1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sưu tập tranh thờ của dân tộc giáy đang lưu giữ tại bảo tàng tỉnh lào cai

92 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sưu Tập Tranh Thờ Của Dân Tộc Giáy Đang Lưu Giữ Tại Bảo Tàng Tỉnh Lào Cai
Tác giả Dương Thị Hà
Người hướng dẫn ThS. Trần Đức Nguyên
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Bảo Tàng Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố cục của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương: Chương 1: Khái quát về Bảo tàng tỉnh Lào Cai và v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA DI SẢN VĂN HÓA

 

SƯU TẬP TRANH THỜ CỦA DÂN TỘC GIÁY ĐANG

LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH BẢO TÀNG HỌC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: ThS TRẦN ĐỨC NGUYÊN

Sinh viên thực hiện: DƯƠNG THỊ HÀ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và cảm

ơn chân thành tới:

Thầy giáo – Thạc sĩ Trần Đức Nguyên đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Các thầy cô giáo Khoa Di sản văn hóa – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã quan tâm và động viên để tôi hoàn thành khóa luận này

Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Bảo tàng tỉnh Lào Cai, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Nguyệt -Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản đã tạo điều kiện để tôi được tiếp cận và thực hiện đề tài khóa luận này

Do thời gian có hạn, trình độ và khả năng của bản thân còn nhiều hạn chế vì vậy khóa luận khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của khóa luận 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG 4

1.1 Khái quát về Bảo tàng tỉnh Lào Cai 4

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo tàng tỉnh Lào Cai 4

1.1.1.1 Giai đoạn trước năm 1991 4

1.1.1.2 Giai đoạn 1991 – 1997 5

1.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1997 đến nay 6

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng tỉnh Lào Cai 8

1.1.2.1 Chức năng 8

1.1.2.2 Nhiệm vụ 10

1.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của Bảo tàng tỉnh Lào Cai 12

1.1.3.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học 12

1.1.3.2 Hoạt động sưu tầm 13

1.1.3.3 Hoạt động kiểm kê, bảo quản 14

1.1.3.4 Hoạt động trưng bày 15

1.1.3.5 Hoạt động tuyên truyền, giáo dục 17

1.1.3.6 Hoạt động kiểm kê, xếp hạng di tích 18

1.2 Sưu tập và vai trò của sưu tập hiện vật bảo tàng 19

1.2.1 Khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng 19

1.2.2 Vai trò của sưu tập hiện vật đối với các hoạt động bảo tàng 22

1.3 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 24

Trang 4

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ SƯU TẬP TRANH THỜ CỦA DÂN TỘC GIÁY ĐANG LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI 26

2.1 Vài nét về tín ngưỡng của dân tộc Giáy 26

2.2 Quá trình nghiên cứu, sưu tầm tranh thờ của người Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 28

2.3 Sưu tập tranh thờ của dân tộc Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 30

2.4 Đặc điểm loại hình trong tranh thờ của người Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 33

2.4.1 Tranh Thập điện Diêm Vương 33

2.4.2 Chủ đề phản ánh về Đạo Giáo 42

2.4.3 Chủ đề phản ánh tín ngưỡng bản địa 52

2.5 Giá trị của sưu tập tranh thờ của người Giáy đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 54

2.5.1 Giá trị văn hóa: 54

2.5.2 Giá trị giáo dục: 56

2.5.3 Giá trị nghệ thuật: 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP TRANH THỜ CỦA DÂN TỘC GIÁY ĐANG LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI 60

3.1 Thực trạng công tác bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập tranh thờ của người Giáy đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 60

3.1.1 Thực trạng công tác bảo quản sưu tập 60

3.1.1.1 Đăng ký, quản lý sưu tập tranh thờ 60

3.1.1.2 Công tác bảo quản sưu tập 62

3.1.2 Thực trạng công tác phát huy giá trị của sưu tập 64

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bảo quản và phát huy giá trị tranh thờ của dân tộc Giáy đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai 65

3.2.1 Tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm và hoàn thiện hồ sơ, bổ sung thông

Trang 5

3.2.2 Đảm bảo chất lượng bảo quản cho sưu tập 67

3.2.2.1 Bảo quản phòng ngừa cho sưu tập 67

3.2.2.2 Bảo quản kỹ thuật cho sưu tập 68

3.2.3 Tổ chức giới thiệu sưu tập hiện vật 69

3.2.4 In ấn, giới thiệu, quảng bá về sưu tập 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tín ngưỡng thần linh và tổ tiên là một phong tục cổ truyền, tự nhiên của nhiều dân tộc trong vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Biểu hiện thường thấy ở việc thờ cúng: trời, đất, núi sông, thổ địa, thổ công, Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), tổ tiên có khi thờ cúng cả các linh vật Trong các tiết lễ theo mùa màng và giỗ chạp húy kỵ đã có đủ các hương vị màu sắc nhưng vẫn không thể thiếu mĩ thuật dân gian Từ nhu cầu trong đời sống tâm linh mà dân gian đã sáng tạo ra tranh thờ Dòng tranh này có lịch sử đã 300 – 400 năm nay, khắc họa chân dung một thế giới thần linh của Đạo giáo Chúng dùng cho mục đích hành lễ với “đặc quyền” sử dụng là các thầy cúng miền núi như các thầy Mo, thầy Tào Những thầy cúng cũng chính là những “tác giả” đầu tiên của dòng tranh này Mỗi khi đi cúng, làm lễ “cấp sắc”, cầu mùa, đám cưới, đám phạt họ đem “các thần” cuộn lại bỏ trong túi Đến nhà gia chủ giở

tranh ra, chăng xung quanh bàn, quanh nhà gia chủ làm lễ thỉnh các thần

Đặc biệt người Giáy ở Lào Cai là một trong những dân tộc vẫn còn bảo lưu được nhiều loại tranh thờ, bởi lẽ đây là bảo vật thiêng liêng, tài sản riêng

để phục vụ tín ngưỡng thờ cúng của họ Nội dung tranh thể hiện quan niệm của con người thuở sơ khai về vũ trụ và triết lý về mối quan hệ giữa cuộc sống của con người với vạn vật trong vũ trụ theo tục thờ Đạo giáo, nội dung các bức tranh đã tạo được sức lan tỏa trong giáo dục con người nâng cao nhận thức về thế giới quan và vạn vật hữu linh Nó cũng mang lại niềm tin cho con người vào thế giới tự nhiên để hướng tới giá trị cốt cách, hướng thiện của con người Với nội dung chứa đựng nhiều giá trị giáo dục tính nhân văn cho con người vì thế tục thờ tranh dân gian được tộc người Giáy bảo tồn từ đời này qua đời khác Tuy nhiên, hiện nay do chất liệu sẵn có nên tranh thờ của người Giáy không còn được vẽ từ nguyên liệu tự nhiên như trước đây, cùng với việc sao chép, làm lại tranh nên đã mất đi những giá trị nghệ thuật cũng như văn

Trang 7

hóa bản địa trong tranh thờ của dân tộc này Thậm chí có những tranh sau khi cúng xong họ đốt đi hoặc chôn theo thầy Cúng, thầy Tào khi họ mất Để gìn giữ và bảo lưu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc thiểu số, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã sưu tầm và đưa về bảo quản tại bảo tàng bộ tranh thờ của người Giáy ở xã Cốc San – huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai gồm 27 tranh với nội dung khác nhau

Tranh thờ của dân tộc Giáy không chỉ là bằng chứng về giá trị nghệ thuật, hội họa, thẩm mỹ của cha ông mà nó còn tồn tại cùng với thời gian với chất liệu dễ hư nát mà đã vượt qua được sự thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch họa để trở thành di sản quý và hiếm Ngày nay, con người khám phá thế giới đã tiến một bước dài nhưng cũng chưa thể nói là đã giải thích hết được mọi hiện tượng thiên nhiên và xã hội Một vũ trụ quan trong tâm linh người xưa được thể hiện qua bộ tranh thờ vẫn còn là điều để chúng ta cùng nhau suy ngẫm và tìm hiểu Đó là góc khuất luôn còn là dấu hỏi chưa thể xóa trong đời sống tinh thần mỗi người Cho nên hệ tố văn hóa trong thể loại tranh thờ cúng vẫn còn nguyên giá trị văn hóa – nghệ thuật Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng và giá trị của tranh thờ trong đời sống đồng bào dân tộc

và ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tôi đã chọn đề tài “Sưu tập tranh

thờ của dân tộc Giáy đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai” làm khóa luận

tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu khái quát về Bảo tàng tỉnh Lào Cai

- Giới thiệu về tín ngưỡng và đời sống tâm linh của dân tộc Giáy

- Nghiên cứu tổng quan về các loại tranh thờ của dân tộc Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

- Từ thực trạng bảo quản và phát huy giá trị tranh thờ của dân tộc Giáy lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát

huy giá trị các loại tranh thờ đó

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sưu tập tranh thờ của dân tộc Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

- Phạm vi nghiên cứu: Tranh thờ của dân tộc Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp luận khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và văn hóa

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bảo tàng học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, mĩ thuật

- Các phương pháp nghiên cứu: Thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp các tài liệu, hồ sơ liên quan đến vấn đề nghiên cứu

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của khóa luận được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát về Bảo tàng tỉnh Lào Cai và vấn đề xây dựng sưu tập tài liệu hiện vật bảo tàng

Chương 2: Nội dung và giá trị sưu tập tranh thờ của dân tộc Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo quản và phát huy giá trị sưu tập tranh thờ của dân tộc Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Trang 9

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI

VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG

1.1 Khái quát về Bảo tàng tỉnh Lào Cai

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Bảo tàng tỉnh Lào Cai là một trong số các bảo tàng cấp tỉnh/thành phố của Việt Nam, nằm ở số 623 đường Điện Biên, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Tiền thân của Bảo tàng tỉnh Lào Cai là phòng truyền thống Hoàng Liên Sơn được ra đời năm 1990 Sau hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau

1.1.1.1 Giai đoạn trước năm 1991

Hoàng Liên Sơn là tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam với nhiều dân tộc sinh sống Để phát huy sức mạnh của cộng đồng các dân tộc và gìn giữ khối đoàn kết dân tộc Năm 1990, Phòng truyền thống Hoàng Liên Sơn được ra đời dưới sự quản lý của Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hoàng Liên Sơn Ban đầu, hoạt động của Phòng truyền thống là lưu giữ các hiện vật trang phục, đạo cụ phục vụ cho công việc biểu diễn của Sở Văn hóa – Thông tin, sau đó một số cán bộ, diễn viên của Sở đã đưa về những hiện vật như trang phục dân tộc, nhạc cụ dân gian, đồ dùng sinh hoạt của những dân tộc sinh sống trên địa bàn Hoàng Liên Sơn, nơi mà họ từng đến biểu diễn văn nghệ phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số Phòng truyền thống này dần có thêm nhiều hiện vật, đa dạng về loại hình cũng như chất liệu, bao gồm những tài liệu hiện vật quý báu và có giá trị về văn hóa, nghệ thuật, lưu niệm được Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hoàng Liên Sơn thu nhận, tổng hợp với ý thức để bảo tồn và lưu giữ lâu dài

