Qua những thăng trầm của lịch sử, cùng sự biến đổi của thiên nhiên, Hưng Yên vẫn còn lưu giữ một quần thể di tích, kiến trúc, nghệ thuật với nhiều loại hình phong phú, đa dạng mang tầm c
Trang 1BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Khoa Văn hóa Du lịch
LÀNG ĐẠI ĐỒNG ( NÔM ) – VƠI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Thị Quỳnh Trang Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Duyên
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khoá luận này, ngoài vốn hiểu biết thực tế và sự nỗ lực của bản thân, tôi đã áp dụng những kiến thức được truyền đạt bởi các thầy cô trong khoa Văn hoá Du lịch Đặc biêt, tôi đã nhận được sự chỉ dẫn tận tình và chu đáo của thạc sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Trang, giảng viên hướng dẫn khoa học
Trong quá trình khảo sát thực tế, tôi cũng đã được Viện nghiên cứu và phát triển Du lịch, Sở Văn hoá – Thể Thao – Du Lịch Hưng Yên, chính quyền xã Đại Đồng, chính quyền và người dân thôn Đại Đồng (Nôm) tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành bài khoá luận này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các quý cơ quan vì sự giúp đỡ trên
Mặc dù tôi đã hết sức cố gắng hoàn thành tốt nhất bài khoá luận này nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô và các bạn có ý kiến đóng góp để bài khoá luận của tôi được hoàn thành tốt hơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Ngô Thị Duyên
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 4
2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ LÀNG ĐẠI ĐỒNG (NÔM) 7
1.1.Khái quát về du lịch văn hoá tỉnh Hưng Yên 7
1.1.1.Giới thiệu khái quát về Hưng Yên 7
1.1.2.Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá ở tỉnh Hưng Yên 11
1.2.Khái quát về làng Đại Đồng (Nôm) 16
1.2.1.Vị trí địa lý 16
1.2.2.Lược sử quá trình hình thành và phát triển của làng Đại Đồng (Nôm) 18
1.2.3.Đặc điểm kinh tế - xã hội của làng Đại Đồng (Nôm) 23
1.3.Vị thế của làng Đại Đồng (Nôm) đối với phát triển du lịch văn hoá tỉnh Hưng Yên 24
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2- GIÁ TRỊ VĂN HÓA DU LỊCH CỦA LÀNG ĐẠI ĐỒNG (NÔM): 28
2.1 Cảnh quan .28
2.2 Giá trị văn hóa vật thể 29
2.2.1 Đình làng Đại Đồng (Nôm) 29
2.2.2 Chùa làng Đại Đồng (Nôm) 33
2.2.3 Cổng làng Đại Đồng (Nôm) 43
2.2.4 Cầu đá làng Đại Đồng (Nôm) 44
2.2.5 Nhà cổ ở làng Đại Đồng (Nôm) 44
2.3 Giá trị văn hóa phi vật thể 46
2.3.1.Nghề nghiệp 46
Trang 42.3.2.Lễ hội .51
2.3.3.Phong tục 54
2.3.4.Tín ngưỡng dân gian và những kiêng kỵ của dân làng Đại Đồng (Nôm) 58
Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LÀNG Đ ẠI ĐỒNG (NÔM) VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP LÀNG (ĐẠI ĐỒNG) NÔM PHÁT TRIỂN THÀNH ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA ĐẶC SẮC
3.1.Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Hưng Yên 62
3.2.Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại làng Đại Đồng (Nôm) 65
3.2.1 Thực trạng di sản văn hóa ở làng Đại Đồng (Nôm) 65
3.2.2.Thực trạng khách du lịch 69
3.2.3.Thực trạng kinh doanh du lịch 70
3.2.4.Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ khách du lịch .71
3.2.5.Thực trạng đội ngũ lao động .73
3.3.Giải pháp một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa ở làng Nôm 74
3.3.1 Bảo tồn các di sản văn hóa của làng .74
3.3.2 Giải pháp Marketin 75
3.3.3 Xây dựng chương trình du lịch hấp dẫn 77
3.3.4 Xây dựng (cải tạo) các cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 80
3.3.5.Giải pháp về môi trường .82
3.3.6.Giải pháp về nguồn nhân lực 82
3.3.7.Giải pháp về chính sách .83
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC
Trang 5A-PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhu cầu đi du lịch của người dân càng ngày càng tăng Do đó, ngành du lịch ra đời ở các quốc gia trên thế giới
để phục vụ những nhu cầu chính đáng đó của người dân Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển nhanh trong thập niên qua Khắp các tỉnh thành từ Bắc vào Nam trên đất nước Việt Nam nơi đâu cũng đều có chủ trương tạo thành những điểm du lịch, những vùng du lịch
Nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hưng Yên là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, với nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng Thế kỷ 16, 17, Phố Hiến – Hưng Yên là trung tâm của Trấn Sơn Nam,
có thương cảng Phố Hiến, một thương cảng lớn nhất ở Ðàng Ngoài, là chốn phồn hoa đô hội, nổi tiếng với câu ca "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến"
Qua những thăng trầm của lịch sử, cùng sự biến đổi của thiên nhiên, Hưng Yên vẫn còn lưu giữ một quần thể di tích, kiến trúc, nghệ thuật với nhiều loại hình phong phú, đa dạng mang tầm cỡ quốc gia, nhiều đền, đình, chùa, miếu, những thuần phong mỹ tục, lễ hội, những làng nghề thủ công những nét nghệ thuật dân gian độc đáo Đây được xem là kho tài nguyên văn hoá quý giá của tỉnh Những năm qua tỉnh đã cố gắng bảo tồn đồng thời đưa vào khai thác phát triển du lịch và loại hình du lịch văn hoá đang được xem là loại hình chủ lực trong phát triển du lịch của tỉnh
Trang 6Trong số những quần thể di tích nổi tiếng ở Hưng Yên có lẽ nhiều người sẽ nhớ nhiều nhất Phố Hiến, cụm di tích Đa Hoà – Dạ Trạch… Tuy nhiên, Hưng Yên còn có một điểm rất đặc sắc có thể đưa vào khai thác phát triển du lịch đó là: Làng Đại Đồng ( Nôm) ở xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, Hưng Yên Đây là một làng cổ với nhiều công trình kiến trúc cổ, hiếm quý còn lại của đất Hưng Yên Mặc dù vậy, hiện nay làng cổ này vẫn chưa được biết đến nhiều và đang có nguy cơ bị mai một Vì vậy cần phải nghiên cứu các giá trị lịch sử văn hóa của nó đưa vào phục vụ khách thăm quan để khỏi lãng phí một tiềm năng du lịch lớn
Làng có những đặc điểm rất thích hợp để phát triển du lịch văn hoá Tuy nhiên tỉnh chưa có chiến lược phù hợp cho những sản phẩm du lịch đặc trưng vì thế ngành du lịch chưa tạo được hiệu quả kinh tế Từ đó đặt ra vấn
đề làm sao có thể quy hoạch đầu tư, khai thác các sản phẩm du lịch văn hóa
ở làng Nôm, biến làng Nôm trở thành điểm du lịch hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước Là một người con của quê hương và cũng là một sinh viên ngành du lịch tôi tự thấy phải có trách nhiệm với chính mảnh đất mình
đã sinh ra và ngành nghề của mình Vì vậy tôi chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình là:
“Làng Đại Đồng (Nôm) – với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hưng Yên”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của làng Đại Đồng (Nôm) - xã Đại Đồng - huyện Văn Lâm - tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu:
Trang 7Mục đích của bài nghiên cứu là tìm hiểu và phân tích những nét đặc
sắc của làng Nôm, từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch ở đây
Để thực hiện mục đích trên, bài nghiên cứu có nhiệm vụ sau:
- Mô tả hiện trạng và khả năng phát triển du lịch của làng Nôm
- Làm rõ những giá trị văn hóa của làng Nôm và tầm quan trọng của làng Nôm trong đời sống văn hóa của nhân dân địa phương cũng như đóng góp của di tích làng Nôm với phát triển du lịch văn hoá tỉnh Hưng Yên
- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp phát triển
du lịch ở làng Nôm
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành bài khóa luận này tôi đã sự dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp khảo tả, phương pháp điền dã thực tế, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích tài liệu
5 Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục khoá luận gồm có 3 chương:
làng Nôm thành điểm du lịch văn hóa đặc sắc
Trang 8B- PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ LÀNG ĐẠI ĐỒNG (NÔM)
1.1 Khái quát về du lịch văn hoá tỉnh Hưng Yên:
1.1.1 Giới thiệu khái quát về Hưng Yên:
1.1.1.1 Vị trí địa lý:
Hưng Yên là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, thuộc tam giác kinh
tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hưng Yên nằm trong toạ
độ 20036' và 210 vĩ độ Bắc, 105053' và 106015' kinh độ Đông, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây giáp thủ đô Hà Nội,
Hà Nam, phía nam giáp tỉnh Thái Bình
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 923 km2, mật độ dân số trung bình là 1.227 người/km2.
1.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Hưng Yên::
Hưng Yên được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), gồm 2 phủ: Khoái Châu (Đông Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ) của trấn Sơn Nam và Tiên Hưng (Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà, Tiên Lữ) của trấn Nam Định vốn là khu vực thuộc bộ Dương Tuyền thời Hùng Vương, huyện Chu Diên thời Bắc thuộc, phủ Thái Bình thời Ngô, Đinh và Tiền Lê, Khoái
Lộ và Đằng Lộ rồi Khoái Châu và Đằng Châu thời Lý, lộ Long Hưng và lộ Khoái thời Trần Dưới thời thuộc Minh, vùng đất này thuộc phủ Kiến Xương
Sau nhiều thay đổi, đến cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, phủ Khoái Châu thuộc trấn Sơn Nam Thượng (Hưng Yên, Thái Bình), còn Phủ Tiên Hưng thuộc trấn Sơn Nam Hạ (Nam Định) Như vậy, trước khi Pháp xâm lược, Hưng Yên là một tỉnh nằm ở cả hai phía sông Luộc
Trang 9Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng đánh chiếm Hưng Yên và sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, thực dân Pháp cắt các huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm thuộc đạo Bãi Sậy vào Hưng Yên và đưa các huyện Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà về Thái Bình
Ngày 25-2-1980, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Bãi Sậy, có 4 huyện: Yên Mỹ, Mỹ Hào, Cẩm Lương,Văn Lâm
Năm 1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định 12-4 và Quyết định 23-11 bãi bỏ đạo Bãi Sậy, nhập các huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm về Hưng Yên Huyện Cẩm Lương, phần thuộc Cẩm Giàng trả về nơi cũ, phần thuộc Lương Tài – Siêu Loại đưa vào Văn Lâm, Mỹ Hào
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thanh công, Hưng Yên vẫn là đơn
vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Uỷ ban hành chính Bắc Bộ
Đến năm 1954, sau khi Hiệp đinh Giơnevơ được kí, cùng với nhân dân toàn miền Bắc, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng nhau góp sức khôi phục kinh tế, ổn định chính trị, xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, các đơn vị hành chính của tỉnh cũng có một số thay đổi nhỏ như sau: Đổi tên một số phố trong Thị xã Hưng Yên; điều chỉnh địa giới của một số huyện; đổi tên một số xã thuộc huyện Phù Cừ; chia các xã thuộc huyện Phù Cừ; chuyển xã Văn Đức từ huyện Văn Giang sang huyện Gia Lâm (20-4-1961)
Ngày 26-01-1968, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số NQ/TVQH phê chuẩn việc hợp nhất hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành một tỉnh lấy tên là Hải Hưng, đặt tỉnh lỵ tại thị xã Hải Dương
504-Ngày 11-1977, Hội đồng Chính phủ có Quyết định số 58-CP về việc hợp nhất hai huyện Văn Giang và Yên Mỹ thành huyện Văn Yên
Ngày 24-2-1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 70-CP về việc hợp nhất hai huyện Kim Động và Ân Thi thành huyện Kim Thi; huyện Văn
Mỹ và Văn Yên (trừ các xã cũ của Văn Giang) thành huyện Mỹ Văn; Khoái
Trang 10Châu và 9 xã của Văn Giang cũ và 5 xã của Yên Mỹ cũ thành huyện Châu Giang Hai huyện Phù Cừ và Tiên Lữ thành huyện Phù Tiên
Ngày 6-11-1996, Quốc hội khoá X phê chuẩn việc chia tỉnh Hải Hưng thành Hải Dương và Hưng Yên Ngày 01-01-1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện (thị xã Hưng Yên, Mỹ Văn, Châu Giang, Phù Tiên, Kim Động, Ân Thi) 159 xã, phường, thị trấn
Nhằm hoàn chỉnh các đơn vị hành chính sau khi Hưng Yên được tái lập, ngày 24-02-1997, Chính phủ lại ra Nghị định số 17/CP chia huyện Phù Tiên thành hai huyện Phù Cừ và Tiên Lữ Từ năm 1999 đến năm 2001 các huyện Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Văn Lâm dần được tái lập Ngày 19/01/2009, thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Nghị định 04/NĐ
- CP thành lập thành phố Hưng Yên trực thuộc tỉnh Hưng Yên, một số xã của Kim Động (Bảo Khê) và Tiên Lữ (Trung Nghĩa, Liên Phương) được cắt
về thành phố Hưng Yên
Hiện tại, tỉnh Hưng Yên có 9 huyện (Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ) và thành phố Hưng Yên
1.1.1.3 Tài nguyên tự nhiên:
Địa hình của tỉnh Hưng Yên tương đối bằng phẳng, hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc 14 cm/km Độ cao đất đai không đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao, thấp xen kẽ nhau như làn sóng Cao độ trung bình từ 2 – 4,5 m, chiếm 70%; cao độ thấp nhất từ 1,2 – 1,8 m chiếm 10% và cao độ cao nhất là 5 – 7 m, chiếm 20% Địa hình cao chủ yếu ở phía tây bắc tỉnh gồm các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu; địa hình thấp tập trung ở các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi Tỉnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 923,093 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm
Trang 1168,74%, đất chuyên dùng chiếm 16,67%, đất ở chiếm 7,91%, đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 6,68% Quỹ đất nông nghiệp Hưng Yên còn nhiều tiềm năng để khai thác, đặc biệt là tăng vụ và có thể tăng vụ đông lên 30.000
ha Đất trồng cây lâu năm, đất vườn có khả năng trồng nhiều cây có giá trị kinh tế cao như: nhãn, vải, táo, cây cảnh, cây dược liệu… cung cấp cho thị trường trong nước đang tăng nhanh (đặc biệt là thị trường Hà Nội) và xuất khẩu Hình thành các vùng sản xuất tập trung tạo nguồn nguyên liệu lớn và
ổn định cho phát triển công nghiệp chế biến, đây là một thế mạnh của Hưng Yên
Khí hậu: Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20C, nhiệt độ trung bình mùa hè 250C, mùa đông dưới 200C Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1.500 - 1.600 mm, trong đó tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 mưa (chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm) Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.400 giờ (116,7 giờ/tháng), trong đó từ tháng 5 đến tháng 10 trung bình 187 giờ nắng/tháng, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trung bình 86 giờ nắng/tháng Khí hậu Hưng Yên có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau), gió mùa Đông Nam (tháng 3 đến tháng 5)
Sông ngòi: Hưng Yên có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với 3 hệ thống sông lớn chảy qua: sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc Bên cạnh đó, Hưng Yên còn có hệ thống sông nội địa như: sông Cửu An, sông Kẻ Sặt, sông Hoan ái, sông Nghĩa Trụ, sông Điện Biên, sông Kim Sơn, là điều kiện thuận lợi không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho sự phát triển công nghiệp, sinh hoạt và giao thông đường thuỷ Ngoài ra, địa phận Hưng Yên có những mỏ nước ngầm rất lớn, đặc biệt là khu vực dọc quốc lộ 5 từ Như Quỳnh đến Quán Gỏi, lượng nước này không chỉ đáp ứng nhu cầu phát
Trang 12triển công nghiệp của tỉnh mà còn có khả năng cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận
1.1.1.4 Tiềm năng kinh tế:
Hưng Yên nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là vùng động lực phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của vùng Bắc Bộ và cả nước; có
vị trí địa lý thuận lợi và có các tuyến đường giao thông quan trọng đi qua, đó
là cơ hội đón nhận và tận dụng sự phát triển chung của cả vùng, trước hết về khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, vốn đầu tư, tiêu thụ sản phẩm… đây
là điều kiện tốt để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tỉnh còn có có lợi thế về phát triển nông nghiệp, có vị trí địa lý thuận lợi là gần các thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm từ nông nghiệp, gần các trung tâm công nghiệp các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; gần các cửa khẩu quốc tế, các cảng biển tạo điều kiện tốt để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
1.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá ở tỉnh Hưng Yên:
Hưng Yên có thể coi là một trong những tỉnh có tiềm năng du lịch khá lớn, đặc biệt là tiềm năng du lịch văn hoá Những năm gần đây tỉnh cũng đang chú trọng xây dựng và đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp dịch vụ Các tiềm năng của tỉnh đang được dần khai thác và sử dụng hiệu quả hơn Những tiềm năng du lịch văn hoá của tỉnh rất đáng được lưu tâm tận dụng Hưng Yên là tỉnh không những có vị trí thuận lợi nằm kề sát thủ đô Hà Nội
Trang 13mà còn có các tuyến đường giao thông quan trọng như quốc lộ 5 (dài 23 km), quốc lộ 38, quốc lộ 39 (dài 43 km) nối quốc lộ 5 với quốc lộ 1 tại Hà Nam, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và các tuyến đường sông: sông Hồng, sông Luộc chạy qua Cầu Thanh Trì hoàn thành cùng với cầu Yên Lệnh đã
và đang thúc đẩy mối giao lưu giữa các tỉnh phía nam Hà Nội qua Hưng Yên
ra Hải Phòng và cảng Cái Lân (Quảng Ninh) Chính vì thế khả năng gắn kết với các tuyến du lịch từ Hà Nội qua Hưng Yên, Hải Dương đi Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Thái Bình…là rất lớn Đây là một lợi thế quan trọng, nếu triển khai tốt và có sự liên kết chặt chẽ với các tỉnh lân cận sẽ tạo nên những tuyến du lịch hấp dẫn, góp phần phát triển nhanh các ngành du lịch dịch vụ, tăng xuất khẩu tại chỗ và tạo việc làm cho lao động trong tỉnh
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hưng Yên có cơ hội đón nhận và tận dụng những cơ hội phát triển của vùng Nhất là trong tương lai gần, khi kết cấu hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng sông được đầu tư xây dựng
Hệ thống các giá trị văn hoá cũng rất lớn để Hưng Yên phát triển du lịch văn hoá Theo thống kê1, toàn tỉnh có hơn 1.210 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 158 di tích và cụm di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 83 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, cùng hàng ngàn tài liệu và hiện vật, cổ vật có giá trị khai thác nhằm phát huy truyền thống và phát triển du lịch Tiêu biểu
là các cụm di tích như: Cụm di tích Phố Hiến (Thành phố Hưng Yên) nằm ở bên bờ sông Hồng, nơi đây là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh Hưng Yên xưa và nay Cụm di tích này có tới trên 120 di tích, trong đó có
17 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 6 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Các di tích lịch sử văn hoá Phố Hiến được hình thành bởi sự phong phú về
1Theo thống kê của sở văn hoá - thể thao - du lịch Hưng Yên năm 2010
Trang 14phong tục tập quán của người Việt, người Hoa, người Nhật và người Châu
Âu
Phố Hiến nổi tiếng với các di tích chùa Chuông, chùa Phố, chùa Hiến, đình Hiến, đền Mây, Văn Miếu, đền Trần, đền Mẫu, Võ Miếu, Thiên Hậu Thượng Phố, Thiên Hậu Hạ Phố, Đông Đô Quảng Hội, chùa Nễ Châu, hồ Bán Nguyệt Những ngôi chùa, ngôi đền và các di tích ở đây đều được toạ lạc trên thế địa linh, có cảnh quan đẹp, không gian thoáng mát Ở phía Tây Bắc của tỉnh là Cụm di tích Đa Hoà - Dạ Trạch (huyện Khoái Châu) Cụm di tích này cũng nằm cạnh bên bờ sông Hồng - nơi thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung, Tây Sa công chúa (thiên tình sử đẹp nhất trong văn học dân gian Việt Nam) Di tích đền Đa Hoà, xã Bình Minh; đền Hoá, xã Dạ Trạch được Nhà nước xếp hạng, là một trong những di tích lịch sử văn hoá quan trọng của Quốc gia
Khu vực này cũng có cảnh quan rất đẹp, khí hậu trong lành Ở giữa tỉnh có Cụm di tích lịch sử văn hoá Hải Thượng Lãn Ông (xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ) bao gồm nhiều di tích như đình Văn, chùa Văn, đền thờ Lê Hữu Trác, nhà thờ Lê Hữu Danh
Cụm di tích này lưu giữ toàn bộ những công trình y dược học vĩ đại của Lê Hữu Trác Ở phía Đông Bắc của tỉnh có Cụm di tích đền Phù Ủng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi ) - nơi thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão
Toàn bộ Cụm di tích đền Phù Ủng được phân bổ thành hai khu: Khu ngoài gồm có Đền, Lăng, Huê văn, Văn từ và các gò đống sắp xếp xung quanh ngôi đền thờ Phạm Ngũ Lão;
Khu trong có chùa Bảo Sơn (còn gọi là chùa Cảm Ân), cạnh ngôi chùa là nơi thờ công chúa Tinh Huệ - con gái Phạm Ngũ Lão là thứ phi của vua Trần Anh Tôn; ngoài ra nơi đây còn có một số công trình nghệ thuật bằng đá thời Lê thế kỷ thứ XVII, đó là lăng Vũ Hồng Lượng Phía Đông
Trang 15Nam của tỉnh có Cụm di tích Tống Trân - Cúc Hoa (xã Tống Trân và xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ) - nơi thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Tống Trân
và nàng Cúc Hoa xinh đẹp, cần cù, chịu khó, thuỷ chung, hiếu thảo Ngoài các cụm di tích tiêu biểu nêu trên, Hưng Yên còn có nhiều di tích lịch sử văn hoá đình, đền, chùa với kiến trúc độc đáo như: chùa Nôm xã Đại Đồng, chùa Thái Lạc xã Lạc Hồng, chùa Lãng xã Minh Hải, huyện Văn Lâm; đền thờ Lý Thường Kiệt xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ; đình Đa Ngưu xã Tân Tiến, huyện Văn Giang; đình Duyên Yên xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động Phải nói rằng lượng di tích được xếp hạng của tỉnh Hưng Yên đã khẳng định một giá trị văn hóa, lịch sử vô cùng quan trọng mà ông cha ta để lại cùng đồng nghĩa với một tiềm năng phong phú; khai thác tiềm năng này
là tạo đà cho nền du lịch của tỉnh phát triển
Thực tế xã hội đã chứng minh ở mỗi đất nước, mỗi vùng miền khi nền kinh tế phát triển, con người có bát ăn bát để thì phần đời sống tinh thần càng được bộc lộ và phát triển thông qua việc giao lưu qua lại giữa các khu vực, các vùng miền và cả quốc gia với nhau và họ đã đến với các di tích lịch
sử thông qua việc tham quan vãng cảnh, tìm hiểu thêm để biết thêm, và cũng
cứ sau mỗi lần như vậy họ thấy đời sống tinh thần giàu có và am hiểu các kiến thức lịch sử hơn Có thể nói khi nền kinh tế càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng cao, nhu cầu hưởng thụ về đời sống vật chất không còn
là mối lo trong mỗi con người thì nhu cầu hưởng thụ về tinh thần ngày càng một phát triển Thông qua hệ thống di tích lịch sử văn hóa, để đáp ứng, để theo kịp với sự phát triển không ngừng của xã hội
Ngoài ra, Hưng Yên còn có một hệ thống các nhà tưởng niệm như: Nhà tưởng niệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ở xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, là nơi tưởng niệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh – Người con của quê hương Hưng Yên - Nhà lãnh đạo cách mạng kiên định và sáng tạo
Trang 16của Đảng và nhân dân Việt Nam, có công lao lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp đổi mới của đất nước Nhà tưởng niệm bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Hồng Tiến, huyện Khoái Châu; Khu tưởng niệm tướng quân Nguyễn Thiện Thuật (Lãnh
tụ khởi nghĩa Bãi Sậy) ở xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào; Nhà tưởng niệm Hoàng Hoa Thám (lãnh tụ khởi nghĩa Yên Thế) ở xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ; Nhà tưởng niệm đồng chí Tô Hiệu và Nhà tưởng niệm đồng chí Lê Văn Lương ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang
Trong tương lai, Hưng Yên sẽ thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Phố Hiến gắn với phát triển du lịch Lúc đó Hưng Yên sẽ tiến hành xây dựng Đền thờ Lê Đình Kiên - Người có công xây dựng Phố Hiến xưa; phục dựng thương cảng Phố Hiến (thương điếm của người Hà Lan, của người Hoa, người Nhật ); phục dựng tàu, thuyền cổ đậu tại Phố Hiến; phục dựng phố cổ; tu sửa nghĩa địa người nước ngoài; trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá; xây dựng các khu vui chơi giải trí Ngoài ra trên địa bàn thành phố Hưng Yên còn xây dựng Chùa Nguyệt Đường và Thiền Viện Trúc Lâm bên cạnh khu Văn Miếu Xích Đằng đã được quy hoạch mở rộng
Gắn liền với các cụm di tích, các nhà tưởng niệm trên, các di tích lịch
sử văn hoá trên địa bàn Hưng Yên là 400 lễ hội truyền thống (nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoá tiêu biểu của nhân dân, phản ánh khá rõ nét con người, truyền thống, phong tục, tập quán mà thông qua đó bày tỏ lời cảm ơn đối với trời, đất, thần, nước, người có công với làng, với đất nước và cầu mong có đ-ược cuộc sống ấm no, hạnh phúc) được các địa phương cơ sở trong tỉnh tổ chức vào các dịp đầu xuân và các tháng trong năm Hưng Yên còn có một kho tàng văn hoá dân gian đặc sắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng với những làn điệu Chèo, ca Trù, hát Xẩm, Trống quân , mượt mà đằm thắm
Trang 17Hưng Yên cũng còn có các làng nghề thủ công, truyền thống, tiêu biểu như làng nghề đúc đồng xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm; nghề chạm Bạc ở Phù Ủng, huyện Ân Thi; Các làng nghề mây, tre đan ở huyện Tiên Lữ; nghề dệt thảm, thêu ren ở huyện Phù Cừ, huyện Kim Động; nghề làm hương xạ ở Cao Thôn, xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên; nghề đan thuyền Nội Lễ, xã An Viên, huyện Tiên Lữ
Nói đến Hưng Yên không thể quên được nhãn lồng Phố Hiến nổi tiếng, nhãn được trồng ở khắp nơi trong tỉnh, đặc biệt ở xã Quảng Châu, xã Hồng Nam, phường Hồng Châu, phường Lam Sơn, thuộc thành phố Hưng Yên Nhãn lồng Hưng Yên có hương vị thơm ngon đặc biệt khác hẳn với nhãn trồng ở các vùng đất khác Cùng với nhãn được chế biến thành long nhãn, còn có sen được trồng dọc theo ven đê sông Hồng, sông Luộc và những sản vật ẩm thực nổi tiếng khác
Những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể nêu trên ở Hưng Yên là những tiềm năng đang được tỉnh và các huyện, thành phố trong tỉnh khai thác nhằm nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm du lịch văn hoá trong khu vực và cả nước
1.2 Khái quát về làng Đại Đồng (Nôm):
Làng Đại Đồng Nôm hay còn gọi là làng Nôm trước đây có tên là làng Đồng Cầu sau cải là làng Thông thuộc trang Đồng Xá, tổng Đình Tổ, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, nay thuộc xã Đại Đồng (Văn Lâm, Hưng Yên) Hiện nay làng có tên trong bản đồ hành chính là làng Đại Đồng nhưng còn tên gọi Nôm vẫn là tên được nhân dân sử dụng và biết đến nhiều như một làng cổ thuộc tỉnh Hưng Yên từ đó đến nay (Và trong khuôn khổ bài khoá luận này, tôi xin được sử dụng tên gọi làng Nôm, một cái tên đã rất gần gũi và thấm đẫm chất văn hoá dân gian) và có lẽ trong tương lai phát
Trang 18triển du lịch tại làng cũng sẽ gắn chặt với tên gọi này Làng được xem là làng có cảnh quan, kiến trúc đẹp nhất tỉnh Hưng Yên bởi nhiều yếu tố văn hoá truyền thống có niên đại hàng trăm năm hợp thành: Chùa Nôm, chợ Nôm, đình Tam Giang, cầu Nôm, cổng làng, những ngôi nhà cổ cùng cảnh quan không gian gần như còn nguyên vẹn
1.2.1 Vị trí địa lý:
Cách Hà Nội 30km về phía đông, vượt qua cầu Long Biên hoặc cầu Chương Dương theo Quốc lộ 5 đến cây số 19 gặp đường sắt Hà Nội - Hải Phòng rẽ trái đi dọc theo đường sắt qua ga Lạc Đạo đến ga Đồng Xá cũ (khoảng 5Km) rẽ trái là đến địa phận xã; vào khoảng 1Km là đến làng Nôm Nếu đi từ thành phố Hưng Yên để đến làng Nôm thì đi theo Quốc lộ 39 ra Quốc lộ 5 đi theo hướng Hà Nội đến ngã 3 phố Nối rẽ phải theo đường liên tỉnh 388, đi 9Km là gặp xã Đại Đồng, đi khoảng 1km là đến làng Nôm
Ở phía bắc, làng giáp cư với làng Đề Cầu, một làng đúc đồng nổi tiếng, phía nam làng giáp với làng Đình Tổ, phía đông làng giáp với làng Đồng Xá, chuyên làm nông nghiệp và phía tây làng giáp với làng Long Thượng, làng nổi tiếng vì những sản phẩm thờ cúng từ đồng Phía bắc làng hiện còn con sông chảy qua, tới thôn Văn Ổ (khoảng 5Km) thì cụt hẳn Kết quả khảo sát thực địa, các tài liệu địa danh và trí nhớ của người địa phương cho thấy đây chính là con sông Dâu xưa, trải qua những biến thiên của thời gian, nay đã trở thành con sông chết, mà những dấu tích của nó còn được xác định qua những địa danh ở vùng này như Cầu Gáy(1), Cầu Đá (chỉ cầu bắc qua sông chảy qua cổng làng, bến quan (thuộc địa phận làng Văn Ổ) Con sông này xưa chắc là rất rộng nên các cụ gọi là sông Cái Theo truyền thuyết thời Lý sông được gọi là sông Nghĩa, vì các vua hay theo dòng sông này về Dâu cầu đảo Thời Trần có lần công chúa tắm trên sông bị chết đuối nên được gọi là sông Bất Nghĩa Sông nối trung tâm Dâu xưa kia với Thăng
Trang 19Long, nó còn giữ vai trò là đường giao thông quan trọng như trong câu ca
Làng Nôm (diện tích 43,7ha với hơn 600 khẩu) nằm trong vùng nông nghiệp và thủ công nghiệp trù phú Nếu nói riêng chỉ trong một xã, có 9 thôn hợp thành xã Đại Đồng ngày nay, có 4 làng chuyên làm nông nghiệp còn 5 làng vừa biết làm nông nghiệp vừa biết nghề đúc đồng (Long Thượng, Bùng Đông, Văn Ổ, Xuân Phao, Cầu Nôm) Cả vùng làng Nôm nằm trong một trung tâm đúc đồng lớn mà dân gian vẫn gọi bằng cái tên : Ngũ Xã gồm: Xã
Đề, Long Đình, Cầu Nôm, Đề Cầu, Đại Bái
1.2.2 Lược sử quá trình hình thành, phát triển và tên gọi của làng Đại Đồng (Nôm):
Làng Nôm được hình thành từ đầu Công nguyên, theo bia sùng tạo thời Lê tại chùa làng thì làng Cầu Nôm vốn là thôn Kiều Tùng, xã Trùng Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc Thời Trịnh – Lê do kiêng húy Trịnh Tùng nên đổi thành thôn Đồng Cầu, xã Đồng Xá
Trang 20Tại đình làng Nôm xưa còn lưu giữ bản thần tích sao lại từ các năm Vĩnh Thụy thứ 6 (1840) và Khải Định thứ 7(1922) Cả hai bản này được sao
từ bản chính do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn
Theo các bản thần tích này thì vào thời Tây hán, có người con gái họ Phạm ở trang Vân Mẫu, thuộc đạo Bắc Giang thời cổ gọi là bộ Vũ Ninh tên
là Tĩnh thuộc dòng trâm anh thế phiệt Năm 18 tuổi bà nổi tiếng trong vùng
vì nhan sắc của mình, nhưng không muốn lấy chồng lại say mê đạo Phật Một ngày bà đến chùa Pháp Vân, thấy phong cảnh hữu tình, liền xin trụ trì cho ở lại chùa, và khi bà đến bến đò sông Nguyệt Đức, bỗng nhiên trời đất tối tăm, sóng gió ầm ầm, rồi một con thuồng luồng nhảy lên quấn lấy mình
bà Bà thất kinh bỏ chạy về chùa và nằm thiếp đi Trong cơn mơ bà thấy mình nuốt vầng trăng vào bụng Từ đấy bà mang thai Đến ngày mùng mười tháng hai năm Mậu Thìn(?) bà sinh được một con trai, thiên tư tướng mạo khác hẳn người thường, liền đặt tên là Tam Giang Tam Giang lớn lên văn
võ song toàn, vừa đúng lúc Hai Bà Trưng phát cờ khởi nghĩa Ông chiêu mộ binh sĩ , tham gia và được cử làm Điện Tiền Đô chỉ huy sứ tướng quân Một lần khi đem quân đi đánh giặc đến địa phận trại Đồng Cầu, trang Đông Xá, huyện Siêu Loại, thấy có một ụ đất lớn có hình long hổ ôm ấp, sơn thủy quan quanh, liền cho quân sĩ lập đồn phòng thủ, làm lễ cáo trời đất và xuất quân đi đánh giặc Hán
Sau khi thu được 65 thành, khôi phục bờ cõi, Tam Giang xin phép Trưng vương trở về nhận sở ở trại Đồng Cầu, trang Đông Xá và sinh cơ lập nghiệp tại đó Nhân dân trong trại sinh sống yên ổn và xin Tam Giang ở lại trang trại, trước làm đồn sở, sau làm nơi thờ tự Tam Giang đồng ý Ba năm sau Mã Viện kéo quân sang xâm lược nước ta, Tam Giang lại chiêu tập quân
sĩ ra trận nhưng thế giặc mạnh, quân ta bị thua, Tam Giang chạy về trại Đồng Cầu Giặc đuổi theo, Tam Giang cùng mẹ và vợ xuống thuyền ở bến
Trang 21đò sông Nguyệt Đức Thế cùng ông dùi thủng thuyền, ông cùng mẹ và vợ chìm xuống sông
Câu chuyện trong thần tích trên tuy có một số chi tiết hoang đường nhưng nó chứa đựng những cốt lõi lịch sử Trước hết là tên vị thần Tam Giang theo suy đoán thì có thể là do người đời sau đặt Tam Giang có nghĩa
là vị thủy thần của những con sông: Dâu, sông Đuống, sông Lục Đầu bao bọc quanh vùng Luy Lâu Việc thờ cúng thần sông nước xuất phát từ những tín ngưỡng rất cổ Sau nữa là sự tích thần Tam Giang theo Hai Bà Trưng đánh giặc không phải chỉ có riêng ở làng Nôm Tuy nhiên thần tích làng Nôm và thần Tam Giang chiêu quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc là một cứ liệu để suy đoán, làng Nôm đã có một cuộc sống và vai trò lịch sử ngay từ đầu công nguyên
Theo truyền thuyết mà dân làng vẫn còn kể lại, xưa kia vào một năm vùng Dâu bị ngập lụt lớn, người chết như ngả rạ, người còn sống tìm nơi tránh nạn Một ngày kia, có ba người chạy lụt về tới đất làng Nôm ngày nay, vừa hạ trại, nước lụt lại ập đến và dâng cao, cả ba người bị nước cuốn phăng
ra giữa dòng Chống chọi với dòng nước xiết không nổi họ cứ phập phồng phập phồng giã gạo dưới nước, sau đó chỉ có một người may mắn thoát chết, ông ta ở lại đất làng Nôm sinh cơ lập nghiệp và đổi họ mình thành họ Phùng (biến âm của chữ Phồng) như để lưu ký ức kỷ niệm hãi hùng của trận lụt năm xưa Gia đình họ Phùng con cháu dần dần đông đúc, ăn nên làm ra và
có nghề đúc đồng và phát triển thành ba chi của họ Phùng ngày nay
Có một câu chuyện khác mà nhiều cụ già ở làng Nôm và các làng lân cận vẫn thường hay kể lại về lịch sử làng mình, cho biết: Vào thời Hậu Lê (?) dân làng Tòng Chương, một làng nổi tiếng về nghề đúc đồng, họ tài hoa
và khéo léo, nhưng do đúc tiền giả mà bị nhà vua triệt hạ Cạnh làng Nôm và làng Long thượng hiện nay có một gò đất hoang, ai cũng bảo đó chính là di
Trang 22tích của làng Tòng Chương xưa Chứng cớ xác thực về một làng Tòng Chương là hiện ở làng Long Thượng còn có bức hoành phi với dòng chữ: Long đình thất áp, Tòng Chương thôn cung tiến” Trên bãi hoang, những mô đất lổn nhổn, chúng ta dễ dàng tìm thấy những đồng tiền kẽm, những xỉ lò, mảnh sành, mảnh sứ Sau khi bị triệt hạ, người làng Tòng Chương phải trốn
đi các nơi để lánh nạn Trong số đó có một số thợ đúc đồng tài giỏi có họ hàng ở làng Nôm nên vào làng Nôm trú ngụ Họ đổi thành họ Phùng, sinh cơ lập nghiệp, sử dụng những hiểu biết về đồng, chì, thiếc, kẽm… tái lập thành một nghề mới cũng liên quan đến nghề cũ: Nghề hàn nồi, hàn các đồ dùng bằng đồng và buôn bán đồng, ngày nay họ Phùng đã phát triển đông đúc thành ba chi.Trong cuốn “Nghề truyền thống”, tập I có viết rằng: Thời Lê (?) làng Tòng Chương đúc tiền gỉ bị phát giác và triệt hạ, dân làng phải trốn sang các làng bên ở và dân lại dựng lên lò đúc ở nơi trú ngụ Làng cũ của họ nay chỉ còn là 1 gò đất bỏ hoang hóa từ lâu, nằm giữa 2 làng Long Thượng
và Đại Đồng Ở đây đã tìm thấy nhiều xỉ đồng và mảnh sành sứ của 1 làng đúc đồng cổ
Hiện nay giữa 2 làng này còn một bãi đất cao, người làng Nôm còn gọi đó là bãi Rồng, người làng Long Thượng lại gọi đó là bãi Thông (bãi của làng Thông ) Cả 2 làng không làng nào nhận bãi đất này là của làng mình,
dù làng nào cũng cần ruộng đất để canh tác.Tuy nhiên, tài liệu địa danh cổ cho biết, làng Nôm xưa còn có tên là làng Thông Các cụ già làng cho biết,
từ rất lâu rồi vùng đất này um tùm nhiều thông mọc, trên đó có dựng một am nhỏ để thờ cúng Dần dần vì thiêng liêng am phát triển thành chùa, và dân gọi là chùa Thông, vì thế làng Nôm còn có tên gọi khác là làng Thông Nhưng dẫu sao, bãi Rồng hay bãi Thông còn đó chính là vết tích xưa của một làng cổ có tên gọi Tòng Chương, ký ức dân gian đã cho hay rằng Tòng Chương xưa cũng chính là Cầu Nôm? Vậy là làng Tòng Chương đã bị triệt
Trang 23hạ vì tệ làm tiền giả nhưng cái tên dân dã Cầu Nôm đã không những mất đi
mà còn sống mãi cùng thời gian, để cho dân gian vẫn lưu mãi một cái tên gắn liền với nghề buôn đồng và để cho làng Nôm nay vẫn lưu mãi câu chuyện về lịch sử xa xưa của mình
Những câu chuyện kể trên có những điểm khác biệt nhưng lại có một điểm chung là làng Nôm nằm trong vùng đúc đồng phát đạt từ đầu thời Lê Riêng thuyết thứ 2 lại cho rằng họ Phùng đến lập nghiêp đầu tiên ở làng Nôm, rất tiếc họ Phùng hiện nay không còn gia phả nhưng đa số các cụ trong
họ và trong làng đều khẳng định là họ Phùng đến ở làng được 16 đời
Trong tấm bia của chùa Linh Thông khắc năm Chính Hòa 27 (1706)
có ghi: chùa được sửa sang lại từ thời Chính Hòa nhà Lê, như vậy muộn nhất thì cũng phải xây dựng trước hàng chục năm mới đủ “bề dầy” thời gian cho sự đổ nát của chùa để phải trùng tu.Và cứ như theo đó, làng Nôm cũng trở nên đông đúc, ít ra cũng từ thời Lê sơ
Năm 1831, huyện Siêu Loại cùng một số huyện của trấn Kinh Bắc tách ra thành Đạo Bãi Sậy Khi Đạo Bãi Sậy giải thể, một phần thuộc tỉnh Hưng Yên trong đó có huyện Siêu Loại ( theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX”) thì làng Nôm có tên là thôn Đại Đồng, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Xã Đại Đồng gồm có 9 thôn: thôn Đại Đồng (Đồng Cầu – Nôm - Làng Thông), thôn Bùng Đông (làng Bùng), thôn Văn Ổ(Ó Nghè), thôn Xuân Phao (Ó Pheo), thôn Lộng Thượng (Rồng), thôn Đại Từ(làng Từ), thôn Uy Nghi (làng Ngui), thôn Đại Bi(làng Bi), và thôn Đình Tổ (làng Tó) Đại Đồng vừa là tên xã vừa là tên thôn
Năm 1977 hai huyện Văn Lâm và Mỹ Hào sát nhập thành huyện Mỹ Văn Năm 1997, tỉnh Hải Hưng tách ra thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên
Trang 24Đến nay xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên vẫn giữ
9 thôn như xưa
Trong quá khứ, Làng Nôm là làng đã phát triển cùng với nghề đúc đồng và buôn đồng từ trước Cách mạng tháng Tám Người làng Nôm đã luôn vừa sản xuất vừa tham gia làm cách mạng, ủng hộ cả sức người và sức của cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của đất nước Hiện nay làng có 182 hộ với 670 nhân khẩu với diện tích của làng vào khoảng: 43,7 ha
1.2.3 Đặc điểm kinh tế -xã hội của làng Đại Đồng (Nôm):
Về mặt nông nghiệp, làng Nôm và các làng thuộc vùng Dâu xưa thuộc các làng đồng mùa Trước cách mạng tháng tám làng có chừng 50 hộ với xấp xỉ 100 mẫu ruộng Trong đó có tới 1/3 tổng số ruộng chuyên bị ngập nước, chỉ cấy được lúa một vụ Ruộng đất đã ít năng suất lại thấp, từ 60-70
Kg thóc trên một sào Lương thực cho con người tồn tại qua 12 tháng thật vất vả, chật vật Vậy mà con người còn biết bao là nhu cầu tói thiểu: phải ăn, phải ở, phải cưới xin,ma chay,phải lo những mối liên hệ với nhà nước ,với làng xã… Sự nghèo khó tột cùng đã khiến người làng Nôm phải tìm ra phương thức để tồn tại
Kinh tế vườn ao: Hầu như ở làng Nôm, nhà nào cũng có một vài sào vườn trồng các cây lưu niên như: mít, nhãn, na, bưởi…Những mảnh vườn này không là nguồn thu nhập chính nhưng nó lại có vai trò đáng kể trong sinh hoạt của làng Vì là làng buôn bán, nên người đi buôn theo lịch trình của mình, trước khi ra đi họ không thể thiếu động tác thành tâm dâng chén rượu, đĩa hương hoa trái đầu mùa lên bàn thờ tổ tiên để cầu xin gặp may mắn,có tài có lộc Làng không phải lúc nào cũng có chợ để mua hoa quả cúng, mảnh vườn đã đáp ứng được nhu cầu đó của làng Ngoài ra những
Trang 25người ở nhờ được thuê mướn trông coi nhà cửa, ruộng vườn còn coi mảnh vườn là cứu cánh, mỗi lần thu hoạch được hoa trái, bao giờ họ cũng chọn nải chuối, quả mít, hoặc chục na, cân vải thơm ngon nhất vườn ra thành phố biếu ông bà chủ, gọi là “cây nhà lá vườn” Không may gặp năm thiên tai, không đậu quả, họ mất mùa, họ cũng phải mua bằng được hoa quả để cúng
tổ tiên Phần hoa quả con lại họ được quyền mang bán
Ở làng Nôm, phải chăng do địa hình tự nhiên sắp đặt sẵn với tâm của làng là chiếc hồ rộng lớn, bao bọc làng là con sông cái từ xa xưa, chắc hẳn nước không là một nhu cầu bức thiết, thể hiện trong bản đồ thổ cư có rất ít
ao đào
Chăn nuôi: Như các làng nông nghiệp khác, ở làng Nôm cũng bao gồm chăn nuôi trâu bò kéo và chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống con người Nhưng cũng như hoạt động nông nghiệp, các hoạt động này đều rất mờ nhạt
Ngoài ra, người ở những nơi khác còn biết đến làng Nôm nhiều hơn với nghề buôn đồng nát và đúc đồng
1.3.Vị thế của làng Đại Đồng (Nôm) với phát triển du lịch văn hoá ở Hưng Yên:
Với số lượng lớn các di tích lịch sử, các lễ hội,…Hưng Yên là tỉnh có thế mạnh để phát triển du lịch văn hoá Trong tương lai khi du lịch Hưng Yên phát triển, nó sẽ huy động tất cả các tiềm năng Làng Nôm cũng sẽ đóng góp cho Hưng Yên một điểm đến du lịch văn hoá đặc sắc, đậm chất làng quê đồng bằng Bắc Bộ Ngoài những điểm đến là di tích lịch sử, Hưng Yên sẽ có thêm một điểm du lịch là làng cổ, điều này góp phần làm đa dạng thêm tài nguyên du lịch văn hoá của Hưng Yên, giúp cho ngành du lịch Hưng Yên có thêm sức cuốn hút với du khách trong và ngoài nước hơn
Trang 26Từ xa xưa, làng đã là một đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ,
tế bào sống của xã hội Việt Làng xã Việt là một cơ cấu sinh hoạt tự do tự lập Làng là nơi bảo toàn lực lượng dân quân, bảo vệ và nung đúc tinh thần yêu nước của mọi người, và cũng là nơi bảo tồn nếp sống thuần túy dân tộc, dầu trong thời bình cũng như thời loạn Làng Nôm qua bao thăng trầm lịch
sử vẫn giữ được những nét đặc sắc nhất từ tinh thần đoàn kết trong làng đến tình yêu làng xóm của người dân… Làng Nôm cũng như bao làng Việt Bắc
Bộ khác luôn đề cao ý thức cộng đồng Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng v.v…, mà còn là
sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức, vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận Người dân làng luôn nêu cao tinh thần yêu quê hương Người làng dù có đi đâu, buôn bán làm ăn ở đâu thì họ cũng không quên gốc gác, làng xóm của mình Và khi đã thành đạt thì họ lại trở lại cống hiến, đóng góp cho quê hương mình Trong thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển lớn mạnh của khoa học, kỹ thuật, văn hoá xã hội…người làng Nôm cũng hoà nhập theo xu thế của thời đại nhưng vẫn không đánh mất bản sắc, giá trị văn hoá của làng mình Vẫn với tinh thần như thế, họ giữ gìn những thành quả của cha ông để lại từ cây đa, giếng nước đến mái đình, ngôi chùa, con đường, những ngôi nhà cổ… Tất cả làm nên cảnh quan đặc sắc của làng cổ- làng Nôm Nó là một đặc trưng văn hoá nhưng chính nó cũng tạo nên nét đặc sắc văn hoá cho đất Hưng Yên và trong tương lai có lẽ sẽ tạo nên nét riêng cho du lịch Hưng Yên, tạo ấn tượng khó quên cho du khách trong và ngoài nước khi đến với Hưng Yên
Làng Nôm nằm trong vùng Ngũ Xã – trung tâm sản xuất đồ đồng nổi tiếng Đây không chỉ là môi trường tốt cho làng Nôm phát triển và khôi phục nghề làm đồng, buôn đồng mà còn là điều kiện tốt cho làng phát triển du
Trang 27lịch Các công ty du lịch có thể tổ chức các tour du lịch chuyên đề tìm hiểu lịch sử của nghề làm đồng, khám phá những nét riêng có của vùng làm đồng nổi tiếng Đây là một mảnh đất tốt cho du lịch làng Nôm phát triển và du lịch Hưng Yên thêm khởi sắc, hấp dẫn hơn
Ngoài ra, Làng Nôm còn có được một điều kiện thuận lợi vì gần các tỉnh, thành phố như: thủ đô Hà Nội, hàng ngày thu hút một lượng khách rất lớn đến tham quan (bao gồm cả khách quốc tế và khách nội địa); Bắc Ninh
có những di tích lịch sử nổi tiếng và làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm, đậm chất Kinh Bắc; Quảng Ninh với điểm du lịch Hạ Long, chùa Yên
Tử đã được biết đến không chỉ trong nước mà cả nước ngoài… Chính vì thế trong tương lai làng Nôm sẽ cũng trở thành điểm du lịch nổi tiếng, góp phần doanh thu vào doanh thu du lịch của tỉnh Hưng Yên, làm cho du khách biết nhiều đến tỉnh Hưng Yên hơn
Hưng Yên là một tỉnh mới thành lập và kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm vai trò chủ đạo nhưng chính trong môi trường như vậy, nơi đây đã bảo lưu được nhiều yếu tố văn hoá bao gồm cả yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể Đó thực sự là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng quý giá Nguồn tài nguyên này có tác dụng về mặt nhận thức hơn là về mặt giải trí
Số người quan tâm tới tài nguyên này thường có văn hoá cao và cũng có thu nhập cao
Hưng Yên có rất nhiều tài nguyên du lịch nhân văn nhưng làng cổ còn sót lại và giữ gìn được nổi bật đó là: làng Nôm Như trên đã nói, làng có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Việt Chính bởi vậy cho nên du lịch ở lảng cổ là một cách hiệu quả nhất để tìm hiểu về đời sống văn hoá của người dân Làng tượng trưng cho sự đoàn kết, tính cộng đồng sâu sắc của người dân Việt Nam ta Khai thác những đặc điểm riêng của những làng cổ ấy nói chung làng Nôm nói riêng là cả một kho tàng văn hoá
Trang 28quý giá cho ngành du lịch Làng Nôm là một bộ phận trong hệ thống làng Việt cổ Đây là làng hội tụ được rất nhiều những nét đặc trưng của một làng Việt cổ từ bao đời nay Làng hiện nay vẫn bảo tồn được rất nhiều di tích đáng quý và cảnh quan đẹp, thanh bình, đặc trưng của một làng quê Việt cổ truyền
TIỂU KẾT
Hưng Yên là một tỉnh có tiềm năng du lịch khá dồi dào, đặc biệt là du lịch văn hoá Trong số những tiềm năng du lịch văn hoá đó không thể không nhắc tới làng Nôm – một làng cổ ở đất Hưng Yên Làng Nôm (xã Đại Đồng – huyện Văn Lâm – tỉnh Hưng Yên) là làng có từ đầu Công nguyên nhưng đến khoảng thế kỷ XV dân cư mới tập trung đông đúc Có nhiều truyền thuyết về sự hình thành của làng và hàng ngàn năm qua làng Nôm đã thay đổi tên gọi vài ba lần, nhưng đến ngày nay làng vẫn giữ được dáng của một làng xứ Bắc xưa Làng có những yếu tố đặc trưng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, có những vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển du lịch văn hoá, trong tương lai có thể làng sẽ đánh dấu những bước phát triển mới cho
du lịch văn hoá Hưng Yên
Trang 29CHƯƠNG 2- GIÁ TRỊ VĂN HÓA DU LỊCH CỦA LÀNG ĐẠI ĐỒNG
(NÔM):
2.1 Cảnh quan:
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, làng Nôm có cảnh quan, kiến trúc truyền thống thuần Việt hội tụ nhiều nét văn hoá bản sắc đến nay còn lưu giữ được Phía đông có cổng làng đồ sộ khắc chữ "Đồng Cầu môn", có bốn cột đồng trụ trang trí cầu kỳ Giữa làng có một hồ lớn, dài 300m, ở giữa có một chiếc cầu bắc qua, xung quanh đường làng, đường từ trong làng qua cổng sang chợ, sang chùa được lát gạch chỉ xây nghiêng vững chãi.Các cụ trong làng kể lại rằng: ngày xưa, những gia đình có con gái đi lấy chồng, đều phải nộp một khoản tiền theo quy định của hương ước làng để dân làng mua gạch xây đường cho nhân dân trong thôn, trong làng qua lại Đây là nét độc đáo của các làng cổ Bắc Bộ Quanh hồ là những ngôi nhà mái ngói san sát, đặc biệt có 7 nhà thờ của 7 dòng họ liền kề được kiến trúc theo kiểu dáng cổ đồng bằng Bắc Bộ Cuối hồ có cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trùm lên ngôi đình Tam Giang, cùng chiếc giếng làng còn nguyên vẹn Cách cổng làng vài trăm mét về phía đông có một cầu đá 9 nhịp đầu rồng bắc qua con sông Nguyệt Đức nối đường làng với chợ Cầu Nôm, chùa Đại Đồng Làng Nôm
có nghề đúc đồng truyền thống nên chợ Cầu Nôm trước đây là nơi mua bán sầm uất phục vụ cho nghề đúc đồng Chợ Cầu Nôm đã đi vào câu ca dao:
“Đồng nát thì về Cầu Nôm”
Ngôi chùa Nôm tên tự là Linh Thông cổ tự, nằm ngay cạnh chợ Cầu Nôm Chùa Nôm, đình Tam Giang, cầu Nôm, chợ Cầu Nôm cùng với cổng làng, những ngôi nhà cổ là những di sản văn hoá tạo nên quần thể làng Nôm một vẻ đẹp cổ thuần Việt
Trang 302.2 Giá trị văn hóa vật thể:
Ở làng Nôm có hai di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, đó là: Đình làng Nôm và chùa Nôm Sau đây là những nét chính về hai di tích này và một số di tích tiêu biểu khác ở làng Nôm
2.2.1 Đình làng Đại Đồng(Nôm):
Đình là một thiết chế văn hóa quan trọng của người Việt Đối tượng thờ cúng của đình không phải là Phật, mà đó là các vị thành Hoàng làng Thành Hoàng làng là người có công chống giặc bảo vệ làng hay là người xây dựng nên làng hoặc là người có công dạy dân làng làm nghề thủ công,người
đó gọi là tổ nghề Đình là nơi hội họp bàn việc làng và là nơi sinh hoạt văn hóa của người làng Đình là ngôi nhà chung của cư dân mỗi làng xã người Việt, tương tự như nhà rông của người đồng bào Tây Nguyên, hay nhà gơl của người Cơ Tu (miền núi Trung Bộ)…Mỗi làng có một đình tuy nhiên có làng lại có hai hay ba đình tùy theo từng làng
Làng Nôm có một đình đó là đình làng Nôm còn có tên gọi là đình Tam Giang - Đình Đại Đồng Đình Nôm thờ Thánh có tên gọi là Tam Giang,
vị tướng của Hai Bà Trưng nhưng cũng là vị thần của ba con sông: sông Dâu, sông Đuống, sông Lục Đầu Do sự ngưỡng mộ của dân làng lấy tên Thánh đặt cho Đình biểu lộ lòng kính trọng đối với Hoàng làng
Đình làng Nôm xây dựng từ năm nào không rõ, theo kể lại, lúc đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ xây ngay trên nhà cũ của tướng Tam Giang, sau này dân làm ăn phát đạt mới có điều kiện xây dựng khang trang – Đình đã nhiều lần được trùng tu, đợt cuối cùng vào thời Khải Định cửu biên (1924) ngôi Đình hiện tại là kết quả của đợt trùng tu này Đình nằm trên khu đất rộng,cao ráo, thoáng mát, sạch đẹp Đằng trước là ao, đằng sau là cây đa Mũ Đồng
Trang 31Cân, bên tả là sông Nguyệt Đức, bên hữu là khu dân cư, có thể nói đó là thế đất long hổ ôm ấp sơn thủy, vì vậy Đình mang dáng dấp là ngôi Đền hơn
Đến thời nhà Tống xâm lược, vua Lê Đại Hành cầm quân chống giặc, qua trại Đồng Cầu, vua nghỉ tại đình Đồng Cầu xin phù hộ, trận ấy Ngài đại thắng bèn phong cho Tam Giang làm “Hộ Quốc Phúc Thần” Trải qua các triều đại Lý-Trần, các Ngài đều được âm phù hộ quốc nên các triều đại đều
có sắc phong
Ngôi đình xây dựng theo kiến trúc hình chữ Quốc gồm có: Tiền Tế, Phương Đình, Hậu Cung và Giải Vũ Đình xây dựng theo hướng đông nam, trông ra ao làng Những đêm trăng sáng mặt ao như tấm gương lớn in hình khối kiến trúc nguy nga, lung linh trên sóng nước Hai bên bờ là những ngôi nhà thờ họ cổ, những cổng gạch, tường xây san sát nối tiếp nhau tô điểm cho bức tranh làng quê thêm hưng thịnh Ao làng kéo dài từ sân đình đến cổng làng, cổng làng xây dựng theo hình bát trụ Cách cổng làng không xa về phía đông là một cây cầu đá lớn, sân đình được lát bằng gạch Bát Tràng với những cây đa cổ thụ xòe bóng che rợp cả trưa hè, bóng cây nghiêng nghiêng
rì rào như tiếng thì thầm của cha ông từ ngàn xưa vọng về Cạnh sân là một giếng xây bằng gạch, thành được vỉa bằng những tấm đá xanh Giếng làng góp phần làm cho cảnh quan của di tích thêm hoàn mỹ: cây đa, giếng nước, sân đình từ lâu đã đi vào tiềm thức của người dân nước Việt
Từ sân đình đi qua 2 bậc đá xanh, lên đến tòa Tiền Tế Tiền Tế gồm 5 gian, 3 gian giữa làm theo kiến trúc kiểu hội quán Hoa Kiều, là nét kiến trúc độc đáo mang phong cách kiến trúc vùng Phúc Kiến(Trung Quốc) hai bên là đôi rồng đá, 1 đôi voi phục gợi hình ảnh hào hùng thời hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận Các hiện vật được đục đẽo công phu, tinh tế thể hiện rõ nét kiến trúc thế kỷ XVII, ba gian giữa toa nhà Tiền Tế lợp bằng ngói ống đặc trưng của kiến trúc Trung Quốc, hai gian phụ hai bên lợp ngói mũi vây rồng , bốn
Trang 32cột cái hiên làm bằng đá xanh Tòa Tiền Tế gồm ba cửa làm bằng gỗ lim to, khỏe, bền chặt Kiến trúc vì kèo theo kiểu chồng rường giá chiêng pha trộn giữa kiến trúc Việt và Hoa Các đầu bẩy chạm rồng ngậm ngọc tượng trưng cho sự cao quý viên mãn, mang đậm nét kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn
Nối tòa Tiền Tế là tòa Phương Đình, đây là phần đặc sắc nhất của toàn
bộ kết cấu ngôi đình Phương Đình có cấu tạo hình vuông được làm theo kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái Chóp là 4 con phượng đầu hướng về
4 phương tượng trưng cho sự tuần hoàn của vũ trụ 4 đầu đao được trang trí long phượng kỳ duyên mang đậm tính trữ tình, 4 cột cái to khỏe sừng sững trên những chân tảng quả bồng nâng vòm mái tạo khoảng không gian cao xa vời vợi Đoạn cổ giữa 2 tầng mái trang trí họa tiết rồng phượng tượng trưng cho sự giao hòa trong thiên nhiên.Từ đây ánh sáng xuyên qua chói lọi như bước vào tòa “Giao Quang Các ”(nơi giao lưu hội tụ ánh sáng) làm cho chốn thờ tự thêm anh linh hiển hách 12 cột quân đỡ tầng mái dưới xòe ra 4 phía như che chở cho quê hương Các xà được trang trí băng những đường hoa văn, đường kẻ tạo nên vẻ thông thoáng, nhẹ nhàng các mảng cốn chạm tứ linh tứ quý được lặp đi lặp lại như 1 điệp khúc mà mỗi giai điệu đều có biến tấu linh hoạt Phương Đình tuy diện tích không lớn như tòa Tiền Tế nhưng bàn tay của con người đã dày công trau chuốt khiến từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ phải qua trái từ chi tiết đến tổng thể ngôi đình là tác phẩm
có giá trị của các nghệ nhân thế kỷ 19 Phương Đình là tổng hợp tinh hoa của các nghệ nhân đương thời sáng tạo nên những kiểu mẫu kiến trúc đặc sắc làm tôn sự linh thiêng nơi thờ tự Hậu cung đình gồm 3 gian nối liền với Phương Đình kiến trúc theo khiểu chồng rường đấu ren, gồm 3 cửa lớn các cánh cửa được chạm thủng các tích tứ linh, tứ quý rất tinh xảo Nhiều khách quan, hiều nhà nghiên cứu và các nhà khảo cổ khẳng định: làng Nôm là một trong những làng cổ co kiến trúc quy hoạch đẹp nhất tỉnh Hưng Yên
Trang 33Di tích còn lại hiện tại: Tiền tế, phương đình, giải vũ, hậu cung mặt quay hướng Đông Nam trông ra ao làng, những cây đa cổ thụ xòe bóng mát rợp cả sân đình lát gạch Bát Tràng Cạnh sân đình là giếng, giếng xây gạch, thành vỉa bằng những phiến đá xanh Cảnh quan: cây đa, giếng nước, sân đình từ lâu đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam
Cửa chính của đình có bức đại tự đề: “Đồng Nhan Chung Linh”(chốn linh thiêng làng Đồng Cầu) Đình Nôm (Tam Giang) còn lưu bản thần tích
từ thời Vĩnh Hựu Lục Tiên(1740) và Khải Định thất niên(1922) Cả hai bản thần tích đều được sao từ bản chính do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên(1572 ) Đình được khởi dựng từ xa xưa
và được trùng tu tôn tạo vào thời Khải Định cửu niên( 1924 ) Ngoài ra, đình Đại Đồng còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật như : 18 đạo sắc phong của các vua các triều đại đến nay còn 14 sắc phong, 1 cỗ ngựa, 11 bức đại tự, 9 đôi câu đối, 1 khám thờ, 1 bộ tam sự,
2 cỗ long đình ngai bài vị của thánh Tam Giang và của mẹ, của vợ thánh
Lễ hội đình Đại Đồng được tổ chức vào 2 ngày: ngày 10 /02 âm lịch ( ngày sinh của thánh ) và ngày 10 /08 ( ngày mất của thánh ) dưới thời phong kiến lễ hội đình Đại Đồng được mở ra với nhiều nghi lễ quan trọng có quy
mô lớn của cả vùng, ngày nay lễ hội được mở lại nhằm ghi nhớ công lao của các bậc tiền nhân, giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho thế hệ trẻ Ngày 12 / 2/1994 đình được Bộ văn hóa thông tin cấp bằng di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật
Đình Nôm (Tam Giang) là một di tích có giá trị về mặt lịch sử và cả
về kiến trúc nghệ thuật đầu thế kỷ XX, bố cục cân đối, hài hòa Đây là một công trình kiến trúc độc đáo về kết cấu hòa hợp giữa kiến trúc với thiên nhiên, kiến trúc dân tộc và hiện đại tiêu biểu cho những công trình đầu thế
kỷ XX vừa khang trang cổ kính, vừa thiêng liêng hấp dẫn
Trang 342.2.2 Chùa làng Đại Đồng(Nôm):
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đất vua, chùa làng” Các ngôi chùa đa số thuộc về cộng đồng làng xã Chùa bao giờ cũng là nơi linh thiêng đối với người Việt Nam Người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được Vật liệu thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân cư, gọi là của “công đức” Người ta tin rằng sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa Có lẽ vì thế mà chùa luôn luôn được người dân gìn giữ và tu bổ Những ngôi chùa Việt đều rất khang trang và đồ
sộ với quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau chứ không phải là một công trình riêng lẻ
Làng Nôm cũng như bao ngôi làng khác trên đất Việt cổ cũng có cho mình một ngôi chùa - Chùa Đại Đồng còn có tên gọi là chùa Thông hay chùa làng Nôm Chùa có tên tự là: Linh Thông Cổ Tự
Qua tam quan, du khách sẽ thấy một không gian rộng lớn của chùa hiện ra Một ngôi chùa hoành tráng, những cột gỗ lim khổng lồ một người
ôm không xuể, chìm sau bức tường đá ong cao vòi vọi và những tán cây cổ thụ rợp bóng… ngôi chùa Nôm cổ nằm ngay giữa khuôn viên của ngôi chùa mới mở rộng, dưới tán mấy cây cổ thụ
Theo truyền thuyết, chùa Nôm có từ thời Hai Bà Trưng Chuyện rằng, một sư thầy đang ngủ ở chùa Dâu, bỗng tỉnh giấc, rồi thấy hào quang sáng rực ở phía Nam Ngài cứ đi theo và thấy hào quang phát ra từ rừng thông Nghĩ rằng, Phật đã chỉ đất lành, nên ngài dựng một ngôi chùa tại rừng thông
đó và lấy tên là Linh Thông cổ tự Đây cũng chính là tên cổ của chùa Nôm
Và cũng theo một truyền thuyết khác, thì trước đây khu vực chùa Nôm là một rừng thông, trên đó có một cái am nhỏ, trải qua thời gian am bị hư hỏng,
Trang 35nhân dân mới xây dựng chùa Phải chăng vì sự linh thiêng của ngôi chùa cũng như của đạo Phật cộng với sự tốt tươi của mảnh đất này mà xuất hiện tên: “Linh Thung Cổ Tự” hay “Linh Thông Cổ Tự”
Chùa Nôm nằm trên khu đất cao, rộng khoảng 8000 m2 về phía bắc của làng; khác với các chùa khác, chùa Nôm nằm giữa ruộng đồng, bao quanh chùa là các lớp lũy tre được trồng lâu năm Các công trình kiến trúc trong chùa được bố trí hài hòa trong một khuôn viên khép kín Chùa làng Nôm ngoài phần thờ Phật, còn có 2 tòa điện thờ Thánh, đấy là kiểu “tiền Phật, hậu Thánh” giống như chùa Thầy ở tỉnh Hà Tây Phần chính của chùa được thiết kế theo hình chữ Đinh (với ý nghĩa đây sẽ là ngôi chùa bề thế và kiên định) gồm tiền đường và hậu cung Tam quan của chùa được dựng lại theo lối kiến trúc cổ, toàn bộ bằng gỗ tứ thiết, và hoàn thành vào mùa xuân
2006 Qua tam quan uy nghiêm là tiền đường, trước tiền đường là một khu đất rộng xưa kia là đồng ruộng canh tác nay được thay thế bằng một hồ nước nhỏ, có vọng lâu ở hai bên Phía trước sân là hai cây gỗ cổ thụ không xác định đã có từ bao giờ nhưng hai cây muỗm đã trở thành linh khí không thể thiếu của chùa Nôm Toà tiền đường của chùa Nôm gồm 7 gian, dài 18m, rộng 4m Đây là nơi lễ bái chính của dân địa phương và du khách thập phương Tiền đường là nơi lưu giữ nhiều hiện vật cổ, quý hiếm của chùa Ngay chính gian giữa của chùa treo tấm hoành phi khắc bốn chữ Hán lớn:
“Từ Quang Phản Chiếu” được dịch nghĩa là: Đạo Phật sáng tỏ chiếu rọi khắp mọi nơi
Trang 36Thăng trầm phả độ khách mười phương”
Tiền đường được làm theo kiểu tường hồi bít đất, mái trước dài hơn mái sau, lợp ngói mũi, lòng nhà tiền đường gồm hai hàng cột chính, mỗi dãy
6 cột bằng gỗ lim mặc dù đã trùng tu nhiều lần nhưng tiền đường vẫn giữ được phong cách cổ truyền và giá trị truyền thống Gian giữa tiền đường đặt nhang án phía trên treo ba bức hoành phi, bức cửa võng trang trí 9 con rồng chầu nói lên sự hưng thịnh của đất nước thời bấy giờ Hai gian bên cạnh đặt hai tượng Hộ Pháp, hai gian đầu hồi là hai bệ thờ có bia hậu và bát hương Toà tam bảo gồm 4 gian vuông góc với tiền đường, toà tam bảo có hai hàng cột cái, không có cột quân, các đầu kèo đều gối vào tường Toà tam bảo dài 8m, rộng 7m, hai bên tam bảo là cửa khách vừa để lấy ánh sáng, vừa là lối đi
ra hành lang
Dưới các xà hạ là các cửa võng sơn son thiếp vàng được trang trí thiết
kế với nhiều đề tài khác nhau vừa có giá trị nghệ thuật vừa mang tính triết lý nhân sinh Ở chùa Nôm có rất nhiều loại tượng thờ khác nhau, các bức tượng chính chủ yếu tập trung ở toà tam bảo, hàng trên cùng và sâu nhất của phật điện là 3 pho tượng tam thế phật, lớp tượng thứ 2 là bộ tượng A di đà, ở giữa
là A di đà, 2 bên là Văn Thù và Phổ Hiền, lớp tượng thứ 3 là tượng A di đà,
từ xa xưa người dân Việt coi người là vị cứu tinh, giải thoát cho những tam hồn đau khổ Tiếp đến là tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngọc Hoàng là chúa tể cõi trời Nam, Nam Tào là thần coi việc sinh, Bắc Đẩu là thần coi việc tử, 3 vị này vốn thuộc đạo giáo nhưng ở chùa Nôm lại được bố trí thờ cùng đạo Phật trong toà tam bảo, điều này giải thích được sự hoà hợp tôn giáo trong người dân Việt
Người dân làng Nôm tự hào chùa Nôm bởi đây không chỉ là nơi phục
vụ tín ngưỡng của dân địa phương, chùa Nôm còn lưu lại dấu tích của cả một thế kỷ, người dân làng Nôm một lòng đi theo Đảng cùng dân tộc đứng
Trang 37lên bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc Chùa là nơi hội họp của cán bộ quân dân du kích địa phương và cũng là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng, ngay dưới chân tượng Đức Ông còn có một căn hầm bí mật Nơi đây còn lưu giữ được một vài dụng cụ sinh hoạt của các cán bộ chiến sĩ đã để lại khi ẩn náu
Phía ngoài, hành lang của chùa Nôm mỗi bên gồm mười gian, một đầu hành lang nối với đường thứ hai tạo thành một không gian khép kín Nơi đây còn lưu giữ được mười tám pho tượng vị La Hán, mỗi bức tượng một dáng hình, một vẻ mặt như muốn căn dặn người đời hãy làm những điều hay
lẽ phải ở trần gian để mong đi qua những kiếp khổ kiếp nạn đến cõi niết bàn
Phía sau điện cung là hai toà điện thánh được xây dựng vào thời Khải Định năm Canh Thân 1920 Toà điện thờ thánh có hình chữ Nhị, toà ngoài gồm ba gian, hai đầu được xây dựng theo hình quai chảo, ở giữa đắp nổi hình hổ phù, phía trong điện thờ nổi bật kiến trúc mái vòm, được xây dựng, trang trí khá cầu kỳ, vòm mái giữa được kết cấu gỗ liền hình long thuyền, hai vòm cuốn giữa mặt trong được trạm trổ hình rồng, phượng Mỗi bên có bốn con rồng, một con phượng uốn lượn trong mây, mặt ngoài trạm thông, cúc, trúc, mai hoá rồng thể hiện sự giao hoà trời đất nơi cửa Phật Dưới xà ngang giữa có bốn đầu ngư thể hiện đề tài cá hoá rồng hai vòm cuốn tiếp theo trạm thủng thể hiện ba đầu hổ phù ở giữa to, hai bên nhỏ Mỗi vòm cuốn được trạm trổ hoa văn khác nhau thể hiện bức tranh nghệ thuật muôn màu chốn linh thiêng Kiến trúc tiền Phật hậu Thánh tạo nên đặc trưng tiêu biểu của chùa Nôm Qua lối kiến trúc và sự hài hoà không chỉ kiến trúc mà còn trong quan niệm thờ tự độc đáo của người dân Việt Phật điện cho thấy một sự giản dị như tinh thần Phật giáo muốn tìm đến bản thể chân tâm , còn chính điện thì sang trọng lung linh, huyền bí như tạo ra một cõi tiên giới trên phàm trần Đối diện với điện thờ là nhà tổ Nhà thờ tổ được xây dựng vào
Trang 38năm 2008, đây là nơi thờ các vị sư trụ trì tại chùa Nôm qua các thời kỳ Kiến trúc nhà tổ đơn giản nhưng toát lên vẻ đẹp từ chính sự giản dị ấy, 72 cột gỗ được dựng lên tạo thành 1 lớp mái luôn tràn ngập ánh sáng nơi nhà tổ Bên sải sân là nhà thờ Bác Hồ Nhà thờ làm toàn bộ bằng gỗ, nền lát gạch đỏ, có
2 cửa ra vào ở 2 bên, bên trong có tượng Bác Hồ được đúc bằng đồng đặt trang trọng trên bệ thờ ở chính giữa bức tường phía trước thể hiện tình cảm lòng biết ơn của tăng ni, phật tử, của con dân nước Việt với Bác kính yêu,trong không gian chùa Nôm vẫn còn lưu giữ hình ảnh một giếng chùa cổ được xây dựng thời Hậu Lê, hàng năm vào ngày hội làng 12/1 âm lịch, người làng Nôm đến giếng lấy nước để tổ chức lễ rước theo đúng nghi lễ truyền thống vì thế giếng chùa càng trở nên gần gũi linh thiêng
Chùa làng Nôm không biết chính xác có tự bao giờ Về cứ liệu lịch
sử, thì chùa Nôm có tuổi đời ít nhất cũng 500 năm Trong 2 tấm bia đá lớn đặt sau hậu cung có từ thời Hậu Lê ghi rõ: Đời Chính Hòa, năm Canh Thân (1680), sau khi lên ngôi, nhà vua cho xây dựng lại chùa, tiếp đến các năm Nhâm Thân (1692), giáp Tuất (1644), Đinh Sửu (1697), Mậu Dần (1698) và
Kỷ Mão (1699) tiếp tục sửa lại tiền đường, hậu cung, hành lang, xây dựng lại cổng chùa và xây dựng ba gian đình ngay phía trước chùa ( Năm 1954 ta cho hạ giải ngôi đình này để xây hợp tác xã mua bán của huyện, hiện nay vẫn còn có các gian nhà cho dân thuê làm dịch vụ)
Đến năm Chính Hòa thứ 21 (1700), nhân dân sửa lại các cột trụ, tạo thêm tượng và mở mang thêm chùa
Năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1796), Chùa lại được xây thêm gác chuông, hai dẫy hành lang được xây dựng lại thành mỗi dãy 10 gian, sửa chữa lại hậu cung
Trang 39Sang thời nhà Nguyễn, vào đời Thành Thái năm thứ 11 (1899), chùa Nôm được trùng tu thêm một lần nữa như sửa lại mái, đảo lại ngói, xây châm tảng cao để tôn thêm độ cao ở tiền đường
Ngoài những phần chính, điện thờ thánh ở phía sau hậu cung được xây dựng vào đời Khải Định năm thứ 5(1920) và có một tháp thờ trong hiên mới được xây dựng cách đây hơn mười năm
Ngoài những lần xây dựng và trùng tu lớn được ghi lại trên bia ký và những bút tích còn lại như đã nêu trên, nhà chùa còn tiến hành nhiều đợt xây dựng và sửa chữa nhỏ
Trong thời kỳ chống Pháp, năm 1948, sau khi quân dân xã, huyện đánh bốt Nghĩa Lộ (xã Chí Đạo), địch đã dùng Moocs- Chê bắn vào làng, vào chùa làm hỏng mái tam bảo, vỡ một số đồ tế tự
Sau nhiều năm trùng tu qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử cũng như sự phá huỷ của thiên nhiên, chùa bị xuống cấp nghiêm trọng Đến tháng
9 năm 1992 Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam đã bổ nhiệm Đại đức Thích Đồng Huệ về trụ trì tại chùa Từ đó đến nay Đại đức đã cùng chính quyền, đoàn thể và nhân dân xây dựng lại ngôi chùa ngày càng khang trang, phù hợp với cảnh quan và quần thể di tích tại ngôi làng cổ này Thực tế, từ sân chùa chính vào chùa cổ chỉ là cổng phụ, lối sau chùa Cổng chính ngôi chùa
đã được xây kín lại Toàn bộ khuôn viên chùa cổ đã lọt thỏm trong ngôi chùa chính được quy hoạch rộng cả chục ha Xuyên qua con đường nhỏ phía hông chùa, có một vườn mộ tháp bằng đá ong lên màu vàng chóe Những tháp đá đẹp và còn lại nguyên vẹn Dù chùa đã trải qua mấy lần đổ nát, trùng
tu, song những tháp đã vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt cửa phụ nhỏ xíu, chỉ lọt một người, kiểu cửa của chùa cổ, dẫn chúng tôi đi chiêm ngưỡng những tác phẩm vô cùng độc đáo của ngôi chùa, đó là những pho tượng đất Dọc hai
Trang 40bên hành lang là mái hiên ngói chạy dài, bên dưới có hai dãy tượng sơn đủ các màu, với các trạng thái mô tả con đường hành Phật
Các pho tượng đất đều ngồi, đứng trên một giá đỡ bằng đất, có thể là một hòn giả sơn, hoặc đơn giản chỉ là cái bệ Đủ các thế tượng đứng, ngồi, gầy, béo, hiền lành, dữ tợn, dân dã, thần tiên, tướng dữ… Riêng mỗi hành lang cũng có 18 pho tượng lớn nhỏ, với những chủ đề khác nhau Tượng đất nằm ở khắp nơi trong ngôi chùa cổ này
Phía sau hậu cung là một không gian hết sức đẹp mắt, huyền bí Cả một dãy núi với những hang động, mái đá được làm bằng đất Trong các hang động, các vách đá là những bức tượng đất mô tả các vị thánh đang ngồi tịnh tâm, tu luyện Các pho tượng mang khuôn mặt và hình dạng có sức biểu cảm cao, giống với các trạng thái cảm xúc của con người Các vị thần cũng được mô tả như con người bình thường, nhưng rất thoát tục, từ trang phục đến trạng thái của các pho tượng cổ đều mang nét dân dã, thuần Việt Điều này chứng tỏ trong con mắt của cha ông ta, Phật giáo rất gần gũi với đời sống con người, Phật giáo và đời sống như hòa làm một
Tượng đất trong ngôi chùa cổ này có nhiều kích cỡ khác nhau Có rất nhiều pho tượng nhỏ xíu, chỉ bằng nắm tay, trông như búp bê của trẻ con, song có những cặp tượng khổng lồ Tổng cộng có 128 pho tượng bằng đất trong chùa Nôm Những cặp tượng khổng lồ, cao đến 3m, uy nghi như những dũng tướng, thần sấm, thần sét đứng gác hai bên điện thờ Khuôn mặt những vị tướng này thật gớm ghiếc, sinh động, trông y như người thật Phía dưới chân một pho tượng lộ ra một vết vỡ, nhìn vào thì nhận rõ chất liệu bằng đất sét Nhưng những pho tượng khổng lồ làm bằng đất, chịu trọng lực lớn, mà vẫn tồn tại nguyên vẹn qua nhiều trăm năm Làm tượng đất thường
có công thức chung Nguyên liệu cơ bản gồm đất sét, vôi, mật, giấy bản