1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những thay đổi trong văn hoá xã hội truyền thống của người thái ở xã hiền kiệt huyện quan hoá tỉnh thanh hoá hiện nay

113 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa xã hội truyền thống là một bộ phận của văn hóa truyền thống, đó là những biểu hiện của quan hệ dòng họ, tập tục hôn nhân, gia đình, thiết chế xã hội và các tập quán tang ma.. Vì

Trang 1

Trường đại học văn hóa Hà nôi

Khoa văn hóa dân tộc thiểu số

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, người viết đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Văn hóa Dân tộc Đặc biệt, người viết xin trân trọng bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Việt Hương - người đã trực tiếp hướng dẫn trong quá trình thực hiện đề tài này

Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Văn hóa huyện Quan Hóa, Ban Văn hóa xã Hiền Kiệt và đồng bào dân tộc Thái xã Hiền Kiệt đã nhiệt tình cung cấp những thông tin và số liệu chính xác, quý báu cho khóa luận

Mặc dù đã nhiều lần đi thực tế, tìm hiểu tại địa phương, nhưng do phạm

vi đề tài bao gồm rất nhiều vấn đề nên bài khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn

Trang 3

MụC LụC

LờI Mở ĐầU 1

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu thực hiện 10

5 Lược sử nghiên cứu: 10

6 Đóng góp khoa học của đề tài 11

7 Bố cục đề tài 12

Chương 1:NGƯỜI THÁI Ở HIỀN KIỆT VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN HểA XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG 12

1.1 Môi trường tự nhiên và xã hội của xã Hiền Kiệt 13

1.1.1 Khái quát về môi trường tự nhiên 13

1.1.2 Môi trường x∙ hội 16

1.2 Khỏi quỏt về văn húa truyền thống của người Thỏi ở Hiền Kiệt 23

1.2.1 Văn húa mưu sinh 23

1.2.2 Văn húa vật chất 28

1.2.3 Văn hoỏ tinh thần 31

1.3 Những đặc điểm cơ bản trong văn húa xó hội truyền thống của người Thỏi ở Hiền Kiệt 34

1.3.1 Thiết chế bản mường 34

1.3.2 Dũng họ 36

1.3.3 Gia đỡnh 37

1.3.4 Hụn nhõn 39

1.3.5 Tang ma 41

Chương 2: Văn hóa x∙ hội truyền thống của người Thái ở x∙ Hiền Kiệt, huyện quan hóa, tỉnh thanh hóa hiện nay……38

2.1 Những thay đổi trong thiết chế làng bản 44

Trang 4

2.1.1 Sự thay đổi qui mô và diện mạo làng bản 44

2.1.2 Quan hệ trong làng bản 48

2.1.3 Quản lí làng bản 49

2.1.4 Luật tục 51

2.2 Những thay đổi trong quan hệ dòng họ 53

2.2.1 Về qui mô dòng họ 53

2.2.2 Quan hệ dòng họ 54

2.2.3 Nghi thức cúng tế, kiêng kị và thờ tự trong dòng họ 55

2.2.4 Mối quan hệ giữa các dòng họ 57

2.3.2 Chức năng của gia đình 59

2.3.3 Về mối quan hệ trong gia đình 64

2.3.4 Sinh hoạt văn hoá và tâm linh 66

2.4.1 Về quan niệm hôn nhân 67

2.4.2 Nghi thức kết hôn 70

2.4.3 Luật pháp trong hôn nhân 75

2.4.4 Văn nghệ dân gian trong các nghi thức hôn nhân 77

2.5 Những thay đổi trong tập quán tang ma 78

2.5.1 Quan niệm tang ma 78

2.5.2 Quy trình tang ma 80

2.5.3 Sự suy giảm các giá trị văn nghệ dân gian trong tang ma: 82

2.5.4 Tính chất cộng đồng trong tang ma 83

Chương 3:BẢO TỒN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở HIỀN KIỆT, QUAN HOÁ, THANH HOÁ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 85

3.1 Tính tất yếu của sự thay đổi về văn hóa truyền thống của người 85

Thái ở Hiền Kiệt 85

3.1.1 Nguyên nhân từ kinh tế 85

3.1.2 Nguyên nhân từ xã hội 86

3.1.3 Nguyên nhân từ tư tưởng, chính trị 87

3.2 Đánh giá chung về những biến đổi về văn hóa truyền thống của 89

người Thái ở Hiền Kiệt 89

Trang 5

3.2.1 Những biến đổi tích cực 89

3.2.2 Những biến đổi tiêu cực 91

3.3 Vấn đề bảo tồn văn hóa truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt 92

3.3.1 Quan điểm về bảo tồn 92

3.3.2 Các giải pháp cụ thể cho việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền 96

thống của người Thái ở Hiền Kiệt 96

Giải pháp về kinh tế xã hội 96

Giải pháp về văn hoá 97

Giải pháp về môi trường 98

3.3.3 Những kiến nghị cụ thể 99

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 104

ẢNH MINH HỌA 107

DANH MỤC NHỮNG NGƯỜI CUNG CẤP TÀI LIỆU 113

Sinh viên: Quản Văn Hải Khoa: Văn hoá Dân tộc

Trang 6

LờI Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

Triết học Mác Xít khẳng định: “Văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn của

đời sống xã hội, thể hiện trình độ phát triển của lực lượng bản chất người trong quá trình chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện chính bản thân mình theo chiều hướng tiến bộ Những lực lượng bản chất người ấy phải được đối tượng hoá, khách quan hóa và chuẩn mực tiên tiến hóa, xã hội hóa thành những giá trị vật chất và tinh thần dưới dạng trạng thái hoặc dưới dạng quá trình tổng hợp thành những thành tựu do con người sáng tạo trong lịch sử” Hiểu theo nghĩa này thì văn hóa là một phạm trù rất rộng bao gồm cả các giá trị của văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội

Văn hóa xã hội truyền thống là một bộ phận của văn hóa truyền thống, đó là những biểu hiện của quan hệ dòng họ, tập tục hôn nhân, gia đình, thiết chế xã hội

và các tập quán tang ma Điều này thể hiện rất rõ trong Văn hóa xã hội truyền thống của người Thái ở xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa, Tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh thuộc Bắc trung bộ, có tọa độ địa lí nằm ở 19.180 – 20.400 độ vĩ Bắc; 104.220 - 106.050 độ kinh Đông, cách thủ đô Hà Nội 153 km

về phía Nam Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 11.106 km2 (chiếm 3.37% diện tích cả nước) Toàn tỉnh Thanh Hóa có 7 dân tộc anh em sinh sống (Kinh, Mường, Thái, H’Mông, Dao, Thổ, Hoa) với tổng số dân là 3.67 triệu người (2005) Trong

số đó người Thái có khoảng trên 210.000 người (chiếm 6% dân số Thanh Hóa).1

Dân tộc Thái ở Thanh Hóa sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi như các huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Lang Chánh, Bá Thước… Trong số các huyện miền núi này thì Quan Hóa là huyện có dân tộc Thái sinh sống nhiều nhất Với vị trí giáp với phía Nam vùng núi Tây Bắc (nơi có đông dân tộc Thái

1

Trang 7

sinh sống nhất trong cả nước: 887.809 người)2 và là vùng biên giới xa xôi hiểm trở nên dân tộc Thái ở đây còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống

đặc sắc của dân tộc mình Đó là tín hiệu đáng mừng cho văn hóa của dân tộc Thái nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung

Tuy nhiên, trong khoảng gần chục năm trở lại đây, dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là dưới ảnh hưởng từ quá trình giao lưu Văn hóa đã tác động mạnh mẽ tới vốn văn hóa truyền thống của người Thái, làm cho văn hoá của người Thái ở đây không còn lưu giữ được “đậm đà” như trước đây Trái lại nó đã bị mai một, pha trộn và hoà lẫn trong sự đổi thay không ngừng của xã hội Trong các yếu tố thay đổi, có những yếu tố văn hóa lạc hậu, không phù hợp với thời đại và thị hiếu của người dân Đó là yếu tố tích cực phù hợp với quy luật của sự tiến bộ và đào thải Tuy nhiên, vẫn có những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tích cực trong đời sống tâm linh - tinh thần của con người, những giá trị đó là sợi dây vô hình liên kết, gắn bó con người với nhau bằng tình cảm - tình người chứ không phải bằng vật chất, của cải, nó còn là thứ động viên, làm cho con người giúp đỡ nhau vươn lên, vượt qua mọi khó khăn trở ngại của thiên nhiên khắc nghiệt Nhưng ngày nay, những giá trị văn hóa tốt đẹp, nét đặc trưng cho văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam đó lại đang dần bị mai một, thay đổi theo sự phát triển không ngừng của thời đại

Vì lẽ đó, là sinh viên khoa Văn hóa Dân tộc, đứng trước những thay đổi

về bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc, xin được góp một phần công sức nhỏ bé của mình thông qua đề tài này, nhằm giới thiệu với mọi người những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở xã Hiền Kiệt, Quan Hóa, Thanh Hóa; mặt khác tìm ra nguyên nhân sự thay đổi về xã hội truyền thống của người