Cuối năm 1990, hoàn thành và khai trương phòng trưng bày truyền thống

Trang 10

hiện nay Phòng trưng bày truyền thống với các hoạt động là trưng bày giới thiệu về văn hóa dân tộc, lịch sử và thành tích của tỉnh Hoàng Liên Sơn

1.1.1.2 Giai đoạn 1991 – 1997

Ngày 12 tháng 8 năm 1991 tại kì họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII ra quyết định chia tách tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh Lào Cai và Yên Bái, nghị quyết này được thực hiện ngày 1 -

10 - 1991 Sau khi tỉnh Lào Cai được thành lập thì bộ phận của phòng truyền thống Hoàng Liên Sơn được chuyển về Sở Văn hóa Thông tin Lào Cai quản lý Nhận thức được giá trị cũng như sự cần thiết của việc gìn giữ các tài liệu hiện vật trong phòng truyền thống, Ủy ban Nhân Dân tỉnh Lào Cai ra quyết định số 198/UB ngày 15 tháng 8 năm 1992 về việc thành lập Bảo tàng tỉnh Lào Cai Bảo tàng tỉnh Lào Cai ra đời sẽ là trung tâm văn hóa, nơi nghiên cứu, sưu tầm, tiếp nhận và bảo quản, trưng bày giới thiệu tới công chúng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa của vùng đất, con người Lào Cai trong tiến trình lịch sử Sau khi thành lập, bộ phận này được sự quan tâm của các cơ quan Trung ương, các cơ quan ban ngành của tỉnh đã tổ chức vận động quần chúng sưu tầm các tài liệu, hiện vật đồng thời tiến hành trưng bày lưu động ở

cơ sở góp phần tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua đó tiếp tục phát động phong trào sưu tầm, đóng góp hiện vật xây dựng bảo tàng cấp tỉnh

Từ năm 1992 đến năm 1995, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã sưu tầm được hơn 2.000 hiện vật và tổ chức trưng bày tại căn phòng thuộc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Tháng 12 năm 1997 Tỉnh ủy Lào Cai ra quyết định lấy ngôi nhà số 333 – Đường Hoàng Liên làm Bảo tàng tỉnh Thời kì này Bảo tàng tỉnh Lào Cai mở rộng các hoạt động như nghiên cứu và giới thiệu về thiên nhiên và con người Lào Cai, ngoài ra bảo tàng còn tiến hành các cuộc triển lãm lưu động, sưu tầm hiện vật bổ sung cho kho cơ sở và trưng bày Đây là

Trang 11

giai đoạn khá phát triển của bảo tàng với phạm vi hoạt động khắp tỉnh và khu vực xung quanh Lào Cai, chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng được xác định là: Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy, tuyên truyền giáo dục di sản văn hóa của 27 dân tộc Lào Cai

Các cuộc sưu tầm tài liệu hiện vật được tiến hành khẩn trương, các phòng nghiệp vụ của bảo tàng từng bước điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện Công tác triển lãm lưu động đến các huyện, xã của tỉnh Lào Cai được triển khai thực hiện Thời kì này bảo tàng cũng nhận được sự quan tâm của các cơ quan, ban ngành và cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh

1.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1997 đến nay

Trong thời gian từ 1997 đến 2011, Bảo tàng tỉnh Lào Cai thực sự nâng cao các hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình Bảo tàng không ngừng phấn đấu vươn lên, vượt mọi gian khổ, khó khăn tích cực đóng góp vào việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh; giới thiệu với nhân dân Lào Cai, các tỉnh bạn và khách quốc tế về truyền thống lịch sử cách mạng, truyền thống và bản sắc văn hóa của vùng đất và con người Lào Cai

Thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh vào cuối năm 2011 bảo tàng chuyển về trụ sở số 623 đường Điện Biên và hiện nay được giữ nguyên tại đó

Do điều kiện vật chất khó khăn, diện tích nhỏ hẹp nên Bảo tàng Lào Cai hiện nay chưa xây dựng được phần trưng bày cố định tại bảo tàng nhưng công tác trưng bày vẫn luôn được quan tâm Tuy nhiên với mục tiêu “đưa hiện vật đến với người xem” bằng hình thức tổ chức những buổi triển lãm, trưng bày lưu động tại khắp thành phố, khắp các huyện, xã và thị trấn trong tỉnh Như vậy, Bảo tàng Lào Cai vẫn có thể giới thiệu một cách khái quát nhất về thiên nhiên, lịch sử văn hóa – xã hội của tỉnh Lào Cai

Những năm gần đây, Bảo tàng tỉnh Lào Cai cũng đã phối hợp với một số bảo tàng khác tổ chức nhiều cuộc trưng bày có giá trị về lịch sử văn hóa như: Cùng với Bảo tàng tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Hà Giang tổ chức

Trang 12

trưng bày phục vụ Hội Báo Xuân Quý Tỵ 2013 và lễ hội Đền Thượng; kết hợp với Phòng Văn hóa cơ sở tổ chức cuộc trưng bày Thành tựu kỉ niệm 40 năm ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trưng bày triển lãm phục vụ công chúng và nhân dân địa

phương với chủ đề “Bảo Yên một vùng du lịch ” trong tuần văn hóa du lịch

Bảo Yên năm 2009

Cùng với sự ra đời của bảo tàng là sự ra đời của hệ thống kho cơ sở, ngay từ buổi đầu thành lập với quan điểm hiện vật gốc là cơ sở cho mọi hoạt động của bảo tàng, không có hiện vật gốc thì không có bảo tàng, cho nên công tác kho đã được chú trọng và đi trước một bước Trong những năm vừa qua, công tác kho của Bảo tàng Lào Cai luôn được đổi mới Hệ thống chiếu sáng nhiều lần được làm mới, hệ thống phòng cháy chữa cháy được đảm bảo an toàn, các phương pháp bảo quản hiện đại được áp dụng Kho của bảo tàng ngày càng được mở rộng, hiện nay một phòng rộng khoảng 70m2 được dành làm kho cơ sở Hệ thống sổ sách, phích phiếu ngày càng hoàn thiện, công tác bảo quản hiện vật được thường xuyên, đảm bảo tuổi thọ cho hiện vật Đến nay, hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lào Cai được phân loại thành 8 kho chính phù hợp với từng chất liệu hiện vật để bảo quản đó là: Kho hiện vật kim loại, kho hiện vật gốm sứ, kho hiện vật đất đá, kho hiện vật mộc, kho hiện vật giấy, kho đồ dệt, kho phim ảnh và kho hiện vật tạm thời

Với nhiều hình thức sưu tầm, đến nay Bảo tàng tỉnh Lào Cai đang lưu giữ một số lượng lớn di sản văn hóa với tổng số hiện vật là: 10.536 hiện vật,

4000 tài liệu, trên 4000 phim ảnh Tất cả những hiện vật, tài liệu phim ảnh trên được bảo quản theo chất liệu và chuyên đề cụ thể

Hoạt động nghiệp vụ bảo vệ, phát huy giá trị di tích, danh lam thắng cảnh cũng là một lĩnh vực thu được những kết quả tích cực Bảo tàng Lào Cai

là một trong những bảo tàng tỉnh, thành phố của nước ta, bảo tàng đã thực hiện tổng kiểm kê hiện vật tại các di tích xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh,

Trang 13

làm cơ sở cho việc quản lý, gìn giữ phát huy giá trị các Di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bảo tàng đặc biệt quan tâm tới việc tu bổ, tôn tạo các di tích đã được xếp hạng góp phần bảo vệ tốt các di sản mà cha ông đã để lại Nhiều di tích của tỉnh đã được quan tâm đầu tư như: Đền Chiềng Ken, Đền Bảo Hà, Đền Hàng Phố, Dinh Hoàng A Tưởng, Khu di tích Đồn Phố Lu

Với truyền thống hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, trước những yêu cầu và thách thức mới của thời đại đội ngũ cán bộ, công chức của Bảo tàng Lào Cai chắc chắn sẽ toàn tâm, toàn ý với sự nghiệp bảo tồn – bảo tàng thực hiện tốt nhiệm vụ mà Sở Văn hóa đã đề ra là “Nâng cao và đẩy mạnh hoạt động của bảo tàng tỉnh, góp phần giáo dục truyền thống cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ” Là một bảo tàng cấp tỉnh trong cả nước, Bảo tàng Lào Cai

đã và đang cố gắng phát huy những thành quả đạt được trong thời gian qua, góp phần xây dựng và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc, xây dựng con người mới, xây dựng thành phố Lào Cai ngày càng phát triển

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Bảo tàng tỉnh Lào Cai

1.1.2.1 Chức năng

Theo các nhà bảo tàng học Anh: “Bảo tàng tổng hợp chứa đựng những

sưu tập của một hoặc nhiều chủ đề, những bảo tàng ấy được biết đến như một bảo tàng của nhiều ngành học thuật Nội dung chính của bảo tàng tổng hợp giới thiệu về vùng và địa phương Bảo tàng tổng hợp ra đời và tồn tại là niềm kiêu hãnh của công dân vùng đó và nguyện vọng phát triển tri thức của vùng đó Chức năng quan trọng nhất của bảo tàng tổng hợp là phản ánh lịch sử tự nhiên

và con người, truyền thống và tinh thần sáng tạo của vùng đất đó” [5, tr.53]

Các nhà bảo tàng học ở Việt Nam thì cho rằng bảo tàng địa phương có

chức năng: “Nghiên cứu sâu sắc các sự kiện tiêu biểu, điển hình nổi bật ở địa

phương mình để sưu tầm lựa chọn và thu nhận hiện vật, sưu tập hiện vật tiêu biểu có giá trị lịch sử - văn hóa - khoa học, tiến hành trưng bày, triển lãm chúng để làm rõ đặc trưng riêng của từng địa phương”.[10,tr.243]

Trang 14

Tại điều 47 Luật Di Sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đã nêu rõ: “ Bảo tàng cấp tỉnh là nơi bảo quản và trưng bày các

sưu tập có giá trị tiêu biểu ở địa phương”.[15, Điều 47 ]

Như vậy, bảo tàng cấp tỉnh/thành phố có vai trò vị trí quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của địa phương, là cơ quan có tác dụng trực tiếp phục vụ việc nghiên cứu và giáo dục phổ biến kiến thức về nhiều lĩnh vực ở địa phương

