1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tang lễ của người thái với vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở bản mo thị xã mường lay tỉnh điện biên

106 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tang Lễ Của Người Thái Với Vận Động Xây Dựng Đời Sống Văn Hoá Mới Ở Bản Mo, Thị Xã Mường Lay, Tỉnh Điện Biên
Tác giả Hoàng Mai Lan
Trường học Trường Đại Học Văn Hoá Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hoá Dân Tộc Thiểu Số
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kiến thức của một sinh viên khoa văn hóa dân tộc thiểu số, người viết đã chọn đề tài: “Tang lễ của người Thái với vận động xây dựng đời sống văn hóa mới ở bản Mo, thị xã Mường Lay,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trang 2

Môc lôc

Mở đầu 3

1.Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục khóa luận 6

Chương 1 Khái quát về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 8

1.1 Khái quát môi trường tự nhiên bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 8 1.2 Khái quát môi trường xã hội bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 9

1.3 Khái quát về người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 10

1.4 Ảnh hưởng của môi trường tới đời sống văn hóa của người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 16

Chương 2 Tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 19

2.1 Quan niệm của người Thái về thế giới bên kia của người chết 19

2.2.Tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 21 2.2.1 Chuẩn bị cho người tắc thở 21

2.2.2 Nhập quan tài 24

2.2.3 Nghi thức mở tang 29

2.2.4 Lễ tung trứng tìm nơi đào huyệt 33

2.2.5 Tiễn đưa hồn 33

2.2.5.1 Chuẩn bị mâm lễ để tiễn đưa hồn 33

2.2.5.2 Quám cáo xống cốn tai táy đón 35

2.2.5.3 Lễ bók ngái luông – khai khin 35

Trang 3

2.2.6 Các thủ tục đưa tang và chôn cất 36

2.2.7 Các thủ tục sau khi chôn cất 42

2.3 So sánh tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên với tang lễ các ngành Thái khác 48

Chương 3 Ảnh hưởng của tang lễ trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới tại bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên và một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của nó trong thời đại hiện nay 50

3.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước trong tổ chức tang lễ 50

3.2 Những giá trị trong tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 51

3.2.1 Về giá trị văn hóa 51

3.2.2 Về giá trị lịch sử 55

3.2.3 Về những mặt hạn chế, hủ tục

3.3 Thực trạng tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 56

3.4 Một số biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị tang lễ trong thời đại hiện nay58 3.4.1 Phương hướng bảo tồn, phát huy các yếu tố tích cực trong tang lễ hiện nay 58

3.4.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các yếu tố tích cực trong tang lễ của người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên 59

Kết luận 63

Phụ lục 66

Những người cung cấp tư liệu 103

Tài liệu tham khảo 104

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta có 54 dân tộc anh em, ngoài những nét chung về văn hóa, mỗi dân tộc trên lãnh thổ nước ta đều có một sắc thái riêng làm cho văn hóa nước ta đa dạng, thống nhất và giàu bản sắc Điểm tạo sự khác biệt đó chính là phong tục tập quán của mỗi tộc người Các di sản văn hóa thế hệ đi trước để lại, thế hệ sau

có trách nhiệm phải tìm hiểu để từ đó có ý thức tôn trọng, giữ gìn và phát huy nó

Tang lễ chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam nói chung và từng tộc người nói riêng bởi nó gắn liền với đời sống tâm linh, là một hình thức sinh hoạt văn hóa của cả cộng đồng

Trong vòng xoáy phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc hay cộng đồng tộc người đang có sự biến đổi mạnh mẽ do quá trình tiếp xúc

và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Trong quá trình đó đã xảy ra hai trạng thái: một là yếu tố văn hóa “ngoại sinh” lấn át, triệt tiêu văn hóa “nội sinh”; hai là có

sự cộng hưởng lẫn nhau, yếu tố văn hóa “ngoại sinh” dần dần trở thành yếu tố

“nội sinh” hoặc nó bị phai nhạt căn tính Văn hóa Thái nói chung và tang lễ của người Thái trắng nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật của sự biến đổi đó

Tang lễ của dân tộc Thái đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên việc nghiên cứu những đặc trưng ở mỗi vùng miền chưa rõ nét Những đặc trưng dẫn tới sự khác biệt đó cần phải được nghiên cứu và làm sáng tỏ Với kiến thức của một sinh viên khoa văn hóa dân tộc thiểu số, người viết đã chọn đề tài:

“Tang lễ của người Thái với vận động xây dựng đời sống văn hóa mới ở bản Mo,

thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình,

đồng thời góp một phần nhỏ bé vào việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Thái ở Mường Lay, Điện Biên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tang lễ là một đề tài thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực dân tộc học và văn hóa học

Trang 5

Hầu như trên thế giới có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu nghiên cứu về tang lễ của dân tộc đó Tang lễ của người Thái nói chung và của người Thái trắng nói riêng là một trong số những nghiên cứu như vậy Ta có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu của các nhà dân tộc học:

Trước hết, nghiên cứu về tang lễ của người Thái đen và Thái trắng được viết trong cuốn “Luật tục Thái ở Việt Nam”, NXB VHDT, HN,1999, do hai tác giả Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng sưu tầm, dịch và giới thiệu Đây là nguồn tư liệu

được tác giả sưu tầm từ ông Liêm Phích - một giáo viên tiểu học của xã Chiềng Muôn Bài viết đã mô tả lại khá đầy đủ, chi tiết về các bước tiến hành tang lễ và những lời cúng được đọc trong nghi lễ tang của hai nhóm Thái đen và Thái trắng trong xã hội xưa Những nghi lễ này chỉ dành cho trường hợp người qua đời bình thường, chưa thấy nói về các trường hợp chết đặc biệt Bài viết mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tang lễ mà chưa có sự nhận xét, lý giải các lệ tục diễn ra trong lễ tang

Cuốn sách “Tang lễ của người Thái trắng” của tác giả Lương Thị Đại, NXB VHDT, HN đã giới thiệu tang lễ của người Thái trắng rất chi tiết và đầy đủ Tuy nhiên cuốn sách cũng chỉ dừng lại ở việc khảo tả mà chưa có lý giải và nhận xét cụ thể

Cuốn “Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam”, của PGS TS Hoàng Lương, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2005, đã phân chia tục lệ tang lễ của người Thái đen và Thái trắng thuộc tục lệ ma chay ở vùng thấp cùng với các dân tộc khác như Tày, Mường Trong bài viết này tác giả đã khái quát các bước tiến hành tang lễ của người Thái, có sự so sánh với những nghi lễ tang của dân tộc Tày, Mường

Trên đây là một số khảo cứu về lịch sử nghiên cứu tang lễ cuả người Thái Mặc dù sự khảo cứu này chưa thật đầy đủ nhưng qua những tài liệu người viết đã tiếp cận, có thể nói các nghiên cứu này đã khảo tả lại các nghi lễ tang của dân tộc Thái rất đầy đủ, chi tiết, là nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu sau học hỏi

và tham khảo Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa đưa ra những lý giải, nhận xét

Trang 6

cụ thể, và cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu kỹ về tang lễ người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay Theo thời gian, cuộc sống cùng những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái ở bản Mo đã có nhiều thay đổi Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới sự thay đổi này Đây chính

là khoảng trống mà chúng ta cần phải bổ khuyết để làm rõ hơn đặc trưng văn hóa Thái

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Tang lễ là nghi lễ liên quan đến việc mai táng người chết Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, loài người đã có các hình thức mai táng người chết: địa táng (chôn xuống đất), thủy táng (thả xuống sông, biển), hỏa táng (thiêu), lưu táng (cất vào trong hang đá), điểu táng (để ngoài bãi cho quạ, kền kền, diều hâu ăn), thực táng (những người còn sống xẻ thịt người chết để ăn)

Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, tang lễ ngày càng cầu kỳ, phức tạp, mang màu sắc tôn giáo từ hình thức tôn giáo nguyên thủy sơ khai đến những tôn giáo phức tạp nhất Tang lễ của mỗi cộng đồng người đều có sự khác biệt, nó chịu sự quy định bởi quá trình lịch sử của cộng đồng tộc người cũng như môi trường tự nhiên và xã hội mà họ sinh sống

Nghiên cứu tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo giúp ta thấy được quy trình diễn ra của lễ tang, đồng thời qua đó còn thấy được những mối quan hệ trong xã hội Thái - mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và con người với siêu nhiên

Tang lễ của người Thái trắng còn giúp ta tìm hiểu về nguồn gốc hình thành dân tộc Thái trắng trên địa bàn bản Mo nói riêng và ở Việt Nam nói chung bởi vì hồn người chết về đến đâu thì đó chính là khởi thủy hình thành dân tộc đó

Thông qua bài khóa luận này, người viết mong muốn góp phần nhỏ bé bổ sung nguồn tư liệu về tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên Ngoài ra, người viết còn nghiên cứu sự ảnh hưởng của tang lễ với vận động xây dựng đời sống văn hóa mới để thông qua việc nghiên cứu này tìm

ra giải pháp hạn chế tiêu cực, phát huy những nét tích cực trong xây dựng đời

Trang 7

sống văn hóa mới Công trình này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý văn hóa ở địa phương để bảo tồn, phát huy, vận dụng vào xây dựng

đời sống văn hóa mới

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Khóa luận chỉ tìm hiểu về tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên và ảnh hưởng của nó tới việc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp biện chứng tự nhiên, phương pháp biện chứng lịch sử

- Phương pháp điền dã dân tộc học, thu thập tài liệu, khảo sát thực địa tại bản Mo, thị xã Mường Lay, phỏng vấn, trao đổi với một số người cao tuổi tại bản

Chỉ ra những ảnh hưởng của tang lễ với việc xây dựng đời sống văn hóa, những tập tục còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp phát huy những ưu điểm, hạn chế để xóa bỏ dần những điểm không còn phù hợp trong thời đại hiện nay

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, khóa luận được trình bày trong 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên

Chương 2: Tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên

Trang 8

Chương 3: ảnh hưởng của tang lễ trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới tại bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên và một số giải pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của nó trong thời đại hiện nay

