1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những ảnh hưởng và tác động đến văn hóa du lịch thông qua lễ hội uống nước nhớ nguồn tại nghĩa trang hữu nghị việt lào thị trấn anh sơn huyện anh sơn tỉnh nghệ an

85 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người con của quê hương Anh Sơn được trực tiếp quan sát, tìm hiểu nhiều về các khâu chuẩn bị cũng như được trực tiếp chứng kiến lễ hội nên tôi đã chọn đề tài “Những ảnh hưởng và tác đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT

NHỮNG ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN

VĂN HÓA – DU LỊCH THÔNG QUA LỄ HỘI

“UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” TẠI NGHĨA TRANG HỮU NGHỊ VIỆT – LÀO, THỊ TRẤN ANH SƠN,

HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HÓA

Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Văn Trung Sinh viên : Lê Thị Hoài

Lớp : QLVH8C Khóa học : 2007 - 2011

Hà Nội - 2011

Trang 2

cơ quan và tổ chức nơi tiến hành đề tài

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy giáo Th.s Nguyễn Văn Trung, người đã hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu đề tài Xin cảm ơn những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo giúp cho tôi thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn các cô, các chú thuộc Ban quản

lý nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào, các anh chị làm việc tại phòng Văn hóa – Thông tin huyện Anh Sơn, các anh chị làm việc tại Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An đã cung cấp những tài liệu phong phú và cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của tôi Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè

đã động viên để tôi làm tốt hơn công việc nghiên cứu của mình

Với thời gian và năng lực có hạn nên trong lúc thực hiện đề tài cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy

cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011 Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hoài

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2 

MỞ ĐẦU 5 

1 Lý do chọn đề tài 5 

2 Tính cấp thiết của đề tài 6 

3 Mục đích và nhiệm vụ khóa luận 7 

4 Đối tượng nghiên cứu 8 

5 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8 

6 Phương pháp nghiên cứu 9 

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9 

8 Bố cục của đề tài 9 

CHƯƠNG I 11 

LỄ HỘI “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” TẠI NGHĨA TRANG HỮU NGHỊ VIỆT – LÀO, THỊ TRẤN ANH SƠN, HUYỆN ANH SƠN, TỈNH NGHỆ AN 11 

1.1 Vai trò của lễ hội trong đời sống xã hội 11 

1.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và quản lý lễ hội 14 

1.3 Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” trong đời sống văn hóa người dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An 20 

CHƯƠNG II 23 

NHỮNG ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA – DU LỊCH THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA LỄ HỘI “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” 23 

2.1 Đặc điểm địa danh và những đặc trưng của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” 23 

2.1.1 Nguồn gốc lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” 26 

2.1.2 Công tác chuẩn bị cho lễ hội 29 

2.1.3 Công tác tổ chức thực hiện lễ hội 32 

2.2 Khẳng định những giátrị thông qua lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” 44 

2.2.1 Giá trị về tâm linh 44 

2.2.2 Giá trị về giáo dục 45 

2.2.3 Giá trị giải trí 46 

2.2.4 Giá trị về sự tri ân hướng về cội nguồn 48 

2.2.5 Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 50 

Trang 4

2.3 Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đối với sự phát triển của văn hóa và du

lịch Nghệ An 51

2.3.1 Nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào – Nơi diễn ra lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” 51 

2.3.2 Sự gắn kết giữa lễ hội với các hoạt động du lịch sinh thái ở Nghệ An 56 

2.4 Đánh giá thực trạng của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” 60

2.4.1 Ưu điểm 60 

2.4.2 Hạn chế 62 

CHƯƠNG III 65 

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA LỄ HỘI “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ DU LỊCH TẠI NGHỆ AN 65 

3.1 Tổ chức thực hiện trong lễ hội 65

3.2 Quản lý nhà nước đối với lễ hội 66

3.3 Quảng bá tuyên truyền về lễ hội 67

KẾT LUẬN 70 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 

PHỤ LỤC 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong suốt chặng đường lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam mang trong mình một bản sắc riêng Nó đã làm nên một sức mạnh giúp nhân dân ta vượt qua những khó khăn và phát triển Gắn liền với lịch sử dân tộc, lễ hội truyền thống đang là sức mạnh lan tỏa, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, cốt cách và tình cảm của bao thế hệ Bởi lẽ lễ hội đã hội tụ những giá trị văn hóa và tinh thần trong đời sống của người dân thành những hoạt động văn hóa đặc trưng mang một ý nghĩa nhất định và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Lễ hội truyền thống có vai trò lớn trong đời sống của dân tộc Việt Nam Nó là dịp để mọi người có thể tự thể hiện mình, đồng thời giao lưu cộng cảm, giáo truyền đạo lý và những khát vọng cao đẹp Đây là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, kết nối cộng đồng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào về nguồn gốc của mình

Xuất phát từ đạo lý tốt đẹp đó, lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đã được hình thành và đi vào cuộc sống của người dân Anh Sơn thật bình dị Sau khi hòa bình lập lại, Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới việc đi tìm các hài cốt, phần mộ của những người con đã ngã xuống để giành lấy độc lập tự do cho dân tộc Đặc biệt nữa là khi những anh hùng liệt sỹ đó ngã xuống trên đất bạn Lào Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, chính quyền các cấp đã phối hợp với nhân dân trên mọi miền đất nước đi tìm và quy tập những phần mộ này về các nghĩa trang liệt sỹ trong cả nước Nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào tại huyện Anh Sơn được đánh giá là lớn thứ hai của cả nước sau nghĩa trang Trường Sơn của tỉnh Quảng Trị Và cứ đến ngày 27/7 hàng năm, lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” lại được tổ chức với sự tham dự của thân nhân các liệt sỹ và nhân dân địa phương

Trang 6

nhằm tưởng nhớ công lao to lớn của những người đã hy sinh vì độc lập tự do của

Tổ quốc

Với những ngày lễ chính, trong không khí linh thiêng, đầm ấm lễ hội đã mang lại cho bất cứ ai niềm tự hào và hãnh diện Là một sinh viên trường Đại học Văn hóa, lại được sinh ra trên mảnh đất Anh Sơn này, những trang viết dưới đây xin được bày tỏ như lòng thành kính, lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ sau đối với công lao to lớn của những người anh hùng đã hy sinh tuổi xuân của mình vì độc lập tự do của quê hương đất nước Qua đây cũng xem xét đánh giá về nhu cầu của người dân khi đến với lễ hội này Đến với lễ hội là thân nhân những liệt

sỹ, là người dân trong vùng, là đồng đội của các anh đang yên nghỉ ở nghĩa trang Việt – Lào, là những du khách đến từ mọi miền đất nước và cả những du khách nước ngoài Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào đã thực sự thu hút được lượng du khách quan tâm về dự

Hiểu được lẽ trên, tôi xin chọn đề tài “Những ảnh hưởng và tác động đến văn hóa – du lịch thông qua lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào, Thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An” làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tính cấp thiết của đề tài

Truyền thống dân tộc ta có câu “Uống nước nhớ nguồn” để nhắc nhở chúng ta nhớ về cội nguồn, biết ghi nhớ công lao của các vị cha anh và hơn hết

đó là truyền thống đạo lý sống tốt, sống đẹp ở đời “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý quan trọng dân tộc ta, dù sống trong bất lỳ xã hội nào cũng cần nhớ về cội nguồn Vì vậy việc tổ chức lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” cần phải được nghiên cứu cụ thể

Trang 7

Ở Việt Nam, lễ hội có ở khắp các địa phương, khắp các vùng miền của Tổ quốc Riêng lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” ở huyện Anh Sơn là một sự kiện văn hóa xã hội lớn không chỉ ở trên tuyến đường 7 mà còn là sự kiện văn hóa xã hội lớn của tỉnh Nghệ An nói chung Lễ hội là dịp để người dân nơi đây thể hiện tấm lòng biết ơn sâu sắc và truyền thống ghi nhớ những hy sinh lớn lao, những chiến công oanh liệt mà thế hệ đi trước đã phải đổi bằng máu để có được yên bình cho ngày hôm nay

Là người con của quê hương Anh Sơn được trực tiếp quan sát, tìm hiểu nhiều về các khâu chuẩn bị cũng như được trực tiếp chứng kiến lễ hội nên tôi đã

chọn đề tài “Những ảnh hưởng và tác động đến văn hóa – du lịch thông qua

lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào, Thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An” làm khóa luận tốt nghiệp với

mong muốn góp phần nhỏ bé những hiểu biết vào việc giới thiệu truyền thống văn hóa tốt đẹp, những nét văn hóa mang màu sắc đặc trưng của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đến với tất cả bạn bè trên đất nước Việt Nam đồng thời cũng là để học tập, nghiên cứu về lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

3 Mục đích và nhiệm vụ khóa luận

Bài luận văn đi sâu và việc tìm hiểu các khâu chuẩn bị và công tác thực hiện trong lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nhằm giới thiệu truyền thống đạo lý tốt đẹp, đồng thời cũng là hoạt động sinh hoạt thường niên, là nét đẹp trong văn hóa của địa phương và của vùng nói chung đến với mọi bạn bè tổ quốc, nhằm đóng góp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về lễ hội mới này Bài viết nhấn mạnh công tác quảng bá

lễ hội để góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa và hoạt động du lịch cho khu vực miền núi phía Tây Nghệ An nói riêng và trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung

Trang 8

Đề tài đề cập đến các vấn đề công tác quản lý các hoạt động của lễ hội

“Uống nước nhớ nguồn”, cụ thể là nghiên cứu thực trạng và những tác động của

nó đối với hoạt động du lịch của tỉnh Nghệ An, đồng thời đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao giá trị văn hóa, phát triển hoạt động du lịch trong lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề về công tác quản lý, các hoạt động chuẩn bị cho lễ hội, các trình thức trong lễ hội và sự ảnh hưởng của những giá trị lịch sử văn hóa trong lễ hội tới việc phát triển hoạt động du lịch trong tỉnh Nghệ An

5 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đang được xem là hoạt động văn hóa xã hội nổi trội của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Đã có rất nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu về địa danh này đề cập tới các vấn đề như danh thắng, phong tục và con người nơi đây Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” cũng là tiêu điểm văn hóa của huyện nên đã có rất nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu tìm hiểu Các công trình nghiên cứu đó đã đi vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống văn hóa, xã hội, phong tục tập quán của con người nơi đây Tuy nhiên rất ít công trình đề cập đến những hạn chế và đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế đó trong

lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” cũng như việc đặt lễ hội trong ảnh hưởng của hoạt động du lịch tỉnh Nghệ An Vì vậy trong bài luận văn này tôi đi sâu vào việc tìm hiểu tình hình hoạt động và các trình thức lễ nghi diễn ra trong lễ hội

“Uống nước nhớ nguồn” của huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hóa trong sinh hoạt lễ hội của huyện đồng thời đi vào tìm hiểu những yếu tố của lễ hội và huyện Anh Sơn

Trang 9

có tác động và ảnh hưởng đến hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An Tìm hiểu về lễ hội này tôi mong sẽ được đóng góp thêm một phần nhỏ tư liệu làm cho

bề dày văn hóa trong các công trình nghiên cứu viết về huyện đầy đủ hơn

6 Phương pháp nghiên cứu

- phương pháp nghiên cứu tư liệu

- phương pháp điền dã

- phương pháp phân tích tổng hợp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” có vai trò rất lớn đối với đời sống văn hóa không chỉ của người dân nơi đây mà còn có vai trò giáo dục đối với tất cả chúng ta về đạo lý tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc

- Thông qua nghiên cứu có thể đóng góp thêm tư liệu, đưa ra các phương thức trong việc tổ chức và quản lý lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp trong lễ hội từ đó có thể áp dụng vào thực tế để góp phần xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cho người dân nơi đây

- Nghiên cứu về lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” góp phần vào việc phát triển du lịch tỉnh Nghệ An thông qua hoạt động quảng bá lễ hội và giới thiệu những danh thắng trong huyện Anh Sơn và các vùng lân cận với du khách về dự hội

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục hình ảnh và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của khóa luận gồm 3 chương:

Trang 10

Chương I Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào, Thị trấn Anh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Chương II Những ảnh hưởng và tác động đến văn hóa du lịch thông qua các hoạt động của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

Chương III Nâng cao hiệu quả hoạt động của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đối với việc phát triển văn hóa du lịch tại Nghệ An

Trang 11

CHƯƠNG I

LỄ HỘI “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN” TẠI NGHĨA TRANG HỮU NGHỊ

VIỆT – LÀO, THỊ TRẤN ANH SƠN, HUYỆN ANH SƠN,

TỈNH NGHỆ AN

1.1 Vai trò của lễ hội trong đời sống xã hội

Lễ hội là một dạng sinh hoạt văn hóa vừa nguyên hợp, vừa tổng hợp của con người trước hết đáp ứng nhu cầu niềm tin và nhu cầu giải trí – tái sáng tạo, là loại nhu cầu văn hóa không thể thiếu của cộng đồng xã hội, là sự chuyển tải truyền thống, nội dung giáo dục thuần phong mỹ tục đến thế hệ nối tiếp mà chỉ qua tâm thế hội, mỗi người mới có dịp thăng hoa một cách bay bổng nhất những phẩm chất và tài năng tốt đẹp của mình, hòa nhập vào cái chung trong ngày hội

để tạo thành niềm vui chung, sức mạnh chung của lễ hội, để lễ hội trở thành hoạt động văn hóa tầm cao, nổi trội trong đời sống con người Cảm giác được tự mình đóng góp một phần vào sự kiện, tự mình tham dự trong cộng đồng sau khi đã có đầy đủ tâm thế để tham gia lễ hội sẽ giúp cho mỗi chúng ta cảm nhận rằng mình đang làm việc nghĩa cùng cộng đồng, cùng giúp cho một hoạt động văn hóa thành công hơn, giúp cho lễ hội ý nghĩa hơn Chính điều đó đã tạo cho lễ hội có được sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, nâng cao hơn tinh thần đoàn kết và cố kết cộng đồng, tất cả vì mục tiêu chung là hướng đến những giá trị tốt đẹp của lễ hội trong niềm cộng cảm về những lo toan chung và những nguyện vọng chung, trong niềm tự hào về quá khứ và niềm tin vào tương lai, trong tình yêu đồng bào, yêu quê hương, yêu tổ quốc thiêng liêng anh hùng

Nếp sống của người Việt Nam từ bao đời nay luôn tưởng nhớ, biết ơn, thờ cúng những con người ưu tú của dân tộc, của đất nước; những danh nhân trên

Trang 12

mọi lĩnh vực, những người có công với dân, với tổ quốc như Thánh Trần Hưng Đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc… Điều đó thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”,

“ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta đã và đang được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Người dân Việt Nam, đi dự lễ, đi trẩy hội ngoài mong ước điều may mắn, tốt lành đều mơ hồ cảm thấy và tin rằng mình thực sự thu nhận được những điều may mắn tốt lành từ những đấng siêu nhiên, vô hình mà họ tôn vinh, thờ cúng Nó đã trở thành niềm tin nuôi dưỡng tinh thần mỗi người dân đất Việt, giúp đỡ họ trong quá trình hoạt động kế tiếp Đến với lễ hội là đến với không gian thiêng nhưng đồng thời cũng là đến để hòa mình vào cộng đồng, để sống cùng cộng đồng trong những giờ phút bình thường nhất của cuộc sống đời thường mà lễ hội đã cô đọng lại Vì vậy điều đó cũng trở thành yếu tố để con người ta dù ở đâu, vị trí nào cũng không quên hướng về lễ hội, đến với lễ hội ngày một đông hơn

Vai trò của lễ hội là giúp người ta trở về với cội nguồn, đánh thức cội nguồn Dù ở đâu, lễ hội nào cũng đều giúp chúng ta ôn lại quá khứ của một địa phương, một cộng đồng dân cư Những hoạt động đó nhằm nhắc lại vai trò, công lao của thánh thần, của các bậc tiền nhân Đó là cội nguồn của tự nhiên, đất nước, xóm làng… Hoạt động lễ hội là hoạt động mang tính tưởng niệm, hướng

về những sự kiện và những nhân vật lịch sử được nhân dân địa phương thờ cúng Trong lễ hội, truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được dịp thể hiện Nó trở thành nền tảng tư tưởng để giáo dục những giá trị chân, thiện, mỹ cho quần chúng nhân dân, nhắc nhở thế hệ con cháu ôn lại truyền thống cha ông Những trò diễn, tục hèm trong lễ hội làm khơi dậy quá khứ, tái hiện lịch sử của quê hương đất nước Lễ hội góp phần tìm hiểu diện mạo cuộc sống của các thế hệ trước đồng thời cũng thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc được bảo lưu trong các tục

lệ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Lễ hội là môi trường thuận lợi mà

Trang 13

ở đó các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc được bảo tồn và phát triển Những yếu tố văn hóa truyền thống đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử phát triển chung của đất nước Nó là hệ quả của cả quá trình lịch sử không chỉ một cộng đồng người Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong suốt chiều dài lịch sử

Văn hóa Việt Nam có nét chủ đạo là văn hóa cộng đồng, yếu tố cộng đồng được thể hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội Trong đó hoạt động lễ hội rõ nét nhất mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Lễ hội là môi trường tái tạo và phân phối văn hóa dân gian, là phương tiện trung chuyển các luồng văn hóa nội sinh và ngoại nhập tới các thành phần cư dân khác Đây là một phần của quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa luôn diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc Tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là đặc trưng cơ bản và là nét tiêu biểu của lễ hội truyền thống Việt Nam Tính cộng đồng là yếu tố quyết định, là sợi dây liên kết thống nhất và bền vững trong quá trình phát triển, gắn kết quá khứ - hiện tại và tương lai Bản chất của lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trong môi trường như vậy nó có điều kiện để thể hiện vai trò tập hợp và quy tụ, gắn kết và điều phối mọi tầng lớp người trong một không gian văn hóa vốn thuộc về cộng đồng

Lễ hội chính là thời điểm mà ở đó đông đảo các tầng lớp nhân dân dành thời gian nhàn rỗi của mình cho quá trình vui chơi, giao hòa với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, giải tỏa những ức chế tâm lý nảy sinh trong công việc, trong cuộc sống thường ngày Đây là dịp nghỉ ngơi sau những tháng ngày mùa màng bận rộn, vất vả Lễ hội là dịp để mọi người giao lưu với nhau, những người con xa quê gặp gỡ bà con, anh em, bè bạn… sau những tháng ngày làm ăn kiếm sống nơi đất khách quê người