2

Trang 8

Thái ở Hiền Kiệt, từ đó đưa ra những giải pháp tích cực và kiến nghị hợp lí để giúp bảo tồn, phát huy những yếu tố cổ truyền tốt đẹp, góp phần gìn giữ những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Thái trước những thay đổi lớn lao trong thời kỳ hội nhập

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Văn húa xó hội truyền thống của người Thỏi ở Hiền Kiệt, huyện Quan Húa, tỉnh Thanh Húa ; những thay đổi của Văn húa xó hội truyền thống trước sự tỏc động của cỏc yếu tố, trong đú quỏ trỡnh giao lưu văn húa là yếu tố chớnh

Để xác định rõ hơn đối tượng nghiên cứu đề tài sẽ nhấn mạnh một số khái niệm sau:

- Văn húa xó hội truyền thống: là sự kết hợp của cỏc yếu tố như: quan hệ dũng họ, tập tục hụn nhõn, gia đỡnh, tập quỏn tang ma và bộ mỏy thiết chế xó hội truyền thống

- Di cư: là hoạt động di chuyển nơi cư trú, sinh hoạt của con người từ nơi này sang nơi khác

- Xen cư: là hình thức cư trú xen kẽ của các tộc người khác nhau trên một

địa bàn nhất định

 Phạm vi nghiên cứu: Do thời gian có hạn nên đề tài chủ yếu chỉ tập trung khảo sát những đặc điểm cơ bản và những thay đổi của văn húa xó hội truyền thống của người Thỏi trên địa bàn xã Hiền Kiệt, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong 5 năm trở lại đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

 Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc khảo sát về văn hóa xã hội truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt để thấy được những thay đổi của nó dưới tác

động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dưới tác động của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Đề tài đề ra những giải pháp để bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Thái

 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống của dân tộc Thái

ở xã Hiền Kiệt, Quan Hoá, Thanh Hóa

- Tìm hiểu quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa người Thái và người Kinh trên địa bàn xã Hiền Kiệt

- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi văn hóa xã hội truyền thống của người Thái trên địa bàn xã Hiền Kiệt

- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Thái, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế, xã hội cho người Thái ở xã Hiền Kiệt

4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu thực hiện

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu:

điền dã, điều tra, quan sát, phỏng vấn người dân, phân tích, tổng hợp, so sánh, thu thập và xử lí tài liệu liên quan

- Nguồn tư liệu thực hiện: Đề tài mang tính chất thực tiễn là chủ yếu, nên sinh viên đã nhiều lần đi điền dã, tìm hiểu thực tế trên địa bàn xã Hiền Kiệt nhằm thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng, tham khảo một số tài liệu của các tác giả có uy tín

5 Lược sử nghiên cứu:

Trang 10

Nghiên cứu về dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung đã có rất nhiều tài liệu, các bài viết của các tác giả nổi tiếng, có thể dẫn ra đây một vài tác giả như:

Vi Văn Biên với Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An; Diệp Đình Hoa Nhận xét về khảo cổ dân tộc học về người Thái qua tư liệu điền dã ở miền Tây Nghệ Tĩnh; Cầm Trọng Đặc trưng văn hóa dân tộc và truyền thống cách mạng ở Kỳ Sơn, Nghệ An; Trần Bình Tập quán hoạt động kinh tế của

tục Thái ở Việt Nam; v.v

Nhìn chung, các tác phẩm và bài viết của các tác giả, nhóm tác giả trên

đều đi sâu phân tích đầy đủ các khía cạnh về văn hóa vật thể và phi vật thể của người Thái ở Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Quan Hóa – nơi chủ yếu là dân tộc Thái ở Thanh Hóa sinh sống thì lại rất ít tài liệu nói đến Đặc biệt là ở xã Hiền Kiệt hầu như chưa có một bài viết nào

về văn hóa của người Thái được phổ biến rộng rãi Có chăng chỉ là những số liệu

về hành chính do Uỷ ban xã điều tra được Do vậy, đề tài này là một kênh thông tin đầy đủ và đa dạng giúp cho chúng ta biết đến văn hóa Thái ở xã Hiền Kiệt và huyện Quan Hóa

6 Đóng góp khoa học của đề tài

- Giới thiệu tập quán sinh hoạt, kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống của người Thái ở xã Hiền Kiệt

- Nêu bật và lý giải những nguyên nhân tạo nên sự biến đổi văn hóa truyền thống của người Thái trước sự tác động của quá trình chuyển cư của người Kinh

- Góp thêm cơ sở khoa học cho việc định hướng và tạo lập các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội đối với người Thái trên địa bàn xã Hiền Kiệt trong thời gian tới

Trang 11

- Đóng góp giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Thái trên địa bàn xã Hiền kiệt

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, bài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Người Thái ở Hiền Kiệt và đặc điểm văn hóa xã hội truyền thống Chương 2: Văn hóa xã hội truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt trong quá trình giao lưu văn hóa hiện nay

Chương 3: Bảo tồn văn hóa truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt - Quan Hóa - Thanh Hoá

Trang 12

1.1 Môi trường tự nhiên và xã hội của xã Hiền Kiệt

1.1.1 Khái quát về môi trường tự nhiên

Hiền Kiệt là một xã biên giới giáp với nước bạn Lào, nằm ở phía tây huyện Quan Hóa của tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm huyện 43km về phía tây Xã Hiền Kiệt có 4km đường biên giới và có cột mốc G10 giáp với huyện Viêng Xây, tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào Điều đáng chú ý là Hiền Kiệt còn nằm giáp với phía Nam của Tây Bắc Đây là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống,

đặc biệt là dân tộc Thái Điều này chi phối đến nguồn gốc và lịch sử cư trú của người Thái ở Thanh Hoá mà ta sẽ thấy được mối quan hệ tương đồng của dân tộc Thái ở miền tây Thanh Hóa và miền Tây Bắc của Trung du và miền núi phía bắc trong suốt quá trình của khóa luận

Có thể tóm tắt vị trí tiếp giáp của xã Hiền Kiệt như sau:

- Phía Bắc giáp xã Trung Thành, huyện Quan Hóa

- Phía Đông giáp xã Sơn Thuỷ, huyện Quan Hóa

- Phía Nam giáp xã Hiền Chung, huyện Quan Hóa

- Phía Tây giáp biên giới tỉnh Hủa Phăn của Lào

Xã Hiền Kiệt có tổng diện tích tự nhiên là 6310.97 ha, trong đó đất lâm-nghiệp là 6066.87 ha; đất phi nông nghiệp là 180.7 ha; đất chưa sử dụng là 52.23 ha.3

nông-Bảng thống kờ hiện trạng sử dụng đất đai ở Hiền Kiệt 4

Trang 13

6299,17

5993,7 110,25 195,22

6299,17

6066,87180,87 52,23

Về mặt địa hình, xã Hiền Kiệt nói riêng và huyện Quan Hóa nói chung đều

nằm trong khu vực bị chia cắt dữ dội, xung quanh là đồi núi cao bao bọc Khí hậu

ở Hiền Kiệt mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc (nhiệt đới ẩm, gió mùa,

mưa nhiều, mưa theo mùa) Một điều khác biệt của xã Hiền Kiệt so với các vùng

khác của Bắc trung bộ là mặc dù giáp Lào, nhưng ít chịu ảnh hưởng của gió nóng

Phơn tây nam (gió Lào) Có sự khác biệt đó là do xã Hiền Kiệt nằm ở vùng địa

hình tương đối cao, trung bình từ 800-1000m so với mặt nước biển; mặt khác, do

rừng ở đây có độ che phủ lớn nên khí hậu tương đối mát mẻ vào mùa hè

Sơ đồ mặt cắt địa hỡnh xó Hiền Kiệt

Trang 15

đã phát triển thì đất đó trở thành đất có chủ Chính vì vậy, tuỳ thuộc vào khả năng khai thác mà diện tích rừng của từng gia đình có sự chênh lệch Từ đó, dẫn đến chênh lệch mức sống và khả năng thu nhập

Xã Hiền Kiệt chỉ có duy nhất suối Khiết chảy qua, nó là nguồn nước tưới tiêu chính trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, vào mùa khô suối tương đối cạn; vào mùa mưa suối trở thành một con nước khổng lồ gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Suối Khiết bắt nguồn từ miền núi Tây bắc Việt Nam và một nhánh phụ từ Lào chảy qua huyện Quan Hóa, sau đó đổ ra sông Luồng rồi xuôi

về sông Mã

Như vậy, điều kiện tự nhiên của xã Hiền Kiệt mang đặc điểm chung của tự nhiên miền núi Bắc Trung Bộ Điều kiện tự nhiên đó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, đặc biệt là trồng rừng và khai thác lâm sản, bên cạnh đó, tự nhiên ở đây cũng chi phối mạnh mẽ đến sinh hoạt văn hóa hàng ngày của người Thái ở Hiền Kiệt

1.1.2 Môi trường x∙ hội

Tính đến quý II năm 2007, tổng số dân của xã Hiền Kiệt là 3770 người với

762 hộ gia đình Toàn xã có 7 bản, trong đó bản Chiềng là bản trung tâm của xã - nơi tập trung các đơn vị hành chính, trường học, chợ, cửa hàng, trạm y tế v.v… Trên địa bàn xã chỉ có hai dân tộc sinh sống là dân tộc Thái và dân tộc Kinh (đến muộn hơn) Người Thái chiếm 97.5 % dân số toàn xã, người Kinh chỉ chiếm 2.5

% (92 người)

Biểu đồ cơ cấu dõn số xó Hiền Kiệt

(đơn vị: %)

Trang 16

Người Kinh Người Thỏi

(Nguồn: Ban thống kờ xó Hiền Kiệt, 2007)

Những người Kinh đầu tiên đến xã Hiền Kiệt sớm nhất cách đây 15 năm

Họ thuộc diện KT3 đến đây để buôn bán, làm ăn rồi định cư luôn tại đây Trước

đây, Hiền Kiệt là một xã còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, cuộc sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, lao động dư thừa Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, chính quyền địa phương, đồng thời với việc người Kinh từ miền xuôi lên đây ngày một đông nên bộ mặt xã Hiền Kiệt đã có nhiều thay đổi đáng kể Người Kinh mở nhiều xưởng sản xuất, lấy nguồn nguyên liệu

từ nông-lâm nghiêp, đã tạo cơ hội việc làm và nguồn thu nhập cho người Thái ở

đây

Mặc dù người Kinh đóng vai trò rất lớn trong việc đẩy mạnh phát triển kinh

tế của xã, nhưng vai trò của người Thái vẫn là yếu tố quyết định Bởi lẽ, người Thái chiếm 97.5 % dân số toàn xã, cùng với đó, họ có lịch sử định cư từ lâu đời Theo một người cao tuổi trong xã đã kể lại thì người Thái có mặt ở Hiền Kiệt từ hàng nghìn năm trước Giáo sư Diệp Đình Hoa cũng cho rằng: “Người Thái đến

đất Nghệ Tĩnh còn cả trước thế kỷ 10”5, với địa bàn Thanh Hoá thì chắc chắn cũng sẽ như vậy Những người Thái đầu tiên đã mở mang, khai hoang nên Quan Hoá ngày nay, trong đó có xã Hiền Kiệt Toàn bộ người Thái ở Hiền Kiệt đều có

5 Diệp Đình Hoa: nhận xét khảo cổ-dân tộc học về người Thái Tạp chí Dân tộc học số 9 năm 1997

Trang 17

nguồn gốc từ Thái Lan di cư sang Đó là lời khẳng định của ông Lò Văn Hói – người Thái (63 tuổi) Trước đây, ông cũng là người có uy tín và chức sắc trong Mường Sở dĩ ông khẳng định như vậy vì ông nói rằng những thế hệ trước ông cũng khẳng đinh như thế Mặt khác, người Thái ở Hiền Kiệt – Quan Hóa mang lối sinh hoạt văn hóa, đặc biệt là tiếng nói rất giống với người Thái Lan Lời khẳng định này về cơ sở lý luận ta khó có thể tin tưởng được, đó cũng chỉ là một

ý kiến trong vô vàn ý kiến chưa đủ tính thuyết phục Sự thật về nguồn gốc của người Thái ở Hiền Kiệt cũng như ở huyện Quan Hóa được giải thích như sau:

Theo TS Trần Bình trong Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc thì tộc

người Thái đầu tiên là cư dân cổ của vùng Tây Nam Trung Quốc, từ đó họ thiên

di xuống phía Nam, tới Myanma, Thái Lan, Lào và miền Tây Bắc Việt Nam Còn

theo Lê Sỹ Giáo trong “Lần tìm cội nguồn lịch sử của người Thái Thanh hóa” 6, thì khẳng định rằng: con đường đi đến Ca Gia (Mường trung tâm của huyện Quan Hóa xưa), trong lịch sử của người Thái đã được thể hiện trong các áng mo đưa hồn người chết ,Chẳng hạn,khi kể đến đường đi ngày xưa của cây cỏ, súc vật từ trên trời xuống trần gian, các ông mo - những người chép và kể chuyện xưa đã kể

ra các địa danh ở Tây Bắc Việt Nam, ở Lào, Thanh Hóa:

“Đưa xuống núi Kẹo Pét

Đưa xuống nép Kẹo Piên

Xuống đến Mường Lữ trên Là

Xuống đất Lào đất rộng trời thấp

Xuống đến Mường Thanh dưới, Thanh trên

Xuống Mường Đói, Mường Đuôn

Xuống Mường Lằm, Mường Lèo

6

Trang 18

Xuống Mường Húng, Chiềng Khương

Xuống Mường ét, Chiềng Khọ

Xuống Xốp Hào, Xốp Xim

Đến Tén Tầm Mường Lát, Mường Lý, Mường Páng, Mường Lò, Mường Ca Gia”

Các tên đất tên Mường này đã phản ánh một cách rõ ràng rằng người Thái ở Mường Ca Gia đã từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào, đi dọc bờ sông Mã mà xuống vùng Quan Hóa Như vậy, đã có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Thái ở Hiền Kiệt cũng như ở huyện Quan Hóa Đây có lẽ là ý kiến thuyết phục nhất, vì nó nói lên đầy đủ thứ tự quá trình thiên di của người Thái từ Tây bắc Việt Nam xuống đến Quan Hóa, rồi đến Hiền Kiệt ngày nay

Dân tộc Thái được chia thành hai ngành Thái Trắng (Tày Khao) còn gọi là Tày Do, Tày Mười; Thái Đen (Tày Đăm) còn gọi là Tày Thanh, Tày Đeng rất phổ biến ở vùng Tây Bắc Việt Nam Sự phân chia như vậy có từ bao giờ vẫn chưa xác

định được một cách chính xác Đã có rất nhiều ý khác nhau về sự phân chia này,

có người giải thích gọi là Thái Trắng và Thái Đen dựa vào yếu tố màu da; có ý kiến khác lại cho rằng đó là sự khác nhau về trang phục, người phụ nữ Thái Trắng thích mặc áo màu trắng, phụ nữ Thái Đen thích mặc áo màu đen.v.v… Nguyên nhân của các cách giải thích như vậy đúng hay sai vẫn chưa được khẳng

định Sự phân chia Thái Trắng, Thái Đen có liên hệ đến việc phân chia về mặt lãnh thổ – tộc người giữa các cư dân Tạng – Miến và các cư dân Thái – Hán Cách giải thích này cho rằng các cư dân Tạng – Miến như người La Hủ, Hà Nhì trước đây gọi vùng đất của những người khác tộc như người lớn hơn mình Sống bên cạnh mình (người Thái, người Hán) là người Bên Trắng, còn vùng đất của họ

là Bên Đen Nhưng trong quá trình xáo trộn, sự cư trú đã có nhiều thành viên của

Trang 19

phía Bên Trắng, mà cụ thể là người Thái đã tràn sang sinh sống ở phần đất phía Bên Đen (các cư dân Tạng – Miến) Lúc đầu những người Thái thuộc Bên Trắng, chỉ gọi những người La Hủ và Hà Nhì là Bên Đen thì đến một lúc nào đó họ gọi luôn cả những người đồng tộc của mình đang sống bên phần đất của phía Bên

Đen là người Bên Đen Đến khi thói quen này đã được xác lập trong cộng đồng người Thái thì xuất hiện sự phân chia thành hai bộ phận Thái Trắng và Thái Đen

Đây là cách giải thích của tác giả Cầm Trọng trong cuốn “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” 7 Nếu như những cách giải thích khác chỉ nói lên những thói quen đã

được thừa nhận của người Thái, thì cách giải thích này có những yếu tố hợp lý hơn, phù hợp với nguồn gốc, các mối quan hệ với tộc người khác cũng như về phong tục tập quán của tộc người Thái

Ở Hiền Kiệt, người Thỏi thuộc nhúm Tỏy Đăm, đõy là nhúm phõn bố chủ yếu ở cỏc huyện Quan Hoỏ, Quan Sơn, Bỏ Thước v.v… Tuy nhiờn, ở miền nỳi Thanh Hoỏ núi chung và ở Hiền Kiệt núi riờng thỡ sự phõn biệt giữa cỏc nhúm Thỏi là khụng rừ ràng như ở vựng Tõy Bắc Ở miền nỳi Thanh Hoỏ họ phõn chia cỏc nhúm Thỏi thành cỏc đơn vị hành chớnh truyền thống mà người Thỏi gọi là cỏc Mường Mỗi huyện cú một Mường lớn, sau đú là cỏc Mường nhỏ phụ thuộc

Ở huyện Quan Hoỏ cú Mường Ca Gia là mường lớn - mường trung tõm, sau đú

là cỏc Mường chịu sự cai quản của Mường trung tõm như Mường Khiết Mường Khiết là tờn gọi trước đõy của người Thỏi trờn địa bàn xó Hiền Kiệt, bờn cạnh Mường Khiết cũn cú Mường Khằng (xó Thiờn Phỳ – Quang Hoỏ); Mường Tuồng (Nam Động – Quan Hoỏ); Mường Lý (Trung Lý – Quan Hoỏ); Mường Ánh (Phỳ Lệ - Quan Hoỏ)…

Bảng thống kờ danh mục cỏc Mường của huyện Quan Húa

7

Trang 20

TT Tên Mường Thuộc huyện Thuộc xã

Xuân

Xuân

Xuân

(Nguồn: Phòng văn hóa thông tin huyện Quan Hóa.)

Sự phân chia các Mường trên là đặc trưng của miền núi Tây Bắc Thanh Hoá Những Mường này còn tiến sâu vào vùng Nghệ An, Hà Tĩnh Người Thái ở Nghệ An bây giờ có nguồn gốc từ Thanh Hoá chuyển sang Đây là lời khẳng

Trang 21

định của một người cao tuổi ở Hiền Kiệt Lời khẳng định đó đi kèm theo một câu chuyện kể như sau: Từ xa xưa, khi Hiền Kiệt đang còn dưới sự cai quản của các

địa chủ (phìa, tạo), tất cả họ đầu là người Thái từ Thái Lan sang rồi tập hợp lại

thành các Mường Người dân Mường Khiết (Hiền Kiệt) chịu sự cai quản của một địa chủ người Thái họ Phạm Lúc đó, phần lớn ruộng nương đều thuộc về tay địa chủ, nhân dân trong Mường phải đi làm thuê, phụ thuộc vào địa chủ Bọn phìa, tạo mỗi lúc một ức hiếp dân nhiều hơn, chúng bắt nhân dân đi làm cho chúng mà không được ăn uống gì cả Lúc đó, ở suối Khiết có rất nhiều cá to nhưng phìa, tạo cũng giữ luôn, không cho người dân bắt cá Vì bị ức hiếp quá mức nên người dân đã họp nhau lại và tìm cách bỏ đi nơi khác kiếm sống Họ chặt luồng ở trong rừng làm thành các bè lớn để đi tìm vùng đất mới Bọn phìa, tạo tìm cách giữ lại nhưng không được Các bè cứ trôi vào đến vùng núi Nghệ

An Họ tập hợp nhau lại và thành lập các Mường ở đó Tuy nhiên vẫn còn số ít ở lại Hiền Kiệt cho đến tận bây giờ Đây là câu chuyện có thật xẩy ra ở Mường Khiết trước đây Người kể truyện cho rằng: Câu chuyện này ông được nghe các

cụ già kể truyện khi còn nhỏ Ông chỉ biết nó đã xảy ra đã lâu rồi nhưng ông không nhớ rõ chính xác từ năm nào Người kể còn khẳng định thêm khi còn trẻ ông có tham gia bộ đội, vào đến đất Nghệ An ông gặp người Thái ở đó rồi hỏi họ

từ đâu đến Những người Thái ở đây trả lời họ là người Thái từ Thanh Hoá đi tìm vùng đất mới

Câu chuyện trên không có ý muốn giải thích nguồn gốc của người Thái ở Nghệ An bây giờ Thông qua câu chuyện này, đề tài muốn khẳng định thêm: Người Thái ở Hiền Kiệt ngày nay có nguồn gốc từ xa xưa, cuộc sống sinh hoạt của họ đã gắn liền với rừng, đất, suối, nước nơi đây So với người Kinh mới

“chân ướt chân ráo” đến thì có thể khẳng định rằng người Thái là lớp cư dân bản

Trang 22

địa của xã Hiền Kiệt ngày nay, và văn hóa của họ cũng là một nền văn hóa mang đậm ảnh hưởng của miền núi Thanh Hoá

1.2 Khái quát về văn hóa truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt

1.2.1 Văn hóa mưu sinh

Trồng trọt

Do địa hình bị chia cắt dữ dội cộng với đồi núi cao nên ruộng trồng lúa của

người Thái là ruộng bậc thang (nà loọng) Ruộng bậc thang nơi đây không có độ

dốc lớn hay không nằm trên các đồi cao như vùng khác, mà chỉ thoai thoải với

độ nghiêng vừa phải, trải dài từ sát chân đồi xuống gần ngay địa bàn người dân sinh sống Ruộng bậc thang dùng để trồng lúa là chủ yếu Hai loại lúa được người dân trồng nhiều là lúa nếp và lúa tẻ Kỹ thuật trồng lúa truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt cũng giống như kỹ thuật của người Thái ở Tây Bắc Các khâu kỹ thuật liên hoàn bao gồm làm ruộng mạ, ngâm mạ (trước khi cấy) và khâu cày, bừa, trục, cấy, chăm sóc … (sau khi cấy) Khâu làm mạ được người

dân rất chú trọng, người Thái có câu tục ngữ đi cà chắng Pến na (tốt mạ mới tốt

lúa) Trong khâu cày, bừa, trục, thường cày hai lượt, bừa hai lượt, trục để tạo mặt bằng, làm cho đất nhuyễn mới cấy Trước đây, người Thái thường để trâu quần

ruộng (ôn na) rồi cấy Đây là hình thức canh tác rất nguyên thuỷ mà ngày nay

vẫn áp dụng đối với những nơi mặt bằng của thửa ruộng quá hẹp Gần đây người dân mới dùng đến cày, bừa Bên cạnh trồng lúa, người dân còn trồng những cây khác như: ngô, sắn và các cây bông, vừng, bầu, bí… Những cây này được trồng trên các ngọn đồi gần nơi người dân sinh sống

Cũng giống như dân tộc Thái ở các vùng khác, kỹ thuật thuỷ lợi truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt không mấy khác biệt Để đưa được nước từ

Trang 23

suối lên các khu ruộng bậc thang, người dân vẫn dùng guồng nước (lang loọc) để

tưới ruộng Ở mỗi đoạn suối gần ruộng, với các guồng nước được làm công phu

từ luồng, tre, nứa trong rừng, được đặt ở đó Có những chỗ thấy đến ba bốn cái lang loọc Các lang loọc này quay nhờ nước chảy và đổ nước vào các máng luồng dẫn tới ruộng, cứ như vậy từ khi gieo trồng cho tới lúc thu hoạch người dân không phải bận tân gì tới việc tưới tiêu cho ruộng lúa

Bên cạnh trồng lúa, người Thái ở Hiền Kiệt còn trồng các cây gỗ quý, cây thuốc và trồng chè Cây chè để phục vụ cho nhu cầu của người dân là chính, với

các loại chè như chè vối, chè luỹ (tấn ma) Chè luỹ được trồng trên đồi xen lẫn

với cây cao khác, nó là cây ưa bóng mát nên trồng chè luỹ không mất nhiều diện tích rừng mà cây vẫn xanh tốt Chè luỹ được trồng quanh năm, chỉ mất mấy tháng từ khi trồng đến khi thu hoạch Khi thu hoạch, người dân chỉ đi hái về vò nhàu bằng tay, sau đó phơi khô và nấu nước uống chè luỹ có hương vị thơm nhẹ nhàng và màu nước đỏ trông đẹp mắt Đó là thứ chè ngon và cũng là hương vị đặc trưng của rừng núi, của người Thái ở Hiền Kiệt nói riêng và cả huyện Quan Hoá của tỉnh Thanh Hoá nói chung

Chăn nuôi

Trong hoạt động kinh tế truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt, ngoài ruộng nước và trồng rừng còn có các hoạt động kinh tế khác như: Chăn nuôi, nghề phụ gia đình, làm vườn, hái lượm… cũng đóng vai trò đáng kể trong đời sống Tuy chưa tạo ra sản phẩm hàng hoá nhưng nó đã góp phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, cung cấp gia vị cho bữa ăn hàng ngày Từ xa xưa, người Thái đã biết nuôi gia súc và gia cầm với mục đích lấy sức kéo và làm vật cúng bái, tế lễ, hàng hoá Hầu như gia đình nào cũng nuôi trâu, bò, gà, vịt, một số bản trong xã nuôi dê đàn, bò đàn (thường là những nhà có thế lực hay con cháu của

Trang 24

các phìa, tạo) Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi của họ vẫn thể hiện tính chất nửa chăm sóc, nửa tự nhiên Trâu bò được chăn thả hoặc nuôi theo lối thả rông Các gia súc, gia cầm như lợn, gà là những vật không thể thiếu được trong các dịp cúng bái, cưới xin, tang ma, thăm hỏi, khi có khách họ chăn nuôi manh muốn, chỉ chú trọng về mặt số lượng chứ chưa biết cách chăn nuôi theo lối công nghiệp như về sau này

Nghề nuôi cá truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt không phổ biến, bởi

ở đây không có các ao hồ, ruộng sâu như những vùng khác Có thể nói cá là một món ăn xa xỉ chỉ có trong các gia đình địa chủ, hoặc những nhà giàu có Chính vì vậy nên người Thái ở Hiền Kiệt vẫn luôn thuộc lòng câu tục ngữ:

