Mục đích nghiên cứu Bài khoá luận tập trung nghiên cứu về vốn văn hoá sản xuất, tập quán mưu sinh của đồng bào Nùng để thấy được những tri thức văn hoá, những tiềm năng, thế mạnh trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài khoá luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa, đồng bào Nùng ở xã Văn An và một số tổ chức đoàn thể khác Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Toàn thể các thầy cô trong khoa Văn hoá dân tộc, trường Đại học Văn hoá Hà Nội
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo sư Hoàng Nam đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành bài khoá luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể chính quyền xã Văn
An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện cho tôi được thu thập tài liệu điền dã tại địa phương Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến bác Nông Văn Sìn cùng toàn thể bà con Nùng ở hai thôn Nà Hin và Khòn Háo, đã giúp tôi hoàn thành bài khoá luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Thư viện Quốc gia, các chị phòng đọc thư viện Bảo tàng Dân tộc học đã giúp tôi tìm và thu thập tài liệu tại cơ quan
Cao Thị Hồng Thắm
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu: 1
Chương 1: môi trường sinh thái tự nhiên và người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn: 10
1.1 Khái quát về môi trường sinh thái tự nhiên ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 10
1.1.1 Vị trí địa lý: 10
1.1.2 Đặc điểm địa hình: 10
1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên: 11
1.2 Khái quát về người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn: 13
1.2.1 Dân cư và nguồn gốc tộc người 13
1.2.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế 16
1.2.3 Đặc điểm về văn hoá truyền thống 19
Chương 2:Tập quán mưu sinh truyền thồng của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn: 32
2.1 Tập quán trồng trọt 32
2.1.1 Tập quán trồng cây lương thực 32
2.1.2 Tập quán trồng cây công nghiệp 40
2.1.3 Tập quán trồng cây ăn quả 43
2.1.4 Tập quán trồng rau xanh và cây thực phẩm 44
2.2 Tập quán chăn nuôi 46
2.2.1 Chăn nuôi gia súc 46
2.2.2 Tập quán chăn nuôi gia cầm 50
2.2.3 Tập quán thả và đánh bắt cá 51
2.3 Nghề thủ công truyền thống 52
2.4 Kinh tế tự nhiên săn bắt và hái lượm 53
2.5 Các hoạt động trao đổi, buôn bán 55
Trang 4Chương 3: Sự biến đổi tập quán mưu sinh tác động đến
đời sống kinh tế hộ gia đình một số giải pháp nhằm
phát huy tập quán mưu sinh 59
3.1 Sự biến đổi của tập quán mưu sinh truyền thống của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 59
3.1.1 Sự biến đổi trong tập quán trồng trọt 59
3.1.2 Sự biến đổi trong tập quán chăn nuôi 63
3.1.3 Sự biến đổi trong các hoạt động trao đổi, buôn bán 64
3.2 Nguyên nhân những biến đổi trong tập quán mưu sinh truyền thống của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 65
3.3 Tác động từ những biến đổi tập quán mưu sinh truyền thống đến vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 67
3.3.1 Tạo nên sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế hộ gia đình 67
3.3.2 Hình thành thành phần kinh tế hộ gia đình 69
3.3.3 Tăng thu nhập và hình thành hình thức thu nhập mới 70
3.3.4 Nâng cao chất lượng đời sống hộ gia đình cho đồng bào 71
3.3.5 Một số tồn tại của tập quán mưu sinh tác động tiêu cực đến vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 73
3.4 Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm phát huy tập quán mưu sinh truyền thống của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 76
3.4.1 Một số giải pháp nhằm phát huy tập quán mưu sinh truyền thống của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay 76
3.4.2 Một số khuyến nghị đối với các cấp, chính quyền địa phương nhằm phát huy hiệu quả tập quán mưu sinh truyền thống của đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn 83
Kết luận: 89
Tμi liệu tham khảo: 94
phụ lục: 96
Trang 5Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Tháng 8 năm 1943 khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh đã nêu lên một định nghĩa về văn hoá đó là: “ vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, văn hoá đựơc Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, chính trị, xã hội tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội Đặc biệt trong mối quan hệ kinh tế- văn hoá, Người chỉ rõ “ văn hoá là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị Văn hoá phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng, phát triển kinh tế Xây dựng kinh tế là để tạo điều kiện cho xây dựng, phát triển văn hoá”
Kế thừa tư tưởng đó của Người, Đảng ta luôn quan tâm và quán triệt tinh thần đó trong mọi chủ trương, đường lối, nghị quyết của mình về vấn đề phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các đồng bào dân tộc thiểu số Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ mục tiêu của công tác dân tộc từ nay đến 2010 là phát triển kinh tế, xoá
đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số; Nghị quyết Hôi nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá VIII xác định “Văn hoá là
động lực của sự phát triển” trong đó bao hàm cả sự phát triển kinh tế và sự
phát triển mọi mặt của xã hội; Trong cuốn Tài liệu học tâp Nghị quyết Đại hội
Trang 6X của Đảng cũng chỉ ra một trong những giải pháp và nhiệm vụ để hoàn thành
mục tiêu về văn hoá hiện nay là “ kết hợp, bảo vệ và phát huy các di sản văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch"
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới khu vực Đông Bắc của Tổ quốc Nơi đây là địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào Tày và đồng bào Nùng Nói đến các đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn không thể không nói đến
đồng bào Nùng Cùng với đồng bào Tày, đồng bào Nùng đã góp vào làm nên nét đặc trưng cho kinh tế, văn hoá của các đồng bào dân tộc nơi đây nói chung, đồng bào Nùng nói riêng là góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng phía bắc của đất nước
Trong những thập niên vừa qua đã có không ít những tác phẩm, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về đồng bào Nùng Hầu hết các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đề cập một cách tổng quan và khái quát về mọi mặt văn hoá của đồng bào, trong đó có cả vấn đề văn hoá mưu sinh Một số tác phẩm cũng đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về chủ trương, chính sách của Đảng, đặc biệt từ khi Đảng và Nhà nước ta phát động công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trên cả nước,
đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho các giới nghiên cứu trong đó có giới nghiên cứu văn hoá và dân tộc học
Cùng với sự chuyển mình của đất nước từ sau công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được phát triển, đồng bào Nùng nơi đây đã và đang có những chuyển biến quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội Đặc biệt từ khi nước ta
đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, vai trò của tập quán mưu sinh càng được phát huy cao độ Tuy nhiên, đứng trước đòi hỏi của nền kinh tế mới, tập quán mưu sinh truyền thống của đồng bào đang tỏ ra “ bỡ ngỡ” và gặp nhiều thách thức Vấn đề thay đổi tập quán canh tác hay giữ nguyên nếp cũ hay làm thế nào để thay đổi và tạo ra hiệu quả
Trang 7lâu dài để phát triển… được đặt ra Bởi lẽ, việc thay đổi tập quán sản xuất là việc thay đổi thói quen lâu đời Đồng thời, sự thay đổi đó còn ảnh hưởng đến cả nếp sống, đến văn hoá sản xuất và nhiều yếu tố khác liên quan đến nhận thức hay đời sống tín ngưỡng, tâm linh của đồng bào
Với những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đó, bài khoá luận lấy tập quán mưu sinh với vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Bài khoá luận tập trung nghiên cứu về vốn văn hoá sản xuất, tập quán mưu sinh của đồng bào Nùng để thấy được những tri thức văn hoá, những tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất của đồng bào, cũng như thấy được mối liên hệ giữa văn hoá sản xuất đến tổng thể truyền thống văn hoá của đồng bào
Bài khoá luận đi sâu tìm hiểu những biến đổi của tập quán mưu sinh truyền thống của đồng bào trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay; cũng như thấy được sự tác động của những biến đổi đó đến vần đề đời sống kinh tế hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất, nâng cao chất lượng đời sống văn hoá tinh thần cho đồng bào