Trang 14

Đất nước ta ngày nay trong công cuộc đổi mới và hội nhập thì nhu cầu phục hồi và phát triển các lễ hội truyền thống ngày càng được chú trọng quan tâm hơn Sự phục hồi ấy làm cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú, sôi động và đa dạng Lễ hội có đầy đủ lý do để tiếp tục tồn tại cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người bởi nó chính là một hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian đã góp phần to lớn đáp ứng nhu cầu văn hóa, nhu cầu tâm linh ngày càng cao của con người

1.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và quản lý lễ hội

Lễ hội truyền thống ở Việt Nam mấy chục năm qua đã có những biến động lớn, gắn liền với những biến cố lịch sử của đất nước như cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong thời gian đó lễ hội cũng bị lãng quên và không có điều kiện tổ chức Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, không chỉ nhu cầu thưởng thức văn hóa mà cả nhu cầu về đời sống tâm linh của nhân dân, vốn bị dồn nén từ lâu, nay lại được dịp bùng lên mạnh mẽ Điều đó dẫn đến sự nở rộ của hoạt động hồi phục lễ hội dân gian truyền thống đồng thời tạo điều kiện để tổ chức thêm những lễ hội mới Việc này đã làm cho đời sống tinh thần của người dân ngày càng phong phú, đa dạng hơn Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh được giữ gìn, tôn tạo tốt hơn, nhiều truyền thống văn hóa được phục hồi và phát huy tối đa giá trị của nó Nhưng cũng đồng thời kéo theo đó là hàng loạt các dịch vụ mê tín dị đoan, sự lai căng giữa cái cũ và cái mới… Đáng tiếc hơn nữa, một số lễ hội được tổ chức chỉ

vì mục đích kinh doanh, kiếm lời

Xuất phát từ thực tiễn vấn đề này, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc tổ chức và quản lý lễ hội Đây là một mảng rất quan trọng trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư người Việt, bởi vì công tác văn hóa là một bộ phận trong công tác tư tưởng của Đảng Hoạt động văn hóa giúp cho Đảng thực

Trang 15

hiện tốt công tác tư tưởng, góp phần tác động vào ý thức xã hội, các lĩnh vực đời sống tinh thần đối với xã hội loài người Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đề cập đến văn hóa đã chỉ ra bốn vấn đề phải chú ý, phải coi trọng ngang nhau, đó là: chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Người đưa ra năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc là xây dựng tâm lý, xây dựng lý luận, xây dựng xã hội, xây dựng chính trị và xây dựng kinh tế Cho đến nay tư tưởng đó vẫn giữ nguyên giá trị và tính đúng đắn Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta trên mặt trận văn hóa Thấm nhuần nguyên

lý và tư tưởng của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạch định đúng đắn cho văn hóa Việt Nam trong suốt tiến trình cách mạng Đảng đã đề ra những chủ trương, biện pháp để xây dựng và phát triển văn hóa phù hợp với từng thời kỳ, trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc bao giờ cũng là nội dung được ưu tiên và có tính nguyên tắc của Đảng Ngay từ những năm 1943,

Đảng ta đã xác định định hướng văn hóa Việt Nam trong bản “Đề cương văn

hóa” với ba nguyên tắc lớn: Dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa Đây

chính là cơ sở cho sự phát triển nền văn hóa của dân tộc ta lên một tầm cao mới Đến Đại hội III (1960) và Đại hội IV (1976), Đảng ta đã xác định xây dựng nền văn hóa với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc Nghị quyết số 05 của

Bộ Chính trị đã nêu: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng ta đã đề xướng: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Nghị quyết TW5 (khóa VIII) lại tiếp tục một lần nữa khẳng định nhiệm vụ

“Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” với mục tiêu là cho

văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể, từng cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao…

Trang 16

Đại hội IX (2001) của Đảng đã tiếp tục khẳng định và nâng cao quan điểm được đề cập trong Nghị quyết TW5 (khóa VIII), đó là: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa và các danh lam thắng cảnh… Tiếp thu tinh hoa góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao điều kiện, trình độ thẩm mỹ

và thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều thành quả văn hóa… Định hướng phát triển văn hóa trong thời gian tới của Đảng ta là: phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, làm nền tảng cho sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng, giữa các vùng cả nước và giao lưu văn hóa với bên ngoài Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX, việc giữ gìn và phát huy bản sắc không đồng nghĩa với việc đóng cửa, không tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác Chúng ta tiếp thu văn hóa thế giới nhưng không đánh mất đi bản sắc của dân tộc mình mà phải làm cho bản sắc văn hóa dân tộc nổi bật lên, phong phú thêm đồng thời việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác không được rập khuôn, giáo điều, máy móc và biểu hiện tư tưởng sùng ngoại Phải tiếp thu

có chọn lọc, phù hợp với nền văn hóa Việt Nam Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng không đồng nghĩa với việc phục hồi và phát triển những hủ tục mê tín dị đoan Chúng ta cần phải chống những biểu hiện lợi dụng cái gọi là khôi phục bản sắc văn hóa dân tộc để làm những điều tiêu cực, huy động sức đóng góp của nhân dân vào những mục đích không lành mạnh; phải xác định rõ việc tổ chức lễ hội là để tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước… Chung quy lại, hoạt động văn hóa là nhằm xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng đạo đức, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội

Trang 17

Trong quá trình bảo tồn khôi phục và giữ gìn các giá trị di sản văn hóa, các cấp ủy Đảng đặc biệt coi trọng đến việc giữ gìn và bảo lưu các giá trị văn hóa phi vật thể Phát huy vai trò của hoạt động văn hóa lễ hội, là bảo tàng sống

về các sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân đang rất được quan tâm Bởi ở

đó lịch sử được tích tụ với vô số những phong tục tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật và các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc Đáng tiếc là trong một thời gian dài chúng ta không đánh giá đúng tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể mà chỉ quan tâm điều chỉnh các giá trị văn hóa vật thể Nói cách khác, chúng ta mới chỉ tập trung lo kiểm kê, xếp hạng các di tích, đình chùa, miếu mạo, các công trình kiến trúc và danh thắng mà xao nhãng, chưa kịp xếp hạng công nhận các loại hình nghệ thuật truyền thống, các lễ hội, các giá trị tinh thần vô giá được giữ gìn trong cộng đồng

Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng

cảnh” của Hội đồng Nhà nước (1984) mới chỉ điều chỉnh đối tượng di sản văn

hóa ở dạng vật thể, vì vậy chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra hiện nay Theo Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII là “… phải

hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể…”

Ngày 29/06/2001 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội ban hành Đó là một yếu tố tất yếu khách quan đáp ứng đòi hỏi của Hội nghị TW5 (khóa VIII) Luật

đã tiếp tục kế thừa và bổ sung những thiếu sót của Pháp lệnh 1984 Luật này đã quy định: “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…” Như vậy trên tinh thần định hướng tư tưởng của các cấp ủy Đảng, các văn bản quản lý của chính quyền cùng phối kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể sẽ giúp cho hoạt động lễ hội khắc phục được những tồn tại, phát huy được tác dụng tích cực theo đúng tinh thần Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và

Trang 18

Nghị quyết Đại hội XI (2011) nhằm: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến

đậm đà bản sắc dân tộc”

Từ thực tiễn sau khi Nhà nước chuyển từ thời kỳ bao cấp sang cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế cùng với đó là sự phục hồi và phát triển ngày càng mạnh mẽ nhiều lễ hội truyền thống và thêm các lễ hội mới Trước tình hình đó Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành Quy chế mở Hội truyền thống (1989) nhằm chấn chỉnh lễ hội tự phát trong những năm đầu chuyển sang

cơ chế mới nhằm đưa lễ hội đi vào ổn định và nề nếp Tiếp đó, quy chế Lễ hội (1994) được ban hành nhằm chấn chỉnh lễ hội dân gian và lễ hội lịch sử cách mạng đi vào nề nếp, không tự phát và các hủ tục được ngăn chặn kịp thời Tuy nhiên do thiếu sự định hướng kịp thời, nhiều nơi vẫn còn tình trạng bùng phát tổ chức lễ hội với nhiều mục đích khác nhau, điều này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc Trước tình hình đó, Bộ Chính trị BCH TW Đảng đã đưa ra Chỉ thị 27/CT – TW ngày 12/1/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Bộ Chính trị đã định hướng thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội như: bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ dần những hình thức lỗi thời, lạc hậu, nghiên cứu xây dựng và hình thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; lành mạnh, tiết kiệm tránh xa hoa lãng phí và phiền nhiễu; xóa bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan

Để thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 14/1998/CT – TTg ngày 28/3/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Tại văn bản này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành có kế hoạch tổ chức những hoạt động cụ thể để triển khai

Trang 19

hoạt động nếp sống văn minh đến tận cơ sở và coi đây là công tác trọng tâm trong nhiều năm để xây dựng nếp sống văn minh tiến bộ

Bộ Văn hóa Thông tin ra Thông tư số 04/1998/TT – BVHTT ngày 11/07/1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo chỉ thị của Đảng và Nhà nước, trong đó quy định rõ một số nguyên tắc

tổ chức lễ hội đó là lễ hội phải thực hiện được các yêu cầu sau: Hướng dẫn ý nghĩa tốt đẹp của ngày lễ, ngày kỷ niệm; phải đặc biệt giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc (lịch sử, văn hóa ) nhằm bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu tổ quốc, thắt chặt tình cảm cộng đồng; tưởng nhớ đến các bậc tiền bối trong lịch sử dựng nước và giữ nước; giới thiệu các di tích danh lam thắng cảnh, công trình văn hóa, phát huy vốn văn hóa truyền thống tốt đẹp; tổ chức vui chơi giải trí lành mạnh, gìn giữ an ninh trật tự và không xâm phạm di tích

Để thắt chặt hơn nữa các biện pháp quản lý nhằm ngăn chặn và có thể xử

lý nghiêm minh những hành vi vi phạm di tích, danh lam thắng cảnh, những hành vi trộm cắp, thương mại hóa và các hoạt động mê tín dị đoan, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định số 39/2001/QĐ – BVHTT ngày 23/8/2001 ban hành Quy chế tổ chức lễ hội với mục đích trên Ngoài ra Bộ còn ra Quyết định 380/2005/QĐ – TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội quy định khi tổ chức lễ hội, chính quyền địa phương, đơn vị, tổ chức, cá nhân phải thực hiện đúng quy định pháp luật về di sản văn hóa và quy chế tổ chức lễ hội của Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành

Ngày 21/01/2011, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông

tư số 04/TT – BVHTTDL quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trong phạm vi cả nước Thông tư này có hiệu lực thi

Trang 20

hành kể từ ngày 15/03/2011 và thay thế Thông tư số 04/1998/TT – BVHTT ngày 11/07/1998 của Bộ Văn hóa Thông tin hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

Theo quy định của Thông tư này, tổ chức, cá nhân khi tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Không trái với thuần phong

mỹ tục của dân tộc; không để xảy ra các thủ đoạn mê tín dị đoan Không lợi dụng việc cưới, việc tang và lễ hội để hoạt động nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, dòng họ và gia đình Không làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông và trật tự, an toàn công cộng Không tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức Không được sử dụng thời gian làm việc và phương tiện của cơ quan đi đám cưới, lễ hội (trừ cơ quan làm nhiệm vụ); không

sử dụng công quỹ của cơ quan làm quà mừng, quà tặng trong đám cưới và viếng đám tang

1.3 Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” trong đời sống văn hóa người dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

Nghệ An là một tỉnh có rất nhiều lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian với những hoạt động phong phú, đa dạng Nếu như huyện Đô Lương được biết đến với lễ hội Đền Quả Sơn, huyện Nam Đàn với lễ hội Làng Sen, huyện Quỳnh Lưu với lễ hội Đền Cờn… thì người dân huyện Anh Sơn tự hào với bạn bè khi dịp 27/7 hàng năm có lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội này dù chỉ mới đi vào cuộc sống của người dân nơi đây hơn 14 năm nhưng đã thực sự gắn bó và gần gũi với họ Với ý nghĩa hướng về cội nguồn, khơi dậy trong lòng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc đối với những người có công đã hy sinh cho độc lập dân tộc, cho hòa bình ấm no hạnh phúc hôm nay, hàng năm người dân Anh Sơn lại háo hức chuẩn bị cho lễ hội để chào đón bạn bè khắp bốn phương về tham dự

Trang 21

Với tên gọi “Uống nước nhớ nguồn”, lễ hội có ý nghĩa to lớn đối với tất cả những người dân sống tại huyện Anh Sơn, với những du khách về dự hội, với bạn bè các huyện thị và đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với thân nhân các liệt sỹ

Sự tồn tại của nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào và lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại huyện Anh Sơn vừa là niềm tự hào, hãnh diện của người dân nơi đây nhưng đồng thời họ cũng hiểu rằng họ đang gánh vác trên vai trách nhiệm lớn lao của thế hệ những con người sống trong thời bình Lễ hội hàng năm là dịp để những người dân nơi đây thể hiện tấm lòng tri ân với những người đã khuất, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những công lao to lớn của các anh hùng đã làm nên hòa bình của ngày hôm nay Họ đến để dọn dẹp, để tô điểm cho nghĩa trang,

để thắp một nén hương, để bày tỏ nỗi lòng thương tiếc với những người đang yên nghỉ lại “ngôi nhà chung” nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào và cũng để chia sẻ với nỗi đau, sự mất mát của những gia đình thân nhân liệt sỹ Và những người dự hội nói chung cũng phần nào cảm thấy sự hiện hữu vô hình của vong linh các anh bên cạnh những người còn sống, họ đang góp mặt chứng kiến lễ hội để gặp lại người thân, đồng đội, để phù hộ cho những người còn sống, phù hộ cho người dân nơi đây đã không quản ngày đêm luôn bên các anh và cũng để phù hộ cho lễ hội được diễn ra thành công Ý nghĩa tâm linh đó chắc hẳn chỉ đến với lễ hội

“Uống nước nhớ nguồn” ta mới cảm nhận được Lễ hội là dịp để người dân Anh Sơn tự hào về mảnh đất quê hương mình với bạn bè khắp bốn phương Họ sẵn sàng từ bỏ mọi công việc hàng ngày để một lòng hướng về lễ hội, cùng chung tay góp sức làm cho lễ hội thật thành công, họ cũng chia sẻ cả những tình cảm, những giá trị vật chất tiền bạc để hy vọng nhận lại được niềm vui, sự may mắn cho gia đình và người thân bên họ Để rồi những người dân nơi đây chào đón du khách về dự hội với một không khí háo hức nhất, để mỗi du khách đến đây đều được sống thực với bản thân, được giao lưu tiếp xúc với văn hóa nơi đây, được vui chơi và để họ cầu xin may mắn cho gia đình và bản thân mà không phải lo

Trang 22

toan, tính toán, chỉ có niềm vui và sự chia sẻ khi đến với mảnh đất Anh Sơn nghĩa tình

Mỗi lễ hội đều mang trong mình những ý nghĩa nhất định, đó có thể là sự

cố kết cộng đồng, là giá trị tinh thần to lớn hay tấm lòng hướng về cội nguồn, song tất cả đã làm cho lễ hội sống thực với thời gian và cũng thật gần gũi với đời sống của người dân địa phương có lễ hội Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” cũng

đã có mạch nguồn ý nghĩa như vậy với mỗi người dân huyện Anh Sơn, Nghệ An

Trang 23

CHƯƠNG II NHỮNG ẢNH HƯỞNG VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA – DU LỊCH

THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA LỄ HỘI

“UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”

2.1 Đặc điểm địa danh và những đặc trưng của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

Anh Sơn ngày nay là một trong mười huyện miền núi Nghệ An, được thành lập từ tháng 4 năm 1963, tách ra từ huyện lớn Anh Sơn theo Quyết định số 32/QĐ – TTg ngày 19 tháng 4 năm 1963 của Thủ tướng Chính phủ Huyện bao gồm 19 xã và thị trấn trải dài theo đôi bờ sông Lam

Ngược về buổi đầu hình thành, huyện Anh Sơn ngày nay vốn là đất thuộc

bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của đất Văn Lang thuở các Vua Hùng dựng nước Trong thời kỳ chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, trải qua nhiều lần tách nhập, Anh Sơn thuộc các đơn vị hành chính khác nhau Đời nhà Hán, Anh Sơn thuộc phần đất của Hàm Hoan, đời Đông Ngô là đất của huyện

Đô Giao, đời Đường thuộc huyện Nhật Nam của Châu Hoan Cho đến thời Lê (thế kỷ XV) mới có tên gọi phủ Anh Đô bao gồm toàn bộ phần đất của huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Anh Sơn hiện nay Dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3 (1882) phủ Anh Đô được đổi tên thành phủ Anh Sơn Đến khi thực dân Pháp xâm lược cho đến đầu năm 1946, phủ Anh Sơn là một trong 5 phủ, 6 huyện của Nghệ An (phủ Anh Sơn lúc này tương đương với 2 huyện Anh Sơn, Đô Lương như hiện nay) Phần đất Anh Sơn thuộc tổng Lang Điền và phần lớn tổng Đại Sơn là 2 trong 6 tổng phủ

Huyện Anh Sơn hiện nay nằm phía Tây tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý từ

105015’ đến 105050’ kinh độ Đông và từ 1809’ đến 18045’ vĩ độ Bắc Phần đất

Trang 24

trải dọc theo đôi bờ sông Lam và Quốc lộ 7, phía Đông giáp với huyện đồng bằng Đô Lương, phía Bắc giáp với huyện miền núi Tân Kỳ và huyện vùng cao Quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện vùng cao Con Cuông và có chung 25km đường biên giới với nước bạn Lào, phía Nam giáp với huyện miền núi Thanh Chương và cách thành phố Vinh 100km về phía Tây Địa hình Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm cao nhất là đỉnh Cao Vều và đỉnh Kim Nhan (1340m) Độ cao trung bình từ 100 – 200m so với mặt biển, điểm thấp nhất so với mặt biển là ven bãi sông Lam (từ 10 – 15m)

Diện tích tự nhiên của Anh Sơn có 60.600 ha, trong đó riêng phần đất rừng đồi chiếm 41.416 ha (80%) Rừng Anh Sơn có nhiều loại gỗ quý như lim, sến, táu và có nhêu loại động vật quý hiếm sinh sống như voi, hổ, hươu, nai, đặc biệt có loài bò rừng xám Vùng núi có nhiều lèn đá vôi là nguyên liệu vô tận cho công nghiệp tương lai, sản xuất vật liệu xây dựng vùng thung lũng Ruộng bậc thang của Anh Sơn có 2.347 ha, thích hợp cho cây lúa và các loại hoa màu Vùng ven bãi sông Lam có diện tích 1.721 ha, thích hợp cho cây ngô và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng này hằng năm cho một sản lượng hàng hóa ngô, đậu, lạc khá lớn, riêng ngô có sản lượng hàng năm chiếm hơn 1/3 sản lượng ngô cả tỉnh, là một trong những vùng ngô cao sản của nước ta Đồi núi của Anh Sơn rất thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là chè Chè Anh Sơn thơm ngon nổi tiếng, đặc sản nơi đây là sản phẩm chè Gay Chè đang trở thành cây trồng có giá trị lớn, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy chè đen được xây dựng tại đây để làm giàu mạnh hơn cho quê hương xứ sở

Thế mạnh kinh tế miền đất Anh Sơn càng được phát huy thêm bởi hệ thống giao thông thủy, bộ tương đối thuận lợi Sông Lam hiền hòa chảy suốt từ đầu huyện đến cuối huyện, kết hợp với sông Giăng, sông Con và hệ thống suối dày đặc thuận lợi cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hóa bằng đường thủy, đây

Trang 25

là những điều kiện để phát triển mạnh thương mại, dịch vụ và du lịch Hệ thống sông này không chỉ tạo cho Anh Sơn nhiều nơi “sơn thủy hữu tình” mà còn bồi đắp phù sa tạo nên vùng đất bãi tươi tốt, phì nhiêu hơn thế nữa, sông Lam là đường giao thông thuận tiện nhất để sản phẩm ở đây theo thuyền bè đến phục vụ mọi miền Gần như liền kề sông Lam có quốc lộ 7 cũng chạy suốt chiều dài của huyện để lại chiều dài 47km, kết hợp với con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại dài 15km càng tạo sự thuận lợi cho giao thông và sự giao lưu về kinh tế - văn hóa Ngoài quốc lộ số 7, một số đường ô tô sang vùng Tây Bắc như Tân Kỳ, Nghĩa Đàn hoặc đi về phía Nam như Thanh Chương đã được xây dựng, tạo nên một mạng lưới giao thông đường bộ đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đây là những tuyến đường huyết mạch cơ bản để thúc đẩy người dân đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế, tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trên địa bàn

Nằm chung trên dải đất miền Trung, khí hậu ở Anh Sơn mang những nét chung của một vùng nhiệt đới, gió mùa Ngoài những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng do ánh sáng mặt trời và lượng mưa hàng năm đem lại, khí hậu ở đây cũng khá khắc nghiệt vì chịu sự ảnh hưởng của gió mùa nhất là gió phơn Tây Nam (gió Lào) và sự phân bố mưa, nắng không đồng đều trong năm Nạn hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra đem đến biết bao tai họa cho sản xuất

và cuộc sống con người Để khắc phục những ảnh hưởng của thiên tai, hàng chục đập giữ nước lớn nhỏ, nhiều trạm bơm điện đã được xây dựng và sẽ còn được xây dựng nhiều thêm để chủ động nước tưới vào những kỳ hạn hán kéo dài, đảm bảo cho kinh tế nông nghiệp phát triển ổn định và mạnh mẽ

Theo thống kê đến thời điểm 31/12/2005, huyện Anh Sơn có gần 25.000

hộ với hơn 110.000 nhân khẩu Có 239 thôn, bản Trong đó có 18 bản, làng dân tộc thiểu số Có 19 xã và 1 Thị trấn (trong đó 8 xã có đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 26

với gần 1.400 hộ và gần 8.000 khẩu, chiếm 6,4% dân số toàn huyện) Số người trong độ tuổi có khả năng lao động hơn: 47.000 người Số người được giải quyết việc làm trong năm bình quân: 1.375 người

Nhằm nâng cao đời sống cho tầng lớp nhân dân, các cấp bộ Đảng, chính quyền huyện Anh Sơn đã luôn chăm lo đến việc tăng cường cơ sở vật chất trong mọi ngành, mọi mặt đời sống, xã hội Sự nghiệp văn hóa giáo dục luôn được chăm lo và đầu tư thích đáng Mạng lưới truyền thanh của huyện, khu trung tâm văn hóa, công tác phát hành sách báo được xây dựng và phát huy tác dụng tốt Phong trào văn nghệ quần chúng được duy trì và phát triển Ngành giáo dục có bước phát triển mới về chất lượng đào tạo Nhân dân Anh Sơn cần cù, ham học,

có truyền thống cách mạng, là huyện Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Công tác Quốc phòng trong những năm qua được giữ vững, an ninh đảm bảo tốt; Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa phát triển rộng khắp; Công tác Giáo dục – Đào tạo, công tác Y tế ngày càng được củng cố và phát triển

2.1.1 Nguồn gốc lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

Lễ hội, dù là cổ truyền hay hiện đại cũng đều cấu thành bởi hai phần: phần

lễ và phần hội Phần lễ có tính nghiêm trang bắt buộc một cách bài bản với

những quy định cụ thể về các nghi lễ, lễ nghi cặn kẽ để mọi người tuân thủ Phần hội với các trò vui, trò diễn, cuộc đấu phong phú, có tính khoáng đạt tạo sự ngẫu hứng và đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, tâm linh, tín ngưỡng của mọi người dự hội

Lễ và hội là một thể thống nhất không chia tách Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người Còn phần hội là tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi con người và

Trang 27

của cộng đồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội [18; Tr.32]

Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là một

lễ hội xuất phát từ truyền thống nhớ về cội nguồn, nhớ về những công lao to lớn của các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giành lấy độc lập tự do cho dân tộc Người dân Anh Sơn qua các giai đoạn của hai cuộc kháng chiến, đã anh dũng, kiên cường cùng nhân dân cả nước chống lại ách thống trị của bọn xâm lược Đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Anh Sơn cùng với quân tình nguyện trong cả nước đã kiên cường đấu tranh, một mặt giải phóng cho đất nước, mặt khác cùng với nhân dân nước bạn Lào sát cánh nhau cùng đánh đuổi kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, và cuộc đấu tranh của nhân dân hai nước cuối cùng đã đi đến thắng lợi Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh đó đã có nhiều chiến sỹ ngã xuống vì nền độc lập tự do của hai dân tộc Vì sự hy sinh to lớn ấy mà ngay sau khi hòa bình được lập lại Đảng

và Nhà nước ta đã chỉ đạo các địa phương tiến hành công tác đi tìm các phần mộ của các chiến sỹ đã hy sinh về quy tập tại các nghĩa trang của địa phương, dựa trên sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước mà chính quyền huyện Anh Sơn đã được chọn là nơi xây dựng nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào nhằm quy tập những hài cốt của các chiến sỹ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến của cả hai nước Việt – Lào

Nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào nằm trên trục đường quốc lộ 7A thuộc địa phận thị trấn Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là nơi an nghỉ của hàng vạn anh hùng liệt sỹ, quân tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự của dân tộc, sự hy sinh đó đã tô thắm cho tình hữu nghị anh em giữa hai dân tộc Việt – Lào Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” là một lễ hội mới thuộc loại lễ hội vùng Tính đến nay lễ hội đã diễn ra được 14 lần Việc hình thành lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” dựa trên tư tưởng chủ đạo là sẽ tổ

Trang 28

chức một hoạt động văn hóa có ý nghĩa trên tuyến đường 7 đồng thời giáo dục truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Trong một lần đoàn của Sở Văn hóa tỉnh đi khảo sát các vùng, dẫn đầu là đồng chí nhạc sĩ Hồ Hữu Thới (lúc đó đang là Giám đốc Sở Văn hóa thông tin), trên đường đi về cơ sở, đồng chí tâm

sự “trong dịp đi công tác tuyến đường 7 lần này Sở sẽ khảo sát và hình thành một lễ hội vùng, nhưng lễ hội gì đây mới là quan trọng!” Buổi chiều trước khi

về đoàn đã ghé vào thăm và dâng hương tại nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào Đó

là thời gian mà nghĩa trang mới chỉ hơn 6.000 ngôi mộ, trong đó gần 2/3 số mộ

là vô danh, khi đi thăm các phần mộ một ý tưởng lóe lên trong đầu đồng chí Giám đốc Sở, đồng chí nói “Tại sao chúng ta không tổ chức một lễ hội tại đây, một nghĩa trang có hàng ngàn liệt sĩ nằm đây, tại sao ta không tổ chức lễ hội tại đây để giáo dục truyền thống” Việc bàn bạc đặt tên cho lễ hội diễn ra ngay sau

đó Và chính thức lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” Nghệ An 27/07 hàng năm được khai sinh từ đó

Năm đầu tiên tổ chức lễ hội nhân kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sĩ được tổ chức khá long trọng với quy mô toàn tỉnh, kèm theo Liên hoan đưa thông tin về cơ sở tổ chức tại huyện Anh Sơn, lần đầu tổ chức đã để lại dấu ấn và thiết thực có ý nghĩa giáo dục đạo lý thủy chung ân nghĩa của dân tộc ta đối với các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì nghĩa

vụ quốc tế cao cả

Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” Anh Sơn chính thức trở thành lễ hội vùng đường 7 Hàng năm cứ gần đến ngày 27/07 các huyện trong vùng lại tụ tập về Anh Sơn cùng với nhân dân Anh Sơn làm lễ tâm linh thắp hương tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ, sau đó là hoạt động hội với nhiều hình thức như văn nghệ, thể thao, thi ẩm thực để cùng chung một ý ngĩa là giáo dục truyền thống, giáo dục đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Qua các lần tổ chức, mỗi lần có những hình thức khác nhau, song tựu trung lại, nét đọng lại trong lòng mỗi người

Trang 29

dân về tham gia lễ hội là được đứng trước linh hồn các liệt sĩ làm lễ dâng hương cầu xin cho các vong linh, các hương hồn của các liệt sĩ có tên và chưa biết tên được yên giấc ngàn thu, được mồ yên mả đẹp, được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng Chính giờ phút thiêng liêng ở phần lễ dâng hương, chính những bài điếu văn, bài báo công xúc động lòng người đã giáo dục truyền thống rất sâu sắc đối với những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự lễ hội qua các phương tiện thông tin đại chúng

2.1.2 Công tác chuẩn bị cho lễ hội

Trong bất kỳ một lễ hội nào thì khâu chuẩn bị cũng đều mang một vai trò hết sức quan trọng bởi nó quyết định đến sự thành công của lễ hội đó, với lễ hội

“Uống nước nhớ nguồn” cũng vậy Công tác chuẩn bị được tiến hành ít nhất một tháng trước ngày chính thức diễn ra lễ hội

Về nhân sự, đây là khâu tuyển chọn những người vào trong các ban tổ chức, ban tế lễ, đội hình dâng lễ… Công việc này được giao cho Ủy ban nhân dân lựa chọn Thường những người này được tuyển chọn kỹ càng, người làm chủ

tế nhất thiết phải là người có đạo đức tốt, khỏe mạnh, gia đình hòa thuận êm ấm, con cháu thành đạt và có uy tín trong cộng đồng, được nhân dân quý trọng, kính mến Còn đội hình dâng lễ là các chàng trai, cô gái chưa lập gia đình, khỏe mạnh Do đây là lễ hội lớn của tỉnh Nghệ An nên Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh cũng đã điều các cán bộ trong Sở về chỉ đạo trực tiếp công tác chuẩn bị

lễ hội

Trong thời gian lễ hội diễn ra, về phía huyện Anh Sơn, Ủy ban nhân dân phối hợp với Trung tâm văn hóa huyện và các ban ngành khác chỉ đạo công tác chuẩn bị cho lễ hội Xác định lễ hội là mang tính cộng đồng nhiều người cùng tham gia chung một mục đích, vì vậy việc phối hợp tổ chức được các cấp ban ngành chú ý quan tâm từ công tác tuyên truyền đến nội dung hình thức, các điều kiện cần thiết như đảm bảo vệ sinh an toàn sức khoẻ, huy động lực lượng tham

Trang 30

gia vừa mang tinh thần trách nhiệm vừa mang tính tự nguyện để lễ hội trở thành hoạt động xã hội hoá cao Ngoài ra ban tổ chức còn chú trọng tập trung công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”, gắn với kỷ niệm ngày thương binh liệt sỹ Sử dụng các hình thức tuyên truyền như băng rôn, bảng khẩu hiệu, xây dựng các cụm cổ động Tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh truyền hình huyện, đài truyền thanh cơ sở với nội dung ca ngợi công lao của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, các gia đình có công với cách mạng, truyền thống đấu tranh cách mạng của cả nước nói chung

và Đảng bộ và nhân dân Anh Sơn nói riêng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc Nêu gương người tốt việc tốt trong phong trào đền ơn đáp nghĩa, những thành tựu kinh tế, xã hội đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Qua 14 năm tổ chức lễ hội được sự quan tâm chỉ đạo, phối hợp của Sở Văn hoá Thông tin, Sở Thể dục Thể thao, Sở Lao động Thương binh Xã hội và

sự tham gia của các huyện trong vùng đã từng bước đi vào nề nếp, tổ chức có chất lượng hiệu quả hơn Do tổ chức tốt các phần lễ từ lễ khai quang, lễ yết cáo,

lễ dâng hương và lễ tạ mà những người tổ chức càng biết được những công việc

và những điều cần thiết cho một buổi lễ trịnh trọng trang nghiêm, đảm bảo tôn kính và tâm linh giúp mọi người về dự lễ càng hiểu hơn về trách nhiệm của mình khi tham gia các hoạt động lễ hội

Ngành Văn hóa thông tin – thể dục thể thao chịu trách nhiệm toàn bộ kế hoạch, nội dung các hoạt động lễ hội, công tác tuyên truyền, chuẩn bị cơ sở vật chất các trang thiết bị cần thiết cho lễ hội Chỉ đạo Trung tâm văn hóa huyện, các xã, thị trấn thực hiện kế hoạch lễ hội, chuẩn bị nội dung phần lễ tại nghĩa trang Cùng với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện lập dự trù kinh phí, lập danh sách đại biểu mời dự lễ Xây dựng kịch bản và trực tiếp điều hành các phần lễ

Trang 31

Ngành giáo dục phối hợp Ban quản lý nghĩa trang tổ chức tổng vệ sinh trong khu vực nghĩa trang, đảm nhận việc quét dọn các khu mộ và huy động lực lượng học sinh, thầy cô giáo tham gia vệ sinh làm sạch đẹp khuôn viên nghĩa trang trước khi tổ chức lễ hội Huy động giáo viên, học sinh tham gia thắp nến toàn bộ các khu mộ trong nghĩa trang vào tối 26/7, huy động 200 học sinh ăn

mặc đồng phục có băng cờ khẩu hiệu để tham gia lễ dâng hương đêm 26/7 Đồng

thời hướng dẫn và tổ chức đêm giao lưu văn nghệ vào tối 25/7/, xây dựng chương trình văn nghệ chọn lọc biểu diễn tại đêm tổ chức Lễ dâng hương Tổ chức các hoạt động thể thao và phối hợp trưng bày hình ảnh của hai bảo tàng tỉnh, trung tâm phát hành phim và chiếu bóng Nghệ An

Ngành công an và ban chỉ huy quân sự huyện đảm bảo trật tự an ninh,

chịu trách nhiệm về tiêu binh và sắp xếp vị trí cho các đoàn về dự lễ dâng hương tưởng niệm đồng thời phối hợp châm hương cho đại biểu Đồng thời chịu trách nhiệm điều hành nghi thức, công tác tiêu binh và đảm bảo trật tự an ninh trong quá trình diễn ra lễ hội

Văn phòng Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân huyện chịu trách nhiệm bố trí đón tiếp nơi ăn nghỉ cho khách Chuẩn bị vòng hoa cho lễ dâng hương, chiêu đãi khách vào chiều 26/7 Cùng với phòng Văn hóa và Thông tin lập dự trù kinh phí cho lễ hội và làm giấy mời

Các đoàn thể Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, Liên đoàn Lao động và Hội Phụ nữ huyện chuẩn bị lễ vật cho lễ dâng hương và toàn bộ hương nến thắp vào đêm 26/7 Vật phẩm dâng tế là hương hoa, trầu cau, tiền

vàng, nến, gạo nếp, thịt

Trung tâm y tế huyện chịu trách nhiệm công tác chăm lo sức khoẻ cho các đoàn về tham gia, ban quản lý nghĩa trang phối hợp với văn phòng Ủy ban nhân dân huyện và phòng Nội vụ chuẩn bị đón tiếp khách và các lễ vật cho các lễ và một số ngành đoàn thể khác đều tích cực tham gia

Trang 32

Đài Phát thanh - Truyền hình thông báo kế hoạch lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”, làm phóng sự về ngày thương binh liệt sĩ và một số hình ảnh hoạt động

lễ hội các năm trước, phát sóng trước khi tổ chức lễ hội Ghi hình đưa tin các hoạt động lễ hội trên đài truyền hình huyện và tỉnh

Ngoài ra, trước đó Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh đã có các công văn gửi đến các huyện lân cận như Con Cuông, Tân Kỳ, Tương Dương… để các huyện có kế hoạch chuẩn bị tham gia lễ hội, chuẩn bị khâu kịch bản cho lễ hội và trực tiếp chỉ đạo công tác chuẩn bị tại nơi diễn ra lễ hội Đặc biệt việc tổ chức thực hiện lễ hội nói chung sẽ do Ủy ban nhân dân huyện Anh Sơn thành lập Ban

tổ chức để triển khai nhiệm vụ Trung tâm Văn hóa thông tin huyện tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, giao lưu văn hoá văn nghệ đồng thời có cờ lưu niệm trao cho các đơn vị tham gia Các đơn vị căn cứ nhiệm vụ được phân công

tổ chức triển khai thực hiện để đảm bảo kế hoạch chung và góp phần thành công của lễ hội

Có thể thấy việc chuẩn bị cho một lễ hội là một công việc hết sức quan trọng và mang đầy ý nghĩa, bởi không chỉ là giúp cho lễ hội được diễn ra thành công tốt đẹp mà chính sự chuẩn bị chu đáo cũng thể hiện lòng thành kính của thế

hệ sau đối với những người đã khuất, tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những công lao mà các anh hùng đã ngã xuống vì hòa bình của ngày hôm nay Chính vì ý nghĩa to lớn đó mà không chỉ các cấp chính quyền mà ngay cả nhân dân trong huyện Anh Sơn cũng cảm thấy một phần trách nhiệm đóng góp sức mình vào công tác chuẩn bị cho lễ hội được thành công

2.1.3 Công tác tổ chức thực hiện lễ hội

Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” là lễ hội vùng có sự tham gia của các huyện trong vùng theo sự phân công của Sở Văn hoá – Thông tin, đây là lễ hội lớn nhất ở huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An diễn ra trong ba ngày từ 25 đến 27 tháng 7 Qua các lần tổ chức đã triển khai bài bản và thu hút hàng ngàn người

Trang 33

tham gia đạt kết quả to lớn Cứ mỗi kỳ lễ hội Ủy ban nhân dân huyện đã phối kết hợp với Sở Văn hoá Thông tin, Sở Thể dục Thể thao, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các ngành cấp tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức, thành lập ban chỉ đạo, ban tổ chức, phân công trách nhiệm cụ thể cho các ngành, các đơn vị tham gia

Theo kế hoạch do Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Anh Sơn đưa ra, lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” năm 2010 vừa qua gắn với kỷ niệm 63 năm ngày Thương binh liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2010) nhằm ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, vì sự nghiệp quốc tế cao cả Đồng thời thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục – thể thao sôi nổi thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia, nâng cao hưởng thụ văn hóa tinh thần thông qua hoạt động lễ hội

Tổ chức lễ hội nhằm tuyên truyền, giáo dục và phát huy truyền thống tốt đẹp, đạo lý “ uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của toàn Đảng, toàn dân đối với sự chiến đấu hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, các gia đình có công với nước vì độc lập tự do của tổ quốc, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả; Nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách hậu phương, quân đội Quan tâm giúp đỡ các gia đình liệt sỹ, thương binh, gia đình có công với nước

Lễ hội còn là dịp để xây dựng và phát huy các giá trị văn hoá tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc Tôn tạo, giữ gìn công trình văn hoá nghĩa trang liệt sĩ Việt Lào nói riêng cũng như các di tích lịch sử, danh thắng gắn với các hoạt động lễ hội khác đồng thời giới thiệu khai thác tiềm năng du lịch trên địa bàn huyện Để

có một lễ hội truyền thống, lớp lớp tiền thân của các thế hệ cha ông đã tạo lập bằng rất nhiều công sức, tâm linh và thời gian với thước đo nhiều thế kỷ, thập

kỷ Trước hết đó là việc tạo lập và huy động lực lượng tổ chức lễ hội Đi từ dòng chảy của đạo lý trở về cội nguồn “uống nước nhớ nguồn”, ‘ăn quả nhớ người

Trang 34

trồng cây” của dân tộc, từ ý nghĩa chính trị cao đẹp của lòng biết ơn, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì vận nước đến xúc động sâu xa, thấm đẫm văn hóa tâm linh khi đứng trước san sát mộ chí của những người có tên và chưa biết tên nơi nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào, từ sâu thẳm đạo lý và chân lý đó mà tạo lập sức mạnh huy động lực lượng tổ chức lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

2.1.3.1 Phần lễ

Đây là phần gốc rễ chủ đạo của bất kỳ một lễ hội nào Xuất phát từ vẻ đẹp của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lấy nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào với hơn mười một nghìn mộ chí làm điểm tựa, 14 năm qua lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đã không ngừng sáng tạo, gia tăng trình thức và nghi thức của phần “Lễ” – phần hồn của một lễ hội Bốn lễ đã được định hình trong trình thức “Lễ” của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” bao gồm:

- Lễ khai quang

- Lễ yết cáo

- Lễ dâng hương tưởng niệm

- Lễ tạ

Một trong những mối quan hệ ứng xử được thể hiện trong lễ hội và được

cụ thể hóa bởi các trình tự, nghi thức tế lễ là thông qua các vật dâng cúng Các vật dâng cúng trong lễ hội cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng có những cái đồng nhất, giống nhau nhưng cũng có những cái khác nhau Sự khác nhau và giống nhau xuất phát từ tích lễ và phong tục tập quán cổ truyền của từng địa phương, từng dân tộc trong từng lễ hội Riêng với lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” được xem là một lễ hội mới nên cũng có nhiều vật tế lễ giống với nhiều

lễ hội ở Nghệ An nói riêng và trong cả nước nói chung

 Lễ khai quang:

Trang 35

Được tiến hành trước 3 – 4 ngày của ngày chính lễ Với mục đích và ý nghĩa là xin các vị thần linh và hương hồn các anh hùng liệt sỹ cho phép dọn dẹp

vệ sinh cho toàn bộ khu nghĩa trang, nhà tưởng niệm và lau chùi đồ tế khí Lễ được diễn ra tại nhà tưởng niệm và khu nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào, với sự có mặt Ban tổ chức lễ hội và Ban quản lý nghĩa trang, Trung tâm văn hóa huyện Anh Sơn, Ban quản lý di tích và danh thắng Nghệ An và các em học sinh của trường Trung học phổ thông và Trung học cơ sở của huyện Anh Sơn Buổi lễ được chủ trì bởi Trưởng ban nghĩa trang với phần lễ vật được giao cho Ban quản

lý nghĩa trang chuẩn bị, đồ tế lễ gồm có hương đăng, trà tửu, trầu cau và cỗ chay hoa quả và thuốc lá Trưởng ban quản lý nghĩa trang thay mặt những người tới

dự lễ dâng hương và báo cáo thần linh, các hương hồn liệt sỹ xin làm lễ khai quang Sau khi chủ tế khấn xin xong thì tất cả những người có mặt lần lượt lên thắp hương và tiến hành công việc khai quang tẩy uế tại khu nghĩa trang

Lễ khai quang tẩy uế là nghi lễ bắt buộc đầu tiên của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”, với một khuôn viên khá rộng và số lượng các ngôi mộ lớn, do đó việc dọn dẹp vệ sinh là vô cùng quan trọng và khá vất vả vì chỉ tiến hành trong một ngày Hàng trăm em học sinh của cả cấp 2 và cấp 3 đều nhiệt tình, chăm chỉ trong việc dọn dẹp bởi các em hiểu rõ việc các em đang làm là góp một phần rất lớn vào thành công của lễ hội trên quê hương mình đồng thời cũng thể hiện lòng thành kính biết ơn sâu sắc của thế hệ những mầm non của đất nước đối với những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho nền hòa bình độc lập mà các em đang sống hôm nay Lễ khai quang cũng được các cơ quan trong huyện và tỉnh quan tâm và trực tiếp chỉ đạo nhằm giúp cho buổi lễ không chỉ long trọng mà còn được tiến hành nhanh chóng hơn

 Lễ yết cáo:

Đây là nghi lễ thứ hai trong lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” Lễ Yết cáo thường diễn ra vào lúc 19h30, ngày 26/7 tại nghĩa trang liệt sỹ Việt – Lào với sự

Trang 36

hiện diện của các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An như: Sở Văn hóa – Thể thao và

Du lịch tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Ban quản lý di tích và danh thắng Nghệ An cũng như chính quyền huyện Anh Sơn bao gồm Ủy ban nhân dân huyện và Trung tâm Văn hóa huyện cùng toàn thể thân nhân các liệt sỹ, nhân dân huyện nhà và các đơn vị tham gia lễ hội có mặt tại nghĩa trang để tham

dự buổi lễ Với mục đích ý nghĩa báo cáo và kính thỉnh các chư vị về dự lễ, vật phẩm dâng cúng ở đây cũng giống như trong tất cả các lễ hội ở Nghệ An, đều có hương đăng, trà tửu, trầu cau, cỗ chay và cỗ mặn Cỗ chay thường là mâm quả, bánh Cỗ mặn thường là cỗ tam sinh (bò, lợn, gà) Do xuất phát từ quan niệm và tập tục cổ truyền, người ta còn dâng cúng cả tiền vàng (hàng âm phủ) Đồ lễ tế thường được chuẩn bị rất kỹ lưỡng để thể hiện lòng thành kính, sự biết ơn sâu sắc đối với công lao và sự hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ an nghỉ nơi đây

Buổi lễ được bắt đầu bằng việc người chủ trì – Ban tổ chức tỉnh và huyện hành lễ, tuyên bố lý do cũng như giới thiệu thành phần dự lễ, người chủ tế – Trưởng ban tổ chức sẽ đọc văn yết cáo, đây là giây phút gây xúc động mạnh đối với những người tới tham dự buổi lễ, nhất là đối với gia đình thân nhân các liệt

sỹ Họ đã không kìm nén được xúc động khi bài văn tế được đọc lên, hòa với không khí hương trầm khắp cả nghĩa trang Buổi lễ thực sự gây ấn tượng mạnh

mẽ đối với tất cả những người được trực tiếp tham gia tại khu nghĩa trang này Lời văn tế chủ yếu là nhắc lại truyền thống dân tộc, cầu xin các thần linh và hương hồn các anh sẽ đem lại những thuận lợi cho lễ hội và những điều may mắn cho những người tham dự hội

Sau khi đọc xong văn tế, chủ tế tiến hành dâng hương và các vật phẩm đã được bày ngay ngắn trên bàn thờ nghĩa trang Ngay sau lễ dâng hương người chủ

tế sẽ hóa vàng, bài văn sớ và các vật phẩm như tiền vàng, quần áo… cho các anh, tiếp đó các vị khách mời cùng với thân nhân và nhân dân trong huyện dâng

Trang 37

hương tại đài tưởng niệm sau đó mới tiến hành thắp hương cho từng ngôi mộ Đây là giây phút được thân nhân các liệt sỹ mong chờ vì họ sẽ được thắp nén hương cho con em họ cùng những lời bày tỏ nỗi niềm tiếc nhớ, họ kể những câu chuyện về cuộc sống hiện tại của họ chia sẻ với những người đã nằm xuống Những giọt nước mắt, những lời thì thầm, khói hương và cả ánh nến… tất cả đã tạo nên một khung cảnh linh thiêng hơn bao giờ hết và nó để lại ấn tượng không thể quên đối với những ai đã từng tham dự Đó cũng chính là điểm thu hút của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

 Lễ dâng hương tưởng niệm:

Đây là chính lễ của trình thức lễ - được tiến hành trang nghiêm và xúc động vào ngày 27/07, là phần mang yếu tố tâm linh, giàu ấn tượng nhất và có tính giáo dục truyền thống của lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” Do đó lễ được chuẩn bị rất chu đáo và cẩn thận như bàn để cỗ, chuẩn bị chương trình hành lễ, loa đài, chiêng, trống, đội danh dự, đội tiêu binh, quân nhạc, các vật phẩm tế, cờ hoa được trang hoàng rực rỡ, các tình nguyện viên giúp sức trong bảo vệ an toàn trật tự cho lễ hội

Nghi lễ này được tiến hành trang nghiêm và xúc động vào lúc 7h30’ tại đài tưởng niệm với sự tham gia của toàn bộ đại biểu và lực lượng tham gia lễ hội Buổi lễ được tiến hành dưới sự chủ trì của Ủy ban nhân dân huyện Anh Sơn,

mà trực tiếp là đồng chí Chủ tịch huyện tiến hành các nghi lễ Điều này chứng tỏ tầm quan trọngvà ý nghĩa của lễ hội không chỉ đối với nhân dân mà còn đối với

cả các cấp chính quyền địa phương Các đội danh dự là những người cầm cờ đứng thành hàng dọc trước đài tưởng niệm một cách nghiêm trang Đội tiêu binh

là các chiến sỹ đến từ trung đoàn 335 (thuộc sư đoàn 324, Quân khu IV căn cứ tại huyện Đô Lương) trong bộ lễ phục trắng, tay bồng súng thành đội hình trước đài tưởng niệm nghĩa trang, tạo không khí tang nghiêm cho buổi lễ, đội quân nhạc cũng có mặt để tạo âm thanh cho buổi lễ Đội hình dâng mâm lễ là những

Trang 38

cô gái chưa lập gia đình, có thành tích tốt trong học tập và công tác được chọn lựa từ các trường phổ thông và khối cơ quan nhà nước trong bộ áo dài truyền thống, đứng thành hàng dọc để chuẩn bị dâng lễ

Buổi lễ được bắt đầu bằng các nghi thức: Chào cờ, quốc ca, dâng hoa, dâng lễ và dâng hương Tất cả những nghi thức đó được tiến hành một cách trang trọng dưới sự tham gia của hàng vạn người trong buổi lễ Sau một loạt các nghi thức được tiến hành, tiếp đó người chủ tế sẽ tiến hành dâng cỗ Lễ dâng mâm phẩm vật có hơn 50 mâm bao gồm hương hoa, trầu cau, rượu nếp, tiền vàng, gạo, muối; cỗ chay: mâm hoa quả, thuốc lá; cỗ mặn: cỗ tam sinh (bò, gà, lợn, xôi) Các mâm cỗ được các thiếu nữ bê lên trên bàn thờ trước tượng đài để tiến hành tiến cỗ Lúc này tiếng chiêng trống vang lên như thúc dục lòng người trở về quá khứ, về những hy sinh thầm lặng mà các chiến sỹ ở đây đã phải trả bằng cả tính mạng của mình Âm thanh đó cũng như nhắc nhở những thế hệ sau cần phải sống thật tốt, có thật nhiều cống hiến cho đất nước để không phụ những

hy sinh mà các anh đã ngã xuống cho độc lập tự do hôm nay Không khí trong buổi lễ thật rộn ràng song cũng không kém phần trang nghiêm và long trọng, những người có mặt tại buổi lễ đều cảm nhận được không khí mà lễ đại tế mang lại Tiếp đó chủ tế thay mặt toàn thể nhân dân dâng hương, đặt vòng hòa tưởng niệm và đọc văn tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Khung cảnh này đã tạo nên một vẻ đẹp hoành tráng giàu xúc động của văn hóa tâm linh trong bàng bạc hương khói của lớp lớp mộ chí liệt sĩ nơi nghĩa trang Hữu nghị Việt – Lào

Trong vẻ đẹp bi hùng đó của hương khói mộ chí và nước mắt, bài văn tế

“Chiêu hồn liệt sĩ” với tiết tấu âm hưởng của cổ văn – biền ngẫu đã tạo nên đỉnh

điểm của xúc động phần hồn của lễ Kết thúc phần chính lễ, toàn lực lượng tham gia lễ hội sẽ tỏa rộng khắp nghĩa trang dâng hương cho cả hơn mười một ngàn

mộ chí Một nghĩa trang màu hương khói Một nghĩa trang lung linh ánh nến

Trang 39

Một nghĩa trang trong sức ấm, sức sống của con người Sau đó họ sẽ về hội trường để tham gia phần hội

Lễ dâng hương tưởng niệm đã tái hiện một cách cụ thể và sinh động nhất cho toàn bộ chủ đề lễ hội Thông qua nghi lễ này, chúng ta tỏ lòng biết ơn cũng như tôn vinh các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho nền độc lập hòa bình của cả hai dân tộc Lào – Việt Với mục đích và ý nghĩa to lớn đó, lễ dâng hương tưởng niệm thực sự mang lại cho những người tới tham dự những cảm xúc tự hào, biết

ơn và tỏ lòng thành kính đối với những người đã khuất, những người đã quên mình vì nền độc lập tự do hôm nay của đất nước

 Lễ tạ:

Đây là nghi lễ cuối cùng của trình thức lễ được ban tổ chức tiến hành sau

lúc bế mạc lễ hội Lễ tạ diễn ra vào 17h30 ngày 27/07 tại nghĩa trang Hữu nghị

Việt – Lào Lễ tạ được tổ chức với ý niệm: lễ hội thành công một phần là nhờ sự phù hộ, độ trì của trời đất, thần linh và hương hồn của các anh hùng liệt sỹ Như vậy lễ tạ là để tỏ lòng biết ơn và hứa hẹn sẽ trùng phùng vào những năm tiếp theo Trong lễ tạ, Ban tổ chức lễ hội tiến hành kính cáo trời đất, thần linh và các linh hồn liệt sỹ về cõi siêu thăng, xin cho mọi người tham dự lễ hội ra về gặp nhiều may mắn Đồng thời Ban tổ chức cũng ngỏ lời chúc nhân dân hai dân tộc Việt – Lào ngày càng gắn bó đoàn kết, keo sơn, xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, phồn vinh, xứng đáng với sự hy sinh anh dũng của các hương hồn vì mục đích cao cả

Buổi lễ được tiến hành với sự tham gia của các ban ngành như Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân huyện Anh Sơn, các đại diện của các huyện bạn lân cận như Tương Dương, Đô Lương, Tân Kỳ, Thanh Chương, Thành phố Vinh và các đơn vị doanh nghiệp Nhà máy xi măng 19 – 5 thuộc Công ty Thanh Sơn, Quân khu IV, Nhà máy xi măng 12 – 9 Anh Sơn, các đại diện của các xã trong huyện Anh Sơn, thân nhân

Trang 40

các liệt sỹ, toàn thể nhân dân và du khách về tham dự hội Sau khi tuyên bố lý do

và giới thiệu thành phần tham dự buổi lễ, chủ tế cho tiến hành dâng các mâm cỗ bao gồm các vật phẩm: hương, nến, hoa quả, tiền vàng, trầu cau, rượu thuốc, gạo muối lên trên bàn thờ trước đài tưởng niệm Hàng nghìn ngọn nến cũng đã được thắp sáng giống như trong đêm lễ yết cáo, điều đó gây thêm phần hứng khởi, bồi hồi xúc động cho những người tham gia buổi lễ, cho dù đây là lễ tiễn đưa, lễ tạ

từ Khi các vật phẩm đã được bày đầy đủ, chủ tế tiến hành đọc văn lễ tạ Lời văn chủ yếu thể hiện việc cảm ơn các chư vị thần linh cùng linh hồn các anh đã phù

hộ cho lễ hội được diễn ra một cách suôn sẻ, may mắn và thành công, đồng thời cũng là để tiễn các vị thần linh và linh hồn các anh về cõi siêu thăng và cúi xin các thần linh và hương hồn các liệt sỹ tiếp tục phù hộ cho nhân dân được bình

an, Tổ quốc được hưng thịnh, thái bình, xin cho tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Lào luôn gắn bó keo sơn, và cũng xin sẽ gặp lại các vị trong lễ hội năm sau Lễ tạ được kết thúc trong khói hương, trong những tiếng thì thầm của thân nhân các liệt sỹ, rằng hẹn đến lễ hội năm sau lại sắp sửa để đến thăm các anh trong hàng nghìn ánh nến lung linh và sự nuối tiếc Và có thể nói, phần lễ của một lễ hội mới – Lễ hội “Uống nước nhớ nguồn” đã có được một trình thức, nghi

lễ trang nghiêm xen cổ và kim hợp lý, đi được vào lòng người, xúc động được tâm linh sâu xa giàu vẻ đẹp nghĩa tình của cuộc sống Lễ tạ thực sự đã làm nên cái kết thành công cho lễ hội “Uống nước nhớ nguồn”

2.1.3.2 Phần hội

Đây là phần quan trọng thứ hai của bất kì một lễ hội nào Nếu như Lễ là một hệ thống nghi thức mang tính quy phạm nghiêm ngặt với những khuôn mẫu chuẩn mực, bắt buộc mọi người thực thi theo trong không khí trang nghiêm đầy yếu tố thiêng thì trái lại hội là sinh hoạt dân dã phóng khoáng, diễn ra trong không gian rộng rãi mà tất cả những người dự hội đều có thể tham gia

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w