Tuy nhiên, việc giữ gìn và phát triển kiến trúc nhà cửa truyền thống này còn một số hạn chế nhất định như: phát triển một cách tự phát, thiếu tính định hướng; nhiều giá trị văn hoá truyề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
… … o0o………
SỰ BIẾN ĐỔI NGÔI NHÀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở XÃ ĐẠI PHÚ, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS ĐINH THỊ VÂN CHI Sinh viên thực hiện : TRẦN MẠNH ĐẠT
Hà Nội – 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi còn được sự giúp đỡ của các thầy, cô trong khoa Văn hóa dân tộc Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu số – Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội, đặc biệt tôi em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS – TS Đinh Thị Vân Chi – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài nghiên cứu này
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban văn hóa xã Đại Phú, các cán bộ trong Ủy Ban Nhân Dân xã Đại Phú, đặc biệt là nhân dân các thôn Cây Thông, Dũng Dao, Hoa Lũng, Thái Sơn, Đồng Giếng, Hải Mô, Lũng Hoa, Hữu Vu trong xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu và nhiều thông tin quý giá trong quá trình khảo sát, thu thập tài liệu thực tế
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ hiểu biết và thời gian hoàn thành có hạn nên bài viết khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô và các bạn để cho bài báo cáo của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 5
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI CAO LAN VÀ NGÔI NHÀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở XÃ ĐẠI PHÚ, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 5
1.1 Đặc điểm tự nhiên – xã hội của xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 5
1.1.1 Vị trí địa lý 5
1.1.2 Khí hậu 6
1.1.3.Thủy văn 6
1.1.4 Nguồn tài nguyên 7
1.1.5.Giao thông 7
1.1.6.Thành phần dân tộc ở địa phương 8
1.2 Khái quát về người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 8
Trang 41.2.1 Nguồn gốc lịch sử và tộc danh Cao Lan 8
1.2.2 Địa bàn phân bố dân cư 10
1.2.3.Văn hóa vật chất 12
1.2.3.1 Nhà ở 12
1.2.3.2 Trang phục 12
1.2.3.3 Ăn uống, hút 13
1.2.4.Văn hóa tinh thần 13
1.2.4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng 13
1.2.4.2 Văn nghệ dân gian 14
1.3.Ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 15
1.3.1 Một số tập quán liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú 16
1.3.1.1 Cách tính tuổi cho gia chủ khi làm nhà 16
1.3.1.2 Chọn hướng nhà 18
1.3.1.3 Chọn đất và vật liệu làm nhà 19
1.3.1.4 Nhiệm vụ của các thành viên trong việc làm nhà 21
1.3.2 Kiểu dáng, thiết kế, kết cấu của ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 22 1.3.2.1 Kết cấu nhà vì kèo có 3 cột (nhà trâu đực – Làn tậc wài) 22
1.3.2.2 Kết cấu nhà vì kèo có 4 cột (nhà trâu cái – Làn mẻ wài) 24
1.3.3.Bố trí mặt bằng, không gian trong ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 26
1.3.3.1 Trong kiểu nhà vì kèo có 4 cột (nhà trâu cái – Làn mẻ wài) 27
1.3.3.2.Trong kiểu nhà vì kèo có 3 cột (nhà trâu đực – Làn tậc wài) 29
1.3.4 Những nghi lễ, kiêng kị liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 31 1.3.4.1 Những nghi lễ liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 32
Trang 51.3.4.2.Những kiêng kị liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 34
1.3.5 Những giá trị của ngôi nhà truyền thống 38
1.3.5.1 Giá trị văn hóa – xã hội 38
1.3.5.2 Giá trị tâm linh 39
CHƯƠNG 2 41
NGÔI NHÀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở XÃ ĐẠI PHÚ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 41
2.1 Sự biến đổi trong tập quán liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú trong giai đoạn hiện nay 41
2.1.1 Sự biến đổi trong cách tính tuổi làm nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 42 2.1.2 Sự biến đổi về hướng của ngôi nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 44
2.1.3 Sự biến đổi trong chọn đất và vật liệu làm nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 45
2.1.4 Sự biến đổi trong nhiệm vụ của các thành viên trong việc làm nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 47
2.2 Sự biến đổi trong kiểu dáng, kết cấu, thiết kế ngôi nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 48
2.2.1 Sự biến đổi trong kết cấu nhà nhà sàn truyền thống 49
2.2.2 Sự xuất hiện của tổ hợp dạng nhà chuyển tiếp 51
2.2.3 Sự xuất hiện phổ biến của nhà trệt 52
2.3 Sự biến đổi trong cách bố trí mặt bằng, không gian của ngôi nhà người Cao Lan ở xã Đại Phú 53
2.3.1 Cách bố trí mặt bằng, không gian nhà sàn hiện nay 53
2.3.2 Cách bố trí mặt bằng, không gian trong dạng nhà chuyển tiếp 55
2.3.3 Cách bố trí không gian trong ngôi nhà trệt 58
2.4 Sự biến đổi trong các kiêng kị liên quan đến ngôi nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú 60
Trang 62.4.1 Kiêng kị trong chọn vật liệu 60
2.4.2 Kiêng kị trong khi dựng nhà 61
2.4.3 Kiêng kị trong sinh hoạt của các thành viên trong gia đình và đối với khách 62
2.5 Sự biến đổi giá trị ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú 63
2.5.1 Sự biến đổi giá trị văn hóa – xã hội của ngôi nhà truyền thống 63
2.5.2 Sự biến đổi trong giá trị tâm linh của ngôi nhà truyền thống 64
CHƯƠNG 3 67
NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGÔI NHÀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CAO LAN Ở XÃ ĐẠI PHÚ, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 67
3.1 Nguyên nhân biến đổi ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 67
3.1.1 Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước 67
3.1.2 Sự phát triển kinh tế của các hộ gia đình 68
3.1.3 Sự thay đổi cơ cấu gia đình truyền thống 70
3.1.4 Sự thiếu sự quan tâm, quản lý đúng mức của chính quyền và ngành văn hóa địa phương 72
3.1.5 Sự thay đổi quan niệm về ngôi nhà truyền thống của người dân 73
3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú 74
3.2.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống nói chung và ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan nói riêng 74
3.2.1.1 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ đầu tư kinh phí cho việc xây dựng, phát triển các ngôi nhà truyền thống của các dân tộc thiểu số 76
3.2.1.2 Quy hoạch, đầu tư phát triển kinh tế địa phương trong tương quan giữ gìn phát triển văn hóa tộc người 76
Trang 73.2.1.3 Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa 77
3.2.2 Tổ chức bảo vệ và phục dựng những ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan tại xã Đại Phú 79
3.2.2.1 Chính sách bảo vệ những ngôi nhà truyền thống còn hiện hữu tại xã Đại Phú 79
3.2.2.3 Chính quyền tỉnh, huyện đầu tư kinh phí để làm phim, tư liệu về ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan tại xã Đại Phú 80
3.2.2.4 Chính quyền và bảo tàng các cấp cần đầu tư để phục dựng lại ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan 80
3.2.3 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ người Cao Lan trong việc bảo vệ và phát triển ngôi nhà truyền thống tại xã Đại Phú 81
3.2.3.1 Thông qua những nghệ nhân, người già, thầy cúng 82
3.2.3.2 Tuyên truyền thông qua các buổi ngoại khóa của nhà trường tại địa phương 82
3.2.3.3 Thông qua các sự kiện, chương trình tổ chức tại địa phương 83
3.2.3.4 Thông qua ngành văn hóa địa phương 84