Trang 9

Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới Tây Bắc, có toạ độ địa lý từ 20o54’ –

22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ – 103o36’ Kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu mới, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Diện tích tự nhiên Điện Biên là 9.554,097km2, có độ cao trung bình 1000 đến 1500 mét so với mực nước biển

Điện Biên gồm 8 đơn vị hành chính là: Thành phố Điện Biên là trung tâm tỉnh lỵ, huyện Mường Lay (nay là thị xã Mường Lay), huyện Mường Nhé, huyện Mường Chà, huyện Tủa Chùa, huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên và huyện

Điện Biên Đông

Bản Mo, thị xã Mường Lay cách thành phố Điện Biên 100km, địa hình của bản khá bằng phẳng, xen kẽ địa hình bằng phẳng là đồi núi xung quanh Chỗ đất trũng bằng có kênh rạch trồng lúa và nhà ở

Bản Mo nằm ở vùng thung lũng, do cấu tạo địa hình và vị trí địa lý đó tạo

ra cho bản những điều kiện thuận lợi về trồng trọt, cũng như phát triển kinh tế – văn hoá

* Địa hình

Địa hình dốc đều theo hướng đông bắc – tây nam, có độ cao trung bình

1000 đến 1500 mét so với mực nước biển

* Khí hậu

Trang 10

Bản Mo, thị xã Mường Lay mang đặc trưng khí hậu vùng cao Tây Bắc, chia ra làm hai mùa rõ rệt là mùa khô lạnh và mùa nóng ẩm Nhiệt độ trung bình năm 21oC – 23oC, biên độ nhiệt ngày đêm dao động lớn từ 9oC – 12oC Mùa khô

từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, khí hậu hanh khô, rét và mưa ít, lượng mưa ít chiếm khoảng 20% lượng mưa cả năm, độ ẩm trung bình năm từ 80 – 85% số giờ nắng trong năm bình quân 1500 – 1800 giờ Mùa mưa từ tháng 4

đến tháng 11, khí hậu nóng, ẩm với lượng mưa tương đối cao, mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8

* Thủy văn

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, với lượng mưa tương đối cao lượng mưa trung bình từ 1700 – 2500mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và chiếm tới 80% lượng mưa cả năm

1 2 Khái quát môi trường xã hội bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh

Điện Biên

Bản Mo có 112 hộ, 552 khẩu (điều tra năm 2006), thu nhập bình quân đầu người 180 000đ/người/tháng Trưởng bản là ông Lò Văn Vản, 48 tuổi, trình độ văn hóa 7/12

* Cơ sở vật chất, hạ tầng xã hội

- Giao thông: thị xã Mường Lay có quốc lộ 275 đi qua nên giao thông phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đi lại nhưng hệ thống giao thông trong khu dân cư vẫn còn hạn chế

- Giáo dục: công tác giáo dục đào tạo của bản đang từng bước được đẩy mạnh

- Y tế: có trạm y tế bản, đội ngũ y tá ở bản trực tiếp cấp phát thuốc và khám chữa bệnh cho nhân dân

- Văn hóa: trong những năm vừa qua, công tác văn hóa được chỉ đạo tốt, việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tiến hành thường xuyên Phong trào văn hóa văn nghệ phát triển, tham gia tích cực các hoạt động phong trào thể dục, thể thao Phong trào toàn dân xây dựng làng

Trang 11

bản văn hóa, gia đình văn hóa được đẩy mạnh, có nhiều hộ đạt gia đình văn hóa cấp huyện

- An ninh quốc phòng: trong những năm qua an ninh, trật tự, an toàn xã hội của bản được giữ vững Tuy nhiên tình trạng nghiện hút, trộm cắp, buôn bán các chất ma túy còn xảy ra

1 3 Khái quát về người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên

Người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên thuộc ngành Thái trắng, đồng bào có ý thức cộng đồng tộc người ổn định, bền vững, có những đặc trưng cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng khác biệt trong đời sống tinh thần như: trang phục, nhà cửa, phong tục

* Kinh tế truyền thống

Kinh tế truyền thống của người Thái trắng ở bản Mo là nông nghiệp lúa nước Bản có điều kiện địa lí tự nhiên khá thuận lợi: có nhiều suối cung cấp nước cho đồng ruộng, đất đai màu mỡ, nhiều mùn, có độ ẩm cao, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi phát triển trồng trọt, chăn nuôi

Canh tác nương rẫy cũng có vai trò quan trọng trong kinh tế truyền thống của đồng bào Bên cạnh đó họ biết sử dụng triệt để các sản vật trên rừng, dưới sông suối: đánh cá, hái lượm, săn bắt giữ một vị trí quan trọng

Bên cạnh trồng lúa là chính thì chăn nuôi là hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng trong đời sống của bà con Chăn nuôi không những góp phần cải thiện

đời sống của người dân mà còn có một vị trí quan trọng trong tín ngưỡng, thờ cúng Bản Mo có điều kiện môi trường tự nhiên khá thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm, vật nuôi có nhiều loại: gà, vịt, ngỗng, trâu chăn nuôi nhằm mục đích phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn phục vụ cho nghi lễ của gia đình Vì thế, đồng bào chỉ chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình

Nền kinh tế của đồng bào mang đậm chất tự nhiên, tự cung, tự cấp Do phân công lao động theo giới tính, tính chất tự cấp tự túc diễn ra theo từng hộ gia

đình nên nghề thủ công kém phát triển (chỉ tồn tại dưới dạng nghề phụ gia đình)

Trang 12

* Đặc điểm cư trú

Người Thái trắng ở bản Mo có truyền thống định canh, định cư theo bản, làng Trong bản có 112 hộ gia đình với 552 nhân khẩu (số liệu điều tra năm 2006) Các ngôi nhà nằm kề bên nhau cạnh, đồi núi trong thung lũng hay nằm giữa cánh đồng lòng chảo Việc chọn địa điểm như vậy rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, hái lượm, săn bắt các sản vật tự nhiên

Bản có địa giới rõ ràng trong tâm thức của mọi người Mốc địa giới của bản không được ghi chép thành văn mà truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác

Mọi thành viên trong bản có sự ràng buộc với nhau về văn hoá Mỗi bản

đều có một mảnh đất chung, đó là những khu “rừng ma”( đòng pá heo) là khu

rừng già, nhiều cây cổ thụ và dây leo, nơi chôn người chết Ngoài ra bản có rừng

cấm để cúng tế (đông tu xửa) là nơi mà linh hồn bản trú ngụ, nơi những loài ma

qua lại để vòi linh hồn bản cho ăn Tại đây mỗi năm đều làm lễ cúng bản

Bản là một tập hợp các gia đình theo quan hệ láng giềng và tồn tại một số

ít việc cư trú theo quan hệ huyết thống Trưởng bản do dân bầu ra, đóng vai trò quan trọng, người này có uy tín được dân bản tôn trọng, tham gia vào các nghi lễ trong bản

* Tổ chức xã hội

Dưới chế độ cũ, xã hội ở đây có trình độ chậm phát triển, đang ở giai đoạn phong kiến sơ kỳ, mang tính chất cát cứ nặng nề Dưới thời Pháp thuộc, xã hội người Thái ở đây là xã hội thực dân nửa phong kiến Sự phân hóa giai cấp trong xã hội khá rõ nét, có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Giai cấp thống trị bao gồm tầng lớp quý tộc Thái (những người này nắm trong tay bộ máy quản lý, thống trị và bóc lột người lao động) và hệ thống chức dịch (còn gọi là bô lão toàn mường) là công cụ phụ giúp cho tầng lớp quý tộc Giai cấp bị trị là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho bản mường Lớp người này chia làm nhiều loại khác nhau, chịu các mức độ thống trị, bóc lột khác nhau, trong đó có

“côn hướn” (gia nô) là những người không những bị bóc lột thậm tệ về mặt kinh

Trang 13

tế mà về tinh thần cũng bị áp bức, bị tước hết quyền lợi, các nghĩa vụ của một người dân trong bản, trong mường (trong đó có quyền tự do thân thể, không được

tổ chức đám cưới)

Tạo bản đứng đầu bản trông coi mọi việc trong bản, là người có quyền hành cao nhất trong bản, là người nắm vững luật tục, am hiểu phong tục tập quán, quản lý ruộng đất và cư dân trong bản

Với sự phân chia giai cấp, tang lễ cũng phân chia thành nhiều trường hợp

được tổ chức với các quy mô lớn nhỏ khác nhau phụ thuộc vào từng giai cấp

* Văn hóa vật thể

- Nhà ở:

Đồng bào Thái trắng ở bản Mo thường ở nhà sàn cao ráo và thoáng mát

Nhà cửa người Thái trắng loại mái mu rùa có “khau cút” ở 2 đầu hồi có số gian lẻ

(quan niệm số lẻ là số may mắn) Ngôi nhà có 2 cầu thang đặt ở 2 đầu hồi, bên

“quản” dành cho nam giới và khách bên “chan” (sàn phơi) dành cho gia đình và

phụ nữ

Ngôi nhà sàn của đồng bào chia thành 3 tầng: tầng nền đất phần gầm sàn

(lang) xưa là nơi để gia súc để gia súc, gia cầm, nay để củi đóm và dụng cụ Tầng mặt sàn (hạn hươn) là không gian sinh hoạt cho cả gia đình, gian đầu tiên bên

quản là nơi đặt bàn thờ của ông bà tổ tiên, tiếp theo là gian ngủ, theo thứ tự gia

đình gian ngủ của con gái ở ngoài cùng phía chan, các buồng không phân thành buồng riêng, phần mặt sàn đặt bếp để nấu nướng Phần thứ ba là phần gác trên

quá giang (thạn) là nơi để thóc lúa, những vật dự trữ trong nhà, đồ gia dụng

Kỹ thuật làm nhà hoàn toàn bằng thủ công, sau khi dựng xong bộ khung cột với quá giang và gầm sàn mới lắp kèo vào đầu cột để buộc đòn tay làm mái Nguyên liệu để xây dựng ngôi nhà được khai thác tại chỗ là nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên: gỗ, tre nứa, lợp cỏ gianh (nay nhiều nhà lợp ngói) Khi làm nhà, việc đầu tiên mà đồng bào làm là đi xem tuổi của chủ nhà, chọn hướng, chọn