Bảo tàng tỉnh Lào Cai cũng thực hiện chức năng nhiệm vụ trong phạm

vi lãnh thổ tỉnh Lào Cai Ngay từ khi thành lập bảo tàng đã xác định các chức năng của mình là: “Nghiên cứu khoa học, tài liệu hóa khoa học và giáo dục phổ biến khoa học, gìn giữ, bảo quản và trưng bày những di sản lịch sử tự nhiên, văn hoá vật chất và tinh thần tiêu biểu có liên quan đến lịch sử - văn hóa - xã hội và thiên nhiên của tỉnh Lào Cai” Trong các chức năng của bảo tàng thì hiện nay chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức ở Bảo tàng Lào Cai vẫn còn hạn chế do điều kiện về cơ sở vật chất của bảo tàng cũng như trình độ, điều kiện kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở Lào Cai còn thấp Vì vậy, trong tương lai bảo tàng cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động nghiệp vụ cũng như đầu tư kinh phí để bảo tàng có thể thực hiện tốt hơn các chức năng của mình

Như vậy, với chức năng là một thiết chế văn hóa, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã góp phần không nhỏ vào hoạt động xã hội hóa bảo tàng hiện nay nhằm giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang của nhân dân các dân tộc Lào Cai cho thế hệ hôm nay và mai sau Tuyên truyền, đối ngoại phục vụ các đối tượng khách tham quan, đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về những vấn đề lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội của đất nước nói chung và điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội của đồng bào dân tộc Lào Cai nói riêng

Trang 15

1.1.2.2 Nhiệm vụ

Theo quyết định số 15/2009/ QĐ – UBND, ngày 30/6/2009 của Ủy ban

nhân dân tỉnh Lào Cai quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai Trong

đó, Bảo tàng tỉnh Lào Cai với mục tiêu cơ bản là cần thiết phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc Lào Cai

Bảo tàng có các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức nghiên cứu toàn diện về toàn tỉnh Lào Cai: Lịch sử thiên nhiên, lịch sử xã hội, đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người và đời sống sinh hoạt kinh tế - văn hóa - xã hội đã và đang diễn ra ở

trên địa bàn tỉnh Lào Cai

- Tổ chức khảo sát, sưu tầm khoa học để thu thập các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc tiêu biểu của Lào Cai về lịch sử tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đời sống sinh hoạt kinh tế - văn hóa - xã hội, về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như phong tục tập quán: lễ hội, tín ngưỡng, ngành nghề thủ công truyền thống của tỉnh

- Tổ chức kiểm kê: Phân loại, xác định khoa học và ghi chép khoa học, đăng kí, quản lý những sưu tập hiện vật gốc tiêu biểu của tỉnh

- Tổ chức kho bảo quản: Có hệ thống kho cơ sở bảo quản các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc tiêu biểu của tỉnh Lào Cai theo chất liệu, áp dụng các biện pháp bảo quản phòng ngừa, biện pháp bảo quản kĩ thuật, có đội ngũ cán bộ bảo quản và các trang thiết bị, phương tiện thích hợp bảo quản cho từng loại chất liệu của hiện vật và sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng

- Tổ chức trưng bày: Trưng bày bảo tàng là một hoạt động đặc trưng quan trọng của bảo tàng để thực hiện vấn đề giao tiếp của bảo tàng với công chúng và xã hội Bảo tàng tổ chức trưng bày trên cơ sở hiện vật gốc - sưu tập hiện vật gốc tiêu biểu của Lào Cai về từng lĩnh vực mang tính địa phương: về lịch sử tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đặc trưng văn hóa các tộc người, về

Trang 16

lịch sử xã hội, về ngành nghề thủ công, mỹ thuật hoặc khảo cổ học của tỉnh Lào Cai

- Tổ chức giáo dục tuyên truyền: Hoạt động giáo dục tuyên truyền của bảo tàng hướng tới công chúng, tổ chức hướng dẫn thu hút khách tham quan, nghiên cứu tâm lí, nhu cầu khách tham quan bảo tàng, điều tra xã hội học và

tổ chức các hoạt động văn hóa, dịch vụ thích hợp đáp ứng nhu cầu công chúng tỉnh Lào Cai và các tỉnh trong khu vực

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học, cán bộ quản lý chuyên ngành lưu giữ tài liệu sách, ảnh, phim, băng đĩa ghi

âm, ghi hình và những chương trình khoa học của bảo tàng

- Tổ chức quản lý các hoạt động của trung tâm văn hóa và dịch vụ, phục vụ khách tham quan và nghiên cứu tại bảo tàng Quản lý và sử dụng công chức, viên chức tài sản tài chính của bảo tàng theo đúng pháp luật, chính sách hiện hành của nhà nước và theo phân cấp của Trung ương, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh

Hiện nay, Ban quản lý di tích chưa tách khỏi bảo tàng nên ngoài những nhiệm vụ trên thì Bảo tàng tỉnh Lào Cai còn có nhiệm vụ quan trọng là: Quản

lý, kiểm kê, xếp hạng và bảo quản tu bổ các di tích, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Theo số liệu năm 2012 của bảo tàng thì Bảo tàng Lào Cai đã tiến hành công tác kiểm kê, xếp hạng trong đó có 5 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 13 di tích xếp hạng cấp tỉnh, thành phố và tiến hành tu sửa được nhiều di tích đã xuống cấp

Nhìn chung, nhiệm vụ quan trọng nhất của Bảo tàng tỉnh Lào Cai được xác định là: Sưu tầm thu thập những tài liệu hiện vật, hình ảnh gốc có giá trị lịch sử - văn hóa - khoa học phản ánh lịch sử xã hội, đặc trưng văn hóa của các dân tộc sinh sống ở Lào Cai, phản ánh các ngành nghề thủ công truyền thống, mỹ thuật và cả những thành tựu về mọi mặt trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội; Đồng thời tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn

Trang 17

và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh của tỉnh Lào Cai trong thời kỳ đổi mới hiện nay

1.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ của Bảo tàng tỉnh Lào Cai

1.1.3.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Từ năm 1992 đến nay, trải qua nhiều thử thách, Bảo tàng tỉnh Lào Cai

đã bước đầu định hình cho mình một hướng đi trong phương thức hoạt động nói chung và nghiên cứu khoa học nói riêng Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng ngoài việc nghiên cứu khoa học cơ bản còn tiến hành nghiên cứu những vấn đề có tính chất ứng dụng Là một loại hình bảo tàng mới nên các vấn đề thuộc bảo tàng học không thể áp dụng một cách giản đơn máy móc mà đây là một quá trình vận dụng sáng tạo vừa đảm bảo tính khoa học mà lại

không bất cập với các vấn đề của văn hóa xã hội, đối tượng và công chúng

Song song với quá trình tìm tòi và nghiên cứu, ngay từ khi thành lập đến nay bảo tàng tiến hành những buổi sinh hoạt, tọa đàm khoa học với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sử, các cộng tác viên, các cơ quan Trung ương và địa phương Thông qua các cuộc tọa đàm trao đổi đó, Bảo tàng

đã tiếp thu lắng nghe các ý kiến có tính phát hiện vấn đề, gợi mở nghiên cứu, sưu tầm tài liệu hiện vật nhằm phục vụ cho hoạt động của mình

Mặt khác, để công tác nghiên cứu khoa học trước mắt và lâu dài đúng hướng, hội đồng khoa học đã được thành lập bao gồm những cán bộ có trình

độ chuyên môn cao trong và ngoài bảo tàng Đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn của bảo tàng với trình độ đại học trở lên

Qua nhiều đợt triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học hiện nay bảo

tàng đã tiến hành nghiên cứu được các đề tài khoa học như: Giải mã các kí

hiệu trên bãi đá cổ SaPa; Nghiên cứu đồ đá mới phát hiện ở Bảo Yên; Nghiên cứu, tìm hiểu về Then của người Giáy ở Bát Xát

Trong bối cảnh “bùng nổ thông tin” như hiện nay nhằm làm sao cho khỏi bất cập về hình thức và nội dung mà vẫn thu hút được sự chú ý của

Trang 18

khách tham quan, đòi hỏi những cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học

của bảo tàng cần phải có sự tìm tòi, sáng tạo và ngày càng hoàn thiện, nâng

cao trình độ chuyên môn phục vụ đắc lực cho sự phát triển của bảo tàng trong

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

1.1.3.2 Hoạt động sưu tầm

Nhận thức được thực tế và vai trò của công tác sưu tầm trong hoạt động

của bảo tàng nên ngay từ khi mới thành lập bảo tàng đã phối hợp với Cục Bảo

tồn - Bảo tàng, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lào Cai tổ chức các hội nghị tập

huấn nghiệp vụ về công tác sưu tầm Kết hợp với các đoàn đi khảo sát ở địa

phương, những nơi có nhiều sự kiện tiêu biểu điển hình của tỉnh Không chỉ

có vậy, Bảo tàng còn phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, sở văn hóa, ban dân

tộc để tiến hành sưu tầm ở khắp tỉnh và vùng lân cận Bên cạnh đó, bảo tàng

cũng chú trọng đến việc soạn thảo các tài liệu về công tác sưu tầm như viết đề

cương sưu tầm cho từng vùng, từng huyện hoặc viết các bài báo cáo, tạp chí

Với phương châm “đa dạng hóa các hoạt động sưu tầm” bằng nhiều

hình thức và phương pháp phù hợp với đặc điểm của mình Bảo tàng tỉnh Lào

Cai đã sưu tầm được một khối lượng tài liệu, hiện vật đa dạng về hình thức,

phong phú về số lượng, có giá trị về lịch sử văn hóa đáp ứng được yêu cầu về

tính chất và nội dung của bảo tàng

Tất cả những tài liệu, hiện vật gốc sưu tầm được cán bộ bảo tàng xác

định và ghi chép lập hồ sơ lý lịch khoa học cho chúng, hoàn thiện hồ sơ sưu

tầm, tiến hành các thủ tục mang tính chất pháp lý và khoa học để thông qua hội

đồng xét duyệt chính thức, tiến hành nhập chúng vào kho cơ sở của bảo tàng

Từ năm 1991 đến năm 2009, Bảo tàng đã tiến hành sưu tầm ở 8 huyện

trên địa bàn tỉnh Lào Cai như SaPa, Bát Xát, Văn Bàn và thu được trên

8.000 tài liệu, hiện vật

Năm 2009 đến 2012 Bảo tàng tổ chức nhiều cuộc sưu tầm bổ sung hơn

300 hiện vật với gần 4.000 phim ảnh Bảo tàng hiện nay cũng đã lập kế hoạch

Trang 19

đi sưu tầm tại một số huyện như Bát Xát, Bắc Hà, Si Ma Cai và quay băng

video về Lễ cấp sắc của người Dao, Hát Then của người Tày, Lễ hội Gầu Tào

của dân tộc H’Mông cùng với nhiều tín ngưỡng khác của đồng bào dân tộc

Đến nay, Bảo tàng cũng thu thập được một khối lượng lớn các tài liệu

hiện vật bổ sung thêm nguồn hiện vật dự trữ cho bảo tàng

Nhìn chung, công tác sưu tầm của Bảo tàng tỉnh Lào Cai trong 20 năm

qua đã có những đóng góp đáng kể cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của bảo

