệu nào nghiên cứu sâu về những giá trị văn hóa, vai trò ý nghĩa của Then bắc cầu xin hoa đối với đời sống tinh thần của người Tày cũng như những biến đổi Then bắc cầu xin hoa trong giai đoạn hiện nay Vì vậy đề tài sẽ tập chung để giải quyết các vấn đề đó

3 Đối tượng, địa bàn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của khóa luận là Then bắc cầu xin hoa với các nội dung: nguồn gốc, đặc điểm, vai trò, giá trị của nó trong đời sống của đồng bào Tày ở An Lạc trước đây và hiện nay Bên cạnh đó, để có thể hiểu rõ

về Then bắc cầu xin hoa thì tín ngưỡng dân gian và các thực hành Then Tày nói chung cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài

Địa bàn nghiên cứu: Tập chung khảo sát, thu thập tài liệu về Then bắc cầu xin hoa và thầy Then hiện nay ở xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu và làm rõ các giá trị của Then bắc cầu xin hoa trong đời sống văn hóa của người Tày, từ đó đưa ra cái nhìn tương đối đầy đủ về nguồn gốc, mục đích, các đặc điểm, vai trò của loại hình Then này, khóa luận mong muốn sẽ góp thêm một phần tư liệu về chân dung văn hóa của dân tộc Tày

Nghiên cứu sự biến đổi, tìm ra nguyên nhân chính của những biến đổi

đó, khóa luận cũng mong muốn sẽ đề xuất các giải pháp để bảo tồn phát huy giá trị văn hóa Tày nói chung, Then Tày nói riêng

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập tài liệu chính trong khóa luận là phương pháp điền dã dân tộc học với các kỹ năng chính như quan sát tham dự việc thực hành nghi lễ Then bắc cầu xin hoa tại xã An Lạc huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang Trong quá trình quan sát, tham dự chúng tôi đã ghi âm, chụp ảnh một

số hoạt động của nghi lễ Bên cạnh đó, để có những cứ liệu cho sự phân tích,

lý giải vấn đề nghiên cứu, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng: thầy Then, người thụ hưởng, các vị cao tuổi, các bạn thanh niên…

Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các phương pháp hệ thống, so sánh giúp sáng tỏ các nội dung, phương pháp miêu tả gồm cách phân tích và tổng hợp các loại Then ở các khía cạnh khác nhau

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ AN LẠC, HUYỆN SƠN ĐỘNG,

Trong cuốn Lịch sử đảng bộ xã An Lạc (1945-1020) có ghi:

Trước cách mạng tháng 8/1945 xã An Lạc thuộc tổng Đông Đoàn, châu Sơn Động.Tổng đông đoàn gồm 6 xã là An Lạc, Lệ Viễn, Hữu Sản, vĩnh Khương, Lâm Ca, Thái Bình Xã Lâm Ca và xã Thái Bình nay thuộc huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn An Lạc trước đây có 7 thôn là An Lạc (làng Thác), Kim bảng (làng Biểng), Tiên Yên (làng Rõng), Nà Ó, Đồng bài, Nà Trắng, Đồng Khao

Sau cách mạng tháng tám, đơn vị hành chính tổng bị bãi bỏ, nhà nước thành lập đơn vị hành chính xã Xã An Lạc được thành lập trực thuộc huyện Sơn Động Để phục vụ cho công tác quản lý hành chính và phát triển kinh tế văn hóa đơn vị hành chính thôn được sắp xếp lại cho phù hợp Hiện nay, xã

An Lạc gồm 12 thôn là: Nà Trắng, Nà Ó, Cò Nọoc, Mới, Biểng, Đồng Bây, Đồng bài, Thác, Đồng Khao, Đồng Dương, Rõng, Đường Lội

An Lạc là nằm ở tọa độ trung tâm 21021’42’’ vĩ độ Bắc 106046’11’’ kinh

độ Đông, có diện tích 119,65 km2, chiếm 14,1% diện tích huyện Sơn Động cách trung tâm huyện Sơn Động 12 km về phía Tây

Phía Bắc giáp hai xã Hữu Sản, Vân Sơn huyện Sơn Động

Phía Đông giáp xã Lâm Ca huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn và xã Đạp Thanh huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh

Trang 11

Phía Nam giáp hai xã Dương Hưu và Long Sơn huyện Sơn Động

Phía Tây giáp các xã Lệ Viễn, An Lập, An Châu huyện Sơn Động

1.1.2 Địa hình và khí hậu

An Lạc có địa hình chủ yếu là đồi núi cao và dốc, dốc dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ dốc khá lớn, đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ với độ dốc cao tới 700m so với mặt nước biển

Đồi núi chiếm 79,28% tổng diện tích của xã Do đặc điểm địa hình nên ruộng đất phần lớn là bậc thang xen kẽ giữa các triền núi

An Lạc cách biển không xa nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên Tử ở phía Đông Nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình là 22,60C, nhiệt độ trung bình năm cao nhất là 32,90C và nhiệt độ trung bình thấp nhất là 11.60C

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1700mm thuộc khu vựa có lượng mưa và độ ẩm cao, mùa mưa tập chung chủ yếu vào tháng 7 và tháng 8

1.1.3 Đất đai và sông ngòi

Về đất đai:

Đất đai chủ yếu hình thành trên phức hệ trầm tích, gồm các loại đá mẹ chính: Sa thạch, phiến thạch, sét, cuội kết và phù sa cổ Đất chủ yếu la đất ferarit hình thành trên các loại đá có tầng đất trung bình cho đến dày, hàm lượng mùn cao và rất giàu dinh dưỡng

Với đặc điểm đất đai đa dạng và phong phú như vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hệ sinh thái nông, lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng có giá trị từ cây lương thực như lúa và các loại hoa màu trên đất phù sa dọc theo các sông suối đến việc trồng các loại cây ăn quả và cây lấy gỗ

Về sông ngòi:

Trên địa phận xã An Lạc có hai con sông chảy qua là sông Lục Nam và sông Rẵng, sông Lục Nam còn có tên gọi là sông Minh Đức bắt nguồn từ

Trang 12

huyện Đình Lập (Lạng Sơn) chảy vào Sơn Động bắt đầu từ xã Hữu Sản chảy vào Khe Rỗ xã An Lạc chảy theo hướng Đông bắc- Tây Nam

Ngoài sông Lục Nam và sông Rẵng, trên địa bàn xã còn có một số con suối nhỏ Sông suối ở An Lạc chủ yếu là đầu nguồn nên có lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn và có lưu lượng nước hạn chế, đặc biệt là vào mùa khô

1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

Do nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai, khí hậu thuân lợi cho các loại động, thực vật rừng ở đây sinh trưởng và phát triển nên quần thể sinh vật ở đây rất phong phú và đa dạng

Tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là tài nguyên rừng Rừng tự nhiên tập chung chủ yếu ở khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ thuộc khu bảo tồn Tây yên

Tử Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ thành lập ngày 05/8/1985 theo quyết định của chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Bắc Khu bảo tồn thiên nhiên Khe

Rỗ có diện tích 7153 Ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 5092.4 ha, rừng trồng là 111 ha Đây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu nhất không chỉ của Bắc Giang mà còn điển hình cho cả vùng Đông Bắc Việt Nam với hơn 236 loài gỗ, chủ yếu là các loài cây bản địa và các loài gỗ quý như lim, lát, pơ mu, sến, táu…Và khoảng hơn 225 loài cây dược liệu gồm sa nhân, ba kích trắng, mộc hoa trắng, hoàng tinh…

Động vật khá phong phú bao gồm các loại chim, thú, bò sát Và các loại thú quý hiếm như gấu, ngựa, báo, gấm, beo, sóc bay, tê tê, gà lôi trắng…

Ngoài ra, xã An Lạc còn có các mỏ đá và đã được khai thác phục vụ cho xây dựng tập chung ở các thôn Thác, thôn Đồng Bài

1.2 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư

Theo ước điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 người Với mật độ dân số 407 người/km2 trên địa bàn tỉnh có 26 dân tộc anh

em cùng chung sống và dân tộc Tày có dân số đứng thứ 3 trong toàn tỉnh

Trang 13

chiếm 2,6% tập trung nhiều ở các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế Dân số người Tày là 1.190.342 người Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có khoảng 30 nghìn người dân tộc Tày sinh sống.