điểm cũng quan trọng, hướng nhà tốt phải nhìn xa được

- Trang phục:

Trang 14

Nam giới: gồm một áo cánh hơi rộng bằng vải nhuộm chàm cổ đứng, xẻ ngực, có hai túi phía vạt trước, có khi có túi con ở phía ngực trái cúc cài bằng vải gút nút, áo ngắn loại này hầu như không có trang trí hoa văn

Vào những dịp cưới xin, hội hè, lễ tết nam giới còn mặc thêm chiếc áo dài may bằng vải chàm, kiểu áo năm thân, cổ đứng tròn, xẻ tà hai bên hông, cài cúc phía ngực phải

Quần cạp to bản rộng, dây thắt lưng nhuộm chàm hoặc đen, loại quần chắp ống, may kiểu “chân què” Tóc thường cắt ngắn theo phương Tây, đầu quấn khăn

to màu chàm hoặc đen thường chít theo kiểu chữ nhân

Phụ nữ: ngày thường mặc áo ngắn bó sát người (xửa cỏm), loại áo xửa cỏm

may vừa khít thân, rất ngắn, gấu áo vừa chấm cạp váy, tôn thêm những đường nét

đẹp của phụ nữ Bởi thế, loại áo của phụ nữ rất khó cắt may, sao cho áo vừa bó sát người vừa làm cho người mặc cử động thoải mái Xửa cỏm được may bằng vải trắng, cổ áo có táp một miếng vải mầu đen hoặc xanh chạy từ cổ xuống ngực (cổ nằm) Trước ngực là từng đôi cúc chạm trổ hình con bướm bay, bọ dừa Chính hàng khuy bằng bạc hay kim loại này đã làm cho xửa cỏm thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái Theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo xửa cỏm là tượng trưng cho sự kết hợp “nam” với “nữ”, “đực” với

“cái”, tạo nên sự trường tồn của nòi giống Hàng cúc áo bên trái (bên nam) được

gọi là “tôpo” (con đực), hàng cúc bên phải (bên nữ) được gọi là “tô me” (con

cái)

Váy (xỉn) cùng với xửa cỏm tạo nên dáng nét chính của bộ nữ phục Thái,

váy màu đen hoặc màu chàm, thuộc loại váy ống (đã khâu thành hình ống), trên cạp váy có may một lớp vải các mầu xung quanh, gấu váy được ốp một miếng vải hoa hoặc các mầu xung quanh Khi mặc, váy quấn chặt lấy thắt lưng, xếp phần thừa của váy sang bên lườn, khi thắt váy thì họ dùng thắt lưng thắt trên lớp vải các mầu đó, hai đầu của thắt lưng đưa sang bên lườn cùng chiều với phần thừa của váy

Trang 15

Thắt lưng (xài ẻo) dệt bằng sợi tơ tằm, hay sợi bông mầu xanh hay tím

sẫm, hai đầu có nối bằng vải các mầu hoặc vải hoa Thắt lưng có tác dụng giữ cho cạp váy quấn chặt lấy eo bụng Người từ 40 tuổi thường ưa thắt lưng mầu tím, còn các cô gái trẻ thì chọn thắt lưng mầu xanh, ngoài ra họ còn có tấm vải

choàng ra ngoài thắt lưng (xửa bưởng), ghép bằng nhiều mảnh vải mầu sặc sỡ

khác nhau Đây là phần phụ của nữ phục, hoàn toàn mang tính chất trang trí cho

đẹp

Phụ nữ có chồng thường vấn tóc trần xung quanh đầu cho nên ta dễ dàng nhận ra và phân biệt được người phụ nữ đã có chồng và những người chưa có chồng Những ngày lễ hội, họ mặc áo dài lướt thướt (áo 5 thân) màu nhạt hay

đen, áo không có cúc và quấn chỉ đỏ nơi cổ áo bằng lụa hay sợi thâm, cổ áo đằng sau cao chạy thoải dần về trước, nằm theo cổ điểm thêm giữa áo một dải chạy dài xuống chân áo Dưới nách cuả hai ống tay áo có điểm hình tam giác áp vải và ở trước ngực là hai hình tam giác vuông góc Những vật trang trí đó được thêu rất

kỳ công, tỉ mỉ, chỉ đỏ và xanh luồn qua chỉ vàng và bạc, bên trong gồm những vải thêu nhiều mầu, thêu hình bàn cờ xanh trắng đỏ Có những áo thêu hình các hoa văn dân tộc như: hình trám, hình đường riềm và các hình hoa lá sặc sỡ bằng chỉ tơ tằm các mầu trông rất đẹp Ngoài ra chị em còn đeo hoa tai bằng vàng hoặc bạc và đeo vòng tay chủ yếu là bạc Họ đội nón rất rộng như hình cái nấm, mầu vàng đất

Trang 16

Người Thái rất thích ăn cá, từ cá họ có thể chế biến ra nhiều món, ngoài ra còn có gà nấu gừng để tiếp khách, vịt dùng cúng tế, nậm pịa là 3 món đặc trưng của người Thái

- Phương tiện vận chuyển: đồng bào đi bộ, gánh, vác là chính, ngoài ra còn vận chuyển bằng cách sử dụng sức kéo của động vật: trâu, bò

* Văn hóa phi vật thể:

- Tiếng nói và chữ viết:

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, khá phong phú, ít vay mượn Chữ viết có từ lâu đời, song ngày càng ít người biết đọc, biết viết

Bản Mo có 4 người biết sử dụng chữ Thái là: Điêu Chính Chinh, Thùng Văn Siêng, Lò Văn Sấn và Điêu Thị Kháng (ông Điêu Chính Chinh có sách đã được cải cách năm 1960)

Một số tác phẩm văn học dân gian của đồng bào ở bản Mo:

+ ý nọi nang sơ (Em bé nàng hổ)

+ Trạng Nguyên

+ Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu)

+ Truyện cười Po bả cú (Bố anh Cu): nội dung kể về bố dốt nát, con thông minh

+ Song po lu pay cạ (Hai bố con đi buụn): nội dung kể về 2 bố con nhà nọ

đi buụn, gặp hai mẹ con người đàn bà gúa và họ nờn vợ chồng

- Âm nhạc và trò chơi dân gian

Âm nhạc truyền thống của đồng bào ở bản Mo cũn bảo lưu: tạp cỳng xố (đỏnh trống xũe), khắp sai pỏnh, xao xờn; nhạc cụ truyền thống: đàn tớnh, xi xo lo

Trang 17

(nhị), pớ pặp ụng; pớ lin bụ, mỏ hớnh (quả nhạc), hun tong (đàn mụi); mỳa dõn gian: xộ cỳp (mỳa nún), xộ khăn (mỳa khăn), xộ vi (mỳa quạt), xộ soỏng, xộ mak hớnh…

Trò chơi dân gian truyền thống: tẻm chi tẻm chăn, đỉn xắc dén (đồng dao), đẩy gậy, tó mak sáng, tó mak lẹ, ném còn

- Tín ngưỡng dân gian

Đồng bào quan niệm vạn vật hữu linh, do đó họ thực hiện nhiều nghi lễ để cầu mong sự phù hộ của các đấng sinh linh cho mùa màng tươi tốt, người an, vật thịnh Các hoạt động cúng tế, cầu mong đó đã sinh ra các nghi thức, nghi lễ, tín ngưỡng dân gian

Về tôn giáo của đồng bào: Chưa có tông giáo mà có tín ngưỡng nguyên thủy Các tôn giáo lớn khi du nhập vào đây thường bị lu mờ

- Lễ hội truyền thống: Với loại hình kinh tế nông nghiệp trồng trọt mà phương thức canh tác ruộng nước là chủ đạo nên hầu hết các nghi thức, nghi lễ và nội dung lễ hội ở bản Mo đều mang ý nghĩa cầu mùa: Kin chiêng (tết nguyên

đán), tết Bươn chiêng xíp hả (rằm tháng giêng), tết Then kin phang, lễ Chế chẩu mương, Chẩu phai (phi bản, phi mường), lễ Pản nâm sâu na (dẫn thủy nhập điền),

Au khoái lùng tùng (lấy trâu ra đồng)

1 4 ảnh hưởng của môi trường tới đời sống văn hoá của người Thái ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên

* Thuận lợi:

Nhìn chung điều kiện tự nhiên của bản thuận lợi phát triển một nền nông nghiệp bền vững, khí hậu thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây, nguồn tài nguyên đất khá dồi dào và chất đất khá tốt

Nhân dân trong bản có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tuy còn nhiều khó khăn song được sự quan tâm của ủy ban nhân dân thị xã, nền kinh tế của bản đã được cải thiện Vấn

đề y tế, giáo dục ngày càng được quan tâm hơn, công tác an ninh quốc phòng

Trang 18

được chú trọng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Bản có nguồn nhân lực dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất

Với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội như vậy, bản Mo hầu như vẫn bảo lưu được những nét văn hóa đặc trưng về kinh tế truyền thống, các tri thức dân gian trong trồng trọt, chăn nuôi Khu vực cư trú của người Thái ở bản

Mo từ khi thành lập bản vẫn được giữ hầu như nguyên vẹn Tổ chức xã hội đã tiến bộ hơn rất nhiều trong thời đại hiện nay, cơ cấu lãnh đạo của bản được thực hiện theo chính sách mới của Nhà nước, không còn phân hóa giai cấp, mọi người dân trong bản đều bình đẳng, đội ngũ cán bộ bản làm việc dưới sự giám sát của

ủy ban nhân dân thị xã Văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn được đồng bào duy trì, nhưng đã có một số biến đổi phù hợp hơn với thời đại hiện nay, nhiều yếu tố không phù hợp đã mất đi, thay vào đó là những yếu tố mới phù hợp hơn xen lẫn với truyền thống làm cho các hoạt động văn hóa của đồng bào trở nên văn minh hơn nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

* Hạn chế

Bản có cơ sở hạ tầng thiếu thốn, chưa đồng bộ, điểm xuất phát thấp, nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông, tự cung tự cấp, trình độ dân trí còn hạn chế Do thiếu vốn, thiếu hiểu biết về kinh tế, xã hội nên việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm Hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư thỏa đáng nên việc tưới tiêu phụ thuộc vào nước mưa và dòng chảy tự nhiên

Do sự du nhập của nhiều luồng văn hóa nên đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người dân có nhiều biến đổi Sự ảnh hưởng của văn hóa từ bên ngoài được thể hiện rõ nét thông qua nhiều mặt: kiến trúc, trang phục, ẩm thực, tiếng nói, chữ viết Nhà của đồng bào ít còn giữ được kiến trúc truyền thống

mà bị ảnh hưởng nhiều của kiến trúc nhà người Kinh, nhiều ngôi nhà được xây cầu thang bằng xi măng, có những ngôi nhà được xây dựng như nhà người Kinh

Đồng bào cũng không còn mặc bộ trang phục truyền thống trong sinh hoạt hằng ngày mà kết hợp giữa các trang phục hiện đại với trang phục truyền thống để thoải mái trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt Thanh niên nam nữ ngày

Trang 19

nay ăn mặc theo kiểu phương Tây, không còn mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình nữa Các bộ trang phục truyền thống chỉ được đồng bào mặc đúng kiểu trong các ngày lễ hội Bên cạnh tiếng Thái, nhiều gia đình đã dùng tiếng Kinh làm ngôn ngữ giao tiếp chính trong nhà và trong giao lưu buôn bán bởi đây

là ngôn ngữ phổ thông thuận lợi giao lưu với các dân tộc trong vùng Qua thời gian, chữ viết dần mai một, bản Mo chỉ còn 4 người biết sử dụng chữ Thái Đội ngũ cán bộ bản được nhân dân tín nhiệm bầu ra nên chủ yếu chưa qua đào tạo, năng lực và trình độ quản lý còn nhiều hạn chế Do cuộc sống còn vất vả, thiếu thốn nên mức hưởng thụ văn hóa chưa cao

Trang 20

Chương 2

Tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị x∙

Mường Lay, tỉnh Điện Biên

2 1 Quan niệm của người Thái về thế giới bên kia của người chết

Trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo, đồng bào không chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo mà sinh hoạt tâm linh của họ chủ yếu là tín ngưỡng nguyên thủy, thờ thần sông, thần núi, thờ cúng vật tổ Họ tin và thờ một lực lượng siêu

nhiên là “phi” (ma), bao gồm các loại ma:

“Phi khuôn” tức là linh hồn con người có “xam xíp khuồn mang nả, hả xíp

khuồn mang lằng” (30 hồn ở phía trước và 50 hồn ở phía sau) nằm trên từng bộ

phận cơ thể trong đó hồn chủ là hồn ngụ ở chỏm tóc hay đỉnh đầu (chòm khuôn)

“Phi một” là một lực lượng siêu nhiên bảo vệ cho sự tồn tại của linh hồn trong mỗi cá thể con người và tự nhiên “Phi một” sẽ nhập thân (tư mau) vào một người nam hoặc nữ trưởng thành (một lao), biết phù phép ma thuật để đuổi bắt

giết loài ma làm hại linh hồn Đây thuộc dạng ma thuật chữa bệnh, làm cho linh

hồn khỏe khoắn Người làm “một” còn có một lực lượng siêu nhiên khác giúp sức

mạnh “nhập thân” và giao tiếp với thần linh, do vậy quan niệm này nhuốm màu Saman giáo

Bản và Mường trong lực lượng siêu nhiên trở thành “phi bản”, “phi

mường” Đó là linh hồn chủ chính của bản mường được cộng đồng lấy áo để đặt

mâm cúng Người được lựa chọn phải là người thuộc dòng dõi người đầu tiên

đứng đầu việc gây dựng nên bản, mường gọi là “chảu sửa” (chủ áo) Trong “phi

bản”, “phi mường”, bên cạnh “chảu sửa”, cai quản linh hồn trong bản, mường

còn có “chảu nặm” (chủ nước), “chảu đin” (chủ đất) chuyên cai quản những thần

linh của sông suối, núi khe cũng giống như quan niệm của người Kinh “đất có thổ công, sông có hà bá”

Trang 21

“Phi” còn là các đấng sáng tạo được gọi là Mường Then (mường trời), có

11 vị đứng đầu chuyên giữ chức năng về một đường sáng tạo ra cuộc sống con

người ở nơi trần gian Trong đó “Then Luông” nắm quyền cao nhất, tạo ra sự giàu

sang phú quý

Như vậy “Mường Phi” là thế giới tâm linh, thế giới riêng đối lập hẳn với

thế giới sự sống của con người Hai thế giới: một bên là mường ma – bản âm hay mặt tối, một bên là người mường – bản dương hay mặt sáng của sự sống con người, được liên hệ với nhau bởi một lực lượng siêu hình là linh hồn của mỗi cá thể con người và thế giới tự nhiên Với quan niệm như vậy người Thái cho rằng

có sự sống là do có linh hồn tồn tại trên thể xác Thể xác là cái con người, còn

linh hồn là cái bóng (khuồn ngau) cư trú trên chỏm đầu Khi linh hồn tách khỏi

thể xác, con người sẽ chết, các linh hồn sẽ rời khỏi thân xác và tan biến vào mương ma – mương của những linh hồn để hình thành các loại ma và sẽ được cư trú trên những mường ma khác nhau tùy theo những hình thức chết khác nhau

Lơ lửng ở không trung

Mường khlốc Mường khlai

Trang 22

5 Chết khi mới lọt

lòng mẹ cho đến

13 tuổi

Phi póp (khi hóa kiếp lên trời gọi là Phi cướt)

Mường phi cướt

bò, lợn, gà hiến sinh

Với những hình thức chết khác nhau như vậy, tang lễ của người Thái trắng

có nhiều nghi thức, nghi lễ khác nhau để tiễn đưa hồn người chết về với mương

ma Tuy nhiên, do chưa có điều kiện tìm hiểu toàn diện và sâu sắc nên người viết lấy tang lễ của hình thức chết bình thường của người già làm đối tượng nghiên cứu chính

2 2 Tang lễ của người Thái trắng ở bản Mo, thị xã Mường Lay, tỉnh

Điện Biên

2 2 1 Chuẩn bị cho người tắt thở (ngày đầu)

* Túc trực trước khi hấp hối

Trong nhà khi có người hấp hối, anh em ruột luôn túc trực bên cạnh, bóp

chân, bóp tay theo dõi từng nhịp thở của người đang hấp hối (dóm châư) Cũng

có nơi, khi có người đang hấp hối thì lấy sáp ong làm một cây nến nhỏ bằng đầu

đũa thắp sáng, người ngồi bên cạnh cầm ngọn nến cho sát mũi người đang hấp hối, con cháu ngồi xung quanh theo dõi ngọn nến và nắn bóp chân tay cho người

đang hấp hối Nếu người đó còn sống thì hơi thở dù yếu ớt nhưng vẫn đủ làm ngọn nến đung đưa Nếu tắt thở thì ngọn nến không còn đung đưa nữa Ngọn nến

đó gọi là “tiến dóm châư” (ngọn nến theo dõi nhịp thở)

Khi người đó đã tắt thở, con cháu gọi vào tai (gọi hồn trở về): Hú vía cha

(mẹ) hãy quay về đi!, cứ gọi ba lần như vậy không thấy hồi lại mới thôi Cách gọi

Trang 23

như vậy gọi là “khék khuân” (gọi hồn) Lúc này người nhà lấy lá bưởi đun một

nồi nước sôi để sẵn

* Khi tắt thở

Lấy khăn mặt của người quá cố nhúng vào nước lá bưởi còn ấm (nếu nguội thì đun lại) rồi lau chùi thân thể, đầu tóc cho người quá cố thật sạch sẽ và lấy lược chải đầu Vừa lau rửa, vừa chải đầu vừa nói:

Rửa sạch bụi đời về với tổ tiên Tắm rửa cho sạch

Tắm sạch đi theo ma Chải tóc mượt đi với tổ tiên dòng họ

Mặc quần (váy), áo cho người quá cố Người quá cố là nam thì mặc hai quần, ba áo (bao giờ cũng là số lẻ), áo không cài cúc mà chỉ kéo hai vạt áo khép vào nhau Người quá cố là nữ thì mặc hai áo (không cài cúc, lấy chỉ trắng buộc hờ), ba váy, sau cùng là mặc áo dài đen ra ngoài

* Đoi (liệm)

Chuẩn bị “phải đoi” (vải liệm) gồm sáu sải vải trắng người Thái tự dệt, cắt

thành bốn mảnh khâu nối vào nhau Cách liệm như sau:

“Phải đoi”trải xuống trước Gấp hai mảnh gối gọi là “mon kíp”, xé lấy một

mảnh kê đầu cho người quá cố, còn lại một mảnh kê đầu cho chồng hoặc vợ khi mất Bẻ đôi lược, gương mỗi người một mảnh để khi lên mường trời đọ gối, đọ gương, đọ lược nhận được vợ chồng Trải bốn sải vải của con gái trùng lên vải con dâu Đặt người quá cố lên những tấm vải liệm (đầu đặt vào gối)

Nếu người chết là nam thì đội mũ hoặc cuốn khăn đen, đặt khăn thêu vào tay trái, đặt quạt vào tay phải Nếu người chết là nữ thì lấy khăn vuông đen đội lên đầu, hai đầu khăn vòng xuống buộc dưới cằm, đặt khăn thêu vào tay trái, đặt quạt vào tay phải Lấy một vuông vải trắng của người Thái gấp lại như hình tam giác rồi xỏ vào chân cho người quá cố (tất trắng):

Tay trái cầm khăn hồng Tay phải cầm quạt hoa

Trang 24

Hai chân đi tất trắng

Con cháu mỗi người cho một ít tiền vào túi áo hoặc tay người quá cố Đó

là tiền con cháu cho đi ăn đường, mong người quá cố hãy phù hộ cho con cháu mạnh khỏe, làm ăn phát đạt Những gia đình giàu có thì cho hai đồng bạc trắng

kê hai bả vai, hai đồng bạc trắng kê hai bên mông, hai đồng bạc trắng kê hai khoẻo chân, một đồng bạc trắng kê dưới cằm (kê cằm lên mới nói với người khác

được), đối với người nghèo không có cũng không sao

Lấy vải của con cháu ruột phủ tiếp lên người quá cố, sau cùng lấy vải liệm cuốn thi thể người quá cố thật chặt Trải chiếu trên giường người quá cố, lấy đệm

đặt lên trên rồi đặt thi hài xuống đệm, đắp chăn lên, lấy vuông vải trắng che phủ lên mặt Sau khi liệm xong mắc màn trùm lên

Khi làm xong thủ tục “đoi” (liệm), người ta đặt luôn một cái bàn nhỏ phía

chân người quá cố, lấy hai bát hương (một bát đặt lên trên bàn), bên cạnh bát

hương đặt một mâm nhỏ gọi là “mâm khó” (là mâm con đan bằng tre, trong mâm

có một bát cơm, bát cơm có một quả trứng gà luộc đặt ở trên và một đôi đũa cắm xuống theo hình bắt chéo, một sợi dây vải trắng buộc ở chỗ chéo của đôi đũa,

một cái “ta leo” chụp xuống) Mâm này để nguyên, không được thay đổi Khi mở

tang, mổ trâu thì lấy vài miếng thịt trâu chín cho vào một cái đĩa đặt lên mâm (mâm này không còn gì phải thêm nữa) Cứ để nguyên như vậy, khi đến ngày chôn cất, con trai cả mang theo mâm đến nhà mồ và buộc lên ngọn cây “cao”

* Báo trời đất

Con trai cả cầm ba nén hương, một con dao đi ra ngoài sân, thắp hương cắm xuống đất, đứng lên, chắp hai tay, mặt ngẩng lên trời báo rằng:

Hỡi chủ trời ơi!

Bố (mẹ) tôi là quan (nàng) (nói tên người chết)

Ngã xuống bỏ mất tên

Chết đi xóa mất chữ ghi trong sổ rồi!

Trang 25

Con cháu, nhà cửa xót thương than khóc! Hỡi thần khe, thần suối, cùng rừng sâu núi thẳm, trời then hiểu cho nỗi khổ này! Đừng giật mình trách móc

* Báo tổ tiên

Báo trời đất xong, con trai quay mặt vào nhà, cầm dao chém vào vách, nơi

để “cọ lọ hóng” (gian bàn thờ) ba nhát, vừa chém vừa nói:

Đẳm ở nhà đừng đi

Ma ở nhà hãy mau cút xéo

Sau đó đứng cạnh người quá cố thắp hương vào hai bát hương trên rồi

khóc: “Bố (mẹ) ơi hãy tỉnh lại đi” Cứ gọi thế ba lần, trước cảnh đau buồn ấy ai

cũng khóc nhưng chưa được khóc to vì chưa mở tang

Ngày mở tang, chôn cất, nhất thiết không được trùng vào những ngày:

- Ngày “vến tống” (ngày thờ cúng tổ tiên)

- Ngày “vến ók” (ngày sinh của những người trong gia đình)

- Ngày làm nhà mới của gia đình Khi đã quyết định ngày mở tang, ngày chôn cất rồi thì cử con rể hoặc cháu rể đi báo họ hàng gần xa và nói rõ ngày mở tang, ngày chôn cất

2.2.2 Nhập quan tài (ngày thứ hai)

Trang 26

cháu mỗi người một sải vải thô, màu trắng đắp từ cổ xuống chân, quần áo người quá cố có bao nhiêu cho hết vào hai bên cạnh thi hài và nêm thật chặt

Khi đóng nắp quan tài, lấy gỗ to đập mạnh để vía người còn sống sợ chạy

ra hết Sau đó mổ lợn cúng (lợn nhập quan), người thực hiện lễ là con cả hoặc trưởng họ Lợn cúng phải bỏ lòng, để nguyên con cho vào nồi luộc chín

Cách sắp mâm cúng như sau: lấy lá chuối tươi lót mâm, con lợn đặt úp xuống mâm, hai bát cơm đặt hai bên con lợn, một bát canh đặt vào mâm, năm đôi

đũa đặt phía trên mâm, năm chén rượu đặt cạnh năm đôi đũa, ba chén nước đặt tiếp (thành hai hàng) phía đầu mâm Mâm cũng đặt phía dưới chân quan tài

Bài lễ khấn: Con cháu trong nhà có rượu, có lợn đến cúng viếng: ôm ông

(bà) vào nằm, bế ông (bà) vào quan, xin ông (bà) phù hộ độ trì, cho con cháu sinh sôi nảy nở, cho khỏe mạnh mãi mãi đến già, cuộc sống bình yên, làm ăn phát đạt

Cả nhà lạy ba lạy, sau đó phá liếp nhà (có ý chia nhà cho người quá cố, mặt khác cũng để cho nhà rộng rãi, thoáng, không bị vướng) Cách phá liếp nhà như sau:

Bố chết thì quan tài đặt bên gian hóng, cạnh gian bàn thờ (cọ lọ hóng) và

phá hai gian liếp nhà phía dưới đối diện với nơi đặt quan tài

Mẹ hoặc con cháu trong gia đình chết thì liệm và làm tang phía hẩư và lấy

ri đô che kín gian bàn thờ tổ tiên (cọ lọ hóng)

* Thủ tục phát tang và nhận tang

Con dâu, con gái lấy “phải cọn” (súc vải trắng) ra và lạy nhờ các bà tổ

chuyên cắt áo tang, khăn tang Con dâu, con gái lại đến nhờ tổ chuyên may các

đồ tang lễ

Tang phục như sau: đẳm và lúng ta bên mẹ có một khăn; nếu vợ chết chồng và con trai buộc một sải khăn ngược về phía sau, một áo, một quần dài; con gái buộc khăn, mặc áo dài; nếu chồng chết thì người vợ phải xõa tóc, buộc vải trắng phía sau, tang phục có một khăn, một áo dài, một váy Tang phục của con dâu gồm: một khăn, một áo dài (cổ và tay viền đen) Tang phục của con rể

Trang 27

gồm một khăn, một áo, một miếng vải trắng buộc vào vỏ dao ở lưng Cháu nội, cháu ngoại mỗi người một chiếc khăn tang đội đầu

* Cúng “khẩn chóng” (đặt quan tài lên giường ma)

Khi có người chết, con cháu trong họ đầu cuốn khăn trắng vào rừng lấy cây tre xanh về đan một cái phên dài 1,5 mét, rộng 1 mét như giát giường và lẫy

gỗ làm bốn chân, mỗi chân cao 30cm, cho thang vào, đặt tấm gỗ phên lên gọi là

“chóng páy” (giường ma)

Đúng giờ tốt, đặt giường ma vào vị trí để quan tài rồi đặt quan tài lên trên Sau đó mổ lợn cúng và sắp mâm lễ chư khi nhập quan và khấn:

Gia đình, con cháu, anh em trong họ có rượu, có lợn, dâng lễ cho ông (bà) Nâng ông (bà) lên nằm giường thiêng: mời ông (bà) ăn, ăn xong hãy phù hộ cho con cháu, người ở lại cho lành, ông (bà) ra đi cho tốt

Rồi con cháu cả nhà lạy xuống ba lần

Khi gia đình có người chết, “đẳm hua đón” (họ cuốn khăn trắng) cử người

vào rừng lấy cây tươi về làm một cái thang và bắc thang ngay trước cửa, chỗ gần

đối diện với quan tài để lên xuống Thang này gọi là thang ma, làm bậc thang ma phải làm đôi Thang này cứ để cho đến khi chôn cất xong, mọi người về nhà hết mới phá

cờ Đẳm phi (người cùng dòng họ) làm “hướn dố hướn xe” Con rể là người mổ

lợn, gà, lấy củi, lấy lá, dọn cơm cho những người trong đám tang ăn

* Trách nhiệm đóng góp cho lễ tang

Thường trong gia đình có người già thì đã chuẩn bị sẵn một đến hai con trâu, nếu không có thì các con trai phải góp nhau mua bằng được một con trâu để

mổ ngày “bók ngái luông”

Trang 28

Trong “đẳm hua đón” (họ cuốn khăn trắng): mỗi gia đình góp bốn sải vải

trắng, một con lợn, gạo, rượu

Con trai cả trong nhà: góp một con lợn nhập quan, một con lợn to mổ ngày

cuối cùng trước khi đưa đám để “bók ngái khai khin”, một con cúng “âu phi khẩn

hướn” gọi hồn ma về nhập bàn thờ tổ tiên

Con trai ngoài nhà: mỗi gia đình phải có một con lợn, vải đủ mặc cho cả gia đình, thóc một bao, rượu tùy khả năng nhiều hay ít (cho bản mường đến giúp

Mỗi con cháu đưa đến một con gà, một bát gạo, một chai rượu, một ít tiền

và hai sải vải trắng (để cắt cho họ làm khăn tang một sải, còn lại một sải để lại cho chủ nhà)

Mỗi khi có người đến giúp, đến viếng thì trưởng họ phải đáp lễ cảm ơn và con cháu ngồi cạnh quan tài cúi đầu lạy

* Cách làm một số đồ vật trong đám tang

Cúp luông: còn gọi là “cúp hum bản hum mướng” (ô che bản, che mường)

được buộc trên ngọn cây “cao” Cách làm cúp luông như sau: lấy cây tre tươi chẻ

ra đan tròn như hình cái mẹt, ở giữa tâm thành chỏm cao hơn một chút, đan xong lấy vải các màu bọc phía ngoài Chỏm cao cúp to màu trắng, phần giữa cúp to màu đỏ, viền quanh cúp to màu đen Tua rua dài 2 mét, rộng 30cm đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng (trừ màu trắng) Chu vi vòng tròn “cúp to” là 4 mét

Cúp nọi: còn gọi là “cúp sản che đầu” để nơi mộ, che cho mâm lễ cúng

mộ, hình dạng giống hệt “cúp to” nhưng chỉ bằng 1/3 “cúp to”

Cờ nàng han: to 1 mét, cắt các vải màu xanh, đỏ, vàng, đen khâu lại với nhau như hình tam giác cân, tua rua có màu đỏ

Trang 29

Cờ nhỏ: dài 0,80 mét, rộng 0,40 mét, ở giữa lá cờ cắt thủng theo hình hoa các loại Cờ làm đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng (trừ màu trắng) để cắm xung quanh mộ gọi là vườn hoa ma, số lượng cờ tùy theo khả năng nhưng phải mang

số lẻ (kiêng số chẵn)

Hướn dố hướn xe: đan một cái lồng như một cái võng to, lấy một mảnh vải

đỏ, xung quanh viền màu đen rồi đính tua rua xanh, đỏ, tím, vàng sau đó khâu phủ miếng vải lên cái lồng rồi úp lên quan tài khi quan tài còn để ở nhà

Cây cao: có cao con gái và cao con trai

- Cao con gái: cao khoảng 5 mét trở lên

˚ Lá cao con gái mang số chẵn chỉ dùng hai màu trắng và đỏ Màu trắng gồm 20 sải vải, chia làm 5 lá, mỗi lá 4 sải Màu đỏ gồm 20 sải vải, chia ra làm 5 lá, mỗi lá 4 sải

˚ Hàng áo ma: lấy vải xanh, đỏ cắt hình áo rồi xỏ vào que (que dài 3 mét), vải xanh và đỏ xen kẽ mỗi bên ba cái buộc vào cây cao (quay ngực áo vào phía trong rừng)

˚ Hàng khăn piêu: buộc mỗi bên ba cái khăn vào que (que dài 3 mét) rồi buộc lên cây cao

˚ Que xỏ dài 3 mét một bên xỏ áo của người quá cố, ngực áo quay vào trong rừng, một bên là áo của tất cả mọi người trong gia đình, mỗi người một chiếc quay ngực về hướng nhà (hướng bản)

˚ Cao con gái còn buộc “xạ khó” (mâm cơm buồn), hoa chuối rừng đang

nở làm hai bẹ (làm bằng gỗ), chim kiêng (làm bằng gỗ), cúp to che kín cả cây cao

- Cao con trai: phần trên giống cao con gái, riêng số lá cao là số lẻ và khác hẳn với lá cao con gái

˚ Chiều dài của que xỏ: cao đầu tiên dài khoảng 3 mét rồi ngắn dần giống như hình thang cân, chỉ được dùng hai màu trắng và đỏ Một khổ vải xé làm hai lá, một bên cắt hình làn sóng, một bên khâu thành đường ống để xỏ que cao, sau

đó buộc que có lá cao vào cây cao thật chắc

Trang 30

˚ Cao con trai nhỏ vụn vì theo người Thái trắng con trai không biết dệt vải, phải xin vải của con gái nên được ít và chỉ được những mảnh vụn vậy thôi

2.2.3 Nghi thức mở tang (ngày thứ ba)

Con trai cả lấy một chậu nước té vào quan tài và nói:

Hỡi ông bà tổ tiên ơi!

Cha tôi chết mất rồi!

Cha ơi! Dậy đi, lên với tổ tiên cha nhé!

Con trai khóc to ngã xuống trước quan tài, tất cả con cháu khóc to theo

Đây là nghi thức mở tang

* Vị trí ngồi của từng đối tượng

- Con trai, cháu trai (nội) cuốn khăn trắng ngồi cạnh quan tài phía “hóng”

- Con gái, cháu gái, vợ, chị em ruột ngồi cạnh quan tài phía “chán”

- Con dâu, cháu dâu, con rể, cháu rể ngồi đối diện linh cữu về phía thang

ma

- Những gian còn lại là anh em trong bản, trong mường đến giúp lễ tang ngồi

* Lễ “bók ngái nọi”

Kể từ khi người quá cố tắt thở, cứ mỗi ngày hai lần đến bữa phải thắp hương cúng gọi là dùng bữa, gia đình ăn gì là đưa thứ đó đến mời cùng ăn, chưa

được ồn ào, mổ lợn, mổ gà; mở tang xong mới được mổ gà, mổ lợn và làm đúng

thủ tục tang lễ Mỗi ngày hai lần (trưa và chiều) làm lễ “bók ngái nọi”

Vật cúng lễ: thịt lợn hoặc thịt gà nướng (có thể luộc) đặt vào đĩa, ngoài ra còn có một bát xôi, một chén rượu, một chiếc đũa cho vào mâm rồi đặt mâm lễ này dưới chân quan tài

Trang 31

Con trai trong nhà ngồi cạnh mo và nhắc lại những lời mo xướng Các con

trai hoặc cháu trai trong “đẳm” cầm kiếm, đặt mũi kiếm xuống sàn nhà và ngửa

mũi kiếm vào mâm cơm, quỳ xuống vây quanh mâm cơm cho đến khi xong lễ Gác như vậy nhằm không cho ma khác vào quấy rối và ăn mâm cơm, không cho hồn người sống vào ăn theo

Sắp vào làm lễ “bók ngái nọi” thì con dâu cũng đặt chõ xôi lên bếp (bếp

bên hẩư) Các con dâu đứng xếp hàng theo thứ tự con dâu cả, con dâu thứ tay

cầm gậy bằng tre chống xuống sàn nhà gọi là “chấu hay khẩu” Khi xôi chín,

con dâu cả đổ ta một cái mâm rồi dùng một vuông vải trắng (vuông vải này phải giữ cho đến khi xong tang lễ và ai giữ được mang về nhà mình thì người quá cố

sẽ phù hộ, chăn nuôi phát triển, gia súc đầy sân như vì sao) nắm lấy một nắm to

rồi bỏ vào bàn làm lễ “bók ngái”cho người quá cố (bók ngái chấu)

Kể từ ngày mở tang cho đến ngày kết thúc, mỗi ngày hai lần (bữa trưa và chiều) đều phải cúng và lặp lại thủ tục trên

• Lời khấn trong lễ “bók ngái nọi”

Xướng cúng cơm nhỏ

Hỡi quan (đọc tên người chết) ơi!

Dậy rửa mặt dùng bữa Gốc mày ở mường bẩu

Rễ mày ở mường thiên

ở mường thiên nơi nhà bà bẩu

ở mường trời mường may xa lắc

Bà nàng bẩu Chủ nàng phán Phán cho ông xuống mường trần nơi bằng

ở mường bằng chuông cang nơi rộng

Ông mới xuống ăn măng cùng hoẵng

Ông mới có tên trong bản

Trang 32

Mới có tiếng trong mường Anh em được hỏi thăm Nội ngoại được nhắc đến

Ông được sống ăn cơm nhiều mùa Thọ ăn cá nhiều sông nhiều suối

Được ăn quả mường người nhiều miếng Khi then hỏi, tại ông ngu không biết trả lời

Đáp lời then toàn câu không lành Trả lời then toàn câu không tốt Nên tuổi thọ ông chỉ được từng này Con tim ông ngừng đập

Nhịp thở ông đã tắt Như sợi chỉ mỏng đứt khỏi tấm vải thô

Gót chân ông chạm xuống sàn nhà Ngửa mặt nhìn trăng sao

Anh em khóc ầm ĩ Chú bác khóc thê thảm Bây giờ: gia đình, con cháu, anh em, họ hàng Không bỏ ông như sợi chỉ mục

Không mặc ông như khách xa lạ Còn có con lợn lớn cho rể chọc tiết Con lợn béo cho rể mổ làm mâm Xôi đồ chín đến mời

Canh thịt ngon đến đặt Dậy rửa mặt dùng bữa Dậy rửa tay dùng cơm

Ăn một mình như con lợn đực

Ăn lẻ loi như con hoẵng rừng

Trang 33

Cúi mặt ăn xặp xặp Nhắm mắt ăn xì xụp Cúi mặt ăn như mèo Giương mắt xanh ngồi ăn như con cú

Ông ăn đừng gọi cha, gọi mẹ

Đừng gọi anh, gọi em Anh định ăn hãy dùng đũa đuổi

Em định ăn hãy dùng đũa ngăn Con cháu định ăn hãy dùng đũa chặn

Cúng xong lấy vải trắng đậy mâm cơm lại, bữa sau đến cúng thì dọn hết cơm thịt cũ đi rồi đặt cơm thịt mới vào cúng và xướng bài xướng như trên Lần lượt các con cháu từng đôi, từng tốp đưa mâm gà, mâm rau vào cúng Trưởng họ của hoặc người chủ của gia đình nói vài câu có tính chất báo cho người quá cố biết con cháu đến làm lễ cúng cơm cho và xin hãy phù hộ cho con cháu mạnh khỏe, làm ăn phát đạt Tốp đến cúng cơm lạy ba lạy rồi khóc kể lể một lúc mới

đứng lên, tốp khác lại đưa mâm lễ đến cúng

• Rể phục vụ đám tang

Mỗi ngày hai lần rể phải làm cơm và dọn cơm cho những người đến giúp tang lễ ăn Thứ tự các mâm được đặt như sau:

- Mâm 1: cho họ cuốn khăn trắng, đặt cạnh quan tài phía hóng

- Mâm 2: cho lúng ta (con trai), đặt cạnh mâm đẳm

- Mâm 3: cho nhính sao (con gái), đặt cạnh quan tài phía chán

- Mâm 4: cho bản mường, đặt giữa nhà và ngoài sân

Khi chuẩn bị xong, con rể đầu ra ngoài sàn gọi thật to hai lần Đầu tiên

quay mặt lên phía trên (hướng đầu nguồn nước) gọi to: “Hỡi các ông, các bà, cha

mẹ, anh em trong bản mường ơi! Hãy đến ăn cơm “bẩn”, cơm “buồn” với chúng tôi nhé!” Sau đó quay xuống phía dưới (hướng cuối nguồn nước) và gọi lặp lại

câu trên Rể quay vào nhà, tất cả mọi người vào mâm ăn Thủ tục này phải thực hiện mỗi ngày hai lần (bữa trưa và chiều) đến khi xong tang lễ mới thôi

Trang 34

2.2.4 Lễ tung trứng tìm nơi đào huyệt (ngày thứ 4)

Đẳm hua đón trực tiếp ra bãi tha ma, tìm được nơi vừa ý sẽ vừa khấn, vừa

tung quả trứng lên: “Tôi tung quả trứng này lên nếu ưng chỗ nào thì quả trứng

rơi xuống chỗ đó cho nó vỡ nhé, nếu không ưng thì đừng cho quả trứng vỡ nhé!”

Ông trưởng họ cứ thế khấn và tung trứng tìm, đến khi quả trứng rơi xuống

vỡ là tìm được chỗ tốt để đào huyệt (người ta cho rằng chỗ không ưng dù ném vào hòn đá trứng cũng không vỡ, chỗ ưng ném trứng xuống bãi cỏ cũng vỡ)

Lấy chỗ quả trứng vỡ làm tâm để chọn hướng đào huyệt Chân quay theo hướng sẽ tiễn hồn đi (không bao giờ quay chân về hướng nhà người quá cố)

2 2 5 Tiễn đưa hồn

2.2.5.1 Chuẩn bị mâm lễ để tiễn đưa hồn

* Vị trí làm lễ tiễn đưa hồn

Nếu người chết là ông chủ nhà thì đặt mâm lễ cạnh quan tài phía hóng, nếu người chết là bà chủ nhà hoặc con cái thì đặt mâm lễ cạnh quan tài phía hẩư

Vị trí mâm mo “pán cái” vào xướng phụ thuộc vào ông chủ hay bà chủ để

đặt quan tài bên quản hay bên chán (phía hẩư hay phía hóng)

* Lễ vật

Mâm cúng của mo (pán cái) gồm một cái mâm được lót bằng một sải vải

trắng, một đĩa trầu cau, hai chén rượu cho vào đĩa nhỏ đặt trên pán cái một bát gạo có cắm ba nén hương đã thắp, một con dao đặt trước mặt ông mo (khi bắt

đầu vào làm lễ, ông mo lấy hai chân dẫm lên con dao đó cho đến khi xong lễ mới thôi) Một bung thóc nhỏ đặt cạnh pán cái, bốn sải vải trắng đặt trên bung thóc, một cái quạt để mo phe phẩy

Mâm lễ tiễn đưa hồn gồm: một con lợn nhỏ luộc đặt trên bàn, hai bát cơm

đặt hai bên con lợn, bốn đôi đũa đặt bốn góc bàn, bốn chén rượu đặt bốn góc bàn, một gióng mía, hai quả chuối, hai chiếc bánh chưng

* Trang phục của ông mo

áo trắng mặc trong, áo đen mặc phủ ngoài (xửa đăm ăm xửa đón) Quần hoặc thẫm màu, đầu quấn khăn tang trắng

Trang 35

* Văn khóc điếu tiễn đưa hồn

Chia làm hai chương chính: hảy xán và hảy xúng khuân Văn khóc điếu tiễn đưa hồn kể qua tiểu sử người quá cố từ khi người mẹ mang nặng đẻ đau, lớn lên lấy vợ, lấy chồng Quá trình đau ốm, đi tìm thầy thuốc bốn phương cứu chữa

Thầy mo mang lễ vật đi xem các đẳm để biết số mệnh người đó còn được sống hay đã đến ngày tận số Mo đến hỏi các đẳm nhưng các đẳm không còn cách nào cứu được nữa, người đó đã đến ngày tận số, không thể cưỡng lại ý trời

phải “tắt chẩư”

Bắt đầu vào khóc “xán” thầy mo phải thực hiện 4 bước:

- Uống hai chén rượu ở pán cái

- Nói câu niệm chú gạt bỏ những việc xấu:

Điều bẩn thỉu hôi tanh gạt bỏ Mùi hôi thối ma chết gạt bỏ

Đồ ăn thừa nhà đám gạt bỏ

Điều không lành gạt bỏ Vía bà chửa đến gần gạt bỏ

Ta vén lời đồng tâm ý hợp xuống dưới Lời sáng mắt lên trên

(Khấn xong uống hai chén rượu và tay nhúng vào rượu xoa mắt, xoa mặt)

- Cầm lá trầu rồi đọc câu bùa chú:

Trang 36

Trên đầu ta có rết xanh to đến gác Bả vai ta có rết xanh lớn đến ngăn Giữa lưng ta có rồng thiêng che chở (ý chỉ con rồng thêu trên thắt lưng mo) Phía dưới lót đá tảng

Phía trên che tấm đồng Hai bên cạnh núi đá che kín

(Nhai lá trầu với vôi nuốt rồi uống tiếp hai chén rượu)

2.2.5.2 Quám cáo xống cốn tai táy đón (khóc điếu tiễn đưa hồn)

Bài mo “hảy xán” (khóc điếu) và bài mo “hảy xúng khuân” (tiễn đưa hồn)

kể về tiểu sử người chết từ lỳc trong bụng mẹ đến lỳc sơ sinh, quỏ trỡnh lớn lờn sinh sống làm ăn, quỏ trỡnh ốm và mời thầy thuốc về để cỳng, chữa bệnh nhưng

khụng khỏi và chết đi nờn phải mời thầy cỳng về để đưa người chết lờn trời (năm

khoan khoang), gọi hồn vớa con chỏu họ hàng và mời về nhà để làm ruộng nuụi

con chỏu, cũn thầy mo và người chết cựng nhau lờn trời để cựng đến chỗ ụng bà

tổ tiờn ở (đao vi) để ụng bà, tổ tiờn dặn dũ sau đú quay về

(Xem phụ lục - tr 66)

2.2.5.3 Lễ bók ngái luông - khai khin (ngày thứ 5)

* Tục mổ trâu để tiến hành làm lễ bók ngái luông - khai khin

Chập tối hôm trước, khi sắp làm lễ “hảy xúng khuân” (khóc tiễn hồn), con

cháu đem con trâu định mổ cho người quá cố đến buộc phía đầu nhà, gần sáng hôm sau cũng là lúc làm xong thủ tục “tiễn hồn”

Trưởng họ và con trai cả cầm một bó đuốc, một nắp bem (hòm đựng quần

áo đan bằng len hoặc mây, khi có người chết họ thường lấy một cái bem đặt dưới chân quan tài để người quá cố đựng tất cả những gì gọi là của quý), con trai trong nhà mỗi người cầm một thanh gươm đi đến chỗ con trâu định mổ Con dâu cả lấy một cuộn tơ tằm đến chỗ con trâu và buộc một sợi tơ vào sừng trâu, cứ thế thả sợi tơ kéo về đến nhà rồi đặt cuộn tơ ấy xuống bàn thờ người quá cố, các con cháu ai

Trang 37

cũng cầm vào sợi dây ấy một tý, con dâu cả lại cuộn sợi tơ về hết rồi đặt trên bàn thờ người quá cố

Việc làm này có ý nghĩa:

- Buộc dây vào sừng trâu là báo cho người quá cố biết con cháu đã nhất trí chia con trâu này cho người quá cố

- Cuộn lấy sợi tơ về là gom hồn các con cháu về, không để ma xấu làm hại Xong thủ tục trên mới được chém cổ trâu Chém trâu xong tất cả các gươm (gươm nào cũng phải dính tiết trâu) và nắp bem được mang về để dưới bàn cúng của người quá cố Con trai lấy thịt trâu đến chỗ bàn thờ phía chân người quá cố

để làm mâm lễ “bók ngái luông”

Cách làm như sau: đặt mâm lễ phía chân người quá cố, khi ông mo khấn

lễ, con trai cả ngồi lặp lại từng câu của ông mo Các con trai, cháu trai trong nhà cầm mỗi người một thanh gươm hoặc dao quỳ xuống vây quanh mâm lễ và tỳ thành kiếm xuống sàn nhà, quay lưỡi vào mâm lễ, có ý gác mâm lễ không cho

ma xấu làm hại, không cho hồn người xấu vào ăn Các con dâu, cháu dâu đứng xếp hàng chống gậy trông chõ xôi cho đến khi xôi chín Con dâu cả lấy một nắm

xôi to, nóng bốc khói đến đặt vào mâm lễ (chấu hay khẩu)

Trước khi vào khấn lễ “bók ngái luông” con cháu và tất cả những người

đến dự đám tang cầm mỗi người một miếng xôi, một miếng thịt trong tay có ý không cho hồn mình đi ăn cùng mâm người quá cố và cứ thế cho đến khi xong lễ mới bỏ

2 2 6 Các thủ tục đưa tang và chôn cất

* Ngày vến tống

Họ Tạo (Đèo, Điêu) lấy ngày vến tống cũ từ thời tổ tiên không thay đổi: họ

Đèo ở Lai Châu lấy ngày mự cáp làm ngày pạt tống, họ Điêu ở Mường Mùn lấy ngày mự cá làm ngày pạt tống

Họ dân: Lò, Lường, Quàng thì vến tống lấy ngày chôn cất làm ngày pạt tống và thay đổi theo từng đời

Trang 38

Cử một số người trong họ cuốn khăn trắng đi đào huyệt Khi đào huyệt bao giờ cũng xoay chân người quá cố theo hướng tiễn đưa hồn Tùy theo từng địa phương, tiễn đưa hồn bắt đầu đi từ chỗ nào thì xoay chân về hướng đó

* Đưa ma (pông khon)

Nến thắp sáng ở bốn góc linh cữu, phải là “đẳm hua đón” mới được khiêng

linh cữu Khi khiêng linh cữu khỏi nhà đặt dưới sân để chuẩn bị đưa ma thì làm

thủ tục “xỏn khuân”

Thủ tục “xỏn khuân” được thực hiện như sau: thuê mo vải trắng một sải,

tiền mười nghìn, thịt 1 kg; cho một gói xôi, một quả trứng gà luộc vào cái vợt xúc

cá (ca xa), con cháu ruột mỗi người cho vào vợt một cái áo

Mo cầm vợt khua lấy vớa khắp trong nhà rồi xuống dưới sõn khua xung quanh linh cữu và khắp sõn, tay khua, miệng khấn:

Hỳ…hóy về đi hồn ơi Hóy vào địu mo cừng Hóy vào vợt mo khua Hồn con, hồn chỏu, hồn anh, hồn em Hóy về nhà cho hết mọi hồn

Núi xong ụng mo đưa vợt đựng ỏo lờn nhà và đặt xuống nơi để linh cữu

Sau khi kết thỳc thủ tục “xỏn khuõn” là thủ tiến hành thủ tục quột nhà

Người ta thường thuờ một bà già gúa làm thủ tục này Thủ tục quột nhà như sau: lấy một chậu nước, một cành lỏ xanh đưa đến chỗ linh cữu, lấy lỏ xanh nhỳng nước rồi quột từ đầu giường quột tiếp xuống giữa nhà rồi quột đuổi xuống đường cầu thang ma, mang chậu nước tộ đuổi theo, tay tộ nước, miệng mắng đuổi:

Đuổi mày đi Mười năm đừng qua Nghỡn năm đừng lại

Sau đú con chỏu quột dọn nhà cửa sạch sẽ, phỏ bỏ cầu thang ma Khi xong hai thủ tục trờn, người ta tiến hành khiờng linh cữu đi Con chỏu mặc đồ tang

Trang 39

trắng xếp hàng phủ phục xuống đất, mặt quay ra ngoài đường rồi khiêng linh cữu qua đầu (kiêng không cho đầu con cháu đang nằm chạm vào linh cữu) Việc làm này là có ý con cháu tiễn đưa người quá cố đi

Con cháu đứng dậy chạy đi trước linh cữu rồi lại phủ phục xuống đất, quay mặt về hướng nhà khiêng linh cữu đi qua Việc làm này có nghĩa xin hồn mình quay về nhà Làm xong hai thủ tục trên thì mới bắt đầu khiêng linh cữu ra khỏi nhà

Thanh niên khỏe mạnh vác cờ to (cờ nàng han) đi trước nhằm để ma sợ không dám đến gần và quấy rối khi đưa đám, tiếp theo là con rể cả vác cúp to, con trai cả mang mâm cơm buồn và một bó đuốc đang cháy, con trai thứ đi cùng con trai cả cầm ô che mâm cơm đến tận mộ, người tiễn đi sau Cúp nhỏ, cờ nhỏ, hướn dố hướn xe…đi cùng linh cữu Ngoài ra còn mang theo hai con lợn luộc chín, mỗi con khoảng 7 – 8 kg, một con để cúng gốc cây cao trước khi kéo lên, một con để cúng chỗ mộ

* Hạ huyệt

Sau khi đưa linh cữu xuống huyệt, lấy một lọ nhỏ, trong lọ bỏ ít đường rồi lấy dây tơ tằm dài và to bằng đầu đũa nhúng vào đường trong lọ, đặt lọ ấy xuống linh cữu ở vị trí ngực người quá cố, một đầu dây để trong lọ (không cho tuột ra), đầu dây kia khi lấp đất, người ta kéo thẳng lên sao cho khi lấp xong mộ đầu dây này thẳng vị trí ngực người quá cố, đây được gọi là cửa hồn để hồn bay ra bay vào

Con cháu và những người đi đưa, mỗi người cầm một hòn đất ném xuống huyệt để tỏ lòng thương tiếc và cũng là góp phần làm mồ yên mả đẹp, cầu mong vong linh người quá cố phù hộ

* Làm nhà mồ

Nhà mồ được làm chụp lên mộ, lợp tranh rất cẩn thận Trong nhà mồ đặt chăn, đệm, gối ngay ngắn, mắc màn thả xuống, một cái bem để cạnh, trong bem

Trang 40

để một bộ quần áo (váy áo) mới, đẹp nhất của người quá cố, túi gương lược, đồ trang sức để ngày tết, ngày lễ người quá cố về dự với tổ tiên

Nóc nhà mồ úp hướn dố, sàn nhà mồ để một cái mâm, một cái chậu, một cái ghế mây Nhà mồ phải được rào kín cẩn thận, dưới chân làm một cửa ra vào Cúp nhỏ và cờ nàng han được cắm cạnh hàng rào, cách chỗ để mâm cúng một chút Nhính sao (chị ẹm) cắm các lá cờ nhỏ quanh mộ làm vườn hoa ma

* Dựng cây cao

Cây cao được dựng phía chân mộ, cách mộ khoảng 3 mét Hai bên cây cao buộc hai dây thừng cho bản mường kéo lên, ở giữa cây cao buộc một sợi dây tơ tằm kéo dài đến tận mộ, dành riêng cho phụ nữ kéo tượng trưng Đồng bào quan niệm khi dựng cây cao bị đổ, bị nghiêng hoặc vấp phải điều kiêng kỵ nào đó…thì gia đình sẽ lụn bại vô phương cứu chữa Buộc dây tơ tằm nhằm bắc thang cho hồn người sống xuống

Trước khi kéo cao phải lấy lợn cúng gốc cây cao cầu thần linh phù hộ Cách cúng gốc cao như sau: đặt mâm xuống gốc cây cao, đặt con lợn vào mâm, hai nắm xôi đặt hai bên con lợn, năm đôi đũa và năm chén rượu đặt phía trên mâm Người con trai mặc áo tang, vác thanh kiếm, lưỡi kiếm quay lên trời, quỳ gối xuống trước mâm lễ khóc

Ông mo thay con trai người quá cố khấn lễ:

Gốc cây to có chủ

Gốc cao lớn có ma thiêng

Gia đình có lợn, có rượu đến cúng đến xin,

Gia đình xin chủ gốc cao và các thần linh phù hộ kéo cây cao cho lên đừng vướng đừng mắc nhé!

Sau lời khấn, cây cao được kéo thẳng lên rồi chôn chặt dưới đất Kéo xong tháo hết các dây buộc mang về nhà, riêng dây tơ tằm cuộn lại mang về nhà là có

ý kéo gom hết linh hồn của người sống về

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bản sắc văn hóa Thái Lai Châu- Điện Biên, sở VHTT tỉnh Điện Biên, Điện Biên, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Thái Lai Châu- Điện Biên
3. Chu Thái Sơn - Cầm Trọng. Ng−ời Thái. NXB Trẻ,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ng−ời Thái
Nhà XB: NXB Trẻ
4. Đặng Nghiêm Vạn - Cầm Trọng - Khả Tiến - Tống Kim Ân. T− liệu nghiên cứu về lịch sử và xã hội ng−ời Thái. NXB Khoa học xã hội, HN, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T− liệu nghiên cứu về lịch sử và xã hội ng−ời Thái
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khả Tiến, Tống Kim Ân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1977
5. Đặng Đức Siêu. Sổ tay văn hóa Việt Nam. NXB Lao động, HN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đặng Đức Siêu
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
6. Đổng Trọng Im. Dân ca nghi lễ ng−ời Thái trắng. NXB VHDT, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca nghi lễ ng−ời Thái trắng
Nhà XB: NXB VHDT
7. Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2001
8. Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam, NXB VHDT, HN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB VHDT
9. Hoàng L−ơng. Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống một số dân tộc Tây Bắc Việt Nam. NXB VHDT, HN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống một số dân tộc Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng L−ơng
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 2004
10. Hoàng Lương. Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam. Trường đại học Văn hóa Hà Nội, HN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Việt Nam
11. Hoàng Nam. B−ớc đầu tìm hiểu văn hóa tộc ng−ời Việt Nam, NXB VHDT, HN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: B−ớc đầu tìm hiểu văn hóa tộc ng−ời Việt Nam
Nhà XB: NXB VHDT
12. Hoàng Nam. Dân tộc học đại cương. NXB VHDT, HN, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1997
13. Hướng dẫn nghiệp vụ công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Ban chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Lai Châu, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn nghiệp vụ công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
14. L−ơng Thị Đại. Tang lễ của ng−ời Thái trắng. NXB VHTT, HN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang lễ của ng−ời Thái trắng
Tác giả: L−ơng Thị Đại
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2005
15. Lê Ngọc Thắng. Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXB VHDT, HN, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: NXB VHDT
16. Nguyễn Văn Huy. Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam. NXB Giáo dôc, HN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: NXB Giáo dôc
Năm: 1998
17. Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục (tái bản). NXB Tp HCM, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Tp HCM
Năm: 1990
18. Phan Kim Duệ (chủ biên). Lễ tục Việt Nam x−a và nay. NXB Thanh niên, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục Việt Nam x−a và nay
Tác giả: Phan Kim Duệ
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
19. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB Tp HCM, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Tp HCM
Năm: 1996
20. Túy lang Nguyễn Văn Toàn, Viên Tài, Hà Tấn Phát. Tục c−ới hỏi và ma chay của người Việt Nam. NXB Lao động, HN, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục c−ới hỏi và ma chay của người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Toàn, Viên Tài, Hà Tấn Phát
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007
2. Bộ chính trị, Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (12/01/1998), chỉ thị số 27 về lĩnh vực thực hiện nếp sống văn minh trong việc c−ới, tang, lÔ héi Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

trú trên những m−ờng ma khác nhau tùy theo những hình thức chết khác nhau. - Tang lễ của người thái với vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở bản mo thị xã mường lay tỉnh điện biên
tr ú trên những m−ờng ma khác nhau tùy theo những hình thức chết khác nhau (Trang 21)
● Một số hình thức chết và vật hiến sinh - Tang lễ của người thái với vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở bản mo thị xã mường lay tỉnh điện biên
t số hình thức chết và vật hiến sinh (Trang 21)
Với những hình thức chết khác nhau nh− vậy, tang lễ của ng−ời Thái trắng có nhiều nghi thức, nghi lễ khác nhau để tiễn đ−a hồn ng− ời chết về với m − ơng  ma - Tang lễ của người thái với vận động xây dựng đời sống văn hoá mới ở bản mo thị xã mường lay tỉnh điện biên
i những hình thức chết khác nhau nh− vậy, tang lễ của ng−ời Thái trắng có nhiều nghi thức, nghi lễ khác nhau để tiễn đ−a hồn ng− ời chết về với m − ơng ma (Trang 22)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w