tàng, góp phần bảo tồn các giá trị vật chất, văn hóa tinh thần của đồng bào

dân tộc Lào Cai cũng như nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển

kinh tế - xã hội của tỉnh để giáo dục truyền thống, nâng cao trình độ dân trí

cho dân tộc thiểu số và nhân dân trong sự nghiệp phát triển của đất nước

1.1.3.3 Hoạt động kiểm kê, bảo quản

Hoạt động kiểm kê, bảo quản phản ánh kết quả của công tác sưu tầm

nhưng lại là điều kiện cho công tác trưng bày và tuyên truyền, giáo dục Hiện

nay, hệ thống kho phục vụ cho công tác kiểm kê, bảo quản của bảo tàng

tương đối hoàn chỉnh kết hợp với hệ thống sổ sách, phích phiếu, biểu

mẫu đầy đủ, chi tiết tạo điều kiện cho việc lập hồ sơ khoa học chính xác cho

tài liệu hiện vật

Sau hoạt động kiểm kê là khâu bảo quản – là biện pháp nhằm kéo dài

tuổi thọ của hiện vật, ngăn chặn tác nhân gây hại cho hiện vật Sau khi nhập

kho, hiện vật sẽ được phân loại và sắp xếp theo chất liệu vào từng tủ riêng

biệt và áp dụng các phương pháp khoa học để bảo quản một cách lâu dài

Ngoài ra bảo tàng còn đầu tư một hệ thống các trang thiết bị hiện đại như máy

điều hòa, máy hút bụi, nhiệt kế, máy hút ẩm với hệ thống trang thiết bị này

bảo tàng đã bảo quản tốt gần 10.536 tài liệu, hiện vật

Hệ thống tài liệu, hiện vật trong bảo tàng đã được pháp lý hóa và số

phim ảnh cùng tài liệu mới sưu tầm đang được tiếp tục xác minh, bổ xung hồ

sơ để xét duyệt Cũng giống như phần lớn các bảo tàng, hệ thống kho cơ sở

Trang 20

của Bảo tàng tỉnh Lào Cai phân theo chất liệu Hiện nay các tài liệu, hiện vật

của bảo tàng được phân làm các kho như sau:

1 Kho phim ảnh: 4000 đơn vị bảo quản

2 Kho gốm sứ: 100 đơn vị bảo quản

3 Kho mộc: 1000 đơn vị bảo quản

4 Kho dệt: 200 đơn vị bảo quản

5 Kho giấy: 4000 đơn vị bảo quản

6 Kho đất đá: 450 đơn vị bảo quản

7 Kho kim loại: 300 đơn vị bảo quản

8 Kho da: 60 đơn vị bảo quản

9 Kho xương, sừng ,ngà: 300 đơn vị bảo quản

10 Kho tạm thời:

1.1.3.4 Hoạt động trưng bày

Trên cơ sở xác định công tác trưng bày là một khâu công tác cơ bản

trong hoạt động của bảo tàng, là thước đo kết quả của công tác nghiên cứu

sưu tầm, là cầu nối thông tin giữa bảo tàng và công chúng Cho nên ngay từ

khi mới thành lập Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã định hướng cho công tác trưng

bày là: Xây dựng một hệ thống trưng bày phù hợp với nội dung, tính chất của

bảo tàng vừa mang tính chất dân tộc vừa hiện đại, độc đáo

Bằng sự cố gắng nỗ lực của cán bộ trong bảo tàng, sự giúp đỡ tận tình

của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai cũng như các cấp, ngành,

địa phương và các nhà khoa học, tuy chưa có nhà, phòng để trưng bày tại bảo

tàng nhưng cán bộ Bảo tàng Lào Cai cũng đã lập được đề cương trưng bày

của bảo tàng để sau khi nhà trưng bày được xây dựng sẽ áp dụng những nội

dung sau:

+ Phần1: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú của

tỉnh Lào Cai: Thông qua các sưu tập mẫu vật tự nhiên như sưu tập mẫu vật địa

chất, địa hình, khoáng sản, khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng, động thực vật

Trang 21

+ Phần 2: Lịch sử xã hội địa phương: Những sử liệu gốc thật đã tham

gia trực tiếp vào các sự kiện lịch sử của Lào Cai với nhiều chủng loại, chất liệu giữ vai trò chủ đạo trong trưng bày của bảo tàng

+ Phần 3: Đặc trưng văn hóa địa phương:

- Về văn hóa vật chất bao gồm: Các sưu tập công cụ sản xuất, sản phẩm của các nghề chính, nghề phụ trong hoạt động sản xuất Sưu tập đồ dùng qua các thời đại để phản ánh rõ nét sinh hoạt đời sống hằng ngày của các dân tộc sinh sống trên địa bàn Lào Cai Sưu tập trang phục truyền thống khác nhau của dân tộc sinh sống ở Lào Cai được sử dụng trong những không gian và thời gian khác nhau thể hiện rõ sắc thái văn hóa của từng tộc người và cộng đồng cư dân Sưu tập đồ trang sức qua các thời đại và kiến trúc nhà ở phản ánh lối sinh hoạt, hoạt động sản xuất, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của tộc người, ngoài ra còn trưng bày sưu tập hiện vật thể hiện phương tiện giao thông vận chuyển cổ truyền được sử dụng như các loại gùi, xe bò, xe trâu, mảng

- Về văn hóa tinh thần: Bao gồm các tài liệu hiện vật, sưu tập thể hiện

về tôn giáo tín ngưỡng, văn học nghệ thuật dân gian, lễ hội, văn hóa ẩm thực, tri thức dân gian của từng dân tộc ở Lào Cai Ngoài ra còn có các tài liệu hiện vật, sưu tập hiện vật gốc phản ánh về các tập tục hôn nhân và gia đình như các phong tục, nghi lễ cưới xin, tang ma của những tộc người khác nhau sinh sống trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Hiện nay, do điều kiện về mặt bằng cũng như diện tích nên Bảo tàng tỉnh Lào Cai vẫn chưa thể tiến hành trưng bày cố định các tài liệu hiện vật như trong đề cương, tuy nhiên bảo tàng lại thường xuyên tổ chức các cuộc trưng bày lưu động để đưa hiện vật ra với công chúng Sau 10 năm chính thức

đi vào hoạt động, mỗi năm bảo tàng đã tổ chức thực hiện 6 cuộc trưng bày lưu động ở khắp các huyện và thành phố, liên kết với các đơn vị của những tỉnh trong khu vực như Yên Bái, Lai Châu, Hà Giang để thực hiện triển lãm phục

Trang 22

vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, kinh tế - xã hội của địa phương hay tham gia quảng bá hình ảnh về Lào Cai

Đây là một con số không phải là lớn nhưng so với tuổi đời của bảo tàng thì đó là một điều đáng tự hào Bảo tàng luôn xác định phương châm “đưa hiện vật đi tìm người xem”, vì vậy trong tương lai hoạt động trưng bày lưu động của bảo tàng càng được đẩy mạnh hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng và xã hội

1.1.3.5 Hoạt động tuyên truyền, giáo dục

Trong những thời gian đầu đi vào hoạt động, tất cả các cán bộ trong bảo tàng đều làm công tác tuyên truyền nhưng hình thức tuyên truyền lại rất

sơ sài chỉ thông qua mạng lưới của Sở Văn hóa và Phòng văn hóa các huyện Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ban giám đốc đã lựa chọn ra một đội ngũ

có trình độ chuyên môn cao làm nhiệm vụ thuyết minh Với mục tiêu từ 80 đến 90% lượng khách có hướng dẫn phục vụ, phòng trưng bày tuyên truyền huy động tối đa nguồn lực vốn có phát huy thế mạnh về chuyên môn, nghiệp

vụ đã đem lại những kết quả khả quan Bên cạnh đó bảo tàng cũng xây dựng

và đào tạo được một đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền giáo dục có trình độ chuyên môn cao với 100% cán bộ có trình độ đại học, có khả năng thuyết minh bằng ngoại ngữ thành thạo và trôi chảy

Không chỉ làm công tác tuyên truyền giáo dục trong bảo tàng mà bảo tàng còn coi trọng hình thức giáo dục ngoài bảo tàng như: viết bài, đưa tin lên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa, hội nghị, nói chuyện với các nhà khoa học, các cơ quan, đoàn thể trong tỉnh và địa phương trong khu vực

Cùng với việc đưa thông tin về bảo tàng và hoạt động của bảo tàng lên mạng internet, bảo tàng ngày càng thu hút được sự quan tâm của công chúng

và lãnh đạo các cấp, ngành

Trang 23

Theo thống kê của phòng tuyên truyền giáo dục thì mỗi đợt bảo tàng tổ chức trưng bày hay triển lãm thì khách đến tham quan khá đông với thành phần đa dạng và phong phú Từ các vị lãnh đạo tỉnh đến học sinh, sinh viên, công an, bộ đội, lão thành cách mạng, nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu

số và khách quốc tế đặc biệt là khách Trung Quốc

Mục đích của Bảo tàng tỉnh Lào Cai khi thực hiện công tác giáo dục tuyên truyền là: Giúp cho nhân dân địa phương đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu được môi trường và tiềm năng thiên nhiên, truyền thống lịch sử - văn hóa - xã hội của tỉnh để khai thác phát huy những tiềm năng sẵn có phục vụ sự phát triển toàn diện của tỉnh Lào Cai

Có thể nói hoạt động tuyên truyền mới mẻ, sáng tạo và sâu rộng đến mọi tầng lớp xã hội Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã phần nào thành công trong việc giới thiệu hình ảnh của bảo tàng cũng như thiên nhiên và con người của mảnh đất miền núi Lào Cai đến với cả nước và bạn bè quốc tế

1.1.3.6 Hoạt động kiểm kê, xếp hạng di tích

Bảo tàng tỉnh Lào Cai với nhiệm vụ gìn giữ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh, cùng với đặc thù của bảo tàng là ban quản lý di tích chưa tách khỏi bảo tàng vì vậy mà bảo tàng vẫn phải tiến hành hoạt động kiểm kê, xếp hạng di tích

Hoạt động kiểm kê, xếp hạng di tích được Bảo tàng tỉnh Lào Cai quan tâm và thực hiện ngay từ khi bảo tàng mới ra đời Hoạt động kiểm kê khoa học được tiến hành theo 3 nội dung: Nghiên cứu phát hiện, khảo sát phân tích

và thống kê di tích; Lập hồ sơ khoa học di tích; Làm sổ kiểm kê, sổ danh mục, lập phiếu tra cứu hồ sơ di tích Theo số liệu tính đến năm 2012 Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã tiến hành nghiên cứu và thống kê được trên 30 di tích trên địa bàn tỉnh Lào Cai, trong đó có 19 di tích đã có báo cáo khảo sát di tích, lý lịch di tích, ảnh chụp và các bản vẽ kỹ thuật liên quan đến di tích