An Lạc là một xã có số người Tày cư trú đông, tính đến ngày 01/4/2009 dân số An Lạc là 3422 người gồm 08 dân tộc anh em sinh sống đó là Tày (2203 người), Kinh (741 người), Sán Chỉ (325 người), Cao Lan (66 người), Hoa (47 người), Dao (25 người), Nùng (12 người), Mường (03 người)

Mật độ dân số trung bình của xã là 29,5 người/ km2 Trong đó người Tày chiếm phần lớn dân số trong xã Người Tày ở đây còn gọi là Tày đen (Táy đăm ), Tày trắng (Táy khao) Người Tày chiếm đông nhất là ở thôn Đồng Bài, thôn Biểng, thôn Mới, thôn Thác, thôn Cò Nọoc

1.3 Tập quán mưu sinh

Người Tày ở xã An Lạc là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời họ đã biết thâm canh, áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như: Đào mương, đắp máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu và các loại cây ăn quả như cây vải thiều, cây nhãn, cây hồng

Chăn nuôi khá phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm: trâu, bò, vịt, ngan, gà Gia súc, gia cầm được chăn nuôi với hình thức là thả rông cho đến nay vẫn khá phổ biến Bên cạnh đó thì hiện nay đã có một số hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức trang trại vừa và nhỏ Các nghề thủ công gia đình và thủ công truyền thống vẫn được lưu giữ

Phương tiện vận chuyển: Dùng dậu để gánh những thứ nhỏ gọn còn những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người hoặc trâu kéo

1.4 Xã hội truyền thống

+ Quan hệ dòng họ: Người Tày ở An Lạc có mối quan hệ dòng tộc họ

hàng rất rõ ràng và chặt chẽ mật thiết Họ rất coi trọng quan hệ dòng họ nhất

Trang 14

là họ gần hay là cùng chi họ đều đùm bọc lẫn nhau Trong cuộc sống họ sống hòa thuận với các dân tộc khác cùng cư trú trong cùng địa bàn cư trú

+ Gia đình : Gia đình của người Tày thường chỉ có hai thế hệ cùng

chung sống vì khi con cái lớn lên xây dựng gia đình được bố mẹ cho ra ở riêng để ổn định và phát triển kinh tế

Trong gia đình, người Tày theo chế độ phụ hệ Mọi việc lớn nhỏ trong gia đình đều do người chủ gia đình là ông, cha, anh quyết định Bậc con cái phải nghe người lớn tuổi dạy bảo

Thường khi con cái còn nhỏ thì ở cùng với bố mẹ, lớn lên khi lấy vợ lấy chồng thì ra ở riêng, còn bố mẹ thường ở với con cả hay con út, có khi bố mẹ cũng ở riêng đến khi về già mới về ở cùng con cái

Gia đình người Tày chỉ có hai thế hệ sinh sống vì khi con cái lớn lên xây dựng gia đình thường được bố mẹ cho ra ở riêng ngay để ổn định gia đình

và có điều kiện phát triển kinh tế Đến nay cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ văn hóa của người Tày đã được nâng cao, đồng bào được tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại nên tỷ lệ sinh đã giảm xuống đáng kể trong các

hộ gia đình người Tày

Gia đình người Tày ở xã An Lạc cũng như các vùng khác là một đơn vị kinh tế độc lập, mang tính chất phụ quyền Người chủ gia đình có vai trò quyết định trong tổ chức sản xuất của gia đình, điều hòa các mối quan hệ xã hội

+ Hôn nhân: Người Tày có quy định rất chặt chẽ trong hôn nhân gia

đình, cấm lấy những người trong cùng dòng tộc với nhau, trừ những người họ

xa khác chi Tuy nhiên, những người họ xa lấy nhau rất hiếm

Trong tình yêu, nam nữ Tày được chủ động ở mức độ nhất định, được thổ lộ tình cảm với người mình yêu Trước đây, mặc dù nam nữ thanh niên Tày được tự do tìm hiểu, thổ lộ tình cảm nhưng hôn nhân do cha mẹ sắp đăt

Trang 15

vẫn là hình thức hôn nhân chủ đạo Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự tiến

bộ của xã hội cũng như trong nhận thức, các nam nữ thanh niên Tày đã được tự do tìm hiểu và tự do lựa chọn người bạn đời cho mình dựa trên

sự góp ý của cha mẹ

+ Tang ma: Người Tày quan niệm, bên cạnh thế giới của người sống

thì còn có một thế giới khác đó là thế giới của người chết Quan niệm đó đã ngự trị hàng ngàn đời nay trong tâm thức của cư dân Tày Họ tin rằng những người chết qua thế giới bên kia cũng có mọi nhu cầu sinh hoạt như người còn sống Vậy nên mỗi khi có người qua đời, cư dân Tày thường tiến hành rất nhiều nghi lễ tang ma để đưa tiễn người quá cố sang thế giới bên kia

1.5 Đặc điểm văn hóa

Nhà sàn có hai loại, loại to gọi là “lườn cải”, loại nhỏ gọi là “lườn ý”

Về hình dáng ngoài sàn nhà có hai phần: Phần dưới (gầm sàn) đây là phần từ nền đất lên giáp sàn không thưng vách để thoáng lộ hệ thống cột dầm của ngôi nhà, gầm sàn thường là nơi đê công cụ sản xuất, hay nhốt thả gia súc, gia cầm Phần trên được thưng vách có cửa chính, cửa sổ Phần này bắt đầu từ sàn lên đến nóc nhà bao gồm nhiều bộ phần hợp thành như các hệ thống cột xà, vách thưng, sàn, thích ngoài, thích trong, chái, mái

Nhà sàn của đồng bào Tày phổ biến là nhà ba gian hai chái hoặc năm gian hai chái Nhà to nhiều gian và vì kèo có nhiều cột từ năm đến bảy cột, cột gỗ đường kính từ 30 đến 45 cm, các vì ở giữa thường trốn cột cái Nhà

Trang 16

nhỏ có ít gian vì kèo ít cột, cột nhỏ thường có đường kính từ 25 đến 30 cm không đẽo cầu kỳ như nhà to Hệ thống cột được liên kết với nhau bằng dầm,

xà đục xuyên cột để lắp, nhà nhỏ thường không đục mà buộc dây kết hợp ngoãm Mặt sàn và vách nhà thường được thưng phên nứa đan nong một hay nong đôi, những nhà có điều kiện thì xẻ gỗ để lát sàn và thưng vách Mái nhà thường được lợp bằng lá cọ bởi xã An Lạc có khu rừng nguyên Sinh khe Rỗ, nơi đây có nhiều loại gỗ cũng như các loài cọ dồi dào

Mặc dù đã có đủ bàn ghế nhưng đồng bào Tày ở An Lạc vẫn thích tiếp khách bên bếp lửa vào mùa đông vừa ấm áp vừa thân tình Khi trong gia đình

có việc lớn như ma chay, cỗ cưới người ta thường lấp bếp lửa, thu dọn đồ đạc

để tạo không gian rộng rãi cho việc tiến hành các nghi lễ cần thiết và tạo nơi bày cỗ cho quan khách

Từ cầu thang vào nhà bếp là nơi đi lại tiếp khách Từ bếp lửa vào phía trong là nơi sinh hoạt tiếp khách của phụ nữ đồng thời là nơi ngủ của họ Từ bếp lửa lên phía trước là nơi sinh hoạt của nam giới và chủ nhà thường tiếp khách ở đây

Đồng bào Tày rất quan tâm đến việc xem tuổi để dựng nhà Trước khi làm nhà họ thường đi xem tuổi , năm, ngày , tháng, giờ để dựng nhà Trước khi làm nhà họ thường đi mời các thầy then, thầy mo đến để giúp chọn hướng nhà và gỗ dùng để làm nhà cũng được lựa chọn tỉ mỉ và kỹ càng

Ngày nay cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế cũng như do điều kiện gỗ rừng ngày càng khan hiếm cùng với các chính sách của Đảng và nhà nước về cấm chặt phá gỗ rừng nên có sự chuyển biến về tâm lý khiến đồng bào trong xã có xu hướng chuyển sang hướng làm nhà đất, nhà xây bằng gạch Ngày càng xuất hiện nhiều ngôi nhà kiên cố nhiều tầng bền đẹp với các thiết bị nội thất hiện đại

Trang 17

Bên cạnh nhà ở thì các công trình công cộng như trường học, trạm xá, nhà văn hóa xã, ủy ban, đã được xây dựng khang trang Các hệ thống điện cao thế, hệ thống nước sạch, thủy lợi, viễn thông đã được nhà nước quan tâm đầu

tư, sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển Đặc biệt hai trường tiểu học và trung học cơ sở của xã đã được đầu tư xây dựng khang trang hiện đại và đã được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia

+ Trang phục

Người Tày thường thích dùng quần áo màu chàm, làm từ vải bông dệt may, đồng bào thường nhuộm vải màu chàm để may quần áo Quần áo nam,

nữ, trẻ em đều có màu chàm và hầu như không trang trí hoa văn

Trang phục của nam giới thường có áo dài năm thân buông vạt chùm qua cạp quần xuống đến đầu gối, thân trước bên trong ngắn hơn bên ngoài có năm cúc cài sang nách phía bên phải, áo dài mặc đi lễ hội, đình, đám, áo ngắn hay còn gọi là áo cánh có bốn thân cổ tròn xẻ trước ngực, có bảy cúc và khuy,

có túi ở hai vạt trước quần ống rộng, cạp rộng nhưng không có dải rút khi mặc búi tại vị trí bụng, ống trùng đến mắt các chân, đũng kiểu chân què giống quần của nam giới người Việt, khăn đội đầu khổ nhỏ bằng vải sợi bông hoặc

tơ tằm, khi cuốn xếp thành chữ nhân trên trán

Trang phục của phụ nữ gồm nhiều loại và nhiều kiểu cách phức tạp hơn Áo của nữ giới là áo dài năm thân giống nam giới nhưng chùng đến mắt các chân, được thắt eo và tay áo nhỏ hơn, cổ tròn ôm khít cổ, khi mặc áo dài thường đeo thêm vòng cổ, vòng tay, vấn tóc, thắt lưng, phục nữ mặc áo dài như được tôn cao hơn Áo dài thường được các chị em phụ nữ mặc trong các dịp lễ, tết, hội hay đình đám Áo ngắn bốn thân cổ tròn xẻ ngực cài cúc có túi nhỏ ở hai vạt áo trước Quần phụ nữ ống nhỏ hơn quần nam giới và may giáp đũng Phụ nữ hay mặc váy loại váy bó cạp, có gấu dài đến mắt cá chân, thắt lưng và dải vải có màu chàm hoặc màu hồng Khăn đội đầu là một vuông vải

Trang 18

nhuộn chàm không thêu khi đội chít khăn kiểu mỏ quạ ôm gọn tóc Phụ nữ thường đi giày vải nhung, đầu đội nón lá, mũ dạ, tay cầm ô, ngoài quần,

áo, khăn, thắt lưng, giày, phụ nữ Tày ở An Lạc còn đeo vòng cổ vòng tay, hoa tai bằng bạc

Trang phục thầy cúng gồm có áo, mũ, khăn và thường chỉ mặc để hành

lễ tín ngưỡng, tôn giáo Bộ trang phục của thầy cúng gồm mũ vải là loại vải dày, cứng hình vuông áp vào nhau viền 3 mép lại tạo thành lòng mũ, trên đỉnh

mũ cắt hình 3 mảnh lá đề Mặt trước mặt sau có trang trí thêu, cắt ghép các hình rồng, hổ… Phần đuôi có 5 dải vải và nhiều tua dài buôn xuôi xuống Áo

có 3 thân xẻ ngực buộc dây vải không có cúc, không có tay áo Hình dạng áo

là một mảnh vải hình chữ nhật gấp lại thành hai lớp khoét lỗ cổ áo, xẻ một lớp thành hai thân Áo có nhiều màu đỏ, vàng, trắng, đen có các hình tứ linh bát quái, hình người, ngựa, chim, cá

Trang phục của thầy Then gồm có mũ và dải vải ngực gọi là “đai khăm”, áo, khăn Áo then không có dải vải ngực áo, thường là màu chàm, có

mũ Tam Kim như thầy tào, cũng thêu hoặc cắt ghép các hình rồng, hổ, có tua rua phía sau buông dài qua gáy xuống lưng, ngoài mũ áo thầy Then còn có khăn, túi đựng đồ lễ, quạt

Ngày nay, với nhịp sống của cuộc sống hiện đại người Tày ở An Lạc không còn sử dụng các trang phục truyền thống nữa, từ mặc những chiếc áo 5 thân, 4 thân truyền thống thì hiện nay họ đã chuyển sang sử dụng các trang phục hiện đại như quần âu, áo sơ mi, váy…Các trang phục truyền thống ngày nay chỉ còn thấy xuất hiện thấp thoáng trong những ngày lễ tết và lễ hội

+ Ẩm thực

Với bản sắc là cư dân nông nghiệp, người Tày ở An Lạc có tập quán ăn cơm, lương thực gồm gạo nếp, gạo tẻ, ngô, khoai, sắn Vào các dịp lễ tết đồng bào thường nấu các món ăn từ gạo nếp thành các loại bánh như bánh duốt,

Trang 19

bánh cóoc mò (bánh sừng trâu) và các loại xôi như xôi tím, xôi đen, xôi đỏ, xôi bảy màu để cúng thần linh và dùng trong gia đình Thực phẩm thường dùng trong bữa ăn là các loại rau tự trồng, rau hái từ tự nhiên như măng, rau ngót, mộc nhĩ, nấm hương, các loại thịt gia súc gia cầm do chăn nuôi, thịt thú rừng, các loại chim săn bắn được và các loại cá tôm nuôi hoặc đánh bắt từ tự nhiên

Hàng ngày đồng bào Tày ăn hai bữa chính là bữa trưa và bữa tối, ngoài

ra tùy từng gia đình người ta có thể ăn bữa phụ vào sáng hay chiều nhằm phục

vụ cho việc đi làm Các món ăn thường là xào, luộc, nấu canh, nướng trên than hồng, vùi trong tro nóng, gia vị đồng bào thiên về dùng gừng, nghệ, ớt và

mẻ Đa phần các bữa cơm đều do người phụ nữ nấu Với quan niệm ăn phải

để thừa thì mới dư dật, mới ăn nên làm ra nên khi nấu cơm họ thường nấu nhiều hơn nhu cầu của gia đình

Về đồ uống, đồng bào thường uống trà, các loại nước lá vối, cây khúc khắc…Đều là những loại dễ kiếm có tác dụng giải khát tốt Vào mùa đông họ thường hay vần trà bên cạnh bếp lửa để uống, đó là thú vui tao nhã nhàn rỗi trong gia đình khi láng giềng đến chơi Bên cạnh đó đồng bào còn hay dùng các loại rượu như rượu gạo, ngô và có lẽ loại rượu được nấu và sử dụng nhiều nhất của đồng bào Tày ở An Lạc phải kể đến là rượu sắn Rượu được dùng mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, đó được coi như một nét giao tiếp thể hiện tấm lòng của chủ nhà với khách Ngoài ra rượu còn được sử dụng trong

lễ tết, các đám cỗ, đám tang, đám cưới và rượu còn được đồng bào Tày nơi đây đem ngâm với các loại nấm linh chi, cây đằng đằng, ba kích, nhện hùm…Thành các loại rượu ngâm để uống bồi bổ sức khỏe cũng như có tác dụng xoa bóp mỗi khi đau ốm Đồng bào tự làm men bằng lá hay còn gọi là men lá để ủ rượu, men lá hiện nay đã ít được sử dụng thay vào đó họ chuyển sang sử dụng các loại men có sẵn trên thị trường Ngày nay, đời sống của đồng bào Tày ở An Lạc đã khá lên rất nhiều, không còn bị đói ăn như trước

Trang 20

kia nữa vì vậy đồng bào thường chú trọng việc ăn uống sao cho ăn ngon và có đầy đủ chất dinh dưỡng đảm bảo an toàn sức khỏe

+ Phương tiện vận chuyển

Địa hình đặc trưng của xã An Lạc là đường mòn nhỏ, nhiều đoạn đường gồ ghề, leo dốc vượt đèo, qua suối và trơn trượt vào mùa mưa lũ đi lại

vô cùng khó khăn Vì vậy phương tiện vận chuyển chính là con người với đôi quang gánh trên vai Quang gánh được làm từ dây mây hoặc dây sắt cũng có loại quang lẳng tre Dùng đòn gánh bằng tre mai xỏ vào đôi quang để gánh thóc, lúa, ngô, khoai và các hang hóa khác về nhà

Ở những nơi đường đi rộng rãi hơn khi chở những khúc gỗ vây nặng hay chở củi, tre nứa, lúa, ngô, khoai, đồng bào chế tạo ra chiếc xe quệt buộc vào càng con trâu để kéo lê trên mặt đât Những nơi gần suối họ chế tạo ra các loại bè mảng lợi dụng sức nước đê xuôi hàng hóa dọc theo theo sông suối Ngày nay, điều kiện giao thông của xã An Lạc đã phát triển, đường xá

đã được bê tông hóa nên việc đi lại dễ dàng hơn vì vậy đồng bào đã có điều kiện đi lại vận chuyển bằng nhiều phương tiện hiện đại như xe đạp, xe máy, ô

tô một cách dễ dàng và thuận tiện hơn

1.5.2 Văn hóa phi vật thể

+ Ngôn ngữ, chữ viết

Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái thuộc ngữ hệ Thái- Ka Đai Trong đời sống hàng ngày của đồng bào Tày ở An Lạc, tiếng Tày là phương tiện dùng để giao tiếp hàng ngày nên giữ một vị trí quan trọng đối với cư dân Tày Cũng giống như ngôn ngữ của người Kinh, ngôn ngữ tiếng Tày cũng có những danh từ gọi người, địa danh, động vật…Có hệ đếm tương đối hoàn chỉnh Trong quá trình giao thoa để biểu thị các khái niệm chính trị xã hội, pháp lý tiếng Tày có vay mượn từ ngữ để bổ xung vào kho từ vựng của mình như: hợp tác, xà phòng, mì chính, tư tưởng, cải cách…Sự vay mượn, bổ xung

