52 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TÌM KIẾM, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG THÔNG TIN TRÊN INTERNET CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI .... DANH MỤC C
NGUỒN THÔNG TIN TRÊN MẠNG INTERNET VỚI
Khái quát về nguồn thông tin trên Internet
1.1.1 Vài nét về mạng toàn cầu Internet a Khái niệm mạng Internet
Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu
Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới đã và đang tác động to lớn vào sự phát triển của ngành truyền thông nói chung và báo chí nói riêng Sự phát triển của Internet là một trong các yếu tố quan trọng làm cho việc chuyển tải thông tin tới các khu vực trên thế giới trở nên dễ dàng và tiện lợi Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Năm 1983, giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol /
Internet Protocol – Giao thức kiểm tra việc truyền tải / Giao thức Internet) chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối mạng ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng
Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển mở ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet b Lịch sử hình thành và phát triển mạng Internet
Sự phát tiển mạng Internet đã tải qua nhiều giai đoạn khác nhau, nó được chia thành các thời kỳ, thể hiện những dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Internet
Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mỹ đã xây dựng dự án ARPANET (Advanced Research Projects Agency- ARPA) để nghiên cứu lĩnh vực mạng, với ý đồ là chia sẻ thông tin giữa các trung tâm nghiên cứu được chính phủ bảo trợ Theo đó các máy tính được liên kết với nhau và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi một phần mạng đã được phá hủy
Năm 1972 trong một cuộc hội nghị quốc tế về truyền thông máy tính, Bob Kahn đã trình diễn mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí giao tiếp giữa các trạm cuối Terminal Interface Processor-TIP Năm 1972 cũng là năm Ray Tomlinson đã phát minh ra e-mail để gửi thông điệp trên mạng Từ đó đến nay, e-mail là một trong những dịch vụ được dùng nhiều nhất
Từ năm 1973 đến năm 1983, sự hình thành và phát triển của Internet trong thời kỳ này được đánh dấu bằng một số sự kiện quan trọng như: Vinto Cerf và Bob Kahn đề xuất những cơ bản của internet - đó chính là những nét chính của giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol / Internet Protocol – Giao thức kiểm tra việc truyền tải / Giao thức Internet) (9/1973) Tổ chức mạng BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép sử dụng máy tính từ xa (1974) Năm 1976 phòng thí nghiệm của hãng AT&T phát minh ra dịch vụ truyền tệp cho mạng FTP
(file transfer protocol – giao thức chuyển giao tệp tin) Tom Truscott và Steve
Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những người sử dụng UNIX Năm
1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình internet (1978) Năm 1981 ra đời mạng CSNET (Computer Science NETwork) TCP/IP được chọn là giao thức chuẩn (1982) Năm 1983 ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET Hội đồng các hoạt động Internet ra đời, sau này được đổi tên thành Hội đồng kiến trúc Internet
Internet còn phải trải qua ba giai đoạn phát triển nữa mới có được vị trí như ngày hôm nay:
Thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của Internet
Năm 1986 mạng NSFnet chính thức được thiết lập Đây cũng là năm có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học
Năm 1990, với tư cách là một dự án ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã được sử dụng vào mục đích dân dụng Một số hãng lớn bắt đầu tổ chức kinh doanh trên mạng Đến lúc này Internet là một phương tiện đại chúng và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail và FTP
Thời kỳ bùng nổ lần thứ hai với sự xuất hiện của WWW
Cuộc bùng nổ thứ hai với sự phát triển của www, bắt đầu từ việc tìm ra cách để lưu giữ và tìm kiếm các cơ sở dữ liệu Các cơ sở dữ liệu này phải được kết nối với các tài liệu của thư viện
Năm 1991, Tim Berners Lee phát minh ra World Wide Web (WWW) Có thể nói đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng Năm 1994 , NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP WWW trở thành dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP
Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet Tháng 7/1996, Công ty Hotmail bắt đầu cung cấp dịch vụ Web Mail Sau 18 tháng, dịch vụ này đã có 12 triệu người sử dụng
Mạng không dây ngày càng phổ biến
Năm 1985, Cơ quan quản lí viễn thông của Mĩ quyết định mở cửa một số băng tần của giải phóng không dây, cho phép người sử dụng chúng mà không cần giấy phép của chính phủ Đây là bước mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh
Năm 1997, một tiểu ban đã tiến hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành chuẩn chính thức IEE 802.11 Sau đó là chuẩn 802.11b và chuẩn 802.11a lần lượt được phê duyệt vào các năm 1999 và năm 2000
Vai trò của thông tin trên mạng Internet trong hoạt động của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
HOẠT ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
1.2.2 Khái quát về Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được thành lập và ngày 26/03/1959 theo Quyết định số 134/VH-QĐ của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Trường đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều tên gọi khác nhau: Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1960, Trường mang tên “ Trường Cán bộ Văn hóa” do yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thời kỳ đó, trường có nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức, chính trị và nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa Trong khoảng từ tháng 8/1960 đến năm 1977, Trường được đổi tên thành “ Trường Lý luận Nghiệp vụ Văn hóa” Thời gian này, Thư viện trường cũng chính thức được thành lập Tên gọi này được duy trì tới 5/9/1977, Trường được đổi tên thành trường “ Cao đẳng Nghiệp vụ
Văn hóa” với chức năng đào tạo Cao đẳng các ngành nghiệp vụ văn hóa Giai đoạn từ 4/9/1982 đến nay, Trường một lần nữa được đổi thành “ Trường Đại học Văn hóa Hà Nội” Chức năng của trường là đào tạo các cán bộ thư viện, cán bộ bảo tồn bảo tàng, phát hành sách, văn hoá du lịch và những người tổ chức hoạt động văn hoá.
