1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biến đổi về đời sống vật chất của người thái ở xã lục dạ, huyện con cuông tỉnh nghệ an trong giai đoạn hiện nay

97 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CAM ĐOAN

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI ỞXÃ LỤC DẠ HUYỆN CON CUÔNG

  • CHƯƠNG 2:NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI THÁIỞ XÃ LỤC DẠ HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN TRONGGIAI ĐOẠN HIỆN NAY

  • CHƯƠNG 3:NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY VÀ NÂNGCAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI THÁI Ở XÃ LỤC DẠ,HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Nguyễn Thị Thủy VHDT - 12A 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI THÁI Ở XÃ LỤC DẠ, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

Môi trường tự nhiên

Lục Dạ là một xã miền núi thuộc phía Tây của huyện Con Cuông

- Phía Đông giáp xã Hội Sơn, huyện Anh Sơn

- Phía Bắc giáp xã Yên Khê

- Phía Tây giáp xã Chi Khê

- Phía Nam giáp xã Môn Sơn

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 12275,38 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 12103,31 ha, diện tích đất chuyên dùng là 52,97 ha, diện tích đất ở là 61,47 ha, diện tích đất phi nông nghiệp 172,07 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 10996,69 ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 37,44 ha Đây là vùng đệm của vườn quốc gia Pù mát, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch

Xã có 12 thôn bản: Bản Yên Thành, bản Kim Sơn, bản Mét, bản Yên Hòa, bản Tân Hợp, bản Lục Sơn, bản Liên Sơn, bản Xằng, bản Mọi

Với vị trí như vậy, xã Lục Dạ có nhiều điều kiện thuận lợi để giao lưu, học hỏi, thông thương phát triển kinh tế

Xã Lục Dạ thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An là một xã vùng cao biên giới cách thị trấn Con Cuông khoảng 14 km, cách thành phố Vinh khoảng 130 km Trước năm 2004 để đi từ thị trấn vào xã bằng xe máy cũng phải mất ít nhất một giờ đồng hồ bởi phải đi qua hai con suối và đường chủ yếu là đá Từ năm 2005

11 tuyến đường giao thông liên huyện được mở giúp cho việc đi lại thuận lợi hơn Nhìn chung, Lục Dạ có địa hình tương đói phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi đá vôi Tuy nhiên lại có con sông Giăng chảy qua đã tạo cho vùng có nhiều thung lũng nhỏ và hẹp Lục Dạ có các dạng địa hình chính như sau:

- Dạng địa hình đồi: là dạng địa hình phổ biến nhất với độ cao trung bình từ

300 -700m Đồi ở đây không lớn mà chỉ là những dải hẹp

- Dạng địa hình núi: chủ yếu là núi thấp từ 700 – 1000m Những dãy núi này trùng trùng điệp điệp uốn lượn khắp không chỉ ở xã Lục Dạ mà cả huyện Con Cuông

- Dạng địa hình thung lũng : nằm dọc theo con sông Giăng là các thung lũng nhỏ và hẹp Tuy nhiên dạng địa hình này không phổ biến như hai loại kia Với địa hình như vậy Lục Dạ có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi gia súc và có tiềm năng để phát triển du lịch

Lục Dạ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa phân ra rõ rệt: Mùa nóng và mùa lạnh

- Mùa nóng : từ tháng 4 đến tháng 9 với ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam ( gió Lào) làm nhiệt độ tăng lên khá cao trung bình khoảng 32 0 C, nhiệt độ cao nhất vào khoảng tháng 6, có ngày lên tới 40 0 C

- Mùa lạnh : từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình khoảng

15 0 C Dưới ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc hơn nữa lại thuộc vùng miền núi nên nhiệt độ giữa ngày và đêm khá chênh lệch, ban đêm có thể xuống tới 7 0 C

Lượng mưa bình quân hàng năm 1700mm, tháng cao nhất có thể lên tới 700mm( tháng 8), tháng thấp nhất 18mm ( tháng 1)

12 Độ ẩm không khí bình quân là 82%

Chế độ gió : mùa đông có gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió 0,6 m/s thường mang theo mưa phùn Mùa hè có gió Tây Nam, tốc độ gió 0,5 m/s Tuy nhiên ở đây thỉnh thoảng xảy ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và của Tóm lại Lục Dạ có điều kiện khí hậu khá thuận lợi với độ ẩm cao hơn các vùng khác do vậy tài ngưyên rừng ở đây phát triển tốt hơn

Diện tích rừng ở Lục Dạ khá lớn 2236,65ha (chiếm 72,04% diện tích tự nhiên, trong đó rừng sản xuất là 2072,12ha, rừng phòng hộ 164,53ha) Trong đó phải kể đến diện tích rừng thuộc vườn quốc gia Pù Mát ở đây có nhiều loại gỗ quí như lim, táu, pơmu và nhiều chủng loại động vật như Hổ, Gấu, Hươu được bảo vệ khá nghiêm ngặt

Lâm nghiệp là một thế mạnh của xã Lục Dạ với sự phong phú về chủng loại lớn mạnh về diện tích, Lục Dạ đang là điển hình trong công tác phát triển tài nguyên rừng

Nguồn nước mặt : chủ yếu dựa vào con sông Giăng, sông khe Mọi Đây là con sông lắm thác, nhiều ghềnh, lòng hẹp, dòng chảy xiết, đọ xói mòn mạnh Có giá trị tưới tiêu cho đồng ruộng ở khu vực Lục Dạ Sông thường gây lũ lụt, bào mòn lớn Vào mùa mưa tháng 4 đến tháng 9 thường xuất hiện lũ nhưng do độ cao chênh lệch nên không gây ngập úng, nước rút nhanh Vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau thì trời lạnh hay mưa phùn lượng mưa không nhiều

Ngoài ra còn có các con suối lớn, nhỏ với mạng lưới day đặc Những con suối này đảm bảo tưới tiêu cho các đồng ruộng trong xã

Nguồn nước ngầm : hiện nay chưa có nguồn thống kê về nguồn nước ngầm ở xã Lục Dạ nói riêng cũng như huyện Con Cuông nói chung

Tóm lại, nguồn nước ở Lục Dạ góp phần đảm bảo cho nhu cầu của người dân cũng như đảm bảo cung cấp nguồn nước cho sản xuất.

Môi trường kinh tế - xã hội

Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2007-2009 đạt 8,3% Tổng giá trị sản xuất năm 2009 đạt 10 tỷ đồng Thu nhập bình quân đạt 5,5 triệu đồng/người/năm Lĩnh vực kinh tế chủ yếu của Lục Dạ là sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc, số ít tham gia vào tổ dệt thủ công (bản Yên Thành) còn công nghiệp và dịch vụ hầu như chưa phát triển

Trải qua nhiều đời sống ở đây người Thái đã xây dựng bản mường trên miền đấtthuộc lưu vực sông khe Mọi và nhiều con suối nhỏ Nơi cư trú này đã lọt vào một vùng rừng núi sâu, cao, đồ sộ không có những lòng chảo lớn bằng phẳng mà chỉ có các thung lũng Với nhận thức như thế, người Thái phải chon đối tượng canh tác của mình theo một cách riêng Đối tượng sản xuất chính của người Thái nói chung là đồng ruộng và nương rẫy Trong đó, đồng ruộng cũng nổi lên như một khâu then chốt trên cơ sở đối tượng tác độngvào tự nhiên mà tạo ra một nếp sống dựa trên nền nông nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống của mỗi gia đình, cá nhân, dòng họ, bản mường cùng tồn tại và phát triển

+ Canh tác ruộng nước là hoạt động mưu sinh rất phổ biến của nhiều dân tộc,do điều kiện cư trú và điều kiện tự nhiên nên người Thái ở xã Lục Dạ đã chia đất gieo trồng ra làm 2 loại chính là ruộng và rẫy Ruộng là đất trồng cây lúa, còn rẫy trồng hoa màu, cây lương thực phụ

Quá trình sinh tụ đã tạo cho người Thái định hình một tập quán sản xuất Đối với cây lúa cần có một quy trình: Làm đất- gieo mạ- cấy lúa- chăm sóc- thu hoạch Diện tích gieo cấy lúa cả năm 2009 đạt 525ha, ngô 2,5ha, lạc 10ha, khoai 8ha Tổng sản lượng lương thực đạt 1729,2 tấn Bình quân lương thực trên đầu người là 290,2kg, đây là một con số còn khá thấp Như vậy, sản xuất lương thực chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân tuy nhiên những cố gắng của người dân là đáng ghi nhận

+ Nương rẫy: nương của người Thái ở xã Lục Dạ thường được người dân dùng quốc hoặc dùng tay để làm Đó là loại nương rất phổ biến ở nhiều cư dân vùng nhiệt đới, ẩm ướt Tất cả những nương nói chung đều phải trải qua các biện pháp kỹ thuật thô sơ liên hoàn: chọn đất, đốt rẫy, dọn rẫy, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch Theo các quan niệm của các cụ già người Thái thì rừng càng già, nương càng tốt

Họ chọn và định hướng sản xuất, ổn định cuộc sống không di chuyển chỗ ở mà chỉ luân chuyển diện tích canh tác trên nương, người Thái ở xã Lục Dạ thực hiện luân canh theo một chu kỳ khép kín trên một vùng lãnh thổ cư trú nhất định Mỗi một mảnh nương chỉ gieo trồng từ một đến ba vụ, rồi bỏ hóa cho rừng tái sinh tiếp tục chuyển sang canh tác ở mảnh nương thứ hai cứ lần lượt như thế sau đó mới quay lại ở đám nương ban đầu

- Về chăn nuôi : Cùng với trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động kinh tế bổ trợ đã tồn tại lâu đời của người Thái ở xã Lục Dạ năm Các loại vật nuôi gồm: Trâu, bò ngựa, lợn… và các loại gia cầm Chăn nuôi được sở dụng vào nhiều mục đích khác nhau: để làm sức kéo trong nông nghiệp, làm phương tiện đi lại vận chuyển, làm đồ hiến tế mỗi khi có việc, trao đổi và tự túc tự cấp cho bữa ăn gia đình đặc biệt là khi có khách xa đến

15 Đồng bào Thái cũng đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong việc chọn giống trâu, bò như con vật nuôi phải có chân to, dáng cao, cổ lớn và ngắn…Ngoài ra người ta xem sừng, khoáy,khấu đuôi của con vật để đánh giá tốt hay xấu cho đến những thập niên cuối của thế kỷ XX, ở xã Lục Dạ đa số các hộ gia đình vẫn chưa có tập quán làm chuồng trại để chăn nuôi mà chỉ buộc nhốt dưới gầm nhà sàn điều này đã gây mất vệ sinh nơi cư trú Sau nhiều cuộc vận đọng của chính quyền địa phương, ngày nay hầu hết các gia đình đã làm chuồng trại ra xa nhà Ban ngày trâu, bò được thả rông vào rừng do đó năm 2009 tổng có 1872 con trâu, 430 con bò, 2800 con lợn, 22 con gia cầm Tổng số đàn ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá từ chăn nuôi tăng

Tuy vậy, chăn nuôi ở người Thái vẫn chỉ là nghề phụ, bổ trợ cho nông nghiệp,chưa tách khỏi trồng trọt Việc chăn nuôi mới chỉ phát triển ở phạm vi gia đình và chủ yếu là nhằm tự túc, tự cấp là chính Chăn nuôi thành đàn chưa có là bao,rõ ràng phương thức chăn nuôi ở đây là nửa thả rông, nửa chăm sóc

-Về lâm nghiệp : Rừng ở đây là rừng già nên thảm thực vật dày đặc trong rừng có nhiều lọa gỗ quý như: Lát hoa, Táu, Sến, Dổi… Do đó có chế độ bảo vệ, khoanh nuôi và chăm sóc do đó diện tích rừng tăng lên khá nhanh

-Về tiểu thủ công nghiệp : Cũng giống như các dân tộc thiểu số khác, mặc dù đã tồn tại lâu đời nhưng thủ công nghiệp của người Thái ở xã Lục Dạ vẫn chỉ là nghề phụ Tuy nhiên, ở những mức đọ khác nhau mỗi nghề thủ công đều góp phần cùng các hoạt động kinh tế khác đảm baorcho những nhu cầu tối thiểu của đời sống tự túc,tự cấp

Nói đến nghề thủ công của người Thái ở xã Lục Dạ trước hết phải kể đến đó là dệt, kỹ thuật dệt đã đạt trình độ khá cao Sự tinh xảo và thuần thục chảng những thể hiện ở kiểu dệt mà còn thể hiện ở trình độ tạo các mô típ hoa văn trang

16 trí trên sản phẩm Sản phẩm dệt của người Thái phong phú, đa dạng Từ năm 2005-2009 tổ chức được nhiều lớp dạy dệt thổ cẩm gồm 125 người trong đó có

10 người thuộc tổ dệt bản Yên Thành làm nòng cốt

Ngoài nghề dệt, các nghề thủ công khác như: đan lát, rèn ở người Thái không mấy phát triển

- Hái lươm, đánh cá và săn bắt: Đây là hoạt động kinh tế trong đó con người chỉ bỏ sức lao động để thu các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, do tập quán phân công lao động tự nhiên Theo giới việc hái lượm bao giờ cũng là việc thường xuyên theo thói quen của giới nữ và trẻ em, còn đánh cá và săn bắt chủ yếu là công việc của con trai, họ dùng chài để đánh bắt và công việc này chủ yếu diễn ra trên sông

Tính đến ngày 31/12/2007 xã Lục Dạ có 1672 hộ gia đình sinh sống 7588 nhân khẩu trong đó có 3872 nam chiếm51,02%, và 3716 nữ chiếm 48,98% Mật độ dân số 177 người/km 2 cao thứ 3 trong huyện sau thị trấn Con Cuông và xã Môn Sơn

Tổng quan về người Thái ở xã Lục Dạ huyện Con Cuông

Người Thái Nghệ An cư trú ở 10 huyện miền núi và trung du (Anh Sơn, Đô Lương, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn), họ chiếm 70% dân số các dân tộc ít người nơi đây Theo tư liệu của các nhà nghiên cứu : Người Thái vào Con Cuông và rải rác trên các xã theo các đợt như sau :

- Đợt thứ nhất : Tạo Xia hay còn gọi là Trà Lung gốc Thanh Hoá, nhân một hôm lợp nhà cho Tào Mường quên buộc 3 mối lạt Việc đến tai, Tạo Mường bắt toàn dân bản tháo toàn bộ gianh để lợp lại Bất bình trước hành động của Tạo Mường ông chiêu mộ một số dòng họ bỏ vào Nghệ An Ông dừng chân ở phủ Quỳ một thời gian sau đó chuyển vào vùng Con Cuông Trà Lùng dừng chân ở bản Chiêng La( xã Yên Khê ngày nay) được 3 mùa rẫy Vốn là Tày Thanh ở vào địa vị ngụ cư và phụ thuộc, phong tục tập quán giữa Tày Thanh và Tày Mường lại khác nhau nên ông luôn luôn mong muốn tìm một chỗ đất mới để lập nghiệp Hàng ngày, vào buổi sáng thường có một đôi vịt trời bay về phía nam, chiều tối lại bay ngang qua nơi ông ở Thấy vậy, Trà Lung bèn cử một nhóm thợ săn đi về phía nam, để xem xét sự tình Tốp thợ săn vượt đỉnh dốc Bù Ông bất chợt thấy cảnh nước non hùng vĩ, đất đai bằng phẳng có thể khai khẩn ruộng đất lập bản dựng mường, liền qyay về thuật lại đầu đuôi với Trà Lung Trà Lung xin phép với Tạo bản Xiêng Sa rồi quyết định dời bản vào vùng đó Đến nơi, ông cùng với dân bản phá cây để dựng nhà cửa Ông đặt tên mường là Mường Quạ (Mường Trời - một cõi

19 riêng biệt) Trà Lung cùng dân bản khai phá nên cánh đồng Tổng Nghịu Bản Xiềng Pún trở thành trung tâm Mường Quạ được đặt luỹ xung quanh để bảo vệ Vết tích của thành luỹ nay vẫn còn, chu vi rộng hơn 2km, cao 3m, rộng 5m Sau khi mất, Trà Lung được dân nhân trong vùng lập bàn thờ tại bản Pục Câu chuyện di cư lập ấp nay có nhiều người kể khác nhau, các chi tiết và tên nhân vật không thống nhất Có người chỉ nhắc đến Trà Lung và nàng An, không nhắc gì đến Tạo Xia, hoặc Trà Lung là phò mã của triều đình

- Đợt thứ 2 : gắn liền với tên tuổi của vị thủ lĩnh tên là Hầu Bông thường gọi là nhà Hầu Tương truyền Hầu Bông sinh ra tại bản Hịa (bản Hua Nà xã Lục

Dạ ngày nay), lúc nhỏ gọi là ồng Dòng họ của ông gốc ở Thanh Hoá di cư vào vùng Tri Lễ (phủ Quỳ) rồi đi vào Con Cuông Hầu Bông lớn lên gặp thời loạn lạc, giặc Hán hoành hành, ông cùng dân bản Hịa đã tổ chức chặn giặc tại dốc Bù Ông Chuyện kể lại rằng, ông cho dựng các giàn đá tại đỉnh dốc đợi giặc đi qua thì chặt cây để giàn sập tiêu giệt giặc Song vì lực lượng ít, bị hao tổn nhiều cuối cùng chịu thất bại Ông cùng thân quyến xuôi theo dòng sông Giăng đến sông Ngân Phố ( Hà Tĩnh) trú ẩn Một số dân làng chạy dạt sang Khăm Cốt, Khăm Muộn (Lào) Về sau, người Pháp đến chiếm vùng này, Hầu Bông được Pháp giúp sức chiêu dân trở lại quên hương, ông dựng nhà ở bản Xiềng Pún, sau đó cho người sang tận phủ Quỳ mời bà con sang cư trú Tương truyền ông huy động dân địa phương đào một con mương dài gần 3km gọi là mương nhà Hầu - từ bản Mét xã Lục Dạ kéo dài đến tận bản Xiềng Pún, lòng rộng 3 -5m, sâu gần 4m Con mương này nay vẫn còn giá trị sử dụng trong việc tưới tiêu cho các cánh đồng ở Lục Dạ, Môn Sơn

Như đã trình bày cảnh quan chủ yếu của miền núi Nghệ An nói chung và huyện Con Cuông nói riêng chủ yếu là núi rừng, sườn núi có độ dốc lớn Tuy vây, mạng lưới sông suối khá dày đặc ở đây vừa tạo ra nhiều thác ghềnh hiểm trở nhưng do sự xâm thực của chúng và sự bào mòn nới chung cũng đã tạo ra được một hệ thống thung lũng nhỏ, có khả năng khai phá để trồng lúa nước Cảnh quan thung lũng chân núi nay đã thu hút người Thái từ các nơi thiên di tới đây để quần cư

Người Thái Nghệ An từ nhiều nguồn : (Thanh Hoá, Hoà Bình, Tây Bắc, Lào…) quá trình thiên di và tiếp xúc lâu dài với người bản địa đã dẫn tới sự hình thành 3 nhóm địa phương : nhóm Tày Mường; Tày Thanh; Tày Mười Mỗi nhóm đều có đặc trưng riêng nhưng giữa các nhóm Thái ở đây đã góp phần hình thành nên những đặc trưng văn hoá chung đặc sắc Những giá trị văn hoá quí báu này sẽ làm phong phú thêm kho tàng văn hoá của cộng đồng người Thái Chúng đã và đang có sự lôi cuốn đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.2 M ộ t s ố nét v ề v ă n hóa phi v ậ t th ể c ủ a ng ườ i Thái ở xã L ụ c D ạ

Nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận rằng: Tiếng Thái là một ngôn ngữ thống nhất trong cộng đồng Thái Đành rằng có ít nhiều khác biệt do tác động ảnh hưởng ở địa phương cư trú với cộng đồng khác, đành rằng có sự phát âm khác nhau giữa một số từ giữa các nhóm trong cộng đồng Thái, nhưng điều đó không đáng kể Hàng ngày, người Thái Lục Dạ vẫn giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ

Theo tài liệu nghiên cứu thì chữ Thái ở khu vực Nghệ An được viết theo hàng dọc và đọc theo thứ tự các hàng từ phải sang trái, các trang từ sau ra trước Do đặc điểm địa lý các “ mường Thái” cuat tỉnh Nghệ An xưa đều có quy mô nhỏ lẻ

21 nên chữ Thái chỉ dùng để ghi chép các văn bản dân gian, việc dùng chữ Thái trong công việc quản lý xã hội hầu như chưa có Chữ Thái Nghệ An đa phần có nét gai góc, thô sơ giống với các đặc điểm tương tự ở hệ chữ phiên âm cổ của Trung Quốc

Người Thái ở Việt Nam có chữ viết riêng của mình Ở miền núi Nghệ An vẫn còn lưu những tài liệu về chữ Thái cổ nhưng hầu như không còn mấy người có thể đọc được và người Thái ở Lục Dạ cũng vậy Chính vì vậy, chữ viết Thái không phổ biến ở nơi đây

Vốn văn hóa dân gian của dân tộc Thái ở Lục Dạ là những di sản quý giá kết tinh qua bao đời sáng tạo của cha ông, phản ánh một cách chân thực, trong sáng, tế nhị cuộc sống đấu tranh xây dựng văn hoasvaatj chất và văn hóa tinh thần của bà con trong quá trình phát triển Ở Lục Dạ người Thái có điệu khắp, xên, nhuôn,xuối, lăm Có thể nói vốn văn hóa dân tộc rất đa dạng và phong phú Ngoài ra, còn có các làn điệu dân ca, có đủ các loại hình như: tục ngữ, ca dao, truyện cổ, truyện thơ, câu đố… nên văn hóa đó phản ánh trung thực cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân

+ Nhuôn có nhạc điệu rõ ràng và tương đối mạnh, thường dùng trong những lúc trai gái hát đối đáp, những cuộc vui hay khi uống rượu cần

+ Khắp có nhiều điệu nhạc khác nhau thể hiện nhiều trạng thái tâm lý khác nhau Khắp xó báo xao điệu khắp dành cho nam nữ khi thổ lộ tâm tình với nhau Có những điệu khắp được sử dụng trong những ngày tết, lễ mừng nhà mới cưới xin Nội dung phong phú đa dạng

Bên cạnh những tiếng hát, múa là bộ môn nghệ thuật được người Thái ưa thích Nét độc đáo của người Thái ở Lục Dạ nói riêng và của hầu hết người Thái ở

22 miền núi Nghệ An đó là múa Xăng khan, thường tổ chức 3 ngày 3 đêm vào dịp đầu năm Xăng khan là một cuộc vui trần gian do ông mo đứng ra tổ chức, xăng khan còn là ngày hội thi tài của nam nữ thanh niên trong đó có những điệu múa độc đáo: Trống chiêng, săn thú, vui hội được mùa

Các giá trị truyền thống trong đời sống vật chất của người Thái ở xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Dân tộc Thái là một trong những dân tộc có nền văn hoá đặc sắc nhất ở Việt Nam xuất hiện hầu khắp mọi miền của tổ quốc, dân tộc Thái đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Chiếm tỷ lệ lớn ở vùng Lục Dạ hơn nữa lại là dân tộc di cư đến đây khá sớm nên địa bàn cư trú của người Thái chủ yếu ở những nơi thuận lợi và không khác nhiều so với dân tộc Thái ở các vùng khác Chủ yếu sống ở các thung lũng, có nhiều sông suối

Hình thái cư trú truyền thống của người Thái theo lối mật tập Đơn vị cư trú là làng, làng của người Thái ở xã Lục Dạ trước kia cũng giống như dân tộc Thái ở các vùng khác đều được lập ở dưới chân núi, thung lững và đặc biệt phải gần nguồn nước, thuận tiện cho việc ra ruộng, lên nương

Văn hoá Thái ở xã Lục Dạ là sự tác động bằng lao động của con người vào vùng thiên nhiên đất thung lũng núi cao để tạo lập những cánh đồng lòng chảo trồng cây lúa nước, kết hợp với việc khai thác các sườn dốc hình thành tập quán làm nương rẫy

Cơ cấu gia đình hạt nhân với những nét đọng lại của tàn dư mẫu hệ, tuy xã hội ngày nay các gia đình tồn tại chế độ phụ quyền, phụ hệ nhưng vẫn xem

29 trọng chế độ quyền cậu Người cậu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các đám cưới cũng như đám tang của người Thái ở đây Các gia đình quần tụ thành các đơn vị xã hội có tổ chức mang tên “ bản” cộng đồng bản hiện nay vẫn là chiếc nôi sản sinh nhiều biểu hiện văn hoá dân gian đầy chất Thái

Người Thái ở Lục Dạ xưa nay vẫn ở nhà sàn Ngôi nhà sàn của họ cũng có một quá trình phát triển và biến đổi theo thời gian Loại hình nhà sàn là loại duy nhất có thể thấy ở dải đất miền núi này Loại hình nửa sàn, nửa đất thấy ở một số nơi và thường người ta chỉ làm tạm thời trước khi dựng ngôi nhà sàn to, đẹp và nó được gọi là nhà tạm (hươn tạm hay hươn tụp)

Nguyên vật liệu để làm nhà gồm : gỗ, tre, nứa, song mây và tranh cọ Đây là những nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương Riêng tranh cọ, ở nhiều địa phương, ngoài việc khai thác trong rừng người ta còn tự trồng xung quanh nhà hoặc trên các gò đồi cách bản không xa là bao Nhiều gia đình có khả năng tự túc được tranh lợp chứ không phải nhờ sự giúp đỡ hay mua của người khác

Nhà sàn của người Thái ở xã Lục Dạ có 4 loại nhà sàn sau đây gắn liền với các tên gọi của nó phản ánh quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp của ngôi nhà sàn của họ

- Dạng cổ truyền gọi là nhà có đà (Hườn khang) hay còn gọi là nhà kim may( hườn kim may) Đây là kiểu nhà đơn giản nhất, cột chôn, chủ yếu dùng ngoãm tự nhiên hay tự tạo và dùng lạt buộc hiện loại hình này chỉ còn rất ít ở xã Lục Dạ nhưng cũng đã có sự thay đổi nhiều về chi tiết và yếu tố truyền

30 thống trước kia Ưu điểm của dạng nhà này là rất vững chãi Cột thường to có ngoãm tự nhiên hay tự tạo để luồn chốt làm pinh để gác đà dưới Hàng cột giữa chỉ cao đến gầm sàn có tác dụng nâng đỡ phần giữa sàn nhà Cột giữa của vì đầu tiên có thể cao quá mặt sàn 40- 50cm để tiện kê lúc chặt, đéo các công cụ và đồ gia dụng trong gia đình Các đỉnh đầu cột nếu không có ngoãm tự nhiên thì người ta thường dùng rìu vát tạo thành ngoãm để đặt đà trên Quá giang có thể xê dịch được Kèo được gắn thêm một thanh gỗ được gọi là kim may để ngoắc vào đà trên ( Khang Nưa)

- Dạng thứ hai là nhà quá giang cột chôn ( hươn khứ, xau phăng)

Nhìn vào dạng thứ hai này, chúng ta sẽ thấy sự phát triển phức tạp dần của ngôi nhà sàn ở xã Lục Dạ Trong dạng này, cột vẫn chôn nhưng không có ngoãm ( hoăc rất ít dùng) Đà dưới và đà trên đã mất Ở đỉnh đầu cột người ta không để ngoãm mà để thành một cái cọc gọi là đuốt để đặt quá giang Quá giang không còn xê dịch được mà đục lỗ để dặt vào đuốt cột Kèo được lắp vào giữa quá giang rồi chốt con xỏ; đỉnh kèo cũng được chốt con xỏ Hàng cột giữa cũng mất Khi làm, người ta phải sử dụng rìu, đục

- Dạng thứ ba: Nhà kê hai hàng cột có quá giang ( Hườn kê khứ) dạng thứ ba này thoạt nhìn không khác mấy so với dạng thứ hai Hai hàng cột được kê trên đá, có thêm xà dưới và xà trên giống như đà ở dạng thứ nhất Ở dạng này có thêm một vì kèo còn ở trên quá giang gồm trụ, đấu và con cung Dạng này vẫn dùng quá giang Khi làm phải sử dụng đục,bào Dạng nhà kê hai cột phổ biến ở huyện Con Cuông nói chung và ở xã Lục Dạ nói riêng từ những năm 50

2.1.3.1 Trang phục của phụ nữ

Trước đây phụ nữ Thái ở xã Lục Dạ thường mặc áo ngắn, ống tay hẹp và xẻ ngực Nẹp áo còn bằng khuy đồng hay hình tròn gọi là nách; hoặc khuy bằng dây vải bện vấn tròn và có hai loại chính: áo chẽn và áo họ lò

Nhóm Tày Thanh và Tày Mười thường măc áo chẽn Áo chẽn là đặc trưng của người Thái nơi đây Áo cổ tròn màu đen, ống tay hẹp Ở mép ống tay và mép gấu được nẹp vải trắng hoặc vải đỏ Hai bên thân áo trước ngực được đáp thêm hai miếng vải chạy song song với hàng cúc đồng từ trên xuống dưới Trên tấm vải nẹp này được đính nhiều hàng cúc bạc hình tròn, dẹt Khi mặc tà áo chỉ dài đến eo

Từ trước tới nay phụ nữ Thái ở xã Lục Dạ vẫn mạc kiểu váy xà rông Đó là loại váy kín được dệt, thêu bằng sợi bông nhuộm chàm Tuy đều mặc váy nhưng giữa các nhóm Thái cư trú ở đây cũng có sự khác nhau và ảnh hưởng của nhau

Đồ ăn

2.1.4.1 Đồ ăn chế biến từ lương thực

Nguồn lương thực chính của người Thái ở Lục Dạ từ trước tới nay vẫn là lúa gạo Ngoài ra, ngô, sắn, kê là nguồn lương thực phụ nhưng có vai trò không nhỏ trong đời sống kinh tế của họ, nhất là những lúc giáp hạt, mất mùa Người Thái không có thói quen để thóc hạt mà quen để cả cum lúa phơi, chất đống trên sàn gác trên gian bếp

 Đồ ăn từ gạo nếp

- Xôi: Trước kia, người Thái ở xã Lục Dạ chỉ có tập quán và thói quen ăn xôi nếp ( Xôi đồ) Theo sở thích của họ, nếu chỉ ăn xôi nếp không thôi thì chưa

36 đủ mà xôi nếp ăn với cá nướng hoặc chấm chẻo mới cảm thấy hết vị ngon của nó.Từ gạo nếp người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn khác sử dụng trong ngày, trong lễ tết, lễ nghi của các gia đình… Nhưng món ăn phổ biến nhất vẫn là ăn xôi đồ ( khẩu nửng)

Cơm lam cũng là món ăn rất đặc trưng của người Thái ở xã Lục Dạ Món ăn này cũng là một sáng tạo văn hoá trong quá trình chọn lọc và thích ứng của cây lúa nếp So với nhiều dân tộc, người Thái ở xã Lục Dạ có rất ít các loại bánh chế biến từ gạo nếp hay gạo tẻ chỉ gồm một số loại bánh như: Bánh chưng (khẩu tổm), Bánh sừng bò (khẩu ven),Bánh ít (pảnh ít), Bánh rán (pảnh hản)

 Đồ ăn chế biến từ gạo tẻ

- Như đã nói, người Thái vốn ưa ăn nếp hơn tẻ, quen đồ hơn nấu, cho nên ban đầu gạo tẻ thường được chế biến qua một số công đoạn để rồi đồ như đồ nếp

- Đồ ăn chế biến từ ngô

Mặc dù là nguồn lương thực phụ nhưng khi được hỏi thì những người dân tộc Thái ở xã Lục Dạ vẫn khẳng định rằng ngô không phải là nguồn lương thực ưa thích nhất Do đó diện tích trồng ngô không đáng kể, thỉnh thoảng mới thấy một nương ngô trồng xen canh với các loại cây lương thực khác Các món ăn chế biến từ ngô mà người dân ở đây thường ăn đó là: Ngô đồ, ngô bung

Ngô non thường được luộc, nướng Ngô già được rang ăn chơi sau bữa trưa hoặc bữa tối

 Đồ ăn chế biến từ sắn

Có thể nói sau lúa gạo thì sắn là nguồn lương thực phụ được người Thái ưa chuộng Tuy nhiên người ta không bao giờ chỉ ăn sắn không mà thường trộn với một loại nào khác hoặc nếp, tẻ Săn cũng được người Thái chế biến ra thành các loại như sau: Sắn luộc, Sắn nướng

2.1.4.2 Đồ ăn chế biến từ thực phẩm a, Các món ăn chế biến từ cá

Từ lâu cá nướng đã trở thành món ăn mang tính đăc trưng rất Thái Đây là món ăn được chế biến đơn giản nhưng rất ngon phù hợp với sở thích của người Thái ở xã Lục Dạ Tuy nhiên, loại cá nướng ngon nhất và nổi tiếng nhất là cá mát ( pa khỉnh) Với loại cá này, người ta không phải mổ ruột mà dùng một que nứa xuyên từ miệng đến đuôi rồi cho vào kẹp, thêm ít muối nướng chín Khi ăn với xôi nếp, cá có vị ngon, thơm và bép ngậy

+ Cá đồ (pa nửng) Ở người Thái, khi kiếm được nhiều cá, đặc biệt được nhiều cá to, người ta thường làm món cá đồ Rất ít khi người ta được ăn no một bữa cá đồ, thậm chí cả một đời người vẫn chưa được thưởng thức món này Vì vậy, cá đồ là món rất quý hiếm với họ Người Thái thường chỉ đồ cá trắng to từ hàng cân trở lên, nhất là các loại cá ít xương nhiều thịt

+ Ruột cá vùi trong bếp (khì khôm) Đây cũng là món được người Thái ưa chuộng vì rất hợp khẩu vị của họ Thực ra, đây là một loại chẻo đặc biệt của họ Ruột cá trắng mổ ra rửa sạch rồi cho ít muối và một số gia vị như hành tăm, hạt tiêu, gừng, mới gói lá dong hay lá chuối vùi gio bếp đọ mười phút là mang ra ăn được Món ruột cá vùi gio rất thích hợp

38 đẻ chấm xôi, ăn vừa có vị đắng vừa thơm béo Món này cũng rất tiện lợi khi đi làm nương, đi rừng vì đỡ phải nấu nướng

Trái với cá đồ, cá nướng, cá lam thường rất hợp với các loại cá đen nhỏ xúc được ở khe suối Cá được rửa sạch, trộn muối, ớt, lá chua cho vào ống nứa tươi, đổ thêm nước lã rồi bịt miệng ống bằng lá dong hay lá chuối, sau đó đun kỹ rồi đem ra ăn Đây thực chất là một kiểu nấu canh Ăn nóng vừa thơm ngon vừa hợp khẩu vị Cá lam rất tiện lợi, chế biến đơn giản, thường được chế biến khi đi rừng, ở nương không có thời gian đun nấu bằng xoong nồi

Lạp cá cũng là món ăn truyền thống của nhiều người, nhất là người nam giới Thái ở xã Lục Dạ yêu thích thực ra, đây là món ăn giống với món gỏi cá của người Kinh, nhưng khác về cách chế biến và các gia vị kèm theo

Moọc cá có thể dùng cá trắng hoặc cá đen để chế biến Cá được rửa sạch cắt thành những miếng nhỏ trộn ít muối, hạt tiêu, mộc nhĩ, nấm hương, hành tăm và tấm gạo nếp giã vụn Sau đó gói lá dong, đồ cách thuỷ hoặc luộc Moọc cá thường được làm vào dịp tết cơm mới và trong dịp tết Nguyên đán - một lễ vật để cúng ma nhà tổ tiên vào dịp năm mới Ngoài món moọc ra người Thái còn làm món nạp cá

Cá tươi rửa sạch, chặt thành miếng nhỏ, trộn muối rồi nhồi vào ống nước khô, vại sành, rắc thêm bột thính lên trên rồi bịt kín bằng lá chuối khô để lâu ngày mới ăn Cá chua thường đem xào vơi măng chua hay nấu canh, ăn có mùi thơm, vị ngậy và vị chua ngọt

39 b, Các món ăn chế biến từ thịt

Món thịt nướng thường được chế biến từ các loại thú rừng như thịt nai, hoắng, lợn rừng…người ta thái miếng to, tẩm muối và da vị kẹp nướng trên than hồng + Thịt sấy (xỉn giảng)

Đồ uống, đồ hút

Từ trước tới nay, người Thái ở xã Lục Dạ vẫn có tập quán uống hai loại rượu :rượu trắng (lẩu xiêu) và rượu cần (lẩu xá)

Rượu trắng : Nguyên liệu dùng để nấu rượu gồm gạo, ngô, sắn, vỏ trấu và men lá Trước tiên, người ta phải chuẩn bị men Men dùng để nấu rượu của người Thái ở xã Lục Dạ là loại men lá do họ tự làm bằng các nguyên liệu sẵn có Thành phần men gồm gạo giã thành bột trộn với một số phụ gia như riềng, lá mít, rau chua, lá chân chim… và một số gia vị khác luôn được giữ bí mật, người khác không biết được Men rượu của người Thái ở xã Lục Dạ thường được nặn thành bánh to đặt vào mẹt cho mốc, hoặc treo bên trái bếp

Rượu trắng thường được dùng phổ biến trong đời sống hằng ngày, nhất là vào các dịp cưới xin, vào nhà mới, khi có khách khứa, bạn bè đến Mỗi khi có khách đến nhà, người ta tỏ thái độ quý mến, tôn trọng bằng việc mời khác uống rượu và ở lại ăn cơm Người Thái ở xã Lục Dạ có thói quen vừa ăn vừa uống Trong mâm cơm, rượu được rót đều ra từng chén Chủ nhà nói lời mời, sau đó tất cả đều chạm chén Người ít tuổi thường nhường cho người nhiều tuổi hoặc khách quý uống trước, sau đó mới đến lượt người ít tuổi Trong mâm cơm bao giờ cũng có một người ít tuổi chủ trì, rót rượu để mời Chén rượu đầu tiên nhất thiết phải uống một hơi Khi đã uống cạn thì đặt chén nghiêng xuống mặt mâm, quay miệng chén vào phía giữa mâm để người khác công nhận là dã làm xong bổn phận

.Người ta quan niệm, khi đã uống thì uống hết mình, không thích người uống hay giữ kẽ và uống đến say thì mới vui, mới tỏ rõ sự tôn trọng lẫn nhau Vì thế trong mâm cơm, khi đã được chén, người ta thường hát đối, chúc tụng nhau bằng các bài hát ứng khẩu được sáng tác ngay tại chỗ

Rượu trắng đôi khi còn là một vị thuốc chữa bệnh : đánh gió, xức nóng cho người ốm, ngâm với các loại thuốc nam để uống, để xoa bóp

Nguyên liệu để làm ra rượu cần mà bà con xã Lục Dạ vẫn thường dùng gồm thóc, gạo hoặc sắn, vỏ trấu và hỗn hợp men

Rượu cần thường được sử dụng trong các dịp vào nhà mới, cưới xin, bốc vía, ngày tết, khi có khách, trong các dịp tạ ơn thầy Một, thầy Mo mỗi khi có sẫm đầu mùa

Theo tập quán rượu cần không phải loại rượu để uống trong mâm cơm mà sau khi ăn uống xong người ta mơi mở rượu ra để uống với tinh thần vui và sinh hoạt văn nghệ cộng đồng Uống rượu cần là dịp sinh hoạt văn hoá cộng đồng, dù uống ít hay uống nhiều, dù bình thường hay quá cần thì mục đích cũng chỉ là làm vui

Vì thế được thưởng hay bị phạt đều được xem là có lợi Đặc biệt người Thái xã Lục Dạ khi đã vào cuộc rượu cần thì phải có người hơi quá chén mới vui Chính lúc hơi quá men này là lúc lời ca, tiếng hát được cất lên cho cả cộng đồng cùng nghe và cẩm nhận Tâm lý người Thái ưa thích những người qua cuộc rươu cần mà cất lên lời ca, tiếng hát ca ngợi quê hương, tình bằng hữu, và tình yêu đôi lứa Ngoài ra thì người Thái ở đây còn dùng các loại lá và cây dùng để nấu uống như cây chè, lá ổi xanh, lá tủm…

Trước đây người Thái ở xã Lục Dạ chỉ hút loại thuôc duy nhất do họ trồng, tự thái và cất trữ Họ gọi loại thuốc này là gia tày

Loại thuốc thứ hai mà hầu hết nam giới, kể cả thiếu niên đều ưa chuộng đó là thuốc lào Loại thuốc này được sử dụng bằng điếu để hút Người Thái kiêng dùng chân gạt, đá vào điếu vì như thế xúc phạm đến người hút Khi đưa đến cho

42 người khác cũng phải đưa hai tay để tỏ sự tôn trọng Nếu có người muốn hút,thường người ta phải ngường cho người già Đối với phụ nữ, người ta thường ăn trầu cau kèm với một ít loại thuốc do họ tự chế hoặc một ít thuốc lào

Nhìn chung đồ uống và đồ hút của người Thái ở xã Lục Dạ còn nghèo nàn, gần như họ chỉ dùng loại rượu truyền thống

2.1.5 Các ph ươ ng ti ệ n v ậ n chuy ể n

- Gùi: Từ xa xưa người Thái ở xã Lục Dạ vẫn thường dùng 3 loại gùi chính

+ Klớp là loại gùi đan bằng tre hoặc giang theo kiểu lóng đôi, gùi có loại to, nhỏ phù hợp với lứa tuổi người lớn và trẻ em Gùi được dùng đẻ gùi lúa, thóc, gạo, lấy củi, măng… Loại gùi này chỉ có nhóm Tày Thanh hay dùng

+ Klớp cắp cũng là loại gùi được người Tày Thanh ưa dùng tuy nhiên loại gùi này có thêm một số chi tiết như: lắp gá thêm chân đế bằng gỗ, thân hình trụ tròn Đăc biệt đây là của hồi môn của con gái khi lấy chồng, dùng để đựng áo, váy và đồ trang sức

+ Pề là loại gùi được nhóm Tày Mường ở xã Lục Dạ quen dùng Loại gùi này khi dùng có thể gùi qua trán, nhưng khi mỏi có thể dùng đôi vai, gùi cũng có loại to, nhỏ phù hợp với từng lứa tuổi

- Vân chuyển bằng súc vật ( trâu,bò, ngựa)

Vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước, từ lâu người Thái chẳng những sử dụng sức trâu để cày, bừa hoặc dùng trâu để quần ruộng… mà họ còn dùng trâu bò để kéo gỗ, nứa, kéo xe

Người Thái ở xã Lục Dạ chỉ có một thành ngữ duy nhất để chỉ thành ngữ bè mảng là pe Pe thường phải cần hai người trở lên để điều khiển, người ta làm hai

43 mái chèo to, người phía trước có nhiệm vụ điều khiển hướng đi đúng luồng lạch, người sau điều khiển đuôi để tạo cho hướng đi không lệch dòng Ưu điểm của bè mảng là chuyên chở được khối lượng hàng hoá lớn, qua được ghènh thác kể cả khi có lũ, nhưng nó chỉ chuyên chở được một chiều ( xuôi dòng) vì thế nó không phải là phương tiện chính

Cũng cần phải nhắc đến một loại bè mảng nhỏ dùng để đi lại sông suối, đi làm hoặc đi dánh cá

Từ những cứ liệu đã trình bày trên đây chúng ta thấy phương tiện vận chuyển của người Thái ở xã Lục Dạ khá đa dạng, phong phú Các loại phương tiện dùng sức người như: gui, mảng… do bàn tay lao động của con người tạo ra Các sản phẩm này đêu được làm ra từ nguồn nguyên liệu có sắn trong tự nhiên Bên cạnh đó còn thể hiện bản sắc Thái, tập quán và thói quen sử dụng của từng nhóm địa phương

2.2 Những biến đổi về đời sống vật chất của người Thái ở xã Lục Dạ

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w