Trang 24

Đặc biệt đối với di tích Bãi đá cổ Sa Pa, Bảo tàng tỉnh Lào Cai tiến hành dập lại tất cả các kí tự trên bãi đá cổ để làm tư liệu cho công tác nghiên cứu, hiện nay một số bản dập tiêu biểu được trưng bày trong nhà trưng bày khu trạm khắc Đá cổ Sa Pa Điều này góp phần vào việc giáo dục và phổ biến

tri thức khoa học tới người dân cũng như khách du lịch đến với vùng đất này

Bảo tàng cũng tiến hành làm thủ tục và hồ sơ để xếp hạng các di tích có giá trị tiêu biểu Tính đến năm 2012 toàn tỉnh có 5 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 13 di tích cấp tỉnh với đa dạng loại hình: di tích kiến trúc nghệ thuật, căn cứ địa cách mạng, địa điểm khảo cổ, cảnh quan thiên nhiên Những di tích tiểu biểu có giá trị trong phạm vi địa phương như: Đền Thượng, Đền Bảo

Hà, Dinh Hoàng A Tưởng, Khu du kích Gia Lan

Bảo tàng tỉnh Lào Cai là cơ quan trực tiếp quản lý các di tích trên địa bàn tỉnh, không chỉ có nhiệm vụ là kiểm kê, xếp hạng di tích mà còn có nhiệm

vụ tham mưu cho Sở Văn hóa để xây dựng các kế hoạch, dự án về tu bổ, tôn tạo di tích Nhìn chung, các hoạt động đối với di tích được bảo tàng chú trọng

và đầu tư, hoạt động này sẽ được đẩy mạnh hơn nữa trong tương lai

1.2 Sưu tập và vai trò của sưu tập hiện vật bảo tàng

1.2.1 Khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng

Bảo tàng là nơi bảo tồn những giá trị vật chất và giá trị tinh thần, các hiện vật mà con người lưu giữ được trong các bảo tàng chính là những hiện vật lịch sử, những căn cứ xác thực để nghiên cứu, tìm hiểu về thời đại quá khứcủa lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội Khi quan tâm đến hiện vật bảo tàng các chuyên gia, các nhà Bảo tàng học đã đưa ra một số khái niệm sau:

Trong cuốn Bảo tàng học của hai giáo sư Cộng hòa Dân chủ Đức và

Liên Xô viết: “Hiện vật bảo tàng là hiện vật mang giá trị bảo tàng được lấy

ra từ thế giới đồ vật trong hiện thực khách quan, nó được sắp xếp vào các sưu tập bảo tàng để tổ chức việc bảo quản và sử dụng thuận tiện, lâu dài Hiện vật bảo tàng là vật mang thông tin xã hội hoặc thông tin khoa học, nó là

Trang 25

nguồn sử liệu quan trọng cung cấp những tri thức cần thiết về tự nhiên, xã hội

và về con người cho những ai tiếp cận với nó Hiện vật bảo tàng nào cũng chứa đựng những giá trị lịch sử văn hóa nhất định, vì thế nó là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc”.[10,tr.151]

Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của bảo tàng, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhận thức, tập thể giảng viên khoa Bảo tàng, bộ môn

Bảo tàng học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã nêu định nghĩa: “Hiện vật

bảo tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính cho nhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng những hiện vật về thế giới tự nhiên xung quanh ta, bản thân

nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó trong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàng được sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học” [27, tr.81]

Như vậy, có thể khẳng định hiện vật bảo tàng mang giá trị bảo tàng và

có vai trò to lớn đối với sự ra đời phát triển của thiết chế văn hóa này Để hiện vật bảo tàng thể hiện rõ vai trò và giá trị của nó trong bảo tàng thì cần được đặt trong mối quan hệ gắn bó với “Sưu tập hiện vật bảo tàng”

Thuật ngữ sưu tập được bắt nguồn từ tiếng La tinh là collectio, tiếng Anh là collection Trong cuốn Đại bách khoa thư của Liên Xô đã giải thích thuật ngữ sưu tập là “sự tập hợp có hệ thống một số lượng hiện vật (cùng loại hoặc liên kết với nhau bởi nét chung của chủ đề)” [1, tr.42]

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” sưu tập được giải thích theo hai nghĩa: Nghĩa 1: Tìm kiếm và tập hợp lại

Nghĩa 2: Tập hợp những cái đã sưu tầm được theo hệ thống [20, tr.880]

Như vậy, sưu tập có thể được hiểu là sự tập hợp có hệ thống những đối tượng cùng loại bởi những nét chung của chủ đề nhằm phục vụ cho mục đích

Trang 26

giáo dục, giải trí và sử dụng Thuật ngữ sưu tập cũng được sử dụng trong lĩnh vực khoa học bảo tàng, nhằm để chỉ các sưu tập hiện vật bảo tàng

Khi nghiên cứu về sưu tập hiện vật bảo tàng , các chuyên gia Bảo tàng

học của Cộng hòa liên bang Nga đã viết: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn

bộ những hiện vật bảo tàng cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kể mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay văn hóa”.[12,tr.235]

Nghiên cứu về vấn đề này, các nhà Bảo tàng học ở Việt Nam đã đưa ra

khái niệm như sau: “sưu tập hiện vật bảo tàng hay sưu tập cổ vật là một tập

hợp những hiện vật bảo tàng có liên quan đến một hoặc vài dấu hiệu chung

về hình thức, chất liệu, nội dung, có tầm quan trọng và giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và được sắp xếp, nghiên cứu có hệ thống và tạo thành một bộ tương đối hoàn chỉnh”.[1,tr.37]

Luật Di sản văn hóa của Việt Nam cũng khẳng định: “Sưu tập hiện vật

là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể được thu thập, gìn giữ sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung

về hình thức, nội dung, chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên

và xã hội” [15, tr.31]

Như vậy, các khái niệm trên đều khẳng định nội dung, yếu tố quan trọng của một sưu tập hiện vật, đó là:

- Đối tượng tập hợp thành sưu tập phải là các hiện vật bảo tàng

- Chúng có cùng một hay nhiều dấu hiệu chung (hình thức, nội dung, chất liệu )

- Đang được lưu giữ, bảo quản trong bảo tàng

- Cùng phản ánh về một vấn đề nào đó

- Đối tượng được lựa chọn để xây dựng sưu tập không chỉ những di sản văn hóa vật thể mà cả những di sản văn hóa phi vật thể (theo Luật Di sản văn hóa)

Trang 27

Hiện vật bảo tàng “vận động” biệt lập và riêng lẻ không thể phát huy

tác dụng nhiều mặt bằng “vận động” trong sưu tập dù xem xét ở khía cạnh

nào, vì thế vai trò của sưu tập ngày càng được khẳng định trong bảo tàng, một

thiết chế văn hóa khoa học và giáo dục quan trọng Bởi sưu tập là cơ sở, nền

tảng quyết định quá trình phát triển của bảo tàng và tạo nên sắc thái riêng,

khẳng định giá trị và vai trò xã hội của bảo tàng

1.2.2 Vai trò của sưu tập hiện vật đối với các hoạt động bảo tàng

Sưu tập hiện vật bảo tàng có giá trị lớn, bởi khả năng cung cấp thông

tin tập trung, nhanh, chính xác và phong phú từ hiện vật bảo tàng Vì thế mà

sưu tập hiện vật có vai trò đối với sự hình thành bảo tàng, không những vậy

sưu tập hiện vật bảo tàng còn là tiền đề cho toàn bộ hoạt động của bảo tàng

Nó khẳng định vị thế, vai trò và thương hiệu của bảo tàng và tạo nên bản sắc

riêng mà những bảo tàng khác không có được Thực tế cũng cho thấy rằng các

bảo tàng trên thế giới đều xuất phát từ các sưu tập như Bảo tàng Louvre

(Pháp), Bảo tàng quốc gia Anh (British museum)…Ở nước ta, vấn đề sưu tập

cũng đang được quan tâm, xây dựng tại các bảo tàng Ngoài ra, đối với từng

hoạt động bảo tàng, sưu tập hiện vật có vai trò to lớn góp phần định hướng

cho các hoạt động nghiệp vụ đạt được mục đích cuối cùng là giáo dục công

chúng, làm cho bảo tàng phát triển bền vững

- Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học:

Sưu tập hiện vật cung cấp đầy đủ thông tin và chi tiết về các mặt văn

hóa, khoa học lịch sử từ hiện vật bảo tàng Hoạt động nghiên cứu có tác dụng

khai thác các giá trị chứa trong sưu tập Đồng thời sưu tập là cơ sở để các nhà

nghiên cứu bổ sung những hiện vật còn thiếu, chưa đầy đủ, làm cho sưu tập

kiện toàn, hoàn thiện

- Đối với hoạt động sưu tầm:

Hoạt động sưu tầm và sưu tập có mối quan hệ hai chiều gắn bó với

nhau nhằm làm cho kho bảo tàng ngày càng phong phú và có chất lượng cao

Trang 28

Xây dựng sưu tập là một quá trình phấn đấu để đạt tới sự tập hợp hoàn chỉnh về số lượng hiện vật trong khả năng có thể Khởi đầu từ hoạt động sưu tầm, hiện vật được đem về bảo tàng để chọn lựa, lập thành sưu tập Khi sưu tập ra đời, bảo tàng sẽ phát hiện sự thiếu hụt những hiện vật cần có trong sưu tập thì bảo tàng sẽ đưa đối tượng cần sưu tầm ấy vào trong kế hoạch hoạt động để tiếp tục sưu tầm nhằm đưa về bảo tàng những hiện vật cần có ấy bổ sung vào sưu tập, làm cho sưu tập phong phú và kho bảo tàng ngày càng có chất lượng cao Sự phong phú của sưu tập lại tạo ra những nhận thức mới tác động tới hoạt động sưu tầm Như vậy giữa sưu tầm và sưu tập có mối quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ

- Đối với hoạt động kiểm kê, bảo quản:

Sưu tập bao gồm những hiện vật đã được đăng kí trong sổ kiểm kê bước đầu Do đặc điểm ra đời của các bảo tàng ở Việt Nam, nhìn chung các hiện vật đã được đăng kí trong Sổ kiểm kê bước đầu của các bảo tàng, lý lịch,

hồ sơ, biên bản giao nhận được ghi chép sơ sài, thiếu thông tin Bên cạnh đó, bảo tàng nào cũng có một số lượng hiện vật lớn chưa được đăng kí trong Sổ kiểm kê bước đầu