Trang 21

đó đã làm cho tiếng Tày ngày càng đa dạng và phong phú góp phần tạo nên sụ thuận lợi trong giao tiếp hàng ngày của đồng bào Tày, cùng với

đó sự vay mượn của tiếng Tày cũng bổ xung tạo nên sự phong phú thêm cho kho tàng tiếng Việt

Chữ viết Tày là chữ viết Nôm Tày, thường được sử dụng trong các ghi chép của thầy cúng, thầy mo, thầy tào trong các sách tử vi và trong các hoạt động tín ngưỡng của dân tộc

Tiếng nói của đồng bào Tày có hệ thống âm tiết và ý nghĩa gần giống với tiếng nói của dân tộc Nùng và dân tộc Thái, Hiện nay tiếng nói của dân Tộc Tày ở An Lạc vẫn được lưu giữ và sử dụng hàng ngày đặc biệt là ở lớp người trung niên và người cao tuổi

+ Lễ hội

An Lạc là nơi tập chung sinh sống của đa số người Tày ở huyện Sơn Động Vì vậy văn hóa dân tộc Tày còn khá nguyên vẹn, người dân vẫn giữ được những tập quán tốt đẹp mà cha ông để lại Một trong những ngày lễ tết lớn của người Tày nơi đây là tết nguyên đán

Đồng bào ăn tết Nguyên Đán từ ngày 27 tháng chạp đến hết rằm tháng giêng Từ ngày 27 trở đi các gia đình bắt đầu mổ lợn và họp mặt gia đình, con cháu tập chung đông đúc vì họ quan niệm những ngày tết có đông con cháu

về sum họp gia đình thì tết năm đó sẽ được coi là to và vui vẻ Hơn nữa ngày

30 tết nhà nào phải về nhà đó ăn cơm riêng không được tập chung đông đủ nên phải tổ chức sớm như vậy để được gặp mặt đầy đủ anh em họ hàng con cháu Ngoài tết Nguyên Đán người Tày ở An Lạc còn có các ngày lễ tết khác như tết mồng 3 tháng 3, tết này người Tày ở An Lạc thường làm bánh ngải Bánh được làm từ lá ngải, lá ngải non đem luộc chín rồi giã nhuyễn đem trộn với bột nếp rồi gói sau đó đem hấp khoảng 30 phút Người Tày ở đây quan

Trang 22

niệm ăn bánh ngải sẽ trừ được các loại ma quỷ và ngải cũng là một loại thuốc giúp khỏe người nên họ làm loại bánh này trong dịp tết mồng 3 tháng 3

Ngoài ra, người Tày còn có tết đoan ngọ mồng 5 tháng 5, tết cơm mới mồng 10 tháng 10, tết rằm tháng bảy ("xíp xí bươn chất") Cùng với tết nguyên đán và tết mồng 3 tháng 3 thì tết xíp xí cũng là một ngày tết lớn và quan trọng Tết này được tổ chức đúng với phong tục truyền thống từ các món

ăn, tục thờ cũng đến các lễ tiết

+ Âm nhạc dân gian

Người Tày ở An Lạc vẫn còn giữ được những giá trị nghệ thuật độc đáo của dân tộc mình như hát sli, hát lượn, phong slư, và đặc biệt là hát then

Hát Then: Then là hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, một hình thức

sinh hoạt tin ngưỡng văn hóa cộng đồng được bà con trong xã yêu thích, Then trong người Tày đều là hình thức thờ cúng tổ tiên, trừ tà ma chữa bệnh, cầu phúc, chúc thọ, lễ cấp sắc (lẩu then) Trong hát Then đồng bào Tày có sử dụng các loại nhạc cụ như đàn tính tẩu, chùm chũm chọe, chùm xóc, não bạt quả nhạc “mác lính” Bộ nhạc tiêu biểu nhất là cây đàn tính và quả nhạc mác lính Đàn tính được làm từ quả bầu già phơi khô, đàn thường làm bằng gỗ cây thừng mực dài khoảng 90 cm, đồng bào có câu “sam căm tẩu, cẩu căm dàn” nghĩa là ba nắm bầu,chín nắm cần (đường kính quả bầu là ba nắm thì cần đàn phải dài chín nắm thì mới là kích thước chuẩn), dây đàn tính làm bằng tơ có hai hoặc ba dây Quả nhạc “mác lính” được đúc từ đồng hoặc bạc, có loại đơn nhưng cũng có loại chùm Đây là loại hình nghệ thuật dân tộc có giá trị và mang tính đặc trưng của người Tày ở An Lạc nói riêng và người Tày trên cả nước nói chung

Hát si lượn: Giống như hát quan họ, ví dặm, hát páo dung (dân tộc

Dao), hát sình ca (dân tộc Cao Lan), sli lượn là hình thức hát đối đáp giữa các đôi trai gái hoặc bè trai, bè gái của người Tày Hát Sli lượn ca ngợi thiên

Trang 23

nhiên và cuộc sống lao động, ca ngợi tình yêu đôi lứa, hát sli lượn mừng xuân, mừng nhà mới, hoặc chào đón khách…Hát sli lượn có ý nghĩa, giá trị văn hóa tinh thần mạnh mẽ với lối hát thiết tha, réo rắt, làm rung động trái tim người nghe

+ Tín ngưỡng tôn giáo : Người Tày chịu ảnh hưởng của một số tôn

giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo

Về phật giáo, người Tày không có chùa thờ Phật mà mà đồng bào thờ Phật bà quan âm trong nhà Họ dạy bảo con cháu sống phải có tâm, có đức, phải biết yêu thương nhau Trong tiềm thức của người Tày thì có số kiếp, luân hồi, nhân quả Nên nếu khi sống làm việc thiện tích đức thì sau này khi chết sang thế giới bên kia sẽ được sung sướng Ngược lại, nếu làm điều có hại sống không có tâm thì khi chết đi sẽ bị lao khổ dưới cõi âm

Các tôn giáo khác cũng bị ảnh hưởng như những quan niệm về số phận, đẳng cấp xã hội trọng nam khinh nữ

Về tâm linh, tín ngưỡng

Tín ngưỡng của người Tày từ xa xưa là thờ đa thần nguyên Thủy xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, mọi vật đều do Pựt Luông- Ngọc Hoàng sáng tạo ra và đều có linh hồn Linh hồn đồng nghĩa với sự linh thiêng và để chỉ sự linh thiêng đó thì người Tày đều dùng một từ gọi là “phi” (ma) Phi dịch ra tiếng việt có nghĩa rất rộng chỉ tất cả các “thánh”, “thần”, “ma”, “quỷ” như ma trời (phi phạ), ma đất (phi đin), ma rừng (phi pá), ma thuồng luồng (phi ngược), ma thiên lôi (phi lôi), ma tổ tiên (phi pẩu pú)…Ở đây “phi” đồng nghĩa với linh hồn hay quan niệm vạn vật hữu linh. Trong quan niệm của người Tày thì “phi” được chia làm hai loại Phi lành gồm phi đẳm táng (tổ tiên), phi bếp được thờ cúng trong nhà Các loại Phi tàng, phi mạy cải, phi bán không được thờ cúng trong nhà nhưng hễ trái ý hay vi phạm sự linh thiêng của các phi đó thì phải làm lễ cúng mới thoát khỏi sự trừng phạt Với những

Trang 24

người chết tuyệt tự, chết vào giờ thiêng, mồ mả không có ai trông nom linh hồn lai vãng ở trần gian nhập vào người sống gọi là ma gà “phi cáy” Người sống bị ma gà nhập vào sẽ mang ma gà trong người gọi là “phi đíp”, loại này

bị coi là ma xấu vì thường xuyên đi hại người

Về thờ cúng thì người Tày thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ Trong gia đình người Tày bàn thờ gia tiên là nơi quan trọng nhất Vì thế, bàn thờ gia tiên được đặt tại vị trí quan trọng nhất của ngôi nhà và thường được đặt tại gian chính giữa thẳng với cửa chính đi vào của ngôi nhà Trên bàn thờ người Tày thờ theo dòng dõi thường là ba đời, mỗi đời một bát hương theo thứ tự từng bậc một

Ngoài ra, người Tày còn thờ bà Mụ (mẹ Hoa) mẹ bióoc, thờ phi Thổ công và Táo quân

Họ quan niệm phi thổ công có trách nhiệm bảo vệ nhà cửa, vườn tược ngăn không cho các loại ma dữ vào trong nhà Nên họ thờ Thổ công để được phi thổ công bảo vệ Bàn thờ Thổ công không được đặt trong nhà mà thường được đặt ngoài vườn

Táo quân, theo quan niệm của người Tày thì đó là “ Phi cằn thầy”, là vị thần bảo vệ người, gia súc, coi việc quản lý hộ khẩu trong gia đình Bàn thờ Táo quân thường được đặt cạnh bếp