Đồng thời, trên cơ sở của những tác động của tập quán mưu sinh đến vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình đó, bài khoá luận xin đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tập quán mưu sinh truyền thống cũng như nhằm khai thác hiệu quả thế mạnh sản xuất để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cho đồng bào
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, cũng có khá nhiều các tác phẩm, các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số Từ khi
Đảng và Nhà nước ta đầy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên phạm vi cả nứơc, đặc biệt là ở vùng các dân tộc miền núi, đã thu hút không ít sự quan tâm của các nhà khoa học trên các lĩnh vực nghiên cứu hướng về đồng bào các dân tộc thiểu số Đối với ngành văn hoá,
Trang 8Dân tộc học, chính sách của Đảng và Nhà nước đã mở ra thêm một hướng nghiên cứu mới Nếu như trứơc đây tình hình nghiên cứu dân tộc tập trung chủ yếu vào giới thiệu các dân tộc thiểu số ở nứơc ta trên quan điểm đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng các dân tộc trong địa gia đình các dân tộc Việt Nam, thì hiện nay ngành văn hoá cũng như ngành Dân tộc học đã đề cập đến các vấn đề thời đại, hiện đại của cuộc sống các đồng bào trên cơ sở đối chiếu, so sánh sự tác động của văn hoá truyền thống đến các vấn đề trên và ngược lại Có thể kể
tên các tác phẩm như cuốn Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong
thời kỳ chuyển đổi của tác giả Trần Văn Hà do nhà xuất bản Khoa học xã hội
xuất bản năm 2007 tại Hà Nội; cuốn Những biến đổi về kinh tế- văn hoá ở các
tỉnh miền núi phía Bắc của tác giả Bế Viết Đẳng, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội xuất bản năm 1993 tại Hà Nội; cuốn Công nghiệp hoá từ nông nghiệp của
tác giả Đặng Kim Sơn được nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản năm 2001 tại
Hà Nội; cuốn Diễn đàn phát triển bền vững miền núi Việt Nam của Uỷ ban
dân tộc được nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2002…Hầu hết các công trình, các tác phẩm đã đi vào vấn đề thực trạng phát triển kinh tế văn hoá, xã hội của các đồng bào dân tộc; sự tiếp cận của các đồng bào thiểu số với những vấn đề kinh tế, xã hội hiện đại, tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như
sự tác động của văn hoá truyền thống đối với những vấn đề đó Đồng thời, các tác phẩm, các công trình cũng đưa ra những biện pháp nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cho đồng bào trên cơ sở phát huy các giá trị tích cực của văn hoá truyền thống, đặc biệt là những tri thức dân gian trong lĩnh vực sản xuất
và hạn chế những lạc hậu của văn hoá truyền thống Có thể thấy một đặc điểm của các công trình này là mức độ phản ánh mang tính khái quát cao và áp dụng cho phạm vi rộng trên các địa bàn miền núi
Đối với riêng đồng bào Nùng từ trước đến nay, đã có khá nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về vốn văn hoá của đồng bào Nùng nói chung và
đồng bào Nùng ở Lạng Sơn nói riêng Trong các công trình nghiên cứu đó,
Trang 9hầu hết đã đề cập đến vấn đề mưu sinh dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể
ra đây một số ngững tác phẩm tiêu biểu như:
Cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt
Nam của đồng tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn do nhà xuất bản Khoa
học xã hội xuất bản năm 1968 giới thiệu nguồn gốc lịch sử truyền thống đấu tranh, sinh hoạt vật chất, tinh thần, văn hoá, xã hội, gia đình, tín ngưỡng, văn hoá nghệ thuật Tày, Nùng, Thái nói chung Tác giả cũng nói đến tập quán mưu sinh của người Nùng trên phạm vi cả nước với những nét sơ lược đúng như nhan đề của cuốn sách;
Cuốn Văn hoá Tày- Nùng của đồng tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô
do nhà cuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1984 là những nét khái quát về xã hội, văn hoá truyền thống và con người Tày, Nùng; những phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo và nền văn hoá nghệ thuật truyền thống của họ, đặc biệt sự đổi mới sau cách mạng tháng 8;
Cuốn Dân tộc Nùng ở Việt Nam của giáo sư Hoàng Nam được nhà
xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1992 là những nét khái quát về dân tộc Nùng trên đất nước ta Cuốn sách đã đề cập khá đầy đủ các vốn văn hoá của dân tộc Nùng nói chung Đó là các đặc diểm về các hoạt động kinh tế, các nghề thủ công và nghề đặc sản của dân tộc Nùng; những nét chính về làng bản, nhà ở, quần áo, đồ ăn, thức uống; các sinh hoạt văn hoá tinh thần và tập quán người, tri thức xã hội của người Nùng Trong phần đặc diểm về các hoạt
động kinh tế, tác giả đã đề cập những nét khái quát về tập quán mưu sinh của người Nùng ở Văn An nói riêng và ở Lạng Sơn cũng như trên cả nước nói chung Tác giả cũng có những lời đánh giá cao về tập quán trồng hồi của đồng bào Nùng ở Văn An;
Cũng trong năm 1992 Viện khoa học xã hội đã xuất bản cuốn Các
dân tộc Tày- Nùng ở Việt Nam Cuốn sách là bức tranh khá đầy đủ về văn hoá
của các dân tộc Tày, Nùng ở mọi nơi trên đất nước ta, từ kinh tế truyền thống-
Trang 10trong đó có tập quán mưu sinh, văn hoá tín ngưỡng, phong tục tập quán, ngôn ngữ, chữ viết đến văn học nghệ thuật dân gian;
Cuốn Văn hoá truyền thống Tày- Nùng, nhà xuất bản Văn hoá dân
tộc xuất bản năm 1993 là toàn bộ bức tranh xã hội và con người Tày, Nùng bào gồm cả ngôn ngữ, văn tự, văn bản, văn hoá nghệ thuật dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Tày, Nùng;
Cuốn Hôn nhân và gia đình dan tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
của tác giả Đỗ Thuý Bình do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm
1994 là những tài liệu đã có về gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái; những vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình và chu kỳ đời người;
Cuốn Các dân tộc Tày, Nùng với tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
của tác giả Trần Văn Hà do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1999
là quá trình phổ biến và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp cũng như biểu hiện của sắc thái văn hoá sản xuất của hai dân tộc Tày, Nùng trong giai
đoạn đổi mới kể từ sau khoán 10 Tập quán sản xuất của đồng bào Nùng trước
và sau đổi mới được giới thiệu, tuy nhiên phạm vi đề cập của cuốn sách khá rộng, bao gồm người Nùng trên cả nước Do đó, nó có tính khái quát cao mà không chi tiết, cụ thể cho từng vùng;
Cuốn Văn hoá làng nghề của người Nùng của tác giả Hoàng Thị
Nhuận và Nguyễn Thị Yến ( chủ biên) do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản là cuốn sách giới thiệu về nghề rèn và làng nghề rèn truyền thống của bản Phja Chang, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Cuốn sách nêu lên hiện trạng, vai trò của nghề rèn với sự phát triển kinh tế địa phương, các vấn đề đặt ra trong bảo tồn và phát huy nghề rèn truyền thống;
Ta cũng có thể kể ra đây một số tác phẩm, một số công trình khác
như cuốn Thành ngữ, tục ngữ Tày- Nùng của tác giả Lục Văn Bảo do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1992; cuốn Văn hoá tín ngưỡng Tày- Nùng của Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian xuất bản năm 1997; cuốn Nghề thủ
Trang 11công truyền thống của người Nùng nhà xúât bản Văn hoá dân tộc xuất bản
năm 2006; hay cuốn Hôn nhân và gia đình dân tộc Nùng của tác giả Nguyễn
Thị Ngân do nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản năm 2008 mới đây…Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đã đề cập trên phạm vi rộng lớn, tính khái quát cao, tính cụ thể, chi tiết cho từng vùng nhỏ đặc biệt là trên phạm vi xã, bản là không có Mà mỗi tộc người ở mỗi vùng với những
điều kiện lịch sử, tự nhiên, xã hội nhân văn khác nhau có những nét khác nhau, ngay cả trên phạm vi một tỉnh, một huyện, thậm chí là một xã, một bản
Tóm lại, hầu hết các tác phẩm nghiên cứu về tập quán mưu sinh nói chung và về đồng bào Nùng đều mang tính khái quát, tổng thể Giới hạn của các tác phẩm, các công trình rộng, đề cập ở nhiều địa bàn khác nhau Trong
đó cũng chưa có công trình, tác phẩm nào đề cập đến tập quán mưu sinh của người Nùng ở địa bàn xã nói chung và ở xã Văn An, huyện Văn Quan nói riêng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài khoá luận là tập quán mưu sinh của
đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn với những hoạt
động sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề thủ công truyền thống, các họat động trao đổi, buôn bán, dịch vụ, kinh tế tự nhiên săn bắt, hái lượm
Đặc biệt là sự biến đổi của tập quán mưu sinh truyền thồng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ chế thị trường của nền kinh tế đất nước ta hiện nay Trên cơ sở những biến đổi đó, bài khoá luận tìm hiểu sự tác động của nó