Trong quá trình tiến hành xây dựng sưu tập, kết quả sơ chọn và phân loại hồ sơ hiện vật giúp bảo tàng nhìn nhận công tác kho một cách toàn diện

và chính xác, kết quả nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện hồ sơ hiện vật sẽ làm tăng thêm số lượng hiện vật được kiểm kê và góp phần hiệu quả vào việc kiện toàn, nâng cao chất lượng khoa học của kho bảo tàng

- Đối với hoạt động trưng bày:

Sưu tập có vai trò và giá trị đặc biệt đối với hoạt động trưng bày của bảo tàng Kho bảo tàng được tạo thành bởi các sưu tập sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng hoặc chỉnh lý các phần trưng bày và triển lãm của bảo tàng, giúp cho bảo tàng luôn tìm kiếm, đổi mới các đề tài trưng bày chuyên đề và trưng bày lưu động để phục vụ công chúng Nhiều phương pháp trưng bày xuất hiện

Trang 29

trong các bảo tàng như: phương pháp trưng bày cảnh tượng lịch sử, phương pháp trưng bày sưu tập đời sống thực, phương pháp trưng bày tổng hợp Những phương pháp trưng bày hiện đại chỉ có thể thực hiện được khi đã

có sưu tập hiện vật Bởi lẽ các hiện vật riêng lẻ không thể đáp ứng được sự đòi hỏi biểu hiện của các phương pháp đó Mặt khác, khi kho bảo tàng đã hình thành các sưu tập, chính các sưu tập đó sẽ giúp cho cán bộ bảo tàng có những ý tưởng mới để sáng tạo ra các phương pháp giải pháp mĩ thuật trưng bày mới thích hợp

- Đối với hoạt động giáo dục:

Hiện vật bảo tàng là công cụ của hoạt động giáo dục, đối tượng của hoạt động giáo dục là công chúng Sưu tập sẽ làm các công cụ tập trung và được thẩm định bước đầu, thông tin được cung cấp cần thiết và chính xác, nhanh chóng phục vụ cho hoạt động giáo dục Thông qua các hình thức hoạt động giáo dục, sưu tập được phát huy tác dụng phục vụ việc phổ biến tri thức, nhằm đem lại hiệu quả cuối cùng là giáo dục con người thông qua hiện vật, sưu tập hiện vật

Ngoài các vai trò, tác dụng cơ bản trên sưu tập hiện vật còn có tác dụng nhiều mặt tới các hoạt động khác của bảo tàng như: liên kết, phục vụ khai thác kho, bảo quản, lưu giữ thông tin bằng kĩ thuật tin học

1.3 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Hiện nay, kho cơ sở của Bảo tàng tỉnh Lào Cai có tổng số 10.536 hiện vật, tài liệu, phim ảnh Đó là những tài liệu hiện vật những di sản văn hóa lịch

sử tự nhiên và xã hội của địa phương, mỗi sưu tập gắn với những đặc trưng của địa phương, là bằng chứng sinh động giới thiệu với người dân trong nước

và khách nước ngoài về mẫu vật tự nhiên, đặc điểm tự nhiên ở địa phương, nét sinh hoạt văn hóa của dân tộc, sắc thái văn hóa của từng tộc người trong khu vực Lào Cai, các sự kiện lịch sử đã diễn ra ở địa phương

Trang 30

Kể từ khi Bảo tàng ra đời, công tác kho cũng được quan tâm đúng mức

và ngày càng trở nên quan trọng với chức năng tổ chức kiểm kê, bảo quản, xây dựng hồ sơ, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hiện vật Kho cơ sở cũng tiến hành phân loại, xây dựng nhiều sưu tập hiện vật liên quan đến đặc trưng văn hóa tỉnh Lào Cai, bảo đảm các sưu tập đó phù hợp với loại hình bảo tàng tỉnh, thành phố

Trong công tác xây dựng sưu tập, hiện nay Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã bước đầu tiến hành xây dựng 10 bộ sưu tập theo các chủ đề, chuyên đề, niên đại, chất liệu, loại hình Các sưu tập tiêu biểu được hình thành như:

- Sưu tập Trống Đồng

- Sưu tập sách cổ của người Dao

- Sưu tập tranh thờ cổ của người Giáy

- Sưu tập trống của người Dao đỏ

- Sưu tập nhạc cụ truyền thống của dân tộc H’Mông

- Sưu tập đá Sơn Vi

- Sưu tập trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số tại Lào Cai

Do đặc thù riêng mà các tài liệu hiện vật của Bảo tàng tỉnh Lào Cai không được hình thành từ các sưu tập ban đầu mà hình thành từ nhu cầu phục

vụ chính trị: Các tài liệu hiện vật hiện đang lưu giữ tại bảo tàng là kết quả của nhiều cuộc trưng bày, triển lãm, nhiều cuộc vận động đóng góp khác nhau Vì vậy mà sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu các cán bộ kho cơ sở của bảo tàng đã quan tâm tới vấn đề xây dựng sưu tập

Nhờ sự hình thành các bộ sưu tập mà bảo tàng có cơ sở để quản lý, kiện toàn hồ sơ, sổ sách cũng như định hướng và xây dựng kế hoạch để tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm bổ sung hiện vật để các sưu tập được hoàn chỉnh

Trang 31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ SƯU TẬP TRANH THỜ CỦA DÂN TỘC GIÁY ĐANG LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG TỈNH LÀO CAI

2.1 Vài nét về tín ngưỡng của dân tộc Giáy

Tôn giáo tín ngưỡng tồn tại trong cuộc sống con người nhưng cách thể hiện các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng ở mỗi người, mỗi cộng đồng lại khác nhau nó gây thành một nếp sống xã hội và tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp

về lịch sử, văn hóa, đạo đức

Theo GS Ngô Đức Thịnh: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào

cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng” đối lập với cái “trần tục” hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm [24,tr.16]

Dân tộc Giáy và nhiều dân tộc khác cũng có đời sống tâm linh riêng, họ

có niềm tin vào thế giới thần linh và được thể hiện bằng nhiều hình thức như cầu cúng, lập bàn thờ, sùng bái Đặc biệt trong tín ngưỡng của người Giáy quan trọng nhất là thờ cúng tổ tiên và cúng thần Trong các gia đình người Giáy không thể thiếu bàn thờ tổ tiên, bởi họ quan niệm: Cây phải có cội, con người phải có cha mẹ, dòng họ, quê hương Vì thế, bàn thờ là nơi linh thiêng,

là tổ tiên, nguồn gốc của dòng họ và được đặt ở gian giữa nhà

Người Giáy thờ thiên thần chứ không thờ nhân thần trong đó có 2 loại thần là “Thú Tý” – Thổ địa; “Srú Pướng” và “Đong Xía” – Thần rừng Vào ngày 6/6 dân bản để bát hương ở gốc cây to hoặc một hòn đá to nào đó gần làng Nơi đặt bát hương không được chặt phá cây hay khai phá làm ruộng nương hoặc làm bất kỳ việc gì khác, tuyệt đối không được làm những điều ô

uế nơi thờ thần nên gọi là rừng cấm hay “Đong Xía” Trong một năm, người

Trang 32

mới tháng 9, đặc biệt nhất là lễ hội “Roóng Poọc” vào ngày Thìn tháng Giêng Tất cả những lễ tết trên được tổ chức đều nhằm mục đích: “Cầu cho gia đình mạnh khỏe, no ấm; Cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; Con người và gia súc không bị bệnh dịch ”

Tín ngưỡng của người Giáy mang những nét khác biệt tạo nên đặc trưng trong đời sống của họ được thể hiện qua hoạt động cầu cúng Mỗi dịp lễ đều phải mời thầy Tào đến nhà để làm lễ, chuẩn bị hệ thống đồ thờ, lễ vật như xôi, lợn, gà, áo, mũ, chuông, vàng mã, không thể thiếu đối với một nghi thức nào đó chính là tranh thờ.Tranh thờ có vị trí và vai trò rất quan trọng trong tín ngưỡng thần linh, tiết lễ mùa màng và giỗ chạp húy kỵ của người Giáy Mỗi một lễ lại sử dụng những tranh thờ khác nhau Gia đình người Giáy có hệ thống tranh thờ rất phong phú với nhiều chủ đề, loại hình tạo nên nét đặc sắc trong đời sống tâm linh Tranh thờ luôn gắn liền với thầy Tào, là bảo vật, là tài sản riêng của mỗi thầy Tào, chỉ có thầy Tào được sử dụng và treo lên nhà gia chủ mỗi khi hành lễ xong

Theo người Giáy ở Bát Xát thì một lễ cúng mặn để cầu sức khỏe, may mắn hay cúng xúi quẩy cho gia đình thì cần ít nhất 2 thầy Cúng với 50 bài cúng Khi bắt đầu nghi lễ thầy Cúng giở tranh ra xin thần cho phép (những tranh này gọi là tranh chủ), đến tranh giữ đàn tế (thường là 4 tranh với vị thần

dữ dằn tay cầm đao hoặc gươm) Khi hành lễ thầy cúng vừa đọc bài cúng vừa cầm tranh xin thần linh, nhờ thần linh thay mặt con người gửi đến Trời – Đất những mong muốn, điều ước của gia chủ Kết thúc lễ thầy cúng làm lễ tạ ơn thần linh, treo tranh lên vách nhà của gia đình đó

Còn trong lễ tạ mả của người Giáy thì sau khi hành lễ xong, gia đình mang tranh đi thả ở những nơi con sông lớn hoặc nguồn nước của làng, vừa thả vừa xin thần linh những điều mình mong muốn

Với nhiều nghi lễ khác trong tín ngưỡng của người Giáy họ sử dụng tranh với mục đích và nội dung khác nhau Họ cho rằng nếu trong một lễ nào

Trang 33

đó mà không có tranh thờ sẽ không được tiến hành và cũng không may mắn đối với họ, vì thế tranh thờ được treo kín trên vách nhà của người Giáy Tranh thờ gắn liền với phong tục tập quán, các quan niệm về tín ngưỡng và nhận thức về thế giới của dân tộc Giáy Tranh thờ rất linh thiêng và quan trọng được các thầy Tào gìn giữ cẩn thận và được người dân Giáy bảo vệ như thứ quý giá Tranh được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu thầy Tào chết

đi thì truyền lại tranh thiêng cho con cháu nối nghiệp và cứ như vậy tranh thờ của người Giáy được lưu truyền và tồn tại cùng với thời gian cho đến tận ngày nay