Hiện nay, toàn trường có tổng số sinh viên chính quy là 5.000 sinh viên, học tại 8 khoa chuyên ngành của Nhà trường (năm học 2011 – 2012) Về đội ngũ cán bộ, giảng viên và nghiên cứu viên của trường : tổng số cán bộ, giảng viên của trường là 280 người (năm 2008) [8]
Chức năng của trường: Cũng như các trường đại học khác, Đại học Văn hóa
Hà Nội thực hiện hai chức năng chính: Đào tạo và nghiên cứu khoa học Về chức năng đào tạo của trường bao gồm đào tạo bậc đại học (đào tạo các chuyên ngành như: Xuất bản – Phát hành, Thư viện – Thông tin, Bảo tàng, Văn hóa Dân tộc, Văn hóa Du lịch, Quản lý văn hóa – Nghệ thuật, Văn hóa học và Sáng tác lý luận phê bình văn học) và đào tạo sau đại học (thạc sỹ và tiến sỹ) Về chức năng nghiên cứu khoa học (nghiên cứu các hướng như: Thư viện học; Chính sách và Quản lý văn hóa; Bảo tồn bảo tàng; Kinh doanh Xuất bản phẩm; Du lịch học; Văn hóa Dân tộc thiểu số; Văn hóa học; Lý luận phê bình văn học; Văn hoá Đương đại; Di sản văn hoá; Xã hội học văn hoá; Và Văn hóa Thế giới
Nhà trường coi trọng phương châm “ Học đi đôi với hành, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng phát triển mạnh mẽ, được đẩy mạnh về phương tiện, điều kiện, thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập được tăng cường Hàng năm đều có những công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên được trao giải thưởng “ Sinh viên nghiên cứu khoa học” của ngành đại học Hai năm liền trường được Bộ Giáo dục - Đào tạo tặng
Bằng khen là “ Đơn vị đạt thành tích cao trong phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học”
Trường Đại học văn hóa Hà nội tuy quy mô không lớn so với các trường đại học khác trên địa bàn Hà Nội cũng như trong cả nước, nhưng lại là trường đại học lớn nhất, trường trọng điểm và là trường đầu ngành của Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch Năm mươi năm qua, trường đã đào tạo được hàng chục nghìn cán bộ văn hoá hiện đang công tác trên khắp mọi miền đất nước Hầu hết đội ngũ cán bộ văn hoá ở các cơ quan trung ương và địa phương đều đã hoặc đang là sinh viên Đại học Văn hoá Hà Nội Nhiều cán bộ văn hoá của Lào và Campuchia cũng đã được đào tạo tại trường Hệ đào tạo sau đại học được hình thành từ năm 1991 với hai ngành Thông tin thư viện và Văn hoá học, đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ của hàng nghìn cán bộ thư viện và cán bộ văn hoá do nhà trường đào tạo trước đây Đến nay, hệ sau đại học của trường đã đào tạo được hơn 200 thạc sỹ thuộc hai ngành này
Ngoài ra, Trường còn quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học lớn và các tổ chức khoa học uy tín của nước ngoài, liên kết triển khai nhiều hoạt động hợp tác khoa học và đào tạo có hiệu quả Trong quá trình phát triển, trường đã từng bước khẳng định vị trí của mình Vì những thành tích trên, trường Đại học Văn hoá đã đạt được nhiều Bằng khen và ba Huân chương Lao động: Huân chương Lao động hạng Ba (1984), Huân chương Lao động hạng Hai (1989), Huân chương Lao động hạng Nhất (1994) và Huân chương Độc lập hạng Ba (2004) [8]
Nhà trường đã đề ra hướng phất triển cho những năm tới đó là: Tiếp tục giữ vững mô hình đào tạo kết hợp nghiên cứu khoa học, từng bước mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học; phấn đấu trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu lớn về văn hoá nói chung, về khoa học quản lý và nghiệp vụ văn hoá nói riêng của cả nước
1.2.3 Đặc điểm của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và nhu cầu tin của họ
Đặc điểm của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Hiện nay, Trường có tổng số gần 5.000 sinh viên (Hệ chính quy / 2011), học tại 8 khoa chuyên ngành: Xuất bản – Phát hành, Thư viện – Thông tin, Bảo tàng, Văn hóa Dân tộc, Văn hóa Du lịch, Quản lý văn hóa – Nghệ thuật, Văn hóa học và Sáng tác lý luận phê bình văn học
Cũng như sinh viên nói chung, sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội được thừa hưởng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, được giáo dục về kiến thức ở nhiều mặt Ngoài những đặc thù chung của sinh viên thì sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mang những nét khác biệt, do đặc thù ngành nghề đào tạo của trường
Sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội phần lớn có độ tuổi trung bình từ 18 tuổi đến 22 tuổi, đây là giai đoạn hai của lứa tuổi thanh niên Cả trường có 24,8% sinh viên nam và 75,2% sinh viên nữ Khảo sát kết quả tuyển sinh và nhập học của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội (2011) cho thấy: 75% sinh viên xuất thân từ nông thôn; 10,9% xuất thân từ thành thị và 14,1% xuất thân từ miền núi Hầu hết sinh viên ở các tỉnh, thành phố phía Bắc như: Hà Nội, Hải Dương, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình, Nam Định,… Về nơi ở hiện nay của sinh viên: Theo kết quả điều tra cho thấy, sinh viên ở trọ chiếm tỷ lệ cao trên 4%; Sinh viên ở trong ký túc xá của trưởng chiếm 24%; sống cùng bố mẹ chiếm 19,7%; sống ở nhà người quen, họ hàng chiếm 11,1% [1]
Nhu cầu tin của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Cũng giống như bất kỳ hoạt động nào khác, hoạt động thông tin bắt nguồn từ nhu cầu tin của người dùng tin, sử dụng các phương tiện thông tin để khai thác triệt để các nguồn tin với mục đích cuối cùng là thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của người dùng tin Như vậy hoạt động thông tin bị chi phối bởi nhiều yếu tố: người dùng tin, nhu cầu tin của họ, nguồn tin, phương tiện thông tin,… trong đó người dùng tin và nhu cầu tin của họ là yếu tố quan trọng có tích chất quyết định
Người dùng tin là một trong những yếu tố quan trọng của hoạt động thông tin thư viện, là người trực tiếp sử dụng thông tin và những sản phẩm của hoạt động thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Người dùng tin là chủ thể của nhu cầu tin – một yếu tố không thể thiếu của hoạt động thông tin
Người dùng tin được đề cập trong nghiên cứu này là sinh viên của trường Đại học Văn hóa Hà Nội Họ là những người nghiên cứu, học tập thuộc các lĩnh vực nghệ thuật như: Xuất bản – Phát hành, Thư viện – Thông tin, Bảo tàng, Văn hóa Dân tộc, Văn hóa Du lịch, Quản lý văn hóa – Nghệ thuật, Văn hóa học và Sáng tác lý luận phê bình văn học
NHU CẦU VÀ KỸ NĂNG KHAI THÁC THÔNG TIN TRÊN
Nhu cầu khai thác thông tin trên mạng Internet của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI Để thực hiện đề tài “ Nhu cầu và kỹ năng khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội”, em đã tiến hành điều tra nhu cầu tin của sinh viên chính quy các khóa từ năm thứ nhất đến năm thứ tư ở các khoa chuyên ngành đang học tập tại trường Cụ thể, số phiếu phát ra là 400 phiếu và số phiếu thu lại là 350 phiếu Với kết quả thu được, em xin đưa ra một số nét về thực trạng nhu cầu và kỹ năng khai thác thông tin trên mạng Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội như sau
2.1.1 Mục đích khai thác thông tin trên mạng Internet
Internet là kênh thông tin cung cấp cho người dùng nhiều tiện ích khác nhau
Những thông tin mà Internet đem lại có thể giúp cho người dùng tin giải quyết những vấn đề trong công việc, trong học tập, và trong đời sống
Với sinh viên, ngày nay Internet trở thành “ một phần tất yếu của cuộc sống” Internet trở thành người bạn đồng hành của sinh viên trong mọi hoạt động sống, phương tiện giúp cho sinh viên đáp ứng những mục đích khác nhau của họ như: học tập, giải trí, tham gia các hoạt động xã hội,…
Bảng 5: Mục đích khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội Đơn vị tính: %
Nguồn: Số liệu điều tra cá nhân