3.2.3.5 Thông qua đài phát thanh, truyền hình, báo chí của huyện, tỉnh 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc cùng chung sống trên khắp các vùng lãnh thổ, mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa đặc trưng tiêu biểu, tạo nên một bức tranh sinh động, rực rỡ, lấp lánh nhiều màu sắc trong sự thống nhất chung về văn hóa
Hiện nay, quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như hội nhập quốc tế
đã có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới văn hoá của các dân tộc thiểu
số Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Cao Lan tại Tuyên Quang
đã tạo nên nét văn hoá độc đáo cho riêng mình Tuy nhiên, hiện nay văn hoá của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang đang đứng trước nhiều thách thức, một
số giá trị văn hoá truyền thống có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất Sự giao lưu văn hóa, tiếp thu tràn lan, không có chọn lọc các yếu tố văn hoá của các dân tộc khác đã dần làm mất đi bản sắc riêng của mình, đặc biệt là đối với ngôi nhà truyền thống – một công trình kiến trúc mang đậm nét văn hóa tộc người
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng nền văn hoá
“tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương V
khoá VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, những năm gần đây việc khôi phục và gìn giữ ngôi nhà truyền thống của dân tộc Cao Lan đã bắt được chú trọng và đạt một số kết quả nhất định Tuy nhiên, việc giữ gìn và phát triển kiến trúc nhà cửa truyền thống này còn một số hạn chế nhất định như: phát triển một cách tự phát, thiếu tính định hướng; nhiều giá trị văn hoá truyền thống trong ngôi nhà có nguy cơ mai một dần; chính sách của các cấp chính quyền đối với việc phát triển kiến trúc nhà cửa truyền thống còn hạn chế…Thực tế biến đổi nhanh chóng đó đòi hỏi phải có những giải pháp quản
Trang 9lý Nhà nước phù hợp để giữ gìn và phát huy loại hình kiến trúc độc đáo này
Trước nhu cầu mang tính cấp thiết đó, tác giả mạnh dạn lựa chọn “Sự biến
đổi ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nhận thấy tầm quan trọng của văn hóa các dân tộc trong khối thống nhất dân tộc và những biến đổi trong tương quan của sự phát triển, dân tộc Cao
Lan đã là đối tượng của nhiều đề tài nghiên cứu: Chu Quang Trứ, Trở lại vấn
đề nguồn gốc lịch sử của người Cao Lan, Tạp chí Dân tộc, số 41/1963;
Khổng Diễn – Trần Bình – Đặng Thị Hoa – Đào Thụy Khê, Dân tộc Sán
Chay ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003; Lâm Quý, Văn hóa Cao Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004; Phù Ninh – Nguyễn Thịnh, Văn hóa truyền thống Cao Lan, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002; Nguyễn
Nam Tiến, Về nguồn gốc và quá trình di cư của người Cao Lan – Sán Chí,
Tạp chí Dân tộc học, số 1/1973 Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu nghiên cứu về người Cao Lan chỉ tập trung nghiên cứu ở góc độ các giá trị văn hóa chung, chưa có tác phẩm nghiên cứu nào đi sâu về vấn đề sự biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có kiến trúc nhà cửa Trong đề tài này, tôi hy vọng
sẽ cho bạn đọc một cái nhìn toàn diện về sự biến đổi một giá trị trong văn hóa
tộc người trong xu thế biến đổi chung của xã hội
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Sự biến đổi ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan” góp thêm một phần tư liệu vào trong hệ thống tư liệu về văn hóa người Cao Lan cả nước nói chung và văn hóa của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nói riêng Giới thiệu đến bạn đọc những hiểu biết
về ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan, thấy rõ sự biến đổi của nó trong
Trang 10giai đoạn hiện nay, những nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi đó, để từ đó
đề xuất những giải pháp để bảo tồn không chỉ giá trị ngôi nhà truyền thống
mà cả giá trị văn hóa tộc người nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan, những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay và những nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi đó
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nhà của người Cao Lan ở xã Đại Phú, khảo sát thêm những ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Phú Lương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang So sánh với nhà sàn của người Cao Lan ở ở một số địa phương khác qua một số tài liệu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình thực hiện khóa luận này tác giả tuyệt đối tuân thủ quan điểm của Chủ Nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo
của Đảng, Nhà nước về dân tộc, văn hóa xã hội…,việc tìm hiểu sự biến đổi ngôi nhà truyền thống của dân tộc Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang luôn luôn tuân thủ phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa duy
vật lịch sử
Phương pháp chủ đạo để thực hiện đề tài này là: điền dã dân tộc học, bằng các kỹ thuật phỏng vấn, quan sát, ghi âm, chụp ảnh , thông qua các đợt
điền dã tại địa bàn để tìm hiểu về ngôi nhà và sự biến đổi của ngôi nhà truyền
thống Ngoài ra, còn sử dụng thêm một số phương pháp khác như: thống kê,
phân tích, so sánh nhằm đưa ra kết quả tốt nhất phục vụ cho việc hoàn thành
khóa luận này
Trang 117 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần giới thiệu chung và phụ lục thì đề tài được phân bổ làm ba chương chính:
Chương 1 Khái quát về người Cao Lan và ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Chương 2 Ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú trong bối cảnh hiện nay
Chương 3 Nguyên nhân biến đổi và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trang 121.1.1 Vị trí địa lý
Đại Phú là một xã nằm ở phía Nam của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm huyện lỵ 35 km Tiếp giáp với xã Sơn Nam ở phía Đông, phía Tây giáp xã Phú Lương, phía Bắc giáp xã Tuân Lộ, phía Nam giáp hai xã của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đó là Ngọc Mỹ và Quang Sơn
Đây là vùng đất nằm giữa thung lũng, xung quanh được bao bọc bởi hai dãy núi: núi Bầu ở phía Bắc và núi Sáng Sơn ở phía Nam, hai dãy núi này chạy dọc theo chiều dài của xã Chiều dài nhất là từ xã Sơn Nam đến giáp xã Phú Lương với tổng chiều dài là 7km, chiều rộng nhất từ núi Bầu đến núi Sáng Sơn là 4km
Đại Phú có tổng diện tích tự nhiên là 3.390 ha, trong đó thì diện tích đất nông nghiệp là 779,73 ha chiếm 23%, diện tích đất lâm nghiệp là 1.803,49 ha chiếm 53,2%, điện tích đất chuyên dụng có 120,56 ha chiếm 3,56%, đất thổ
cư là 62,31 ha chiếm 1.83%, đất chưa sử dụng là 623,91 ha chiếm 18,41% Địa hình xã Đại Phú chiếm đến hơn một nửa diện tích là đồi núi Đây là nơi mang đậm kiểu địa hình của những địa phương vùng núi phía Bắc Việt Nam, với những cánh đồng nhỏ hẹp chạy len lỏi, với những ruộng bậc thang nối nhau chạy vào đến tận trong chân đồi, khe núi có những thửa ruộng canh tác chỉ với diện tích chưa đến 30m2 dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình
Trang 13sản xuất lương thực Các ngôi nhà sàn của người Cao Lan vì vậy được làm men theo các sườn đồi, nhìn ra các thửa ruộng để thích hợp với địa hình của địa bàn cư trú và khai thác một cách tối đa quỹ đất nông nghiệp
1.1.2 Khí hậu
Đại Phú là một xã của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên đều có chung kiểu thời tiết như hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nên hàng năm Đại Phú cũng phải hứng chịu những kiểu thời tiết diễn biến phức tạp Do đặc điểm địa hình chi phối nên nên khí hậu ở đây
có đôi phần đặc điểm khác so với một số địa phương khác ở trong tỉnh, đó là mùa Đông thường ít chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc do dãy núi Bầu chạy theo hướng Đông Tây nên nó như một bức “bình phong” chắn gió, làm cho cái lạnh có phần đỡ khắc nghiệt hơn Mùa Hè thì do có dãy núi Sáng Sơn chạy song song với dãy núi Bầu ở phía Nam nên cũng tránh được phần lớn gió Phơn Tây Nam thổi Chỉ còn hướng Đông và Tây mở nên thường đón được gió từ biển Đông mang theo nhiều hơi nước thổi vào mang lại kiểu thời tiết khá mát mẻ vào mùa Hè Qua nghiên cứu một số tài liệu thì có thể thấy do điều kiện thời tiết chi phối nên ngôi nhà của người Cao Lan ở Đại Phú cao và thông thoáng hơn so với nhà của người Cao Lan ở một số nơi của tỉnh Bắc Giang và Phú Thọ
1.1.3.Thủy văn
Đại Phú là địa bàn không có con sông lớn nào chảy qua, toàn xã chỉ có
ba con ngòi chính chảy qua Ngòi lớn nhất bắt nguồn từ núi Bầu, ngòi thứ hai bắt nguồn từ núi Sáng Sơn và ngòi thứ ba bắt nguồn từ gốc Sấu trên núi Bầu Hướng chảy của cả ba con ngòi chính này đều bắt nguồn từ phía Tây và đổ ra phía Đông Đây là những nguồn nước quan trọng cung cấp cho các con đập của xã Đại Phú: đập Hải Mô (xây dựng năm 1976), đập Hoa Lũng (xây dựng
Trang 14năm 1981) và đập Cây Sấu (xây dựng năm 2003) Hệ thống ngòi lạch của xã
là nguồn nước quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của người dân Nhìn chung thì Đại Phú là xã có lượng nước tự nhiên không nhiều, điều này do đặc điểm tự nhiên quy định nhưng cũng có phần không nhỏ sự tác động của con người
1.1.4 Nguồn tài nguyên
Trên địa bàn Đại Phú không có bất cứ nguồn khoáng sản nào Điều này rất khác so với ba xã lân cận là Sơn Nam (đá vôi), Ninh Lai, Thiện Kế (quặng Vonfram, đá vôi) mặc dù về khoảng cách, vị trí địa lý rất gần Tuy nhiên, nguồn tài nguyên hệ động, thực vật lại rất phong phú Các loại thú như hươu, gấu, trăn, rắn, tắc kè, lợn cỏ Có các cây gỗ quý như: lim, sến, táu các loại cây dược liệu có giá trị cao như: ba kích, thiên niên kiện, trầm hương, sa nhân các loại cây nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến: giang, mây, nứa, vầu
Tài nguyên đất dành cho sinh hoạt sản xuất rất hạn hẹp do chủ yếu là đất đồi, còn diện tích đất có thể canh tác đất nông nghiệp lại rất ít Tuy nhiên, với diện tích đất đồi rộng lớn là thế mạnh để phát triển cây nguyên liệu cho ngành công nghiệp như: ngô, khoai, sắn, đỗ tương, lạc Đặc biệt là phát triển cây mía, nơi đây có thể coi là “vựa mía” của Tuyên Quang và là vùng nguyên liệu chủ đạo của nhà máy đường Kim Xuyên (Công ty cổ phần mía đường Sơn Dương)
1.1.5.Giao thông
Đại Phú với địa thế xung quanh có núi non bao bọc, có các trục đường liên xã nối liền các xã trong huyện và giáp ranh với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) Khoảng cách từ thành phố Vĩnh Yên và từ huyện lỵ Sơn Dương đến Đại Phú là tương đương nhau, nên điều này thuận lợi trong giao lưu, trao đổi
Trang 15Đại Phú nằm trên con đường độc đạo nối xã Sơn Nam với huyện Đoan Hùng, Phú Thọ qua bến phà (đang xây dựng cây cầu quy mô lớn nhất tỉnh Tuyên Quang) Lộc Bè Có thể nói cùng với Sơn Nam thì Đại Phú nằm ở trung tâm của sự giao lưu giữa Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Phú Thọ Điều này tạo ra sự giao lưu, trao đổi về kinh tế, văn hóa giữa các địa phương
1.1.6.Thành phần dân tộc ở địa phương
Trước đây, trong toàn xã Đại Phú có ba dân tộc anh em sinh sống đó là: Cao Lan, Kinh và người Hoa Tuy nhiên, hiện nay bằng nhiều con đường khác nhau, các dân tộc Dao, Sán Dìu cũng đã đến sinh sống tại Đại Phú, nhưng với số lượng nhỏ, chủ đạo vẫn là ba dân tộc bản địa: Cao Lan chiếm 70%, Kinh chiếm 20%, Hoa là 7% còn lại là một số ít các dân tộc khác Việc sinh sống đan xen nhiều tộc người khác nhau trên một địa bàn nhỏ đã tạo ra những giao lưu, tiếp biến văn hóa một cách mạnh mẽ dẫn đến những sự thay đổi trong văn hóa của các dân tộc, trong đó có dân tộc Cao Lan
1.2 Khái quát về người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử và tộc danh Cao Lan
Cho đến thời điểm hiện nay, các tài liệu thư tịch về tên gọi, nguồn gốc lịch sử của người Cao Lan còn rất hạn chế, do vậy việc phân loại Dân tộc học theo cộng đồng người này từ trước đến nay còn rất nhiều ý kiến khác nhau:
Trong cuốn Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn – khi viết về Tứ Xuyên
Quang trong thành phần về các giống người, ông coi Cao Lan và Sơn Tử là hai trong bảy chủng tộc Mán Nhưng sau đó, ông lại trình bày và diễn giải ra thành tám đó là: Sơn Trung, Sơn Tử, Cao Lan, Sơn Bán, Sơn Man, Sơn Miêu, Hán Văn và Bảo Toàn
Trang 16Trong công trình nghiên cứu: Monographies du Man Cao Lan, tác giả Bonifacy đã xếp Cao Lan vào các nhóm Mán và coi họ là Cao Lan hay Sơn
Tử Những người láng giềng ít gọi họ là Sơn Tử mà chủ yếu gọi là Cao Lan Qua một vài ý kiến trên cùng với các tài liệu, sách viết của Ban dân tộc một số tỉnh có người Cao Lan cư trú, đặc biệt là các gia phả, sách cúng của một số dòng họ lớn người Cao Lan và sách hát ví sình ca Qua tư liệu khảo sát điền dã ở một số địa phương có thể tạm thời đi đến thống nhất về lịch sử hình thành tộc người Cao Lan ở Việt Nam
Người Cao Lan nằm trong nhóm Sán Chay bao gồm hai tộc người đó là Cao Lan và Sán Chỉ chủ yếu tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn Hiện tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lập nghiệp được tổ chức thành các làng Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410 người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh: Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2 % tổng số người Sán Chay tại Việt Nam), Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2 %), Bắc Giang (25.821 người), Quảng Ninh (13.786 người)
Hầu hết người Cao Lan đều nhận mình là San Chới, San Chấy Những năm 1980 – 1985 có một số cuộc hội nghị họp giữa đại diện hai tộc người đó
là Cao Lan và San Chí do Ban Dân tộc Trung Ương tổ chức ở Thái Nguyên
và Hà Nội để thống nhất tên gọi chính thức của hai tộc người này là dân tộc Sán Chay – một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam Các tên gọi San Chới, San Chấy, Sán Chỉ, Sán Chay, Sán Chí đều bắt nguồn từ cụm từ
"Sơn Tử" trong chữ Hán nghĩa là "núi", tiếng Cao Lan gọi là Hờn Láu đoi
Còn tên gọi Cao Lan thì chưa biết bắt nguồn từ đâu Có giả thiết cho rằng: chữ “Cao” có nghĩa là ở nơi cao, còn chữ “Lan” do biến âm từ chữ “Làn” có
Trang 17nghĩa là cái nhà Khi ghép hai từ lại sẽ thành “Cao Lan”, người ở “Nhà Cao” tên gọi này có lẽ xuất hiện sau khi dân tộc này di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam Hiện nay tên gọi Cao Lan đã quen thuộc trong cộng đồng người Cao Lan cũng như trong xã hội Khó có thể thay đổi bằng tên gọi Sán Chay, cái tên gọi vẫn dùng trong các văn bản của nhà nước
Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu đã công bố thì có thể kết luận rằng người Cao Lan đến Việt Nam sinh sống khoảng 400 – 500 năm, cư trú ở nhiều tỉnh, nhưng chỉ thực sự sinh sống thành làng bản đông đúc ở Xã Đại Phú, huyện Sơn Dương được gần 200 năm nay Đây cũng là nhóm người sang Việt Nam từ Dương Châu và Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Quảng Ninh rồi theo nhiều con đường đến với Tuyên Quang và cư trú ở Đại Phú Căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế, qua sự ghi chép trong gia phả của một số dòng họ lớn ở Đại Phú cho thấy người Cao Lan ở xã Đại Phú đến đây theo hai con đường: con đường thứ nhất là từ Quảng Ninh đến Bắc Giang rồi sang Thái Nguyên (Dân Tiến, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ) qua Đèo Khế sang Sơn Dương, Tuyên Quang rồi đi nhiều địa phương khác; con đường thứ hai cũng xuất phát từ Bắc Giang rồi qua Vĩnh Phúc (Tam Đảo) đến với đầu huyện Sơn Dương, Tuyên Quang
1.2.2 Địa bàn phân bố dân cư
Tất cả người Cao Lan đều chọn vùng thấp để định cư Địa bàn cư trú của
họ phải gần rừng, gần nguồn nước, gần nơi có thể canh tác đồng ruộng được Sau khi khẩn hoang, xây dựng nhà cửa, làng bản để sản xuất cả ruộng nước lẫn nương rẫy Trong một bản thường có nhiều dòng họ sinh sống và không chung huyết thống, điều này là để phát triển cộng đồng, bản làng có nhiều dòng họ khác huyết để tạo môi trường để trai gái lấy nhau, tạo thành một cơ cấu xã hội phát triển bền vững Người Cao Lan không muốn kết hôn với người khác dân tộc, điều này được Lâm Quý nói đến [10; tr.26]
Trang 18Bản là đơn vị cơ sở của xã hội trong truyền thống của người Cao Lan, tên bản thường đặt theo đặc điểm, địa hình tự nhiên, tên sông, tên núi, tên suối Mỗi làng bản thường có miếu thờ, có tảng đá, gốc cây, thờ thổ công hoặc thờ các vị thần linh, đặc biệt là có chung một hệ thống thủy lợi Nếp nhà chính của tộc người là nhà sàn tựa lưng vào núi, mặt nhìn ra ngoài đồng ruộng Bản thường có từ vài chục đến vài trăm nóc nhà Người đứng đầu một bản gọi là ông “Khán”, người này có quyền chọn nơi trung tâm thoáng đẹp để dựng một ngôi chung nhà cho một bản Ngôi nhà này rất quan trọng, nó là nơi hội tụ, là trung tâm chỉ huy của cộng đồng làng bản, ông đại diện cho dân để giải quyết những công việc của bản Ngôi nhà có ý nghĩa như một nhà văn hóa hiện nay
Trên địa bàn xã Đại Phú có các dòng họ lớn: Vương, Hoàng, Lại, Trần, Phạm, theo số liệu thống kê năm 2009, toàn xã có 2.300 hộ với 10.200 nhân khẩu sinh sống tập trung trong 27 thôn, trong đó chiếm gần 70% dân số là người Cao Lan, trong đó có trên 10 thôn 100% dân số là người Cao Lan Trong một gia đình người Cao Lan thường có ít thế hệ sinh sống Những người con sau khi thành lập gia đình đều ở riêng và bố mẹ cung cấp một lượng nhỏ các con giống và dụng cụ cần thiết (sự nhiều hay ít là tùy thuộc vào gia đình khá giả hay nghèo khó) Người đàn ông là chủ gia đình, khi người cha mất thì người con trai cả là người giữ quyền hành trong gia đình và phần của cải hồi môn thì người con trai cả cũng là người được thừa hưởng nhiều hơn, những người con trai thứ cũng được chia nhưng không đáng kể Nếu như gia đình nào không có con trai thì người con rể hiền lành, hiếu thảo được thừa hưởng tài sản của bố mẹ vợ (người Cao Lan có tục thờ cúng bên ngoại)
Điều kiện cư trú như trên, người Cao Lan đã dựa vào thiên nhiên, cải tạo
và khai thác mọi khả năng thiên nhiên ban tặng để sinh tồn, cuộc sống của họ gắn chặt với các vùng đất, thung lũng và các cánh đồng chân núi men theo các
Trang 19nguồn nước Dựa vào đất đai để canh tác các loại cây trồng cho lương ăn, cho sợi chế biến để may thành vải mặc, dựa vào rừng để săn bắt, hái lượm, tìm kiếm vật liệu để làm nhà cửa, tạo những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công
cụ sản xuất và đánh bắt Môi trường vùng thấp đã gắn liền và quyện chặt vào cuộc sống vật chất và cuộc sống tinh thần của người Cao Lan [3; tr.18]
1.2.3.1 Nhà ở: Nhà sàn là ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan
(trình bày chi tiết tại 1.3)
1.2.3.2 Trang phục
Trang phục đối với người Cao Lan được coi là tài sản quan trọng, là một phần của hồi môn mà mẹ đẻ trao cho người con gái khi về nhà chồng, có giá trị nhất định trong việc phân định giàu nghèo Hơn nữa nó còn được coi là thước đo để đánh giá khả năng lao động và đức tính cẩn cù của người phụ nữ Tuy công cụ thô sơ, kỹ thuật đơn giản, nhưng người Cao Lan cũng tạo ra cho mình nhiều loại sản phẩm bền và mang yếu tố thẩm mỹ cao, với kiểu dáng phong phú, mỹ thuật trang trí hài hòa, phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau
Trong trang phục truyền thống của người phụ nữ Cao Lan gồm có áo và váy Áo gần giống với áo tân thời của người phụ nữ Việt Đặc biệt ở người
phụ nữ Cao Lan có một loại áo gọi là “pù dàu dinh” là áo chỉ mặc trong đám
cưới Áo này may khâu rất cầu kỳ, có trang trí hoa văn ở hai mép áo trước ngực Phụ nữ Cao Lan mặc váy, váy là một tấm vải được khâu khép kín có
Trang 20màu chàm hoặc màu nâu, có dây để buộc váy Người phụ nữ trung niên Cao Lan cũng đội khăn, khăn vấn tóc, khăn đội và hình thức đội gần giống với người Kinh
Ngoài ra người phụ nữ và nam giới ở Đại Phú còn có những trang phục đặc sắc mặc trong các đám cưới và đám tang Tuy nhiên thì hiện nay chiếm đến trên 90% người Cao Lan ở xã Đại Phú ăn vận giống như người Việt, chỉ trong những dịp nhất định thì họ mới ăn mặc theo cách truyền thống
1.2.3.3 Ăn uống, hút
Đời sống của người dân xưa kia rất nghèo vì thế các thức ăn được dùng trong bữa cơm hàng ngày rất đơn giản, chủ yếu là chất bột, cộng với rau xanh Trên mâm cơm chỉ có bát canh rau do trồng được hoặc rau rừng, canh đỗ, đĩa muối vừng, muối lạc, nếu kiếm được cá thì thường nướng hoặc đem đi kho mặn ăn với cơm Thi thoảng mới có một ít thịt lợn hoặc thịt gà Trước bữa ăn
họ thường uống một chút rượu sắn hoặc ngô tự cất rồi mới ăn cơm Khi ăn xong họ thường uống nước chè và uống cả chè tươi lẫn chè khô Người phụ
nữ thường uống nước chè hoặc nước vối đun sôi Đàn ông Cao Lan có thói quen hút thuốc lào, xưa kia khi các chất kích thích như thuốc phiện, cần sa còn phổ biến thì một số ít người dân Cao Lan còn dùng cả thuốc phiện như một thứ đồ hút phổ biến
1.2.4.Văn hóa tinh thần 1.2.4.1 Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Cao Lan không theo một tôn giáo nào nổi bật, nhưng tín ngưỡng của họ lại rất phong phú và đa dạng Tín ngưỡng nổi trội nhất là thờ cúng tổ tiên và một số loại thần linh gắn chặt với đời sống sinh hoạt sản xuất nông nghiệp của họ đó là Cao Sơn và Thần Nông Sự đa dạng này còn thể hiện trong việc từng dòng họ lớn với các con vật được thờ cúng Họ tổ chức cúng
Trang 21tế và cũng là hội làng vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch Đặc biệt là trong từng dòng họ người Cao Lan còn thờ các loại ma riêng biệt, thổ công, thổ kỳ, thờ
bà mụ, những người làm nghề thầy cúng thì còn có một bàn thờ riêng
1.2.4.2 Văn nghệ dân gian
Cũng như các dân tộc khác, người Cao Lan ở Đại Phú có các hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm chất văn hóa dân tộc mình Họ có kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian phong phú và đa dạng Kho tàng truyện cổ tích, thơ
ca, hò vè của người Cao Lan phổ biến rộng rãi với các đề tài đấu tranh với thiên nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ xã hội và gia đình, thể hiện ước vọng của đồng bào trong tình yêu, chinh phục thiên nhiên, ca ngợi chính nghĩa, đấu tranh chống cái ác, nhằm có được cái ấm no hạnh phúc Có thể kể đến một số chuyện kể của người Cao Lan như: chàng mồ côi, chàng tào an, bắt thiên lôi ăn thịt, chuyện quả bầu