2.2 Quá trình nghiên cứu, sưu tầm tranh thờ của người Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Bảo tàng tỉnh Lào Cai thành lập từ ngày 5 tháng 8 năm 1992, sau 5 năm hoạt động sưu tầm của bảo tàng mới chỉ có trên 500 tài liệu hiện vật Số lượng này là quá ít cho một bảo tàng cấp tỉnh, thành phố Vì thế mà, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đẩy mạnh công tác sưu tầm các tài liệu hiện vật liên quan đến tính chất, đặc thù của địa phương như: mẫu địa chất, khoáng sản, đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại Lào Cai cùng với những tri thức dân gian mà dân tộc lưu giữ để đưa về bảo tàng phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ đáp ứng các chức năng xã hội của bảo tàng

Ban đầu, bảo tàng triển khai và xây dựng kế hoạch nghiên cứu phổ biến đến nhân viên trong bảo tàng Sau đó, bảo tàng tìm hiểu, nghiên cứu những cuốn sách viết về dân tộc, những tư liệu về tín ngưỡng tôn giáo, những sách báo, tạp chí có liên quan đến vấn đề tự nhiên và con người Lào Cai, tìm hiểu bản đồ và khu vực, vị trí tập trung nhiều khoáng sản, nhiều mẫu vật, nhiều dân tộc thiểu số sinh sống để cho vào danh sách những nơi cần sưu tầm Đầu tiên, Bảo tàng tỉnh Lào Cai lập kế hoạch sưu tầm các tài liệu hiện vật là: Công cụ sản xuất của các dân tộc vùng núi cao; các nhạc cụ truyền thống của dân tộc H’Mông, Dao, Giáy ; các nghi thức nghi lễ dân gian truyền thống

Trang 34

Sau khi kế hoạch đã hoàn thành bảo tàng triển khai cán bộ đi điền dã, khảo sát thực tế để tiến hành sưu tầm, sàng lọc, đối chiếu, so sánh, phát hiện

và đưa về bảo tàng những hiện vật cần cho hoạt động của bảo tàng

Để quyết tâm sưu tầm hiện vật bảo tàng nên toàn thể cán bộ bảo tàng thậm chí cả Giám đốc bảo tàng là Trần Hữu Sơn cũng trực tiếp tham gia vào việc sưu tầm Trong một chuyến đi thực tế khảo sát về tộc người ở Cốc San - Bát Xát của tỉnh Lào Cai, đây là khu vực tập trung đông dân tộc thiểu số và những giá trị truyền thống của dân tộc vẫn còn được gìn giữ khá nguyên vẹn Ông Trần Hữu Sơn trong quá trình nghiên cứu đã nghỉ lại nhà của một dân tộc Giáy tên là Phan Văn Nhiêu, ông thấy trong gia đình ông Nhiêu có rất nhiều tranh treo trên vách nhà, trên bàn thờ với những hình vẽ khác nhau Ông Sơn không hiểu nên hỏi chủ nhà và được biết nội dung của những bức tranh ấy và mục đích người Giáy sử dụng những bức tranh thờ trong đời sống tín ngưỡng của họ Sau đó, ông Sơn được ông Nhiêu cho xem quyển sách cúng với hệ thống chữ giống như chữ Nôm cổ

Về bảo tàng, ông Trần Hữu Sơn đã nghiên cứu lại hệ thống những tranh thờ, đọc những quyển sách có liên quan về tín ngưỡng người Giáy Ông phát hiện thêm nhiều giá trị trong những tranh thờ của dân tộc này, có những tranh còn là tranh cổ, có niên đại vài trăm năm Không chỉ có ở dân tộc này mà còn

ở các dân tộc khác như Dao, Tày, Nùng cũng có hệ thống tranh thờ tương tự

Sau quá trình nghiên cứu tìm hiểu Giám đốc Bảo tàng Lào Cai quyết định sưu tầm những tài liệu hiện vật tranh thờ để đưa về bảo tàng gìn giữ, bảo quản và phát huy giá trị của nó, cũng là dịp để biểu trưng, giới thiệu tới mọi người nguồn di sản quý giá của dân tộc vùng cao chưa được biết tới

Quá trình sưu tầm tranh thờ được tiến hành thông qua các hoạt động: Bảo tàng tổ chức nói chuyện với các nhà nghiên cứu, nhà chuyên môn

về chúng và lấy ý kiến để đi sưu tầm.Nghiên cứu kĩ lịch sử tộc người Giáy, sự

ra đời của tranh thờ, mục đích, ý nghĩa của tranh, giá trị của tranh Bảo tàng

cử cán bộ sưu tầm lập kế hoạch sưu tầm các tranh thờ và áp dụng các phương

Trang 35

pháp khảo sát tổng hợp, tiến hành sưu tầm và đưa về bảo tàng khá nhiều tranh

từ gia đình người Giáy và đặc biệt là những tranh từ các thầy Tào; Cán bộ khảo sát thực tế tiếp cận trực tiếp hiện vật; Đánh giá sơ bộ để xác định giá trị hiện vật và lập biên bản bổ sung cho các tài liệu hiện vật đã sưu tầm được; Bảo tàng đến khảo sát thực tế tại xã Cốc San – Bát Xát Giám đốc Trần Hữu Sơn đã được ông Nhiêu tặng cho một số tranh cúng, và sau này những tranh

ấy được đưa hết về bảo tàng Hiện nay, sưu tầm của bảo tàng vẫn chưa đủ số lượng các tranh trong kế hoạch vì có những tranh gia đình dân tộc Giáy họ muốn lưu giữ như là vật kỉ niệm, Bảo tàng cũng đã thuyết phục và trao đổi với họ bằng những vật khác cũng có giá trị tương tự, Bảo tàng tiếp tục sưu tầm về những tranh khác của người Giáy Để bổ sung hiện vật tranh thờ, bảo tàng đưa thông tin trên các kênh địa phương để phổ biến tới người dân những giá trị của tranh thờ và vấn đề cần phải bảo tồn, từ đó bảo tàng cũng được một

số thầy Tào hiến tặng tranh thờ của dân tộc mình

Hiện nay Bảo tàng tỉnh Lào Cai không chỉ có sưu tập tranh thờ của người Giáy mà có cả sưu tập tranh thờ của người Dao và một số sách cúng của các thầy Tào tại Lào Cai

Tuy sưu tập chưa hoàn chỉnh nhưng Bảo tàng cũng đang nỗ lực để hoàn thiện bộ sưu tập cho đầy đủ hiện vật

Từ khi Bảo tàng tỉnh Lào Cai sưu tầm được tranh thờ của dân tộc Giáy thì các khâu công tác nghiệp vụ của bảo tàng được hực hiện tốt hơn và tranh thờ của người Giáy cũng góp một phần lớn trong việc phát huy tác dụng của bảo tàng

2.3 Sưu tập tranh thờ của dân tộc Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Kể từ khi ra đời cho tới nay, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã luôn coi việc xây dựng sưu tập hiện vật gốc có giá trị bảo tàng là nhiệm vụ hàng đầu Tuy nhiên

do đặc thù riêng, các tài liệu hiện vật của bảo tàng không được hình thành từ các sưu tập ban đầu, mà hình thành từ nhu cầu phục vụ chính trị: Các tài liệu

Trang 36

hiện vật đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai là kết quả của quá trình sưu tầm, trưng bày, triển lãm và nhiều cuộc vận động đóng góp tài liệu hiện vật khác nhau Sưu tập tranh thờ của người Giáy cũng mới được hình thành trong kho cơ sở của bảo tàng bởi sự quan tâm, chú trọng đến công tác xây dựng sưu tập của cán bộ phòng kiểm kê, bảo quản của Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Hiện nay, sưu tập tranh thờ của người Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

có số lượng là 27 tranh, bao gồm những tranh có nội dung và chủ đề khác nhau Căn cứ vào nội dung tranh có thể phân thành các loại:

+ Tranh Thập điện Diêm Vương (mang yếu tố của Phật giáo): 6 tranh + Tranh mang yếu tố Đạo giáo: 15 tranh

+ Tranh phản ánh tín ngưỡng bản địa: 6 tranh

- Đặc điểm của tranh thờ người Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

Tranh thờ của người Giáy tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai có một nét rất riêng, rất khác biệt so với những dòng tranh thờ như tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng ở miền xuôi và tranh thờ của một số dân tộc như Dao, Tày, Cao Lan Tranh của dân tộc Giáy chủ yếu được chế tạo từ các nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên, dễ kiếm, quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày, đa dạng và phong phú về số lượng Các nguyên liệu thường dùng như: cây chàm, cây gai, thảo mộc , Tuy nhiên tùy vào việc tạo ra tranh thờ nào mà có những yêu cầu riêng khi tiến hành vẽ như độ đậm nhạt của màu, sử dụng màu nào cho phù hợp nội dung tranh

Theo các thầy Tào ở xã Cốc San huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai thì trong gia đình người Giáy nào cũng có rất nhiều giấy dó được chuẩn bị trước Những giấy này được mua từ miền xuôi hay đặt những người thợ chuyên vẽ tranh Hàng Trống, Kim Hoàng ở Hà Nội Khi sắp tới lễ cầu cúng, gia chủ nhờ thầy Tào hoặc người am hiểu về tranh lên rừng để tìm cây cỏ về chế tạo màu vẽ: cách pha chế màu bằng vôi và vỏ cây, lá cây rừng như cây chàm, cây gai,

Trang 37

cây trấu tán nhuyễn vắt lấy nước để tạo thành hợp chất, đem phơi khô rồi trước khi sử dụng thêm ít nước tạo thành dạng bột Màu đen của cây gai, màu xanh của cây chàm, màu đỏ của thần sa, chu sa kết hợp với nhựa thông là chất kết dính tạo nên hệ thống tranh thờ đặc sắc Đây là một loại chất liệu riêng biệt không bạc màu theo thời gian, vì thế mà có những tranh có niên đại tới vài trăm năm mà vẫn tươi tắn Nguyên liệu vẽ tranh của người Giáy tạo ra màu sắc tự nhiên, trang trọng mang đậm tính dân tộc và tính chất địa phương

Cho đến nay, không còn tư liệu ghi chép thành văn về thời điểm hình thành tranh thờ nhưng do nhu cầu sử dụng tranh trong cầu cúng mà người dân Giáy đã tạo ra những nguyên liệu ấy, cùng với sự phong phú của tự nhiên nơi núi rừng đã ban tặng cho con người những nguyên vật liệu sẵn có con người đã dùng

óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo để tạo ra tranh thờ của riêng dân tộc mình

Phương pháp chính để tạo ra các loại tranh là phương pháp thủ công Dụng cụ để vẽ tranh rất đơn giản, chỉ cần 1 cây bút lông, hộp đựng màu chế

ra là có thể vẽ tạo nên những tranh độc đáo Nhưng để sáng tạo ra tranh không

hề đơn giản mà trải qua quá trình sáng tạo và lao động vất vả với những kĩ thuật tinh xảo Chính vì vậy mà tranh thờ không chỉ thể hiện đời sống tinh thần phong phú mà qua việc tìm hiểu ẩn sâu bên trong mỗi tranh là cả một quá trình lao động nghệ thuật của họa công, là một nền văn hóa phong phú và