đến vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình của đồng bào Hay có thể hiểu gọn hơn là sự tác động của những biến đổi tập quán sản xuất đến sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, cũng như sự đáp ứng nhu cầu vật chất, nhu cầu văn hoá tinh thần, xã hội trong đời sống cho đồng bào
Giới hạn nghiên cứu của đề tài là tập quán mưu sinh của người Nùng
ở hai thôn Nà Hin và thôn Khòn Háo thuộc xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh
Trang 12Lạng Sơn Đây là hai thôn hoàn toàn là đồng bào Nùng Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, bài khoá luận có mở rộng so sánh, đề cập đến đồng bào Nùng ở các thôn xung quanh như thôn Phai Cam, thị tứ Điềm He
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của bài khoá luận dựa trên phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hoá Đó là xem xét văn hoá trong quá trình vận động
và phát triển theo quy luật cuả tự nhiên và sự tác động qua lại của nó với các vấn đề kinh tế, xã hội khác của đời sống xã hội
Phương pháp thu thập tài liệu chủ yếu của bài khóa luận là phương pháp điền dã dân tộc học, thu thập tài liệu từ cơ sở thông qua việc quan sát thực tế địa phương; đồng thời kết hợp với việc phỏng vấn, hỏi, ghi chép các
đối tượng thuộc mọi tầng lớp nhân dân Đặc biệt, bài khoá luận tập trung vào các đối tượng là bà con nông dân và bà con làm nghề buôn bán của hai thôn
Nà Hin và Khòn Háo để lấy tư liệu cho bài
Bài khoá luận còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp lấy tư liệu từ nguồn tư liệu thư tịch đã có
6 Đóng góp của đề tài
Bài khoá luận là một đóng góp nhỏ bổ xung cho nguồn tài liệu về văn hoá các dân tộc Nùng nói chung và vốn tài liệu về văn hoá của đồng bào Nùng ở Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn nói riêng Đặc biệt, bài khoá luận là một tài liệu bổ ích cho tập quán mưu sinh cũng như sự biến đổi của nó trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay và sự tác động của những biến đổi trên đối với vấn đề đời sống kinh tế hộ gia đình của đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Bài khoá luận cũng xin là một tài liệu tham khảo nhỏ bổ xung cho vốn tài liệu ở địa phương Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong vấn
đề tìm ra một số giải pháp khoa học để phát huy tập quán mưu sinh truyền
Trang 13thống của đồng bào trên con đường phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa bàn xã
7 Bố cục của bài khóa luận
Bài khoá luận ngoài phần mở đầu và phần kết luận được chia làm ba nội dung chính :
Chương 1: Khái quát môi trường sinh thái tự nhiên và người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Chương 2 Tập quán mưu sinh truyền thống của người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Chương 3 Sự biến đổi tập quán mưu sinh tác động đến đời sống kinh tế hộ gia đình Một số giải pháp nhằm phát huy tập quán mưu sinh
Trang 14Chương 1 môi trường sinh thái tự nhiên vμ người Nùng ở x∙ Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
1.1 Khái quát về môi trường sinh thái tự nhiên ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Văn An nằm ở phía Đông của huyện Văn Quan cách trung tâm thị trấn Văn Quan 12km theo đường quốc lộ 1B về phía Đông và cách trung tâm thành phố Lạng Sơn 33km về phía Tây
Xã Văn An có vị trí giáp ranh với xã Song Giang ở phía Bắc, phía Nam giáp xã Đại An và xã Chu Túc, phía Đông giáp xã Khánh Khê, huyện Văn Lãng, huyện Cao Lộc, phía Tây giáp xã Vĩnh Lai và xã Đại An
Dạng địa hình đồi núi thấp có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 280 m đến 390 m, độ dốc từ 8- 15 độ Chúng phân bố nhiều ở phía Bắc
và Tây Bắc ( khu vực thôn Phai Cam, thôn Đông Pha, thôn Bản Nhuần), diện tích chiếm khoảng 45% diện tích tự nhiên Diện tích địa hình này lớn, thích hợp với phát triển rừng trồng
Dạng địa hình bằng có độ cao trung bình so với mực nước biển dưới
280 m, độ dốc dưới 8 độ; phân bố ở khu vực trung tâm và phía Đông của xã
Trang 15(thuộc các thôn Bản Làn, Khòn Chu, Nà Pàn và thị tứ Điềm He) Diện tích khoảng 32% diện tích tự nhiên toàn xã, thích hợp với phát triển nông nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác
1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Về tài nguyên đất
Với diện tích tự nhiên là 1079 ha, đất đai của xã Văn An đ−ợc chia làm bốn loại chính ( theo kết quả điều tra nông hoá thổ nh−ỡng của xã) bao gồm:
Đất feralit biến đổi do trồng lúa ( Fl), diện tích chiếm khoảng 10,97% tổng diện tích đất tự nhiên, tập trung nhiều ở thôn Bản Nhuần, Khòn Háo, Nà Hin, rải rác ở thôn Bản Làn, Đông Pha, Phai Cam Đây là điều kiện trồng lúa và trồng màu
Đất đỏ vàng trên đá cát (Fq) có diện tích chiếm khoảng 21,89% tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố tập trung ở thôn Nà Pàn, phía Đông Bắc thôn
Nà Hin Loại đất này có độ dốc từ 15 độ đến 25 độ, thích hợp với việc trồng hồi và trồng cây ăn quả
Đất đỏ vàng trên đá sét ( Fs) có diện tích chiếm khoảng 18,54% diện tích tự nhiên, phân bố ở phía Nam của xã, một ít ở thị tứ Điềm He, thôn Phai Cam, Đông Pha; thích hợp cho việc phát triển trồng cây ăn quả và trồng rừng
Đất vàng xám trên đá macma axit ( Ba) chiếm diện tích khoảng 48,6% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố chủ yếu ở phía Tây của xã ( khu vực thôn Phai Cam, thôn Bản Nhuần) và một phần ở phía Nam ( thôn Khòn Háo); đây là loại đất thích hợp cho phát triển rừng
Về tài nguyên khí hậu, thuỷ văn
Xã Văn An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa m−a nóng từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm là khoảng 21,2 C
Trang 16Lượng mưa trung bình năm khoảng 1500mm, lượng mưa phân bố không đều, tập trung nhiều vào tháng 5, tháng 6, tháng7 trong thời gian này chiếm tới khoảng 80% lượng mưa cả năm Lượng mưa tập trung thường gây rửa trôi, xói mòn đất, đặc biệt là ở đất dốc
là suối Cốt Pha và suối Phai Pản, chảy từ xã Chu Túc qua địa bàn xã và đổ ra sông Kỳ Cùng Đặc điểm thuỷ văn là mưa lớn thường có lũ lụt, mùa khô hạn hán thường kéo dài ảnh hưởng tới sinh hoạt và sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
Nguồn nước mặt chủ yếu là phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã được lấy từ sông Kỳ Cùng, suối Cốc Phát, suối Phai Pản Nguồn nước mặt còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới tiêu cho cây trồng và nhu cầu nước sinh hoạt của nhân dân trong xã Trong tương lai cần thăm dò, khai thác nguồn nước ngầm để phục vụ nứơc sinh hoạt cho nhân dân
Về tài nguyên rừng
Với diện tích tự nhiên là 1079 ha diện tích của rừng là khoảng 516,35 ha Đây là diện tích đất rừng tự nhiên sản xuất Trong những năm qua, nhờ công tác giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ gia đình, từ đó diện tích rừng tự nhiên đã được quản lý chặt chẽ Diện tích rừng trồng được thực hiện theo dự án PAM và một số dự án đầu tư khác Kết quả là đã trồng được 32400 cây hồi, trám trắng, cây luồng, hơn hai ngàn cây ăn quả, nâng độ che phủ rừng toàn xã đạt trên 47%
Trang 17Nhận xét chung:
Xã Văn An có đường quốc lộ 1B đi qua, có chợ Điềm He nổi tiếng
từ lâu là một vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hoá, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, khai thác tiềm năng đất đai và lao động cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của xã
Thành phần thổ nhưỡng phân bố tập trung thuận lợi cho phát triển các khu vực chuyên canh cây công nghiệp
Địa hình nghiêng dần ra sông với nhiều độ dốc khác nhau mang lại
ưu thế đa dạng trong việc khai thác, sử dụng đất vào sản xuất nông- lâm nghiệp
Là nơi gặp gỡ của ba khúc sông suối, khí hậu mang lại khả năng thích nghi với nhiều loại cây trồng và vật nuôi khác nhau
Bên cạnh những thuận lợi, điều kiện sinh thái tự nhiên cũng đang gây ra những hạn chế, tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển của sản xuất và sinh hoạt của đồng bào như hiện tượng lũ quét gây xói mòn, rửa trôi đất, hạn hán…
1.2 Khái quát về người Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
1.2.1 Dân cư và nguồn gốc tộc người
Xã Văn An được chia làm mười thôn nhỏ bao gồm: thôn Nà Muồng, Khòn Chu, Nà Pàn, Bản Làn, Điềm He 1, Điềm He 2, Bản Nhuần, Phai Cam, Khòn Háo và Nà Hin Với diện tích tự nhiên là 1079 ha, Văn An là địa bàn cư trú của ba dân tộc anh em Tày, Nùng, Kinh ( Việt) Dân số toàn xã là khoảng
2759 người, trong đó dân số của người Nùng trong xã là khoảng 1380 người chiếm hơn 50% tổng số dân của toàn xã
Cùng với đồng bào Tày, đồng bào Nùng nói chung sống rải rác ở hầu khắp các tỉnh thượng du và trung du Bắc Bộ, tập trung đông nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang…Tuy nhiên,
Trang 18khi nói về sự có mặt của họ ở Việt Nam nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng, các nhà dân tộc học trong các sách xuất bản thời gian qua có nhiều cách giải thích khác nhau Tác giả Trần Văn Hà khi nghiên cứu trên cơ sở phân tích, tổng hợp đánh giá các ý kiến của các giới tác giả đă đưa ra kết luận về sự có mặt của dân tộc Nùng ở Việt Nam ở hai thời điểm khác nhau như sau:
“Thứ nhất: Từ những thế kỷ cuối của thiên niên kỷ I trước Công Nguyên đến thế kỷ XVIII ở đây có hai giả thuyết Một là giai đoạn từ những năm của thiên niên kỷ cuối cùng trước Công Nguyên đến thế kỷ XI, là giả thuyết dựa trên các truyền thuyết lịch sử nói về thời kỳ tộc Nùng có tổ tiên chung với cộng đồng Cháng, Tày, Việt (Kinh) cùng nhiều tộc khác nữă thuộc khối cư dân Tây Âu, Lạc Việt địa bàn cư trú thuộc vùng Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam Hai là giai đoạn từ sau thế kỷ XI đến trước thế kỷ XVIII Cũng như các sự kiện lịch sử về sau này khi nói đến tộc Nùng trong các nhóm dân tộc vùng Nam Trung Hoa ở thế kỷ XI đều gắn với sự kiện Nùng Trí Cao Thời
Lý, Nùng Trí Cao thủ lĩnh của Tày, Nùng, Cháng (các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày- Thái ở miền Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa) trong cuộc khởi nghĩa chống nhà Lý ở vùng Tây Bắc Lạng Sơn và Đông Bắc Cao Bằng sau thất bại
đã được vua Lý phong làm Thái Bảo Nhưng rồi Nùng Trí Cao lại cắt cứ vùng Cao Bằng (1048) đem quân đánh chiếm vùng Quảng Đông, Quảng Tây và tám châu thổ khác của Trung Quốc Trong thời gian ngắn, Nùng Trí Cao đã đánh chiếm được đất đai của hầu hết các dân tộc Tày, Nùng, Cháng thuộc hai nhà nước phong kiến là Tống (Trung Quốc) và nhà Lý (Việt Nam) thành lập vương quốc Đại Nam bị nhà Tống tiêu diệt Biên giới Việt- Trung vào khoảng 1084
được quy định rõ rệt hơn sau cuộc điều đình giữa nhà Tống và nhà Lý thông qua việc trao trả đất đai cho nhà Lý và tù binh cho nhà Tống
Thứ hai: Thời gian định cư của người Nùng hiện nay ở miền núi phía Bắc Việt Nam là khoảng trên hai trăm năm nay [5, Tr 33] Tuy nhiên, tác giả Trần Văn Hà cũng đưa ra nhận xét rằng “dựa trên cả truyền thuyết và lịch sử
Trang 19thì cả dân khối Nùng- Cháng đã sinh sống cùng thời gian với người Tày cổ trên lãnh thổ Việt Nam chưa được giải thích thoả đáng, cho đến nay vẫn là vấn
đề còn tồn lưu”
Còn theo bài khoá luận tốt nghiệp Vốn văn hoá Tày- Nùng” ở Lạng
Sơn và mấy suy nghĩ về hướng bảo tồn và phát triển của Hoàng Văn Đông
khoá 1991- 1995 của trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng “Theo sự tìm hiểu sơ bộ ở một số địa phương Lạng Sơn, người Nùng di cư vào Việt Nam khỏang độ bảy, tám đời trở xuống đến bốn, năm đời (khoảng trên dưới 300 năm) Sau khi phong trào Thái Bình Thiên Quốc bị thất bại, một số người Nùng chạy vào Việt Nam để tránh sự khủng bố của bọn phong kiến Mãn Thanh (thế kỷ XIX) Có gia đình mới di cư vào Việt Nam độ khoảng vài ba
đời gần đây”
Về nguồn gốc tên gọi cũng có nhiều cách giải thích khác nhau từ các tác giả, các nhà nghiên cứu khác nhau Cũng theo tác giả Trần Văn Hà đã phân tích, tổng hợp các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đã xuất bản về dân tộc Nùng ở Việt Nam từ trước đến nay đi đến kết luận về hai nguồn gốc
được đưa ra đó là: “Thứ nhất tộc danh Nùng chắc chắn bắt nguồn từ bên dòng
họ Nùng- một trong bốn dòng họ đông nhất có thế lực lớn là Nùng, Hoàng, Chu, Vy đã thống trị vùng Tả, Hữu giang tỉnh Quảng Tây gọi là Tây Nguyên man dưới thời Đường Hai là các tác giả chỉ cắt nghĩa về nguồn gốc các tên gọi phụ khác nhau của các nhóm Nùng hiện nay ở Việt Nam….là xuất phát từ tên gọi theo hai đặc điểm trang phục và tên địa phương nơi ở trước khi họ di cư đến chỗ ở hiện nay” như :
Nùng Cháo là Nùng Long Châu
Nùng Phân Slình là Nùng Vạn Thành
Nùng Tùng Slìn từ Tuỳ Thiện
Nùng Inh là Nùng Long Anh
Nùng Hua Lài, người phụ nữ đội khăn có chấm trắng [5,Tr.35]
Trang 20Như vậy nguồn gốc tộc danh Nùng gắn liền với quá trình lịch sử tộc người này, tức là thuần tuý về lãnh thổ tộc người từ thế kỷ XI trở về trước khi
mà biên giới Việt- Trung chưa phân định rạch ròi Đến thế kỷ XVIII, XIX khi
sự phân định ranh giới quốc gia đã trở nên rõ ràng hơn thì tộc danh các nhóm Nùng lại được giải thích gắn liền với các địa danh trước khi cộng đồng này có mặt ở Việt Nam
Cũng giống như sự hình thành, di cư và nguồn gốc tên gọi của người Nùng trên cả nước Song đồng bào Nùng ở Lạng Sơn bao gồm có Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo ở huyện Cao Lộc ở huyện Chi Lăng có Nùng Inh, Nùng Phàn Slình còn ở Văn Quan có đồng bào Nùng Cháo (thị tứ Điềm He, Nùng Phàn Slình (Bản Nhuần, Phai Cam…) và Nùng Inh (ở Khòn Háo và Nà Hin)
1.2.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế
Dân tộc Nùng ở cả nước cũng như ở Lạng Sơn nói chung và đồng bào Nùng ở xã Văn Quan, huyện Văn An, tỉnh Lạng Sơn nói riêng đều là cư dân nông nghiệp Nền kinh tế cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp Nguồn sống chính là trồng trọt trên địa bàn miền núi, có rừng, có sông, có những thung lũng lòng chảo Thứ đến là chăn nuôi Thủ công nghiệp là ngành phụ trong gia
đình Việc săn bắn và hái lượm là bổ sung cho nguồn thu phụ cho gia đình Việc buôn bán nằm trong tay người Hoa Kiều và người Việt, thỉnh thoảng mới
có người Nùng biết buôn bán và kinh doanh
Trồng lúa ruộng là truyền thống lâu đời của đồng bào Ruộng theo tiếng dân tộc gọi là “Nà” Đó là những mảnh đất bằng phẳng, có bờ giữ nước, giữ ẩm có thể cấy lúa hoặc trồng màu Ruộng có nhiều loại: Nà nặm (ruộng nước) có thể làm được hai vụ lúa cùng với một vụ màu; Nà Lẹng (ruộng cạn chờ mưa) thường là ruộng bậc thang cao, khó giữ nước mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa (vụ mùa); Nà Lụm hay Nà Pồng (ruộng lầy thụt) ở thung khe hoặc cuối cách đồng, cũng chỉ cấy được một vụ một năm
Trang 21Khác với các đồng bào Nùng khác ở Lạng Sơn và ở các tỉnh khác,
đồng bào Nùng ở Văn An, đặc biệt là ở hai thôn Khòn Háo, Nà Hin không trồng lúa nương Mà thay vào đó đồng bào trồng các loại cây lương thực khác như: ngô, khoai, sắn, hay một số cây công nghiệp đậu tương, lạc, hồi, trám trắng, đậu xanh, đậu côve…
Tại các mảnh đất xung quanh nhà và mảnh đất trên đồi, đồng bào sử dụng làm vườn Với các mảnh đất xung quanh nhà, đồng bào tiến hành gieo trồng các loại rau xanh và một số loại cây ăn quả Các giống rau được dồng bào trồng nhiều là cải bắp, cải thìa, khoai tây, xà lách Những loại rau này chủ yếu được trồng vào vụ đông xuân Vào mùa hè chủ yếu là các giống rau muống, rau ngót…Cây gia vị có gừng, tỏi, hành…Cây ăn quả có chuối, mận,
đào, lê, hồng, đu đủ…được trồng nhiều ở các vườn đồi
Nghề nông trồng trọt với truyền thống lâu đời đã đem lại cho đồng bào nhiều kinh nghiệm sản xuất Những kinh nghiệm đó được thể hiện ở việc xác định thời vụ gieo trồng, chọn giống, chọn đất Nó còn thể hiện ở hệ thống công cụ sản xuất và hệ thống phương tiện tưới tiêu cho cây lúa Từ việc xác định thời vụ đến quá trình sản xuất, đồng bào đã làm ra các công cụ lao
động thích hợp riêng như chiếc cày, chiếc bừa, chiếc cuốc, dao quắm với những chiếc lưỡi, răng to nhỏ và có hình dạng khác nhau Đồng bào có hệ thống kênh mương để dẫn nước vào ruộng Đối với những ruộng ở xa kênh, mương, đồng bào sử dụng những con đập, ống dẫn nước, máng nước đưa nước
từ các kênh, các khe mạch vào ruộng Ngày nay, đồng bào sử dụng cả ngững chiếc máy bơm, bơm nứơc từ nơi thấp lên các ruộng chân cao để sản xuất
Hầu hết, các hộ gia đình Nùng nơi đây đều chăn nuôi gia súc, gia cầm Việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, chủ yếu vào mục đích lấy sức kéo Chăn nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm và các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, lễ tết của gia đình Tuy nhiên, hiện nay một số gia đình đã chú ý đến việc chăn nuôi với mục đích buôn bán để làm
Trang 22giàu Trong chăn nuôi của đồng bào ta không thể không kể đến việc chăn nuôi lợn và thả cá Có thể nói cùng với gà, vịt, ngan, trâu, bò, lợn cũng là giống gia súc không thể thiếu trong mỗi gia đình của đồng bào Nùng nơi đây Lợn nuôi cũng chủ yếu là phục vụ cho các ngày lễ tết, đình đám của gia đình Ngoài ra, một số gia đình cũng thường bán để tăng thu nhập Thả và đánh bắt cá không phải là hình thức chăn nuôi phổ biến của đồng bào Nùng ở xã Văn An mà chỉ
có một số ít gia đình tận dụng ao nhỏ của gia đình hay một số các khe suối để nuôi cá, tăng thêm nguồn thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày Chăn nuôi cũng là ngành kinh tế có từ lâu đời, gắn liền với điều kiện tự nhiên của đồng bào Chính vì thế, đồng bào cũng tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm trong việc chọn giống, chăm sóc và chữa bệnh
Đồng bào Nùng ở xã Văn An không có nhiều nghề thủ công truyền thống như đồng bào Nùng ở nơi khác Nghề thủ công của đồng bào chủ yếu là nghề đan lát Các sản phẩm của nghề đan lát chủ yếu phục vụ cho nhu cầu các
đồ dùng trong gia đình Một số gia đình cũng đem sản phẩm đi bán Song số
đó trong đồng bào là rất ít Ngoài nghề đan lát trước đây đồng bào còn có nghề làm gạch, ngói và chưng cất dầu hồi phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày
Mặc dù nguồn sống chính là từ nông nghiệp trồng lúa nước đạt trình
độ canh tác đã phát triển, song kinh tế tự nhiên săn bắt, hái lượm của đồng bào vẫn còn tồn tại Đồng bào có thể kiếm được các loại rau rừng, hay săn bắt
được một số loài thú rừng như chim, gà rừng…là nguồn thực phẩm bổ sung cho bữa ăn hàng ngày của đồng bào
Đường quốc lộ 1B chạy dài qua xã nối liền Lạng Sơn với Thái Nguyên và đi các tỉnh khác cũng như đi các huyện khác trong tỉnh Đây là
điều kiên thuận lợi để đồng bào giao lưu, trao đổi mua bán hàng hoá với các huyện khác và các vùng khác Đây cũng là cơ sở hình thành các trung tâm chợ dọc theo các đường quốc lộ Chợ Điềm He nằm ở trung tâm thị tứ Điềm He,
Trang 23giữa trung tâm xã là nơi diễn ra mọi hoạt động trao đổi, buôn bán của đồng bào Nơi đây một số gia đình trong đồng bào cũng sống bằng nghề buôn bán kết hợp với làm nông nghiệp
1.2.3 Đặc điểm về văn hoá truyền thống
Về văn hoá xã hội
Tổ chức xã hội cơ bản của đồng bào Nùng ở xã Văn An là thôn Thôn là cộng đồng có lãnh thổ, có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối Thôn có bộ máy quản lý của thôn
Điều hành công việc thôn là người đứng đầu thôn hay còn gọi là trưởng thôn Trưởng thôn là người hiểu biết về văn hoá, xã hội, am hiểu các phong tục, tập quán và là người có uy tín được nhân dân suy tôn Trưởng thôn quản lý về mọi mặt của đời sống xã hội Giúp việc cho trưởng thôn còn có đội ngũ thầy mo, then- những người làm nghề cúng bái Thầy mo, then là những người quản lý làng về mặt tâm linh
Mỗi thôn có từ ba mươi đến bốn mươi nóc nhà, có thôn lớn cũng lên
đến sáu mươi nóc nhà Các nhà trong thôn thường tập trung ở ba đến năm dòng họ lớn Ví như thôn Khòn Háo có 37 hộ là người Nùng với năm dòng họ chính là Hoàng, Nông, Triệu, Vi, Phùng; thôn Nà Hin có 38 hộ tập trung trong bốn dòng họ chính là Lăng, Phùng, Triệu, Đàm Tuy khác họ nhưng mọi thành viên trong thôn có cùng nhiều quyền lợi chung về kinh tế nên luôn đùm bọc nhau cùng chống giặc giã, trộm cặp
Trong mối quan hệ dòng họ của đồng bào tồn tại cả họ nội và họ ngoại Họ nội là họ bên cha, họ ngoại là họ bên mẹ Ngoài ra đồng bào còn có tục nhận họ Việc nhận họ này đựơc thể hiện dưới hình thức nhận con nuôi, liên quan đến việc được ban ơn hay giúp đỡ của đồng bào Mỗi dòng họ của
đồng bào thường có gia phả ghi lại và lưu truyền cho các thế hệ sau Những người trong cùng dòng họ thường rất trọng nhau và quan hệ khăng khít với
Trang 24nhau Chính vì thế họ thường giúp đỡ nhau trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, bênh vực nhau trong quan hệ xã hội
Tổ chức gia đình của đồng bào nơi đây là gia đình phụ quyền, phụ
hệ Mỗi gia đình thường có hai hay nhiều thế hệ cùng sinh sống Thế hệ trước thường làm gương cho thế hệ sau Thế hệ sau thường lễ phép, kính trọng và vâng theo lời của thế hệ trước Do ảnh hưởng của Nho giáo mà người phụ nữ trong đồng bào không có quyền hạn gì Mọi quyền hành trong gia đình đều do người cha hay người con trưởng quyết định Con gái không được quyền thừa
kế tài sản cố định Đồng bào còn có tục kiêng con dâu không được ngồi cùng mâm với bố chồng, không được vào buồng riêng của anh trai hay em trai chồng…Bố chồng cũng không đựơc vào buồng con dâu Hiện nay, tục này tuy không còn khắt khe như trước nhưng vẫn tồn tại trong đời sống gia đình của
đồng bào
Do đề cao vai trò của con trai mà việc sinh đẻ của người phụ nữ Nùng nơi đây khá được coi trọng Đồng bào thường thích đẻ được con trai để
có người nối dõi tông đường Việc sinh đẻ chủ yếu được tiến hành tại nhà
Đồng bào có thói quen tự đỡ đẻ Nếu bị khó đẻ lắm đồng bào mới đi trạm xá hay bệnh viện Khi đứa trẻ ra đời đồng bào cũng thường treo một cành lá xanh
để báo hiệu và tránh những vía độc của người ngoài Đứa trẻ được làm lễ mừng đầy tháng, được đặt cả tên tục lẫn tên quan, khi đến tuổi đi học được then làm lễ trao giấy bút và cầu mong thành đạt Việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ nhỏ được đồng bào hết sức coi trọng nhất là những công việc liên quan đến chức năng, giới tính của đứa trẻ Khi đứa trẻ từ ba tuổi đên năm tuổi, chúng
được người lớn trong nhà tập và dạy cho quen với một số công việc của người lớn như con trai thì đan lát, săn băt; con gái may vá, chăn trâu…Phụ nữ Nùng nơi đây từ khi mang thai đến khi hết tháng cữ được kiêng cận thận Thức ăn cho sản phụ chủ yếu là cơm trắng, canh gừng hầm với thịt gà, hoặc chân giò
Trang 25lợn hầm với rượu nếp…Có thể nói, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái và sản phụ của đồng bào là kho tàng kinh nghiệm dân gian quý báu
Về văn hoá vật chất
Đồng bào tạo lập thôn dưới chân núi, sườn thấp các thung lũng hay trên các gò cao giữa thung lũng Thôn của đồng bào thường dựa lưng vào núi, quay mặt ra cánh đồng, sông suối Đó là những vị trí cao ráo tiện lợi cho sinh hoạt Phần đất đai thấp tiện nước trong thung lũng quanh thôn đều được tận dụng để khai phá làm ruộng Có thể nói ở đâu có thôn của người Nùng là ở đó
có ruộng Thôn – nà ( ruộng) trở thành hai yếu tố cấu thành bất di bất dịch truyền thống của đồng bào Trước khi lập thôn, bao giờ đồng bào cũng cân nhắc về điều kiện đất dai, tức là điều kiện khai phá ruộng để làm ăn
Mỗi thôn của đồng bào thường có tên gọi riêng gắn liền với địa danh
cụ thể ở đó Có khi tên được gọi theo một truyền thuyết hay sự kiện lịch sử nào đó ở địa phương Đặc biệt, tên thôn của đồng bào còn phản ánh rõ bản chất cư dân nông nghiệp: đó là tên gọi thôn thường gắn với yếu tố ruộng nước như Nà Hin, Nà Pá…
Thôn của đồng bào cư trú theo nhóm dân tộc, ít xen kẽ nóc nhà với các dân tộc khác Đồng bào có những thôn chỉ có người Nùng riêng như thôn Khòn Háo, thôn Nà Hin Ngay cả với người Tày là dân tộc sống gần gũi với
đồng bào nhưng cũng chỉ xen kẽ bản chứ ít xen kẽ nóc nhà Nếu cùng cư trú trong một thôn thì cũng ở thành cụm riêng Trước đây, thôn của đồng bào thường xảy ra trộm cắp Do đó, để phòng tránh đồng bào làm những hàng rào tre bao quanh thôn
Nhìn vào thôn của đồng bào, kiểu kiến trúc nhà cửa mang sắc thái vùng rõ rệt Nhà của đồng bào chủ yếu là nhà sàn và nhà đất Nhà sàn chủ yếu
là loại nhà sàn hai mái, kiểu vì kèo bốn hàng cột với bốn cột chính và một cột trụ ngăn ở chính giữa chống vào nóc Nhà có hai cửa ra vào và được lợp bằng ngói máng Nhà sàn của đồng bào là kiểu nhà tổng hợp Từ sàn gác, mặt sàn,
Trang 26đến gầm sàn đều được sử dụng hợp lý trong sinh hoạt và trong sản xuất Trên tầng trên của sàn nhà được dùng để đựng thóc lúa, ngô hay một số đồ dùng sinh hoạt của gia đình Tầng sàn là tầng sinh hoạt của gia đình Tầng gầm sàn
là nơi để chuồng gia súc, gia cầm và các công cụ sản xuất Nhà đất là một biến dạng của nhà sàn Sự khác nhau cơ bản giữa nhà đất và nhà sàn là tầng dưới đất giành cho người ở Trong nhà được phân ra các gian buồng và ứng với mỗi gian buồng có mở thêm các cửa sổ Sàn gác thu hẹp lại nơi góc tối cũng để đựng các sản phẩm nông nghiệp và một số đồ dụng sinh hoạt của gia
đình Bếp không để trong nhà chính mà để ở gian đằng sau hoặc gian bên cạnh Đồng bào cũng làm nhà sàn tường đất riêng ở cổng vào nhà để nhốt trâu
bò và các nông cụ Ngày nay, do những điều kiện tự nhiên không còn nguồn
gỗ và nguyên liệu nữa, đồng bào có xu hướng xây dựng nhà nhỏ hơn, giảm bớt
số cột, có khi bỏ hẳn cột thay bằng xà ngang, mở thêm cửa sổ, làm chuồng gia súc riêng Nhiều gia đình trong đồng bào chuyển sang xây nhà đất hay nhà xi măng
Phụ nữ Nùng mặc áo vải chàm, áo ngắn năm thân, ống tay rộng, cài khuy sang bên phải, có thắt lưng bằng vải và vấn khăn trên đầu Phụ nữ chủ yếu mặc quần Tuy nhiên giữa các nhóm Nùng khác nhau cũng có sự khác nhau:
Đối với phụ nữ Nùng PhanSlình Hua lài phụ nữ mặc áo dài hơn Đầu vấn chiếc khăn chàm có thêu hoa trắng Họ cũng thường thắt lưng vắt ra đằng sau và thường mang theo chiếc túi hoa mỗi khi đi chợ
Phụ nữ Nùng Inh, Nùng Cháo cũng mặc áo dài đến đầu gối Vạt áo
đằng trước, chỗ cài khuy có viền một băng vải khác màu phổ biến là viền màu
đen trên nền xanh Đầu vấn tóc, chít khăn vuông
Nam giới thường mặc chiếc áo tràng vạt, ống tay rộng Chiếc áo này
đang dần được thay thế bằng chiếc áo cánh, cài khuy giữa áo có hai hay bốn túi, cổ cứng kiểu Trung Quốc Quần là chiếc quần Âu Ngày nay, ở Văn An,
Trang 27trang phục truyền thống của đồng bào đã dần mất đi Số ít trong đồng bào còn mặc và giữ được những bộ trang phục truyền thống Thanh niên Nùng hầu như
đã ăn mặc theo người Âu
Cơm tẻ từ lúa tẻ là thành phần chủ yếu trong bữa ăn của đồng bào Lúa nếp không được trồng nhiều nên gạo nếp chỉ dùng vào các dịp lễ tết để làm các loại sôi màu, bánh, và nấu rượu Ngô là nguồn thức ăn phụ quan trọng
bổ sung cho bữa ăn vào các tháng giáp hạt của đồng bào Họ thường ăn hai bữa chính và hai đến ba bữa phụ trong một ngày Bữa chính là bữa trưa lúc mặt trời gần đứng bóng khoảng 11 giờ trưa gọi là “ kin ngài” và lúc xế chiều (khoảng 18 giờ tôí) gọi là “ kin pjầu” Những bữa phụ thường có vào lúc sáng sớm gọi là “ kin đờn” hay trước khi đi làm chiều gọi là “ kin lèng” hoặc bữa
ăn nhẹ vào đêm khuya gọi là “ slíu dề” Đồ ăn cho bữa phụ thường là cháo nấu bằng gạo tẻ hoặc bằng ngô xay nhỏ
Thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày có măng, rau xanh, đậu phụ Thịt, cá, trứng… chiếm tỉ lệ thấp và không có thường xuyên Nó chủ yếu có vào các dịp lễ tết hoặc đình đám trong nhà
Đồng bào cũng thường làm các loại bánh để ăn, nhất là vào các dịp tết Mỗi tết có một loại bánh riêng Các loại bánh được làm bằng cả gạo tẻ như bánh đúc, bánh đa, …Các loại bánh làm bằng gạo nếp như khẩu si, chè lam, bánh trôi, cốm…Đồng bào thường thích ăn các loại canh hay các đồ xào bằng
mỡ động vật và cũng thích sử dụng các gia vị như gừng, xả, ớt, tiêu, mác mật…trong chế biến thức ăn Vào các dịp Tết hay khí tiết lạnh, đồng bào thường làm một số thức ăn khô để ăn dần như lạp sườn, …Thức uống của
đồng bào chủ yếu là nước đun sôi để nguội, có khi là nước lá, hay nước đun từ
rễ cây rừng Rượu thường được nấu đổ sẵn vào bình, can để uống dần Đàn
ông Nùng ở đây còn có thói quen hút thuốc lá hoặc thuốc lào
Trang 28Phương tiện vận chuyển của đồng bào khá thô sơ, chủ yếu là đi bộ với đôi quang gánh bằng tre cùng đôi dậu Dậu của đồng bào gồm ba loại chính:
Về văn hóa tinh thần
Tiếng nói của đồng bào Nùng ở xã Văn An cũng như tiếng nói của
đồng bào Nùng trên cả nước đều thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái của nhánh Tai trong ngữ hệ Tai- kađai “Tiếng nói Nùng rất gần gũi với tiếng Việt về hệ thống âm thanh và ngữ pháp Tất cả mọi âm tiết đều có một nguyên âm chính tạo thành Tất cả mọi âm tiết đều mang một thanh âm cụ thể Về ngữ pháp
được hình thành trên cơ sở trật tự từ và vận dụng từ hư trong chuỗi lời nói Việc đắt câu có thể phân theo loại hình và mục đích nói Câu gồm có chủ ngữ
và vị ngữ” [ 28, Tr 257- 261] Tuy nhiên về nhiều từ cơ bản để chỉ những sự vật cụ thể có liên quan đến các hiện tượng tự nhiên và mọi mặt sinh hoạt của
đời sống sinh hoạt, xã hội của con người Những từ diễn đạt khái niệm trừu tượng hay những danh từ về văn hoá nghệ thuật, khoa học kỹ thuật đều là từ
đồng bào đi mượn từ vốn từ Hán Việt, tiếng Việt hay tiếng Hán
Tuy không sáng tạo ra chữ viết nhưng đồng bào có chữ viết, chữ
Nôm quen được gọi là chữ Nôm Tày- Nùng Theo cuốn Các dân tộc Tày-
Trang 29Nùng ở Việt Nam do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1992 cho
rằng “ chữ Nôm xuất hiện giai đoạn Trung đại và Cận đại Đó là thứ chữ không hoàn chỉnh, xây dựng hơi tuỳ tiện, không thống nhất giữa các địa phương Đó là sự mô phỏng theo chữ Hán của người Trung Quốc Tuy nhiên cho đến nay sự thật về thời gian ra đời của chữ Nôm vẫn chưa được sáng tỏ” [28, Tr.262] Chữ Nôm không được phổ biến rộng vì chỉ có những người biết tiếng Hán mới có thể đọc và hiểu được Do đó chữ Nôm hiện nay chỉ được biết nhiều trong các cuốn sách cổ, những tài liệu, hồ sơ của gia đình như gia phả, giấy hôn thú…hay trong các tập truyện thơ Nôm khuyết danh
Năm 1960 Nhà nước đã ban hành chính sách xây dựng chữ Nôm Tày- Nùng theo tiếng La tinh tương đối hoàn chỉnh Hiện nay, chữ này vẫn
được dùng trong các đài phát thanh phát tại địa phương trong xã Đây chính là cơ sở để tạo cho việc tìm hiểu, lưu giữ những vốn văn hóa dân gian của đồng bào
Trong quan niệm về trời đất, con người, đồng bào cho rằng thế giới
có chỗ tận cùng là “ fạ slụt nặm tẳng” Trời đất chia làm ba mường là mường trời, mường người, và mường âm Mường trời là thế giới thần tiên Mường đất
là mặt đất, thế giới của con người Mường âm là mường của những người sống trong lòng đất Trời là chúa tể của muôn loài có thể nhìn thấu mọi vật, mọi việc ở dưới đất Con người là tinh khôn hơn cả, được trời phú cho quyền sử dụng muôn loài để phục vụ cuộc sống của mình
Đồng bào tin vào sự có mặt và tồn tại của vạn vật hữu linh và hệ thống các loại ma được quen gọi là phi Đồng bào cũng tin có ma lành, ma dữ, hung thần, phúc thần Ma lành và phúc thần thường mang lại điều tốt lành và phù hộ cho con người nên được con người thờ cúng Ma dữ và hung thần thường làm hại con người, ít được thờ cúng Đồng bào cũng tin vào sự có mặt của ma người sống, những người có phép phù thuỷ hay những gia đính có ma truyền đời chuyên đi làm hại người mà chúng không thích như các loại ma
Trang 30đuôi cộc, ma gà của người Nùng Phàn slình Từ thế giới quan và nhân sinh quan trên của đồng bào có thể khẳng định tín ngưỡng của đồng bào là tín ngưỡng đa thần nguyên thuỷ Điều này còn được thể hiện rõ qua hệ thống thần linh được đồng bào thờ cúng trong nhà và ngoài làng
Thờ cúng tổ tiên là tục không thể thiếu đối với mỗi gia đình người Việt nói chung và với người Nùng nơi đây nói riêng Đồng bào thờ theo tộc hệ chín đời, nhưng chỉ thờ đến đời thứ ba bắt đầu từ cha, ông, cụ Các đời khác
đều biến thành thần gia súc để trông coi nhà cửa Thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Hoa vương Thánh Mẫu và Thần Táo quân- thần Bếp cũng khá phổ biến trong nhà mỗi gia đình Đây là những phúc thần luôn bảo vệ và phù hộ cho gia đình Ngoài ra, đồng bào cũng thờ cúng Thần Thổ Công, thần Thành Hoàng ở các miếu thờ riêng của thôn Đối với đồng bào đây là hai vị thần bảo vệ mùa màng, gia súc và chống dịch bệnh cho cả làng Tuy nhiên, hiện nay tục thờ thần Thành Hoàng như đã bỏ hẳn, tục thờ thần Thổ Công vẫn còn nhưng cũng mai một ít nhiều Tóm lại, văn hoá tín ngưỡng của đồng bào mang đậm màu sắc đa thần nguyên thuỷ xen lẫn các yếu tố Đạo giáo, Phật giáo, Khổng giáo
Đó là kết quả của thứ tín ngưỡng bản địa tộc người cộng với thứ tín ngưỡng lai nhập ở những nơi ở mới với những điều kiện mới
Trong một năm của đồng bào có khá nhiều ngày Tết, rải rác từ đầu năm đến cuối năm Mỗi lễ Tết có một ý nghĩa riêng, nghi thức riêng và đồ cúng riêng
Tết Nguyên Đán là Tết lớn nhất trong năm của đồng bào Đây là dịp hưởng thành quả lao động sau một năm lao động vất vả và chuẩn bị cho một năm lao động sản xuất mới Các gia đình thường trang trí nhà mình những tờ giấy đỏ và một cây nêu thật cao Họ cũng không quên chuẩn bị một mâm cơm thật sung túc để cúng tổ tiên cầu mong những điều may măn, no đủ, súc khỏe…Mâm cơm cúng tổ tiên trong ngày Tết Nguyên Đán không thể thiếu
Trang 31thịt gà hoặc thịt vịt, rượu và bánh trưng xanh Trước đây, đồng bào thường mở hội Lồng Tồng để vui trong tháng Tết nay lễ hội này như đã bị bỏ hẳn
Tết mồng 3 tháng 3 âm lịch – Tết Thanh Minh- đây là dịp con cháu nhớ về tổ tiên, về cội nguồn để tưởng nhớ công ơn và sự phù hộ Đây cũng là dịp gặp nhau, gắn kết anh em Bánh lá ngải và sôi màu tím là hai thứ không thể thiếu để cúng tổ tiên ngoài mộ
Tết Đoan Ngọ vào ngày mồng 5, tháng 5 âm lịch hàng năm hay còn
được gọi là Tết giết sâu bọ cầu mong mùa màng thắng lợi Rượu nếp, bánh tro
và hoa quả đầu mùa là những thứ không thể thiếu trong Tết này
Tết Rằm tháng bảy vào ngày 14 tháng 7 là Tết lớn thứ hai trong năm của đồng bào Mỗi gia đình thường chuẩn bị bánh đường, bún, bánh dậm, bánh gai, thịt vịt để cúng tổ tiên và các vong hồn chết trẻ không có ai thờ cúng
để mong các vong hồn này khỏi quấy nhiêũ người trần, gia súc và làm hại mùa màng Ngoài ra, đồng bào còn có các Tết khác như Tết mồng 6 tháng 6 (
âm lịch) cúng thần ruộng, thần trâu, để bảo vệ mùa màng Tết Rằm Trung thu- Tết Mừng trăng; Tết mông 9 tháng 9- Tết Mừng Cơm mới; Tết mồng 10 tháng10- Tết báo cáo và cảm ơn tổ tiên sau khi mùa đã thu hoạch xong; Tết
Đông Chí- Tết vào ngày rét nhất trong năm với loại bánh trôi, thang gừng
Có thể nói, chu trình lễ Tết của đồng bào gắn chặt với thời gian nông lịch của sản xuất nông nghiệp Đó là sự phản ánh của lối tư duy nông nghiệp, mang đậm nét văn hoá thuần nông Đó là ước mơ của người nông dân thuần nông khi nông nghiệp còn phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên
Trước đây, việc hôn nhân của trai gái là do cha mẹ quyết định và thường căn cứ vào sự môn đăng hộ đối của hai gia đình Nay việc hôn nhân đã
là tự nguyện, tự do tìm hiểu của trai gái nhưng vẫn còn mang nặng tính gả bán Do đó, để tổ chức đám cưới nhà trai phải tuân thủ mọi lễ nghi của tập tục một cách tỉ mỉ và chặt chẽ Đặc biệt là phải có đủ các đồ thách cưới mà nhà gái đưa ra Lễ cưới của đồng bào bao gồm có lễ dạm hỏi ( lẩu nứa), lễ mừng lá
Trang 32số, lễ sêu tết, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và lễ nhị hỉ Lễ vật của đám cưới của đồng bào thường có bánh trái, thịt lợn hoặc thịt gà, quả xôi, và rượu Các thứ lễ này nhiều, ít khác nhau trong mỗi nghi lễ, trong đó lễ ăn hỏi và lễ cưới
là nhiều hơn cả Trong lễ cưới nhà trai phải mang hai tạ thịt lợn hơi hoặt con lợn nặng 30 kg móc hàm, một đôi gà, 40 lít rượu, hai chục cặp bánh, một ít tiền mặt Đồ mừng cưới cũng khá đơn giản Trước đây, đồ mừng cưới chủ yếu
là gạo, rượu, là đồ dùng như cái chậu, cái phích,…Nay đồng bào đã mừng bằng tiền mặt, nhưng vẫn mang tính tình cảm và vui vẻ Từ việc chuẩn bị các nghi lễ đến đám cưới chính thức của đồng bào là cả một nguồn văn hoá mang
đậm bẳn sắc văn hoá truyền thống Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp như lối ứng xử; sự giúp đỡ nhiệt tình của anh em, láng giềng; các loại hình văn nghệ dân gian hát lượn được lưu giữ… thì đám cưới của đồng bào còn khá tốn kém, nặng tính gả bán và còn nhiều hủ tục như bói toán,… làm ảnh hưởng đến nhân duyên của đôi trẻ
Do ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử, đạo đức gia đình được đồng bào hết sức coi trọng Đặc biệt là việc lo ma chay cho cha mẹ là một hình thức báo hiếu quan trọng Đồng bào cũng tin linh hồn cha mẹ sau khi chết sang mường kia vẫn sinh hoạt và có những nhu cầu như người sống Nếu không
được lo chu đáo, linh hồn vẫn lẩn khuất xung quanh người sống, gây ốm đau
và quấy nhiễu Vì thế phải làm cho người chết được “ an cư lạc nghiệp” ở mường âm Do đó, đám tang của đồng bào phải được tuân thủ theo tuần tự các nghi lễ nhất định của phong tục
Mỗi đám tang của đồng bào thường kéo dài ba đến ngày, cũng có thể kéo dài đến sáu ngày nếu gia đình không chọn đựơc giờ tốt Người chết
được làm các nghi lễ rửa mặt, lễ khâm niệm, lễ nhập quan, lễ soi đường cho người chết lên thiên đường ( lễ khai tăng lò), lễ thụ tang cho con cháu ( lễ pạt háo), lễ dâng cơm rượu, lễ xiên đàn phá ngục, lễ bố trí thức ăn cho những linh hồn chết không có ai cung cấp ( lễ mùng san) Tiếp đó là lễ mài xe hay lễ trao
Trang 33nhà táng cho người chết, lễ đưa ma và cuối cùng là lễ an táng Ngoài ra, với những gia đình có điều kiện còn làm lễ đại siêu trước khi làm lễ nhập quan để cầu siêu thoát cho hồn người chết khỏi “ thập điện Diêm Vương” mau chóng
được lên thiên đường Để tiến hành các nghi lễ trên, đồng bào thường mời đội ngũ thầy mo, then Đồng bào tin rằng họ là những người có thể điều khiển
được âm binh, có thể giúp cho linh hồn người chết đựơc cứu thoát và lên đựơc thiên đường một cách dễ dàng và chu đáo Đồng thời, đồng bào cũng không quên chuẩn bị đầy đủ các lễ vật cho từng nghi lễ như gà, lợn, rượu, hoa quả, bánh dày, hương…Với những con gái đã đi lấy chồng hoặc bên ngoại nhà vợ hoặc thông gia với gia chủ thường phải mang một mâm lễ bao gồm rượu, thịt lợn hoặc con gà, bánh dày, hoa quả và nén nhang Đồng bào có phe hiếu của
họ hoặc của thôn để giúp đỡ các gia đình có đám các công việc vặt như lấy củi, đun nước, buộc nhà, đẩy xe,…Người ta thường mổ lợn, giết gà, vịt làm khá linh đình để cảm ơn phe hiếu và anh em họ hàng đã đến giúp đỡ
Có thể nói, tập quán tang ma của đồng bào mang đậm nét văn hoá của đạo lý uống nước nhớ nguồn tốt đẹp Song tập quán tang ma của đồng bào còn tốn kém, nặng nề, lãng phi, còn nhiều hủ tục lạc hậu
Trong đời mỗi người của đồng bào Nùng nơi đây ít nhất là một lần làm lễ mừng sinh nhật cho cha mẹ Tuy nhiên, việc làm lễ mừng sinh nhật chủ yếu được tiến hành ở những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả Để làm lễ này gia đình thường mời mo hoặc then đến để cầu nguyện sự bình an, sức khoẻ cho người đó và cho cả nhà Đối với mỗi con gái đã đi lấy chồng hay bên ngoại của gia đình thường đem lễ vật bao gồm gà, bánh, gạo, thịt lợn quay, hay tiền để mừng Người ta cũng thường trồng một cây chuối để kỉ niệm hay cầu mong cho cha mẹ được sống lâu và khỏe mạnh như cây chuối mãi xanh tươi
Làm nhà cũng là một trong những công việc quan trọng cả đời của
đồng bào Trong ca dao, tục ngữ Nùng có câu “ Đẩy kin nhày mồ mả, thông
Trang 34thả nhồng tì rườn” có nghĩa là làm được ăn nhờ ở mồ mả, thong thả sung sướng nhờ đất nhà Đồng bào hết sức chú ý đến việc chọn đất và chọn hướng nhà Những mảnh đất cao ráo, tiện ruộng, tiện nước là những mảnh đất thích hợp Công việc làm nhà được tiến hành trong một thời gian ngắn khoảng một
đến hai tuần, sau khi nguyên liệu đã được chuẩn bị đầy đủ Đồng bào thường
có tục giúp đỡ nhau trong việc làm nhà Để cảm ơn sự giúp đỡ của anh em, họ hàng, gia chủ thường giết gà, vịt hoặc mổ lợn để làm cơm thiết đãi vào ngày
ăn mừng nhà mới
Đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn nói riêng là một trong những dân tộc có đời sống văn hoá, văn nghệ dân gian hết sức phong phú và đa dạng Về văn học dân gian, đồng bào có cả ca dao, tục ngữ- thành ngữ, truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện thơ Nôm, …Về văn nghệ có hát lượn Đồng bào cũng tích góp được nhiều tri thức dân gian trong việc chăm sóc sức khỏe cho con người, vật nuôi và cây trồng như khi ta bị đau bụng hay đi ngoài chỉ cần lấy ngọn non, hoặc lá non của cây phan- thanh trên
đồi về rửa sạch rồi vo với một ít muối lấy nước uống một đến hai lần là khỏi Vốn văn hoá, văn nghệ và nguồn tri thức dân gian của đồng bào là những kinh nghiệm trong sản xuất, trong sự đấu tranh của đồng bào với thiên nhiên cũng như những bất công trong xã hội Đồng thời, đó là những ước mơ tốt đẹp của
đồng bào về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Mỗi dân tộc có một vốn văn hoá riêng, một màu sắc văn hóa riêng không và khó có thể lẫn với văn hoá của các dân tộc khác Đối với đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn cũng vậy Tuy sống gần, thậm chí có nhiều ảnh hưởng từ văn hoá của đồng bào Tày nhưng đồng bào Nùng nơi đây vẫn mang một bức tranh văn hóa riêng của mình Đó là nét văn hóa dòng họ, văn hoá gia đình mang đậm yếu tố nội tộc Đó là nét tín ngưỡng
đa thần pha đậm các yếu tố của tam giáo đồng nguyên ( Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo) của sứ sở nơi sở tại ngày nay và truyền thống văn hoá lâu đời của
Trang 35bản quán xưa kia Bức tranh văn hoá của đồng bào chính là sự phản ánh của
điều kiện tự nhiên nơi đồng bào sinh sống với những mảnh đất đồi, khúc sông, khe suối, cánh rừng Nó là hệ quả của mối quan hệ của con người với tự nhiện, xã hội nơi địa bàn
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, mỗi điều kiện tự nhiên khác nhau gắn với một nền văn hoá khác nhau Con người ở bất cứ nơi đâu đều là sản phẩm của hoàn cảnh tự nhiên và xã hội mà họ sinh sống Con người ở đây với ý nghĩa là con người tổng quát, con người đại diện cho xã hội loài người với mọi mặt của đời sống xã hội bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Có thể nói gọn hơn, hiểu
đơn giản hơn là lối ăn, lối ở, lối sống, lối sản xuất, lối ứng xử…của con người
Và đối với đồng bào Nùng ở Văn An cũng vậy, vốn văn hoá truyền thống của
đồng bào nói chung, tập quán mưu sinh nói riêng chính là “ sản phẩm” của
điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đồng bào
Trang 36Chương 2 Tập quán mưu sinh truyền thồng của người Nùng
ở x∙ Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của tác giả Văn Tân ( chủ biên), do
nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1967, từ mưu sinh có nghĩa là tìm cách sinh sống Như vậy, ta có thể hiểu tập quán mưu sinh truyền thống của
đồng bào là sự khôn khéo khai thác các điều kiện của môi trường sống để phục vụ nhu cầu đời sống của đồng bào Sự khôn khéo đó được đúc kết từ nhiều năm đã trở thành một tập quán quen thuộc ăn sâu trong tâm thức của
đồng bào Là cư dân nông nghiệp, nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, tập quán mưu sinh của đồng bào được thể hiện ở tổng thể các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, các nghề thủ công truyền thống, hoạt động săn bắt, hái lượm Ngoài ra, do có sự hình thành sớm của chợ Điềm He và con đường quốc lộ 1B
đi qua địa bàn xã mà một số ít trong đồng bào còn sống bằng nguồn thu từ các hoạt động trao đổi, buôn bán
2.1 Tập quán trồng trọt
Cũng giống như nhiều đồng bào dân tộc làm nông nghiệp khác, nguồn sống chính của đồng bào Nùng ở xã Văn An, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn dựa chủ yếu vào hoạt động trồng trọt nơi địa bàn miền núi, gần khúc sông, khe suối, cánh rừng, thung lũng lòng chảo Với tài nguyên đất tự nhiên
đã được đồng bào khai thác để phát triển một ngành trồng trọt có cơ cấu cây trồng đa dạng, bao gồm cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm và rau xanh
2.1.1 Tập quán trồng cây lương thực
Trang 37Đồng bào có truyền thống làm ruộng nước, cấy lúa nước Để tiến hành việc trồng cấy, đồng bào thường khai phá ruộng và làm đất trước Kỹ thuật làm đất và khai phá ruộng khá công phu và tỉ mỉ
Việc khai phá ruộng thường được tiến hành với những đám đất rừng hoang Khi thấy một đám đất rừng nào đó có độ dốc thấp, có thể sản xuất
đựơc, có thể khai phá thành ruộng được, đầu tiên đồng bào làm một vài vụ nương cho mục hết gốc cây Sau đó, đồng bào mới tiến hành cuốc, cày để lấy
đất đắp bờ làm nương bậc thang để gieo trồng
Đã thành thói quen, đồng bào làm đất rất kỹ Đất được cày phơi ải, cày vân rạ làm dầm Trước khi cấy, đất được cày bừa nhiều lần: cày vớ, bừa phá, cày lại, bừa nhuyền để bừa cấy Thường đến lần bừa nhuyễn cũng là lúc
đắp bờ, xoa thật nhẵn mặt ruộng để giữ nước, đỡ cỏ Khi cày bừa đất, đồng bào cũng không quên bón phân chuồng cho ruộng Phân chuồng thường là thứ phân trâu, phân bò, phân lợn hoặc phân cỏ rác đã hoai mục Kinh nghiệm cho thấy, làm đất kỹ ruộng vừa giữ được nước, vừa đỡ cỏ và vừa cho hạt lúa chắc mẩy, bông to
Công cụ làm đất truyền thống của đồng bào khá đơn giản và thủ công Đó là chiếc cày, chiếc bừa, cuốc, thuổng, mai, doa quắm Để tiết kiệm,
đồng bào thường tự làm cán hay thân của chúng, còn phần lươĩ thì được mua
về Cày chìa vôi là loại cày được dùng phổ biến hơn cả Thân cày bằng gỗ thanh mảnh, từ mũi đến chóp dài khoảng 165cm đến 175cm, được lắp lưỡi và dệp gang Đôi khi đồng bào cũng tạo dệp cày bằng gỗ từ thân của cây Bắp cày hơi cong, dài khoảng 150cm Thân và bắp được cấu tạo rời, khi lắp vào
được kết cấu qua hệ thống láng đòn gánh, tiếp và lỗ xỏ đầu bắp cày vào thân Cấu tạo như vậy giúp cho việc điều chỉnh đường cày ăn nông, sâu qua các nấc của tiếp hay còn gọi là “ teng” Kỹ thuật điều chỉnh này ta cũng thấy gặp ở người Việt ( Kinh) Đồng bào thường huấn luyện trâu bò mới trưởng thành cày bằng cách một người đi đằng trước để dắt chúng, người sau dê lưỡi cày theo
Trang 38Đồng bào có hai loại bừa, bừa đơn và bừa đôi Bừa đơn còn được gọi là “ phưa léng”, rộng khoảng 100cm, cao khoảng 80cm Bừa được làm bằng gỗ xoan rừng hoặc một loại gỗ tốt Bừa đơn có từ bảy đến mười ba chiếc răng bằng gỗ hoặc bằng tre rất dễ thay thế Bừa đôi cũng giống như bừa đơn nhưng có từ mười lăm đến mười bảy chiếc răng Cuốc bàn là loại cuốc duy nhất có ở đồng bào Cuốc thường có cán ngắn, nhỏ, làm bằng thân cây hóp hoặc tre nhỏ Lưỡi cuốc hình chữ nhật, đựơc làm từ gang hay sắt và được mua từ chợ Điềm He
Cách làm mạ cũng không kém phần công phu và độc đáo Mạ được gieo ở mảnh đất riêng, chuyên để gieo mạ hay còn gọi là “chân mạ” Cũng như ruộng cấy, ruộng mạ được làm đất kỹ lưỡng.Thậm chí, đất mạ còn được làm cẩn thận hơn đất cấy Đất được cầy, bừa thật tơi nhuyễn và lên luống cẩn thận sau khi đã bón phân chuồng hoai mục
Thóc giống được giữ cẩn thận và để riêng sau khi thu hoạch từ vụ trước Giống thường được đồng bào tự để, nhất là loại giống cũ như Nam Ninh Còn với giống Trung Quốc hai thường phải mua từ chợ Sau khi chọn giống, giống được đem ngâm ủ qua nước Đối với vụ chiêm thóc thường được ngâm ủ mười hai tiếng.Thóc vụ mùa được ngâm ủ nhiều hơn, khoảng hai tư tiếng Sau khi thóc đã mọc mầm, đồng bào đem gieo trên đất ruộng đã được
đánh thành luống trang bằng phẳng Một số gia đình, mạ được gieo trên ruộng còn để lại một lớp nước mỏng chừng 2-3cm Nước được để dăm ba ngày cho mạ bến rễ rồi mới tháo cạn Vụ chiêm thời tiết thường nắng ấm nên cây mạ dễ sinh trưởng phát triển sau khi gieo cấy Vụ mùa thời tiết thường giá lạnh và có lợi cho một số loại sâu bệnh có hại Nên cây lúa thường được gieo lâu hơn để tăng khả năng chống đỡ với sâu bệnh của cây lúa Do đó, sau khi mạ mọc
được 3-4 tuần (vụ chiêm), một đến hai tháng ( vụ mùa) mạ được nhổ, được bó thành từng đom rồi đem ra cấy
Đồng bào thường cấy hai vụ lúa trong một năm: vụ mùa và vụ chiêm Lúa chiêm thường được cấy vào tháng hai âm lịch Lúa mùa thường
Trang 39được cấy vào tháng năm âm lịch Khi cấy, đồng bào thường cấy nhiều dảnh
Đồng bào có thói quen cấy bộ không cấy theo hàng lối, đường sông, hàng tay không đều nhau
Lúa sau khi cấy được một tháng đồng bào tiến hành làm cỏ Đồng bào thường làm cỏ từ hai đến ba lần trong một vụ Người ta dùng chân để lùa
cỏ Trong những lần sau, đồng bào nhổ cỏ bằng tay Cỏ không phải vứt đi đâu như dân tộc Việt (Kinh ) mà được tận dụng luôn để làm phân Sau khi nhặt cỏ lên, đồng bào lại nhấn nó sâu xuống ruộng để tự mục và trở thành phân cho lúa Ruộng luôn được giữ nước ở mức độ nhất định, phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của cây lúa Vụ mùa, sau khi lúa vào mẩy, chắc hạt, nước được tháo cạn và để cầy ải Còn ở vụ chiêm, ruộng luôn được giữ nước để sau khi thu hoạch dễ dàng cầy vỡ rạ làm dầm qua đông
Để tiện cho việc thâm canh lúa nước, từ xa xưa đồng bào đã chú ý tới vịêc làm thuỷ lợi Câu phương ngữ “có nước mới có ruộng, có ruộng mới
có cơm” trở thành lôgỉc trong tư duy canh tác nông nghiệp tiêu biểu cho cư dân thung lũng vùng núi phía Bắc Đồng bào có hai cách sử dụng nước tưới phổ biến là sử dụng nguồn nước trời (chờ mưa xuống ) trên những mảnh ruộng cạn chân cao “nà lẹng” và sử dựng nguồn nước “dẫn thuỷ nhập đìên” trên những chân ruộng trũng Cách làm thuỷ lợi này về cơ bản là giống người Tày
và người Thái vùng Tây Bắc Đó là việc sử dụng chủ yếu các nguồn nước của các con suối quanh khu vực cư trú bằng kĩ thuật và kinh nghiệm khơi mương,
đào phai- đập dẫn nước
Phai hay còn được gọi là đập Phai (đập) được đắp bằng đất đá, cỏ, rác Phai được dựng bằng cách đóng cọc đổ cỏ, rác, đá làm trụ sau đó mới dựng phên đổ đất ,đá rồi dùng dây chằng buộc Để bảo vệ phai ,đồng bào dùng một hệ thống xiên chống đỡ Phai được dựng chắn ngang dòng nước chảy để nước dâng lên, đi vào hệ thống mương dẫn vào các khu ruộng và đi vào từng ruộng Phai thường ở đầu nguồn nước, tức là ở phía cao của thung
Trang 40lũng Loại phai nhỏ chỉ là bờ đất đá, cỏ rác ngăn lạch nước nhỏ để dòng nước dâng lên tràn vào ruộng Phai lớn ở những dòng nước chảy mạnh Người ta phải dùng đến cả gỗ, tre, dây rừng chằng Vào các mùa mưa lũ, phai thường bị hư hỏng nên sau các mùa cày, cấy, đồng bào thường tổ chức gia công lại mương, phai
Mương là rãnh nước dùng để dẫn nước từ các phai đi các hướng, đổ vào ruộng Mương thường được đào từ đầu nguồn nước Đào đến đâu, đồng bào lại tháo nước thử tới đó để kiểm tra độ thông thóat, tránh bị tù úng hoặc quá dốc.Tuy nhiên, mương chỉ dẫn nước từ phai ra các hướng vào ruộng đối với các nơi bằng phẳng Do đó, đối với những chân ruộng ở thung khe và xa mương, cao hơn một chút thì hình thức tưới nước chủ yếu bằng máng tre, mai, vầu
Hệ thống máng được tạo ra bằng cách đồng bào đục thông đầu các
đốt mật của những thân tre, mai, vầu rồi mắc nối tiếp chúng lại với nhau Có khi máng dài tới hàng trăm mét, dẫn nước từ các khe mạch sâu từ trong núi về ruộng.Tưới nước bằng máng tuy không nhiều nhưng khá dễ điểu chỉnh Khi thấy nước đã đủ chi cần đặt lệch một đoạn máng bất kỳ sang một bên là nước không chảy vào ruộng nữa
Thuở ruộng đầu tiên được nước chảy vào gọi là “ nà pác mương”, tức ruộng của mương được mùn màu đỏ dẫn đến nhiều nên thường là mảnh đất tốt nhưng cũng hay bị xói mòn Cửa dẫn nước vào ruộng đầu tiên gọi là “ pác nà”, rồi từ thửa đầu đến các thửa tiếp theo bằng ống tre, bương chôn ở bờ ruộng gọi
là “láu nà” Các ống tre và bương này khá tiện lợi, vừa có tác dụng dẫn nước vừa có tác dụng điều hoà nước trong ruộng
Đối với mảnh ruộng chân cao, xa nguồn nước, nước không chảy vào
được thì nguồn nước phục vụ cho cày bừa và sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn nước mưa tự nhiên Khi nào nước mưa đủ, đồng bào mới tiến hành cày, bừa làm đất để sản xuất