Biểu đồ 2: Mục đích khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Qua biểu đồ trên, việc sử dụng Internet tìm kiếm thông tin cho mục đích học tập của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội chiếm tỉ lệ lớn, có tới 53.5% số sinh viên sử dụng Internet cho việc tìm kiếm tài liệu học tập Điều này dễ hiểu vì với sinh viên mục đích chính là học tập Bản chất của việc học đại học là tự học, kiến thức trên giảng đường chỉ là sự hướng dẫn, gợi ý cho môn học,… còn chủ yếu sinh viên phải tự trang bị kiến thức cho mình dựa trên những hướng dẫn của giáo viên bộ môn Để trang bị những kiến thức đó, sinh viên có thể tìm được qua sách vở, và các phương tiện khác nhau,… trong đó, Internet cũng được coi là một kênh thông tin khổng lồ, tiện lợi, nhanh chóng chứa, lượng thông tin lớn về các vấn đề trong xã hội
Ngày nay, việc sử dụng Internet để đáp ứng nhu cầu học tập không còn xa lạ
Nó là phương tiện giúp sinh viên chủ động lấy thông tin ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào Sinh viên H – Khoa Quản lý văn hóa cho biết: “ Internet giúp cho việc học tập của sinh viên rất nhiều, bản thân mình ngoài việc lên thư viện tìm tài liệu môn học theo lịch mượn đối với các khoa, thì hầu hết mình lướt Web để tìm câu trả lời cho vấn đề môn học” [ Nguồn: Điều tra cá nhân]
Hiện nay, sinh viên có thể sử dụng Internet như một kênh học tập; chia sẻ kiến thức đã học, thu thập những kiến thức mới; sinh viên còn có thể tận dụng được các cơ hội học miễn phí (học ngoại ngữ, tin học, văn hóa) Trên Internet có rất nhiều cổng thông tin, website cho phép sinh viên thực hiện điều này như: học tập, giải trí, học trực tuyến, tìm kiếm học bổng, chát với bạn bè,… Nhìn chung, sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội có thái độ tích cực với việc học qua mạng Internet và muốn sử dụng Internet như một công cụ học tập
Số liệu điều tra (xem bảng 1 và biểu đồ 1), nhu cầu khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội cho thấy hầu hết sinh viên sử dụng Internet không chỉ vì mục đích học tập, ngoài ra sinh viên còn có nhu cầu giải trí từ Internet Việc sử dụng Internet phục vụ nhu cầu giải trí của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội chiếm 35.0%, đứng thứ hai sau mục đích khai thác thông tin qua Internet phục vụ cho học tập của sinh viên Tuy việc dùng Internet để giải trí chỉ là mục đích đứng sau mục đích khai thác thông tin cho học tập nhưng đây lại là hoạt động chiếm một quỹ thời gian lớn trong tổng lượng thời gian sử dụng Internet của một sinh viên [1, tr.72] Trên thực tế, khi được hỏi trực tiếp về số thời gian sinh viên dành cho việc tìm thông tin trên Internet phục vụ học tập và giải trí, thì kết quả cho thấy gần hết sinh viên khai thác thông tin trên Internet để trả bài môn học ít khi là sự tự giác, mà chủ yếu phụ thuộc vào bài tập mà thầy cô bộ môn đưa ra Vì vậy, lượng thời gian sử dụng Internet của sinh viên phần lớn được dành cho các hình thức giải trí như nghe nhạc, xem phim, chơi game, đọc tin tức,… Mặt khác, mạng Internet và máy tính điện tử phát triển, chỉ cần lướt Web tại bất cứ đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tìm được vô số hình thức giải trí khác nhau, sống động, cuốn hút và dễ dàng như: nghe nhạc, xem phim, đọc tin tức về các lĩnh vực của đời sống, chơi game, tán gẫu với bạn bè, giao lưu kết bạn,… Mạng Internet và máy tính cung cấp cho người dùng rất nhiều tiện ích khác nhau mà chi phí lại rẻ, tiện lợi,… (các hoạt động giải trí thông thường khác ngoài xã hội như xem phim ở rạp, xem các buổi biểu diễn ca nhạc, các vở kịch trên sân khấu,…) với mức tiền phục vụ chi tiêu hàng tháng hiện nay của sinh viên thì không thể bỏ ra thường xuyên để tiếp cận Sinh viên Phạm V A – Khoa Phát hành sách cho biết: “ Chúng em rất ít khi tới rạp chiếu phim vì chi phí cao, vả lại xem phim trên mạng rẻ và tiện lợi hơn Trừ khi đi với người yêu hoặc bạn bè rủ thì em mới đi, còn chủ yếu là xem phim trên mạng” [1, tr.73]
Bên cạnh đó, hiện nay ngày càng nhiều các nhà cung cấp dịch vụ tiện ích trên mạng Internet đã tài trợ, tổ chức các hoạt động văn hóa hướng đến sinh viên, thu hút được số lượng lớn sinh viên tham gia như tổ chức bầu chọn Vịnh Hạ Long, mạng xã hội Tầm tay (http://tamtay.vn) đã tài trợ cho các cuộc thi nữ sinh, nam sinh thanh lịch ở các trường, trong đó có hoạt động bầu chọn trực tuyến với hàng ngàn lượt tham dự bầu chọn của các sinh viên Vì vậy, Internet ngày càng trở nên như một phương tiện giải trí phổ biến đối với đời sống sinh viên