Bà Mụ được coi là vị thần cai quản và hộ mệnh cho trẻ em Theo quan niệm dân gian, người ta có con là do mẹ bióoc phân chia hoa từ cây hoa vàng (con trai), hoa bạc (con gái) Bàn thờ bà mụ được đặt sát vách hoặc cạnh cửa buồng của người mẹ và được thờ cúng đến khi đứa trẻ 12 tuổi

Tiểu kết chương 1

Người Tày có dân số đông nhất trong tổng số 8 dân tộc sinh sống tại địa bàn xã An Lạc Họ có tiếng nói và chữ viết riêng, trong hôn nhân có nhiều

Trang 25

quy định chặt chẽ Gia đình người Tày là gia đình phụ hệ người đàn ông có vai trò quan trọng trong gia đình Do sống ở khu vực miền núi nên văn hóa mưu sinh của người Tày ở An Lạc gắn liền với điều kiện môi trường tự nhiên

Đó là hệ quả của việc nhận thức và lao động sáng tạo của họ trong quá trình sinh sống thể hiện qua các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, và các nghề thủ công Ngoài ra, còn có săn bắt và hái lượm mang tính tự cung tự cấp Người Tày biết canh tác ruộng nước đạt trình độ tương đối cao, biết canh tác đồi nương và đất bãi tạo ra các sản phẩm bổ trợ cho kinh tế gia đình

Văn hóa vật thể, nhà cửa với hình dáng kiến trúc độc đáo tạo nên nét đặc trưng của văn hóa Tày Về ẩm thực thì người Tày có những đồ ăn thức uống dân dã như chè vối, các loại xôi màu, bánh cóoc mò, rượu linh chi, ba kích…Mang tính văn hóa ẩm thực đặc sắc và đặc trưng của vùng trung du miền núi

Văn hóa phi vật thể là một trong các giá trị cơ bản của văn hóa dân tộc Người Tày có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn chịu sự ảnh hưởng của một số tôn giáo lớn khác như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo Người Tày có nhiều nhạc cụ tiêu biểu là cây đàn tính, có nhiều điệu hát Then, hát sli lượn

Cùng các dân tộc anh em khác, người Tày ở xã An Lạc đã và đang đoàn kết xây dựng, bảo vệ quê huơng đất nước và sáng tạo nên các giá trị văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc góp phần vào xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam

Trang 26

CHƯƠNG 2 THEN BẮC CẦU XIN HOA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở

XÃ AN LẠC

2.1 Khái quát về Then của người Tày

2.1.1 Quan niệm về Then

Then là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời và rất được ưa thích của đồng bào dân tộc Tày Có thể nói Then vừa mang tính chất sinh hoạt quần chúng vừa là loại hình nghệ thuật mang tính chất tôn giáo tín ngưỡng

Then theo quan niệm của người Tày là sliên (có nghĩa là tiên), là người của nhà trời xuống để giúp đỡ người dưới trần gian Hay nói cách khác thì Then là người trung gian trong việc kết nối giữa con người với thần linh mà

cụ thể là với Ngọc Hoàng Mỗi khi con người dưới trần gian gặp phải một điều gì đó không may mắn muốn thỉnh cầu lên Ngọc Hoàng thì người ta sẽ nhờ Then giúp làm những việc này, qua đó Then một mặt thay con người đưa những lời đề đạt lên Ngọc Hoàng, một mặt Then là phương tiện truyền đạt lại

ý chỉ của Ngọc Hoàng cho người dưới trần gian

Theo bà Then Hoàng Thị Qúy (thôn Mới xã An Lạc) thì “Then là tiên,

là người của nhà Trời Người làm Then là những người được nhà trời giao nhiệm vụ đưa những lời cầu mong cầu khấn của dân gian lên trên thiên đình, lên Ngọc Hoàng để cầu mong cuộc sống được may mắn, tránh được những tai họa để yên ổn làm ăn và tu thân tích đức ”

Đối với những người làm Then vì quan niệm mình là người của trời nên trong cuộc sống sinh hoạt họ luôn phải tuân thủ những nguyên tắc và những kiêng kỵ nhất định Người làm Then phải luôn giữ cho mình được thanh khiết Bàn thờ Then là bàn thờ mang ý nghĩa gia truyền được đặt ở

Trang 27

trong nhà nhưng không được để ở gian giữa cùng với bàn thờ tổ tiên mà phải đặt ở một góc riêng

Để trả lời cho câu hỏi Then có từ bao giờ thì có rất nhiều ý kiến cho rằng Then đã có từ lâu đời Song qua các giai thoại về Then thì có thể thấy Then có từ thời nhà Mạc (cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII) khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng đánh lại nhà Lê (1598-1625) Có nhiều giai thoại về Then khác nhau nhưng thống nhất trên 5 tỉnh Việt Bắc thì Then có nguồn gốc từ Cao Bằng

Nếu khẳng định Then là những bài hát cúng thì bất cứ một dân tộc nào cũng có thờ cúng, và thờ cúng có từ rất sớm theo quan niệm vạn vật hữu linh của họ Trong cuộc sống có rất nhiều những sự vật, sự việc, hiện tượng xảy ra một cách ngẫu nhiên hoặc có sự trùng lặp vô ý trở thành quy luật không giải thích được thì đều được cho rằng đó là do ý của trời

Đấng tối cao trừu tượng đó hình như là điểm chung cho ý thức của nhiều dân tộc do đó hình thành nên một lực lượng thay trời, cầu trời giải thoát cho hồn vía con người bị giam hãm dưới âm phủ để thoát lên cõi tiên Then Tày cũng nằm trong lực lượng này Bởi Then có từ lâu đời và đã ăn sâu vào tiềm thức nên người dân Tày ở An Lạc thường dùng Then như là một liệu pháp để đáp ứng nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của mình Then được truyền lại cho những thế hệ sau bằng các lời ca, những làn điệu trong hát Then hay những câu chuyện về nguồn gốc sinh ra Then như câu chuyện về nguồn gốc của cây đàn tính Từ thủa còn nhỏ tác giả đã được nghe bà nội là Bà Vi Thị Ý

kể cho nghe về sự tích cây đàn tính như sau:

Tại một bản nọ có cô gái xinh đẹp nhưng vì không may mắn nên sau

khi lấy chồng ít lâu thì chồng cô bị bệnh nặng mà chết, vì rất yêu thương chồng nên cô sinh ra ốm nặng vào một đêm cô gái nằm mơ thấy một người cho ba hạt quả và cô cất ba hạt quả đó vào trong hòm Tỉnh dậy cô thấy ba

Trang 28

hạt quả vẫn ở trong đó Cô gái không biết hạt gì nhưng cô vẫn bí mật đem trồng hai hạt, còn một hạt cô dự định để nếu hai hạt kia không mọc cô mới trồng tiếp hạt cuối cùng Một thời gian sau hai hạt cây đã không phụ lòng cô gái Chúng mọc thành hai cây khỏe mạnh, một cây khảo quang, còn một cây

là cây bầu Do mải chăm cây nên cô quên mất hạt thứ ba Cho đến một hôm

mở hòm, cô thấy hạt quả cuối cùng đã bị thối và biến thành một con sâu Cô gái không nỡ đem giết con sâu đó vì cô thấy thương và cô quyết định để lại nuôi Cô chọn các loại cây không đắng trong rừng cho sâu ăn, duy chỉ có lá dâu là sâu thích ăn hơn cả Con sâu ấy chính là con tằm ngày nay

Ngày qua ngày, cây gỗ đã lớn, quả bầu đã già và sâu cũng đã cho tơ, nhưng còn nỗi buồn trong lòng cô thì vẫn không nguôi Thế rồi một đem đẹp trời, cô lại mơ thấy người cho hạt Người đó nói trời động lòng thương cô nên cho hạt, cô hãy lấy những thứ từ hạt cây đó chế thành đàn, nỗi buồn của cô sẽ vơi

đi và cô hãy đem tiếng đàn đó đi gẩy cho mọi người, giúp mọi người giải thoát khỏi nỗi buồn Khi tỉnh dậy cô gái bèn làm theo như lời dạy trong giấc

mơ và sau đó cô đã tạo nên cây đàn phát ra những âm thanh trầm bổng réo rắt, từ khi có cây đàn cô gái không còn muộn phiền nữa và từ đó không chỉ riêng cô gái mà tất cả mọi người trong bản đều rất say mê tiếng đàn

Then, có thể nói đó vừa là một loại hình văn nghệ dân gian vừa là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Tày nói chung và đồng bào Tày

ở xã An Lạc nói riêng

2.1.2 Các loại hình của Then

Then Tày được chia ra làm nhiều loại nhưng về cơ bản Then gồm bảy loại hình đó là: Then cầu an giải hạn, Then bói toán, Then tống tiễn, Then vui mừng chúc tụng ca ngợi, Then bắc cầu xin hoa, Then chữa bệnh, Then cầu mùa cầu đảo tiệt trùng Trong đó mỗi loại hình Then lại có những đặc điểm và mục đích thể hiện khác nhau

Trang 29

+ Then Cầu an, giải hạn

Then cầu an giải hạn thường được làm vào mùa xuân với mục đích tống trừ tai họa, cầu mong an lành, hạnh phúc và cầu sức khỏe cho cả gia đình

Trong cuộc sống của đồng bào Tày thì Then giải hạn được coi như là một liều thuốc tinh thần giúp cho con người tin tưởng vào cuộc sống và thần linh Then giải hạn giúp con người cảm thấy thoải mái tinh thần để vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống Làm Then giải hạn thực chất là việc giải phóng về tinh thần cho con người tạo cho con người một chỗ dựa vào một thế lực siêu nhiên có sức mạnh thần bí

“Hạn” có nghĩa là vận hạn Vào các dịp đầu năm người ta thường đi xem bói hoặc đi gieo quẻ để xem năm đó trong gia đình có người nào gặp vận hạn hay không, nếu có thì họ sẽ tiến hành làm lễ Then giải hạn để tống trừ xui xẻo để xóa bỏ những điều không may không tốt đi Lễ này có thể tổ chức vào bất kỳ thời điểm nào trong năm nhưng đa phần người ta thường tổ chức vào dịp mùa xuân Tổ chức Then giải hạn là do sự mê tín của gia chủ bởi những nguyên nhân khách quan tác động đến cuộc sống nên họ cho rằng đó là những điềm xấu nên họ sẽ đón thầy Then về nhà làm lễ giải hạn để tống trừ những điềm xui xẻo và cầu mong những điều may mắn tốt đẹp sẽ đến

Then giải hạn thường có quy mô nhỏ, chủ yếu là trong gia đình và thời gian diễn xướng chủ yếu là một ngày hoặc một đêm Có thể nói Then giải hạn

là cầu nối liên lạc giữa con người với thế giới thần linh để giúp con người thoát khỏi những vận hạn và được bình yên trong cuộc sống

+ Then bói toán

Then bói toán dùng để xem hạn trong năm, xem đường tình duyên số phận và làm ăn sinh sống Hay khi trong gia đình có trâu bò bị lạc người ta cũng có thể làm then này để bói tìm Hoặc như trong gia đình có người thân bị

ốm bất thường mà không rõ nguyên nhân thì người ta cũng thường dùng Then

Trang 30

này để tìm xem người ốm có phải do bị con ma nào quấy nhiễu hay không bằng cách tương đối đơn giản là mang một bát gạo và chiếc áo hoặc khăn của người đó đi đến nhà thầy Then để thầy xem trước bàn thờ của mình

được thanh thoát mồ yên mả đẹp

+ Then chúc mừng, chúc tụng ca ngợi

Đây là loại Then mang đậm chất sinh hoạt, chủ yếu tạo ra không khí vui vẻ lạc quan, thường được tổ chức vào các dịp quan trọng như mỗi khi trong gia đình có người lấy chồng lấy vợ người ta thường mời thầy Then về làm lễ để báo cáo với tổ tiên dòng họ và mời ông bà tổ tiên về chứng giám cho các con cháu mừng gia đình có thêm thành viên mới

Ngoài ra mỗi khi làm nhà mới, khi làm lễ đầy tháng cho con cháu trong nhà và vào các dịp lễ hội người ta cũng dùng then này để làm lễ

Đối với Then chúc phúc, Then này thường được tổ chức khi gia đình nào có người già, người cao tuổi để cầu cúng chúc thọ và cầu phúc Các cuộc cúng cầu thọ, cầu phúc cho người già thực chất là cúng mừng sinh nhật, mừng thọ cầu mong có thêm sức khỏe sống lâu để bảo ban con cháu trong gia đình làm ăn và sinh sống

Cao nhất của then mừng là lẩu Then hay còn gọi là Then cấp sắc Đây

là một nghi lễ hết sức quan trọng của người làm Then, đó là một cuộc đại lễ mừng người làm Then được thăng chức, nó đánh dấu một bước ngoặt trong đời làm Then của thầy Then

Trang 31

Lễ cấp sắc nghĩa là lễ mà thầy Then được Ngọc Hoàng cấp cho bằng sắc mới để đi hành nghề Then Đại lễ là lễ đem các vật phẩm tiễn dâng lên Ngọc Hoàng để thỉnh cầu phong cấp cho nhà Then Nếu lẩu Then càng được

tổ chức nhiều lần thì chức tước của Then ngày càng lên cao và càng có uy tín đối với quần chúng trong việc hành nghề cứu nhân độ thế Chức tước của Then được đánh dấu bằng các tua trên dải mũ, mỗi lần cấp sắc số tua này càng nhiều, cao nhất là 15 tua Đến khi già không làm được Then nữa thì tổ chức lễ lẩu Then với mục đích tạ ơn Ngọc Hoàng

+ Then bắc cầu xin hoa

Đây là loại Then mà người Tày quan niệm rằng đôi vợ chồng nào lấy nhau lâu ngày mà không có con hoặc sinh con ra nhưng không giữ được thì chứng tỏ rằng họ không được mẹ Hoa ban phát con cái nên phải làm lễ này đến cửa mẹ Hoa để xin được ban hoa cầu mong có được con cái Với những đứa trẻ hay ốm đau bệnh tật người ta cũng thường làm lễ này nhằm mục đích vun hoa, sửa cầu để cho đứa bé được khỏe mạnh hơn

Lễ bắc cầu xin hoa thường được tổ chức vào mùa xuân hoặc mùa thu, vào các mùa hoa nở trong năm Trong lễ này, thầy Then được gia chủ mời đến hành lễ Thông qua đề nghị của gia chủ, thầy Then sẽ dùng tiếng hát của mình để gặp mẹ Hoa cầu xin Mẹ ban phát cho phước lộc

+ Then chữa bệnh

Người Tày ở An Lạc cho rằng mỗi khi trong gia đình có người ốm đau, bệnh tật hay lạc vía là do bị tà ma quấy nhiễu nên người ta mời thầy Then về làm lễ cúng để xua đuổi tà ma đi và tìm vía của người ốm về Bởi đồng bào cho rằng người ốm là do vía bỏ đi lang thang không biết đường về, ốm nặng hay nhẹ là do số vía bị lạc nhiều hay ít, nếu không tìm được vía về thì sẽ bị

ốm mãi không khỏi Vậy nên phải mời thầy Then đến cúng để gọi hồn vía về cho người ốm mau khỏi bệnh và mạnh khỏe để làm ăn sinh sống

Trang 32

+ Then cầu mùa, cầu đảo tiệt trùng

Then này thường được tổ chức vào dịp đầu xuân, đầu vụ và thường là vào tháng giêng hàng năm Người ta đi đón thầy Then về làm lễ với mục đích cầu mong cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa

2.2 Một số đặc điểm Then bắc cầu xin hoa của người Tày ở xã

An Lạc

Then Tày bao gồm nhiều loại hình, với mỗi loại hình Then lại mang những đặc điểm riêng, đó là đặc điểm về nguồn gốc, mục đích của Then, đặc điểm về người làm Then và các phương tiện sử dụng trong Then Then bắc cầu xin hoa cũng có những đặc điểm riêng của nó

2.2.1 Nguồn gốc và mục đích của Then bắc cầu xin hoa

Người Tày ví con cái như những bông hoa Trong tín ngưỡng của họ thì Hoa Vương Thánh Mẫu hay còn được gọi là mẹ Hoa là người giữ trọng trách nặn ra những đứa trẻ để ban phát cho con người dưới trần gian, đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm chăm nom đứa bé đến khi 12 tuổi Nên đồng bào quan niệm những cặp vợ chồng nào sống với nhau lâu ngày mà chưa có con hoặc sinh con ra nhưng không giữ được là do số phận do không được mẹ Hoa ban phát hoa nên cần phải tìm đến bà Then để làm lễ cầu hoa xin con Đối với những đứa trẻ khó nuôi hay những đứa trẻ là con cầu tự người ta cũng làm lễ này để cầu tự vun hoa hoặc làm lễ sửa cầu Vì vậy lễ cầu tự vun hoa của người Tày ở xã An Lạc được gọi là lễ cầu bióoc- Lễ bắc cầu xin hoa

Ở người Kinh các cặp vợ chồng lấy nhau nhưng bị hiếm muộn thường đến các ngôi chùa linh thiêng để cầu tự, cầu mong được thần linh ban phát con cái Còn đối với người Tày, thì người ta sẽ đến gặp thầy Then nhờ thầy làm lễ bắc cầu xin hoa cầu xin mẹ Hoa ban phát con cái cho họ Bởi họ tin rằng sau khi làm lễ cầu khấn tới mẹ Hoa, mẹ sẽ cảm động và ban phát phúc lộc để họ có thể sinh con đẻ cái

