1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý di tích đền chu văn an phường văn an thị xã chí linh tỉnh hải dương

84 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa một bộ phận nhỏ nhân dân chưa ý thức rõ tầm quan trọng của di tích văn hóa trong đời sống xã hội đã làm cho các di tích xuống cấp một cách nhanh chóng.. Trong nhiều năm qua Đảng

Trang 1

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa- nghệ thuật

ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN PHƯỜNG VĂN AN, THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS PHAN VĂN TÚ

Sinh viên thực hiện: VŨ THỊ THANH THỦY

 

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

thầy cô giáo trong khoa Quản lý Văn hóa và các thầy cô giáo trong trường Đại học Văn hóa Hà Nội Đặc biệt em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới thầy Trưởng khoa Quản lý Văn hóa: PGS.TS Phan Văn Tú, người đã trực tiếp giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn Ban quản lý di tích thị xã Chí Linh, phòng Văn hóa Thông tin thị xã Chí Linh và các cán bộ văn hóa cơ sở đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới

cô Bùi Thị Miên - Phó Ban quản lý di tích thị xã Chí Linh, người đã trực tiếp tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho em hoàn thành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về kiến thức và thời gian nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được

sự góp ý của quý thầy cô cùng các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn nữa

Xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên

Vũ Thị Thanh Thủy

Trang 3

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp đề tài : “Quản lý di tích đền

Chu Văn An phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” là công trình

nghiên cứu của riêng em Những vấn đề nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực

Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2015 Sinh viên

Vũ Thị Thanh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.1.1 Quản lý 5

1.1.2 Quản lý văn hóa 7

1.1.3 Di tích lịch sử văn hóa 9

1.1.4 Quản lí di tích 9

1.2 Một số quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa dân tộc 9

1.3 Vai trò của đền Chu Văn An trong đời sống nhân dân xưa và nay17 CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN CHU VĂN AN VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TẠI DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN 21

2.1 Khái quát về đền Chu Văn An 21

2.1.1 Vị trí của đền Chu Văn An 21

2.1.2 Sự tích về đền Chu Văn An 21

2.1.3 Quần thể di tích của đền Chu Văn An 23

2.1.4 Lễ hội đền Chu Văn An 28

2.1.5 Giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học của đền Chu Văn An 33

Trang 5

2.2.2 Hoạt động tu bổ,tôn tạo di tích 35

2.2.3 Hoạt động quản lý dịch vụ tại đền Chu Văn An 40

2.2.4.Hoạt động thanh tra, kiểm tra tại khu di tích 43

2.2.5 Hoạt động đảm bảo an ninh trật tự và tuyên truyền phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của di tích đền Chu Văn An 44

2.3 Một số đánh giá về công tác quản lý taị di tích Đền Chu Văn 45

2.3.1 Kết quả 45

2.3.2 Hạn chế 47

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TẠI DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN 49

3.1 Phương hướng chỉ đạo công tác quản lý di tích của Nhà nước 49

3.2 Một số định hướng về công tác quản lý di tích đền Chu Văn An 52

3.2.1 Định hướng của Chính phủ về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể tại tỉnh Hải Dương 52

3.2.2 Định hướng của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương 53

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tại Đền Chu Văn An 54 3.3.1 Giải pháp về đào tạo cán bộ, hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước tại đền Chu Văn An 54

3.3.2 Nâng cao tính tự quản của nhân dân trong vấn đề quản lý và bảo vệ đền Chu Văn An 55

3.3.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, pháp luật đối với nhân dân về bảo vệ và phát huy giá trị của đền Chu Văn An 56

Trang 6

3.3.6 Giải pháp về tu bổ, tôn tạo đền Chu Văn An 60 3.3.7 Tăng cường quảng bá hình ảnh di tích đền Chu Văn An bằng nhiều hình thức, đa dạng về nội dung 61

KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Văn hóa Việt nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Trong quá trình phát triển lịch sử của đất nước, trải qua bao thăng trầm chống lại ý đồ đồng hóa của giặc ngoại xâm, đất nước Việt Nam vẫn tồn tại

và phát triển Nền văn hóa truyền thống chẳng mất không mất đi mà còn phát triển rực rỡ, giữ vững bản sắc văn hóa Việt Nam đậm đà tính dân tộc, góp phần vào việc khẳng định danh tính đất nước Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

Văn hóa truyền thống Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo lưu những giá trị văn hóa cũ hết sức đẹp đẽ của dân tộc bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Trong đó văn hóa vật thể bao gồm các

di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật, các bảo vật quốc gia và các bảo tàng Đặc biệt các di tích lịch sử là những vật chứng đang được mọi người quan tâm vì nó như là những thông điệp mà thế hệ trước trao lại cho thế hệ sau, từ đó cảm nhận được quá khứ của dân tộc, tìm đến truyền thống lịch sử văn hóa và cảm nhận sự đẹp đẽ của các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và tín ngưỡng tâm linh Trên cơ sở đó thế hệ sau tiếp nối và sáng tạo ra những giá trị văn hóa Các di tích lịch sử văn hóa gắn bó với đời sống tinh thần văn hóa của con người, từ đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc, yêu quê hương đất nước Tuy nhiên hiện nay phần lớn các di tích đang bị xuống cấp một cách trầm trọng: các di tích bị đổ nát, các cổ vật bị đem bán ra nước ngoài gây thất thoát cho tài sản văn hóa Việt Nam Do đó vấn đề bảo

Trang 8

vệ di sản văn hóa vật thể nói chung và quản lý di tích nói riêng đang được đặt

ra hết sức cấp thiết

Xuất phát từ thực tiễn quản lý ở nước ta còn nhiều hạn chế, đội ngũ nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ quản lý chưa cao, hơn nữa cùng với sự bào mòn hủy hoại theo thời gian các di tích bị xuống cấp hư hỏng nặng, các di tích bị lấn chiếm Hơn nữa một bộ phận nhỏ nhân dân chưa ý thức rõ tầm quan trọng của di tích văn hóa trong đời sống xã hội đã làm cho các di tích xuống cấp một cách nhanh chóng

Trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm trong việc xây dựng đội ngũ quản lý, tuy nhiên do điều kiện thực tế hết sức phức tạp nên các nhà quản lý còn nhiều hạn chế trong vấn đề đưa ra ý tưởng quản lý di tích văn hóa một cách xứng tầm, dẫn đến lơ là trong khâu quản lý, cho nên một thực tế đang diễn ra ở nhiều di tích là người dân ở địa phương đó đã tự bỏ vốn để xây dựng các ban miếu làm nơi thắp hương cho khách thập phương một cách bừa bãi, làm giảm sự linh thiêng phá vỡ cấu trúc vốn có của di tích nhằm thu lợi

về mình

Do đó vấn đề quản lý di tích là rất quan trọng Nó không chỉ góp phần giữ nét cổ kính, linh thiêng của các di tích như vốn có mà còn tạo ra tạo ra tinh thần thoải mái cho du khách mỗi lần đến thăm di tích

Di tích đền Chu Văn An là ngôi đền nổi tiếng về sự thiêng liêng ở phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Hằng năm cứ đến mùa xuân và các dịp lễ trong năm đặc biệt là ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11… nhân dân trong tỉnh khắp nơi nườm nượp đưa nhau về đền, tạo nên bầu không khí "rất hội" Vấn đề đặt ra ở đây là công tác quản lý di tích đền Chu Văn An còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề đang đặt ra và cần được giải quyết Xuất phát từ thực tế quản lý di tích đền Chu Văn An, trong thời gian qua Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hải Dương cùng Ban quản lý đã có nhiều cố

Trang 9

gắng trong công tác quản lý, tổ chức các hoạt động văn hóa để thể hiện tầm quan trọng to lớn của di tích ở địa phương và quốc gia về văn hóa đất nước Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được còn nổi lên một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết về cơ chế quản lý trên một số phương diện như: Bộ máy quản lý, quyền quản lý đất đai, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa văn hóa với kinh tế, dịch vụ và du lịch Là người con được sinh ra trên mảnh đất Chí Linh, được sống gắn bó, gần gũi và chứng kiến sự

đổi thay đang diễn ra từng ngày ở di tích nên em đã chọn đề tài " Quản lý di

tích đền Chu Văn An phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương" làm

đề tài nghiên cứu của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài đề cập đến công tác quản lý di tích đền Chu Văn An Tập trung làm sáng tỏ vấn đề quản lý ở di tích phức hợp và hàm chứa nhiều lĩnh vực: di vật, các công trình kiến trúc, tín ngưỡng và sinh hoạt dân gian đã và đang tồn tại diễn biến ở di tích đền Chu Văn An từ năm 2011 đến nay

3 Mục đích nghiên cứu

Nhằm góp phần nhỏ công sức của mình cùng với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp ra sức bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc văn hóa Bởi đó chính là tài sản quý giá của văn hóa dân tộc, một bộ phận cấu thành của văn hóa

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu về đường lối của Đảng và Nhà nước trong vấn đề bảo vệ di sản văn hóa dân tộc Tìm hiểu thực tiễn công tác quản lý di tích đền Chu Văn An, tác giả đưa ra và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý di tích bảo vệ vốn văn hóa dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận sử dụng các phương pháp sau:

Trang 10

điền dã, đọc tài liệu, quan sát, phỏng vấn…

6 Đóng góp của khóa luận

Đề tài đóng góp một phần kiến thức nhỏ về những nghiên cứu bước đầu trong công tác quản lý di tích đền Chu Văn An

Về mặt lí luận: Đề tài làm rõ được vấn đề về vai trò của Nhà nước trong việc quản lý các di sản văn hóa dân tộc nói chung và các di tích lịch sử văn hóa nói riêng

Về mặt thực tiễn: Những vấn đề được đề cập trong đề tài sẽ góp phần nhỏ vào việc thông tin và giải quyết những vấn đề thực tiễn và sinh động đang diễn ra trong khung cảnh đổi mới nói chung và ở di tích đền Chu Văn An nói riêng Đồng thời đưa ra thông điệp vừa mang tính chất cần thiết, cấp thiết của mọi người trong việc ứng xử có văn hóa đối với di tích Từ đó, đưa ra biện pháp hành động đúng đắn nhằm bảo vệ và phát huy giá trị quần thể di tích trong đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của địa phương cũng như của cả nước

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm

3 chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN CHU VĂN AN VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TẠI DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TẠI DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Quản lý

Từ trước tới nay đã có rất nhiều định nghĩa về “Quản lý” Quản lý là từ Hán Việt: Quản là lãnh đạo, đứng đầu một công việc, lý là chăm nom, chăm

sóc một công việc nào đó

Trong khoa học: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người, là hoạt động do một người hoặc nhiều người điều phối hoạt động của người khác nhằm quản lý các công việc Quản lý là sự tác động có mục đích, có hướng đích của chủ thể( người tổ chức, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý

về mặt văn hóa, chính trị , kinh tế, xã hội… bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc và các phương pháp tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của các đối tượng nhằm đạt được mục đích đã đề ra

Theo C.Mac: Quản lý là các chức năng xã hội đặc biệt, nẩy sinh từ các nền sản xuất

Câu nói của Mác cho ta hai nhận thức: khác với thế giới động vật cá thể này cai trị cá thể khác theo quy luật đấu tranh sinh tồn thì con người lại tiến tới hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Thực chất của mối quan hệ giữa người với người chính là mối quan hệ kinh tế Bởi vậy quản lý phải xuất phát từ các nền kinh tế khác nhau để thực hiện tính chất của mình

C.Mac cũng nói rằng: Một người chơi độc tấu vĩ cầm chỉ cần chơi một mình còn dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng( Mac toàn tập) Rõ ràng quản lý là

sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý

Trang 12

Quản lý luôn ở trạng thái động và sự vận động của quản lý luôn tuân theo quy trình nhất định Quản lý bao gồm các công đoạn quản lý và thao tác quản lý Các công đoạn và các thao tác quản lý được hình thành trên hai mặt: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý Cả hai đều được xác định rõ ràng về vai trò, chức năng, mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Như vậy, quản lý là sự điều khiển đối tượng đang vận động nhằm một mục tiêu nhất định Muốn quản lý tốt chủ thể quản lý phải hiểu đối tượng quản lý là gì? Nên như thế nào và ở trạng thái nào?

Mỗi đối tượng quản lý đều tồn tại trong thực tế dưới dạng quá trình tổng hợp, tổng hợp những mối quan hệ nhất định Như vậy chủ thể quản lý phải nắm bắt những thông số về đối tượng đang vận động và sự vận động của đối tượng

Quả thật quản lý là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong đời sống

xã hội Xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung của quản lý ngày càng phức tạp Do đó người quản lý không chỉ đòi hỏi

có trình độ chuyên môn mà các nhà quản lý còn phải hiểu biết tâm lý và có phương pháp sư phạm

Tóm lại, quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình Tuy nhiên chúng ta có thể định nghĩa chung về quản lý theo quan điểm của điều khiển học: Theo Điều khiển học, khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã dự kiến, đã đề ra

từ trước

Trang 13

Vấn đề quản lý mà chúng ta nghiên cứu, quan tâm là quản lý Xã hội, quản lý Nhà nước

1.1.2 Quản lý văn hóa

Có thể nói rằng: Quản lý văn hóa không phải là sự kết hợp một cách đơn giản hai loại khái niệm: Quản lý và Văn hóa mà nó là sự phối kết hợp một cách linh hoạt, uyển chuyển hai khái niệm ấy trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của xã hội khác nhau trên cơ sở những nền sản xuất của xã hội đó

Xuất phát từ nội dung, khái niệm văn hóa gồm ba thành tố: con người, hoạt động, thành tựu trong tố thành tố con người đóng vai trò chủ chốt mà nghị quyết Trung ương V đã đề ra Dẫn đến quản lý văn hóa phải là quản lý

ba yếu tố đó

Quản lý văn hóa không chỉ là công việc của đất nước ta mà còn của nhiều nước trên thế giới hiện nay Để đẩy mạnh sản xuất, phân phối hợp lí của

xã hội tất yếu nhân loại phải tìm ra cách quản lý mới

Quản lý văn hóa không chỉ tìm ra cách sống mà còn phải tìm ra lối sống đẹp, hướng đến tương lai phát triển Văn hóa được hiểu không chỉ là cái tốt đẹp đã có mà còn là cái tốt đẹp cần phải có Tất cả những thành tựu đã có

và sẽ có của văn hóa đều do con người làm nên Bởi vậy, quản lý văn hóa trước hết và quan trọng hơn hết là quản lý con người Sáng tạo ra văn hóa là

sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Vai trò của Nhà nước đứng ra tổ chức là vô cùng quan trọng nhưng văn hóa là “ của dân do dân và vì dân” nên bản chất của quản lý văn hóa là sự kết hợp giữa Nhà nước quản lý và nhân dân tự quản ( Nguyễn Khoa Điềm)

Trang 14

Để thực hiện nhiệm vụ quản lý văn hóa phải thực hiện phương châm giữa xây và chống Trong đó xây là chính, chống là cần thiết và chống là để xây

Văn hóa thông tin là một lĩnh vực trong đời sống xã hội Do vậy việc tăng cường hiệu lực quản lý trong lĩnh vực này hết sức quan trọng Luật hành chính Việt Nam một lần nữa khẳng định vai trò của bộ máy quản lý Nhà nước trong sự nghiệp phát triển về văn hóa: Quản lý Nhà nước là hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị Nhà nước đại diện cho nhân dân đảm bảo cho mỗi công dân được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình trong đó có các quyền văn hóa như: quyền tự

do ngôn luận, quyên tự do báo chí, học tập, sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật…Nhà nước có trách nhiệm điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn các nhu cầu văn hóa của xã hội

Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là

sự nghiệp của toàn xã hội Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý đối với văn hóa điều đó không có nghĩa là Nhà nước sáng tạo ra các giá trị văn hóa mà Nhà nước có vai trò định hướng cho sự phát triển của nền văn hóa theo hướng

đã được xác định là nền văn hóa “ Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nhà nước thực hiện các hoạt động nhằm hướng vào sự thống nhất tư tưởng, tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường hoạt động giáo dục, xây dựng lối sống đạo đức lành mạnh Điều 30, Hiến pháp 1992( sửa đổi 2001) ghi rõ “ Nhà nước và xã hội kế thừa và phát triển những giá trị của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đặc điểm, phong cách

Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất sự nghiệp quản lý văn hóa”

Trang 15

1.1.3 Di tích lịch sử văn hóa

Với một bề dày truyền thống văn hóa lâu đời, nước ta có một kho tàng

di sản văn hóa rất phong phú Trong kho tàng văn hóa ấy, chiếm số lượng lớn

là các di tích lịch sử văn hóa Điều 4, Luật Di sản văn hóa: “ Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng địa điểm và các di vật, bảo vật, cổ vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử , văn hóa khoa học”

1.1.4 Quản lí di tích

Trong điều 4 Luật Di sản văn hóa cũng đề cập đến các hoạt động xung quanh vấn đề quản lý di tích Nó bao gồm các hoạt động như: Bảo quản di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tu bổ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

tu sửa tôn tạo di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

Phục hồi di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục hưng lại di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh đó

1.2 Một số quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa dân tộc

Di sản văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Nó không chỉ góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã hội vững chắc mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội “ Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa

Trang 16

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” ( Hội nghị Ban chấp hành trung ương V khóa 8)

Thiếu nền tảng vật chất thì con người không thể tồn tại được nhưng nếu thiếu nền tảng tinh thần thì con người không thể phát triển toàn diện được, không thể trở thành nhân cách văn hóa được

Di sản văn hóa không chỉ góp phần hình thành nên môi trường sinh thái văn hóa của cộng đồng mà còn bồi đắp ý thức cá nhân và cộng đồng trong suốt quá trình tồn tại tạo nên sự tiếp nối trong truyền thống văn hóa Xét về mặt kinh tế thì văn hóa chính là nguồn lực tạo tiềm năng kinh tế cho xã hội Ngành du lịch phát triển ngày nay là nhờ có cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch

sử văn hóa Di sản văn hóa còn là ngôn ngữ, là nhịp cầu nối quan hệ giữa nước ta và các nước ta và các nước trên thế giới, góp phần rất lớn vào giao lưu văn hóa và hòa bình dân tộc

Trong thời đại ngày nay, việc bảo tồn các di sản văn hóa đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, một vấn đề cấp bách của toàn nhân loại Nhiều nước đang ban hành Hiếp pháp và những bộ luật riêng về vấn đề đó

Trong xu thế chung của nhân loại, văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giao lưu và hội nhập, do vậy bảo vệ các di sản văn hóa có vai trò vô cùng to lớn Nó không chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia mà là của thế giới mang tính toàn cầu Do đó việc bảo vệ di sản văn hóa mang tính chất toàn cầu đã được thể hiện ở một số văn bản quốc tế ở một số nước trên thế giới

Ngày 19/11/1968, khóa họp thứ XV của Liên hợp Quốc phê chuẩn khuyến cáo về bảo vệ tài sản văn hóa do những hoạt động xã hội hoặc tư nhân gây ra Ngoài những tai họa tự phát, chiến tranh và những biểu hiện của chủ

Trang 17

nghĩa phát xít, chính hoạt động của con người đôi khi cũng làm hại tới di sản văn hóa

Những công ước được kí kết về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa từ ngày 17/10 đến ngày 21/11/1972 UNESSCO - Tổ chức văn hóa và giáo dục thế giới đã đưa ra những công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

Bên cạnh đó giữa các nước cũng có các công ước được kí kết về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa như: Công ước La Hay 15/5/1954 Công ước La Hay là một điển hình nhằm buộc các nước phải nghiên cứu và có những biện pháp tích cực mang tính pháp lý để bảo vệ tài sản văn hóa của nhân loại Việt Nam

là một trong những nước đó

Di sản văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của mỗi một đất nước, nó cho

ta biết được sự phong phú đa dạng của nền văn hóa dân tộc Bảo vệ, giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc là công việc quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Ban, ngành các cấp và toàn thể nhân dân Xây dựng pháp lí là yêu cầu đầu tiên của sự nghiệp bảo vệ di tích Qua các thời kì Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lí làm cơ sở cho công tác bảo vệ di tích Ngay từ khi mới giành được độc lập, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhiều công việc quan trọng phải làm song Đảng và Nhà nước ta vẫn quan tâm đến việc bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc

Ngày 31/11/1945, Hồ Chí Minh đã kí sắc lệnh số 65LC/CTP ấn định nhiệm vụ cho “ Đông phương bác cổ học viện” Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo vệ các di tích, di sản văn hóa là việc làm cần thiết cho đất nước Sắc lệnh 65 ra đời đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước mà biểu hiện cụ thể là Hồ Chí Minh trong công cuộc bảo vệ và phát huy

Trang 18

các giá trị văn hóa dân tộc Khẳng định vai trò to lớn của công tác bảo vệ di sản văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Sắc lệnh 65 khẳng định sự ra đời của một cơ quan mới của chính quyền nước Việt Nam là nhiệm vụ bảo tồn, nghiên cứu các di sản văn hóa dân tộc,

đó là ngành Bảo tồn, Bảo tàng Việt Nam

Tiếp đó trong các báo cáo chính trị của các kì Đại hội, Đảng ta lại đề cập đến các vấn đề bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc

Báo cáo chính trị trong Văn kiện Đại hội VI nhấn mạnh:” Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho văn hóa nghệ thuật, giữ gìn và tôn tạo các di tích văn hóa”(trang 192)

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta tập trung vào tự khuyến khích, tự do sáng tạo các giá trị văn hóa, giữ gìn và nâng cao các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống, trong đó đặc biệt chú ý bảo vệ

và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa Báo cáo chính trị trong Văn kiện Đại hội cũng nhấn mạnh: “ Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học nghệ thuật , ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh”( trang 115)

Hội nghị khóa V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, ngày 16/7/1998 đề ra nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam “ Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Hơn 50 năm sau, kể từ khi đề cương văn hóa Việt Nam ra đời, Nghị quyết trung ương V khóa VIII thật sự là chiến lược văn hóa của Đảng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh

Trang 19

Cũng trong thời gian này, có nhiều quyết định quan trọng trong vấn đề bảo vệ di sản văn hóa dân tộc đã được tiến hành

Trong pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Điều 14 viết:” Tổ quốc hoặc cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, tập thể hoặc cá nhân là chủ sở hữu của di tích lịch sử văn hóa có nghĩa vụ bảo vệ thường xuyên di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh theo những quy định về bảo tồn của Nhà nước Khi di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh bị hư hại, chủ sở hữu, tổ chức cá nhân trực tiếp bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có nhiệm vụ tiến hành những biện pháp bảo vệ cấp thiết và phải báo ngay với UBND xã, phường, thị trấn biết để giúp đỡ và báo cáo kịp thời với cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp”

Tiếp đó là thông tư số 206/VH_TT ngày 22/7/1986 của BVHTT về việc hướng dẫn thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

Quyết định số 1706/2001/QĐ_BVHTT ngày 27/7/2001 của Bộ trưởng BVHTT phê duyệt qui hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch

sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Với mục tiêu lâu dài là giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các di tích đã và đang được xếp hạng, không để xuống cấp, hư hỏng hoặc bị hủy hoại

Nâng cao nhận thức, bảo vệ các di tích trong việc giáo dục lịch sử truyền thống văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc, đặc biệt là thế hệ trẻ, giới thiệu bản sắc và tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các nước là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết trung ương V đã đề ra

Trang 20

Ngày 29/6/2001, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X kì họp thứ IX đã thông qua luật di sản văn hóa số 28/2001- QH10, chủ tịch nước Trần Đức Lương đã kí sắc lệnh công bố số 09/201/CTN ngày 12/7/2001 Luật di sản văn hóa ra đời là bộ luật về văn hóa cao nhất đầu tiên ở nước ta và cũng là đầy đủ nhất điều chỉnh cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Luật di sản văn hóa có 74 điều, 7 chương trong đó quy định rất rõ về bảo

vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hóa phi vật thể

Điều 55: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; Bộ văn hóa thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

có trách nhiệm quản lý Nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp với Bộ văn hóa để thực hiện thống nhất về quản lý di sản văn hóa

Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý về di sản văn hóa ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ; Hội đồng tư vấn di sản quốc gia là hội đồng tư vấn của Thủ tướng Chính phủ

về di sản văn hóa Thủ tướng chính phủ quy định việc tổ chức và hoạt động của hội đồng di sản văn hóa quốc gia

Nhà nước có trách nhiệm đứng ra tổ chức quản lý di sản văn hóa Mọi công dân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền sử dụng di tích vào các mục tiêu văn hóa đồng thời cũng có nghĩa vụ cùng với nhà nước tham gia vào việc bảo vệ các di tích

Thực hiện chương trình làm việc toàn khóa của Ban chấp hành Trung ương khóa IX, ngày 5/7/2004 tại Hà Nội, hội nghị lần thứ X đã khai mạc Hội nghị đã đánh giá kết quả của Hội nghị trung ương V khóa VIII về xây dựng

Trang 21

nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đồng thời đề ra các giải pháp mới về nhận thức đối với vai trò của công tác văn hóa: phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần cho xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Mục tiêu của Hội nghị là:” Cùng với việc đánh giá thực trạng văn hóa, Hội nghị cần phân tích một cách rõ ràng các nguyên nhân chủ quan và khách quan của cả thành tựu và khuyết điểm về nhận thức, về lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của Đảng và chính quyền các cấp” Hội nghị cũng được phân tích những vận động những nhân tố mới ở trong và ngoài nước có tác động đến việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa của nước

ta, từ đó xác định trọng tâm đến năm 2020, đồng thời đề ra những giải pháp mới để tạo bước chuyển cơ bản trong việc và phát triển nền văn hóa “Tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, đồng bộ với sự phát triển kinh tế trong những năm tới( phát biểu của đồng chí Nông Đức Mạnh, khai mạc hội nghị lần X, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày 5/7/2004)

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, điều

34 ghi rõ: “ Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa dân tộc, chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, danh lam thắng cảnh Nghiên cứu các hoạt động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh” Văn hóa Việt Nam là thành quả của ngàn năm lao động và sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả của giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới và không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên linh hồn, khí phách, bản lĩnh làm rạng danh trang sử vẻ vang của dân tộc

Trang 22

Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng, văn hóa Việt tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc

và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược xây dựng và bảo về tổ quốc vì “ Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” là sự nghiệp sáng tạo của nhân dân ta, đồng thời là quá trình cải tiến xã hội sâu sắc đòi hỏi phát huy khả năng, trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam

Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hóa của các tầng lớp nhân dân, quá trình dân chủ hóa… là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa xã hội

Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thử thách mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có các phương hướng chiến lược cùng các nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta theo đúng cương lĩnh trong xây dựng đất nước trong thời kì quá độ nên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong công cuộc bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa, theo như lời LêNin nói thì: “ Người giai cấp công nhân không giữ gìn di sản di sản như những người lưu trữ văn thư bằng giấy tờ cũ Giữ gìn di sản không có nghĩa là bám chặt lấy di sản” Đó là cái nhìn toàn diện, khoa học về bảo lưu, tiếp thu và sử dụng di sản văn hóa một cách hiệu quả và tích cực

Hưởng ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Văn hóa Thông tin

về việc bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa dân tộc, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh

Trang 23

Hải Dương, ban quản lý di tích thị xã Chí Linh và các ban ngành liên quan đã đưa ra nhiều quyết định, phương án trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị di tích đền Chu Văn An

Khu di tích Chu Văn An được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 2161/QĐ-BVHTT ngày 11/10/1998

Trong những năm qua, Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch đã cùng UBND tỉnh Hải Dương đầu tư kinh phí tu bổ di tích và tổ chức nghiên cứu phục dựng lại các nghi lễ của lễ hội ngày càng khang trang khởi sắc

1.3 Vai trò của đền Chu Văn An trong đời sống nhân dân xưa và nay

Đền Chu Văn An đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống nhân dân tỉnh Hải Dương nói chung và nhân dân thị xã Chí Linh nói riêng Đền Chu Văn An có vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của người dân Hải Dương Cũng giống như bất cứ ngôi chùa, ngôi đền nào trên đất nước Việt Nam, đền và chùa là nơi hành hương của các tín đồ phật giáo, không chỉ có nhân dân và tín đồ ở đây mà còn ở nơi khác đến.Cứ mỗi độ tết đến, xuân về những cuộc hành hương của các tín đồ phật giáo, đồng thời của người dân đi

lễ lại bắt đầu

Nếu hành hương về cõi phật thường chỉ phổ biến với những phật tử ngoan đạo thì trẩy hội lại thu hút nhân dân nhiều hơn, rộng rãi hơn mọi tầng lớp nhân dân, từ trẻ em cho đến người già, từ những người mộ phật cho đến những người không am hiểu gì về cõi thiền thì người ta vẫn đến đây bằng cả tấm lòng

Từ xưa đến nay, nhân dân đến với đền Chu Văn An , không chỉ với mục đích vui chơi, chiêm ngưỡng cảnh đẹp của chốn bồng lai, tiên cảnh, phong cảnh hữu tình mà họ đến đây để thắp một nén nhang, để gửi tâm hồn

Trang 24

mình đến với người thầy của muôn đời, coi đền Chu Văn An là nơi dựa dẫm,

là chốn linh thiêng để cầu phúc, cầu an, cầu tài và cầu duyên và đặc biệt là cầu cho sự học Mọi người thường đi lễ vào đầu năm mới, ngày lễ phật, các ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng, ngày 20/11, ngày 26/11( âm lịch, ngày mất của thầy giáo Chu Văn An), đây là phong tục tốt đẹp của người Việt trên khắp mọi miền đất nước

Tên tuổi thầy giáo Chu Văn An đã đi vào lịch sử giáo dục Việt Nam như một bậc danh sư, một nhà giáo dục đầy tài đức, luôn tận tụy với nghề dạy học Đã hơn 6 thế kỷ qua, kể từ khi Vạn thế sư biểu Chu Văn An qua đời, những tư liệu viết về ông đã thất lạc nhiều, di tích có liên quan đến ông cũng thay hình đổi dạng, thế nhưng những gì người đời viết về ông còn lại đến hôm nay đều là những lời lẽ trân trọng, chí tình về một nhà giáo tài đức vẹn toàn Những di tích dù ở chốn rừng sâu hay giữa kinh đô hoa lệ đều có sức hấp dẫn

lạ thường và được nhân dân nhiệt tâm gìn giữ, đặc biệt là di tích tại núi Phượng Hoàng - thị xã Chí Linh - tỉnh Hải Dương

Trong không gian quần thể đền Chu Văn An uy nghi, thanh tịnh nằm ẩn mình giữa khu rừng thông xanh ngút ngàn, nổi bật lên hàng chữ “Vạn thế sư biểu”, đặc biệt là bảng khắc chữ “Học” rất lớn theo nét bút thư pháp ở trên con đường vào đền Đây là sự thể hiện tấm lòng tri ân của bao thế hệ người Việt đối với người thầy giáo mẫu mực Chu Văn An Một điểm rất khác biệt nữa ở đền Chu Văn An, mỗi khi du khách vào đền, ngoài việc dâng lễ chay, lễ mặn còn dâng cả bút, sách, vở để cầu công danh, thi cử, học hành

Núi Phượng Hoàng – đền thờ thầy giáo Chu Văn An, đang được xây dựng đúng tầm vóc, thân thế sự nghiệp của một nhà giáo mẫu mực của muôn đời, người đã làm rạng rỡ nền giáo dục nước ta hơn 600 năm qua Vì vậy, việc quảng bá di tích phục vụ cho du lịch và ý nghĩa tâm linh là rất cần thiết,

Trang 25

song việc quan trọng và sâu sắc hơn đó là việc khơi dậy truyền thống giáo dục, đạo học, đạo làm thầy của tổ tiên ta, tiếp tục trấn hưng nền giáo dục của quê hương, đất nước

Chúng ta, đến dâng hương tại đền, là tự tâm đến với thầy vì lòng kính trọng, tôn thờ thầy về tâm đức, đạo làm thầy, người đã đắp nền móng cho nền giáo dục nước ta bằng tâm đức và chính cuộc đời của mình Thật là vĩ đại Người làm sáng ngời về đạo học, đạo làm thầy và đã làm vẻ vang cho nền giáo dục của nước nhà, là tấm gương để chúng ta soi chung, thì chính chúng

ta phải sống tốt hơn, dậy và học tốt hơn, thi cử, văn bằng đúng nghĩa, để xứng đáng với đạo học và nghiệp làm thầy như thầy Chu Sống như thế thật là thanh thản

Ai đó đến đây xin thầy tiền bạc, cầu khẩn giàu sang, đòi hỏi nhiều thứ cùng danh lợi để tiến thân hãy nhìn vào ánh mắt dịu hiền và nghiêm khắc của thầy thì biết mình là ai và mình phải làm gì để sống cho có ý nghĩa

Đền Chu Văn An còn có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đền Chu Văn An ngày càng phát huy giá trị, đóng góp vào phát triển du lịch toàn tỉnh Cứ mỗi năm tết đến, xuân về, không chỉ nhân dân trong tỉnh mà nhân dân lân cận như: Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang…nhu cầu của khách du lịch là rất lớn Từ chỗ ăn, chỗ ngủ, nghỉ cho đến sắm lễ, đội lễ vào đền nên đã tạo điều kiện cho ngành du lịch tại đền phát triển Nhiều hàng quán của các hộ gia đình đã được dựng lên phục vụ nhu cầu của khách tham quan Chính vì vậy đã giải quyết số lượng lớn công ăn việc làm cho người dân nơi đây, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân

Trang 26

Hằng năm đền Chu An Văn có hàng vạn khách du lịch ra vào tham quan, thắp hương Do vậy, mà đem lại nguồn thu lớn cho ngành du lịch Hải Dương

Sở VHTT tỉnh Hải Dương cùng ban quản lý di tích đền Chu Văn An

và Sở du lịch luôn phối hợp với nhau trong việc quảng bá hình ảnh đền Chu Văn An với nhân dân trong nước và nhân dân thế giới cũng như công tác bảo

vệ, giữ gìn đền Chu Văn An

Vai trò của đền Chu Văn An là rất lớn Nó không chỉ là tài sản của nhân dân Hải Dương mà còn của cả nước Hiện nay nó đã và đang phát huy vai trò của mình trong xu thế hội nhập

Trang 27

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ ĐỀN CHU VĂN AN VÀ THỰC TRẠNG QUẢN

LÝ TẠI DI TÍCH ĐỀN CHU VĂN AN 2.1 Khái quát về đền Chu Văn An

2.1.1 Vị trí của đền Chu Văn An

Đền Chu Văn An tọa lạc trong khu di tích Phượng Hoàng, thuộc địa phận phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cách Hà Nội khoảng

hơn 80 km về phía đông

Nằm giữa rừng thông bạt ngàn của núi Phượng Hoàng thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, di tích đền Chu Văn An là điểm du lịch tâm linh và sinh thái của nhiều du khách, nhất là thầy và trò các trường

2.1.2 Sự tích về đền Chu Văn An

Truyền thuyết kể rằng, vào một ngày nọ, trên bầu trời vùng đất Chí Linh bỗng xuất hiện đàn chim Phượng Hoàng 72 con đang tung cánh bay Thấy cảnh sắc nơi đây non nước hữu tình, đàn chim đã không bay đi tiếp mà cùng đáp xuống và sau đó hóa thân thành dãy núi 72 ngọn

Nói đến Phượng Hoàng là nói đến một vùng núi non đặc biệt linh thiêng của thị xã Chí Linh Từ thuở hồng hoang quần thể này đã sừng sững 72 ngọn núi hình thế như một chim Phượng Hoàng xoải cánh Phượng Hoàng là nơi có cảnh quan thiên nhiên kì thú, với thông reo vi vu, bất tận, tiếng suối chảy rì rào quanh năm suốt tháng, chim líu lo xây tổ giữa ngàn thông… Phượng Hoàng có cả một quần thể núi trập trùng bốn phía là niềm tự hào của người Chí Linh và làm say lòng du khách thập phương muôn đời Sách “ Chí Linh huyện sự tích” có câu:

Trang 28

“ Quần sơn la liệt trận bày

Tả hữu tung cánh, Phượng bay ngang trời”

“ Kiệt Sơn thất thập nhị phong Phượng Hoàng là nhất trong vùng Chí Linh”

Núi Phượng Hoàng có nhiều di tích lịch sử quốc gia nổi tiếng ẩn hiện

xa gần như Huyền Thiên cổ Tự, Tinh Phi cổ tháp… Phượng Hoàng cũng là nơi danh nhân nhiều thời đại tìm về… Song gắn bó sâu nặng hơn cả với Phượng Hoàng có lẽ là nhà giáo Chu Văn An – người thầy đạo cao đức trọng – bậc tôn sư muôn đời của nước Nam ta Thầy Chu Văn An đã ẩn cư nơi đây khoảng mười năm cuối đời sau khi dâng “ Thất trảm sớ” và yên nghỉ vĩnh hằng trên đỉnh núi giữa ngàn tùng cổ thụ

Từ thuở hồng hoang cho đến tận bây giờ, cảnh sắc núi Phượng Hoàng vẫn đẹp như tranh vẽ, 72 ngọn núi vẫn trầm mặc uy nghi, thông mã vĩ vẫn thì thầm kể huyền thoại về những nhà giáo mẫu mực trong lịch sử, khắc tạc vào tâm khảm người đời sau đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Tôn sư trọng đạo” của dân tộc Việt Nam

Do linh chung tứ khí nơi đây hết sức thiêng liêng, lại được những bậc hiền nhân như Thầy Chu Văn An tiếp dẫn linh khí vào mạch đất cho nên Phượng Hoàng từ xa xưa đã trở thành “đất học” khiến cho hình tượng chim Phượng Hoàng càng thêm lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ Vì thế, khu di tích Phượng Hoàng là địa chỉ tâm linh của giáo viên, học sinh, những người quan tâm đến

sự học và nhân dân cả nước

Chu Văn An quê gốc ở làng Văn Thôn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội Ông là người có công lớn đầu tiên trong việc truyền bá, giáo dục

tư tưởng đạo đức Khổng Giáo ở Việt Nam Năm 16 tuổi, ông đã đỗ “Đình

Trang 29

Thí” (khoa Thi đình) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung nằm gần làng Văn Thôn Ngoài 20 tuổi, ông được Vua Trần Minh Tông (1314 – 1329) mời làm tư nghiệp Quốc tử giám dạy học cho Thái

tử Đến đời Vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), vì không chịu nổi bọn gian thần ác bá, ông đã trao ấn từ quan về ở ẩn trên núi Phượng Hoàng, lấy hiệu là

“Tiều ẩn” (tiều phu), chỉ chuyên dạy học, viết sách, làm thơ, nghiên cứu y dược cho tới khi mất

Sau khi Chu Văn An qua đời (1370), tại nơi thầy làm nhà dạy học đã được dựng ngôi đền thờ thầy

2.1.3 Quần thể di tích của đền Chu Văn An

Quần thể di tích đền Chu Văn An bao gồm: Đền thờ Thầy giáo Chu Văn An, Điện Lưu Quang, Giếng Son, Miết trì, Lăng mộ, Giếng ngọc, chùa

Kỳ Lân

- Đền thờ Thầy giáo Chu Văn An

Đền thờ Thầy giáo Chu Văn An là công trình lớn nhất trong khu di tích Phượng Hoàng thuộc phường Văn An, thị xã Chí Linh

Sau khi Chu Văn An qua đời (1370), tại nơi thầy làm nhà dạy học đã được dựng ngôi đền thờ thầy Tuy nhiên, trải qua sự nghiệt ngã của thời gian,

sự khốc liệt của bom đạn chiến tranh, đến những năm 80 của thế kỷ trước đền

đã bị phá hủy gần như hoàn toàn Trước thực trạng đó, những năm 90 của thế

kỷ trước, được sự nhất trí của chính quyền các cấp, Bảo tàng Hải Dương, UBND phường Văn An và ngành Giáo dục cùng bà con địa phương đã tiến hành một cuộc đại trùng tu và tôn tạo lại đền Kết quả sau 2 giai đoạn trùng

tu, giờ đây đền thờ Chu Văn An đã trở thành quần thể kiến trúc bề thế trang nghiêm bao gồm: tam quan nội, tam quan ngoại, sân hạ, sân trung, sân thượng, vườn cây, hai nhà giải vũ, hai nhà bia, đền thờ chính cùng những bức

Trang 30

phù điêu chạm Long Phượng vờn mây và 112 bậc đá dẫn lên đền thờ chính Đền thờ chính được xây dựng theo hình chữ Nhị, phong cách kiến trúc thời Nguyễn, chồng diêm 2 tầng 8 mái, ngói liệt với 8 góc đao cong, bao gồm 5 gian tiền tế và 1 gian hậu cung Chính giữa tiền tế đặt ban thờ công đồng, ngay phía sau là ban thờ gia tiên họ Chu, bên phải là ban thờ sơn thần núi Phượng Hoàng, bên trái là ban thờ các môn sinh của thầy Trong hậu cung đặt tượng thờ thầy bằng đồng, nặng 100kg Nghệ thuật trang trí trong đền theo đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) Các bức y môn sơn son thiếp vàng trang trí mỹ thuật theo hình tượng “rồng chầu hoa cúc mãn khai”

- Điện Lưu Quang

Điện Lưu Quang nằm cách đền Chu Văn An khoảng 100m về phía tây Đây là công trình được kiến trúc hình chữ Đinh, theo kiểu “chồng diêm cổ các” 8 mái, đao cong tạo vẻ thanh thoát, uy nghi, bao gồm 5 gian, 2 dĩ chồng rường, đấu sen Trong điện đặt tượng thầy giáo Chu Văn An và treo một bức đại tự “Vạn Sư thế biểu” Trên bờ nóc, bờ đao, đầu bảy, mảng cốm, lá gió… đều được trang trí các họa tiết theo phong cách thời Trần – Lê như: lưỡng long chầu nguyệt, rồng chầu phượng múa…

- Giếng Son

Giếng Son là điểm độc đáo của di tích Phượng Hoàng gắn với nét văn hóa xin chữ Thánh hiền bằng mực son duy chỉ có ở đền thờ Thầy giáo Chu Văn An

Giếng Son (nay đã bị lấp) được các nhà nghiên cứu nhận định nằm ở phía đông đền Chu Văn An Bởi vì, theo kết quả khảo cổ học, tại vị trí này có rất nhiều cục son

Trang 31

Theo sách “Dư địa chí” của Phan Huy Chú và “Công dư tiệp ký” của

Vũ Phương Đề cũng cho biết, núi Phượng Hoàng có loại son rất quý, màu đỏ tươi, được các đạo sĩ thời xưa coi là nguyên liệu tốt để luyện đan Thầy giáo Chu Văn An và học trò thường lấy ống nứa cắm xuống đáy giếng, khi rút ống lên lấy được son mềm như bùn, đem phơi khô son rắn lại Thầy giáo đã dùng những thỏi son này để viết những áng thơ, văn, chấm bài cho học trò Nhiều người cảm mến đức độ của thầy thường đến xin thầy cho một chữ son

Có thể nói: núi Phượng Hoàng có loại son rất quý, sắc son đỏ tươi, loại son này thời xưa các đạo sĩ coi là nguyên liệu tốt nhất để “ luyện đan” Đối với người cần viết lách, son là thứ mực đặc biệt

- Miết trì

Miết trì là nơi mạch nước từ đỉnh núi Phượng Hoàng chảy xuống tụ thủy thành ao Thầy Chu Văn An nuôi ba ba trong ao thể hiện nỗi lòng đau đáu nhớ người học trò Thủy thần (thuồng luồng) vì quá ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của thầy Chu Văn An đã hóa thân thành người thường để được học chữ của thầy Tuy nhiên, sau đó ngài đã phải hy sinh cả tính mạng để làm mưa giúp dân thoát khỏi hạn hán Năm nào đã làm mưa giúp dân vượt qua cơn hạn hán

Miết trì ngày nay được xác định là phần đất trũng ngay trước điện Lưu Quang nhìn ra hướng nam Khai quật Miết trì, tìm thấy nhiều di vật của thế kỷ XIV- XV

Hiện nay, Miết trì chỉ còn lại dấu tích chưa có điều kiện đầu tư xây dựng lại Trong tương lai không xa, Miết trì sẽ được xây dựng cùng các hạng mục khác của khu di tích trong quy hoạch tổng thể như Lâm viên, Nhà truyền thống giáo dục

- Lăng mộ

Trang 32

Lăng mộ Thầy giáo Chu Văn An tọa lạc ở gần đỉnh phía Đông núi Phượng Hoàng, bên cạnh Giếng Ngọc, giữa một rừng thông bát ngát Theo truyền thuyết địa phương, vị trí đặt mộ thầy chính là đầu của chim Phượng – đỉnh cao của công lý và đức hạnh Ở đó, trong cõi vô thường, người quân tử

có thể thấu suốt lẽ đời, thấu hiểu lòng người

Lăng mộ Thầy Chu Văn An tựa lưng vào núi Phượng Hoàng, minh đường là một thung lũng nhỏ, đây là vị trí tuyệt vời về mặt địa lý Phần mộ được kè đá hình chữ nhật, kích thước 4x7m vẫn được bảo lưu nguyên trạng Khi trồng cây bên mộ, phát hiện nhiều bát đĩa thời Trần, nhiều chiếc còn lành nguyên được chôn cất

Lăng mộ Thầy Chu Văn An đã được tu bổ, phục hồi bằng chất liệu đá xanh Trên diện tích 648m2, bố cục mặt bằng hình chữ nhật trong quách ngoài lăng, phía sau có phù điêu hậu trẩm, phía trước có hương án, phần sau hương

án lát đá xẻ xanh xám, các chi tiết thần Mộ được chế tác bằng chất liệu đá màu xanh xám đục chạm theo mẫu trang trí hoa văn thời Trần Phần kè đá phía trước, phía sau và hai bên tả hữu lăng bằng đá sa thạch Bên Lăng có nghiên bút thể hiện đức nghiệp và đạo học mà Thầy Chu Văn An vun đắp mãi trường tồn Hậu trẩm có bức phù điêu đá chạm nổi ba chữ “ Đức Lưu Quang” Bên cạnh Lăng Mộ còn xây dựng nhà tạo soạn 120m2, am hóa vàng 100m2

Các bậc đá từ sân lăng xuống hết minh đường đã được xây dựng xong Đường đá nối minh đường với đền thờ Thầy giáo Chu Văn An đang trong quá trình xây dựng và đang được xúc tiến thi công Theo kế hoạch con đường này được lát đá xẻ dài 537m, rộng 5m, diện tích sử dụng 2685m2, cầu đá qua suối 37,5m Con đường đá là cầu nối Đền thờ - Lăng Mộ và Giếng ngọc

- Giếng Ngọc

Trang 33

Giếng Ngọc là một viên ngọc quý vô cùng độc đáo trên đỉnh núi Phượng Hoàng

Trên đỉnh núi Phượng Hoàng có mạch nguồn nước ngọt tinh khiết tuôn chảy quanh năm là điều hiếm thấy Không ít người cho rằng: mạch nước này chính là linh khí của đất trời tan chảy mà thành Mạch nước tinh khiết, quý giá vô ngần này đã duy trì sự sống nơi đây từ thuở hồng hoang cho đến tận bây giờ

Mạch nước nguồn này cách mộ Thầy Chu chừng 70m về phía tây Từ xưa đã được khơi thành một giếng nhỏ, giếng chỉ sau khoảng 1m và gần đỉnh núi nhưng nước vẫn đầy quanh năm Nước giếng trong văn vắt, ngọt lành như sữa mẹ nên gọi là Giếng Ngọc Tương truyền khi xưa học trò dựng nhà bên

mộ tế lễ khi thầy mất cũng dùng nguồn nước trong giếng dâng cúng và sinh hoạt Sau này người đi rừng thường ghé qua múc nước uống mỗi khi cơn khát đến

Hiện nay Giếng Ngọc đã được trùng tu tôn tạo Lòng giếng rộng 1,8m, sâu 2,4m ghép đá sa thạch tự nhiên Thân giếng chế tác bằng đá xanh xám chạm hoa văn thủy ba thời Trần Nước giếng vẫn trong mát như xưa Người đến viếng mộ Thầy Chu vẫn dùng nước giếng Ngọc dâng cúng thầy, uống một vài ngụm, xoa lên đầu lên mặt để khí thiêng song núi nơi đây thấm vào

cơ thể mình

Để giữ gìn nguồn nước quý giá, tinh khiết, trong lành, ban Quản lý di tích lưu ý quý khách đến tham quan chiêm bái không thả tiền hay bất cứ vật gì xuống Giếng

Hướng về Phượng Hoàng, về Thầy Chu là hướng về sự học, đạo học,

là thể hiện sự tri ân “ uống nước nhớ nguồn”, là tỏ lòng thành kính trước anh linh người thầy muôn thuở, là tâm thành cầu mong thành đạt, hiển vinh Mỗi

Trang 34

lần về viếng đền thầy Chu Văn An là một lần quý khách được đắm mình trong một không gian thiêng liêng, trầm mặc và thanh sạch, lặng nghe tiếng thông reo vi vu, uống một ngụm nước từ giếng Ngọc ( mắt Phượng) để khí thiêng sông núi nơi đây thấm vào cơ thể, để tâm hồn con người thanh thản

- Chùa Kỳ Lân

Cách đền Phượng Hoàng 100m về phía Đông Bắc, bên kia suối là Am

Lệ Kỳ( chùa Kỳ Lân) Tại đây còn một tấm bia khắc dựng vào thế kỷ XVII, đặt trước ba cấp nền kiến trúc khá lớn với những chân tảng đá hoa sen, chứng tích của kiến trúc thời đại nhà Trần Đó là tấm bia Hội chủ trùng tu Kỳ Lân tự

bi ( Bia trùng tu chùa Kỳ Lân) Bia 4 mặt khoảng 300 chữ Hán đã mờ Bia nằm nghiêng bên sườn núi Kỳ Lân ghi lại việc trùng tu chùa Kỳ Lân

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học, chùa Kỳ Lân là một di tích Phật giáo được xây dựng vào đầu thời Trần( thế kỉ 13) kiến trúc kiểu chữ Tam gồm 3 lớp nhà liền nhau: Tiền đường, Thượng điện và Tam bảo

Di tích chùa Kỳ Lân được trùng tu vào thời Hậu Lê ( thế kỉ 17-18) và

đổ nát hoàn tòan vào thời Nguyễn ( thế kỉ 19) Hiện tại là một di tích khảo cổ học có giá trị cần được bảo vệ và tiếp tục nghiên cứu Khi có đủ điều kiện, cần tổ chức khôi phục di tích, góp phần làm phong phú khu di tích Phượng Hoàng

2.1.4 Lễ hội đền Chu Văn An

- Quá trình hình thành lễ hội

Thời phong kiến, lễ hội đền Phượng Hoàng, tức đền thờ Chu Văn An rất giản dị, chỉ trong phạm vi làng xã trong ngày qua đời của nhà giáo Hằng năm, xuân thu nhị kỳ, các vị quan chức địa phương có đến thắp hương thầy nhưng không tạo thành hội Hội lớn đầu tiên có qui mô cấp tỉnh ở đây có lẽ là

Trang 35

ngày 12- 8 năm Đinh Sửu (1997), lễ khánh thành trùng tu bước I đền thờ nhà giáo đã được tổ chức trọng thể tại khu di tích, được giáo giới, học sinh và nhân dân địa phương hưởng ứng nhiệt liệt trước sự chứng kiến của các ngành hữu quan Sự có mặt của đại diện ngành giáo dục, học sinh và nhân dân địa phương là một biểu hiện quyết tâm phát huy truyền thống hiếu học, đạo đức làm thầy nhằm phục hưng nền giáo dục và văn hoá nước nhà Trong ngày hội đầu tiên này có hàng nghìn giáo viên và học sinh của Chí Linh và của Trường Chu Văn An (Hà Nội) đến cắm trại từ điện Lưu Quang đến lăng mộ của thầy Các em vui chơi ca hát, tìm hiểu di tích suốt hai ngày, báo hiệu một tương lai tốt đẹp cho khu di tích

Sau một năm, Điện Lưu Quang- nơi ở dậy học của thầy được tái tạo Trước khi xây dựng nền điện Lưu Quang đã tiến hành khai quật, tìm được nhiều di vật quý, trong đó có pho tượng đá cao 80cm, ngờ rằng tượng thầy Chu Tại đây còn tìm thấy tượng Cửu Long, nghĩa là có lúc biến thành chùa

Vì chùa Lệ Kỳ bị huỷ diệt nên nhân dân mang tượng vào điện để thờ trong khi chưa có điều kiện để khôi phục chùa.Miết Trì, sân vườn được tôn tạo làm cho khu di tích khang trang

Đúng vào dịp kỷ niệm 707 năm ngày sinh của danh nhân 25/8 năm Kỷ Mão (1999), tại khu di tích đã làm lễ khánh thành, điện Lưu Quang và lễ đón nhận bằng công nhân di tích cấp quốc gia Đây là lễ hội lớn thứ hai diễn ra tại khu di tích Ngoài giáo viên, học sinh và nhân dân huyện Chí Linh còn có đại diện giáo viên các huyện thị, đại biểu của Bộ Văn hoá, Giáo dục, trường Chu Văn An Hà Nội và đoàn đại biểu quê hương danh nhân Hội kéo dài hai ngày, được nhân dân địa phương và học sinh hưởng ứng nhiệt liệt

Việc khôi phục và tôn tạo khu di tích Phượng Hoàng không chỉ ngành giáo dục hưởng ứng tích cực mà còn được các tổ chức nhà nước và xã hội ủng

hộ tích cực Năm 2002, Quân khu III công đức con đường nhựa 8km vào khu

Trang 36

di tích Năm 2005, nhiều công trình lớn tại khu di tích đã được khởi công Ngày 26/11 Mậu Tý (4/01/2008), đúng vào kỷ niệm 638 năm ngày qua đời của danh nhân, công trình tôn tạo đền Chu Văn An khánh thành, tạo nên một không gian thiêng liêng hoành tráng, tương xứng với vị thế của người thầy vĩ đại Đây cũng là ngày hội lớn tại khu di tích, do Bộ Giáo dục và UBND tỉnh

tổ chức

Tiếp sau đó, tổ chức lễ hội về nguồn, nhân kỷ niệm 608 năm ngày nhà giáo qua đời 25- 26/11 Mậu Tý (2008), thu hút gần một vạn giáo viên, học sinh các trường tham dự trong hai ngày Hai ngày đó, giáo viên, học sinh ôn lại lịch sử giáo dục nước nhà, lịch sử khu di tích với sự nghiệp của thầy Chu, biểu diễn văn nghệ, chơi thư pháp Học sinh một số trường đã làm các biểu ngữ lấy trong Giáo khoa thư xưa hay Tam tự kinh như: Tiên học lễ, hậu học văn, Nhân bất học, bất tri lý Những trò diễn ở đây trong sáng, phục vụ giáo dục

Ngày 21/08/2009, Bộ Giáo dục- Đào tạo, đại diện ngành Giáo dục- Đào tạo của 63 tỉnh thành tổ chức dâng hương tại đền, thể hiện lòng tri ân và quyết tâm phục hưng nền giáo dục Tối hôm sau, tổ chức giao lưu giữa các nhà nghiên cứu lịch sử với những thầy cô giáo và học sinh tiên tiến của cả nước

về tiểu sử và sự nghiệp của thầy Chu, sau đó Bộ Giáo dục- Đào tạo phát phần thưởng cho những học sinh xuất sắc

Như vậy một loại lễ hội mới ra đời, lễ hội của thầy và trò nhớ về cội nguồn của đạo học và khuyến học Thành phần của khách hành hương chủ yếu là giáo viên và học sinh cả nước Giáo dục và khuyến học là nền tảng tạo nên tri thức của toàn dân, chính vì lẽ đó mà lễ hội về nguồn được nhân dân và giáo viên học sinh hưởng ứng, chắc chắn sẽ ngày càng phát triển và phát huy hiệu quả

Trang 37

Từ một phế tích đã mai một qua nhiều năm, nay trở thành nơi thăm quan, nghiên cứu, du lịch hấp dẫn, trước hết là của giáo viên và học sinh cả nước, góp phần tích cực vào việc giáo dục thế hệ trẻ Ngày sinh và ngày qua đời của nhà giáo xưa chỉ là việc của Hội tư văn và quan chức địa phương, nay trở thành ngày hội về nguồn của hàng vạn thầy và trò trong cả nước Không những thế, hàng ngày khu di tích tấp nập khách tham quan, chiêm bái, tưởng nhớ công ơn người thầy vĩ đại, cầu mong cho con em học hành tiến tới xứng đáng với truyền thống hiếu học của dân tộc

Từ ngày di tích được trùng tu, tôn tạo, đời sống chính trị, văn học, xã hội của nhân dân địa phương không ngừng được cải thiện, đặc biệt là sự nghiệp giáo dục phát triển khá toàn diện và vững chắc, số học sinh đỗ đại học

và cao đẳng hằng năm không ngừng tăng Đây là một ví dụ sinh động về sự nghiệp văn hoá tác động đến đời sống xã hội của một địa phương mà trước hết là giáo dục

Lễ hội tại di tích đền Chu Văn An được tổ chức vào các dịp sau:

- Lễ hội về nguồn tại di tích đền thờ Thầy giáo Chu Văn An được tổ chức từ ngày 24 – 26 tháng 11( âm lịch) hàng năm tưởng nhớ ngày mất của thầy Chu Văn An

Đây là lễ hội lớn thu hút đông đảo giáo giới, học sinh và nhân dân trong cả nước Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày

Ngày 24 tháng 11 diễn ra những nghi lễ truyền thống như: Lễ Cáo yết,

Lễ Mộc dục và những hoạt động hội trại của thiếu niên các nhà trường

Ngày 25 tháng 11 diễn ra các hoạt động ngâm đọc thơ văn, biểu diễn nghệ thuật của các hội cựu giáo chức, các câu lạc bộ thơ ở nhiều tỉnh thành Buổi chiều có Lễ tạ Mộ thầy Chu trên đỉnh núi Phượng Hoàng

Trang 38

Ngày 26 tháng 11 diễn ra Lễ dâng hương tưởng niệm thầy giáo Chu Văn An, Lễ trao giải thưởng Chu Văn An của ngành giáo dục

- Lễ khai bút đầu xuân được tổ chức vào những ngày đầu xuân hàng năm thường vào ngày mồng 6 tháng Giêng

Đầu xuân khai bút là một nét đẹp văn hóa đã trường tồn trong đời sống người Việt từ hàng ngàn năm qua Khai bút ở đền thầy giáo Chu Văn An mang một ý nghĩa tâm linh đặc biệt Bởi vì đền Chu Văn An tọa lạc trên núi Phượng Hoàng mà trong bốn linh vật Long, Lân, Quy, Phượng thì Phượng là biểu tượng của trí tuệ, cái đẹp Vùng đất Phượng Hoàng đã trở thành đất học

từ xa xưa Phượng Hoàng cũng là nơi thầy giáo Chu Văn An ẩn cư những năm tháng cuối đời và yên nghỉ vĩnh hằng trở thành ngọn tuệ đăng bất tử của Đạo Học Việt Nam

Lễ khai bút diễn ra trang trọng trong không gian uy nghi, tâm linh Hai thầy đồ Nho khăn đóng áo dài vung bút long chỉ thiên, chỉ địa rồi chấm bút vào nghiên mực son đỏ tươi khai bốn chữ Hán “ Chính học thuần hành” Tiếp đến chín vị đại biểu khai bút chữ Việt: Trí, Tuệ, Minh, Tâm, Đức, Phúc, Thành, Đạt, Vinh bằng mực son đỏ tươi Chữ khai xong được rước lên đền, trình thầy Chu Văn An, xin Thầy linh ứng rồi đem về treo trong phòng học, phòng làm việc ở những vị trí trang trọng nhất

Nhiều người tin rằng: khai bút ở đền thờ thầy Chu Văn An trên núi Phượng Hoàng hàng năm là được Thầy ban ánh sáng tuệ, ban phúc lộc học hành, thi cử công danh thành đạt

Lễ hội về nguồn và Khai bút đầu xuân hàng năm tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An là thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”, tôn vinh sự học, đề cao trí tuệ của con người

Trang 39

- Ngoài lễ hội về nguồn và khai bút đầu xuân thì lễ hội mùa xuân và mùa thu hàng năm cũng thu hút đông đảo giáo viên, học sinh và nhân dân cả nước

+ Lễ hội mùa xuân bắt đầu từ khi đón giao thừa cho đến hết mùa xuân Những ngày đầu xuân, mỗi ngày đền thờ thầy giáo Chu Văn An đón vài nghìn lượt khách

+ Lễ hội mùa thu bắt đầu từ mùng 1 tháng 8 âm lịch cho đến hết mùa thu Lễ hội mùa thu trùng với sinh nhật thầy Chu Văn An, thầy sinh tháng 8 Nhưng thời bấy giờ với quan niệm coi trọng ngày giỗ để thờ cúng chứ không coi trọng ngày sinh nên sử sách lúc ấy không ghi chép rõ ngày sinh của thầy

Lễ hội mùa thu trùng với mùa khai giảng nên giáo viên, học sinh nhiều trường thành tâm về đền kính lễ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo của dân tộc

+ Ngày nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11: Từ đầu tháng 11 đã có nhiều thầy cô giáo và học sinh, nhiều nhà trường về dâng hoa tưởng niệm thầy Chu Văn An

Nhiều Câu lạc bộ, Hội cựu giáo chức nhiều nơi về dâng hương tưởng niệm và tổ chức các chương trình thơ, biểu diễn nghệ thuật tại đền thờ thầy giáo Chu Văn An

Hàng ngày, ban Quản lý Di tích vẫn tổ chức lễ Dâng hương và giới thiệu di tích, thân thế sự nghiệp thầy giáo Chu Văn An cho các đoàn khách tham quan Nhiều nhà trường, Sở giáo dục, Phòng giáo dục chọn đền Thầy làm địa điểm tổ chức lễ Báo công, lễ Tuyên dương khen thưởng, Lễ phát động thi đua, Hội trại truyền thống…

2.1.5 Giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học của đền Chu Văn An

Trang 40

Đền thờ thầy giáo Chu Văn An là di tích mang nhiều nội dung lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt ở đây nổi lên giá trị kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo và danh lam thắng cảnh

2.2 Quản lý di tích Đền Chu Văn An

2.2.1 Bộ máy quản lý di tích

Bộ máy quản lý di tích đền Chu Văn An được thành lập theo thông báo

số 601 – TB/TU ngày 31/12/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc thànhlập Ban quản lý di tích Chí Linh trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Chí Linh Từ khi thành lập cho đến nay, ban quản lý luôn hoàn thành tốt công việc được giao Đội ngũ ban quản lý gồm 13 người, trong đó:

Trưởng ban quản lý: 1 người

Phó ban quản lý: 2 người (trong đó một người phụ trách chuyên môn

và một người phụ trách cơ sở vật chất)

Còn lại là nhân viên, được chia thành các bộ phận sau:

Bộ phận 1: Bộ phận lãnh đạo: 3 người

Bộ phận 2: Kế toán: 1 người

Bộ phận 3: Hướng dẫn viên, thuyết minh, bán sách: 4 người

Bộ phận 4: Thượng sớ, viết chữ, dâng hương: 2 người

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w