Bên cạnh việc khai thác thông tin trên Internet để phục vụ học tập và giải trí, thì Internet còn được sử dụng cho những nhu cầu khác (chiếm 11.5%, xem bảng 1) như: tìm kiếm học bổng, tìm cơ hội việc làm, mua sắm qua mạng,…
Hiện nay, sinh viên sử dụng các mạng xã hội ảo để xây dựng các mối quan hệ mới cũng như chia sẻ với những bạn bè đang có Khả năng kết nối dễ dàng và mạnh mẽ khiến trong một đến hai năm gần đây mạng xã hội ảo đã trở thanh mối quan tâm của sinh viên Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo (social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán [9] Sinh viên sử dụng mạng Internet cho thông tin liên lạc với gia đình, bạn bè, hoặc qua các dạng phản hồi, trao đổi của mạng xã hội, diễn đàn để gửi và nhận thông tin trao đổi tư tưởng, tình cảm Sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội, đại bộ phận đều là con em các tỉnh nên nhu cầu liên lạc với gia đình và bạn bè là điều rất cần thiết Ngoài điện thoại, họ có thể chia sẻ, liên lạc chuyện trò với bạn bè và gia đình qua một số dịch vụ phổ biến Internet như: Email (http://mail.google.com; http://mail.yahoo.com), Blog, Facebook (http://facebook.com),… Email ( thư điện tử) là một phương tiện thông tin rất nhanh Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính đặc biệt là mạng Internet Nó có thể chuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng lúc Ngày nay, email chẳng những có thể truyền gửi được chữ, nó còn có thể truyền được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim, và đặc biệt các phần mềm thư điện tử kiểu mới còn có thể hiển thị các email dạng sống động tương thích với kiểu tệp HTML (HyperText
Markup Language – ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) Blog (nhật ký web), là một dạng nhật ký trực tuyến Các blogger (người viết blog), có thể là cá nhân hoặc nhóm, đưa thông tin lên mạng với mọi chủ đề, thông thường có liên quan tới kinh nghiệm hoặc ý kiến cá nhân, chủ yếu cung cấp thông tin đề cập tới những chủ đề chọn lọc, không giống như các báo truyền thống Được phần mềm hỗ trợ, dễ sử dụng, blog phổ biến rất nhanh và ai cũng có thể dễ dàng tạo ra một blog cho mình Một trang blog có thể chứa các siêu liên kết, hình ảnh và liên kết (tới các trang chứa phim và âm nhạc) Văn bản blog dùng phong cách thảo luận Một blog thường chỉ liên quan đến một chủ đề yêu thích Còn Facebook là một website mạng xã hội truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành và sở hữu tư nhân
Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng [9]
Bên cạnh các suất học bổng của Nhà trường, sinh viên còn sử dụng Internet nhằm tìm kiếm thông tin học bổng từ các tổ chức hoặc các cuộc thi, một số địa chỉ tìm kiếm học bổng của sinh viên như: http://hocbong.edu.vn; http://scholarships.com; Sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội là những sinh viên năng động, phong trào đoàn đội, câu lạc bộ hoạt động rất sôi nổi Họ lập nên cho mình những diễn đàn để hoạt động, qua đó trao đổi thông tin cho nhau trong học tập, trong cuộc sống, tổ chức những đợt tình nguyện (http://diendan.huc.edu.vn),…
Ngoài ra, Internet còn là phương tiện để sinh viên tìm kiếm công việc làm thêm cũng như cơ hội việc làm cho bản thân, một số còn sử dụng Internet như một phương tiện làm thêm Hiện nay, một số sinh viên có xu hướng làm thêm các công việc trên mạng như: trả lời thư của một trang web, update thông tin về sản phẩm bán hàng qua mạng,…
2.1.2 Đặc điểm của thông tin trên mạng Internet được sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội khai thác
Đặc điểm nội dung thông tin
Phần lớn sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội có nhu cầu khai thác các thông tin về lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật Thông tin mà họ quan tâm, khai thác chủ yếu liên quan đến môn học, đến kiến thức nhà trường đào tạo bao gồm cả các môn cơ bản và các môn chuyên ngành của từng khoa
Sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội là những người học tập, nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nên những kiến thức mà họ quan tâm, khai thác trên mạng Internet hầu hết cũng thuộc lĩnh vực văn hóa Tuy nhiên, theo đặc thù của chương trình đào tạo của Nhà trường, đặc biệt là của ngành đào tạo đối với từng khoa, nên nhu cầu khai thác thông tin trên Internet phục vụ cho mục đích học tập của sinh viên cũng khác nhau Cụ thể là, đối với hầu hết các sinh viên năm thứ nhất và thứ hai, thông tin mà họ khai thác trên mạng Internet là các thông tin phục vụ cho các môn học cơ bản như: Công nghệ thông tin, tâm lý học, triết học, văn học,… bổ trợ cho các môn chuyên ngành sau này Trong nhóm đối tượng này, do sinh viên năm thứ hai đã bắt đầu có một số môn học chuyên ngành, nên trong các lĩnh vực học tập giữa năm thứ nhất và năm hai cũng có sự chênh lệch, nhưng sự khác biệt này là không đáng kể Trong quá trình điều tra và khảo sát thực tế, căn cứ vào đặc thù đào tạo của Nhà trường và sự hiểu biết của bản thân, em xin chia lĩnh vực chứa các môn học của hai nhóm sinh viên trên thành các lĩnh vực cụ thể như: lĩnh vực cơ bản, lĩnh vực chuyên ngành và lĩnh vực khác Lĩnh vực cơ bản là lĩnh vực bao gồm các môn học cơ bản, các môn học đại cương mang tính chất tiền đề, bổ trợ cho các môn học chuyên ngành Tương tự, lĩnh vực chuyên ngành là lĩnh vực trong đó bao gồm các môn học hướng dẫn các kỹ năng và nghiệp vụ về nghề nghiệp Đối với nhóm sinh viên thứ nhất (sinh viên năm hai và ba): nhu cầu thông tin về lĩnh vực cơ bản chiếm 78.2%, bên cạnh đó cũng có những sinh viên quan tâm tới các môn chuyên ngành và có nhu cầu khai thác thông tin chuyên ngành chiếm 18.5%, còn lại 3.3% quan tâm tới các lĩnh vực khác như: báo chí, chứng khoán, mạng,… Đối với sinh viên năm thứ hai: 75.5% thông tin thuộc lĩnh vực cơ bản, 19.8% thuộc lĩnh vực chuyên ngành và 4.7% thông tin thuộc các lĩnh vực khác
Bảng 5a: Lĩnh vực khai thác thông tin trên Internet của nhóm sinh viên thứ nhất Đơn vị tính: %
Nguồn: số liệu điều tra cá nhân
Kỹ năng khai thác thông tin trên mạng Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
2.2.1 Thói quen khai thác thông tin trên mạng Internet
Hơn tất cả mọi phương tiện truyền thông đại chúng khác, ngày nay Internet đang chứng tỏ sức mạnh, tốc độ phát triển nhanh chóng và sự ảnh hưởng lớn lao của nó đối với con người
Công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đã thâm nhập sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển của đất nước Sinh viên, thanh niên là một trong những nhóm được xác định là đối tượng sử dụng Internet chủ yếu Trên thực tế, việc sử dụng Internet chiếm phần lớn quỹ thời gian rỗi và hoạt động của họ sau những giờ lên lớp và trên thư viện (bên cạnh việc dành thời gian cho học tập và nghiên cứu khoa học): có trên 56% sinh viên sử dụng thời gian rỗi truy cập mạng Internet để tìm thông tin; 46.8% sinh viên tham gia các hoạt động khác; 40.7% sinh viên dành thời gian rỗi cho việc chơi các môn thể thao; 38.5% sinh viên sử dụng thời gian rỗi để học tập và nghiên cứu khoa học [1, tr.26] Những số liệu đó cho thấy, sinh viên ưu tiên dành thời gian rỗi để truy cập mạng khai thác thông tin Điều đó chứng tỏ thông tin trên Internet ngày càng có vai trò quan trọng đối với đời sống sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Khi được điều tra, hầu hết các bạn sinh viên đều cho biết hàng ngày ngoài việc tìm thông tin ở một số nguồn khác, thì họ sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin Trong tất cả các kênh thông tin như: báo, tạp chí; tivi, đài; Internet; những người xung quanh, sách vở,… (xem bảng 8)
Việc khảo sát bằng phiếu điều tra nhu cầu tin trên Internet dành cho sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội cho thấy Internet nằm trong danh sách các kênh thông tin được sinh viên lựa chọn để thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin
Bảng 8: Mức độ theo dõi các kênh thông tin của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội Đơn vị tính: %
Kênh thông tin tự do 26.0 42.6 24.9 6.5
Nguồn: Số liệu điều tra cá nhân
Theo bảng số liệu trên, Internet, sách và đài (radio) là những kênh thông tin được sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội khai thác thông tin với mức độ thường xuyên nhất (chiếm trên 40%) Sách là phương tiện gần gũi với sinh viên nhất, cung cấp các thông tin cơ bản cũng như một số thông tin mới Ngoài ra, việc lấy thông tin trong sách (gồm sách lưu hành trong nhà trường, trên thư viện và bên ngoài) một phần còn thể hiện văn hóa đọc của sinh viên, những thông tin trong sách được lưu hành trong nhà trường đều là những thông tin đáng tin cậy và đã được chọn lọc bởi các thủ thư của Trung tâm thông tin – thư viện trường Bên cạnh sách vở, Internet gần như là người bạn của sinh viên Nhiều sinh viên còn cho biết họ không thể một ngày hoạt động mà không có Internet, điều đó cho thấy, ngày nay một số sinh viên quá lạm dụng và phụ thuộc vào Internet Tuy Internet cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin có ích nhưng song song với nó là những thông tin kém chất lượng, độ tin cậy không cao, hoặc những thông tin lệch lạc,…
Như vậy, Internet là kênh thông tin được sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội sử dụng với mức độ cao nhất so với các kênh thông tin còn lại Ngày nay, bộ phận sinh viên sử dụng các kênh thông tin khác như: ti vi, đài, báo,… giảm đi, thay vào đó họ tiếp cận với thông tin trên Internet nhiều hơn và thường xuyên hơn
Tần suất sử dụng mạng Internet để tìm tin của sinh viên cũng cho thấy nhu cầu khai thác thông tin trên mạng Internet ngày càng cao hơn, thường xuyên hơn
Bảng 9: Tần suất khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội Đơn vị tính : %
Tần suất khai thác thông tin trên Internet
Thường xuyên Không thường xuyên Không bao giờ
Hàng ngày 2 lần/ tuần Hàng tuần Thỉnh thoảng Hiếm khi
Nguồn: Số liệu điều tra cá nhân
Biểu đồ 4: Tần suất khai thác thông tin trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Không thường xuyên Không bao giờ
Bảng số liệu và biểu đồ trên cho thấy, sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội thường xuyên sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin (chiếm tới 80%); số sinh viên không thường xuyên sử sụng Internet chỉ chiếm một con số không đáng kể Song cũng vẫn còn một số nhỏ sinh viên không bao giờ sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin (chỉ có 0.1%) Việc một bộ phận rất nhỏ này khá xa rời với Internet do một số nguyên nhân như: sinh viên còn thụ động, kém cập nhật so với sự phát triển của công nghệ hiện nay; họ chưa được đào tạo để biết đến những giá trị to lớn mà Internet có thể đem lại cho con người;… Bảng số liệu 6 còn cho thấy, sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội sử dụng Internet hàng ngày và hàng tuần chiếm tỷ lệ cao hơn, đặc biệt là sử dụng Innternet hàng ngày (chiếm 44%) Kết quả này càng chứng minh thêm cho sự xâm nhập và phát triển của Internet trong đời sống của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Thời gian dành cho việc khai thác thông tin trên mạng
Thời gian dành cho việc khai thác thông tin trên Internet cũng là một căn cứ để xác định nhu cầu tìm tin trên Internet và vai trò của thông tin trên Internet đối với sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Mức thời gian sinh viên sử dụng Internet nhiều nhất thường từ 1 đến 3 giờ một ngày Mức thời gian này thay đổi do nhu cầu tìm kiếm thông tin, chơi game, viết blog hoặc đọc tin tức, Ở một số trường hợp bắt buộc phải sử dụng mạng để tìm kiếm tài liệu học tập, học trực tuyến, đăng ký các môn học, nhận và trả bài, thì mức thời gian sử dụng Internet cũng tăng lên Hiện nay, sinh viên còn có thể tra cứu điểm thi và mọi thông tin liên quan đến học tập trên trang web của nhà trường
Nhu cầu cập nhật thông tin hàng ngày trên Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội tăng về thời gian Hầu hết, sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội sử dụng Internet 1 giờ/ngày (chiếm 47.7%) Internet trở thành một phương tiện thường trực để sinh viên khai thác thông tin mỗi ngày Số liệu này còn chứng tỏ “ Internet trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống sinh viên” Bên cạnh đó, tần suất sử dụng Internet từ 4 giờ/ngày trở lên cũng chiếm tỷ lệ cao (21.7%), bởi khi nghiên cứu thực tế mục đích sử dụng Internet của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội, chúng ta biết được họ thường xuyên khai thác thông tin trên Internet Tuy việc khai thác thông tin trên Internet cho mục đích học tập là chủ yếu, nhưng lượng thời gian lại không nhiều, sinh viên dành phần lớn thời gian cho việc giải trí
Bảng 10: Lượng thời gian sử dụng Internet hàng ngày của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội Đơn vị tính: %
Lượng thời gian sử dụng Hàng ngày
Nguồn: số liệu điều tra cá nhân
1 giờ 2 giờ 3 giờ 4 giờ trở lên
Biểu đồ 5: Lượng thời gian sử dụng Internet hàng ngày của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Bên cạnh việc nghiên cứu tần suất sử dụng Internet của sinh viên trong các buổi trên (từ thứ hai đến thứ sáu), thì việc nghiên cứu tần suất sử dụng Internet trong những ngày nghỉ cuối tuần cũng là điều cần thiết Với sinh viên, hai ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy và chủ nhật) là thời gian để họ gặp gỡ bạn bè, về thăm gia đình, hay tổ chức các buổi đi chơi,… nhưng thời gian họ dành cho việc khai thác thông tin trên mạng Internet không hề giảm so với ngày thường mà vẫn chiếm một tỷ lệ cao Cụ thể số sinh viên sử dụng Internet dưới 1 giờ/ngày chiếm 45.3% (ngày thứ 7) và 46.8% (ngày chủ nhật) (xem bảng 11)
Bảng 11: Tần suất sử dụng Internet của sinh viên vào ngày cuối tuần Đơn vị tính: %
Thời gian Thứ bảy Chủ nhật
Địa điểm truy cập Internet Địa điểm truy cập Internet là nơi sinh viên có thể khai thác thông tin trên mạng, nó tương đương với cơ sở vật chất cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó Có rất nhiều địa điểm truy cập Internet khác nhau, tuy nhiên đối với sinh viên thì địa điểm truy cập Internet chủ yếu là ở trường, ở nhà, ở kí túc xá sinh viên,…
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã trang bị các phòng máy tính có kết nối mạng cho sinh viên học tập, tại thư viện sinh viên cũng có thể kết nối Internet để tìm thông tin Trường còn có thư viện điện tử, hiện nay được trang bị 45 máy tính nối mạng Theo kết quả điều tra được, 12.0% sinh viên lựa chọn truy cập Internet tại thư viện Tại thư viện trường và thư viện điện tử, sinh viên có thể sử dụng mạng máy tính để khai thác thông tin vào các ngày trong tuần (trừ thứ 7, chủ nhật và thứ
2 để thư viện làm nội dịch) Ngoài ra, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội còn phủ sóng wifi ở một số điểm trong khuôn viên nhà trường, căng tin nhà trường, và tại các giảng đường cho phép sinh viên truy cập tự do Qua điều tra, khảo sát thực tế sinh viên trong trường, kết quả thu được cho biết 17.6% số sinh viên được điều tra thường truy cập Internet tại trường để tìm kiếm thông tin (xem bảng 12) Hình thức cung cấp Internet của nhà trường chủ yếu là miễn phí, nhưng về cơ bản sinh viên ít sử dụng bởi các lý do như: tốc độ chậm, thiếu máy tính, thời gian sử dụng với mức giới hạn: “ Trên thư viện điện tử mỗi lần chỉ cho phép sử dụng trong một tiếng, còn mạng wifi trong trường thì nhiều khi rất khó vào, vào được mạng thì lại rất chậm nữa” – sinh viên năm thứ hai khoa Du lịch
Theo như số liệu điều tra về nơi ở hiện nay của sinh viên Đại học Văn hóa