Trang 33

2.2.2 Đặc điểm của người làm Then

* Điều kiện trở thành thầy Then

Qua các tài liệu đã thu thập và kết quả phỏng vấn trực tiếp cho thấy thấy hầu hết các thầy Then đều không tự nguyện trở thành Then Ngược lại họ buộc phải đi theo nghề này thông qua sự lựa chọn, định sẵn của thần linh

Đối với những người bình thường họ chỉ có thể trở thành Then khi họ

là con cháu trong các dòng họ có người làm Then từ lâu đời gọi là có căn Then Tuy nhiên không phải người nào trong dòng họ muốn trở thành Then cũng được mà họ phải được thần linh tuyển chọn một cách bí ẩn

Những người được thần linh lựa chọn thường phải trải qua một thời kỳ rất khó khăn và không bình thường mà biểu hiện của họ thường là hay bị ốm,

bị ngất, tinh thần bị phân tán không ổn định, không biết lao động như những người bình thường khác Cũng có trường hợp tự nhiên chê các loại thịt động vật như thịt chó, thịt bò, thịt trâu…Là bẩn thỉu mặc dù trước đó họ vẫn có thể

ăn bình thường Có trường hợp tự nhiên nhảy lên bàn thờ tổ tiên ngồi hoặc trèo lên nóc nhà và ngủ trên đó, cũng có người nhảy từ trên nóc nhà xuống đất

mà không bị làm sao Theo lời kể của bà Then Nịnh Thị Nhất ở Thôn Biểng

xã An Lạc thì trong thời gian này họ phải chịu một điều gì đó như bị thần linh thôi thúc và buộc phải trở thành Then mà cụ thể là thời gian đó bà thường hay nằm mơ thấy có người bảo phải đi theo nghề Then, còn người nhà của bà thì

kể lại rằng bà thường hay bỏ đi lang thang trong tình trạng vô thức, có khi còn lội xuống sông tắm giữa đêm khuya mùa đông mà không bị làm sao

Một biểu hiện khác của việc trở thành thầy Then như trong cuốn “Then Tày” của tác giả Nguyễn Thị Yên có câu chuyện của ông Lê Nông L ở xã Hòa Tung, huyện Hòa An, Cao Bằng Câu chuyện như sau:

Mẹ ông L làm Then thuộc dòng Then nữ ở miền Tây Cao Bằng khi mẹ ông còn sống mặc dù biết đàn, hát nhưng ông không muốn nối nghiệp bà, khi

Trang 34

mẹ ông ốm nặng ông thường hay mơ thấy núi hoa, núi phật trên tiên giới, mơ thấy bị dầm mình trong nước bắt làm nghề Khi mẹ ông mất, lúc chưa niệm hồn bà đã nhập vào ông bắt ông nối nghiệp nhưng ông vẫn cương quyết không chịu Một năm sau, vào ngày mồng 1 tết ông lấy đàn tính ra chơi, mẹ ông nhập vào vợ ông và mắng rằng “Mày còn vui vẻ gì mà đàn hát, nếu mày không chịu làm nghề tao sẽ đánh mày !” ngày 5/9 năm đó ông nhờ anh vợ đem vứt 3 bát hương thờ tổ nghề của bà mẹ Trước khi đem vứt, thần thánh nhập vào vợ ông nói: “nếu mày vứt bát hương thì nhà mày sẽ chết một người

!” Ông không tin cứ cho vứt bát hương Đến gà gáy rạng sáng ngày 6/9 thì ông anh vợ đột tử Sau chuyện này ông sợ quá nên mới quyết định theo thầy học nghề, trước đó ông chưa được mẹ truyền nghề Đó là vào năm 1987 khi ông đã ngoài 40 tuổi [ 12, tr.62]

*Quá trình trở thành thầy Then

Quá trình trở thành người hành nghề Then là một quá trình thức tỉnh bổn phận thiêng liêng mà thần linh trao cho họ, một sự tự rèn luyện bản thân rất nghiêm khắc Mỗi người được tuyển lựa phải trải qua những thử thách với những nghi thức, nghi lễ nhất định

Trước tiên, để trở thành một thầy Then có thể đi hành nghề thì họ phải

tự tìm đến nhà của các thầy Then cao tay để xin nhận làm học trò Mỗi một người cần có ít nhất hai thầy dạy Một người là thầy mẹ (Then), một người là thầy cha (mo) Thầy mẹ dạy cách đi đường hành lễ, thầy Cha sẽ dạy cách xem quẻ, xem địa can Thầy mẹ phải có “ma Then” của người học trò, người học trò được gọi là con sở của người thầy và được thầy đặt cho một cái tên mới Tên này chỉ dùng để xưng danh trước Ngọc Hoàng và thần linh và thường được các Then giữ bí mật vì nếu cho người khác biết tên tuổi khi đi làm việc sẽ rất

dễ bị người xấu ghen tỵ và làm cản trở con đường lên thiên đình của Then

Trang 35

Thời gian thử thách để trở thành Then có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy dạy và sự hỗ trợ của một số sức mạnh vô hình: Ma Then, phép thuật, học đàn, học hát, những kiêng kỵ và quá trình hành lễ Sau khi nhận được thầy dạy thì con sở bắt đầu bước vào thời gian cấm cung Tùy theo từng thầy dạy

và quá trình tiếp thu của người học mà thời gian cấm cung có thể khác nhau Trong thời gian đó người học nghề phải tuân thủ một số kiêng kỵ như:

- Không được ra khỏi nhà một mình

- Không bước về phía sau bàn thờ

- Không ăn thịt, ăn mỡ

- Không gặp mặt vợ hoặc chồng (nếu có)

Nếu họ vi phạm một trong các điều trên không những không trở thành Then

mà còn ảnh hưởng đến tính mạng vì bị ma Then bắt phạt

Khi kết thúc thời gian học nghề, con sở phải trải qua một cuộc kiểm tra, đánh giá của thầy dạy Nếu đủ điều kiện thầy cha, thầy mẹ sẽ đứng ra chủ trì

lễ cấp sắc cho con sở với tư cách là người đứng đầu bảo trợ nghề nghiệp

Qua thời gian hành nghề Then của mình nếu người Then đạt những tiêu chuẩn nhất định thì sẽ được thăng cấp dần Thông thường theo quy định thì cứ

3 năm các thầy Then phải làm lễ cấp sắc (nâng cấp bậc) một lần Tuy nhiên tùy vào trình độ hành nghề cũng như số lượng học trò nhiều hay ít mà số năm làm lễ cấp sắc có thể là 3 hay 9 năm Việc nâng cấp Then chủ yếu căn cứ vào

số dây ở mũ của người làm Then Có tất cả 15 dây, cấp bậc của Then được tính theo số lượng từ thấp đến cao: 5 dây, 7 dây, 9 dây, 11 dây, 13 dây và 15 dây Nếu cứ tuần tự thăng tiến thì trong đời làm Then họ phải làm lễ cấp sắc tới 6 lần

Trang 36

2.2.3 Môi trường diễn xướng

2.2.3.1 Thời gian

Đối với người Tày ở An Lạc, nếu đôi vợ chồng nào sống với nhau lâu ngày mà chưa có con hoặc hữu sinh vô dưỡng hay con nhỏ khó nuôi thường xuyên ốm đau bệnh tật thì họ sẽ tìm đến nhà thầy Then để xem số Khi đi người ta mang theo một ít lễ vật như một bát gạo, một chiếc áo, hoặc khăn và mấy đồng bạc đi để gặp thầy Then xem số mệnh nếu có hạn thì phải làm lễ giải hạn hoặc phải làm lễ bắc cầu xin hoa, thường thì người ta sẽ làm cả hai

lễ Sau khi biết số mệnh và đường con cái của mình người ta sẽ nhờ thầy xem cho ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ tại gia đình

Lễ bắc cầu xin hoa thường được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân và mùa thu bởi người Tày quan niệm muốn xin hoa phải tổ chức vào mùa hoa nở thì mới linh thiêng, đối với một buổi lễ bắc cầu xin hoa thường được diễn ra trong khoảng 10-12 tiếng, tùy thuộc vào điều kiện và ý muốn của gia đình gia chủ mà lễ được tổ chức vào ban ngày hay buổi tối tùy ý Nếu tổ chức vào ban ngày thì thường bắt đầu từ lúc 9-10 giờ sáng và kết thúc vào lúc 9- 10 giờ đêm Còn nếu tổ chức vào ban đêm thì thường bắt đầu từ lúc 16-17 giờ chiều

và kết thúc vào khoảng 6 giờ sáng hôm sau

2.2.3.2 Không gian

Không giống như lễ Then quét nhà có không gian thực hiện lớn là từ trong nhà quét đến sân thậm chí là cả ngòai vườn, ngoài ngõ thì lễ Then bắc cầu xin hoa ở An Lạc lại có không gian nhỏ hẹp hơn, không gian của lễ bắc cầu xin hoa thường chỉ được tổ chức trong nhà giống như các lễ cầu an, giải hạn

Khi lễ Then diễn ra, bà Then sẽ ngồi trên chiếc giường để làm lễ, mâm Thánh sẽ được đặt tại đây và đặt trước mặt thầy Then, trên chiếc giường này chỉ có thầy Then và một người phụ việc cho thầy Then được ngồi Các mâm

lễ còn lại sẽ được đặt ở bên cạnh chiếc giường nơi thầy Then ngồi làm lễ

Trang 37

Những người khác đến giúp việc và đến xem sẽ ngồi ở chiếc chiếu được trải dưới đất ở phía bên cạnh và đằng sau thầy Then Trong buổi lễ, không có sự phân biệt chỗ ngồi của nam giới và nữ giới mà ở đó nam và nữ có thể ngồi cùng nhau ở bên cạnh hoặc đằng sau thầy Then

Khi làm lễ người ta thắp hương cả trên bàn thờ tổ tiên cũng như trong tất cả các mâm lễ Tiếng đàn tính, âm thanh của chùm nhạc xóc, lời ca tiếng hát của bà Then cùng với khói hương nghi ngút đã tạo nên một không gian vô cùng linh thiêng Vì là không gian linh thiêng nên những người đến dự cũng cần phải thực hiện một số quy định như: Không được nói những lời thô tục trước mặt thầy Then, những người không sạch sẽ không được ngồi gần thầy Then hay không được để chó, mèo chạy vào gần nơi làm lễ

2.2.4 Các yếu tố bổ trợ trong Then

Then là một loại hình nghệ thuật biểu diễn tổng hợp trong đó có sự tổng hợp của nhiều hình thức diễn xướng như văn học, âm nhạc, các động tác biểu diễn Then bắc cầu xin hoa cũng vậy, Then bắc cầu xin hoa là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính nghi lễ của người Tày nói chung và người Tày ở xã An Lạc nói riêng Tính nghệ thuật tổng hợp trong Then bắc cầu xin hoa được thể hiện ở chỗ trong quá trình diễn ra nó có sự kết hợp của nhiều hình thức diễn xướng như: Văn học, âm nhạc, động tác biểu diễn, trang trí mỹ thuật và nghệ thuật ẩm thực mang đậm chất dân tộc miền núi

2.2.4.1 Văn học trong Then bắc cầu xin hoa

Then là loại hình văn học dân gian được dùng để hành lễ tín ngưỡng của người Tày nên phần lời ca trong Then được ghi lại bằng chữ Nôm Tày và được truyền qua các thế hệ làm nghề Then Trong Then bắc cầu xin hoa ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Tày thỉnh thoảng có xen lẫn các từ hán nôm và tiếng kinh Văn học trong Then chủ yếu là thuộc loại văn vần theo thể thơ 5 chữ, 7

Trang 38

chữ, ngoài ra Then còn sử dụng nhiều thể thơ quen thuộc trong dân gian dân tộc Tày như phong slư, lượn, kể chuyện thơ…

Trong Then bắc cầu xin hoa, lời Then là cảnh quan binh rầm rập trèo đèo lội suối từ hạ giới tiến lên thiên đình để cầu xin Hoa Vương Thánh Mẫu ban phát hoa (ban con cái) Cuộc hành trình rầm rập như thực như ảo qua bao cảnh thiên nhiên kỳ thú tươi đẹp Bằng lời hát, trong nhiều câu đoạn Then đã nhân cách hóa cảnh vật xung quanh con người làm cho cây cối, thú vật cũng biết oán thán, than trách số phận:

“ …Tức thì quan vào tới vườn tiên

Muôn cây quế tỏa hương thơm ngát

Cây rầm thêm cây rúi vàng thơm

Quan chọn cây thơm lừng đại thụ

Tổ ong treo la liệt trên cành

Lệnh quan hạ cây ngay lấy gỗ

Ong ve bèn than thở lạy than

Chim chuột cũng bàng hoàng chua sót

Đức tướng quân sao quyết chẳng từ

Sơn lâm có thiếu gì cây lớn

Sao ngài nỡ phá tổ ong ve

Muôn loài ong khóc van xin xỏ

Lạy ông đừng phá tổ chúng em

Loài ong này kiếm tìm hoa nhụy

Đêm bay về đây trú bình yên

Xin ông hãy di tìm cây khác

Quan Trạng không nao núng đổi thay

Xui quân quốc chặt ngay gỗ quý

Phút chốc cây nghiêng ngả rền rung

Trang 39

Ong ve bay tứ tung thê thảm

Tướng quân thật ác quá dường này

Cây sơn lâm đại ngàn vô vạn

Sao quan cứ phải chọn hại ong

Con bay con dùng dằng than khóc

Tiếng não nùng thê thiết rừng xanh…”

Và đây có lẽ cũng chính là sự than thở oán trách của quần chúng nhân dân dưới ách thống trị của chế độ phong kiến hà khắc trước đây Chính vì Then có những câu, những lời hát phản ánh đúng hiện thực xã hội như vậy nên nó gần gũi với nhân dân hơn và được nhân dân yêu thích lắng nghe nhiều hơn Cùng với đó lời Then cũng sử dụng các thể thơ dân gian, cách kể chuyện và các hình ảnh quen thuộc của người Tày nên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt lôi cuốn người nghe

2.2.4.2 Âm nhạc trong then bắc cầu xin hoa

Trong các loại hình âm nhạc tín ngưỡng của đồng bào Tày thì âm nhạc trong Then có số lượng bài bản phong phú nhất và đạt giá trị nghệ thuật cao nhất Hát Then nói chung và Then bắc cầu xin hoa nói riêng là hình thức ca hát thực hiện trong nghi thức tôn giáo dân gian Điều đặc biệt của hát Then là

có các giai điệu, tiết tấu, nhịp, phách riêng Trong hát Then thường được sử dụng hai loại nhạc cụ chủ yếu là cây đàn tính hay còn gọi là đàn Then và chùm nhạc xóc

Cây đàn Then là nhạc cụ được sử dụng gần như xuyên suốt thời gian diễn ra lễ Then Nhưng vai trò của nó ở từng lúc lại khác nhau

- Đàn Then dùng để diễn tấu đoạn đầu để dẫn nhịp trước khi bắt đầu vào câu hát

- Có khi đàn Then lại dùng để giữ nhịp cho câu hát

- Đánh lưu thông để bắc nối giữa các đoạn hát với nhau

Trang 40

Chùm nhạc xóc trong Then được dùng để minh họa cho tiếng ngựa trong những đoạn đi đường Nhạc xóc là nhạc cụ đúc từ đồng hoặc bạc gồm những vòng tròn móc vào nhau thành chùm có những quả chuông to nhỏ cũng được làm bằng đồng để tạo nên những âm thanh trầm bổng khác nhau Tùy từng đoạn Then khác nhau mà chùm nhạc xóc được đánh nhanh hay chậm, nhẹ nhàng hay dồn dập

Trong các cuộc Then, người làm Then không thể thiếu cây đàn và chùm nhạc xóc, cây đàn lúc trầm lúc bổng, chùm nhạc xóc lúc rộn ràng lúc chậm rãi kết hợp với các lời ca uyển chuyển cao thấp của Then tạo nên một sức hấp dẫn kỳ lạ đưa người nghe vào trạng thái lâng lâng khó tả Nhất là như

lễ Then bắc cầu xin hoa thường được tổ chức trong nhà vào những đêm khuya thanh vắng trong không gian nhỏ hẹp nên âm nhạc trong Then càng tạo nên một cảm giác êm dịu, nhẹ nhàng và ấm cúng

Âm nhạc trong lễ Then bắc cầu xin hoa khá phong phú, tùy nội dung

từng đoạn mà Then gẩy theo các điệu tàng nặm (đường thủy), pây tàng (đi đường), pây mạ (đi ngựa), hoặc điệu pây ẻn (đi én)

Điệu pây mạ với tiếng hát cất cao, dồn dập với tiếng nhạc xóc rộn rã

như bước chân của đoàn binh mã đang rầm rập hành quân Đặc biệt xen vào những lời ca tiếng hát là lời đánh lưỡi rất điệu nghệ của bà Then miêu tả tiếng

bước chân ngựa phi nước kiệu Hoặc điệu pây ẻn với lời ca du dương nhỏ nhẹ

cùng với tiếng đàn tính trong trẻo, tiếng nhạc xóc nhẹ nhàng tạo nên cho người nghe cảm giác êm ái dịu dàng

Theo ý kiến của bà Then Hoàng Thị Qúy (thôn Mới xã An Lạc) thì Tất

cả các thầy Then họ chỉ có thể đàn hát, xóc nhạc khi đã xin được phép của thần linh tức là được các Thầy dẫn đường Khi nhập vào cuộc Then họ có thể đàn, hát thành thạo các làn điệu các khúc hát Then rất dài nhưng khi ra khỏi cuộc Then thì không thể nhớ ra được những lời Then đó Điều đó có nghĩa

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm