LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, bà con người Sán Dìu ở xã Ngọc Thanh, đặc biệt là gia đình ông Lâm Văn Thịnh, các thày cô g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
… … o0o………
TẬP QUÁN SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU
Ở XÃ NGỌC THANH, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS TRẦN BÌNH Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ PHÚ
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, bà con người Sán Dìu ở xã Ngọc Thanh, đặc biệt là gia đình ông Lâm Văn Thịnh, các thày cô giáo Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số và PGS.TS Trần Bình
Nhân đây em xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc tới tất cả Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do khả năng và điều kiện có hạn, nên Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo và mọi người quan tâm tới tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trần Thị Phú
Trang 3MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Nội dung và bố cục khóa luận 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH 7
1.1 Tộc danh, nguồn gốc, dân số và phân bố dân cư 7
1.2 Đặc điểm địa bàn cư trú 11
1.3 Đặc điểm văn hóa 16
Chương 2: TẬP QUÁN SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG 25
2.1 Quan niện về sinh đẻ 25
2.2 Các tục lệ của giai đoạn trước khi sinh 26
2.3 Tập quán khi sinh đẻ 32
2.4 Tập quán chăm sóc sản phụ và hài nhi sau khi sinh 38
2.5 Các nghi lễ, kiêng kị liên quan đến vượt cạn 41
Chương 3: BIẾN ĐỔI TẬP QUÁN SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH 47
3.1 Biến đổi trong tập quán sinh đẻ hiện nay 47
3.2 Nguyên nhân của sự biến đổi 49
3.3 Một số khuyến nghị ban đầu 54
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 62
1 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH 62
2 DANH SÁCH NGƯỜI CUNG CẤP TÀI LIỆU 67
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sán Dìu là tộc người cư trú tập trung ở vùng Đông Bắc Việt nam Họ có nền văn hóa dân tộc khá đặc sắc Trong đó có tập quán sinh đẻ và chăm sóc con cái Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, cũng như nhiều tộc người khác, văn hóa truyền thống Sán Dìu đang đứng trước nhiều thách thức lớn Mặt khác, Sán Dìu là tộc người sống chủ yếu ở vùng cận giáp ranh với trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị (Hà Nội) của đất nước Đó là các tỉnh: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc,… Cũng như ở các địa phương khác, tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh (Phúc Yên, Vĩnh Phúc) đang dần bị mai một rất nhanh Nghiên cứu, tìm hiểu để khai thác, vận dụng tồn tập quán quý giá này trong công tác chăm sóc sức khỏe bà, mẹ trẻ em là rất cần thiết
Thực hiện nghị quyết trung ương Năm, khóa VIII, Xây dựng và phát
triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…cần phải gìn giữ và phát
huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của các tộc người Bảo tồn văn hóa truyền thống của các tộc người, bảo tồn sự đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện nay
là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Trong đó, tập quán sinh đẻ, nuôi con của các tộc người là bộ phận quan trọng của văn hóa của các tộc người Muốn bảo tồn, khai thác, vận dụng tốt tập quán này, bắt buộc phải nghiên cứu tìm hiểu kỹ lưỡng
Với những lí do trên, em chọn đề tài "Tập quán sinh đẻ của người Sán
Dìu ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề khóa luận tốt
nghiệp
Trang 5
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về người Sán Dìu,
được công bố: Ma khánh Bằng, Nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983; Ngô Văn Trụ, Dân tộc Sán Dìu
ở Bắc Giang, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1983; Trần Bình, Một
số tập quán liên quan đến sinh đẻ và hạn chế sinh đẻ của người Xinh Mun,
Tạp chí Dân tộc học, số 2/1997; Diệp Trung Bình, Phong tục và nghi lễ chu kì
đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt
Nam, Thái Nguyên 2005; Nguyễn thị quế Loan, Tập quán ăn uống của người
Sán Dìu ở Thái Nguyên, Luận án Tiến sỉ Sử học, chuyên ngành Nhân học văn
hóa, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, H.2008; và gần đây nhất thì cuốn sách viết về người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc cũng đề cập đến những vấn đề đặc trưng kinh tế truyền thống, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán, tục thờ cúng, tín ngưỡng, trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực… Lâm Quang
Hùng, Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc, Hội sử học Vĩnh Phúc xuất bản năm 2011
Trang 6Nêu một số giải pháp gìn giữ, khai thác, vận dụng tập quán sinh đẻ của của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh, trong sự nghiệp chăm sóc bà mẹ, trẻ em hiện nay ở địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu ở xã NgọcThanh, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Địa bàn nghiên cứu: xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc nơi sinh sống của một bộ phận người Sán Dìu ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp luận: chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cở sở để nghiên cứu sự tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội đối với văn hóa của người Sán Dìu đặc biệt là Tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu
- Điền dã dân tộc học: đây là phương pháp chính khi nghiên cứu để lấy nguồn tư liệu phục vụ đề tài với các kỹ thuật như: phỏng vấn, ghi âm, chụp ảnh, thông qua nhiều đợt đi thực tế tại địa bàn xã Ngọc Thanh, thu thập tài liệu liên quan
- Nghiên cứu thư tịch: để thu thập các tài liệu đã được công bố như các cuốn sách về người Sán Dìu nói chung, người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc nói riêng
về phong tục và nghi lễ chu kì đời người của người Sán Dìu đặc biệt về tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu nơi đây
- Để xử lý tư liệu tôi dùng phương pháp thống kê, so sánh
6 Đóng góp của đề tài
Góp thêm nguồn tư liệu điền dã mới, qua đó thấy được sắc thái của địa phương, góp phần nhận diện đày đủ hơn về tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh
Chỉ ra những yếu tố tích cực và hạn chế hay những thủ tục lạc hậu
trong nghi lễ sinh đẻ của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh
Trang 77 Nội dung và bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì nội dung khóa luận gồm 3 chương chính
Chương 1: Khái quát về dân tộc Sán Dìu ở Ngọc Thanh
Chương 2: Tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh trong xã