“Muốn giàu nuôi cá

Muốn khá trồng cây Muốn hay trồng người”

Nghề thủ công

Ở Hiền Kiệt, trong các nghề thủ công nghề dệt là nghề phát triển nhất, sản phẩm dệt gồm chăn, màn, đệm, gối, quần áo, túi đeo, khăn piêu… Để tạo ra các sản phẩm đó thì người dân phải trải qua rất nhiều công đoạn Như việc chọn đất, chọn mùa… Muốn cho đất tơi phải xới cỏ, sau đó bắt đầu gieo hạt Tuỳ theo độ phì của mảnh đất mà gieo hạt thưa hay dày Bông trồng sau ba tháng thì thu hoạch Các bà, các chị và các em gái (từ 10 tuổi trở lên) thường đi hái bông vào lúc sáng sớm Nếu hái bông vào buổi trưa thì bông bị giòn sẽ không đẹp Để làm được những chiếc váy, áo hay chiếc khăn piêu, thổ cẩm hoàn chỉnh thì người Thái còn phải trải qua rất nhiều công đoạn khác như: kéo sợi, nhuộm màu, rệt vải, cắt may, thêu.v.v… đó là những công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự

Trang 25

khéo léo, cần cù, chăm chỉ của người phụ nữ Thái.Vì những lý do đó mới tạo ra được những sản phẩm văn hoá truyêng thống độc đáo, tinh tế đã trở thành biểu tượng của dân tộc Thái Bên cạnh nghề rệt thủ công truyền thống, người Thái ở Hiền Kiệt còn có nhiều nghề khác như: đan lát, rèn, đúc,… Tuy nhiên, những nghề này ở Hiền Kiệt ít phát triển, thậm chí đã không còn tồn tại cho đến ngày nay (rèn, đúc) Trong số các nghề này, người Thái ở Hiền Kiệt đặc biệt chú trọng đến việc đan gùi Đây là vật dụng rất cần thiết và quan trọng đối với người Thái, đặc biệt là đối với phụ nữ.Việc đan gùi cũng trải qua nhiều khâu kĩ thuật, đòi hỏi

sự khéo léo của người đan Do phạm vi của đề tài không cho phép nên sinh viên xin được trình bày cụ thể kĩ thuật đan của người Thái ở Hiền Kiệt trong một dịp khác

Trao đổi mua bán

Có thể nói việc trao đổi mua bán của người Thái ở Hiền Kiệt trước đây rất ít phát triển Cả xã chỉ có một cái chợ duy nhất - chợ Hiền Kiệt Nói là chợ nhưng thực ra nó chỉ giống như một căn nhà bình thường hoặc lớn hơn chút Các sản phẩm được bày bán trong chợ là những đồ đa dạng bình thường trong gia đình như: Dao rựa, cày, cuốc, thúng mủng và các loạii thực phẩm khổ như: măng, mục nhĩ, hay chè, cao hơn nữa là các sản phẩm từ dệt như: khăn, váy, áo… Tuyệt đối không thấy bán chăn, đệm bởi nhà nào cũng tự làm ra - tự cung cấp là chính Chợ Hiền Kiệt trước đây họp theo phiên hàng ngày vào mỗi buổi sáng Chợ nằm giữa trung tâm xã nên việc đó lại mua bán của người dân có phần dễ dàng hơn Tuy vậy, người Thái ở Hiền Kiệt rất ít tham gia các hoạt động mua bán Họ chỉ đi chợ để mua những công cụ mà mình không thể làm ra, còn lại là

tự cấp, tự túc

Khai thác, chế biến lâm sản

Trang 26

Nhờ có thiên nhiên ưu đãi, cộng với nhu cầu bổ sung vào các sinh hoạt đời sống hàng ngày, nhất là về ăn uống, dân tộc Thái ở Hiền Kiệt coi việc hái lượm, săn bắt là một trong những phương thức kiếm ăn quan trọng và cần thiết, tuy còn mang tính chất tự nhiên (còn gọi là phương thức chiếm đoạt của cải có sẵn trong

tự nhiên), nhưng trong thực tế lại có hiệu quả cao, chiếm vị trí quan trọng

Lịch hái lượm của người Thái ở xã Hiền Kiệt

Trang 27

mình”8 Trong nền kinh tế ấy, trồng trọt và trồng rừng là những hoạt động kinh tế chủ đạo Mọi hoạt động kinh tế khác như: chăn nuôi, thủ công gia đình, hái lượm, săn bắn, buôn bán.v.v… chỉ mang tính hỗ trợ và chưa tách ra khỏi nông nghiệp trồng trọt

1.2.2 Văn hóa vật chất

Nhà ở

Người Thái ở Hiền Kiệt xưa nay vẫn ở nhà sàn, loại nhà có 4 mái phẳng là đặc trưng của họ - Thái trắng Khác với nhà sàn có mái khum hình mai rùa, có khau cút ở hai đầu hồi của người Thái Đen

Ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt cũng giống như nhà sàn của người Thái trắng ở vùng Tây Bắc Loại hình nửa sàn, nửa đất chỉ còn thấy ở một số nơi mà thường chỉ dựng tạm thời trước khi dựng ngôi nhà sàn to, đẹp nó chỉ gọi là nhà tạm (hươn tạm hay hương tụp) Nguyên vật liệu để làm nhà

gồm: Gỗ, tre, luồng, nứa, song, mây và lá kè (pó hiềng) hay lá cọ (pơ cọ) Những

sản phẩm này người dân có thể tự túc được trong rừng chứ không phải đi xin, mua hay mượn của người khác Để có một ngôi nhà khang trang, phải có thời gian chuẩn bị nguyên vật liệu như cột, kèo, xà dọc, ngang, đòn tay, đòn móc, rui, mè… Trước khi có ý định làm nhà phải chuẩn bị những thứ này trước hàng năm trời Nhà của người Thái ở Hiền Kiệt thường là kết cấu vì cột chứ không vì kèo Sau khi dựng xong bộ khung cột với qúa giang và gầm sàn người ta mới lắp kèo (những kết cấu thuộc phần trên của nhà) vào đầu cột để buộc đòn tay làm mái Chính vì vậy, gỗ làm nhà là các loại gỗ tốt, có lõi chắc, không mối mọt và chịu được ẩm (lim, táu,nghiến v.v…) để khi chôn xuống đất không bị ảnh hưởng đến tuổi thọ của nhà

8 Vi Văn Biên: Văn hóa vật chất của người Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An – NXB Văn hóa Dân tộc Hà Nội -

Trang 28

Một điều khá đặc biệt là loại nhà mái phẳng của người Thái thường có số gian lẻ Không những thế, số đòn tay của bậc thang lên xuống, số lượng cửa chính, cửa sổ và cả thanh chắn cửa sổ … đều phải là số lẻ Người Thái coi số lẻ

là số phát triển, cần đựơc thêm vào Thông thường loại nhà mái phẳng này thường mở cửa sổ ở tất cả các gian Hầu hết các ngôi nhà đều đặt hai cầu thang ở

hai đầu hồi, bên quản dành cho nam giới và khách còn cầu thang bên chan (sàn

phơi) dành cho gia đình và phụ nữ Loại nhà này thường có hàng lan can chạy suốt chiều dọc ngôi nhà, có nhà lan can cả phía đầu hồi bên quản (gian khách)

Trang phục

Một trong những yếu tố quan trọng làm toát lên vẻ đẹp khỏe khoắn, dịu dàng của người phụ nữ Thái là trang phục Trang phục của họ rất đa rạng và phong phú Đối với người Thái ở Hiền Kiệt cũng vậy Nguyên liệu để tạo nên trang phục chủ yếu từ vải bông và tơ tằm Cây bông đã xuất hiện và có lịch sử lâu đời trong đời sống cư dân Có thể nói người Thái là một trong số các dân tộc biết dệt vải sớm và sản phẩm từ dệt đã đạt những tiến bộ về mặt kỹ thuật, mỹ thuật khá tinh xảo Nghề dệt đã gắn liền với người phụ nữ với đôi bàn tay khéo léo, tài hoa, đức tính cần cù, chịu khó, sản phẩm thêu dệt cũng là một tiêu chí đánh giá về vẻ đẹp của người phụ nữ Để có được những bộ y phục đẹp, những tấm thổ cẩm nổi tiếng và những tấm chăm đệm mang sắc màu trang trọng là cả một quá trình lao động miệt mài, nhẫn nại

Như đã nói ở trên, cây bông là nguyên liệu chính cho việc dệt các bộ y

phục Cây bông tiếng Thái gọi là co phái, để có được những sợi chỉ dệt hoàn

chỉnh người dân đã phải qua rất nhiều công đoạn: từ việc chọn đất, chọn thời gian, reo hạt bông, rồi chăm bón, thu hoạch, kế đó là chế biến bông thành sợi.v.v Đây là cả một quá trình chăm chỉ miệt mài mới có được những sợi

Trang 29

bông Sau khi đã có sợi bông, người dân giàu kinh nghiệm tiếp tục việc nhuộm màu, sau đó mới đến các khâu rệt vải, thêu thùa và cắt may… Từ những công đoạn như vậy mới tạo ra được các y phục đẹp mắt thích hợp với từng hoàn cảnh thời tiết và xã hội

Ẩm thực

Đến với người Thái ở Hiền Kiệt là đến với những món ăn khó quên lòng người Các món ăn được chế biến từ lương thực, thực phẩm đa dạng, phong phú Các loại đồ ăn chế biến từ lương thực như từ gạo (gạo nếp, gạo tẻ), từ ngô, sắn và từ các loại kê, hỗn hợp khác, dù đều là sản phẩm từ nông nghiệp, nhưng

nó vẫn mang hương vị khác nhau – hương vị của đất, nước, núi, rừng, người Thái ở miền tây Thanh Hoá

Người Thái ở Hiền Kiệt cũng như ở miền núi Thanh Hoá nổi tiếng với các

món ăn từ cá như: gỏi cá (cỏi pa), lạp cá (lap pa), mọc cá (chúc moók pa)… Đặc biệt là 2 món cá ướp chua (pa sộm) và cá sấy (pa dảng) Đây là hai thứ trở thành

lễ vật không thể thiếu được trong đám cưới của người Thái

Nhà trai phải chuẩn bị các thức ăn này trước khi cưới bằng tháng trời và phải lo đủ cho bà con, chú bác, nội ngoại nhà gái mỗi một cặp gồm một ống cá

chua, một đôi cá sấy để trong những cái giỏ và ống tre trang trí đẹp (bọng hắp)

Ngoài những món ăn trên còn có các loại cá đồ và cá vùi treo bếp, cá lam… Bên cạnh đó người Thái ở Hiền Kiệt còn có thêm các món: thịt lợn, thịt trâu, thịt bò, dê hay thú rừng như chim, sóc, gà rừng, hưu, nai, hẵng, cầy … cũng là những món ăn truyền thống của họ

Đồ uống truyền thống chỉ có 2 loại: Rượu và chè Rượu gồm có rượu trắng

tự cất và rượu cần Cả hai thứ rượu này đều có mặt trong các buổi tiếp khách,

Trang 30

trong cúng lễ hay đám ma, đám cưới của người Thái ở Hiền Kiệt Bên cạnh rượu, chè cũng là món được người Thái ưa thích và sử dụng hàng ngày Chè có

hai loại chè luỹ (tấn ma) và chè vối Các loại chè này cũng do người Thái tự

trồng được

Công cụ lao động và phương tiện vận chuyển

Các công cụ chủ yếu được dùng trong lao động như: dao, rìu, cày, bừa, há, gùi v.v…

Về phương tiện vận chuyển, đối với người Thái ở Hiền Kiệt, phương tiện vận chuyển chủ yếu của họ là mang gùi hoặc dùng sức kéo của trâu, bò Hiền Kiệt không có phương tiện vận chuyển dưới nước bởi ở đây không có phương tiện vận chuyển dưới nước bởi ở đây không có sông, chỉ có con suối Khiết nhưng chỉ nhiều nước khi mưa, bão, sau đó nước lại rút đi nhanh chóng để lại lòng suối cạn với lượng nước chảy chỉ vừa đủ cho việc tưới tiêu

1.2.3 Văn hoá tinh thần

Người Thái thuộc hệ ngôn ngữ Thái – Kađai, ngoài ra còn có các dân tộc Tày, Nùng, Giáy … cũng sử dụng ngôn ngữ này Ở Hiền Kiệt, người Thái cũng dùng ngôn ngữ nói trên, song có khác đôi chút về ngữ điệu và cách phát âm ngôn ngữ cũng mang tính vùng lãnh thổ Tuy vậy, tiếng Thái vẫn là thứ tiếng phổ biến trong các dân tộc ít người ở Việt Nam, đặc biệt là ở phía Bắc và vùng núi Bắc Trung Bộ Những người nói tiếng Thái có thể giao tiếp được với nhiều dân tộc anh em như: Tày, Nùng ở Lào Cai, Yên Bái, rồi cả người Mãn Thanh nói chung

… Ngày nay tiếng Thái vẫn được dùng chủ yếu trong giao tiếp nội tộc ở Hiền Kiệt

Trang 31

Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viết

từ lâu đời Tuy chưa được xác định cụ thể thời điểm xuất hiện của chữ Thái nhưng, hàng ngàn năm nay các nhóm Thái ở nước ta đã sử dụng con chữ riêng của mình Tuy nhiên, ở Hiền Kiệt ngày nay chữ Thái rất ít phổ biến, nó gần như

bị thất truyền, cả bản, cả xã chỉ có được vài người còn viết được chữ Thái, những người này phần lớn lại là người đã cao tuổi Nếu ta không có những hoạt động tích cực nhằm lưu giữ lại chữ Thái ở Hiền Kiệt thì trong tương lai nó sẽ không còn nữa, thay thế vào đó là tiếng nói và chữ viết của người Kinh – dân tộc chiếm

ưu thế hơn và ảnh hưởng đến các dân tộc khác trên một địa bàn lãnh thổ - Việt Nam

Về tín ngưỡng tôn giáo, người Thái ở Hiền Kiệt cũng cùng chung quan niệm với người Thái ở những vùng khác Họ quan niệm “vạn vật hữu linh”, nên

họ luôn tin vào các thế lực thần linh xung quanh mình Chính vì vậy mà nhiều lễ hội đã xuất hiện nhằm cầu mong sự phù hộ độ trì của các đấng sinh linh cho mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh cầu xin, loại trừ các sức sống có thể làm hại mình Đó là những tín ngưỡng dân gian nhằm thoả mãn những khát khao của con người trước thiên nhiên chứ nó không phải là thứ tôn giáo tiêu cực, độc hại Trên thực tế người Thái ở Hiền Kiệt không theo tôn giáo, trước đây khi miền đất này đang là vùng cai trị của thực dân Pháp, đã xuất hiện các “giáo sĩ nằm vùng”, song người dân ở đây vẫn một mực tin theo Đảng và không làm sai những chính sách tiến bộ của Đảng và Nhà nước

Ở Hiền Kiệt, trước đây người Thái còn giữ được các lễ hội truyền thống tiêu biểu, trong đó lễ hội tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất Mỗi năm hết, mùa xuân

về, người Thái lại tổ chức lễ, hội đón năm mới Tuỳ khả năng từng gia đình mà

tổ chức ăn tết to nhỏ khác nhau, Nhưng, tất cả mọi nhà đều chung một mục đích

Trang 32

là tiễn năm cũ đi và đón năm mới tốt đẹp tới Ngoài tết Nguyên Đán, người Thái

ở đây còn tổ chức nhiều lễ hội đặc sắc thích hợp với từng mùa trong năm

Không giống với dân tộc Thái ở Tây Bắc, có điệu múa xoè truyền thống nổi

tiếng, người Thái ở Hiền Kiệt lại chuộng thể loại khắp, đây là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, khắp có thể sử dụng rộng rãi tuỳ từng hoàn cảnh biểu diễn tuỳ từng hoàn cảnh biểu diễn mà khắp có thể được sáng tác theo cho phù hợp Khi

biểu diễn có thể đệm thêm đàn Ở Hiền Kiệt còn có các thể loại khác như truyện

(lang truyện) và thơ Cả hai thể loại này đều do người Thái sáng tác và biểu diễn

trong các dịp lễ hội

Người Thái ở Hiền Kiệt có những kiến thức rất phong phú về chữa bệnh và đoán số mệnh Ví như dùng áo của người bệnh để đoán bệnh, dùng trứng, dùng chân gà và đặc biệt là dùng cằm dưới của con gà Đây là cách làm rất thông dụng

và hiệu quả đối với người dân Cách dùng cằm của con gà đoán những sự việc xắp xảy ra rất đơn giản Người cần đoán chỉ việc dùng con gà nhà mình, vẫn làm thịt gà như bình thường sau đó luộc gà lên, khi gà đã chín, thầy bói hoặc những người khác biết cách làm chỉ việc nhổ cái mỏ cằm dưới của con gà lên nhìn Ở sát hai đầu trên của cằm dưới gà là một lớp sừng mỏng, nó thường trắng, hễ con

gà của nhà ai đó khi rút cằm dưới ra quan sát, nếu nhìn thấy lớp sừng mỏng đó

có màu thâm hoặc những màu khác (không phải là màu trắng) thì nhà đó tất yếu

sẽ gặp chuyện chẳng lành, dù biết trước vẫn không thể tránh khỏi, có khi còn dẫn đến tử nạn, hay đau ốm đau bệnh tật đột ngột cho gia đình đó Đây chỉ là một trong nhiều cách mà người Thái dùng để đoán số mệnh – những chuyện sắp sảy

ra trong tương lai gần – xin nhắc lại, đây là cách rất hiệu nghiệm và thường đúng như lời dự đoán thể hiện trên cằm dưới của con gà Hầu hết người Thái ở Hiền Kiệt đều khẳng định và tin vào điều đó

Trang 33

1.3 Những đặc điểm cơ bản trong văn hóa xã hội truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt

các địa chủ (phìa, tạo), sau đó là các thấu ké giúp việc cho phìa, tạo, tiếp đến là

hội đồng già làng, các thầy mo và trưởng của các dòng họ

Mường là tổ chức kinh tế xã hội mang những nét đặc trưng của xã hội truyền thống người Thái ở Quan Hóa, Thanh Hóa Tất cả mọi chức danh từ bản đến mường đều được tổ chức cấp chính quyền phân cấp ruộng đất gọi chung là

“ruộng bớt” (na bớt hay na bớt na cam) và cũng thường gọi chung là “ruộng chức” (na chức), phân làm ba loại

- Phân cấp ruộng đồng thời phân cấp số lao động tính theo đơn vị bản để trực tiếp làm ruộng Theo quan niệm truyền thống, đó là cách biến chức dịch

thành những ông chủ chỉ chuyên là công bản việc mường (vịak bản can mương),

không phải chịu cảnh “chân lấm tay bùn” nơi đồng áng Bắt lao động theo lệ

mường như thế tiếng Thái gọi là làm cuông làm nhốc Những chức từ bốn ông đứng đầu xổng, ông mo mường đến an nha thì thuộc diện cấp phát này Làm cuông làm nhốc không đơn thuần chỉ làm ruộng mà còn phải cắt phiên phục vụ

tạp dịch như tôi đòi cho chủ

Trang 34

-Những chức dịch dưới bốn ông đứng đầu xổng và ông mo mường xuống đến ông chá bản thì được cấp ruộng tốt, việc cày cấy thì tự lo liệu Những gia

đình thuộc họ hàng gần gũi nhất hoặc những chức sắc là quý tộc bin mất quyền

(tạo tốc mương) cũng được cấp suất ruộng Riêng những gia đình quý tộc bị mất chức cũng có thể được phân bản để làm cuông, hốc

Bản là đơn vị cư dân có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp cộng đồng xã hội mang mầu sắc văn hóa dân tộc Đây là đơn vị quản lý ruộng đồng, cũng là đơn vị quản lý kinh tế - xã hội dưới cấp mường Cấp bản trong xã hội truyền thống của

Người Thái ở Hiền Kiệt gồm có hai người Người đứng đầu cao nhất gọi là quan bản (nếu là người thuộc các dòng họ bình dân) và tạo bản (nếu là người thuộc các họ quý tộc) Dưới cấp quan bản có một chức giúp việc gọi là chá bả

Đại bộ phận nông dân là người Thái sống ở các bản kể cả bản chiềng (bản

trung tâm của mường), đều được phân suất “ruộng toàn mường” để mưu sinh

Họ có nghĩa vụ phải đi làm cái gọi là “việc mường” như đi lính, làm thuỷ lợi (mương, phai, lái, lin), vận chuyển hàng hóa, làm đường, làm ruộng chung của

mường (há nả hây hang mương)… Tiếng Thái gọi lớp nông dân này là “ông gánh bà vác” (po háp me bék) Những ai không thực hiện nghĩa vụ “việc mường”

thì cũng không được bản cấp phát ruộng để cày cấy

Như vậy bản mường của xã hội Thái cổ truyền không những phân chia đẳng cấp mà sự phân chia đẳng cấp lại được lồng ghép thành giai cấp Đẳng cấp

và giai cấp phong kiến là lớp người thuộc các dòng họ quý tộc và các chức dịch cấp cao Ở đây ta thấy đẳng cấp thì ổn định, đó là quý tộc và bình dân, còn giai cấp thì không ổn định vì người nào muốn có đặc quyền đặc lợi tức trở thành Thành phần giai cấp phong kiến phải tham gia chức dịch Không có hoặc mất chức dịch thì chỉ có quý tộc và bình dân Thể chế và quy cách cơ cấu xã hội này

Trang 35

đã được đúc kết thành câu tục ngữ: “cởi áo làm quan, thay áo làm dân” (kẻ sửa dệt pay, tháy sửa dệt pay) là vậy

1.3.2 Dòng họ

Người Thái ở Hiền Kiệt vốn có ba quan hệ về họ hàng là: ải noọng, lúng ta

và nhính xao Trong ba quan hệ đó quan hệ nào cũng quan trọng, nhưng quan hệ dòng họ được người Thái chú trọng nhất là quan hệ với lúng ta Đây là quan hệ

với bên ngoại (đã nói ở trên)

Nghi thức cúng tế, kiêng kị và thờ tự trong dòng họ của người Thái ở Hiền Kiệt có nhiều điều rất đặc biệt Trong quan niệm truyền thống của mình, người Thái quan niệm việc cúng tế phải có sự đóng góp chung sức của tất cả các thành viên và các gia đình trong họ Qua việc cúng tế đó thì mối quan hệ giữa các thành viên trong dòng họ được củng cố và ý thức đồng tộc được hình thành và bồi đắp Giống như người Thái ở các vùng khác, vật lễ cúng tế ở đây cũng có thịt vịt, đây là thực phẩm chủ đạo trong nghi lễ của dòng họ Người Thái xưa quan niệm thịt vịt là món lễ vật không thể thiếu với thần linh, tổ tiên Thái Nó là con vật tụ họp được mọi sinh khí của đất trời, nhàn hạ và yên ả Với lễ vật này mang

ra cúng mọi người sẽ có được sự bình yên, nhàn hạ trong cuộc sống

Dòng họ truyền thống của người Thái quy định cứ mỗi năm hết tết đến,

anh em trong họ xính đều tập trung đến nhà thờ chung ông tổ của họ tại nhà ông

trưởng họ Sau đó, mỗi gia đình trong từng nóc nhà mới tiến hành cúng riêng bàn thờ nhà mình Trường hợp không đến cúng chung ở nhà trưởng họ thì các bậc đàn em phải chờ cho nhà trưởng họ cúng trước thì họ mới được cúng ở nhà mình Cúng họ là dịp để người Thái tưởng nhớ đến tổ tiên, gặp gỡ thành viên trong dòng họ, trao đổi cho nhau những kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống Nếu trong dòng họ có người nào được khen hay những người gặp vấn đề gì

Trang 36

bị trừng phạt thì đây là dịp để tiến hành Người Thái thờ tự và tổ chức cúng họ khá linh đình và bài bản Trưởng bản là người chịu trách nhiệm chính và tổ chức mọi hoạt động và nghi thức cúng lễ, những người khác trong các gia đình ai cũng phải có mặt để giúp việc họ và thực hiện các nghi lễ do dòng họ quy định

Một số dòng họ Thái thực hiện tín ngưỡng tô tem giáo, họ kiêng ăn những loài vật tổ của mình Ví dụ: họ Lương không ăn thịt hổ, họ Hà thờ Bìm Bịp Tín ngường tô tem giáo ăn sâu vào tâm thức của đồng bào, nó là một nét văn hóa độc đáo của người Thái để phân biệt với các tộc người khác

1.3.3 Gia đình

Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên

cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ mối quan hệ hôn nhân đó

Gia đình truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt là loại gia đình phụ quyền mà ông bố hay con trai trưởng có vai trò quan trọng Cơ cấu loại hình gia đình này thường có từ hai đến ba thế hệ cùng chung sống Đó là thế hệ ông bà, cha mẹ và con cái Nhiều khi có thế hệ thứ tư là các cháu của họ

Trong gia đình truyền thống của người Thái, con cái sau khi lấy vợ có thể ở chung với bố mẹ cho đến khi đủ khả năng tự lập mới dọn ra ở riêng Điều này giúo cho cha mẹ có thể trực tiếp và tyường xuyên hướng dẫn cũng như dăn dạy con cái những nguyên tắc, luật lệ của gia đình cũng như những kinh nghiệm trong cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống vợ chồng con cái mà đôi vợ chồng trẻ mới cưới về còn bỡ ngỡ, thiếu kinh nghiệm Gia đình truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt là thể gia đình phụ quyền, nhưng mọi thành viên trong gia đình vẫn sống hòa thuận với nhau Đặc biệt trong những gia đinh lớn, chú bác đều coi các cháu như con đẻ Thậm chí, nếu ai hiếm muộn về con cái có thể lấy con anh hoặc

Trang 37

em trai làm con nuôi Tât nhiên nếu cha chết, các chú, bác được coi như cha đẻ

Tục ngữ Thái có câu po nhắng ao pên pai, po tai ao pên cốc (bố còn sống chú là

ngọn, bố mất chú là gốc)

Quan hệ trong gia đình truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt rất rộng và

đa dạng về thành phần Bao gồm các mối quan hệ như: quan hệ ải noong (quan

hệ anh em trắc hệ) Đây là quan hệ bao gồm các anh em ruột; Quan hệ ải noong huôm pau pú (là quan hệ gồm những anh em chung cụ kỵ) Trong thực tế đây là

quan hệ gồm nhiều nóc nhà anh em, chú bác cùng chung huyết tộc mà người

Thái gọi là anh em đầu trắng ải noong hua đón (nghĩa là cùng chịu tang như

nhau đều chia đôi khăn trắng) kể cả các cô gái chưa chồng; Quan hệ thứ ba vượt

ra khỏi phạm vi gia đình là quan hệ làng xóm, nhưng theo người Thái vẫn là anh

em thân thiết ải noong huôm mú (anh em chung đàn) Trong thực tế tất cả mọi

người trong một bản Thái xưa kia không có quan hệ này cũng không có mối ràng buộc khác, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau và đều được coi là anh em trong một

cộng đồng; Quan hệ nhính xao (là quan hệ bên nhà chồng chị em gái) Tiếng Thái gọi là pủ da (ông bà nội của chị, em gái khi đã có chồng) Theo luật tục, nếu các chị, em gái nhà mình đã là con, cháu dâu bên pủ da như thế rồi thì các anh, em trai của các chị này không được kêt hôn với các chị em gái bên pủ da

nữa; Một trong những quan hệ đáng lưu ý trong gia đình người Thái là quan hệ

lúng ta (quan hệ với nhà vợ của các anh em trai) Quan hệ này lại dược chia thành các bậc nhỏ như lúng ta của ông, lúng ta của bố, lúng ta của các anh, em trai Trong luật tục Thái quan hệ lúng ta là quan hệ quan trọng nhất Anh em bên

vợ (ngoại) có vai trò rất lớn và mang tính chất quyết định đối với nhiều sinh hoạt hàng ngày Ví dụ: làm nhà phải do bên ngoại chọn cột thờ, khi lên nhà mới phải

do bên ngoại nhóm bếp đầu tiên, khi các cháu đến tuổi kết hôn thì lúng ta là

Trang 38

người quyết định cao nhất Chính vì có vai trò quan trọng như vậy nên trong văn

hóa ứng xử của người Thái, mỗi khi lúng ta đến nhà chơi thì chủ nhà phải tìm

mọi cách để giết gà đãi khách, cho dù đó là con gà đang ấp trứng

Theo phong tục, trong trường hợp nhà đông anh em, người anh cả thường

nhận em út làm con nuôi gọi là con voong Vì họ lo bố mẹ già không lo cho con

út được, anh cả phải gánh trách nhiệm thay bố mẹ già Ngoài ra, các cháu trong

nhà thường gọi bà nội là ý pà (mẹ bà) Coi bà là mẹ vì chính bà mới là người trực

tiếp chưm só, nuôi dưỡng các cháu từ tấm bé Đây cũng là một trong những nét văn hóa đáng quý trong gia đình truyền thống của người Thái ở Hiền Kiệt, làm cho tình cảm của mẹ con, bà cháu gắn bó và yêu thương nhau hơn

1.3.4 Hôn nhân

Trước kia, nam nữ thanh niên dân tộc Thái 15 – 16 tuổi đã lấy nhau Dân tộc Thái không ép buộc con cái phải lấy chồng hay lấy vợ theo ý muốn của bố

mẹ, họ để con cái tự do tìm hiểu Nếu hai bên nam nữ hợp nhau, người con trai

lúc đó mới nói với cha mẹ để tiến tới hôn nhân Đám cưới (đong) diễn ra tuỳ

thuộc vào điều kiện kinh tế gia đình Ở những gia đình có điều kiện thì tổ chức đám cưới linh đình và dài ngày hơn; còn những gia đình còn khó khăn thì chỉ cố gắng thực hiện các thủ tục cần thiết tối thiểu Ở những gia đình này đám cưới thường diễn ra nhanh gọn và ít tốn kém

Tuy nhiên, dù nhà giàu hay nghèo, để cho đôi nam nữ thành vợ thành chồng thì theo tục lệ cổ truyền của người Thái ở Hiền Kiệt, phải thực hiện đầy đủ các bước như sau:

- Lễ chạm ngõ: (pay tham pợ) Sau khi trai gái tự do tìm hiểu và đã “phải”

lòng nhau thì lúc đó ông hay bà mối cùng với gia đình và chàng trai đưa lễ vật

Trang 39

đến với mục đích là đánh tiếng Lễ vật cho lần này thường chỉ đơn giản, quan

trọng là do khả năng của người làm mối và do sự ưng thuận của nhà gái

- Lễ ăn hỏi: (pay dạm pợ), (đi hỏi vợ) Có thể nói đây mới là bước chính

thức quan hệ đầu tiên với đầy đủ tính chất của lễ Ông bà mối dẫn đầu cùng một

số chàng trai đi giúp việc và các lễ vật đã thoả thuận trước giữa ông mối và nhà gái Tổ chức lễ này to nhỏ là tuỳ thuộc khả năng, điều kiện nhà trai và yêu cầu của nhà gái, nhưng phải tuân theo phong tục truyền thống Một tục lệ bắt buộc của lễ này, ngoài các lễ vật nhà trai mang sang nhà gái như lợn, gạo, rượu… nhà trai còn phải tặng cô dâu tương lai một đôi vòng bạc trắng gọi là đánh dấu cho

con dâu (mai pợ) Có trường hợp còn phải tặng mẹ cô gái cũng một đôi vòng bạc

như thế Ngoài ra nhà trai còn phải tặng nhà gái một số tiền mặt (ít nhiều do nhà gái quy định)

Nếu ở rể thì sau lễ này chàng trai sẽ mang đồ đạc, tư trang của mình sang nhà gái ở rể từ 3 – 11 năm (cũng do nhà gái quy định) Theo tục lệ, lúc này chàng trai (mặc dù đã ăn hỏi, cũng có trường hợp chỉ mới làm lễ chạm ngõ) vẫn

bị coi là khách nên phải ngủ riêng bên quản – nơi dành cho khách nam Nếu trong thời gian ở rể mà chàng trai có điều gì khiến nhà gái không vừa long thì có thể bị đuổi về “không kèn không trống” Chính vì vậy mà thời gian ở rể được coi

là thời gian thử thách mọi mặt đối với chàng rể tương lai Có thể nói chàng trai phải sống, làm việc, ứng xử như là một người khách, vừa là một người ở tại nhà

vợ tương lai của mình Hết thời gian ở rể mới được tổ chức lễ cưới

- Lễ cưới (xú phạ), đây là lễ liên hoan mừng đôi tân hôn Đối với người

Thái ở Hiền Kiệt, lễ này do nhà trai chủ động tổ chức theo phong tục truyền thống, trong khi đó nhà gái chỉ đề ra yêu cầu và ngồi chờ ăn chứ không làm gì

cả Dẫn đầu lễ cưới là ông bà mối cùng chàng rể và các bạn trai “báo xứ”

Trang 40

(khoảng 10 – 15 người) mang lễ vật sanh nhà gái và nấu nướng mời nhà gái ăn

uống Đoàn báo xứ này phải phục vụ nhà gái hết mình sao cho nhà gái (từ bé đến

lớn) không chê trách được điều gì Trong các lễ vật do nhà trai mang sang, dù có

thiếu thứ gì cũng không được thiếu “bẳng hắp” Đây là những đôi giỏ tre hay giang đan đẹp đựng cá sấy “pa dảng” và những ống tre tươi đựng cá hay thịt ướp

chua từ trước hàng tháng Số lượng lễ vật này sẽ tuỳ thuộc vào số lượng cô, dì, chú, bác bên nhà gái, mỗi người được tặng một đôi (một giỏ cá sấy gồm hai con

và ống thịt chua) Đáp lại, các cô dì, chú bác này sẽ tặng một số lễ vật như vải, gối, chăn hay tiền theo khả năng của họ

Theo phong tục truyền thống của ngưới Thái ở Hiền Kiệt thì bố mẹ cô dâu không được tiễn con gái Đến nhà trai thì lúc đầu bố mẹ chồng lúc đầu phải đi trốn không được giáo mặt với cô dâu Thay mặt ông bà, chị gái hay bậc đàn em chàng rể sẽ đứng ở chân cầu thang (có người ở trên đầu cầu thang) cùng một thau nước lã để để dội nước rửa chân cho cô dâu trước khi bước vào nhà Hôm

sau nhà trai tổ chức ăn bữa “ngai hua” (bữa ăn thịt thủ lợn) Bữa này chàng trai

sẽ mời một số bà con, chú bác gần gũi, đặc biệt là sẽ thết đãi các chàng trai “báo xứ” một bữa thật trang trọng Đến ngày thứ bas au ngày cưới, đôi vợ chồng mới

sẽ xắm một đôi gà, vài chai rượu, gạo và bánh kẹo trở lại thăm nhà gái, gọi là lễ

“tảo hói tin” (quay dấu chân) hay còn gọi là lễ lại mặt (theo tiếng gọi của người

Kinh) Cùng đi với họ có thể là ông, bà mối cũng có thể là chú bác nhà trai dẫn đầu Sau lễ lại mặt này mới được coi là đã hoàn tất một đám cưới cổ truyền của người Thái ở Hiền Kiệt

1.3.5 Tang ma

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w