Nói đến văn nghệ dân gian của dân tộc Cao Lan không thể không nhắc đến hát sình ca – đây là một loại hình sinh hoạt văn hóa vô cùng đặc sắc Theo truyền thuyết của người Cao Lan, tác giả của những bài hát sình ca Cao Lan là nàng Lưu Ba (Lau Slam), bà được đặt biệt danh là “thần đồng” khi bà mới lên bảy tuổi đã hát những bài hát, lời thơ đồng dao cho đám trẻ trong làng vui hát, khi lên mười tuổi bà đã trở thành một cô gái xinh đẹp, hát ví hay, giỏi đối đáp, làm mê hồn rất nhiều chàng trai trong vùng Những cuộc hát sình
ca xưa kia giữa những thanh niên nam nữ kéo dài trong rất nhiều đêm (có thể đến đêm thứ 12)
Ngoài sình ca, người Cao Lan còn có những điệu múa đặc sắc như: Múa trống (nhóc), múa chim ngâu (lồng nộc lau), múa xúc tép (soọc cộng), giã cốm (nướng lóong), múa thắp đèn (khai tăng), đã góp phần làm đậm đà thêm bản sắc văn hóa Cao Lan
Trang 221.3.Ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Dân tộc Cao Lan cùng với dân tộc Sán Chỉ là hai bộ phận cấu thành nên dân tộc Sán Chay Nhà cửa của dân tộc Cao Lan cũng như dân tộc Sán Chỉ đều là nhà sàn Có thể nói, ngôi nhà sàn của người Cao Lan mang đậm những yếu tố tín ngưỡng Do bản chất và tâm lý của người làm nông nghiệp, sống về nông nghiệp, họ quan niệm rằng: ngôi nhà giống như hình tượng của một con trâu nước: 4 cột chính như 4 chân trâu; rui, mè, xà nóc tạo thành thân con trâu; hai đầu hồi là đầu và đuôi trâu; thúng cám để thờ thần gia trạch là dạ dày của trâu Thần chăn nuôi là vị thần được người Cao Lan tôn sùng với mong muốn sự sinh sôi nảy nở Hàng năm đồng bào thường tổ chức cúng thần cầu cho mùa màng thuận lợi, gia súc chăn nuôi phát triển
Trong lịch sử đã có những thời điểm tưởng chừng như các dân tộc có nhà sàn đã chuyển hẳn sang sống ở nhà trệt giống với người Việt Tuy nhiên thời gian vẫn khẳng định được những giá trị ưu việt của kiến trúc nhà sàn trong điều kiện môi trường sinh sống là vùng chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng đồi núi Cho nên trong kiến trúc nhà của người Cao Lan ở Đại Phú hiện nay xuất hiện hiện tượng có một ngôi nhà trệt dựng cạnh ở nhà sàn truyền thống Tuy nhiên thì họ vẫn chủ yếu sinh sống trên nhà sàn còn ngôi nhà đất thì chỉ có những thế hệ trẻ ở, hoặc có thể đóng cửa bỏ không, hoặc chứa thóc gạo, sắn bên trong còn mọi hoạt động vẫn chủ đạo diễn ra ở ngôi nhà sàn
Có thể khái quát các quá trình thay đổi kiến trúc nhà cửa của người Cao Lan ở Đại Phú như sau:
Nhà sàn cổ truyền nhưng tồn tại song song một ngôi nhà trệt
Nhà cổ truyền chuyển xuống nhà trệt
Nhà đất đương đại chuyển lên sống trên nhà sàn
Trang 231.3.1 Một số tập quán liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở xã Đại Phú
Người Cao Lan ở xã Đại Phú có các tập quán liên quan đến việc làm nhà rất đa dạng và phong phú Điều này xuất phát từ trong lịch sử khai phá tự nhiên, thành lập cộng đồng xã hội, nó gắn chặt với đời sống sinh hoạt của mỗi con người Cao Lan Qua các tập quán này cũng thể hiện rõ về nhận thức thế giới quan, nhân sinh quan của tộc người
1.3.1.1 Cách tính tuổi cho gia chủ khi làm nhà
Theo như kết quả thu thập được từ điền dã tại Đại Phú thì người Cao Lan
thường xem tuổi làm nhà cho gia chủ khi gia chủ từ 20 tuổi đến 61 tuổi Thông thường một người Cao Lan khi đủ điều kiện kinh tế và cũng có ý muốn xây nhà thì phải chuẩn bị lễ vật: tiền, gà, rượu đến để nhờ thầy xem tuổi, hướng, ngày động thổ Thầy cúng Hoàng Văn Sinh (63 tuổi) ở thôn Dũng Dao xem các tuổi và những điều tốt, xấu trong các tuổi của người Cao Lan đối với việc làm nhà như sau:
- 20, 54 tuổi: Gia chủ làm nhà khi 20, 54 thì trong cuộc sống sẽ luôn hội
tụ cả hai điều Phúc và Đức Sẽ có được con đàn cháu đống và kinh tế gia đình khá giả
- 21, 22, 47 tuổi: Đây là các tuổi “Độc” vì làm nhà trong các tuổi này sẽ gặp vận “Phá Quyền” dẫn đến lụi bại trong cuộc sống và nếu ai đó đang có công danh, quyền hành, chức vị thì sẽ bị lung lay tới vị trí của mình Kinh tế
từ đó cũng lụi bại dần
- 23, 48, 60 tuổi: Tuổi “Khốc - Khóc” Theo như những ghi chép trong sách của các thầy cúng người Cao Lan là “năm Khốc”, khi làm nhà trong tuổi này thì thường xuyên sẽ có những họa phải khóc nhiều vì những chuyện bi thương xảy ra
Trang 24- 24, 33, 35, 36, 41, 43, 58 tuổi: Năm “Quỷ” khi dựng nhà sàn trong năm này thì thường xuyên bị yêu ma quấy phá gia chủ việc làm ăn, buôn bán hay
chăn nuôi, trồng trọt, cuộc sống gặp những điều bất hạnh, tai ương (xem thêm
trong phần phụ lục 1)
Trên đây là các tuổi theo chu kỳ của một đời người trong việc làm nhà Tuy nhiên, sự xem xét tuổi có làm được nhà hay không là chiếu theo sự vận hạn của con người trong các năm Những người thầy cúng của dân tộc đúc rút
và trải nghiệm cùng với quan niệm của tộc người từ trong lịch sử, có gắn theo
cả yếu tố tín ngưỡng, tâm linh trong đó Không phải tất cả các tuổi đẹp trên thì ai cũng có thể làm được nhà, mà nó còn phụ thuộc vào can, chi của từng người với thiên can và địa chi từng năm, hoặc trong năm đấy làm được thì cũng cần đến người thầy cúng xem chính xác đến từng giờ, ngày, tháng để được hưởng những điều như trong năm tuổi ấy ghi chép
VD Khi gia chủ 26 tuổi (sinh 1987), mà năm 2012 muốn làm nhà, nếu theo như các tuổi như đã nêu trên thì tuổi 26 là có thể xây dựng được nhà Tuy nhiên, gia chủ sinh năm 1987 cầm tinh con Mèo mà lại sinh đúng tháng Mèo thì lại phải tránh tháng Tý (tháng 11 AL), không được làm nhà vì theo quan niệm con mèo sẽ nuốt trọn con chuột nên theo đồng bào sẽ hao sạch cửa nhà
Có thể nói, người Cao Lan rất cẩn trọng trong việc xem tuổi để xây dựng ngôi nhà vì hai lý do: Trước hết là niềm tin vào đời sống tâm linh của cộng đồng có sức mạnh rất lớn, nên không chỉ việc làm nhà mà mọi công việc khác đều cần đến những người thầy cúng để mong sao cho mọi điều tốt đẹp đến với mình Thứ hai, làm nhà là một trong những công việc trọng đại của đời người,
nó tiêu tốn một khoản kinh tế rất lớn nên cần tính toán và chuẩn bị kỹ vì sẽ chẳng có thể ai đủ kinh tế để làm được một ngôi nhà sàn thứ hai nếu như ngôi
Trang 251.3.1.2 Chọn hướng nhà
Người Cao Lan ở xã Đại Phú không chỉ chú trọng chọn tuổi cho việc làm nhà mà còn rất coi trọng hướng quay của nhà, đi liền với nó là một loạt quan niệm về những điều hung, cát của cuộc sống đối với những hướng quay
Thông thường, những ngôi nhà của người Cao Lan đều quay hướng Nam Trong quan niệm của người Cao Lan thì với nhà quay hướng Nam
“không làm cũng có ăn” Đây có lẽ xuất phát từ thực tế sinh sống với địa hình của xã và cũng như tự nhiên và khí hậu của toàn miền Bắc Như đã nêu trên, thì xã Đại Phú có hai dãy núi chính là núi Bầu và núi Sáng Sơn, hai dãy núi này đều chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Qua trao đổi với một số người cao tuổi trong làng, chúng tôi được biết: Trước những năm 1975, hầu hết người dân trong xã đều cư ngụ ở sườn Tây Nam của dãy núi Bầu nên đây cũng là một lý do chính dẫn đến hầu hết các ngôi nhà sàn trong truyền thống đều quay hướng Nam, để vừa tránh gió mùa Đông Bắc vừa đón được gió Đông Nam Hơn thế nữa, trong quan niệm của người Cao Lan thì khi nhà quay ra hướng Nam là nhìn ra đồng ruộng và nương rẫy nơi sản xuất ra lương thực thì sẽ đem lại sự no ấm sung túc
Theo như lời thầy cúng Hoàng Văn Sinh ở thôn Dũng Dao và Dương Văn Vấn ở thôn Lũng Hoa:
Đối với hướng Bắc thì đây là hướng tối kỵ vì theo quan niệm, đây là hướng của bệnh tật, của những tai ương, gia chủ dễ bị đoản mệnh Trong thực
tế, xét dưới góc độ khoa học cũng như bao địa phương khác trong vùng phải chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thì những ngôi nhà quay hướng Bắc sẽ phải nhận nhiều đợt gió lạnh từ miền Bắc thổi xuống vào mùa Đông, điều này sinh ra bệnh tật cho con người
Trang 26Hướng Tây là hướng phạm vào mệnh của trời Quay nhà hướng Tây là dám nhìn thẳng vào những mệnh quan trên trời, làm ảnh hưởng sự ngao du, đi lại của các quan và các linh hồn Trong quan niệm của người Cao Lan, trên trời có một dòng sông lớn chảy theo hướng Tây sang Đông, người trần thường nhìn thấy vào những đêm trời quang mây và không có trăng, khi một dải các sao xếp dày đặc nhau tạo ra một vùng sáng trên trời mà người dân gọi
là “sông thiên” Nhà quay hướng Tây là cản trở dòng chảy của sông, gây ra sự tức giận của các quan và linh hồn nên bị trừng phạt dẫn đến gặp khó khăn, bất trắc trong cuộc sống Đó là những quan niệm trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào, còn bản thân tác giả nghiêng nhiều về sự lý giải theo khoa học khi
mà nhà quay hướng Tây thường xuyên bị ánh nắng chiếu vào và gió phơn Tây Nam thổi không có lợi cho sức khỏe, ảnh hưởng nhiều đến những công việc sản xuất nên người dân không làm nhà quay hướng Tây
Hướng Đông: Theo quan niệm của đồng bào hướng Đông không tốt, cũng không xấu nên tùy thuộc vào mảnh đất mà nhà có thể quay hướng Đông Như vậy, xét về cơ bản thì ngôi nhà sàn của người Cao Lan ở xã Đại Phú cũng có hướng quay như một số dân tộc khác trong vùng, có điều khác là trong quan niệm về các hướng có khác nhau Điều này thể hiện sự phong phú trong đời sống tinh thần nói chung và niềm tin tín ngưỡng về ngôi nhà nói riêng
1.3.1.3 Chọn đất và vật liệu làm nhà
Một mảnh đất được người Cao Lan chọn để làm nhà phải là mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố để đảm bảo cho cuộc sống, cho lao động sản suất, cho cả đời sống tâm linh
Khi được hỏi về việc chọn đất và vật liệu làm nhà cụ Trần Thị Lìn (gần
70 tuổi) ở thôn Cây Thông cho chúng tôi biết: Đối với một người muốn ra ở
Trang 27riêng, khai phá đất mới phải tìm nơi có nguồn nước chảy qua, nếu tìm được mảnh đất có nguồn nước chảy qua uốn quanh nơi mảnh đất ấy thì càng tốt Xung quanh vùng đất có cây cối phải phát triển tươi tốt Khi đi khai phá vùng đất ấy cần mang: một ít lúa nếp, một con dao, một cái bát, ba nén hương ra mảnh đất định chọn làm nhà Dùng con dao rẫy một khoảng đất nhỏ cho sạch, bóc sáu hạt gạo, hai hạt tượng trưng cho chồng, hai hạt tượng trưng cho con cái, hai hạt tượng trưng cho trâu bò xếp từng đôi một sau đó lấy bát úp lại, thắp hương khấn rồi quay về nhà Đêm ngủ xem có gặp giấc mơ gì không, nếu có mơ thấy giấc mơ như thế nào thì nhờ thầy xem cho giấc mơ đó ra sao Sáng hôm sau ra mở bát xem nếu vẫn còn nguyên không có gì thay đổi là tốt, nhưng có hạt gạo nào mất hay bị xê dịch đi chỗ khác thì là xấu Từ đó chủ nhà quyết định nên làm nhà ở đó hay không
Khi đã chọn được một mảnh đất ưng ý rồi thì người dân thường bắt tay vào công đoạn tìm các vật liệu để làm nhà Gỗ để làm nhà phải là những cây
gỗ quý như: đinh, lim, sến, xăng, gọi, kè Các cây gỗ này sau khi được chọn
kỹ lưỡng và chặt đem về nhà thường để khô một chút rồi đẽo, đục theo ý muốn và kích cỡ định trước Theo như ông Dương Văn Tiết 65 tuổi, người đang dựng nhà sàn thì để làm một ngôi nhà đúng kích cỡ và đầy đủ các gian như trong truyền thống cần từ 400 đến 500 cây gỗ lớn nhỏ đã sẻ ra thành phẩm (bao gồm cả vách cũng được làm bằng ván gỗ sẻ, các bộ phận dui, mè, dầm sàn)
Cũng theo như bà Lìn, tất cả phần mái nhà được làm bằng cỏ gianh hoặc
lá cọ Cỏ gianh được cắt trên những nương, sườn đồi nơi mà người Cao Lan phát cây rừng, sau đó đốt và để cỏ mọc tự nhiên, có quây xung quanh bằng đá
để không cho trâu, bò vào ăn và phá hoại Sau khoảng một năm thì người dân bắt đầu cắt về và phơi thật khô, sau đó đan thành từng phên dài Đối với lá cọ thì thông thường người Cao Lan ở xã Đại Phú thường lấy ở trong khu vực
Trang 28vườn nhà mình, nếu không đủ thì có thể vay mượn của hàng xóm Khi chặt về cũng phơi thật khô khi lợp không đan thành phên dài mà để từng tàu tách rời Phần sàn: được làm từ những cây mai, cây nứa được vót nhẵn phần cật, sau đó đập dập ra thành dạng bản dài, được phơi thật khô trước khi mang mang sử dụng
Theo ông Trần Văn Ân ở thôn Mãn Hóa:
Thông thường, để làm được một ngôi nhà sàn thì chủ nhân của nó phải
có thời gian ít nhất là hai năm chuẩn bị về mặt vật liệu, đó là chưa kể đến phải
lo một khoản kinh tế rất lớn trong việc chuẩn bị các thủ tục về tín ngưỡng, lo cơm rượu cho những người đến dựng nhà và các lễ vật sau khi ngôi nhà hoàn thành đối với thầy cúng và bà con xóm giềng Đối với những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì còn phải mất nhiều thời gian hơn
1.3.1.4 Nhiệm vụ của các thành viên trong việc làm nhà
Trong công việc làm nhà thì đồng bào người Cao Lan có sự phân công nhiệm vụ rất rõ ràng trong gia đình Thông thường khi làm nhà các thành viên trong gia đình thường phân chia như sau:
Người đàn ông trụ cột gia đình sẽ là người chịu trách nhiệm chính trong toàn bộ các công việc trong xây dựng nhà cửa như: chuẩn bị lễ vật, nhờ thầy cúng, nhờ cậy anh em họ hàng Là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc lấy đầy đủ lượng gỗ để làm nhà Thông thường thì phải nhờ thêm anh
em, họ hàng mới có thể lấy đủ lượng gỗ như vậy
Người phụ nữ trong gia đình là người lo cơm nước cho những thợ trong suốt quá trình làm nhà Phụ nữ là người cắt cỏ gianh hoặc lá cọ, sau đó phơi
và bảo quản Những người con thì thường phụ giúp bố mẹ những công việc phù hợp với giới tính và độ tuổi
Trang 29Ngoài sự chuẩn bị chu đáo của các thành viên trong gia đình thì một ngôi nhà được xây dựng là kết quả sự đóng góp sức lực của những người họ hàng, láng giềng, việc làm ngôi nhà nó thể hiện tính cố kết cộng đồng dân tộc cao
Từ đó tình làng nghĩa xóm lại được bền chặt hơn, thúc đẩy sự phát triển kinh
1.3.2.1 Kết cấu nhà vì kèo có 3 cột (nhà trâu đực – Làn tậc wài)
Đây là kiểu nhà có kết cấu và không gian hẹp, tuy nhiên để mở rộng mặt bằng sinh hoạt thì người ta thường làm hai ngôi nhà có kết cấu vì kèo 3 cột liền nhau và có sự liên kết với nhau thông qua dầm sàn và có thêm hai hàng cột phụ để đỡ phần mái cho chắc chắn Theo như kết quả khảo sát tại Đại Phú với kết cấu của một ngôi nhà sàn vì kèo 3 cột thường với kiểu dáng, kích cỡ
như sau (xem hình 1):
Trong một vì có một cột Cái chống giữa chỏm kèo thường có độ dài khoảng 5,4m, (lấy gang tay của người thợ cả làm chuẩn, khoảng 20 cm/gang tay) đây là cột chịu lực lớn nhất trong ngôi nhà, hai cột Quân ở hai bên là khoảng 4,4 m, hai chiếc cột phụ đỡ hiên bên ngoài 3.6 m (tất cả các cột này đều chưa tính đến phần chôn dưới đất) Chiều ngang của ngôi nhà là 5m tính
Trang 30từ hàng cột phụ này đến hàng cột phụ kia Chiều dài của ngôi nhà khoảng 10 đến 15m, tính từ mép mái của đầu hồi bên này đến đầu hồi bên kia Nhà được chia làm 3 hoặc 5 gian chính, mỗi gian 2.6m tính từ tâm của hàng cột vì kèo này này đến hàng cột vì kèo kia, chưa kể đến hai chái (nơi không có sàn tùy
mục đích sử dụng có thể làm rộng hơn ở phần này), khoảng cách từ mặt đất
Hình 1: Vì kèo của kiểu nhà trâu đực của người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (bao gồm nhà chính và nhà phụ)
lên tới mặt sàn là 1,3 – 1,5m Tất cả các cột chính và cột phụ của ngôi nhà đều được chôn trực tiếp xuống đất, theo quan niệm đó là sự âm dương hòa hợp và mọi vật mọi sự phát triển đều có sự nuôi dưỡng của đất
Tất cả các bộ phận của ngôi nhà đều được liên kết với nhau bằng kèo và
lỗ mộng (mộng thông suốt hoặc mộng thắt), tạo nên sự vững chãi của ngôi nhà Phần mái được lập từng phên và được liên kết xuống phần dui, mè bằng lạt dài (Kết quả phỏng vấn ông Hoàng Văn Độ - thôn Dũng Dao)
Các số liệu trên là kích cỡ trung bình của một ngôi nhà, con số đo thường biến động với điều kiện kinh tế, quy mô của mỗi gia đình Kích cỡ của
Trang 31các cột còn phụ thuộc lớn vào tuổi của gia chủ, tùy từng tuổi làm nhà mà có thể nâng lên hay hạ thấp các cột trong một vì kèo cho tương ứng với quan niệm của đồng bào (không quá 20 cm so với số đo nêu bên trên) Cũng theo ông Độ cho biết, dù có làm to, hay nhỏ chỉ là ở phần độ cao từ sàn lên đến mái và độ rộng từng gian mà thôi, còn đối với khoảng cách từ đất lên mặt sàn
là khá giống nhau vì bên dưới còn mục đích sử dụng là chăn nuôi Trong kiểu nhà này khoảng không gian bên dưới thường có những dầm chạy qua nối các cột với nhau do kết cấu ba cột sẽ là không vững chắc với thiên tai, gió bão vừa làm để che chắn động vật nuôi như trâu, bò
Trong trường hợp tổ hợp mà có hai nhà sàn thì nhà chính bao giờ cũng
có kích thước cao hơn và rộng hơn so với nhà phụ Tuy nhiên, có sự liên kết vững chắc trong phần dầm sàn nên có thể nói dù chỉ là kiểu dáng với vì kèo 3 cột nhưng nó rất vững chắc và đáp ứng được nhu cầu mở rộng mặt bằng sinh hoạt của người dân
Đây là kiểu nhà phù hợp với điều kiện kinh tế của những gia đình trung bình và có ít thành viên cùng chung sống
1.3.2.2 Kết cấu nhà vì kèo có 4 cột (nhà trâu cái – Làn mẻ wài)
Đây là dạng nhà phổ biến của người Cao Lan ở Đại Phú Ngôi nhà sàn kết cấu vì kèo 4 cột rộng rãi và cao ráo hơn kiểu nhà vì kèo có 3 cột Đây như một sự khẳng định về kinh tế và quy mô gia đình của những người giàu
có.(xem hình 2) Theo như ông Hoàng Văn Độ (47 tuổi) ở Dũng Dao chủ nhân
của một trong hai ngôi nhà sàn duy nhất còn lại ở thôn:
Kết cấu kiểu nhà này có 4 cột chính trong một vì kèo và thường có 6 vì kèo hoặc 8 vì kèo (thường chỉ là 6, còn trong toàn xã mới chỉ có hai ngôi đã từng xây dựng với kết cấu 8 vì kèo, với tổng là 36 cột, 32 cột chính và 4 cột phụ ở 4 góc) Hệ thống cột này cũng thường to hơn rất nhiều so với các hàng
Trang 32cột của nhà trâu đực và các cột này cũng được chôn trực tiếp xuống đất mà không kê tảng
Các cột Cái có chiều dài là 5,6m, cột Quân là 4,8m, cột phụ ở hiên nhà là 4,0m Chiều ngang của ngôi nhà thường là 7m, và có thể chia làm 5 hoặc 7 gian tùy theo điều kiện kinh tế và mục đích sử dụng, mỗi gian đều là 2.6m Toàn bộ các vì kèo được ghép vững chắc qua lỗ mộng bởi các quá giang
và qua đỉnh của các cây cột bằng các rãnh, mỗi vì kèo đều có câu đầu và bên dưới là hệ thống các dầm sàn Các dầm chính có tác dụng liên kết các cột lại với nhau và làm giá đỡ cho các dầm nhỏ hơn Khoảng cách giữa các dầm nhỏ
là 25 – 30 cm, vì vậy khi trải sàn bằng các cây mai, nứa thì cực kỳ chắc chắn Phần đỉnh của kèo được liên kết chặt chẽ với nhau bằng những thanh tre đực được vót nhẵn xuyên qua hoặc bằng cách khớp mộng Đỉnh kèo là giá đỡ cho xà nóc, một phần rất quan trọng trong nhà, do không có cột cái chống vào đỉnh mái như nhà trâu đực nên xà nóc là phần chịu lực lớn từ mái Trong quan niệm của cộng đồng người Cao Lan thì đỉnh mái là sự tồn vong, hương thịnh của ngôi nhà
Hình 2 Kết cấu vì kèo của nhà trâu cái người Cao Lan ở xã Đại Phú, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trang 33Trên thân của mỗi kèo có các rãnh làm nơi cho các hoành chạy qua, khoảng cách giữa các hoành là 60 cm, các dui nằm trên hoành với khoảng cách 40cm Các mè được cố định chắc chắn lên thân các dui bằng các lạt dài làm từ tre, giang Khi các tấm tranh, hoặc cọ được đưa lên, những người thợ
chỉ việc luồn lạt và buộc chặt xuống các dui, mè tạo ra sự chắc chắn (hình 3)
Hình 3 Liên kết của hàng cột dọc trong bộ khung nhà
Điểm khác biệt nhất có thể nhận ra rằng với kích cỡ của ngôi nhà vì kèo
có 4 cột với ngôi nhà vì kèo 3 cột là khoảng không gian giữa nhà rất rộng vì không vướng cột cái Đó là chưa kể đến sự khéo léo trong lúc xây dựng ngôi nhà của người thợ cả, họ đã trốn hai cột Cái ở ở hai vì kèo gian giữa để trở thành vì kèo 3 cột lệch, nên không gian giữa nhà là mênh mông có thể sử dụng vào rất nhiều mục đích khác nhau
1.3.3 Bố trí mặt bằng, không gian trong ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan
Do kết cấu các hàng cột quy định nên người Cao Lan cũng có những cách bố trí mặt bằng không gian trong ngôi nhà một cách khác nhau, sao cho
Trang 34vẫn đảm bảo đủ diện tích sinh hoạt, nhưng cũng tạo ra sự thông thoáng trong ngôi nhà
1.3.3.1 Trong kiểu nhà vì kèo có 4 cột (nhà trâu cái – Làn mẻ wài)
Các phần không gian trong không gian nhà kết cấu 4 vì kèo này không
có các vách ngăn vững chắc để ngăn chia Tất cả đều được chia nhỏ bằng các ván gỗ mỏng hoặc tấp liếp được đan bằng mai, tre, nứa
Qua quá trình khảo sát và phỏng vấn người dân ở các thôn Dũng Dao, Cây Thông Hải Mô, chúng tôi được biết: Sàn của nhà vì kèo 4 cột thường khá cao nên khi lên sàn nhà phải bắc cầu thang, số bậc thang thường là các số lẻ: 5, 7, 9 (Theo quan niệm của đồng bào con số lẻ là con số của sự tiến hoá
và phát triển, một quan niệm phù hợp với quan niệm của người phương
Đông) (xem hình 4)
Cầu thang được bắc gối lên một sàn thấp hơn so với sàn chính chừng 20 – 30 cm (1), nơi này thường để một lu đựng nước ăn và một số những vật dụng dành cho việc sinh hoạt, nấu nướng như chậu, gáo múc nước Sàn này
có công dụng chính là nơi để rửa chân tay và cũng là nơi để giày dép trước khi đi từ ngoài vào nhà
Toàn bộ không gian bên dưới sàn là nơi nhốt các con vật nuôi: lợn, trâu
và gà (2) Các vật nuôi được nhốt riêng trong các khoảng không gian khác nhau để tiện cho việc chăm sóc theo từng loại, từng khẩu phần khác nhau Bếp của gia đình (5) được bố trí ở phần chái nhà từ sàn thấp vào Sàn bếp được người dân quây xung quanh bằng gạch đất, bên dưới là vài tấm gỗ rộng có lót một lớp đất lên trên để cách nhiệt với mặt sàn Phía bên trên có giá treo các vật dụng để đựng hạt giống, thúng, rổ để chống mọt, để một số loại thức ăn để tránh ôi thiu
Trang 35Giáp với vách chái nhà nơi gần bếp người dân để một số vật dụng (3) như củi đốt, để các loại dao, liềm phát cỏ Cũng là nơi treo những xoong nồi khi không sử dụng đến Phía giáp vách sau ngôi nhà người Cao Lan để một chiếc chạn bát (4) Khoảng không gian quan trọng trong mỗi gia đình là nơi thờ tự (6) Một số gia đình người Cao Lan đặt nơi thờ ngay phía bên phải cạnh gian bếp và ở trên mặt sàn dưới chân cột cái của ngôi nhà Nó được bài trí hết sức đơn giản chỉ có một thúng cám nhỏ để cắm hương thờ thần gia trạch
Hình 4 Mặt bằng sinh hoạt của kiểu “nhà trâu cái” của người Cao Lan ở xã
Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trong ngôi nhà sàn vì kèo có 4 cột, các nơi ngủ được bố trí ở khoảng không gian giữa nhà Giáp với chân cột nơi thờ thần gia trạch được bố trí cho những người già trong gia đình ngủ Vì nơi đây gần bếp của ngôi nhà nên nhiệt độ thường ổn định hơn thích hợp cho những người già (7) Sát bên cạnh
đó là gian ngủ của các em nhỏ trong gia đình (8) Vợ chồng gia chủ sử dụng phần sàn làm nơi ngủ (11) ngay sát với kho chứa lương thực và cũng là gian cuối của ngôi nhà Tất cả các gian trong ngôi nhà này người Cao Lan đều sinh
2
3
Trang 36hoạt trực tiếp trên mặt sàn và các vách ngăn giữa hai phòng chỉ cao hơn đầu người một chút
Người Cao Lan rất chú trọng trong việc tiếp đón khách mỗi khi họ ngủ lại qua đêm tại nhà, không gian dành cho nơi ngủ của khách (12) được bố trí
ở một nơi trang trọng và thoáng mát trong ngôi nhà với phần sàn phụ được nâng cao hơn so với mặt sàn chính khoảng 40cm để thay giường cho khách, đây cũng chính là nơi nghỉ của chủ nhà trong những ngày không có khách Đối với nơi cất trữ lương thực của gia đình (9), người Cao Lan ở xã Đại Phú thường được quây bằng các tấm cót để đựng các sản phẩm thu hoạch đã được phơi khô để dùng dần trong năm
Trong ngôi nhà có một khoảng không gian dành cho các hoạt động sinh hoạt của gia đình, cũng như tiếp đãi khách, để những đồ dùng chung phục vụ cuộc sống (13) Nơi đây thường được kê một tấm ván nhỏ thay cho bàn để một bộ ấm chén hoặc cũng có khi đặt trực tiếp xuống mặt sàn
Mặt tiền của ngôi nhà có một khoảng sàn rộng rãi được để lộ thiên dùng
để phơi khô nông phẩm (10), và cũng là nơi để ngồi sinh hoạt của gia đình trong những lúc rảnh rỗi
1.3.3.2.Trong kiểu nhà vì kèo có 3 cột (nhà trâu đực – Làn tậc wài)
Mặt bằng không gian trong nhà kết cấu vì kèo có 3 cột hẹp hơn so với nhà vì kèo 4 cột Sự ngăn chia giữa các phòng được ngăn cách bằng tấm liếp
mỏng (xem hình 5)
Khoảng cách từ mặt đất đến mặt sàn là 1.3m đến 1.5m và qua một cầu thang lên đến một sàn thấp hơn sàn chính chừng 10 – 20 cm (1) nơi này cũng đặt một lu nước giống như nhà vì kèo 4 cột Ngay bên dưới sàn thấp cũng là nơi chăn nuôi súc vật (2) Do mặt bằng hẹp nên sự sắp xếp có nhiều thay đổi
Trang 37so trong ngôi nhà trâu cái (duy nhất có vị trí của bếp là không thay đổi) Theo
kết quả phỏng vấn ông Vương Văn Thuận (Hoa Lũng):
Chạn bát (4) được để về phía vách sau của ngôi nhà Khoảng không gian
ở góc trái của ngôi nhà (7) được dùng làm nơi chứa củi đốt và để soong nồi Nơi cất trữ lương thực (5) giáp với vách sau của ngôi nhà với những chiếc bồ: một bồ đực thóc, một đựng sắn và một đựng ngô Do nhà thấp và khoảng
7 15
14 6 9
10
12
Trang 38(13).Nơi giáp gian bếp người dân thường để một số các vật dụng linh tinh trong nhà (14), vì nơi này là hai mái thấp nên ít sử dụng nhiều vào các công việc sinh hoạt khác Nơi tiếp khách của đồng bào (9) thường để một bộ ấm chén và điếu thuốc lào
Một sự khác biệt lớn trong ngôi “nhà trâu cái” với “nhà trâu đực” đó chính là nơi dành cho tín ngưỡng Theo ông Dương Văn Vấn ở Hoa Lũng: Nếu như trong nhà kết cấu vì kèo 4 cột thì không gian thờ chỉ là một thúng cám để cắm hương ngay dưới chân cột Cái thì trong không gian nhà này dù có nhỏ hơn, nhưng họ lại dành hẳn một gian giáp ngay sàn phơi (15) để làm nơi thờ cúng riêng (12) Trong gian này người dân không sắp xếp bất cứ vật dụng
gì che khuất Nơi thờ nhìn thẳng ra là một cửa sổ lớn Cách bài trí trên nơi thờ
tự cũng khác xa so với trong ngôi nhà kết cấu vì kèo 4 cột: bên trên cao nhất trên thờ Quan âm, bên dưới thờ tổ tiên và các ma trong quan niệm của người Cao Lan Điều nay thể hiện sự phong phú trong đời sống tín ngưỡng ngay trong các gia đình trong cùng một dân tộc Các đồ đạc như chăn chiếu, gối, quần áo của gia đình được gấp gọn gẽ và để vào gian sát với gian thờ tự (11) Mặc dù có số gian có thể bằng kiểu nhà kết cấu vì kèo có 4 cột, tuy nhiên
do kết cấu vì kèo mà mái nhà thường thấp hơn nên không gian trong nhà hẹp hơn Nhưng với sự sắp xếp khéo léo thì không gian nhà vẫn đáp ứng được mọi yếu tố, cả sản xuất, sinh hoạt và tín ngưỡng
1.3.4 Những nghi lễ, kiêng kị liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan
Theo kết quả của những cuộc điều tra từ khảo sát thực tế tại Đại Phú thì
có rất nhiều những kiêng kỵ trong các nghi lễ trong việc làm nhà Các nghi lễ, kiêng kỵ này xuất phát từ thực tiễn sinh hoạt và nhiều yếu tố gắn với truyền thống, lịch sử dân tộc
Trang 39Sau đây là một số những nghi lễ, kiêng kị liên quan đến ngôi nhà do hai thầy cúng Hoàng Văn Sinh và Hoàng Văn Vấn cho biết:
1.3.4.1 Những nghi lễ liên quan đến ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan
* Lễ động thổ
Lễ động thổ là lễ đầu tiên trong khi tiến hành làm nhà Lễ này với ý nghĩa cúng thổ công, cúng trừ ma tà ở mảnh đất đó, đón ông bà, tổ tiên của mình về đó trú ngụ Thầy cúng là người chịu trách nhiệm chính trong lễ này Gia chủ cần chuẩn bị hai mâm lễ mỗi mâm gồm: một chai rượu, ba chiếc chén
để rót rượu, một khổ thịt lợn luộc chín và khía hai nhát dao để tạo thành ba phần nhưng không tách rời ra, ba con gà trống luộc, ba đĩa xôi và một thẻ hương Không sử dụng tiền vàng đã làm sẵn mà sử dụng giấy mầu nguyên bản cắt thành tiền vàng, không sử dụng xin âm dương
Mâm lễ được đặt ở trung tâm của mảnh đất không kê lên bàn mà để trực
tiếp xuống đất Thầy cúng cầu đến thổ công với nội dung tạm dịch: “Xin các
quan trị vì đất này cho phép tín chủ làm nhà trên mảnh đất này, mảnh đất này từ nay đã là của tín chủ, xin được mời ông bà, tổ tiên họ về trú ngụ ở đây để phù hộ cho con cháu làm ăn Các oan hồn, ma quái trú ngụ ở đây từ nay hãy tránh xa nơi này ” Sau khi cúng xong đợi hương tàn là công việc
cúng bái hoàn tất có thể động thổ được Chủ nhà là người bổ nhát cuốc đầu tiên và sau đó anh em, họ hàng, những người thợ bắt đầu công việc đào đất, san nền Công việc san nên này kéo dài hay ngắn tùy thuộc vào địa hình nơi định dựng nhà
* Lễ dựng nhà
Chủ nhà cũng phải chuẩn bị một lễ nhỏ, có thể là lễ gà, thịt lợn nhưng đều phải là con số 3 như đã nêu trên Thầy cúng làm lễ xong là người chủ gia
Trang 40đình bắt đầu đào chiếc hố đầu tiên để chôn cột Cái của bộ khung nhà, sau đó
là các công việc của những người thợ và những người đến giúp đỡ Khi bộ cột kèo đã được dựng lên một cách hoàn chỉnh thì chủ nhà sẽ là người lập tấm mái gianh đầu tiên và là người lập đỉnh nóc Việc nay xuất phát từ quan niệm người đàn ông là trụ cột của gia đình thể hiện như tầm quan trọng của nóc nhà Khi trải sàn, chủ nhà cũng là người trải tấm đầu tiên ở gian chính giữa Sau khi công việc dựng nhà hoàn tất chủ nhà là người thắp hương dưới chân cột Cái mong muốn sự vững chãi của ngôi nhà thông qua cây cột này (cây cột
mà có thúng cám để thắp hương bên trên sàn)
* Lễ vào nhà mới
Đây là một lễ rất quan trọng về cả phẩn tâm linh lẫn đời sống thực tại Đối với đời sống tâm linh thì đây là lễ để đặt nơi thờ cúng, đón các vị tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các loại ma lành theo tín ngưỡng của dân tộc về cư ngụ trong nhà Đây là lễ cảm ơn Thổ công và thần linh đã phù hộ cho chủ nhà làm được ngôi nhà một cách trọn vẹn, cầu mong Thổ công và các thần linh tiếp tục phù
hộ cho sự bình yên của ngôi nhà, cho gia đình được làm ăn may mắn
Đối với đời sống thực tại trong cộng đồng người Cao Lan, lễ vào nhà mới là dịp để công bố với bà con xóm giềng về việc làm được ngôi nhà sàn mới, cảm ơn những người thợ, bà con họ hàng đã bỏ nhiều thời gian và công sức ra để giúp đỡ, làm công cho gia đình để hoàn thành ngôi nhà Thay lời cảm ơn, chủ nhà thường mở tiệc rất lớn để thết đãi, cảm ơn thầy cúng, những người thợ và anh em xóm làng
Trong lễ này chủ nhà thường phải chuẩn bị rất nhiều phần lễ vật Trước tiên là lễ vật để cúng ông bà tổ tiên, thứ hai là lễ vật để cảm ơn thầy cúng đã làm lễ theo suốt những công đoạn của ngôi nhà, thứ ba là những phần lễ vật
để cảm ơn những người thợ đã bỏ công sức để xây dựng ngôi nhà, thứ tư là