hội truyền thống
Chương 3: Biến đổi tập quán sinh đẻ của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh
hiện nay
Trang 8Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH
1.1 Tộc danh, nguồn gốc, dân số và phân bố dân cư
* Tộc Danh
Từ lâu, người Sán Dìu vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín, có
nghĩa là Sơn Dao Nhân, tức người Dao ở trên núi Tuy nhiên, các dân tộc lân cận dựa trên đặc điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống
mà dùng những các tên khác để chỉ người Sán Dìu như: Trại đất (người trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại cao (người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng,
Trại cộc, Mán cộc, Mán quần cộc, Mán váy xẻ, Sán Dao…
Từ thế kỉ XVIII, trong tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ
đời Trần đến đời Lê Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn
(1726-1784), bản dịch của Phạm Trọng Điềm, đã đề cập về nhiều dân tộc ở miền
Bắc Việt Nam Ở mục Phong vực có nói đến các tộc người ở Tuyên Quang
như: người Nùng, người Xá, người La Quả, người Thổ, người Man…, đặc
biệt, sách ghi có tới “bảy chủng người Man” là : Sơn Trang, Sơn Tử, Cao
Lan, Sơn Man, Sơn Bán, Sơn Miêu, Hờn Bạn [11]
Trong số các tên được nhắc tới, đáng lưu ý nhất là tên Sơn Man Theo
Ma Khánh Bằng, tên Sơn Man mà Lê Quý Đôn nhắc đến ở đây chính là người
Sán Dìu Vì dưới chế độ phong kiến Việt Nam, không riêng gì người Dao mà nhiều dân tộc khác như Hmông, Pà Thẻn, và người Cao Lan… đều được gọi
là Man; nhưng một điều chắc chắn là tất cả các nhóm Dao đều được gọi là
Mán hoặc Man Như vậy, ta có thể nghĩ rằng Man ở đây là Dao, Sơn Man tức
là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu như bản thân họ vẫn tự nhận [1, T13]
Trang 9Cho đến năm 1960, Tổng cục Thống kê mới ghi nhận tên Sán Dìu Và cũng từ đó, tên Sán Dìu được khẳng định như một tên gọi chính thức của dân tộc này trong các văn bản của Đảng và Nhà nước
bộ phận góp phần tạo nên nền văn hóa đó
Sán Dìu là một trong 53 dân tộc thiểu ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng có nguồn gốc từ Quảng Đông – Trung Quốc Có ý kiến cho rằng tộc người Sán dìu vào Việt Nam vào cuối thời Minh do chiến tranh loạn lạc, triều đình đàn áp tộc người này quá nên họ đã bỏ đi lưu tán khắp nơi và xuống Việt Nam sau đó định cư và ổn định ở 1 số tỉnh đông bắc
Hay theo điều tra của các nhà Dân tộc học và Khảo cổ học thì Người Sán Dìu
có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng 300 – 400 năm
Theo gia phả một số dòng họ lâu đời ở ngọc Thanh như: họ Lâm, Trương, Lưu thì người Sán Dìu tới Ngọc Thanh khoảng 8 đến 10 đời Họ cư trú ổn định và định cư làm ăn sinh sống từ đó tới nay
Trong tài liệu “ Người Sán Dìu ở Bắc Giang” – Ngô Văn Trụ và “ Người Sán Dìu ở Việt Nam” dựa theo quyển truyện thơ chữ Hán: Vũ Nhi Thư Cộng Đồng Thiêm Thử Vương( chuyện kể về vũ nhi và vua Cóc) Chuyện Vu Nhi nói về cảnh dì ghẻ con chồng, sự độc ác dã man của người dì ghẻ Tuy nhiên truyện thơ này cũng cho ta biết thêm về sự hình thành của một gia đinh, dòng tộc Trong câu chuyện nhiều lần đã nhắc đến các địa danh ở Trung Quốc ngày nay Bước đầu nhận định người Sán Dìu có nguồn gốc từ Trung Quốc, tổ tiên của họ không phải ở Việt Nam
Trang 10Còn trong chuyện Vua Cóc là 1 câu chuyện có tính chất huyền thoại đã được người Sán Dìu lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm chê bai sự dối trá lừa lọc và khuyên con người ta nên ăn ở cho có đức hạnh Nội dung của truyện: có một người dân tộc Sán Dìu họ Trương làm tri huyện thụ ở Trân Châu kết hôn vời người có tên là nàng Ba ở cùng huyện Lấy nhau 10 năm nhưng 2 vợ chồng không có mụn con Hai vợ chồng đã làm việc thiện suốt 3năm 3 tháng thì người vợ có thai và sinh ra 1 con Cóc, không nỡ giết con bà Hai nuôi cóc cho cóc sống ở góc vườn Lúc đó thời buổi loạn lạc vua đã treo bảng tìm người dẹp giặc Man Di giữ nền thái bình cho đất nước Cóc đã ngậm bảng đem về và xin đi đánh giặc Vua hứa sẽ gả công chúa cho Cóc Sau khi dẹp xong giặc Man Di Cóc trở về và xin vua được lấy công chúa Công chúa thương cha nên đã nhận lời nhưng khi cưới xong trong đêm nàng công chúa thấy một chàng trai khôi ngô đang nằm bên mình, hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm da cóc nàng đã mang đến cho vua cha xem Ông vua ngu dốt kia đã mặc vào người và biến thành Cóc, sau đó đã bị đuổi đi và Chàng Cóc trở thành Vua
Giặc Man Di bị dẹp loạn từ đó phải phiêu bạt khắp nơi, một số người sống sót
đã tập trung lại và sang Việt Nam Tộc người Sán Dìu tồn tại tới ngày nay làm
ăn sinh sống và trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam
* Quá trình chuyển cư của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh
Người Sán Dìu di cư từ Quảng Đông- Trung Quốc Sang Việt Nam Ban đầu vào Quảng Ninh sau đó chuyển cư đi khắp khu vực trung du miền núi phía bắc, đặc biệt họ sinh sống ở Đông Bắc và tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, và một số di
cư vào Tây Nguyên Người Sán Dìu có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh thành của cả nước, dân số 146821 người ( 2009)
Trang 11Tộc người Sán Dìu ở Ngọc Thanh do Người Sán Dìu ở Thái Nguyên chuyển cư qua Đèo Nhe tiến dần sang xã Ngọc thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Họ vào xã Ngọc Thanh khoảng 200 – 300 năm, theo gia phả nhà
họ Lâm, Lưu, Trương thì cách đây khoảng 6- 8 đời Từ đó họ định cư làm ăn sinh sống đến tận bây giờ Những thập niên trước đổi mới của thế kỷ XX thì
họ sống khép kín và ít khi giao tiếp với những người tản cư đến Họ sinh sống
và làm ăn mang tính chất tự cung tự cấp, có những phương thức sản xuất rất riêng phục vụ đời sống Họ mang những nét văn hóa chung của tộc người Sán Dìu từ văn hóa tinh thần, vật chất, phong tục tập quán cho đến tín ngưỡng tâm linh
Ban đầu họ di cư tới chỉ khoảng vài chục người sống vùng rừng núi giáp với Thái Nguyên Ban đầu họ sống du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy trồng các loại thực phẩm nhưng do điều kiện rừng núi khó khăn Họ di chuyển dần ra ngoài xuống vùng lòng chảo thoai thoải khá bằng phẳng canh tác ruộng nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm
* Dân số và phân bố dân cư
Phúc yên là địa bàn cư trú của 2 dân tộc anh em là dân tộc Kinh và Sán Dìu Với tổng số dân là 82.730 nhân khẩu người Kinh chiếm hơn 95% số dân, còn lại là dân tộc Sán Dìu chiếm 1 lượng rât nhỏ sống tập trung ở xã Ngọc Thanh
Xã Ngọc Thanh với dân số trên 12054 người ( 2011) khoảng 46% là người dân tộc Sán Dìu, 54% người Kinh Người Sán Dìu đến sống vùng này trước, họ là một bộ phận của dân tộc Sán Dìu cư trú ở Đại Từ – Thái Nguyên sau đó di chuyển dần sang Ngọc Thanh Di cư tới Ngọc Thanh khoảng mấy trăm năm Họ định cư tại đây và sinh sống quần tụ theo như những ngôi làng của người Kinh
Trang 12Ngọc Thanh gồm 22 thôn: An Ninh, Miếu Gỗ, Đồng Cao, Thôn Chung, Đồng Đằm, Sơn Đồng, Đồng Dãng, Ngọc Quang, T80, Thanh Cao, Gốc Duối, Lập Đinh, Thọ An, Tân An, Thanh Lộc, An Bình, Đèo Bụt, An Thịnh, Bắc Ái, Cao Quang
Người Kinh sống ở vòng ngoài chủ yếu là người từ nơi khác tới do quá trình tản cư tránh chiến tranh những năm 1954 và xây dựng khu kinh tế mới
do Đảng và Nhà Nước phát động từ những năm 1975, 1986 Lúc đầu họ sống
ở vòng ngoài ( An Đồng gồm 4 thôn An Ninh, Miếu Gỗ, Thôn Chung, Đồng Cao) sau đó di chuyển vào trong Đèo Bụt và 1 số thôn khác giáp hẳn với vùng Đại Từ – Thái Nguyên ( Ngọc Thanh b) Hiện nay thì người Kinh và người Sán Dìu sống quần tụ với nhau không có sự tách biệt về làng xóm và
họ còn kết hôn với nhau
Dân tộc sán Dìu sống tập trung ở vùng giữa của xã ở 1 số thôn: Đồng Đằm, Sơn Đồng, T80, Đồng Dãng, Lập Đinh, Thanh Cao, Gốc Duối, Ngọc Quang,… còn giữ được nhiều nét văn hóa của tộc người nhất
1.2 Đặc điểm địa bàn cư trú
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
Vĩnh Phúc là một tỉnh khá phát triển, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, hội tụ đủ 3 đặc điểm sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi Có điều kiện rất thuận lợi mạng lưới giao thông thuận tiện, tiềm năng rất lớn nên nhận được sự đầu từ các công ty của nước ngoài tạo ra nhiều khu công nghiệp, góp phần phát triển kinh tế của vùng cũng như cả nước, có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn Vĩnh phúc gồm 7 huyện ( Tam Đảo, Lập thạch, Bình Xuyên, Sông Lô, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường ) 1 thành phố trực thuộc tỉnh ( Vĩnh Yên ), 1 thị xã ( Phúc Yên )
Vĩnh phúc là địa bàn cư trú của 7 dân tộc anh em :kinh, Sán Dìu, Dao, Nùng, Tày, Sán Chay Phúc Yên là thị xã duy nhất của tỉnh với vị trí địa lí vô
Trang 13cùng thuận lợi nằm cạnh quốc lộ 2, có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, cách sân bay Nội Bái 8km, và cách Hà Nội 30km, khu công nghiệp đầu tư của nước ngoài …
Vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch vói 525 ha hồ Đại Lải một năm thu hút nhiều lượt khách trong và ngoài nước nghỉ mát, ngoài ra còn có Đầm Láng, Đầm Cà và Sông Cà lồ… Thị Xã Phúc Yên là một trong những vùng phát triển của tỉnh góp phần rât lớn trong tổng GDP
Phúc Yên gồm 6 phường ( Xuân Hòa, Đồng Xuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng ) và 4 xã ( Cao Minh, Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh )
* Vị trí địa lí: Ngọc Thanh là 1 xã miền núi duy nhất của thị xã, nằm ở
vị thế rất đặc biệt là trong lòng chảo chung quanh được bao bọc bởi núi từ chân núi Tam Đảo gắn với dãy Thằn Lằn là dãy núi thấp hình vòng cung gần như bao bọc chọn xã chỉ có một hướng ra ở phía đông nam của xã thông thương với thị trấn Xuân Hòa tập trung buôn bán ở chợ lớn Xuân Hòa
Phía Đông – Bắc giáp với huyện Phổ Yên – Thái Nguyên
Phía Đông Nam giáp với Sóc Sơn – Hà Nội
Phía Tây Nam với huyện Mê Linh - hà Nội
Phía Tây Bắc giáp với huyện Bình Xuyên
*Địa hình: Địa hình vòng cung, lòng chảo Xã được bao bọc xung
quanh là dãy núi Thằn Lằn kéo dài từ chân núi Tam Đảo xuống Vùng giữa khá bằng phẳng nên người dân tập trung sinh sống ở đây Với tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 7714ha, 3/4 diện tích là rừng núi, địa hình dốc từ Tây sang Đông
*Khí hậu: Ngọc Thanh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có một
mùa đông lạnh giá Khí hậu có sự phân biệt hai mùa rõ rệt, mưa bão tập trung
từ tháng 5 - tháng 8, hàng năm với lượng mưa trung bình khoảng 1500mm
Trang 14Nhiệt độ trung bình cao nhất khoảng 25độ C, thấp nhất 18độ C Tần suất sương muối thường xảy ra vào tháng 11 đến tháng 3 năm sau
*Đất đai: Đất có rừng chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên, nhưng chủ yếu
là rừng mới tái sinh Hệ thống thực vật và động vật rất phong phú và đa dạng
Có được điều này là do người dân được tuyên truyền về luật cấm săn bắn và việc thu súng trong nhân dân Chủ yếu là đất feralit và đất mùn
Đất đai của xã tương đối phong phú Chủ yếu là đất feralit, và một số loại đất khác như: đất thịt, đất mùn,… các loại đất này thích hợp trồng một số cây công nghiệp chè và cây ăn quả: xoài, nhãn, vải,… đem lại hiệu quả kinh
tế cao và trồng lúa nước, các loại hoa màu khác: ngô, sắn, lạc, đỗ tương,…
Xã Ngọc Thanh là 1 xã miền núi có dân tộc thiểu số sinh sống rất cần
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước có những chính sách nhằm nâng cao dân trí kinh tế của xã
1.2.2 Đặc điểm xã hội
*Tổ chức gia đình: Gia đình người Sán Dìu là gia đình nhỏ phụ quyền,
thường gồm 2 – 3 thế hệ Tinh thần gia tộc ở người Sán Dìu rất mạnh mẽ Người chồng, người cha quyết định mọi việc, con trai trưởng gánh vác công việc thờ phụng tổ tiên Nguyên tắc hôn nhân của đồng bào là ngoại hôn dòng
họ Chế độ hôn nhân 1 vợ, 1 chồng đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người Sán Dìu Tuy nhiên, nếu không có con thì người chồng có thể lấy thêm vợ lẽ để có người nối dõi tông đường Nàng dâu với bố chồng, và với anh em trai của chồng có những sự cấm kị rất nghiêm ngặt Hai bên không được vào buồng của người kia (kể cả lúc vắng mặt) và khi đưa cho nhau bất kể cái gì ( kể cả con cái) đều không được đưa trực tiếp kiểu tay truyền tay mà phải để vật đó xuống rồi người kia sẽ tự nhận lấy
Trong gia đình người Sán Dìu ở Ngọc Thanh cũng như các dân tộc khác, rất coi trọng đạo lí, nề nếp gia phong Kính trên nhường dưới, trên bảo
Trang 15dưới phải nghe, mọi người cùng giúp đỡ, chia sẻ nhau công việc gia đình Gia đình hòa thuận, vui vẻ, hạnh phúc là ước mơ của mọi người Sán Dìu xưa và nay
* Tổ chức dòng họ: Người Sán Dìu ở Ngọc Thanh có các họ như:
Trương, Lưu, Lâm, … Mỗi họ có tên đệm để phân thứ bậc và thế hệ Đồng
bào rất quý trọng người cùng họ Người ta vẫn thường bảo nhau: San Déo
loỏng si, nghĩa là người Sán Dìu ít ỏi nên phải đùm bọc lấy nhau, phải quí
mến nhau Những người cùng họ luôn nêu cao tinh thần đoàn kết và có trách nhiệm giúp đỡ nhau khi gia đình nào đó có những sự kiện trọng đại như: làm nhà mới, cưới xin, tang ma… Đặc biệt, ma thuật làm hại có nguy hiểm và đáng sợ như thế nhưng đồng bào tin rằng những người cùng họ sẽ không thể hại nhau bằng ma thuật được vì trái với đạo lí thì ma thuật sẽ không linh nghiệm
* Tổ chức xã hội: Trong truyền thống tổ chức xã hội của người Sán
Dìu là các trại, thôn, làng, xã, tổng Mỗi đơn vị tổ chức đó đều có người cai quản Đứng đầu tổng có chánh tổng quản; đứng đầu làng xã có lí trưởng cai quản; đứng đầu thôn có khám trại cai quản nhưng hầu hết những người này đều làm tay sai cho phong kiến, thực dân nên nhân dân Sán Dìu chịu nhiều khổ cực Tuy vậy, bên cạnh các tổ chức hành chính đó còn có một tổ chức gọi
là hội đồng kì mục hoặc hội đồng hương thôn, duy trì hình thức tiên chỉ là một già làng do dân bầu
Trước đây, người Sán Dìu không có chế độ sở hữu ruộng công đối với
tư liệu sản xuất mà nhà nào khai phá được bao nhiêu thì đó là thuộc quyền sở hữu của nhà ấy Nhưng dưới chế độ phong kiến thực dân, tất cả ruộng đất của đồng bào đều bị chiếm đoạt hết, nhân dân trở thành những người làm thuê cho địa chủ Xã hội cũ là xã hội có sự phân chia giai cấp, có kể giàu, người nghèo,
Trang 16có bần cố nông, trung nông, phú nông và địa chủ Thân phận người phụ nữ bị khinh rẻ Người phụ nữ không có một chút quyền lợi gì trong xã hội Xã hội
cũ cũng không có giai cấp thương nhân do thương nghiệp chưa phát triển Đến nay, tổ chức xã hội này đã bị phá vỡ hoàn toàn Tổ chức xã hội được cơ cấu theo chuẩn đơn vị hành chính quốc gia Đó là một xã hội bình đẳng, tự do, dân chủ Các thành viên trong xã hội đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Sán Dìu là dân bản địa nên về mặt chính quyền xã nhũng chức vụ quan trọng đều do họ nắm quyền, hiện nay thi người Kinh cũng đã tham gia vào công tác quản lí hành chính trong xã
* Giáo Dục: Do được Đảng và nhà nước quan tâm thì hiện nay ở xã
Ngọc Thanh phổ cập giáo dục hết cấp 2 Xây dựng hệ thống trường học từ Mầm Non – cấp 2 rất đầy đủ Do điều kiện vẫn còn khó khăn nên xã chưa xây dựng được trường cấp 3 nhưng con em trong xã vẫn có điều kiện học ở cấp 3 Xuân Hòa
* Y tế: vấn đề sức khỏe của người dân rất được quan tâm có trung tâm y
tế của xã và hàng năm thì đều có rất nhiều lượt khám chũa bệnh miễn phí cho người dân và thường xuyên có những chiến dịch tiêm phòng cho trẻ em ( chống viêm gan B, biếu cổ, phòng Dại, )
* Văn hóa: Ngoài trung tâm văn hóa của xã ra thì mỗi thôn đều có nhà
văn hóa riêng Nhà văn hóa của thôn có chức năng và nhiệm vụ rất quan trọng Nơi bàn bạc các việc trong thôn và họp phổ biến nhũng chính sách của Đảng tới người dân, bầu cử… chức năng rất quan trọng là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, đặc biệt hát Soọng cô là sinh họat tinh thần thể thiếu trong cộng đồng dân tộc Sán Dìu mà hiện nay nó đang được khôi phục và bảo tồn lại Ngọc Thanh còn là chiến khu cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Pháp và là hậu phương vững chắc trong thời kì chống Mĩ Hiện nay ở Ngọc Thanh cư trú của người kinh và Sán Dìu sống xen kẽ với nhau, giao lưu
Trang 17văn hóa, học hỏi kinh nghiệm nương rẫy, kết hôn giữa người Sán Dìu và người Kinh rất phổ biến Tình làng xóm láng giềng rất thân thiết không có những xích mích hay hiềm khích gì
1.3 Đặc điểm văn hóa
1.3.1 Đặc điểm văn hóa vật chất
* Nhà ở: Nhà ở của người Sán dìu ở Ngọc Thanh cũng giống như nơi
khác Ngôi nhà truyền thống của họ là nhà Đất, chọn những nơi có điều kiện thuận lợi để dựng nhà: khu có đất bằng phẳng hay chân đồi và ven rừng, gân ruộng,… và quay mặt về hướng Đông hoặc Đông- Nam để tiện lợi cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Kết cấu nhà hết sức đơn giản chủ yếu là sử dụng nguyên liệu có sẵn trong rừng tre, nứa vách bằng đất, ít cửa sổ Nhà có 2 kiểu nhà chính: nhà cột gỗ kê chân hay nhà trình tường Nhà giàu, đông người thì thường làm 5 gian 2 trái Khung nhà có kết cấu đơn giản, vì kèo đơn, i vì kèo gồm 3 cột, đầu cột được gắn vào đòn tay cái, chân cột chôn xuống đất liên kết với nhau bằng đòn tay, kĩ thuật lắp dựng chủ yếu bằng nạt buộc vào
mộng trơn
Ngày nay đời sống của đồng bào đã được cải thiện nhiều nên kiểu nhà truyền thồng không còn nũa mà thay vào đó là những ngôi nhà khang trang hơn xây dựng băng gạch và đổ mái bê tông hay lợp ngói
* Ẩm thực: xưa kia người Sán Dìu thường ăn 2 bữa chính và 2 -3 bữa
phụ, nhưng trong bữa ăn hàng ngày rất đạm bạc chỉ có cơm với rau hái ở trong rừng và mọc ở vườn Trong bữa ăn hàng ngày của người Sán Dìu không thể thiếu đó là cơm tẻ, cháo và các loại rau họ trồng được như rau muống, dền, cải, rau lang,… Cuộc sống khó khăn nên bữa ăn của họ vẫn rất đạm bạc, khi có khách họ mới thịt gà, bắt cá Những ngày lễ tết của họ thường làm các loại bánh: bánh trưng tày, bánh nhợm, bánh tẻ, bánh tro, ngày rằm tháng giêng họ không thể thiếu món Xôi trứng kiến đem ra mộ cúng người chết,
Trang 18ngoài ra còn có thịt Thính (nhuộôc trụ trạo), thịt mỡ muối (nhuôộc phi diep) Gia vị: gừng (kioong lạt), giềng ( cường thoi), ớt ( lạt chảy), hành (shông) tỏi (chón thoi), hạt dổi, dấm mẻ, lá húng, kinh giới, mùi tàu…
Do cư trú xen kẽ với người Kinh nên đồng bào Sán Dìu ở Ngọc Thanh chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, nó có tác động rất lớn yếu tố văn hóa trong đó có
ẩm thực Ngày nay trong bữa ăn của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh rất đầy đủ các chất dinh dưỡng thịt cá, trứng,… do đời sống kinh tế của họ đã phát triển hơn rất nhiều
* Trang phục: Người Sán Dìu ở Ngọc Thanh không trồng bông dệt vải
mà mua vải về sau đó may vá thành quần áo nhưng nhuộm thành màu nâu Trang phục nam gồm: khăn xếp, khăn vấn đầu, áo dài, áo ngắn, thắt lưng, quần chân què, cạp lá tọa Trước kia, trong ngày hội đàn ông thường mặc một cặp áo dài, áo trong màu xanh, áo ngoài màu đen Cả hai chiếc áo này đều may cùng kiểu Đó là kiểu áo 5 thân, cổ cao, có cài khuy bên phải, ống tay hẹp, thân áo dài quá gối Ngày thường, họ cũng mặc áo may kiểu 5 thân nhưng là áo ngắn, màu nâu, thân cụt, bên trong thân có may 1 cái túi vuông nhỏ Quần nam giới thường là màu nâu hoặc màu trắng, cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa Thắt lưng màu chàm, xanh hoặc để nguyên màu sồi, đũi
Xưa, đàn ông Sán Dìu để tóc dài, búi tó sau gáy, cài trâm bằng xương nai rừng hoặc trâm bằng bạc Thường ngày, họ để đầu trần, đi chân đất hoặc
đi guốc gỗ Khi đi hội họ đội đầu bằng khăn xếp hoặc vấn khăn nhiễu màu đen; đi giày da hay dép quai ngang
Trang phục nữ: khăn đội đầu, xà cạp, váy màu tràm quá đầu gối không
có hoa văn, thắt lưng Áo dài và áo ngắn cắt cùng kiểu, chỉ khác nhau về độ dài, và luôn mặc thành từng cặp Áo ngắn mặc ở trong, màu nâu, cài khuy và
có may thêm 2 túi nhỏ ở 2 bên thân áo Áo dài cũng may theo kiểu áo tứ thân,
cổ cao, nẹp trơn, không đính khuy Áo dài thường may quá gối, chia làm 2
Trang 19nửa, nửa trên màu nâu, nửa dưới màu đen và được mặc ở ngoài [2] Cách mặc áo dài của phụ nữ cũng phân biệt giữa các lứa tuổi Người già mặc áo vạt trái vắt sang bên phải, còn người trẻ thì mặc ngược lại Thắt lưng màu tím, đỏ, hoa lí hoặc nền màu đen có thêu hoa văn nổi trên mặt Váy của phụ nữ Sán Dìu có màu đen và được may rất độc đáo Đó là kiểu váy ngắn, không khâu, gồm 2 – 4 mảnh cùng đính trên một cạp; mảnh này chồng lên mảnh kia 10 –
15 cm Do đó, phụ nữ Sán Dìu phải rất ý tứ trong giao tiếp và lao động
Đồng bào Sán Dìu thích dùng đồ trang sức như: vòng tay, vòng cổ,
khuyên tai, nhẫn, xà tích… Đặc biệt, phụ nữ Sán Dìu có chiếc loi thoi treo bên sườn rất duyên dáng Loi thoi là cái túi đựng trầu, hình giống như múi
bưởi được may và thêu trang trí hoa văn rất công phu Nó cũng là vật chứng
để chứng tỏ tài năng và sự khéo léo của các cô gái người Sán Dìu Hiện nay ở
xã Ngọc Thanh hầu như không còn ai mặc trang phục truyền thống nữa mà chủ yếu mặc quần áo như người kinh Chỉ có một vài cụ bà già mặc váy, và vấn khăn
1.3.2 Đặc điểm văn hóa tinh thần
* Ngôn ngữ: Người Sán Dìu cũng như người Việt đã chịu ảnh hưởng
sâu sắc của văn minh chữ Hán Biểu hiện nổi bật nhất của ảnh hưởng đó là người Sán Dìu đã thu nạp và dung hòa rất nhiều từ ngữ gốc Hán vào tiếng nói của dân tộc mình, đồng thời vận dụng nét bút và nguyên tắc biểu âm biểu ý của chữ Hán để tạo ra chữ viết cho dân tộc mình Chứng tích là chữ tượng hình của người Sán Dìu hiện nay vẫn còn lưu lại Nhưng nó chưa bao giờ được coi là văn tự chính và chuẩn hóa Ngày nay Sán dìu đã có hệ thống chữ viết mới dựa theo kiểu chữ la tinh Song chữ tượng hình vẫn có giá trị trong đời sống tín ngưỡng và hiện diện trong sinh hoạt truyền thống của người Sán Dìu như để ghi gia phả, sách cúng và truyện thơ Chỉ có thầy cúng mới biết
Trang 20chữ Hán do yếu tố nghề của họ vì họ ghi chép những bài khấn, tế, cúng đều bằng chữ Hán
Hiện nay thì ở Ngọc Thanh những người Sán Dìu nói chuyện với nhau vẫn dùng tiếng Sán Dìu nhưng họ không biết viết như thế nào Chữ Hán chỉ
có những thầy cúng biết và họ truyền nghề cho lớp sau
* Tôn giáo tín ngưỡng: dân tộc Sán Dìu theo tín ngưỡng đa thần, họ tin
vạn vật hữu linh mọi thứ đều có linh hồn Họ quan niệm rất nhiều thần linh và
Ma tiếng Sán Dìu gọi là “ Cúi”, bao gồm tất cả các thần linh, ma quỷ trên trời, dưới đất, dưới nước : ma trời, ma tổ tiên, ma núi, ma súc vật, ma đá… Tất cả các loại ma chia thành hai loại là ma lành và ma dữ Xuất phát từ quan niệm trên nên, đồng bào Sán Dìu có nhiều tín ngưỡng thờ cúng các loại ma, ở mỗi làng đều lập Miếu để thở thổ thần và Đình làng thờ Thành Hoàng Làng… Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở mỗi gia đình thì bàn thờ được đặt ở nơi trang trọng nhất, nơi chính gian giữa là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà Con cái trong gia đình ra ở riêng đều phải lập bàn thờ tổ tiên, có nhà thờ cả ma bếp Tùy vào tùng dòng họ mà họ có cách thờ cúng riêng có dong họ thờ tổ tiên 6 đến 12 đời Các lễ cúng được tiến hành vào các tuần tiết, lễ tiết và cầu khấn đến họ đời thư 4,5 là nhập vào bát hương tổ tiên và chỉ cúng trong những dịp lễ tết và có việc
Đêm giao thừa Tết Nguyên Đán ( Theo phong tục tết của người Kinh),
họ cúng xong, cắt những tờ giấy đỏ đem dán khắp nhà Đặc biệt họ dán trước cửa nhà, trước cổng, hay những cây trong vườn, bồ thóc,… Nhằm mục đích
để giữ của, tránh tà ma, tránh trộm cắp ( thể hiện sự sở hữu đã có chủ )
* Văn nghệ: Người Sán Dìu có bản sắc văn hóa rất đặc biệt đó là lối hát
soọng cô hình thức hát giao duyên giữa các đôi nam nữ với nhau Hát soọng
cô được tiến hành từ 3 – 7 đêm giữa thanh niên làng này với làng khác , thường diễn ra vào đầu tháng 5 khi xưa họ tổ chức các đoàn đi hát giao lưu
Trang 21với nhau, đây là lối sinh hoạt cộng đồng hết sức đặc sắc trong cộng đồng người Sán Dìu Hiện nay nó đang được khôi phục và bảo tồn lại Ngoài ra còn
có đố chữ, văn than, văn cúng… Hiện nay ở Ngọc Thanh thì còn 1 số bà biết hát Sọong cô, cũng có chính sách bảo tồn và gây dựng lại làn điệu này nhưng không được Nó đang dần biến mất
Đồng bào Sán Dìu ở xã Ninh Lai, Sơn Dương, Tuyên Quang có nhiều tri thức hay, đáng quý về các lĩnh vực của cuộc sống, nhất là trong nông nghiệp và y dược học
* Tri thức dân gian
● Dự đoán về thời tiết:
- Măng tre mọc tháng Chín âm lịch, nếu nó vươn cao suốt đỉnh ngọn thì có mưa to, gió lớn
- Trời nắng mà các cụm cỏ voi đổ màu lấm tấm trắng thì sắp có bão
- Cây bồ đề bị gió lật lá trắng phau là sắp có giông lớn
- Trời nắng hạn mà rết bò khỏi tổ, kiến tung tăng tha mồi chuyển ổ trứng, cóc nghiến răng là trời sắp mưa to hoặc lụt lớn [1]
- Vào tháng Tư âm lịch, khi thấy trên rừng cây cóc mạ nảy lộc non đỏ rờn thì gieo mạ ngay kẻo muộn
Trang 22- Ngày tết Đoan Ngọ, đồng bào đi hái lá ngải về làm thuốc Tối 4/5
âm lịch, người ta đi tìm những khóm ngải giẫm cho đổ hàng loạt Sáng hôm sau đi hái sớm, xem cây nào mọc khỏe hơn, cao hơn thì hái đem về Người ta
bó lại thành từng bó treo trên xà nhà, 2 – 3 năm sau mới đem tuốt, đập lá ngải thành bột dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh thường gặp [1]
Người Sán Dìu còn biết nhiều bài thuốc chữa rắn độc cắn, đinh nhọt, đinh râu, đau gân cốt, đau khớp, nhiệt miệng, đi ngoài, táo bón…
Ngoài ra còn có những nghi lễ tang ma, cưới xin cũng rất khác biệt với tộc người khác mà ở Ngọc Thanh bây giờ thì tập quán tang ma là còn giữ lại rất nhiều yếu tố truyền thống
1.3.3 Đặc điểm văn hóa mưu sinh
Chủ yếu sản xuất nông nghiệp là chính và chăn nuôi và lâm nghiệp chỉ
là nghề phụ, ngoài ra còn một số nghề thủ công khác nhưng không phát triển chủ yếu là để tự cung tự cấp cho sinh hoạt hàng ngày
*Trồng Trọt: Người sán Dìu ở Việt Nam nói chung và ở Ngọc Thanh
nói riêng chủ yếu là trồng lúa và một số loại cây lương thực khác như : Lạc, đậu tương, khoai, sắn, ngô… Một năm người Sán Dìu ở Ngọc Thanh sản xuất
2 vụ lúa ( Đông Xuân và Hè Thu ) Vụ Đông Xuân ( Chiêm ) được sản xuất từ tháng giêng đến đầu tháng 5 thì thu hoạch Vụ Hè Thu ( mùa ) bắt đầu từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 8 thu hạch Và xen 1 vụ màu từ cuối tháng 8 đến tháng chạp thu hoạch ở đây chủ yếu là trồng Ngô ( vụ Đông ) Do có điều kiện thuận lợi nước tưới tiêu ở hồ Đại Lải và địa hình khá bằng phẳng nên canh tác lúa nước (không có lúa nương) Ngoài ra đây cũng là vùng bán sơn địa, có đồi thấp nên cũng phát triển 1 số loại cây công nghiệp như: xoài, vải, mịt, chè,…
*Chăn nuôi với quy mô nhỏ: trâu, bò để lấy sức kéo trong nông nghiệp;
Lợn, gà, vịt, tiêu thụ sinh hoạt cải thiện bữa ăn Có một thời gian bồng bào dân tộc Sán Dìu ở đây phát triển chăn nuôi Dê thành đàn nhưng không thành
Trang 23công Vùng có thuận lợi là có rừng nguyên sinh và rừng tái sinh rất lớn có nhiều dự án phát triển trồng rừng và khai thác có chế độ Đồng bào sống ở đây không lo thiếu củi nấu ăn sinh hoạt hàng ngày
*Thủ công nghiệp: không phát triển, nhỏ lẻ, mang tính tự túc, tự cấp
- Nghề đan lát không phát triển chủ yếu là phục vụ gia đinh đồ dùng sinh hoạt : rổ, rá, quang gánh, xảo, sàng, nia,…
- Nghề Rèn: mang tính gia đình, nhỏ lẻ chỉ phục vụ người dân trong làng, với công cụ lao động đơn giản: rẽ Liềm, mài quốc, dao, cào ba, xẻng
- Ở đây không trồng bông dệt vải, họ chủ yếu mua ở vải của người Kinh
về sau đó nhuộm màu và may vá lấy
- Nghề mộc và xây dựng du nhập vào cộng đồng người Sán Dìu vào những năm 80 của thế kỉ 20 do những người Kinh mang tới
*Phương tiện vẩn chuyển: những dụng cụ phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp rất đơn giản và thô xơ chủ yếu là dùng sức trâu bò kéo, và sức người: quang gánh làm bằng tre( 4 thanh tre vừa, uốn thành một đôi và lấy đòn gánh dùng suacs người) hay đòn sóc được dùng gánh những cây dài như thân cây ngô khi thu hạch xong ( được làm bằng thân tre dài khảng 2m vót nhọ 2 đầu) Đặc biệt ở đây dùng chiếc xe quệt làm bằng gỗ, có thùng xe ở trên, 2 càng 2 bên làm bằng thân gỗ đẽo tròn, dùng sức trâu hoặc bò kéo lúa, ngô, sắn… rất tiện lợi và giảm sức người trong quá trình lao động
Hiện nay ở Ngọc Thanh đang hướng nền kinh tế theo hướng: Nông – Lâm – Dịch vụ Du lịch ở đây có xu thế phát triển do thiên nhiên ban tặng hồ Đại Lải rộng 525ha, Chiến Khu Ngọc Thanh, và các di tích đền chùa miếu rất nhiều đang thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước tới thăm Đây cũng là 1 trong những xã trọng điểm phát triển du lịch của Tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 24Tiểu kết chương 1
Dân tộc Sán Dìu thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, trong ngữ hệ Hán – Tạng
ở Việt Nam Là cư dân có nguồn gốc từ Trung Quốc, người Sán Dìu vào Việt Nam cách đây khoảng trên dưới 400 năm Từ đó đến nay, cộng đồng dân tộc này đã đoàn kết, nâng đỡ nhau sinh tồn và phát triển Dù họ ở đâu đi chăng nữa thì khi gặp nhau luôn có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau
Trải qua bao biến động của lịch sử, tộc người Sán Dìu trong cả nước nói chung và Ngọc Thanh nói riêng đã tích lũy và khẳng định một vốn văn hóa truyền thống giàu bản sắc, vừa mang nét độc đáo của văn hóa tộc người, vừa mang nét chung của văn hóa Việt Nam
Cộng đồng người Sán Dìu ở xã Ngọc Thanh, có hơn 5000 người chiếm 46% dân số toàn xã Họ tụ cư ở tất cả các thôn trong xã, có sự giao lưu về mặt văn hóa với người kinh từ trang phục, nhà cửa, ăn uống cho đến hôn nhân gia đình nhưng nhưng phong tục tập quán, tín ngưỡng thì họ vẫn giữ được nét bản sắc riêng của mình
Cũng như người Sán Dìu trong cả nước, họ trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề thủ công và săn bắt, hái lượm để đảm bảo đời sống kinh tế gia đình Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của đồng bào rất phong phú và đa dạng Ý thức về tổ chức gia đình, thiết chế dòng họ, cộng đồng xã hội ở người Sán Dìu rất cao Chính vì thế, mặc cho sự thay đổi mạnh mẽ của môi trường, điều kiện
tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội thì văn hóa truyền thống của người Sán Dìu nơi đây vẫn giữ được nhiều yếu tố văn hóa mang tính bền vững của tộc người mình
Xã Ngọc Thanh có địa thế vô cùng thuận lợi trong việc phát triển thế mạnh là du lịch: Hồ Đại Lải, Sân Gofl, khu nhà hàng và khách sạn, Khu nghỉ
Trang 25dưỡng của Lão thành cách mạng, Chiến khu cách mạng xưa,… con người và nét văn hóa đặc sắc của tộc người Sán Dìu nơi đây Tất cả yếu tố đó là tiền đề cũng như thế mạnh phát triển kinh tế cải thiện đời sống của người dân của xã trong tương lai đưa văn hóa và con người nơi đây hòa chung vào sự nghiệp chung của đất nước, với mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 26Chương 2 TẬP QUÁN SINH ĐẺ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG
2.1 Quan niện về sinh đẻ
Người Sán Dìu ở Ngọc Thanh nói riêng và cả nước nói chung đều có những quan niệm về sinh đẻ chung Họ rất coi trọng việc sinh con đẻ cái, con cái là thước đo của một gia đình hạnh phúc và đầy đủ Người Sán Dìu không coi trọng vật chất gia đình có hạnh phúc hay không là tùy thuộc vào con cái
đủ cả trai lẫn gái, nhà nào đông con nhiều cháu là gia đình đó có phúc Con cái cũng là mục đích quan trọng trong hôn nhân là cầu nối gìn giữ mối quan
hệ thắt chặt của đôi vợ chồng
Người Sán Dìu trước khi quyết định đến hôn nhân họ xem tuổi của người con trai và người con gái rất kỹ Vì họ quan niệm nếu không hợp tuổi
mà lấy nhau cũng sẽ dẫn đến hiện tượng không có con cái nối dõi tông đường
tổ tiên như người Việt có câu " Lấy vợ xem tông, lấy chồng kén giống" cũng
để chỉ việc lấy nhau phải xem xét kĩ lưỡng gia đình hai bên con cháu có đầy
đủ hay không
Người Sán Dìu họ xem tuổi rất kỹ trước khi kết hôn vì nó có liên quan đến việc hệ trọng cả đời người, đúc kết lại nhờ sự trải nghiệm cuộc sống của mình Như trong cuốn " Dân Tộc Sán Dìu ở Bắc Giang" của Ngô Văn Trụ đã
đề cập tới
"Chồng kim vợ thổ thật nên cầu
Hai người hòa hợp đủ phong lưu
Năm trai hai gái thường vui vẻ
Một đời phú quý chẳng lo chi."
Trang 27Hay
"Chồng thổ vợ mộc chẳng đáng bàn
Vô nam vô nữ lệ chảy tràn
Hai người ở nhà cùng ngồi khóc
Một đời cô độc thật đáng buồn."
Trong xã hội truyền thống của người Sán Dìu với chế độ phụ quyền, trọng nam khinh nữ nên việc sinh con nối dõi tông đường rất quan trọng trong gia đình Người con dâu nếu sinh được con trai đầu lòng sẽ khẳng định được
vị thế của mình trong gia đình nhà chồng Còn nếu không sinh được con trai thì người chồng có quyền lấy vợ khác do cha mẹ sắp xếp
Thước đo của một gia đình hạnh phúc của người Sán Dìu chính là đầy
đủ con cái Vì vậy quan niệm về sinh đẻ và nuôi dạy con cái rất quan trọng trong đời sống của họ Đây là hình thức trao truyền nòi giống, tái sản xuất sức lao động duy nhất mà tạo hóa ban tặng cho con người Bởi vậy không có con
là điều bất hạnh nhất trong cuộc đời của người Sán Dìu
2.2 Các tục lệ giai đoạn trước khi sinh
Con cái rất quan trọng đối với người Sán Dìu nên khi người phụ nữ mang thai được cả gia đình nhà chồng chăm sóc theo chế độ riêng Đó là những kinh nghiệm dân gian được trải nghiệm thực tế và được đúc kết trong quá trình sinh sống và tụ cư từ truyền thống đến nay Họ có phong tục riêng nhằm đảm bảo một cách tốt nhất để đứa trẻ ra đời
2.2.1 Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi khi mang thai
Phụ nữ khi bắt đầu mang thai đến hết thời kì thai nghén có thể ăn uống những thứ mình muốn Vì trong khoảng thời gian này thia phụ thường có triệu chứng bị nghén và chán ăn nên họ thường bị sút cân, sức khỏe không tốt sẽ không có lợi cho cả mẹ và con Vì thế mà khi thai phụ thèm gì thì đều có thể
Trang 28ăn được tạo cho cả mẹ và con có đầy đủ sức khỏe và cho đứa trẻ phát triển bình thường trong quá trình hình thành bào thai Thời kì thai nghén diễn ra trong khoảng ba tháng đầu tiên, khi hết khoảng thời gian thai nghén thì phải
có chế độ ăn uống riêng để cho đứa trẻ phát triển bình thường và tránh ăn phải những thứ không tốt cho đứa trẻ và mang tật về sau
Trong khoảng thời gian mang thai người phụ nữ sán Dìu vẫn lầm việc bình thường và không ảnh hưởng đến việc sản xuất của gia đình Đồng bào quan niệm rằng khi mang thai bà mẹ làm việc bình thường, nhẹ nhàng làm những việc vừa sức của mình để thai nhi khỏe mạnh và phát triển bình thường Họ quan niệm khi người mẹ mang thai chăm chỉ làm việc thì sau này đứa trẻ cũng sẽ chịu khó, nhanh nhẹn, tháo vát còn ngược lại nếu bà mẹ nào khi mang thai mà lười biếng thì sau này sinh con ra đứa con đó cũng sẽ lười biếng và ngu dốt,… Ở Ngọc Thanh người Sán Dìu ở đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp là chủ yếu mọi công việc đồng áng đều do người phụ nữ làm lụng, vì thế mà mọi trẻ em ở đây được sinh ra đều khỏe mạnh và nhanh nhẹn không hay bị ốm đau Trong thời gian mang thai thì người chồng không đi làm ăn xa mà ở nhà giúp vợ những việc nặng nhọc trong gia đình, chăm sóc
và quan tâm nhiều hơn Mọi người trong gia đình nhà chồng cũng đối xử nhẹ nhàng và quan tâm chăm sóc hết mực để mẹ tròn con vuông khi trở dạ, đứa trẻ sống khỏe mạnh trong tình yêu thương của cả gia đình
Trong truyền thống thì đời sống cả người Sán Dìu cũng gặp nhiều khó khăn cuộc sống của người dân không mấy sung túc chế độ ăn uống của người phụ nữ khi mang thai cũng không có gì đặc biệt chủ yếu họ ăn uống như bình thường khi gia đình nhà chồng ăn gì thì họ ăn đó Người mang thai phải ăn uống đủ 3 - 4 bữa một ngày, không được bơỏ bữa, tăng sức khỏe và sự đề kháng cho cả người mẹ và đứa trẻ trong bụng
Trang 29Thỉnh thoảng mẹ chồng nấu gà tần ( cách thủy) cho con dâu bồi bổ: dùng
gà khoảng 8 hoặc 9 lạng nhồi ngải cứu và một số gia vị thuốc bắc đem hầm trong thời gian khoảng 3 tiếng Nó có tác dụng tốt cho sức khỏe của người khi
có thai tăng chất dinh dưỡng cho thai phụ Ngoài ra thì thịt lợn và cá cũng rất tốt cho sức khỏe
Theo quan niệm của các mẹ người Sán Dìu thì gần đến ngày sinh thai phụ nên ăn nhiều rau rền, rau lang, rau mồng tơi, rau đay có tác dụng giúp thai phụ đẻ dễ
2.2.2 Thuốc nam bổ dưỡng và chữa bệnh khi mang thai
Người Sán Dìu ở Ngọc Thanh có những bài thuốc dân gian dành riêng cho những người khi mang thai như:
Ở Ngọc Thanh rất ít người phụ nữ khi mang thai bị xảy thai vì họ có phương thức an thai rất riêng Khi có hiện tượng động thai thì họ thường hái
lá Bứa vò nát lấy nước uống sẽ làm dịu thai, tránh hiện tượng xảy thai nhi Bài thuốc gia truyền này hiện nay vẫn được bà con người Sán Dìu ở đây dùng
và được cả người Kinh sống ở đây dùng
Khi người có thai bị cảm gió thì họ luộc một quả trứng gà bóc ra lấy lòng trứng trắng cuộn vòng bạc vào cạo dọc sống lưng ( tránh phát gió ) Hoặc lấy lá ngải cứu cho vào đĩa sau đó đổ rượu vào rồi hơ trên ngọn lửa cho rượu nóng lên rồi đánh gió dọc sống lưng, trán Phương thuốc này có thể áp dụng với tất cả mọi người kể cả người già và trẻ em Ngoài ra khi bị ho có thể giã lá nhọ nồi ra rồi lấy nước uống vừa có tác dụng khỏi ho và làm mát thai
Phụ nữ mang thai thấy đau bụng thì hái một nắm lá ngải cứu tươi, vò nát (hoặc giã nhỏ), lọc lấy nước cho uống sẽ hết đau
Khi thai phụ đủ tháng mà chưa sinh thì mẹ chồng sẽ lấy một quả trứng
gà sống và một nắm vừng hạt cho con dâu ( hút trứng gà sống và nhai nắm vừng), sau khi ăn xong thì thai phụ sẽ sinh con nhanh, không bị lên tháng
Trang 30Khi có thai nếu bị cảm gió đặc biệt không được xông hơi bằng lá vì có thể sẽ bị xảy thai
2.2.3 Các nghi lễ, kiêng kỵ khi mang thai
Trong gia đình của Người Sán Dìu 1 trong 3 tội lớn nhất của người Sán Dìu khi lấy vợ là không sinh được con cái nối dõi tông đường thờ cúng hương
hỏa của cha mẹ để lại Người Sán Dìu cũng rất nặng tâm lí " Trọng nam khinh
nữ", người phụ nữ khi về nhà chồng sinh được con trai đầu lòng sẽ khẳng
định được vị thế của mình trong gia đình nhà chồng, còn nếu không sinh được con cái thì người chồng có quyền lấy vợ khác Nên khi người con dâu có thai
dù không biết gái hay trai họ vẫn đối xử rất tốt và quan tâm hết mực tới người phụ nữ và họ cũng có những kiêng kỵ hay nghi lễ cho bà chửa và phải thực hiện nghiêm ngặt để khi con cháu họ sinh ra trong bình an và khỏe mạnh
*.Những kiêng kị trong ăn uống
Khi có thai người phụ nữ Sán Dìu phải kiêng một số loại thức ăn:
không dược ăn thịt trâu, thị ngan, ngỗng vì sợ con sau này bị câm hay bị hậu sản; không ăn ốc nhái vì sợ con sau này hay bị sèo rãi; không ăn thịt rắn vì sợ con sau này hay thè lưỡi nhưu rắn không ăn những loại lá độc trong rừng vì
sợ xảy thai Ngoài ra còn kiêng một số loại quả chua vì sợ đẻ con nhiều nhớt
và đầu con mình nhiều đinh nhọt Thai phụ cũng kiêng ăn măng tre, bí đỏ, hành tỏi, rau cần, quả trám vì sợ khi đẻ bị băng huyết, dễ dẫn đến tử vong không ăn thịt con dũi vì sợ trẻ hay khịt mũi…
* Kiêng kỵ trong cuộc sống hàng ngày
Người có thai không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa vì sợ lên tháng; không được tới những nơi đang ủ men rượu; không được sờ vào hoa quả bị rụng xuống đất và hoa không kết trái vì sợ con cái sau này sẽ bị tật không khỏe mạnh;… Chỗ ở của phụ nữ mang thai cũng cần phải được chú ý
Trang 31Người lạ tránh ngồi lên đầu giường người có chửa vì như thế người mẹ sẽ khó thở Đồ đạc trong buồng của thai phụ không nên thay đổi vị trí bất cứ thứ gì vì đồng bào quan niệm hồn của đứa trẻ đi chơi khắp mọi nơi trong nhà và đã quen hết với đồ vật trong buồng, nếu có thay đổi, hồn đứa trẻ sẽ không nhận biết được đường về của mình, mà hồn lạc mất thì người mẹ sẽ bị xảy thai
Phụ nữ mang thai không đi lại bằng cửa chính và tránh ngồi đối diện với cửa bếp Trong thời kì mang thai họ không nên về nhà bố mẹ đẻ và nhất là hạn chế việc ngủ qua đêm ở đó, vì sợ bà mụ về sờ không thấy đứa trẻ đâu sẽ dẫn đến xảy thai Thai phụ kiêng bước vào chuồng trâu vì sợ chửa trâu; , phụ
nữ mang thai không ngồi lên các loại lá có nhiều lông hoặc các loại lá có vết loang, đốm vì sợ sau này da đứa trẻ sẽ bị như vậy
Người Sán Dìu ở Ngọc Thanh quan niệm khi đến tết đầu năm, phụ nữ mang thai không nên đi đến chơi ở các gia đình khác vì người ta cho rằng như thế sẽ mang lại điều không may cho chủ nhà Đặc biệt suốt thời kì mang thai, người mẹ không được sát sinh và cũng không đi đến đám tang để sau này trẻ khỏi hoảng sợ
Không chỉ có người vợ khi có thai phải kiêng kị mà cả với người chồng, khi vợ có thai cũng phải tránh một số việc như: không được đóng cọc, đào đất, đập gõ cái gì quá nặng tay, sợ động tới thai của người vợ, gây ra sẩy thai Gia đình có người mang thai cũng không được đào hố, đào rãnh quanh nhà vì sợ phạm vía đứa trẻ sẽ dẫn đến xảy thai
* Nghi lễ trong thời kỳ mang thai
Người Sán Dìu ở đây có quan niệm rất tiến bộ về chuyện sinh con không
mê tín thánh thần như một số dân tộc thiểu số khác vì vậy trong quá trình mang thai thì họ hầu như không có nghi lễ gì cả Họ có những mẹo và bài thuốc dân gian dùng trong sinh đẻ rất tốt
Trang 32Tuy nhiên trong truyền thống từ thời xa xưa mà cuốn " Phong tục và Nghi lễ chu kỳ đời của người Sán Dìu ở Việt Nam" đã có đề cập đến và qua tìm hiểu điền dã ở địa bàn nghiên cứu qua lời kể của các cụ già có tri thức ở đây có nói qua về một nghi lễ gọi là " Thu lốc cáp sén" Nghi lễ này chỉ được diễn ra trong trường hợp là nếu người mẹ thấy mệt mỏi không rõ nguyên nhân, chữa bằng nhiều cách lâu ngày vẫn không khỏi hoặc trường hợp người
mẹ đêm nằm hay chiêm bao thấy điều lạ như trẻ con đuổi nhau, người lạ bắt con mình… thì đó là điềm báo xấu Khi đó, gia đình người có chửa phải thực
hiện một nghi lễ gọi là nghi lễ cho người mang thai thu lốc cáp sén ( giải hạn ) , để giải điềm xấu cho mẹ và an hồn cho đứa trẻ
Khi người phụ nữ có những hiện tượng như trên, người chồng sẽ mang giấy bản đến nhà thầy cúng, trình bày nguyện vọng và nhờ thầy viết sớ để làm
lễ Thầy cúng xem sách rồi ấn định ngày giờ tổ chức buổi lễ và thông báo cho người chồng biết để về chuẩn bị
Thông thường lễ thu lốc cáp sén được tổ chức vào các buổi chiều, địa
điểm ngay tại nhà của người có chửa Chủ nhà lập một đàn cúng Trên đó đặt
2 bát gạo để cắm hương, mỗi bát bỏ một đồng tiền xu; 3 chén trà; 3 chén rượu Lễ vật trong nghi lễ này gồm 2 con gà sống thiến, 1 thủ lợn, 1 rặng thịt lợn và 2 con cá (tất cả đều được làm chín) Bên dưới đàn cúng này có một mâm cơm cúng các loại ma đói gồm có xôi, chuối, oản, thịt gà, cá Thầy cúng
treo bức tranh các vị tinh quân (sênh cun) lên trước khi làm lễ
Đến giờ hành lễ, thầy cúng thắp hương rồi đọc sớ thỉnh các vị tinh quân, thỉnh bà mụ, vừa đọc vừa làm phép thánh Trong số rất nhiều sớ do thầy
cúng đọc thì tờ Môn tiền sớ là quan trọng nhất và được mọi người quan tâm
nhiều nhất Khi đọc sớ này, người phụ nữ có thai ngồi giữa đàn lắng nghe
Trong lá sớ có câu: Nếu sinh con trai thì nối dõi tổ tông, phụng dưỡng cha
Trang 33mẹ Nếu sinh con gái thì phụng dưỡng gia đình nhà chồng Để biết thai nhi là
trai hay gái thì để ý xem thầy cúng đốt Môn tiền sớ Mỗi lá sớ được gói trong
một phong bì, ở phía trên của phong bì có trang trí kim ngân, trên đó ghi chữ
Đại Tuế (Thai sọi) “Khi hóa sớ nếu chữ Đại Tuế lật úp xuống đất tức là
hướng âm, thai phụ sẽ sinh con gái Ngược lại, chữ Đại Tuế ngửa lên trên nghĩa là hướng dương, thai nhi là con trai” [2]
Sau khi tấu sớ và cúng xong hết, thầy cúng hóa tất cả các lá sớ dùng trong buổi lễ Lễ vật được chia phần cho mọi người cùng thụ hưởng Gia chủ
sẽ lấy lá chuối hoặc lá rong gói mỗi thứ một ít vào làm phần cho thầy cúng
cũng như những người tham gia lễ Nghi lễ thu lốc cáp sén kết thúc
2.3 Tập quán khi sinh đẻ
2.3.1 Chuẩn bị cho sinh con
Người Sán Dìu trong cả nước nói chung và ở Ngọc Thanh nói riêng thì họ vẫn giữ truyền thống tập quán sinh con trong nhà Cụ thể là khi lấy vợ cho con trai thì bố mẹ thường dành một gian buồng cho đôi vợ chồng trẻ Đó
là nơi sinh hoạt của đôi vợ chồng mới cưới Người Sán Dìu cũng có tục kiêng
kỵ giữa bố chồng và con dâu, nên bố chồng cũng không dược vào phòng của con dâu Thai phụ sẽ sinh con trong buồng của mình Mẹ chồng là người sắp xếp và chuẩn bị nơi để cho con dâu sinh con trong quá trình vượt cạn dược suôn sẻ
Buồng của thai phụ được che chắn rất cẩn thận, những ô thoáng được bịt kín bằng những tấm vải dựa để tránh gió khi thai phụ chuyển dạ
Trong truyền thống thì người Sán Dìu ở đây có tục đẻ ngồi, nên cần phải chuẩn bị một chiếc ghế tựa và chiếc dây thừng nối từ xà nhà xuống vừa tầm với của thai phụ khi ngồi Hoặc là chuẩn bị một tấm vải dựa trải xuống nền buồng thai phụ, để thai phụ ngồi xổm khi sinh con
Trang 34Giường của sản phụ cũng phải chuẩn bị thật kỹ khi người mẹ vượt cạn thành công nằm nghỉ thoải mái: chăn, chiếu đầy đủ, đặc biệt phải chuẩn bị một chiếc gối cao khoảng 20cm để khi người mẹ vượt cạn xong nằm gối đầu
Ngoài ra cần chuẩn bị khi người mẹ có dấu hiệu đau bụng và trở dạ sinh con: nấu một nồi nước sôi ( thông thường là những người trong gia đình
tự phân công nhau làm mọi việc để quá trình vượt cạn diễn ra suôn sẻ ); một thanh Nứa, cuộn chỉ ( là chỉ trắng không được chỉ màu ), chậu,… và một số loại lá thơm để tắm rửa cho em bé khi mới sinh Sau đó người chồng chạy đi mời bà đỡ về đỡ đẻ cho vợ
2.3.2 Vượt cạn, bà đỡ dân gian và đỡ đẻ
*Bà đỡ dân gian: Mỗi làng của người Sán Dìu đều có một hoặc hai bà
đỡ dân gian ( bà đỡ vườn - Va công mủ) Bà đỡ vườn là người từng có nhiều lần sinh đẻ và đã từng đỡ cho nhiều người trong làng lâu dần họ trở thành bà
đỡ Họ chủ yếu làm theo thói quen nhưng trải qua nhiều lần đỡ thì họ cũng đúc kết được những kinh nghiệm và có kiến thức hay cách thức riêng khi đỡ
đẻ Họ làm chủ yếu vì tình làng nghĩa xóm không lấy công xá gì khi đi đỡ đẻ cho một thai phụ trong làng Thường thì các bà đỡ là những người mát tay đỡ thành công cho rất nhiều người và đặc biệt bà phải là người sinh được cả con trai lẫn con gái và phải là người khỏe mạnh, sống có đức hạnh và luôn để tiếng tốt trong làng Vì người Sán Dìu họ quan niệm mời những bà đỡ vườn này về đỡ cho con mình thì sẽ được hưởng phúc như bà đỡ đó
Khi vợ sắp trở dạ thì người chồng đi mời bà đỡ thì không phải mang lễ vật hay bất kể thứ gì tới nhà bà đỡ cả, mà chỉ tới không Khi gặp được bà đỡ thì mời bà tới nhà mình để giúp vợ vượt cạn bình an
Khi hoàn thành nhiệm vụ giúp thai phụ mẹ tròn con vuông thì bà đỡ không lấy lễ vật hay tiền bạc Chủ nhà sẽ mời bà đỡ vườn ở lại ăn với gia đình một bữa cơm