đa dạng tồn tại song song với sự hình thành và phát triển của dân tộc Giáy

- Kĩ thuật vẽ tranh:

Người Giáy cũng như một số dân tộc khác sống ở miền núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao, PaDí đều có hệ thống tranh thờ phục vụ tín ngưỡng Tranh thờ là bảo vật thiêng liêng, tài sản riêng của mỗi thầy cúng Tranh được thể hiện trên giấy và vải Tranh trên giấy thì có cắt giấy trổ hình hoặc vẽ hình trên giấy Còn tranh vẽ trên vải có thể là vẽ hoặc thêu bằng chỉ màu Giấy vẽ tranh là giấy dó mềm mại mà dai bền và giữ được màu Vải được dùng để vẽ tranh thờ là loại vải dệt từ sợi bông, tuy thô dày nhưng bền chắc

Trang 38

Tranh thờ của người Giáy thể hiện sự khéo léo của họa công bản địa vẽ ra nên được xếp vào dòng tranh nghệ thuật dân gian Các tranh được vẽ với nét bút khá trau chuốt, kỹ lưỡng Chính điều đó tạo nên tính độc đáo của dòng tranh thờ người Giáy Một bộ tranh thường gồm vài chục bức, thợ vẽ được mời về nhà, được gia chủ nuôi ăn và vẽ trong vài tháng mới hoàn thành Khi bắt tay vào vẽ gia chủ thường làm lễ ra mắt: Lễ này là để xin phép tổ tiên và thần linh được phép khai bút vẽ tranh, trong lễ ra mắt có đồ lễ là xôi và gà, thầy Tào cúng 1 bài cúng với nội dung xin phép thần để vẽ tranh được thuận lợi Sau đó, gia chủ lập 1 gian riêng, biệt lập với nữ giới, chỉ có nam giới ra vào phục vụ thợ vẽ tranh Trong khi

vẽ, người thợ đặt trước tranh một tấm gương để thu thần chủ của tranh vào trú ngụ trong gương Sau khi vẽ xong tranh, đem gương đó đặt trước tranh để thần chủ ở tranh mẫu nhập vào trú ngụ trong tranh như thế mới trở thành tranh thiêng.Tranh

vẽ hoàn thành thì cũng làm một lễ gọi là báo cáo với tổ tiên là đã vẽ xong: Lễ này chỉ cần thầy Tào cúng 1 bài cúng với những lời cảm tạ thần đã cho âm binh thần tướng vào trú ngụ trong tranh Nếu không làm đủ những nghi thức này thì năm đó gia chủ không gặp may và bị âm binh thần tướng phá hoại cuộc sống bình yên của mình Hiện nay số họa công chuyên vẽ tranh thờ còn sót lại rất ít Những mẫu vẽ truyền thống trước kia chỉ cha truyền con nối nay đang mai một dần, phần vì kỹ thuật vẽ theo lối cổ khó nên ít người theo được

Sưu tập tranh thờ của người Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai hiện nay mới chỉ có tranh vẽ trên giấy, còn tranh trên vải vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm để đưa về bảo tàng làm phong phú thêm cho kho hiện vật và sưu tập hiện vật của bảo tàng

2.4 Đặc điểm loại hình trong tranh thờ của người Giáy đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lào Cai

2.4.1 Tranh Thập điện Diêm Vương

Trong tín ngưỡng của người Giáy, thầy Tào có vị trí và vai trò quan trọng - là người chủ trì các buổi hành lễ, người thay mặt gia chủ xin thần linh

Trang 39

những mong muốn và ước vọng: Thầy Tào là những người rất am tường chữ Hán, có người từng dịch sách Kinh phật ra tiếng của dân tộc mình để sử dụng trong các cuộc hành lễ ở địa phương Các thầy Tào luôn lấy triết lí đạo Nho làm đức, lấy tri thức âm dương ngũ hành làm trí, lấy triết lý Phật giáo khuyên răn người sống tránh ác, ăn ở nhân thiện Thầy Tào chiếm một vị trí quan trọng và có vai trò lớn trong việc tuyên truyền giáo lý, nhiều đồng bào dân tộc không biết chữ thì việc tuyên truyền qua nghệ thuật tạo hình là con đường ngắn mà hiệu quả, mọi người chỉ cần nhìn qua là cảm nhận được ngay Các thầy Tào đã sử dụng tranh về Thập điện Diêm Vương để thực hành nghi lễ đồng thời cũng khuyên răn con người sống thiện như triết lý của Phật giáo

Ở nước ta đề tài tranh Thập điện Diêm Vương hầu như ở dân tộc nào

có tranh thờ đều có tranh chủ đề này Nhưng ở mỗi dân tộc lại sáng tạo theo một đặc trưng riêng với nhiều chi tiết khác nhau Tuy nhiên vẫn có những nội dung: Ở mỗi tầng điện phân tách ra hai phần: nửa trên là Diêm Vương vận trang phục vua (vì là vua ở cõi âm) như một phán quan ngồi xét xử phía sau bàn, hai bên đầu bàn có các quan giúp việc, cảnh trang nghiêm như ở tòa án hoặc nơi công đường của các quan cai trị ở cõi trần Còn nửa dưới có các quỷ

sứ - nhiều kẻ đầu trâu mặt ngựa đang thi hành án, nhiều tội nhân bị tra tấn theo kiểu trung cổ rất man rợ như rút lưỡi, móc mắt, bỏ vào vạc dầu, dội nước đồng, ép cối, xe chèn Với sinh hoạt tôn giáo nó có một giá trị đạo đức rất tốt quanh chủ đề khuyến thiện trừng ác, khuyên răn mọi người phải sống tốt, tránh làm điều ác nếu không sẽ phạm vào luật nhân quả, khi chết sẽ bị trừng trị dưới địa ngục

Theo Kinh Địa tạng bản nguyện thì Thập điện là mười điện của Diêm Vương, gồm:

- Điện thứ nhất: Tần Quảng Vương

- Điện thứ hai: Sở Giang Vương (hay Sở Minh Vương)

- Điện thứ ba: Tống Đế Vương (hay Tống Minh Vương)

Trang 40

- Điện thứ tư: Ngũ Quan Vương (hay Ngũ Minh Vương)

- Điện thứ năm: Diêm La Vương

- Điện thứ sáu: Biện Thành Vương

- Điện thứ bảy: Thái Sơn Vương

- Điện thứ tám: Bình Đẳng Vương (hay Bình Chính Vương)

- Điện thứ chín: Đô Thị Vương

- Điện thứ mười: Chuyển Luân Vương

Theo quan niệm của Phật Giáo thì mọi người chết linh hồn đều phải qua mười điện này để các Diêm Vương xét hỏi công đức và tội lỗi, từ đấy mà định lượng sự thưởng phạt theo quả báo Các Diêm Vương lấy lẽ công bằng

để xét xử một cách sáng suốt nên còn được gọi là các Minh Vương

Trong tín ngưỡng dân gian của người Giáy họ quan niệm rằng thế giới

có ba tầng: tầng trời, tầng con người đang sống và tầng dưới đất (âm phủ) Người khi còn sống làm điều thiện không phạm tội thì khi chết đi được lên với tổ tiên ở trên trời – tầng được mô tả là đẹp đẽ, sung sướng, còn người làm điều ác thì bị trừng trị bị đẩy xuống âm ti, địa phủ Vì thế, khi làm ma cho người chết thầy Tào dùng tranh Thập điện cầu cúng, để linh hồn người chết trải qua mười cửa điện như một sự thử thách đó cũng là để khuyên răn người còn sống phải hướng thiện

Theo nhà nghiên cứu Cung Khắc Lược và Phan Ngọc Khuê thì: Cõi Diêm La có 10 vị vua cai quản, có nhiệm vụ và công việc khác nhau để xem xét người chết lúc còn sống trên thế gian đã phạm vào những tội lỗi gì mà có hình phạt thích đáng

+ Tần Quảng Vương - chuyên cầm sổ sống chết

+ Sở Giang Vương - coi Đẳng Hoạt địa ngục

+ Tống Đế Vương - coi Hắc Thằng đại địa ngục

+ Ngũ Quan Vương - coi Chúng Hiệp đại địa ngục

+ Diêm La Vương - coi Khiếu Hoán địa ngục

+ Biện Thành Vương - coi Đại Khiếu Hoán địa ngục

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1994), Sưu tập hiện vật bảo tàng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tập hiện vật bảo tàng
Tác giả: Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1994
4. Nguyễn Đăng Duy (2001), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
5. Đổi mới tiếp cận dân tộc học trong bảo tàng (2005), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tiếp cận dân tộc học trong bảo tàng
Tác giả: Đổi mới tiếp cận dân tộc học trong bảo tàng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
6. Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên), Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
7. Henri Maspero, Lê Diên (dịch), Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
8. Nguyễn Thị Huệ (2002), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Nguyễn Thị Huệ (2005), Lược sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2005
10. Nguyễn Thị Huệ (2008), Cơ sở bảo tàng học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở bảo tàng học
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
11. Nguyễn Thị Huệ (2011), Sưu tầm hiện vật bảo tàng, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tầm hiện vật bảo tàng
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
12. Kaulen M.E (2006), Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga, Cục Di sản văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga
Tác giả: Kaulen M.E
Năm: 2006
13. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo (2005), Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
14. Phan Ngọc Khuê (2001), Tranh Đạo giáo ở Bắc Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh Đạo giáo ở Bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc Khuê
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2001
15. Luật Di sản văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
16. Đặng Văn Lung, Hoàng Văn Trụ, Nguyễn Sông Thao (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Lung, Hoàng Văn Trụ, Nguyễn Sông Thao
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
17. Cung Khắc Lược, Phan Ngọc Khuê, Đỗ Đức (2006), Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh thờ các dân tộc thiểu số phía Bắc
Tác giả: Cung Khắc Lược, Phan Ngọc Khuê, Đỗ Đức
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
18. Nguyễn Thị Minh Lý (2004), Đại cương về cổ vật ở Việt Nam, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về cổ vật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Lý
Năm: 2004
19. Vi Hồng Nhân (2004), Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số từ một góc nhìn
Tác giả: Vi Hồng Nhân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
20. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
22. Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam (1990), Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Thắng (chủ biên), Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1990
23. Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Những hình ảnh trong sách cúng - Sưu tập tranh thờ của dân tộc giáy đang lưu giữ tại bảo tàng tỉnh lào cai
h ững hình ảnh trong sách cúng (Trang 88)
Một số hình ảnh về Bảo tàng tỉnh Lào - Sưu tập tranh thờ của dân tộc giáy đang lưu giữ tại bảo tàng tỉnh lào cai
t số hình ảnh về Bảo tàng tỉnh Lào (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm