Đặc điểm văn hóa, xã hội của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm * Tên gọi và lịch sử cư trú: Theo lịch sử để lại và một số tài liệu nghiên cứu người Hmông gồm 4 nhóm với các tên gọi s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
QUAN HỆ HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI H’MÔNG Ở MƯỜNG LẠN (SỐP CỘP, SƠN LA) VỚI NGƯỜI H’MÔNG Ở MƯỜNG XỪM
(MƯỜNG ÉT, CHDCND LÀO)
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa
Ngành: Văn hóa dân tộc thiểu số
Sinh viên thực hiện: GIÀNG BÁ TỦA
Giảng viêng hướng dẫn: PGS.TS TRẦN BÌNH
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn quý Thầy, Cô giáo khoa Văn hóa Dân tộc thiểu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận Đặc biệt, là thầy giáo PGS.TS Trần Bình, người trực tiếp hướng dẫn
và chỉ bảo em trong quá trình thực hiện khóa luận
Nhân đây, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các cô, bác, lãnh đạo xã Mường Lạn và các bà con người Hmông bản Pá Kạch
đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập tư liệu cho khóa luận
Do nhiều hạn chế, chắc chắn khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em monh nhận được nhiều ý kiến đóng góp bổ ích, quý báu
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2010
Giàng Bả Tủa
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài……… ………… 4
2 Mục đích nghiên cứu……… …… 5
3 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu……… ……… 5
4 Phương pháp nghiên cứu……… ………… 5
5 Đóng góp của khóa luận……… 6
6 Nội dung và bố cục của khóa luận ……… 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG LẠN VÀ MƯỜNG XỪM (CHDCND LÀO) 1.1 Đặc điểm tự nhiên ở Mường Lạn và Mường Xừm………… 7
1.2 Đặc điểm văn hóa, xã hội của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm ………… 12
Chương 2: KẾT HÔN QUA BIÊN GIỚI CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG LẠN VỚI NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG XỪM 2.1 Quan niệm truyền thống về lựa chọn vợ, chồng………….……… 31
2.2 Hiện trạng kết hôn người Hmông Mường Lạn với người Hmông Mường Xừm (Lào)……… 43
2.3 Nghi thức cưới xin qua biên giới……… 47
2.4 Thủ tục hành chính sau hôn nhân……… ……….53
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA HÔN NHÂN QUA BIÊN GIỚI CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG LẠN TỚI AN NINH VÙNG BIÊN 3.1 Các chính sách của Nhà Nước về hôn nhân có yếu tố nước ngoài…… 61
3.2 Việc thực hiện cưới xin theo quy chế biên giới quốc gia… ………….62
3.3 Những tác động tiêu cực của kết hôn qua biên gới tới an ninh vùng biên……… 64
3.4 Một số khuyến nghị ban đầu ……… …… …66
KẾT LUẬN……… 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC……… ……….71
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hôn nhân của người Hmông là một thành tố trong tổng thể nền văn hóa truyền thống vốn có từ lâu đời Thực tế cho thấy, dù sinh sống ở đâu, người Hmông vẫn luôn cố kết cộng đồng rất chặt chẽ và luôn bảo tồn được văn hóa truyền thống của họ Trong hôn nhân, người Hmông ở bất cứ vùng miền nào
trên khắp thế giới đều có cùng ý niệm có tính nguyên tắc mà họ gọi là peb hmoob, nội hôn tộc người và ngoại hôn dòng họ Thực tiễm cho thấy, người
Hmông ở khắp nơi đều giữ quan hệ mật thiết với nhau, kể cả trong hôn nhân Điều đó càng mãnh liệt, rõ ràng đối với cộng đồng người Hmông ở Đông - Nam Á, nhất là ở Việt Nam và Lào
Từ xa xưa, người Hmông vùng biên giới Việt – Lào, đặc biệt là ở Mường Lạn, huyện Sốp Cộp và khu vực Mường Xừm (Mường Ét, CHDCND Lào), kết hôn qua biên giới là bình thường đối với họ Việc kết hôn với người Hmông ở CHDCND Lào của người Hmông vùng biên giới Sốp Cộp đã tạo điều kiện đẩy mạnh tình hữu nghị Việt – Lào, đẩy mạnh giao lưu, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng biên của cả hai bên Song nó cũng đã và đang mang lại nhiều khó khăn cho việc quản lý, giữ gìn an ninh vùng biên của cả Việt Nam và Lào Đây là một thực tế cần có những giải pháp thiết thực để thực hiện Muốn có các giải pháp hữu hiệu, sát thực tế, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng Điều này đến nay chưa được quan tâm đúng mức, nhất là đối với các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý vấn đề dân tộc và văn hóa các tộc người Bởi vậy, nghiên cứu, tìm hiểu kết hôn qua biên giới của người Hmông ở vùng biên giới Sốp Cộp và xã Mường Lạn là cần thiết hiện nay
Với lý do trên, em mạnh dạn chọn đề tài Quan hệ hôn nhân của người Hmông ở Mường Lạn (Sốp Cộp, Sơn La) với người Hmông ở Mường Xừm (Mường Ét, CHDCND Lào) làm khóa luận tốt nghiệp của mình Hy vọng
Trang 5khóa luận này sẽ có nhiều đóng góp hữu ích cho khoa học và thực tiễn ở vùng biên giới Sơn La
3 Đối tượng và địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là văn hóa người Hmông, trong
đó đi sâu nghiên cứu tập quán hôn nhân của họ
- Đối tượng cụ thể của khóa luận là tình trạng kết hôn của người Hmông
ở Mường Lạn với người Hmông ở khu vực Mường Xừm (Mường Ét, CHDCND Lào)
- Địa bàn nghiên cứu: xã Mường Lạn (Sốp Cộp, Sơn La) và Mường Xừm (Mường Ét, CHDCND Lào)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dân tộc học điền dã: là phương pháp nghiên cứu chủ đạo trong quá trình thực hiện khóa luận Thông qua các đợt khảo sát ở Mường Lạn, và Sốp Cộp để thu thập tư liệu thực địa Các kĩ thuật chủ yếu được áp dụng trong các đợt nghiên cứu thực địa bao gồm:
Phỏng vấn và phỏng vấn sâu người dân ở cộng đồng Các đối tượng được chọn để phỏng vấn gồm: các cán bộ ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, hội đồng già làng, trưởng xóm, các chủ hộ thuộc diện khá giả, trung bình và đói nghèo, những người làm công tác khuyến nông, những người làm công tác Văn hóa - thông tin Đặc biệt là các cán bộ biên phòng, chỉ huy đồn
Trang 6biên phòng đang thực thi nhiệm vụ quản lý địa bàn Mường Lạn; Quan sát chụp ảnh, ghi chép, ghi âm là các kĩ thuật cũng được áp dụng ở địa bàn điền
dã Các tài liệu thu thập được sẽ được phân loại, thống kê, phân tích, so sánh…trước khi sử dụng để biên soạn khóa luận
* Nghiên cứu thư tịch, các công trình đã được công bố (sách báo, kết quả các dự án, các báo cáo tổng kết ) ở trung ương và địa phương, để thu thập tài liệu bổ sung, hỗ trợ cho nguồn tài liệu thực địa
5 Đóng góp của khóa luận
a Bổ sung tư liệu nghiên cứu về hôn nhân, gia đình của người
Hmông ở vùng biên giới Sơn La nói riêng và người Hmông ở
Việt Nam nói chung
b Những kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sẽ là tài liệu
tham khảo hữu ích cho biên phòng, các co quan quản lý hành chính vùng biên giới, các cớ quan quản lý văn hóa và các cơ
quan quản lý dân tộc ở các cấp
6 Nội dung và bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, nội dung chính của khóa luận
được chia thành ba chương chính:
Chương 1: Khái quát về người Hmông ở Mường Lạn và ở Mường Xừm (CHDCND Lào)
Chương 2: Kết hôn qua biên giới của người Hmông ở Mường Lạn với ngươi Hmông ở Mường Xừm
Chương 3: Ảnh hưởng của hôn nhân qua biên giới của người Hmông ở Mường Lạn tới an ninh vùng biên
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG LẠN
Xã Mường Lạn nằm hơi chếch về phía Đông Nam của huyện, giáp ranh với các địa phận sau:
+ Phái Bắc một nửa giáp với xã Mường Và, một nửa giáp với xã Mường Cai( huyện Sông Mã)
+ Phía Đông giáp một nửa giáp với xã Mường Cai( huyện Sông Mã), một nửa giáp với đường biên giới Việt – Lào
+ Phía Nam giáp đường biên giới Việt- Lào
+ Phía Tây giáp với xã Mường Và
Trang 8- Mường Xừm (Lào) cũng có một vị trí địa lý khá đặc biệt khó khăn, nằm
xa các trung tâm kinh tế của huyện Và cũng tạo nên một vị trí đặc biệt về an ninh và quốc phòng
Khu vực Mường Xừm giáp ranh với một số địa phận sau:
+ Phía Bắc giáp đường biên giới Việt Nam
+ Phía Đông giáp khu vực Nà Xa
+ Phía Nam giáp khu vực Xa Van của Mường Xam Tơ
+ Phía Tây giáp với khu vực Pha Thì và Pa Chát
1.1.2 Địa hình
- Mường Lạn có một địa hình khá phức tạp, chia cắt mạnh, nhiều dãy núi cao nằm ở bản Pá Kạch, Mường Lạn, Nông phụ, Nậm Lạn, Nà Vạc, Vùng núi thấp ỏ phần cuối của xã Mường Lạn, Phiêng Pen, Bản Cống, Huổi Men, Bản Khá, Nà Khi, Nà Ản cà Cang Cói Các dãy núi đều đứt gẫy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam tạo nên các hướng chảy của các con suối lớn trong vùng
Hệ thống các con suối có độ dốc lớn tạo cho vùng này có nguồn nước tương đối đa dạng thích hợp cho việc phát triển nông - lâm nghiệp, nhất trồng lúa nước
- Mường Xừm là một khu vực có địa hình phức tạp hơn xã Mường Lạn
Có nhiều núi đá cao, độ chia cắt rất lớn tạo ra các dãy núi cao đồ sộ, các con suối có độ dốc cao, đặc điểm về khí hậu và đất đai nơi đây khá đặc biệt Thích hợp cho việc trồng lúa, ngô và các loại cây hoa màu và cây ăn quả như cam, xoài, mít, Nhất là trồng lúa nước và lúa nương chín rất tốt hạt rất mảy
1.1.3 Khí hậu, thời tiết
- Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió Lào và do nằm sâu trong khu vực nên cũng ảnh hưởng mạnh về mưa bão vào mùa hè Chế đọ gió mùa có độ tương phản rõ rệt, gió mùa Tây Nam kéo dài từ tháng 5
Trang 9đến tháng 10, mùa hè trùng với gió mùa Đông Nam, thời tiết nóng ẩm nhiều Mùa Đông trùng với mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đế tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, khô và mưa ít
- Diễn biến thời tiết và khí hậu có những đặc trưng chính sau đây:
Nhiệt độ trung bình trong năm : 22,70c
Nhiệt độ cao trung bình trong năm : 29,20c
Nhiệt độ thấp trung bình trong năm : 18,70c
Các tháng 11, 12, 1 và 2 nhiệ độ xuống rất thấp ảnh hưởng mạnh đến việc phát triển và sinh trưởng của cây trồng
Lượng mưa trung bình hàng năm 1 087 mm/ năm, thấp nhất là 385 mm/năm, phân bố không đồng đều trong năm, thường tập trung vào mùa hè
và mùa thu, lượng mưa các tháng chiếm 85-90% lượng mưa cả năm, mưa lớn
vào các tháng 6, 7 và 8 ( Lượng mưa đều trên 200 mm/ tháng) Ngược lại, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau ( thường mưa thấp 20 mm/ tháng)
- Đặc điểm về khí hậu của Mường Xừm ở thấp về phía Nam nên thường nóng, ẩm về mùa khô, mùa mưa thì thường mưa nhiều Lượng mưa trunh bình năm cũng có phần tương đương và gần giống với Mường Lạn Mặc dù hai nước khác nhau nhưng giáp ranh và gần nhau nên mọi điều kiện về khí hậu và thời tiết có những đặc điểm giống nhau Tuy nhiên, Mường Xừm có khí hậu đặc thù của riêng mình đó là có một hệ thống gió Lào nóng và ẩm hơn
1.1.4 Đặc điểm thủy văn
Trên địa bàn không có sông chảy qua, chỉ có các suối nhỏ và vừa nên phần nào ảnh hưởng tới việc không có nhiều phù sa để phát triển lúa nước,
Trang 10làm thiếu hụt và hạn chế nguồn thực phẩm dưới nước như tôm, cua, cá trong đời sống của người dân
Hệ thống suối thì gồm có 2 con suối chính sau đây:
- Suối Nậm Sọi chảy qua các bản Pá Kạch, Nà Vạc, Nà Khi, Nà Ản, Cang Cói và một phần của xã Mường Lạn
- Suối Nậm Lạn chảy qua các bản Nậm Lạn, Co Muông, Bản Khá và xã Mường Lạn
Hai con suối này gặp nhau ở cuối của xã Mường Lạn, chảy qua Phiêng
Pen và Bản Cống rồi ra Sông Mã (huyện Sông Mã)
Hai suối này chảy quanh năm và có lưu lượng nước lớn đã góp phần tốt cho việc trồng lúa nước dọc hai bên suối, làm ao nuôi cá của người dân các bản trong xã
Do đặc điểm của mỗi vùng và độ chia cắt cao của các dãy núi nên ở khu vực Mường Xừm có sông Nậm Ét chảy qua địa phận phía Nam của khu vực với một lưu lượng nước lớn và nhiều các con suối như suối Huổi Tróc, Huổi
Vẹ, Huổi Tô Mô,… Các con suối này gặp nhau ở phần trên của Mường Xừm tạo thành con suối chính là Huổi Vẹ đổ ra sông Nậm Ét Lượng nước trong năm tương đối cao thuận lời cho việc tưới tiêu của người dân nơi đây Ngoài việc tưới tiêu ra hệ thống sông, suối còn cung cấp không ít phù sa cho việc phát triển lúa nước và thực phẩm như tôm, cua, cá cho người dân nơi đây
1.1.5 Tài nguyên
Trên địa bàn xã gồm có các loại đất như: đất phù sa do 2 con suối bồi đắp, đất vàng đỏ trên đá sét, đất mùn đỏ trên đá sét, đất đỏ vàng trên đá cát, đất đỏ vàng biến đồi do trồng lúa nước, đất thung lũng dốc tụ, đất mùn vàng nhạt trên đá cát Trong đó, đất phù sa, đất mùn và đất dốc hội tụ được sử dụng nhiều trong sản xuất nông - lâm nghiệp
Trang 11Tài nguyên đất chủ yếu của khu vực Mường Xừm là đất vàng đỏ trên núi
đá, đất pha cát màu sám, đất phù sa, đất sét ở hai ven các con suối,… Đặc biệt
là đất pha cát và đất phù sa rất tốt cho việc trồng cây lúa nước và lúa nương, ngô, các loại cây ăn quả và hoa màu
1.1.6 Thảm thực vật, hệ động vật
Tập đoàn cây rừng hiện còn là tre, nứa, cây gỗ tạp như Dùng, Kháo, cây Lùm Bụi Đặc biệt còn có một khu rừng già ở trên núi Pá Hốc của bản Pá Kạch giáp bản Nậm Lạn với nhiều loại cây gỗ quý như Pơ Mu, Hổi, Trò, Đinh hương, Lát hoa Tuy nhiên, những cây gỗ quý này cũng còn rất ít Các loại cây dược liệu có đẳng Sâm, ba kích, ý dĩ, cốt bổ toái,…
Động vật có gấu, sơn dương, khỉ, sóc, nhím và nhiều loài chim như gà rừng, gà lôi, công, bồ câu xanh và đỏ… Nhưng do săn bắn quá nhiều của người dân nơi đây trong thời gian qua nên hiện còn rất ít Những năm gần đây Nhà nước có chính sách mới cấm súng động thực vật mới nhiều dần trở lại Hai con suối Nậm Lạn và Nâm Sọi cũng còn có nhiều cá nhất là vào mùa mưa và sau mùa mưa khi nước rút
Do dân cư còn thưa thất nên Mường Xùm còn có nhiều loại cây gỗ quý như Pơ Mu, Đinh Hương, Thộ Lộ, Lát Hoa, Lim,…Ngoài ra, còn có nhiều loại cây gỗ tạp khác và với rất nhiều tre, nứa, mây,…phục vụ cho đan lát và các đồ dùng trong sinh hoạt gia đình
Mường Xừm có một khu rừng già ở chếch về phía Tây giáp với khu Pha Thì khá rộng có rất nhiều thú rừng quý hiếm như Voi, Hổ, Gấu, Nai, Hoãng, Sơn Dương, Nhím, báo,… và nhiều loại chim quý như Hồng Hoàng, Công,
Gà Lôi, Gà Rừng, Bồ Câu… Đây là một nguồn tiềm năng quý giá của khu vực này
Trang 121.2 Đặc điểm văn hóa, xã hội của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm
* Tên gọi và lịch sử cư trú:
Theo lịch sử để lại và một số tài liệu nghiên cứu người Hmông gồm 4 nhóm với các tên gọi sau:
+ Hmông trắng mà người Hmông gọi là “ Hmoob dawb ”
+ Hmông đỏ mà người Hmông gọi là “ Hmoob lees ”
+ Hmông đen người Hmông gọi là “ Hmoob dub ”
+ Hmông hoa người Hmông gọi là “ Hmoob sib ”
Ở Mường Lạn và Mường Xừm chủ yếu là hai nhóm Hmông trắng và Hmông Hoa đều có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang Theo một số tài liệu cho biết người Hmông di cư vào Việt Nam vào Việt Nam theo 3 đợt lớn: + Đợt đầu khoảng 400 năm
+ Đợt thứ hai khoảng 250 năm
+ Đợt thứ ba vào giữa thế kỉ XIX
Theo các tuyến đường chính như Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và di cư dân sang Tây Bắc cách đây khoảng 150 đến 200 năm
Trong lịch sử người Hmông di cư vào Việt Nam không thấy nói đến sự
va chạm, xung đột với các dân tộc khác và bản địa ở đây Vì vậy, có thể nói lúc đó trên vùng núi còn rất ít và không có người cư trú Người Hmông vào Tây Bắc và một số di cư khỏi vùng biên sang Lào Khi đến nơi đây thiên nhiên hào phúng, có nhiều ưu đãi, cho nhiều quả bí to, bông lúa dài, cho nhiều thú rừng,…, thuận lợi cho việc thâm canh, trồng các loại cây ăn quả, cây có
củ, có bắp, ngọn có bông và săn bắn các loại thú rừng
Trang 13Do vây, người Hmông coi nơi đây là quê hương của mình Trước những năm 1979 khi chưa có ranh giới Việt – Lào người Hmông ở đây có một bề dầy lịch sử về tộc người và mối quan hệ mật thiết với nhau giữa hai bên Nhiều gia đình còn di cư sang bên kia hoặc sang bên này sống Đặc biệt trước những năm 1975 khi chưa diễn ra sự kiện Vàng Pao di cư sang Thái Lan và
Mỹ thì người Hmông ở gần khu vực mốc D4 hiện nay rất đông Nhưng sau năm 1975 khi Vàng Pao rời khỏi Đồn Pha Thì ( Lào ) kéo theo hàng loạt người Hmông nơi này di cư sang Thái Lan và Mỹ làm cho người Hmông khu vực này ít đi
Năm 1979 Việt Nam và Lào chính thức có đường biên mốc giới rõ rằng thì phần nào ảnh hưởng đến mối quan hệ tộc người và hôn nhân của người Hmông ở hai khu vực này
Tuy nhiên, mỗi quan hệ đó vẫn còn ăn sâu trong tâm thức của người Hmông thể hiện qua quan hệ hôn nhân giữa người Hmông hai bên với nhau
* Đời sống kinh tế (Văn hóa mưu sinh):
Lịch sử cư trú đã để lại cho người Hmông hầu hết sống chủ yếu ở vùng núi cao khác hẳn so với các dân tộc khác ở vùng chân núi và thung lũng ( Thái, Khơ Mú và Sinh Mun), rừng núi nhiều nên người Hmông sống dựa chủ yếu vào nền kinh tế nương rẫy, chăn nuôi, săn bắn và hái lượm
Nương được người Hmông chia thành 3 loại chính:
Một là: Nương để trồng ngô người Hmông gọi là " teb pob kws " thường
được phát, làm ở độ cao hơn so với hai loại nương còn lại Địa hình đất đai chủ yêu là núi đất và không có núi đá như một số vùng khác nên nương ngô được họ chọn và phát ở tất cả mọi chỗ trên đầu các con suối hoặc hai ven các
con suối nhỏ.Các loại giống chủ yếu là giống mà người Hmông gọi là " Pob kws hmoob " ( Ngô Hmông ) Sở dĩ họ chọn như vậy là vì:
Trang 14Thứ nhất: để đảm bảo có nước uống lúc đi làm nương, làm rẫy
Thứ hai: Đề phòng những năm hạn hán còn có phần nước hai bên chân
núi ẩm thì cây trồng mới phát triển được
Kỹ thuật làm đất trước những năm 80 của thế kỷ khi Nhà nước chưa có những chính sách cấm trồng cây thuốc phiện người Hmông dùng kỹ thuật quay vòng đất bằng cách sau khi thu hoạch ngô thì trồng cây thuốc phiện Đến lúc chiết hết cây thuốc phiện lại đến mùa trồng ngô, vụ trước tiếp nối vụ sau nên việc làm đất, làm cỏ được thường xuyên và sạch sẽ hơn Đồng thời làm như vậy độ xốp của đất rất cao và cho nhiều năng suất Tùy theo tùng mảnh đất mà có thể làm nhiều vụ hoặc ít vụ, có nương màu mỡ, độ phì nhiêu cao thì
có thể làm 4 đến 5 vụ rồi mới đi phát nương khác Còn nương nào kém màu
mỡ hơn thì 2 đến 3 vụ là phải đi phát nương mới.Trong những năm tháng kháng chiến nương ngô đối với người Hmông quan trọng ngang nương lúa hoặc thậm chí quan trọng hơn Vì họ cho rằng ngô vừa để xây mèm mén cho người và vừa làm thức ăn cho cả gia súc Do vậy, trong những năm tháng kháng chiến người dân chủ yếu là trồng ngô Còn nương lúa thì làm ít ở những vùng thấp hơn để có cơm dẻo cho trẻ em và nguời già ăn là được Mặt khác ở vùng núi độ ẩm rất cao, rét và lạnh nhiều nên lúa thườn không chín
Đó cũng là một nguyên nhân làm cho người Hmông phải ăn mèm mén xuất trong nhưng năm tháng kháng chiến Hiện nay, sự đông dân kèm theo nạn chặt phá rừng đã làm cho khí hậu thay đổi và có phần ấm áp hơn; khoa học kỹ thuật phat triển, trình độ dân trí được nâng cao nên người Hmông đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng ngô sang trồng lúa
Hai là: Nương lúa người Hmông gọi là " teb npleg hay teb nplej ", loại
nương này thường được chọn ở các sườn đồi không quá cao và cũng không quá thấp, đất tốt nhất để làm là nơi có nhiều rừng già, nhiều tre hoặc nơi đất lâu năm không bị cháy Vì những chỗ như vậy lá cây thối nhiều kèm theo đó
Trang 15độ xốp và mùn cao rất tốt cho cây lúa phát triển Người Hmông gọi loại
nương này là “ Teb hav zoov ” nghĩa là nương khai phá từ rừng ra Ngoài ra,
nương lúa còn được khai phát từ những đồi cỏ ranh (cỏ tranh), thường được phát rất sớm vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10, phơi khoảng 3 đến 4 tháng rồi mới đốt( tức phơi là phơi cho đến cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm sau) Vì theo kinh nghiện loại nương này phải phát sớm, ủ lâu thì đất mới không cứng, dễ cuốc, dễ làm đất và sau khi trồng lúa sẽ tốt hơn Công cụ để
sản xuất chủ yếu là dao phát “ Txuas ”, dao phát được gắn chuôi rất dài mới
phát nhanh và tránh được sự cọ sát với hai viền gai lá cỏ ranh
Vào đầu tháng 3 sau khi đốt xong họ bắt đầu cuốc bới đất, đất phải dược cuốc sâu khoảng 20 - 25 cm và phơi khoảng 1 tháng hoặc hơn tháng cho đất thật khô và đến mùa vụ mới bắt đầu công việc gieo trồng, khi gieo trồng đất phải đập và bới lại cho thật kỹ lúa mới phát triển tốt
Các công cụ chủ yếu phục vụ cho công đoạn này là cuốc bàn người
Hmông gọi là “ Choj txhwj ”, "choj txhwj" thường được người dân tụ rèn là
phần nhiều Do đặc điểm đất được làm công phu hơn, không có nhiều cây gỗ che chắn và chiếm diện tích như nương phát từ rừng già nên năng suất cao và làm được lâu năm hơn Sau khi lúa không tốt người dân tận dụng loại nương này để trồng sắn và trồng thêm các loại cây hoa màu khác
Ba là: Nương tạp “ Teb txiv xyoob txiv ntoo ”, người Hmông thường phát
ở những nơi có độ cao thấp khác nhau, nương tạp không phải cuốc cày gì mà chỉ xới là được Các loại cây trồng trên nương tạp bao gồm: đỗ xanh, đậu tương, củ đậu, khoai sọ, bí đỏ, củ rong và ngô nếp,….Loại nương này thường được làm gần nhà để thuậ tiện cho việc đi lấy hoặc hái các loại râu củ đó Cuộc sống của người Hmông nơi đây theo khảo sát thực tế ở Mường Lạn
và Mường Xừm chủ yếu là du canh và chưa thực sự ổn định về định canh
Trang 16Ngoài nương ra, một số hộ gia đình cũng khai thác ruộng ven các con suối và ruộng bậc thăng ở các chận núi, sườn núi nơi làm được mương dẫn nước vào ruộng Ruộng cũng như nương đông bào chỉ làm một vụ duy nhất là
vụ mùa Sau khi thu hoạch xong đồng bào đốt bỏ dâm, đến mùa vụ năm sau mới bắt đầu đi cày bừa và trồng vụ mới
Lịch mùa vụ của người Hmông là kiểu lịch Thập nhị chi, tháng và năm tương ứng với 12 con vật theo quy luật nhất định Các con vật đó không chỉ là biểu tượng của năm, tháng mà còn thể hiện những điều lành dữ, tốt xấu liên quan đến mùa màng và cuộc sống của người Hmông, cụ thể:
+ Năm con thỏ - Luav xyoo: là năm trắng, năm được mùa, cây gỗ cũng
nở hoa say quả
+ Năm con rồng – Zaj xyoo: là năm khô, ít mưa, hay bị hạn hán, không
thuận lợi cho mùa màng
+ Năm con rắn – Nab xyoo: là năm thiếu mưa, mùa màng thiếu hụt
+ Năm con ngựa – Nees xyoo: mùa màng thất thường
+ Năm con dê – Tshis xyoo: mùa màng cũng thất thường, nhiều người
phải bỏ đi làm việc khác
+ Năm con khỉ - Liab xyoo: là năm khô nhiều, rất đói và đi tìm ăn
+ Năm con gà – Qaib xyoo: là năm mùa màng thất thường, không tốt,
hay có nhiều sâu bọ xâm hại mùa màng
+ Năm con chó – Dev xyoo: năm này hay ăn xin, có nhiều kẻ trộm cắp + Năm con lợn – Npua xyoo: năm mưa nhiều, hay ngập úng và xói mòn + Năm con chuật hay con sóc – Nas xyoo: đời sống thất thường, lúc đói,
lúc no, mưa to gió lớn
+ Năm con bò – Nyuj xyoo: năm cày cấy, ăn nhiều, làm việc rất vấ vả
Trang 17+ Năm con hổ - Tsov xyoo: là năm mọi công viêc đều thuận lợi và được
mùa
Chu kỳ trăng của người Hmông một tháng 30 ngày 12 Tháng gắn với 12 con vật, từ đó đồng bào xây dựng cho mình chu kỳ sản xuất và những sinh hoạt chủ yếu của cộng đồng trong năm
Trong cuộc sống tự cung tự cấp chăn nuôi trâu, bò, lợn, dê, gà, là một hoạt động kinh tế thể thiếu Nhằm phục vụ sức cày kéo, là nguồn cung cấp thức ăn chính trong gia đình và các hoạt động văn hóa tín ngưỡng “ văn hóa tâm linh” Hình thức chăn nuôi chủ yếu là thả rông hoặc có bãi chăn thả riêng theo từng khu vực quy định
Săn bắn và hái lượm cũng là một hoạt động kinh tế tuy chỉ chiếm một tỉ
lệ nhỏ trong thu nhập nhưng cũng đóng một vai trò đáng kể trong nền kinh tế mang yếu tố tự nhiên, đồng thời cũng mang ý nghĩa giải trí Các vụ săn bắn thường được tiến hành vào mùa nông nhàn đặc biệt là những năm mất mùa và đói kém.Trước những năm chưa có chính sách cấm súng người Hmông thường đi săn bắn lợn rừng, hưu, nay, báo, sóc, gà rừng,… Còn hái lượm chủ yếu là mang đắng, măng tre, củ mài, củ nâu,… và các loại râu cỏ có sẵn trong
tự nhiên
Nghề thủ công cũng là một nền kinh tế độc lập mà mỗi nhà, mỗi họ tự làm các công cụ phục vụ trong sinh hoạt gia đình mình Các nghề thủ công được sử dụng nhiều trong gia đình là ngành đan lát như đan chiếu, gùi, bung đựng thóc, sọt thồ để thồ ngựa, sàng,… với nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao
Nghề rèn là một nghề thường mang tính cha truyền con nối và mỗi một bản chỉ có một đến hai gia đình biết thành thạo nghề này Kỹ thuật nổi bật nhất trong nghề rèn của người Hmông là kỹ thuật khoan ống thép làm nòng
Trang 18súng kíp Rèn những con dao rất sắc dùng khi lên nương, lên rừng lấy củi hay
sử dụng trong gia đình
Ngoài các nghề trên nghề dệt cũng là một nghề rất quan trọng đối với cuộc sống của người Hmông Nghề này cung cấp trực tiếp vải mặc cho người Hmông, bất kỳ ngưởi phụ nữ Hmông nào cũng phải biết xe lanh dệt vải và biết kỹ thuật in hoa văn bằng sáp ong, thêu hoa văn băng nhiều loại chỉ màu
và vải màu,… Tất cả những điều đó phải được học từ lúc còn nhỏ, khi trở thành thiếu nữ có thể có đầy đủ khả năng để tạo nên các loại vải lanh, làm nên những bộ vái sặc sỡ đầy màu sắc hoa văn phục vụ cho chính bản thân mình và gia đình mình cũng như trong tương lai sau này
* Đặc điểm văn hóa vật chất và tinh thần:
+ Văn hóa vật chất:
Do vị trí địa lý và địa vực nên người Hmông cư trú chủ yếu trên các sườn núi cao, các bản hình thành dựa vào sự tụ cư của những nhóm người cùmg một dòng họ hoặc nhiều dòng họ cùng sinh sống Những bản nhỏ thường là một họ còn những bản lớn thì gồm nhiều họ cùng cư trú Mỗi bản đều có đầy
đủ 5 thành phàn đoàn thể như Trưởng bản, Mặt trận, Hội nông dân, Hội phụ
nữ, Đoàn thanh niên và Hội người cao tuổi
Trước những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước nhà cửa chủ yếu của họ
là tranh, tre, vách nứa, các cột nhà là những lõi cây gỗ tốt không mọt, chống chịu tốt khi chôn nhiều năm trong đất, các xà ngang, dọc thường là gỗ tạp, xà trên mái, nóc chủ yếu là tre, vật liệu để gắn các xà đó với nhau là lạt Đầu cột nếu có gỗ hai cành thì họ tận dụng luân hai đầu cành đó Nếu không thì dùng dìu hoặc đục để khoét trên đầu cột để vát được xà trên nóc
Kèo tùy theo sở thích và sự tính toán về việc ở lâu năm hay ít năm mà dùng tre hoặc gỗ để làm Nhà người Hmông ở nơi đây được làm theo kiểu vì kèo gồm hai mái lớn và hai mái nhỏ, nguyên liệu lập mái chủ yếu là cỏ ranh
Trang 19(cỏ tranh) Kỹ thuật làm nhà đơn giản, thời gian để làm nhà tính từ lúc lấy gỗ chỉ mất khoảng một tháng là được một ngôi nhà
Trong một bản các nhà phân tán xa gần khác nhau tùy theo địa hình hoặc mối quan hệ giữa nhà này với nhà kia Thường thì những anh, em cùng chung một ông tổ hay cư trú gần nhau, có thể chung một ránh thoát nước nghĩa là hai nhà san sát nhau
Nước sinh hoạt do cư trú trên các sườn núi nên phải được dẫn từ xa về theo máng, đồ hứng để hứng nước cũng là những khúc gỗ to được đục khoét thành máng từ gỗ Pơ Mu Còn đồ đựng nước trong nhà thường là thùng nhỏ
do người Hmông tự chế từ gỗ Pơ Mu hoặc xô nhựa tùy theo nhu cầu sinh hoạt
và mức sống của gia đình Nhưng từ những năm 90 trở lại đây các bản trên núi cao được chia và di chuyển dần xuống vùng thấp để cư trú ổn định cuộc sống Nhà cửa có nhiều thay đổi như mái nhà lập bằng pro ximăng, tôn hoặc ngói Nước sinh hoạt ống dẫn được thay bằng nhựa hoặc công trình nước sạch
Trang phục truyền thống của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm được làm bằng sợi lanh Kỹ thuật, các công đoạn để làm hoàn thành một
bộ vái hay một bộ quần áo đòi hỏi thời gian khá lâu Bắt đầu từ việc trồng lanh, chặt lanh tước vỏ, lấy sợi, se sọi,… Thời gian se sợi tuy không mấy phức tạp nhưng đòi hởi thời gian nhiều hơn các công đoạn khác, được người phụ nữ Hmông se ở mọi lúc mọi nơi và mọi thời gian Sự khéo léo của đôi bàn tay thoăn thoắt của người phụ nữ Hmông trở thành biểu tượng của đức tính cần cù và chăm chỉ Khi sơi lanh được se hoàn thành họ cho vào nồi nấu cùng nước vôi để tách được vỏ khỏi sợi lanh, sau đó mang các sợi đã tước vỏ
đó đi giạt và phời khô Công đoạn tiếp theo là cho các sợi lanh đã làm sạch đó vào guồng quay và trúc để se lại cho nhỏ, chắc hơn Sau đó cho vào khung cửi
để dệt thành vải và may thành những bộ vái sặc sỡ Nhóm Hmông Trắng thì
Trang 20vải vẫn để nguyên màu trắng còn các nhóm Hmông khác như Hmông hoa hoặc Hmông Đỏ thì nhuộm, thêu và vẽ sáp ong lên vải để tạo nên những màu sắc theo ý thích Còn vải để may trang phục nam giới thì nhóm Hmông nào cũng đều nhuộm thành màu đen hoặc nâu rồi mới may thành những bộ trang phục màu tối cho nam giới
Sự phát triển rực rỡ của xã hội cùng với sự xuất hiện của hàng loạt những vải đẹp kèm theo những công đoạn để dệt thành một mảnh vải lanh phải mất rất nhiều thời gian và nhiều ngày đã làm thay đổi nhận thức và tầm nhìn của người Hmông khiến trang phục truyền thống của người Hmông có những thay đổi rõ rệt
Vì vậy, trong sự phát triển chóng mặt của xã hội hội cần sớm có sự nhận thức đúng đắn để giữ gìn và bảo tồn nền văn hóa truyền thống để góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
* Văn hóa tinh thần:
+ Chữ viết và tiếng nói
Người Hmông có một hệ thống tiếng nói riêng của mình đó là tiếng mẹ
đẻ mà ngươi Hmông gọi là “ Peb li lus Hmoob ”, tiếng nguyên bản của
Hmông có đầy đủ các thành tố không bị lai pha rất đa dạng và phong phú Sự
đa dạng và phong phú đó được thể hiện trực tiếp trong cuộc sống hang ngày của người Hmông
Trang 21tiếng dân tộc mình thì họ coi đó không phải là người Hmông chính gốc và người đó chỉ sử dụng được trước mắt còn trong tương lai sẽ mất gốc Nhưng với sự giao thoa và giao lưu văn hóa với nhau giữa người Hmông và các dân tộc khác nơi mà họ cư trú tiếng Hmông có phần pha tạp tiếng nói của các dân tộc đó nhất là thế hệ trẻ hiện nay
Chữ viết thì chưa có nhà nghiên cứu nào nói rõ trong lịch sử người Hmông có chữ viết riêng của mình hay không Nhưng sau khi di cư vào Việt Nam người Hmông có một hệ thống chữ viêt riêng cảu mình do Hồ Chí Minh sáng lập Sau này với sự giao lưu, học hỏi văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới cũng như của các nhóm Hmông ở nhiều nước trên thế giới với nhau
và hai chữ “ Peb Hmoob” người Hmông đã có một loại chữ viết được ghép từ
chữ Latinh, loại chữ này đã nhanh chóng lan truyền đi khắp các châu lục trên thế giới mà có người Hmông sinh sống Người Hmông lựa chọn, nhận đây là loại hệ thống chữ viết của dân tộc mình, sử dụng rộng rãi, phổ biến đến từng người và từng hộ gia đình người Hmông Họ sử dụng hệ chữ này để viết truyện, ghi lại các phong tục tâp quán, các nghi lễ trong sinh hoạt đời thường hàng ngày hay viết thư thăm hỏi nhau
Văn học dân gian của đồng bào Hmông cũng rất đa dạng và phong phú Gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyện cổ tích, dân ca, tục ngữ, truyện thơ,…Mỗi thể loại còn có nhiều loại hình thức khác nhau như thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ, con người và muôn loài,… Truyện cổ tích có truyện cổ tích
về động vật, truyện cổ tích thần kỳ ( truyện kể về dũng sĩ tài ba, truyện cổ),
truyện cổ tích sinh hoạt xã hội mà người Hmông gọi là “ dab neeg ”
Dân ca cũng có nhiều thể loại như dân ca giao duyên “ kwv txhiaj plees ”, dân ca than thân “ kwv txiaj ntsuag ”, dân ca nghi lễ “ laig dab ”,… Ngoài ra,
người Hmông còn có một kho tàng âm nhạc giàu bản sắc dân tộc như đàn
môi “ ncas ”, khèn “ qeej ”, nhị “ xim xaus ”,… Có nhiều loại hình đã đặt giá
Trang 22trị văn hóa dân gian có giá trị, trở thành loại hình đặt đỉnh cao, bản sắc trong kho tàng văn hóa các dân tộc thiểu số như truyện cổ tích, loại hình dân ca, đặc
biệt là tác phẩm “ qhuab ke ”, tiếng hát làm dâu “ kwv txhiaj ua nyab”, tiếng hát trong đám cưới “ zaj tshoob ”, tiếng hát trong đám tang “ txiv xaib ”
Y học dân gian là một cái không thể thiếu được trong cuộc sống du canh,
du cư của người Hmông nơi đây Địa vực cư trú xa các trung tâm y tế, đặc biệt là trong quá khứ khi ngành y học khao học chưa phát triển Người Hmông tự tìm những bài thuốc để chứa bệnh tại chỗ cho mình, các bài thuốc này thường là những bài thuốc có sẵn trong tự nhiên, dễ tìm và dễ hái Đồng bào học các bài thuốc này bằng cách truyền miệng và được truyền từ đời này sang đời khác theo dòng chảy của lịch sử Cho đến nay đồng bào nơi đây vẫn còn sử rộng rãi và chứa bệnh bằng các bài thuốc này
Ví dụ:
“ Tshuaj txuas txha ”- chứa gẫy xương,
“ Tshuaj txuas leeg ” -chứa bong gân,
“ Nroj hmab- lá chó đẻ ” -chứa đau bụng,
+ Thờ cúng tổ tiên:
Đối với người Hmông cúng tổ tiên và các vị thần linh có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa thể hiện niềm tin vừa thể hiện tín ngưỡng thiêng liêng, sự gắn kết tộc người và văn hóa cội nguồn Thờ cúng tổ tiên được mỗi dòng họ quy định rất rõ nếu đã có nhà riêng thì trong nhà phải có nơi thờ cúng tổ tiên, nơi thờ cúng tổ tiên được đặt ở gian giữa của ngôi nhà Nơi thờ này người Hmông
gọi là chỗ nghỉ chân cuả tổ tiên hay còn gọi là “ Poj koob yawm koob chaw so haus dej ”, chỗ thờ được làm rất đơn giản chỉ là một mảnh giấy hình chữ nhật bằng giấy bản dán lên vách tường Người Hmông gọi là “ Xwm kab ”, “ xwm kab ” chỉ có chủ nhà mới được quyền thực hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên
Trang 23Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với cha ông, những người đã khuất mà còn thể hiện sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ với tổ tiên
Lễ cúng tổ tiên thường được tiến hành đơn giản nhưng rất trang nghiêm
Lễ được tổ chức váo các dịp:
Mường năm mới ( Noj peb caug),
Khi mổ những con vật lớn như trâu, bò ( tua nyuj, tua twm ),
Khi lúa, dưa, hay ngô chín trước khi ăn phải cúng tổ tiên ( noj tshiab )
Khi lấy vợ, lấy chồng trước khi ăn chủ nhà cũng phải làm lễ cúng tổ
tiên rồi chủ nhà mới được ăn ( laig dab )
Người Hmông quan niêm rằng tổ tiên rất thiêng liêng, tổ tiên luôn nhìn cách sống và luôn phù hộ cho con cháu Nếu không cúng tổ tiên trước khi ăn thì tổ tiên sẽ không phù hộ hoặc làm cho con cháu bị ốm đau,…
Theo truyền thống tết của người Hmông là vào cuối tháng 12 âm lịch, tết được được chuẩn bị rất chu đáo vài ngày trước khi ăn tết Các ngày tết đặc biệt là 3 ngày đầu tiên người Hmông kiêng không phải đi làm gì (trừ cho lợn,
gà và vịt ăn), họ nghỉ ngơi, đi thăm và đi chúc tết người thân Tết được tổ chức chính thức trong 3 ngày nhưng tổ chức chơi tết đối với thanh niên thì được kéo dài trên dưới chục ngày Dịp tết là để các đôi trai gái có cơ hội tìm người bạn tình hoặc người bạn đời của mình Bên cạnh đó tết cũng là nơi người Hmông giao lưu văn hóa giữa các nhóm Hmông với nhau qua những lời hát giao duyên, hát làm dâu, hát đối đắp hoặc những bài thơ vần do chính
họ tự sáng tác
+ Lễ gọi vía ( Hu nplig)
Lễ gọi vía thường được tiến hành khi một ai đó trong gia đình bị sợ điều
gì đó mà bị lạc vía Theo quan niệm nếu trẻ em bị con trâu, con bò hoặc bị chó cắn hay kể cả người lớn khi bị sợ một điều gì đó đều gây ảnh hưởng đến
Trang 24tinh thần và sức khỏe Nếu không chủ đọng làm lễ gọi vía sẽ bị ốm mà khi bị
ốm rồi sẽ khó chứa nếu như biết trước mà không chứa Người Hmông cũng có câu:
“ Phòng bệnh hơn chứa bệnh”
Hoặc
“ Biết mặc thì quần áo mới,
Biết giữ gìn sức khỏe thì sống lâu ”
Trường hợp mà đã bị ốm mà thầy cúng bói thấy là bị lạc vía thì lập tức cũng phải làm lễ gọi vía để hóa giải hồn vía của người bị ốm khỏi đối tượng làm gây mất vía đó Nhằm động viên tinh thần cho người bệnh chóng khỏi bệnh và sớm hồi phục lại sức khỏe
+ Lễ đặt tên cho trẻ sơ sinh ( tis npe )
Lễ đặt tên theo quan niệm của người Hmông một đứa trẻ sau khi sinh được 3 ngày phải làm lễ đặt tên cho đưa trẻ đó Lễ đặt tên được tiến hành một cách đơn giản gồm 2 con gà sống, một quả trứng, một bát gạo đặt ở phía trong của cửa giữa gian nhà thờ cúng tổ tiên cùng với những đồ cúng của thầy cúng Thầy cúng bắt đầu nhiệm vụ gọi hồn, vía về và đặt tên luôn đứa trẻ Khi gọi xong hai con gà được mổ và quả trúng được luộc chín, lại cho hai con gà, quả trứng và một nắm cơm, 3 quê hương đã tháp vào trong một mơn cơm đặt đúng vào vị trí lúc đầu rồi thầy cúng tiếp tục tiến hành lễ gọi hồn đó lần thứ hai Nhằm đưa vía đứa trẻ chính thức về với đứa trẻ và công bố tên của đứa trẻ đó là gi? Trước khi ăn bứa cơm chủ nhà phải làm lễ khai báo với tổ tiên và
ma nhà rằng gia đình mình đã có thêm một thành viên mới rồi mới được ăn bứa cơm
Trang 25+ Lễ thả hồn ( Tso plig)
Lễ thả hồn theo truyền thống thì khi có người chết tính từ ngày chôn 13 ngày sau phải làm lễ đón lại hồn người đấy về thăm nhà và đồng thời làm lễ
thả hồn cho người đó luôn người Hmông gọi là " xi thiab tso plig " Nếu
không làm lễ này thì hồn người đó sẽ không đi đầu thai, làm kiếp mới được và
sẽ quay về làm hại cho những người còn sống Lễ này nhằm thả linh hồn người chết đó đi đầu thai và làm kiếp mới
* Về văn hóa xã hội của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm có cấu trúc xã hội giống và khác nhau sau đây:
+ Giống nhau:
Chế độ xã hội truyền thống của người Hmông ở Mường Lạn và Mường Xừm là xã hội phụ quyền rất mạnh với sự đề cao vai trò và quyền lợi cũng như trách nhiệm của người đàn ông Trong một gia đình người Hmông thường gồm 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và cùng dòng máu dưới một mái nhà Trong một ngôi nhà dù lớn hay nhỏ nếu có từ hai người ( vợ và chồng) trở lên cùng sinh sống thì được gọi là một gia đình Còn một ngôi nhà mà không có hai người ( vơ và chồng) trở lên cùng sinh sống không được gọi một gia đình
Từ rất lâu người Hmông đã có câu:
“ Một thanh củi nấu không chín một nồi cơm,
Một người sống trong một mái nhà không thành một gia đình ”
Một gia đình người Hmông gọi là “ Yim ” hay “ ib yig neeg ” bao gồm
cha mẹ, con cái hoặc cả ông bà có mối quan hệ thứ bạc trong một mái nhà và
đứng đầu trong gia đình là chủ nhà “ tswv tsev” Số lượng các thành viên
trong gia đình nhiều hay ít thì tùy thuộc vào gia đình đó có nhiều hay ít thế hệ cùng chung sống Kết quả khảo sát của tác giả ( Ngày 15 tháng 3 năm 2010)
Trang 26tại một số bản ở Mường Lạn và Mường Xừm ( Pu Hao Huổi Pá, Co Muông – Mường Lạn; Bản Tô Mô, Huổi Mỏ, Huổi Vẹ, So No, Huổi Púa – Mường Xừm) cho thấy số hộ gia đình 3 thế hệ cùng chung sống còn chiếm đa số Cụ thể qua khảo sát tại 5 bản ( Pu Hao, Nậm Lạn, Pá Kạch - Mường Lạn; Tô Mô, Huổi Mỏ- Mường Xừm) cho thấy Số gia đình 3 thế hệ là 119/217 hộ (54,83%) Còn các gia đình 2 thế hệ là 98/ 217 hộ (45,16%) Quy mô gia đình
có từ 3-5 người là 43/169 người (25,44%, gia đình có từ 6-8 người là 64/169
hộ ( 37,86%), gia đình có từ 9 người trở lên là 90/169 hộ (52,25%)
( Xem chi tiết biểu: 1 và 2 ở phần Phụ lục)
Qua số liệu trên cho thấy gia đình 3 thế hệ và quy mô gia đình có từ 6 người trở vẫn còn phổ biến Đó là do những tàn dư của hình thức gia đình
ngày xưa vẫn còn tồn tại Trong xu thế xã hội phát triển như ngày nay “ tswv tsev ” cũng vẫn là người bố Các nghi lễ trong gia đình đều thuộc về người " tswv tsev " Còn các công việc về mặt xã hội thì “ tswv tsev " có thể ủy quyền
cho con trai cả cũng được Nếu con trai cả đó đủ 18 tuổi trở lên và am hiểu xã
hội "Tswv tsev" là người có quyền lực cao nhất trong gia đình và quyết định mọi công việc trong gia đình Khi “tswv tsev” không còn thì quyền “ tswv
tsev” sẽ được trao cho con trai cả Nhằm đảm bảo cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc và ổn định nền kinh tế tự cung tự cấp trong xã hội thu nhỏ của người Hmông Người lớn thì làm việc trên nương trên rẫy, nấu nướng, lấy củi, đào sắn,… Còn trẻ em thì có thể giúp việc trong gia đình như chăn trâu, bò, rửa bát đúa và cho gà, lợn ăn,… Đặc biệt, là phải được đến trường học tập và giáo dục nhằm trang bị kiến thức và hành trang vào đời
Tuy nhiện, do điều kiện kinh tế và sự sinh đẻ chưa có kế hoạch dẫn đến
sự đông con trong gia đình Nên nhiều trẻ em cũng không được đến trường học tập đến nơi đến chốn Con gái khi đến tuổi trưởng thành và đi lấy chồng thì theo quan niệm trọng nam khinh nữ tài sản chung gia đình không được
Trang 27chia cho con gái mà chỉ để lại cho con trai Đến tuổi về già cha, mẹ sống với con nào thì gia sản thường để lại cho con đó nhiều hơn Con cái nào ra ở riêng cha, mẹ có quyền chia một phần gia sản cho con cái đó( đối với con trai ) Người con trai trong xã hội người Hmông là nhân tố được quan tâm hàng đầu
và là người nối dõi tổ tông Để thể hiện rõ, đậm nét đồng thời mang tính giáo dục truyền thống dân tộc người Hmông có câu:
“ Hổ chết còn da, bò chết còn sừng ”
Bên cạnh mối quan hệ gia đình người Hmông còn có mối quan hệ rất chặt chẽ với họ hàng nội ngoại và xã hội Họ hàng và xã hội có một vị trí, vai trò rất quan trọng đối với gia đình Vì đó là làm nền tảng và cốt lõi cho sự
sinh tồn của gia đình Đối với xã hội thì " tswv tsev " có trách nhiệm giáo dục,
chỉ bảo và quản lý các thành viên trong gia đình không xa đà vào các tệ nạn
xã hội, không mâu thuẫn với họ hàng và vi phạm pháp luật cũng như luật tục cảu bản, làng, góp phần xây dựng một xã hội công bằng ngày càng phát triển Những người cùng tên họ người Hmông quan niệm là ngày xưa có cùng
tổ tiên và cùng huyết thống Thành viên trong cùng một dòng họ khi cư trú khác tỉnh, khác quốc gia đều có nghĩa vụ coi trọng nhau như anh, em một nhà, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ giúp đỡ nhau, tương trợ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn Chính sự cố kết nay là sợi dây chỉ đỏ gắn các thành viên cư trú xé lẻ phân tán thành một lực lượng đoàn kết đấu tranh bảo vệ dòng họ và bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc Người Hmông dù thuộc tôn giáo nào, quê
quán ở đâu, nước nào nhưng khi đã tự xưng là “ peb hmoob ” nghĩa là “ người Hmông ta ” thì tất cả đều trở thành một cộng đồng thân thiện có nghĩa
vụ đoàn kết tương trợ lẫn nhau Do đó, nếu có cùng tên dòng họ người Hmông tuyệt đối không được kết hôn với nhau Người Hmông có quan niệm rất chặt chẽ về sự ngoại hôn dòng họ và nội hôn đồng tộc Vì vây, đây là
Trang 28nguyên nhân dẫn đến việc hôn nhân giữa Hmông ở Mường Lạn với Hmông ở Mương Xừm
+ Khác nhau:
Người Hmông ở Mường Lạn và người Hmông ở Mường Xừm do sống ở hai nước khác nhau nên cũng có những sự khác nhau nhất định về hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội Việt Nam có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ trực tiếp phát triển kinh tế theo hướng đổi mới cơ cấu kinh tế cây trồng, chăn nuội gia súc, gia cầm phát triển kinh tế nhiều thành phần đến từng địa bàn nhất là vùng sâu, vùng xa và vùng có người Hmông sinh sống Nên đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cuả người Hmông ở Mường Lạn tươg đối ổn định so với người Hmông ở Mường Xừm Người Hmông ở Mường Xừm do các chính sách phát triển về kinh tế đất nước chưa vững và chưa có nhiều chính sách ưu đãi tới đồng bào vừng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn
Vì vây, người Hmông ở khu vực Mường Xừm kinh tế phát triển chưa đồng đều và chưa ổn định Đây cũng là lý do làm cho đời sống kinh tế của người Hmông ở đây chưa ổn định, cuộc sống du canh, du cư và di cư tự do diễn ra khá phổ biến kèm theo đó là sự nhập cư tự do của người Hmông ở các nơi khác vào gây ảnh hưởng không ít đến sự ổn định xã hội
* Quan hệ, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của người Hmông ở Mường Lạn với người Hmông ở Mường Xừm:
+ Về kinh tế:
Người Hmông cho nhau những con giống cây trồng, vật nuôi như lúa, ngô,…con trâu, con bò, con lợn, con dê,… Ngoài ra, việc giao lưu buôn bán cũng không thể thiếu được trong cuộc sống của người dân, các bản gần nhau ngoài việc cho nhau những con giống họ còn sang bên này hoặc bên kia làm nương, rẫy, chăn thả gia súc vào các cánh đồng cỏ qua biên giới với sự thảo thuận nhất trí giữa hai bên
Trang 29+ Về văn hóa xã hội:
Qua hôn nhân nền văn hóa ở hai khu vực này ảnh hưởng nhau rất mạnh
mẽ thể hiện qua mọi sinh hoạt trong cuộc sống đời thường như lời nói, phong tục, tập quán, cưới xin, tang ma,…Trang phục, nhà ở, ẩm thực, phương tiện cũng có sự hỏi và trao đổi kinh nghiệm và mua bán mọi phương tiện, tiện nghi trong gia đình Mường Xừm xa trung tâm huyện Mường Ét nên người dân nơi đây thường xa ra Mường Lạn để mua mắm, muối, vải vóc và cả các phương tiện như xe máy, xe đạp sang Mường Xừm,… Ngược lại, người Hmông ở Mường Lạn cũng sang bên kia mua vái, quần áo hoặc một số đồ dùng khác mang về Mường Lạn
Trang 30Chương 2 KẾT HÔN QUA BIÊN GIỚI CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG LẠN VỚI NGƯỜI HMÔNG Ở MƯỜNG XỪM
2.1 Quan niệm truyền thống về lựa chọn vợ, chồng
Trong truyền thống cũng như hiện tại người Hmông ở Mường Lạn và ở Mường Xừm chọn vợ, chọn chồng cũng giống người Hmông ở các nơi khác Tuy nhiên, ngoài những phần giống nhau đó do những quan điểm, lối sống, tâm tư, suy nghĩ, hoàn cảnh, tập tục trong cuộc sống nên người Hmông ở hai khu vực này cũng có những cách chọn vợ, chọn chồng riêng
* Họ chọn vợ theo các tiêu chuẩn sau:
- Người không bị dị tật và các bệnh xã hội;
- Người phải mập, da trắng, tươi vui, cởi mở dễ hòa nhập với mọi người;
- Ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ, biết cách cư sử, ăn nói dễ nghe;
- Chăm chỉ, biết cách thêu thùa, may mặc, khâu vá và thành thạo các công việc trong gia đình;
- Thương yêu cha mẹ, anh em trong gia đình và họ hàng
* Họ chọn chồng theo các tiêu chuẩn sau:
- Không bị dị tật và các bệnh xã hội;
- Có tài năng, có học vấn cao, ăm hiểu phong tục tập quán của dân tộc;
- Người cao ráo, đẹp trai, tươi vui, cởi mở, dễ gần và dễ hòa nhập;
- Có lòng bao dung, vị tha, thương yêu gia đình và mọi người
Tiêu chuẩn chọn vợ, chồng của người Hmông nhằm mục đích là có một cuộc sống yên vui, gia đình hòa thuận, hạnh phúc thành đạt Vì vậy, khi chọn
Trang 31vợ, chọn chồng của người ở các bản khác xa mà họ không thường xuyên đến
và không hiểu biết Họ thường hỏi qua người thân của mình ở trong bản đó xem người mình muốn lấy làm vợ hoặc làm chồng đó có chăm chỉ, biết cách thêu thùa, may mặc và một số tiêu chuẩn khác như đã nói trên không, nếu có
đủ các tiêu chuẩn trên thì mới lấy làm vợ hoặc làm chồng
2.2 Quan hệ hôn nhân người Hmông Mường Lạn với người Hmông Mường Xừm - Hiện trạng
Theo những người cao tuổi ở Mường Lạn và một số tài liệu nghiên cứu
về người Hmông vùng lưỡng biên ở đây cho thấy, người Hmông di cư tới vùng này vào khoảng 150 đến 200 năm nay (đã trình bày ở mục 1.2) Họ cư trú tập trung thành bản, không xa nhau lắm Các bản Hmông tỏng vùng này thường có mối liên hệ rất khăng khít Họ giúp đỡ nhau trong hoạn nạn khó khăn (tang ma, cưới xin, dựng nhà mới, phát rừng làm nương rẫy,…) Quan
hệ xã hội, gia đình, dòng họ của người Hmông theo tập quán truyền thống đã tạo cho cộng đồng của họ tâm lý cố kết mạnh mẽ Cũng vì thế, hiểu biết của
họ về biên giới, lãnh thổ quốc gia,… thấp hơn nhiều so với hiểu biết về tộc người và cộng đồng tộc người Vì thế, hôn nhân của họ với người Hmông bên Lào, đối với họ là hết sức bình thường Đối với họ, nguyên tắc cấm kết hôn vưới những người trong cùng dòng họ, được họ tôn thờ; kết hôn với những người cùng cộng đồng dân tộc cũng được họ xem như là tốt nhất và tôn thờ
Vì thế, với họ kết hôn với ngừi Hmông bên Lào, tốt hơn nhiều so với kết hôn với những người không phải là nguồi Hmông mà là công dan Việt Nam
Trước những năm 1979 khi chưa có Hiệp định biên giới Việt – Lào,
nhiều gia đình người Hmông ở Mường Lạn còn chưa ổn định cư trú, khi thì
họ sang bên kia sinh sống, khi thì họ về bên Việt Nam làm ăn,… và ngược lại Sau năm 1979 khi Việt Nam – Lào chính thức có Hiệp định biên giới, chia
Trang 32vùng người hmông ở đây thành hai khu vực, thuộc hai quốc gia khác Tuy vậy, trong thâm tâm người Hmông cộng đồng của họ vẫn không chia tách
Sự cố kết tộc người mà người Hmông gọi là “ peb hmoob ” theo dòng
lịch sử hàng nghìn năm nay Hiện nay tâm lý đó vẫn được duy trì, mặc cho tình hình chính trị, xã hội có rất nhiều biến đổi Cư trú ở vùng biên, với chính sách hữu nghị giữa hai nước Việt – Lào, các chính sách vùng biên của hai nước,… đã ít nhiều tạo điều kiện cho người Hmông hai bên biên giới, có điều kiện tăng cường các mối quan hệ vốn có, trong đó có quan hệ hôn nhân Các quan hệ trao đổi, mua bán về kinh tế, sự giao thoa về văn hoá vá xã hội, Đặc biệt là người Hmông có quan niệm rất chặt chẽ về nội hôn đồng tộc và ngoại hôn dòng họ Chính vì những lý do trên mà quan hệ hôn nhân giữa người Hmông ở Việt Nam và Lào ( Mường Lạn và Mường Xừm ) càng được tăng cường như ngày nay
Theo số liệu thống kê mới nhất của Công an huyện Sốp Cộp ngày 15 tháng 12 năm 2009 tổng số cặp vợ và chồng được lấy qua biện giới trên toàn
huyện là 79 cặp Trong đó, riêng xã Mường Lạn người Hmông bao gồm 41 cặp, số cặp cư trú ở Mường Lạn có 23 cặp còn cư trú ờ Mường Xừm có 18 cặp Cụ thể qua hai bảng biểu sau:
Biểu 1: Danh sách người Việt Nam kết hôn với người Lào trên địa bàn toàn huyện Sốp Cộp, hiện đang cư trú ở Việt Nam và Lào
TT Họ và tên
( vợ và chồng )
Năm sinh
chú
1 Lò Thị Tiên 1971 Thái Bản Liềng - Mường Lèo
Lò Văn Định 1967 Thái Viêng Thong - Hủa Phan
Trang 33Lò Văn Chinh 1967 nt Viêng Khăm- Luông Pha
Băng
3 Vì Thị Xuân 1975 nt Mường Vá - Mường Và
4 Lò Thị Yến 1968 Lào Mường Vá - Mường Và
5 Lò Thị Tiết 1959 Lào Mường Vá - Mường Và
6 Lầu Thị Đơ 1971 Hmông Huổi Dương - Mường Và
7 Lậu Me Di 1983 Hmông Huổi Dương -Mường Và
Chưa rõ ? Hmông Pha phong - Mường Pợ
8 Lầu Me Đậu 1983 Hmông Huổi Dương - Mường Và
9 Lò Thị Phóng 1970 Lào Nà Khoang - Mường Và
Lò Văn Phon ? Lào Mường Xừm - mường Ét
10 Lò Thị Phiên 1970 Lào Bản Hốc - Mường Và
Chưa rõ ? ? Mường Pợ - Viêng Thong
11 Lò Thị Binh ? Thái Bản Hốc - Mường Và
Trang 3419 Tòng Thị Sánh 1968 Thái Mường Son – Lào
Tòng Văn Chanh 1967 Thái Lạnh Bánh - Nậm Lạnh
20 Lò Thị Bun 1962 Thái Mường Son – Lào
Quàng Văn Soạn 1967 Thái Bản Cang - Nậm Lạnh
21 Quàng Thị Sai 1978 Thái Mường Son – Lào
Trang 3522 Giàng Thị Sệnh 1986 Hmông Păng Xiêng – Lào
23 Giàng Thị Mỷ 1984 Hmông Pang Xiềng – Lào
24 Giàng Thị Blia 1983 Hmông Pang Xiềng – Lào
Vừ Bả Ly 1984 Hmông Huổi Hịa - Nậm Lạnh
25 Giàng Thị Dua 1983 Hmông Pang Xiêng – Lào
Vừ Bả Súa 1980 Hmông Nà nong - Nậm Lạnh
26 Giàng Thị Xịa 1987 Hmông Pang Xiêng – Lào
Vừ Bả Thái 1985 Hmông Nà Nong - Nậm Lạnh
27 Sồng Thị Dua 1964 Nt Mường Son – Lào
Trang 3632 Lò Thị Noạt ? Lào Sầm Nưa – Lào
Lò Văn Pha 1954 Nt Mường Vàv - Mường Và
33 Lầu máy Ly 1972 Hmông Mường Cẩu – Lào
Lậu Bả Sộng 1969 Nt Púng Pảng - Mường Và
Lậu Bả Sử 1975 Nt Púng Pảng - Mường Và
Lậu Bả Chía 1958 Nt Púng Pảng - Mường Và
Lậu Bả Thái 1949 Nt Pá Vai - Mưởng Và
Lậu Chợ Pó 1961 Nt Pá Vai - Mưởng Và
Lậu Bá Dơ 1984 Nt Pá Vai - Mưởng Và
39 Giàng Thị Ia 1969 Hmông Pá Kạch-Mường Lạn
Sồng Bá Sanh 1966 Hmông Ka Lang- Mường Xừm
40 Giàng Thị Dênh 1967 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Lầu sông Lử 1964 nt Huổi Mỏ-Mường Xừm
41 Giàng Thị Si 1977 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Vàng A Khua 1969 nt Tô Mô- Mường Xừm
Trang 3742 Giàng Thị Dua 1969 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Sồng A Sênh 1957 nt Huổi Mỏ-Mường Xừm
43 Giàng Thị Di 1982 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Lầu A Dia 1975 nt Huổi Phóc- Mường Xừm
44 Giàng Thi Mỷ 1992 nt Pá Kạch-Mường Lạn
45 Giàng Thị Sua 1988 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Vàng A Sênh 1957 nt Tô Mô- Mường Xừm
46 Giàng Thị Dênh 1970 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Thào Pó Ly 1967 nt Bản Bông- Mường Xừm
47 Giàng Thị May 1984 nt Pá Kạch-Mường Lạn
Sộng Chớ Pó 1981 nt Huổi Mỏ-Mường Xừm
48 Sộng Thị Nhịa 1990 nt Pá Kạch-Mường Lạn
49 Giàng Thị Va nt nt Pu Hao - Mường Lạn
Vàng A Của 1988 nt Nậm Cuổng- Mường Ét
50 Giàng Thị Hợ nt nt Pu Hao - Mường Lạn
51 Giàng Thị Si 1988 nt Pu Hao - Mường Lạn
Vàng Dạ Pó 1986 nt Ka Lang- Mường Xừm
Trang 3852 Giàng Thi May 1962 nt Pu Hao - Mường Lạn
Vàng Sế Di 1960 nt Nậm Giốn- Mường Ét
53 Giàng THị Cở 1978 nt Pu Hao - Mường Lạn
Sộng Nỏ Súa 1976 nt Huổi Phóc- Mường Xừm
54 Giàng Thị Chia 1984 nt Pu Hao - Mường Lạn
Sộng A Hua 1982 nt Huổi Phóc- Mường Xừm
55 Sộng Thị Dia nt nt Pu Hao - Mường Lạn
Vàng A Cu 1983 nt Huổi Phóc- Mường Xừm
56 Ly Thị Dua 1991 nt Pu Hao - Mường Lạn
Giàng Sáy Cở 1984 nt Nà Giang - Mường Ét
Trang 3962 Giàng A Sử 1971 nt Pá Kạch Mường Lạn
Trang 4072 Giàng Thị Dua 1960 nt Mường Ét - Lào
( Nguồn : Theo số liệu thông kê của Công an huyện Sốp Côp ngày 15/ 12/2009 Do các đồng chí : Cầm Quý Lắm, Cầm Văn Hùng, Lò Văn Nghĩa, đội An ninh Công an huyện Sốp Cộp cung cấp)
Biểu 2: sách người Hmông ở Mường Lạn kết hôn với người Hmông ở Lào, hiện đang cư trú ở Lào