1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khu lưu niệm nguyễn du với hoạt động du lịch hà tĩnh

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và một trong những điểm nhấn của du lịch văn hóa Hà Tĩnh mà bạn không thể bỏ qua đó chính là Khu lưu niệm gắn liền với tên tuổi của một trong ba danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc -

Trang 1

1

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt bài khóa luận, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đặc biệt cô giáo Th.s Hồ Thu Hà, giảng viên khoa văn hóa du lịch, người đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian vừa qua

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới chú Đinh Sỹ Hồng - trưởng ban quản lý Khu lưu niệm Nguyễn Du, các cô các chú trong Ban quản lí khu lưu niệm Nguyễn Du, Sở văn hóa thể thao và

du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã cung cấp cho em những tài liệu bổ ích liên quan đến bài viết

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ động viên em trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp

Do thời gian cũng như trình độ hiểu biết của bản thân còn hạn chế nên chắc hẳn bài viết còn có nhiều thiếu sót, mong bạn đọc thông cảm và góp ý để bài viết hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện Trần Quỳnh Trang

Trang 3

3

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Tình hình nghiên cứu 3

5 Nguồn tư liệu 3

6 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 1: NGHI XUÂN VÀ DÒNG HỌ NGUYỄN Ở TIÊN ĐIỀN 5 1.1 Nghi Xuân- vùng đất “địa linh nhân kiệt” 5

1.1.1 Địa lý, lịch sử, con người 5

1.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5

1.1.1.2 Lịch sử 7

1.1.1.3 Con người 9

1.1.2 Những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu 10

1.1.2.1 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa 10

1.1.2.2 Nghệ thuật diễn xướng 12

1.2 Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền 15

1.2.1 Dòng họ Nguyễn Tiên Điền 15

1.2.2.Đại thi hào Nguyễn Du……… 20

1.2.2.1.Những thăng trầmcủa số phận……… 20

1.2.2.2 Những tuyệt tác văn chương bất hủ………….……… 23

CHƯƠNG 2: KHU LƯU NIỆM NGUYỄN DU 28

2.1 Khái quát về khu lưu niệm 28

2.1.1.Vị trí địa lý 28

2.1.2 Lịch sử hình thành và tồn tại 29

2.1.3 Không gian cảnh quan 32

2.1.4 Bố cục kiến trúc 34

Trang 4

2.1.5 Hệ thống di vật - hiện vật 39

2.2 Vị thế của Khu lưu niệm Nguyễn Du 41

2.2.1 Trong đời sống tinh thần của nhân dân. 41

2.2.2 Trong sự phát triển du lịch Hà Tĩnh 43

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI KHU LƯU NIỆM NGUYỄN DU 46

3.1 Thực trạng hoạt động du lịch ở khu lưu niệm 46

3.1.1 Công tác quản lý Nhà nước 46

3.1.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật và các dịch vụ bổ sung phục vụ du lịch 48 3.1.3 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 50

3.1.4 Công tác tuyên truyền quảng cáo 52

3.1.5 Khách du lịch và doanh thu 52

3.2 Định hướng phát triển du lịch tại khu lưu niệm Nguyễn Du của du lịch Hà Tĩnh 54

3.3 Một số giải pháp xây dựng khu lưu niệm Nguyễn Du thành điểm du lịch văn hóa hấp dẫn 59

3.3.1 Nâng cao công tác trùng tu tôn tạo 59

3.3.2 Nâng cao công tác quản lý Nhà nước 60

3.3.3 Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ bổ sung 62

3.3.4 Đào tạo và củng cố nguồn nhân lực 64

3.3.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và quảng cáo 65

3.3.6 Thiết kế các chương trình du lịch từ khu lưu niệm 67

KẾT LUẬN 72 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Hà Tĩnh không có danh lam nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, động Phong Nha, không có nghĩa là Hà Tĩnh không có nơi để khách phương xa gửi hồn mình trong phút giây say đắm, thì đó chẳng phải một thoáng đèo Ngang khiến nữ sĩ Huyện Thanh Quan đã phải “ Dừng chân đứng lại trời non nước”, một dòng sông La chưa có tên trên bản đồ Việt Nam nhưng lại ngân vang trong hàng trăm khúc hát “ Em ước mơ hoài mà chưa được đi qua…” Hơn thế, Hà Tĩnh còn là một mảnh đất giàu bề dày truyền thống văn hóa lịch sử sẽ là một điểm đến khá hấp dẫn dành cho bạn Một Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng, một khu lưu niệm tổng bí thư Trần Phú khang trang,…tất cả góp phần tô điểm thêm cho hình ảnh đất nước Việt Nam anh hùng Và một trong những điểm nhấn của du lịch văn hóa Hà Tĩnh mà bạn không thể bỏ qua đó chính là Khu lưu niệm gắn liền với tên tuổi của một trong ba danh nhân văn hóa thế giới của dân tộc - Khu lưu niệm Nguyễn Du

Đó là nơi ghi dấu lại cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Nguyễn Du, là nơi

để nhân dân cả nước cùng bạn bè quốc tế hành hương tìm về mảnh đất đã sinh ra ông Đây không những là một khu di tích nổi tiếng của Hà Tĩnh, mà còn là một trong những di sản văn hoá quan trọng của cả nước Tuy nhiên nó còn khá xa lạ với du khách trong và ngoài nước bởi việc khai thác du lịch tại đây chưa được chú trọng, thiếu sự đầu tư, quy hoạch tổng thể Vì vậy mà Hà

Trang 6

Tĩnh hiện nay chưa tận dụng được tiềm năng vốn có của nó và chưa thu được hiệu quả cao

Trước thực trạng đó, với tư cách là một sinh viên chuyên ngành văn hoá du lịch, cùng với những kiến thức sẵn có, sự tìm tòi học hỏi và sự giúp

đỡ tận tình của cô giáo Th.s Hồ Thu Hà, cũng như với tình cảm yêu mến

dành cho quê hương, người viết mạnh dạn chọn đề tài “Khu lưu niệm Nguyễn Du với hoạt động du lịch Hà Tĩnh” cho khóa luận tốt nghiệp của

mình Với đề tài này, người viết hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu và nâng cao hiệu quả du lịch tại khu lưu niệm nói riêng và

sự phát triển của du lịch Hà Tĩnh nói chung

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích:

Xuất phát từ mong muốn thực tế đưa du lịch Hà Tĩnh phát triển rộng rãi và thu hút nhiều khách du lịch cũng như khai thác tiềm năng sẵn có của khu lưu niệm Nguyễn Du, người viết chọn đề tài này với mục đích nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của khu lưu niệm qua việc khảo sát tình hình thực tế nhằm đưa ra ý kiến thúc đẩy sự phát triển du lịch tại khu lưu niệm, xây dựng hình ảnh du lịch Hà Tĩnh trong con mắt của nhiều người, đưa Hà Tĩnh trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch văn hoá nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung

Trang 7

7

3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện bài viết của mình, người viết đã sử dụng những phương pháp :

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu có sẵn như sách vở, các tạp

chí, tài liệu của Ban quản lý di tích, thông tin tra cứu từ internet…

- Phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh và tổng hợp: đây là phương pháp nhằm làm rõ những luận điểm chính trong bài viết

- Phương pháp khảo sát thực tế: đây là phương pháp quan trọng để có

thể đưa ra những thông tin chính xác về khu lưu niệm cùng hoạt động du lịch tại đó Để làm được điều này, người viết phải đi khảo sát thực tế tại điểm nhằm ghi nhận và đánh giá thông tin để tăng thêm độ chính xác về thông tin

và sử dụng vào bài viết làm cho bài viết phong phú hơn

4 Tình hình nghiên cứu

* Khu lưu niệm Nguyễn Du dưới góc độ là một di sản văn hóa:

Có khá nhiều bài viết đề cập đến khu lưu niệm Nguyễn Du dưới góc

độ là một di sản văn hóa bởi khu lưu niệm chính là nơi ghi lại những dấu ấn

về cuộc đời của một con người tên tuổi, một trong ba danh nhân văn hóa của dân tộc ta Bộ văn hóa thể thao và du lịch cũng như Sở văn hóa thể thao

và du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã nhìn nhận ra vai trò quan trọng của khu lưu niệm

và đã vạch định ra những kế hoạch để nhằm bảo tồn các giá trị tại đây

* Khu lưu niệm Nguyễn Du dưới góc độ là một sản phẩm du lịch:

Khu lưu niệm được xếp hạng là một di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Nó được coi là điểm di tích quan trọng trong hành trình khám phá mảnh đất Hà Tĩnh Tuy nhiên vai trò này chưa được nhìn nhận một cách tích cực bởi hoạt động du lịch tại đây còn chưa tốt, công tác quản lý, tuyên truyền quảng bá hình ảnh chưa đạt được hiệu quả Do vậy, người viết đã chọn đề tài này nhằm đưa ra một vài ý kiến nhằm đóng góp cho sự phát triển du lịch tại khu lưu niệm này

Trang 8

5 Nguồn tư liệu

Trong bài viết, người viết đã sử dụng nguồn tư liệu từ: sách báo, tạp chí, tranh ảnh, các thông tin trên internet, và một số bản báo cáo, tổng kết của sở văn hóa thể thao và du lịch Hà Tĩnh, …những thông tin này được sử dụng nhằm làm rõ những luận điểm chính trong bài viết Danh mục cụ thể về nguồn tư liệu sẽ được liệt kê ở phần tài liệu tham khảo

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bài viết được chia thành ba chương với nội dung theo trình tự như sau:

Chương 1: Nghi Xuân và dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền

Chương 2: Khu lưu niệm Nguyễn Du

Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại khu lưu niệm Nguyễn Du

Trang 9

9

Chương 1: NGHI XUÂN VÀ DÒNG HỌ NGUYỄN Ở TIÊN ĐIỀN 1.1 Nghi Xuân - vùng đất “ địa linh nhân kiệt”

1.1.1 Địa lý, lịch sử, con người

1.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Nghi Xuân là một huyện ven biển hữu ngạn sông Lam, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hà Tĩnh, phía tây nam giáp thị xã Hồng Lĩnh; phía Nam giáp huyện Can Lộc và huyện Lộc Hà; phía Bắc giáp huyện Nghi lộc ( tỉnh Nghệ An); phía Tây Bắc giáp huyện Hưng Nguyên và thành phố Vinh; phía đông giáp với biển Đông Với tổng diện tích 218km2 và dân số hơn 100 515 người, Nghi Xuân bao gồm 2 thị trấn là thị trấn Xuân An và thị trấn Nghi Xuân và 17 xã

Nghi Xuân thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhìn chung khí hậu khá khắc nghiệt, nắng nóng mưa nhiều, hạn hán, lại chịu ảnh hưởng của gió Lào Sự đa dạng, phức tạp của điều kiện tự nhiên tạo ra khó khăn cho con người, nhưng bù lại, nơi đây lại có bao cảnh đẹp kỳ thú, sơn thủy hữu tình

Nằm trên bờ sông Lam lại cận kề với biển, Nghi Xuân được thiên nhiên ưu ái dành cho một thế đất, thế đứng đặc biệt:

Hồng Lĩnh sơn cao Song ngư hải khoát Nhược ngộ minh thời Nhân tài tú phát

( Núi Hồng Lĩnh cao cao, hòn song ngư ngoài biển lộng

Gặp buổi có vua hiền, nhân tài đua nhau phát.)

Trang 10

Địa thế, cảnh quan của vùng quê này đã từng nuôi lớn hồn thơ của Nguyễn Du, giúp ông khi “ Hồng Sơn liệp hộ” lúc “Nam hải điếu đồ” để dệt nên những câu Kiều đẹp mà buồn đến nao lòng

Ai đã từng đi qua mảnh đất này, đều không khỏi ngỡ ngàng bởi cảnh sắc nơi đây Núi sông quấn quyện vào nhau thật gợi cảm, gợi tình Từ bao đời nay, Sông Lam và Ngàn Hống là biểu tượng cho vùng đất văn hóa, văn hiến Nghệ Tĩnh, mà huyện Nghi Xuân nằm gọn trong lòng của non sông cẩm

tú ấy Phía Bắc Nghi Xuân là dòng sông Lam lờ lững chảy quanh, soi lung linh biết bao danh thắng với kì tích huyền thoại lẫy lừng Phía nam Nghi Xuân là dải Hồng Lĩnh như bức thành thiên nhiên uốn lượn nhấp nhô mang theo bao cảnh quan và di tích kỳ thú làm say đắm lòng người Phía Đông là biển bạc chứa đầy những hải sản quí với đảo Ngư, đảo Mút đã từng lừng danh trong sử sách thi ca Cái khác biệt của huyện Nghi Xuân với các huyện khác đó chính là vị thế của nó, cái thế tam non- sông- biển ấy đã tạo ra một Nghi Xuân rừng vàng biển bạc, non xanh nước biếc hữu tình Đáng chú ý nhất là “Nghi Xuân bát cảnh” những danh thắng không thể không ảnh hưởng

và gắn bó với cuộc đời Nguyễn Du

Núi Hồng thành dựng là ngọn núi làm phên dậu thành lũy tự nhiên che chở cho Nghi Xuân Xuất nguồn của cái tên Hồng là từ huyền thoại : Dãy núi

xa xưa có tới 100 đỉnh như đỉnh Đầu Voi, đỉnh Đầu Ngựa, đỉnh Móng Gà, những cái tên của bách sinh muôn vật Hẳn là vì thế nên đỉnh núi có tên là Ngọc tự thấy mình cao quí hơn mà tách khỏi quần thể, đứng lẻ loi trên đất Đức Thuận nay thuộc thị xã Hồng Lĩnh Đàn chim Hồng được biết nơi này

có 100 đỉnh có thể đậu tốt, bèn cử 100 con đến tọa lạc Sau khi 99 con hạ cánh, đậu trên 99 đỉnh, còn một con dù biết kia là đỉnh núi Ngọc, đậu trên nó

sẽ lộng lẫy nhất nhưng do tính tập thể cao nó không muốn lẻ loi Nó bèn lượn đi tìm chỗ xứng đáng hơn Một người dân xã Mỹ Dương thấy thế vừa thương con chim lẻ đàn vừa sợ cả đàn chim bỏ đi nên anh ta cùng một số

Trang 11

11

người đến sát chân núi đắp một cục líp hình cái nón để chim đỗ xuống Con thứ 100 bèn sà xuống đậu Nhưng bởi đắp vội vàng cục líp vỡ ra con chim vôi bay lên Nghe vang động cả đàn cùng tung cánh bay đi Để nhớ về sự kiện này thì cái tên núi Hồng đã ra đời từ đó Nguyễn Du viết trong truyện Kiều: “ Cánh Hồng bay bổng tuyệt vời” có lẽ là từ cái tên gắn bó sâu nặng ấy với thi nhân Trong dải Hồng Lĩnh có núi Na Ở địa phận xã Xuân Lam có chợ Hoa Phẩm họp trước chân núi Na Chợ nằm ở triền sông, gần đường cái, thông thương nam bắc Cũng trong dải Hồng Lĩnh có hòn núi Cô độc Nhìn nhóm núi thấy như đàn trâu đang cúi mình và một con nghé lẻ loi Từ hòn Cô độc xuôi dòng rồi rẽ vào xã Xuân Hồng, trên sườn hữu ngạn có chùa Uyên Trừng toạ lạc trên dải Hồng Lĩnh Đây là ngôi chùa cổ linh thiêng nổi tiếng nhất Nghi Xuân được dựng lên từ thời Lý

Từ chùa Uyên Trừng xuôi qua bến Thuỷ, có bãi cát bằng Cồn Mộc Đó

là bãi cồn bằng phẳng, viền quanh là rừng bần xanh tươi nổi bồng bềnh giữa sông Xưa kia Quần Mộc có lúc được chọn làm trường thi Thời Tây Sơn nơi này được đắp xây thành luỹ Đi xuôi từ Quần Mộc là cập bến Giang Đình Trước đây nơi này là bến đò ngang ở trung tâm Nghi Xuân Còn nay bến đã dời sang chợ Giang Đình mới, đò nối hai bờ của hai tỉnh Nơi này nổi tiếng

vì có thơ của thi hào để lại Đó là bài thơ tả cuộc đón rước cha ông tại Giang Đình

Rời Giang Đình xuôi ra cửa sông Lam là cửa Hội, nổi tiếng với di chỉ khảo cổ Xuân Hội, minh chứng cho một thời kì ngoại thương giao dịch tấp nập xưa kia ở nước ta Đứng trên đất xã Xuân Hội nhìn ra xa hiện lên trước mắt ta là hòn đảo Song Ngư Đảo có hình giống như hai con cá lớn đầy đủ đầu và đuôi đang châu đầu vào nhau như đang đùa giỡn trên biển

Tám cảnh hữu tình ấy hẳn phải ăn sâu thấm đẫm vào Nguyễn Du cũng như nhiều người trong dòng họ Nguyễn Tiên Điền Tất cả đều gắn, đều phát

Trang 12

tích từ Ngàn Hống, sông Rum để góp phần chung đúc nên một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới

1.1.1.2 Lịch sử

Nghi Xuân xưa vốn là vùng đất cổ của bộ tộc Việt Thường Con người có bóng dáng tại đây khoảng 4000 - 5000 năm trước Thuở xa xưa, không rõ huyện lỵ đóng ở đâu Nghi Xuân là địa danh có sớm và đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi: “ Xưa kia có gọi là Châu Nha Nghi, theo sách Quảng Dư đời Đại Minh chép là 1 huyện đầu thuộc phủ Nghệ An đóng Nay

ở Tả Ao thường gọi là phủ môn, lâu đài, trường tập, vì dưới đất có nhiều ngói gạch cũ vỡ nát, có lẽ xưa là nơi phủ trị Có truyền thuyết cho rằng, dấu vết đó là di tích nhà Hồ(?) Có thời kỳ gọi là huyện Nghi Chân Tên này chép trong “ Bản đồ ký” soạn dời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn) Đời trước truyền lại rằng, huyện hợp nhất với huyện Chân Lộc Trong chú thích thơ ông Bùi Tốn Trai (Bùi Dương dịch) có câu: “ Sông An Lạc là giới hạn huyện Nghi Xuân” Thơ Bùi Tồn Am có câu: “ Bản đồ xưa chép huyện Nghi Chân”(Đồ kinh kiến thiết cổ Nghi Châu) Nay lại đổi là huyện Nghi Xuân Hai tiếng Nghi Xuân xuất hiện kể từ khi vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước Huyện trước thuộc phủ Đức Quang tỉnh Nghệ An Nghệ An xưa là đất Việt Thường Phủ Đức Quang trước có 6 huyện: La Sơn ( Đức Thọ), Thiên Lộc (Can lộc), Nghi Xuân, Chân Lộc( Nghi Lộc), Thanh Chương, và Hương Sơn Có thời gian, bị tách thuộc phần đất Nam Hà, nhưng không bao lâu trở lại như

cũ Đó là vào đời Thịnh Đức triều Lê, quân Đàng Trong đánh chiếm 7 huyện, Nghi Xuân là một trong những huyện đó

Sau đó Nghi Xuân thuộc phủ Đức Thọ, Hà Tĩnh Khoảng năm Gia Long đổi tên phủ Đức Quang thành Đức Thọ, tách các huyện Chân Lộc, Thanh Chương trực thuộc sang phủ Anh Sơn Năm Nhâm Dần đời Minh Mạng(1831) tách 2 phủ Đức Thọ và Hà Hoa - nay là Hà Thành( Hà Thành hồi đó gồm Kỳ Anh và Cẩm Xuyên) lập riêng tỉnh thành tỉnh Hà Tĩnh

Trang 13

13

Đến thời vua Khải Định, Nghi Xuân thuộc phủ Đức Thọ Từ 1932 đến

1976, huyện Nghi Xuân trực thuộc Nghệ Tĩnh Từ 1991 đến nay, Nghi Xuân

là một trong 12 huyện của tỉnh Hà Tĩnh như ngày nay

Theo như các nhà khảo cổ học, sử học đã nghiên cứu, miền đất này từ rất sớm đã mở cửa buôn bán với người Hoa, người Nhật Trong các bãi mộ ở Tiên Điền, Xuân Mỹ, Xuân Viên, Xuân Giang, Xuân Hải, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra nhiều thạp, bình thời Lý, Trần cách đây 700 đến 1000 năm Nhiều bát gốm, đĩa sứ đã được tìm thấy và còn được lưu giữ, trưng bày tại khu lưu niệm Nguyễn Du tại xã Tiên Điền

1.1.1.3 Con người

Người Hà Tĩnh nói chung cũng như con người Nghi Xuân nói riêng đều mang trong mình cái cá tính riêng biệt với những đặc trưng dễ phân biệt với những miền quê khác, nó được thể hiện ngay từ tính cách đến cả giọng nói với những từ ngữ rất đặc trưng “chi, mô, răng rứa”

Không được thiên nhiên ưu đãi như nhiều vùng quê khác, trên mảnh đất Nghi Xuân ấy, những dòng kênh từ ruộng trũng chảy len lỏi qua các xóm thôn rồi đổ ra sông Lam là những mối nguy lớn cho làng hàng năm vào mùa mưa lũ… Những khó khăn ấy không làm cư dân ở đây nản chí, thoái lui Họ vừa “bám đất”, “bám làng”, một nắng hai sương với ruộng đồng, vừa phát triển những ngành nghề thủ công như nghề làm tơi, nón, nghề mộc, đan lát

và phát triển thương nghiệp Mặc cho điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống khó khăn, đồng ruộng đất đai cằn cỗi, người dân phải vất vả mới đủ ăn nhưng chính hoàn cảnh ấy đã tạo cho họ một bản lĩnh vững vàng để chống chọi lại với thiên nhiên- những con người mạnh bạo, chí vững, tâm hùng mà lịch sử vẫn cho ta biết rằng “không đời nào xứ ấy hiếm hoi anh hùng hào kiệt”, những con người mang trong mình đức tính chịu thương chịu khó, đoàn kết cộng đồng, yêu quê hương và biết “ sống chắt chiu câu nghĩa tình” Con người Nghi Xuân có nếp sống giản dị, tiết kiệm, không phô trương cùng

Trang 14

bản chất thật thà, trong sáng Người dân nơi đây ý thức được những khó khăn mà mình phải gánh chịu bởi “ đất cằn sỏi đá” để rồi không nản lòng mà còn phải luôn luôn cố gắng để vượt qua hoàn cảnh Càng khó khăn bao nhiêu con người càng có ý chí bấy nhiêu Chính điều kiện đã hun đúc cho họ tính kiên nhẫn, tiến thủ, và bản tính hiếu học đã được chứng minh qua nhiều thế hệ: “Xứ ấy là miền hẻo lánh cho nên di cư đến đó phần nhiều là những người hăng hái mạnh mẽ, tiếp nối từ đời này sang đời khác đã sinh ra những con người lỗi lạc của đất Hồng Lam”

Nghi xuân là quê hương của của nhiều người dân từng theo Tây Sơn đánh giặc ngoại xâm, theo Cần Vương dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân thù, là mảnh đất sinh ra những con người anh dũng, đã đóng góp công sức trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược…Nghi Xuân cũng là mảnh đất của “cầm, kỳ, thi, họa” Từ xưa đến nay, tên tuổi của những con người vĩ đại đều gắn, xuất phát từ vùng đất này mà ra Nguyễn Huy Tự - một nhà chính trị, quân sự và thi sĩ nổi tiếng thời cuối Trịnh và Tây Sơn; Nguyễn Công Trứ - một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX với nhân cách cao thượng, tâm hồn phóng khoáng, tài năng về nhiều mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, thơ ca; …cũng đều lớn lên trên mảnh đất này

Trong số những người nổi tiếng hiện nay cũng có nhiều người sinh ra

từ Nghi Xuân như Nghệ sỹ nhân dân Đào Mộng Long, giaó sư khảo cổ học

Hà Văn Tấn, Nghệ sỹ nhân dân Lê Đóa…

Hiện nay trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những truyền thống tốt đẹp của người dân nơi đây không những không mất đi mà ngày càng được vun dắp Họ cùng nhau chung sức chung lòng để xây dựng một Nghi Xuân giàu đẹp hơn

Trang 15

* Đền thờ và mộ Nguyễn Công Trứ: Nguyễn Công Trứ sinh năm Mậu

Tuất (1778) tại Thái Bình, ông mất tại quê nhà làng Uy Viễn, Nghi Xuân (1858) Di tích Nguyễn Công Trứ ở làng Uy Viễn còn ngôi mộ và nhà thờ

Mộ thời gian đầu là mộ đất, sau sụt lở dần do mưa lụt Năm 1918, con cháu xây lại trên khoảng đất bằng phẳng rộng 1860m2 Mộ hình chữ nhật dài, phía trên vát kiểu mái nhà được xây bằng gạch, phía trước xây thêm bờ gạch để đặt bát hương và mộ chí khắc rõ bằng chữ Hán: Khải Định Mậu Ngọ Xuân Kiến ( xây dựng vào xuân Mậu Ngọ, Triều Khải Định 1918)

Nhà thờ được xây dựng bằng gỗ trên mảnh đất rộng, nó được lợp ngói mũi hài sau đó bị hư hỏng và được sửa chữa nhiều lần Nhà thờ gồm 3 gian Nội thất, đồ tế khí tập trung vào gian giữa, hai gian hai bên chỉ để giá trống, giá chuông phục vụ hành lễ Năm 2004-2005, đền thờ và mộ Nguyễn Công Trứ đã được Bộ văn hóa thông tin đầu tư tu bổ tôn tạo khang trang

* Đền và mộ ông Hoàng Mười: đây là di tích thuộc làng Xuân An, xã Ân

Công, được xây dựng vào thời nhà Lê (1764) Từ năm Cảnh Hương thứ 44 (1784) đến trước thời Bảo Đại, có hơn 40 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến nhưng hiện nay chỉ còn 21 đạo Tòa thượng điện của đền có 3 gian, gian trái thờ Song Đòng Ngọc Nữ, gian phải thờ Thái Bảo Phúc Quận Công và phụ quốc thượng tướng quân, gian giữa thờ Thái úy Vĩ Quốc Công Tương truyền các ông hoàng đều có gốc tích là con trai Bát Hải Đại Vương ở

hồ Đông Đình nên đều là Long Thần nhưng trong các văn chầu tong ông thì

Trang 16

phần lớn các ông là người thần, những danh tướng có công đánh giặc, khai phá đất đai Trong đời thường đức thánh Hoàng Mười là người tài hoa, hay

giao du Ông có nguồn gốc là thiên thần, ông Hoàng Mười được thờ tại đền

là một danh tướng thời Lê, gốc Nghệ An, được nhân dân thần thánh hóa trở thành vị thần chính thờ ở đền Ngày 25/7/1929, năm Khải Định thứ 9, vua Khải Định có sắc phong “Quang úy trung đẳng thần” nhưng trong tín ngưỡng tâm linh nhân dân tôn ông là “thượng đẳng thần” Lễ hội đền ông Hoàng Mười được tổ chức vào ngày 10 tháng 10 (âm lịch) với nhiều trò chơi dân

gian như cờ người, chọi gà, đua thuyền…

* Đền chợ Củi: tọa lạc cạnh bờ sông Lam, nay thuộc xã Xuân Hồng,

huyện Nghi Xuân Đền chợ Củi khởi dựng vào khoảng giữa thế kỉ XVIII thờ Liễu Hạnh công chúa

Đền chợ Củi có diện tích 1040 m2, từ bờ sông Lam đi vào lần lượt qua tam quan, hồ bán nguyệt, sân ngoài, sân trong, hạ điện, trung điện, thượng điện Qua các tài liệu thành văn và khảo sát thực địa, các nhà nghiên cứu khẳng định đền chợ Củi là đền thờ Mẫu Liễu Tuy vậy có thể trong quá trình lịch sử các đền miếu khác trong vùng bị tàn phá, một số pho tượng và tế khí được đưa về đây cùng với việc thờ công chúa Liễu Hạnh, nhân dân thờ luôn một số vị khác như Trần Hưng Đạo, Lê Khôi Vì sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với Mẫu Liễu và đặc sắc về cảnh quan kiến trúc nên đây là một trong những điểm hàng năm có lượng khách đến thăm rất nhiều Hội đền chợ Củi được tổ chức hàng năm vào ngày 1/10 âm lịch

Ngoài những di tích lịch sử- văn hóa kể trên, đến với Nghi Xuân bạn còn có thể tới thăm những điểm di tích nổi tiếng khác như nhà thờ và mộ Trịnh Khắc Lập tại xã Xuân Thành, chùa Liên Hoa ở xã Quả Phẩm (Xuân Lam), đình Tiên ở xã Tiên Điền, chùa Trường Ninh ở Tiên Điền, …và tham gia những lễ hội truyền thống như hội Phan Xá ( từ 7-15/1 âm lịch), hội Mĩ Dương (17/12 âm lịch) cúng thần săn bằng thú rừng, hội lễ giáo phường tại

Trang 17

17

đình Hoa Vân Hải… để có thể cảm nhận hết những giá trị văn hóa độc đáo trên mảnh đất Nghi Xuân này

1.1.2.2 Nghệ thuật diễn xướng

Nghi Xuân là một vùng quê có truyền thống văn hóa lâu đời, các loại hình nghệ thuật diễn xướng như hát ví, dặm, ca trù… phát triển sớm và trở thành một trong những nét đặc trưng mỗi khi ai đó nhắc đến Nghệ Tĩnh

* Hát ví phường nón

Đây là hình thức hát ví của cư dân làm nghề tơi nón, một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian, diễn xướng dân gian vô cùng đặc sắc của cư dân xã Tiên Điền, Nghi Xuân Thông thường những buổi tối bên ánh đèn hay dưới ánh trăng, thợ làm tơi nón lấy việc hát ca vừa để quên đi vất vả mệt nhọc vừa thể hiện tâm tình lứa đôi hay tình yêu quê hương đất nước Hát ví phường nón ở Tiên Điền cũng giống như hát ví phường vải ở Trường Lưu

Từ một loại hình sinh hoạt văn nghệ bình dân, hát ví phường nón, phường vải đã thu hút cả giới nho sĩ Sử sách còn ghi việc Nguyễn Du tìm đến làng Trường Lưu cùng bạn đi hát ví phường vải Rất nhiều giai thoại kể về tâm tình của nhà thơ với các cô gái phường vải Trường Lưu làm đẹp thêm những áng văn trong “Thác lời trai phường nón Tiên Điền gửi người con gái phường vải Trường Lưu” Theo các cụ cao niên, hai người con gái Trường Lưu được Nguyễn Du viết văn tế trong bài “Văn tế Trường Lưu nhị nữ” là hai cô gái hát phường vải rất hay tên là o Uy và o Xạ Hát ví phường nón nói riêng và hát ví nói chung là loại hình dân ca quen thuộc còn lưu truyền cho đến ngày nay ở Tiên Điền Thủ tục hát ví được quy định làm 3 chặng, chặng thứ nhất là hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi; chặng thứ 2 là hát đố và hát đối; chặng thứ 3 là hát mời và hát xe kết Đây là câu hát dạo đầu, hát mời chào của một chàng trai trong phường nón:

Hỡi là người ơi…mấy khi nam nữ ngồi kề

Để nam ví đôi bận để nữ đề vài câu

Trang 18

Tiếp là lời hát “chặng đầu” mời chào của phái nữ:

Hỡi là người ơi…bạn đến mời bạn vào nhà

Nước chè ngon đây mời bạn uống, chiếu hoa đây mời bạn ngồi…

* Hát dặm

Cùng với hát ví, hát dặm cũng là nét đặc sắc trong các loại hình dân ca

ở Nghi Xuân Hiện nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền nhiều bài hát dặm bao gồm cả hát dặm độc thoại lẫn hát dặm đối đáp Hình thức hát dặm đối đáp là loại phổ biến hơn Trong tài liệu của Lê Văn Hảo dẫn theo ý kiến của Nguyễn Đổng Chi về ý nghĩa của từ “dặm” là trong lúc hát đối đáp, câu của người trả lời phải chắp theo vần ở cuối câu của người hỏi Sự chắp vần hay hát chắp vào ấy tức là dặm Nhưng theo nhạc sĩ Đào Việt Hưng thì chính vì câu láy ở cuối mỗi khổ, tức là câu nhắc lại ấy được gọi là câu dặm Vì vậy

mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm Thông thường, mỗi tốp có từ 3-5 người, có 1 người đóng vai trò “bẻ chuyện”có tài ứng khẩu nhanh, những người còn lại là hát cặp, lặp lại lời hát của người “bẻ chuyện”…

* Ca trù Cổ Đạm : tại làng Cổ Đạm thuộc huyện Nghi Xuân ngày trước

có lệ: hễ các cô gái muốn lấy chồng thì phải tập hát ca trù trong vài ba năm

Để giọng hát được trong trẻo thì các ca nương phải uống nước ở Khe Môn nằm sau lưng núi Cầm Sơn Ca trù Cổ Đạm còn được gọi là hát cửa quyền, hát cửa đình, hát nhà tơ…là một loại hình nghệ thuật tổng hợp độc đáo bởi ngoài việc đàn và hát còn có múa, ngâm thơ, diễn trò

Theo các nhà nghiên cứu, ca trù và ca trù Cổ Đạm xuất hiện từ thời Triệu Đà, thời Lý Trần và hưng vượng nhất là giai đoạn hậu Lê đến sang nhà Nguyễn Nó từng là một thể loại ca nhạc được giới quý tộc, vua chúa rất yêu thích

Trên đất nước ta có nhiều nơi nhân dân lập đền thờ tổ sư nghề hát ca trù như Hà Nội, Nam Định, …nhưng Cổ Đạm theo truyền thuyết của địa phương thì vẫn là đền gốc thờ tổ sư ca trù là Đinh Lễ và Bạch Hoa Theo lưu

Trang 19

19

truyền thì Đinh Lễ là người sáng tạo ra đàn đá và khúc hát ca Ông sinh vào thời Lê ở làng Phủ Giáo, tổng Cổ Đạm Ông vốn là người thông minh học cao biết rộng và đàn rất hay Không những hát ở quê, ông còn đi hát rong, hát dạo ở các chợ và nơi đông người Trong một lần đi hát ở Thanh Hóa, ông được quan phủ Mạc Đình Sa mời về hát ở nhà Giọng hát của ông đã làm say lòng cô Kiều Hoa tuổi 16 con gái của ông quan phủ Sau khi đã trở thành vợ chồng, Đinh Lễ đã xin phép gia đình bên ngoại đưa vợ về quê nhà ở Cổ Đạm

và lập nên gánh hát ca trù nổi tiếng sau này Để ghi nhớ công lao người đã tạo ra cây đàn đá và khúc hát ca trù, nhân dân 4 phủ và 12 huyện của vùng Nghệ An và Hà Tĩnh đã quyên góp tiền của để xây dựng nhà thờ Tổ của ca trù lấy tên là Đinh Lễ xứ ca trù Cổ Đạm Hằng năm từ 13 đến 16/3 âm lịch, giáo phường Cổ Đạm náo nức đón các giáo phường bạn từ 12 huyện về dự hội

Qua bao biến cố lịch sử, đã có giai đoạn ca trù Cổ Đạm tưởng như biến mất, tuy nhiên những nghệ nhân, ca nương tâm huyết vẫn còn giữ trong mình những hoài niệm về thể loại âm nhạc đã rất thịnh hành Trải qua những chặng đường dài, nối tiếp từ đời này sang đời khác, thêm sâu vào máu thịt, trầm tích trong mỗi tâm hồn từ thuở cha ông nên những nghệ nhân này luôn mong muốn lưu giữ, bảo tồn và phát triển ca trù Năm 2004 tại sân khấu của khu lưu niệm Nguyễn Du đã tổ chức hội diễn ca trù toàn quốc Năm 2006,

Bộ Văn hóa thông tin đã tiến hành các thủ tục đề nghị UNESCO công nhận

ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Như vậy chúng ta có thể hy vọng về sự đầu tư phát triển vượt bậc nay mai của ca trù và ca trù Cổ Đạm trong hệ thống những di sản văn hóa phi vật thể vô giá của dân tộc

Có thể nói, nghệ thuật diễn xướng ở huyện Nghi Xuân phát triển rực

rỡ và phong phú qua các thời kì Các loại hình nghệ thuật diễn xướng cùng phát triển, tác động hỗ trợ lẫn nhau, góp phần tô đẹp thêm cho truyền thống văn hóa nơi đây

Trang 20

1.2 Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền

1.2.1 Dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Tiên Điền là một xã thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh Sau nhiều lần đổi tên, từ năm 1973, Tiên Điền chính thức trở thành tên gọi của làng

Địa bạc dân bần nhưng nơi đây nổi tiếng lắm quan văn, quan võ, quan

to, quan nhỏ, có thời trong làng đầy những công hầu khanh tướng, nối tiếp từ đời này qua đời khác Chính vì vậy Tiên Điền từ lâu đã nổi danh là đất học:

“Ló Hoa Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội Thống” và nổi bật hơn cả chính là dòng họ Nguyễn Tiên Điền với những con người tài cao, chí lớn

Theo gia phả thì cụ Tổ của dòng họ Nguyễn Tiên Điền là thám hoa Nguyễn Doãn Dịch Ông là người làng Tảo Dương, huyện Thanh Oai Thế rồi trên mảnh đất ấy lại nẩy sinh lên mấy chuyện tình hấp dẫn để cho đời thu hoạch được những dòng họ lá ngọc cành vàng Nguyễn Doãn Toại (con Nguyễn Doãn Dịch) lấy Nguyễn thị Hiền sinh ra cậu bé khôi ngô là Nguyễn Thiến Khoa thi mùa thi năm Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính nhà Mạc (năm 1532), Nguyễn Thiến đỗ trạng nguyên ở thời Mạc Phúc Nguyên Nguyễn Thiến sinh con là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn đều là các tướng giỏi của nhà Mạc Nguyễn Miễn là vị tổ trực hệ với dòng họ Nguyễn Du Ông là người giỏi võ nghệ được nhà Mạc phong làm Phú Hưng hầu, lấy con gái tôn thất nhà Mạc

Sau 3 lần hưng binh (1592-1599) nhà Mạc bị thiệt nặng, vua bị bêu đầu, tể tướng đầu hàng Lần hưng binh thứ tư năm 1600 có Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm( con Nguyễn Miễn) tham dự Nguyễn Hoàng nhân đó về Thuận Hóa…khiến Trịnh Tùng phải rước vua Lê Kính Tông về Thanh Hóa Ngày 1/6, mẹ Mạc Mậu Hợp xưng là Quốc Mẫu, vào kinh thành sai người đI đón Mạc Kính Cung Tháng 7, tháng 8 Trịnh Tùng ra Bắc, thắng trận ở sông Hát Tháng 9 nhà Trịnh bắt Ngô Đình Nga Uy Vũ Hầu và Nam dương hầu Nguyễn Nhiệm tướng nhà Mạc đem hơn một vạn quân và 200 chiếc thuyền

Trang 21

21

từ Sơn Nam phạm vào bến Ông Mặc ở huyện Thanh Trì thì bị phá Nguyễn Nhiệm chạy về chiếm Hoàng Giang Tháng 10, Hải quận công Nguyễn Đình Luân đánh Nguyễn Nhiệm, bị ông đánh lại mất hơn 40 chiến thuyền Mạc Kính Cung đóng ở Kim Thành sai Nguyễn Nhiễm chiếm đất Nam Xang Theo Đại Việt thông sử ghi rõ: năm Hoằng Định thứ 2(1601) Trịnh Tùng xuống Nam đến Linh Giang bị Nguyễn Nhiệm chặn đánh giết được tể tướng là Chấn quận công Nhưng phía Lê giết được Nam quận, Nga quận rồi bắt em út Nam quận đem chém, mang đầu về kinh sư

Trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn xác định Nam Dương Nguyễn Nhiệm là con Nguyễn Miễn có sức khỏe hơn người , đánh giặc dựa vào y làm thế mạnh “Khi Nhiệm chết, bọn giặc đều tan” Vậy theo sử, không thể

là Nam Dương Hầu Nguyễn Nghiễm trốn về Tiên Điền để sinh ra dòng tộc mới

Theo gia phả dòng họ thì trong trận đấy Nguyễn Nhiệm bị thương nhẹ Ông thoát chết là do kẹp dưới các tử thi Khi chiến trận trở lại bình yên, ông cùng vài người lính sống sót tìm thuyền ra biển theo đường biển, thuyền của ông vào tới cửa Hội thì ngược dòng sông Lam đến Tiên Điền, một làng lúc

đó còn hoang vu, dân cư thưa thớt Ở đây, ông vừa làm nghề thuốc, vừa khai khẩn đất hoang để sống Ông lấy vợ sinh ra ba trai hai gái Con thứ hai của Nguyễn Nhiệm là tham đốc Khánh Trạch Hầu sinh hai con là Nguyễn Ôn và Nguyễn Chủng Con Nguyễn Ôn là Nguyễn Thể giỏi võ nghệ sinh ra quận công Nguyễn Quỳnh giỏi văn chương kinh dịch Nguyễn Quỳnh có 6 con trai

và 3 con gái thành danh gồm 3 con trai đầu họ đều là người có tước vị cao,

có nhiều cống hiến và đặc biệt là Nguyễn Nghiễm Năm 24 tuổi, ông đã đỗ Hoàng Giáp Ông đã từng làm Tham chính Sơn Nam, làm Quốc tử giám tế

tử, Thừa chỉ Hàn Lâm Viện, Thị Lang Bộ Binh, Thượng thư bộ công tham tụng, truy quốc tử giám, đồng các và tổng tài quốc sự giám,

Trang 22

Cụ Nguyễn Nghiễm làm quan thời vua Lê- chúa Trịnh lên tới chức tể tướng Nguyễn Nghiễm dù đã có bà chính thất là Đặng Thị Dương và á thất Đặng Thị Tuyết vẫn đem lòng yêu và cưới bà Trần Thị Tần ( 1740-1770), người xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay

Năm 1771, ông xin về hưu, được thăng Đại Tư Đồ, có đám rước ông trên bến Giang Đình Về sau để nhớ lại cuộc đón rước ấy, Nguyễn Du đã viết bài thơ : “Giang Đình Hữu Cảm” Năm 1774 Nguyễn Nghiễm làm Tả Tướng quân Tham tán quân cơ đi đánh Đàng Trong hơn một năm Năm 1775 ông nhuốm bệnh và đã qua đời tại Tiên Điền, để lại các tác phẩm nổi tiếng như : “Việt sử bị lãm”, “ Quân trung liên vịnh tập”,…

Nguyễn Du là con thứ 4 của bà Tần và là con trai thứ 7 của Nguyễn Nghiễm nên người đương thời thường gọi ông là cậu “Chiêu Bảy”

Có thể hình dung về dòng họ Nguyễn Tiên Điền qua phả hệ của dòng họ:

Trang 23

Phả hệ dòng họ Nguyễn Tiên Điền

Dòng họ trực tiếp Nguyễn Du từ đời thứ 1- 8

So với các làng xã trong huyện thì về khoa cử, Tiên Điền chậm sau khá xa Nhưng từ giữa thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn, Tiên Điền nổi tiếng về học hành, khoa bảng ở xứ Nghệ Dưới 2 triều đại Lê Nguyễn, huyện Nghi Xuân có 21vị đại khoa thì Tiên Điền chiếm 6 vị, toàn huyện có 115 vị

Trang 24

khoa hương thì Tiên Điền có 32 vị Hầu hết các dòng họ đều có người đỗ đạt, làm quan nhưng nhiều nhất vẫn là họ Nguyễn Khoa thì nhị, tam giáp tiến sĩ, chiếm 5/6 vị đại khoa trong làng và hàng chục hương cống, sinh đồ, cử nhân,

tú tài…Kể từ khi Nguyễn Nhiệm về định cư trên mảnh đất này, tính từ đời ông cho đến Nguyễn Du là 6 đời Thế hệ nào cũng liên tiếp có những con người tài cao chức lớn, nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Bởi vậy người xưa có câu:

“Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan.”

thể hiện sự chiêm nghiệm nhiều đời đi đến kết luận về sự thành đạt nối nhau ở vọng tộc nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du

Ngoài Nguyễn Du ra trong số những người anh em của ông cũng có nhiều người nổi tiếng Nguyễn Khản là con đầu của Nguyễn Nghiễm và bà Đặng thị Dương Ông đỗ Đệ tam giáp Tiến Sỹ năm 27 tuổi Ông là một trong mấy danh sỹ được dự hàng tướng quốc như: Nguyễn Hãn, Bùi Huy Bích… được thăng đến lại bộ thượng thư, tam tụng quản quận công Nguyễn Khản là chỗ dựa cho một đại gia đình quý tộc, là người nâng đỡ cho các anh em có tài thiên bẩm như Nguyễn Du, Nguyễn Nễ Năm 1786, ông qua đời

Nguyễn Điều là con của Nguyễn Nghiễm và em gái bà Dương Ông hương tiến, dự hàng tiến triều, làm trấn thủ Sơn Tây thay anh vào tháng 10/1782 được phong điền nhạc hầu Con của Nguyễn Điều là Nguyễn Hành

là nhà thơ nổi tiếng, cùng với Nguyễn Du đứng trong “ An nam ngũ tuyệt”

Dòng họ Nguyễn không những nổi tiếng về khoa cử mà còn có nề nếp trước thuật hay nôm Kể từ Nguyền Nghiễm trở xuống rồi Nguyễn Khản, Nguyễn Nễ, …đều có thi tập bằng chữ Hán hoặc Nôm Thân phụ Nguyễn Du

đã để lại quyển“ Việt sử bị lãm ” cùng 2 tập thơ là “Xuân Đình tạp vịnh”và

“Quân trung liên vịnh”; lại là tay sở trường quốc văn ở đương thời, từng làm bài phú ứng chế Khổng Tử mộng chu công nay còn truyền tụng Nguyễn Nể

Trang 25

Gia thế Nguyễn Du lại còn được suy trọng về lòng trung nghĩa Tổ tiên thủơ xưa theo Mạc, đến khi Mạc mất mà vẫn còn muốn khôi phục cho đến khi cả nhà tuẫn tiết mới cam Bây giờ thời Lê thì sau khi Lê vong, Nguyễn Khản, Nguyễn Nể, Nguyễn Du mấy anh em đều khởi nghĩa Cần Vương cho đến cháu là Nguyễn Đạm suốt đời Tây Sơn sang đời Nguyễn nhất định không chịu ra là quan, kiên trinh giữ tiết cho trọn với chúa cũ

Tóm lại, trong số những dòng họ nổi tiếng trên mảnh đất Nghi Xuân

thì họ Nguyễn ở Tiên Điền là vang danh hơn cả Có lẽ cũng chính vì được sinh ra, kế thừa những truyền thống của gia đình như vậy nên Nguyễn Du đã thừa hưởng cái tài văn chương của dòng họ để rồi cho ra đời nhiều tác phẩm

có giá trị trong nền văn học nước nhà

1.2.2 Đại thi hào Nguyễn Du

1.2.2.1 Những thăng trầm của số phận

Có thể thấy rằng cuộc đời Nguyễn Du là một bản trường ca với nhiều thăng trầm Nếu như ai đã từng đọc nhiều về các sáng tác của Nguyễn Du cũng sẽ hiểu thêm một phần về ông bởi vì ông luôn gửi gắm những lời tâm

sự của mình qua tác phẩm Ông là con người tài hoa nhưng cũng là “bạc mệnh”

Nguyễn Du sinh ra trong gia đình dòng dõi trâm anh thế phiệt, cha là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm Mẹ ông, bà Trần Thị Tần ( quê Bắc Ninh)

là vợ thứ ba của ông Nguyễn Nghiễm Nhưng Nguyễn Du lại được sinh ra tại Bích Câu Thời Hậu Lê đây là một nơi cư trú của gia đình quan to, các văn

Trang 26

nhân tài tử Nguyễn Du sinh ra và và sống gần hết thủa thiếu thời, được bầu bạn với con ngòi biếc, nơi diễn ra thiên diễm tình mộng mơ Tú Uyên- Giáng Kiều Môi trường văn hóa của ba vùng đất văn vật: Xứ Nghệ-Thăng Long - Kinh Bắc cùng truyền thống dòng họ, gia đình, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tài năng của Nguyễn Du Sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động, con đường công danh của ông khá hanh thông nhưng cũng không mấy chú trọng đến Tuổi thơ của ông trôi qua bình yên với sự sung túc, đầy đủ cho đến năm ông mười tuổi, đây cũng là móc đánh dấu sự thay đổi cuộc đời ông Năm ông mười một tuổi gia đình có biến cố lớn Nguyễn Nghiễm cùng Hoàng Ngũ Phúc đem quân đánh chúa Nguyễn, nửa chừng bị bệnh trở về rồi mất Ba năm sau đó, năm 1778, mẹ Nguyễn Du cũng bị bệnh và qua đời khi ông mới mười ba tuổi Anh trai Nguyễn Du là Nguyễn Khản cũng mấy năm thăng giáng bất thường

Năm 1783, Nguyễn Du về Sơn Nam thi Hương và thi đỗ tam trường nhưng không rõ vì lí do gì mà ông không thi tiếp lên nữa mà lại nhận giữ chức hiệu đội quân hùng hậu tĩnh Bắc Thái (nhờ sự giúp đỡ của ông bố họ Hà) Sau đó, ông kết hôn với con gái ông Đoàn Nguyễn Thục

Năm 1789, sau khi chia tay với anh Nguyễn Nễ và em là Nguyễn Ức, Nguyễn Du trở về quê vợ ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình,

ở nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, lúc này Tuấn đã ra giúp việc với Tây Sơn rồi Nguyễn Du mưu toan khôi phục nhà Lê từ đây

Năm 1791, Nguyễn Du lên Thăng Long thăm Nguyễn Nễ và tại đây ông đã gặp nàng Hồ Xuân Hương Lúc này vợ ông là bà Đoàn Thị đã qua đời Ông đã lấy thêm mấy người vợ Nhưng mối tình giữa ông và thi sĩ Hồ Xuân Hương có thể nói là “ một cặp tình nhân - hai bậc thi hào” (Đinh Công Vĩ) Hai người đã gửi gắm những tâm sự khao khát thầm kín.Thế nhưng Nguyễn Du nghĩ lại thân phận mình đã ba mươi tuổi đầu, sinh kế khó khăn,

Trang 27

em biệt tích Nhưng không nỗi buồn rầu nào sâu xa bằng nỗi buồn rầu trước cảnh diệt vong của Lê Trịnh Chính đó là đầu mối dẫn đến bao nhiêu điều thương tâm cho bản thân Nguyễn Du cũng như cho gia đình ông trên đây Nhận thấy nhà Lê khó có thể khôi phục lại, ông càng cảm thấy bất lực Nhưng ông cũng không khư khư một lòng trung thành với nhà Lê Năm 1802, khi Gia Long đem đại quân ra Bắc Hà, vua đến Nghệ An, Nguyễn Du đón xe yết kiến và được nhà vua cho đi cùng Tháng 8/1802, ông được bổ làm tri huyện Phù Dung (Thái Bình) và tri phủ Thường Tín Năm

1803, ông được tiếp sứ Thanh ở Nam Quan Năm 1804, ông cáo bệnh về quê một tháng Năm 1805, ông được thăng Đông các học sỹ, tước Du Đức hầu vào Phú Xuân Năm 1807, ông làm giám khảo thi hương tại Hải Dương Năm 1808, ông lại về nghỉ ở nhà tám tháng Năm 1809, ông thăng chức cai

bạ Quảng Bình Năm 1812, ông được thăng cần chánh điện học sỹ và đi sứ Trung Quốc Năm 1814, ông đi sứ xong về quê nhà nghỉ 6 tháng Năm 1815,

Trang 28

ông được thăng hữu tham tri bộ lễ, 1819 ông được làm Đề điệu trường thi Quảng Nam Năm 1820, ông được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì mất tại Huế do dịch bệnh

Mặc dù trong suy nghĩ của ông luôn băn khoăn, day dứt về chính cuộc đời mình nhưng không hẳn vậy mà ông không nghĩ gì về cuộc sống xung quanh Nguyễn Du có cái nhìn sắc cạnh đối với cuộc đời bấy giờ, có cái cảm thông cảm tinh nhanh và sâu xa với những con người bị áp bức, lầm than, về nỗi thống khổ cũng như niềm mơ ước cao nhất của họ và đặc biệt là nỗi khổ của người phụ nữ Ông có sự hiểu biết vô cùng sâu sắc về cuộc đời Chính những tâm sự ấy ông đều gửi gắm vào văn chương, vào những “ đứa con tinh thần” của tác giả

1.2.2.2 Những tuyệt tác văn chương bất hủ

Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông Sự thăng tiến khá thành đạt nhưng trái tim ông đau xót, phẫn nộ trước những điều trông thấy khi lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen Thơ ông là tiếng nói của trái tim Đấy là tình cảm thấu hiểu của ông với số phận con người Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học nhưng ông có cách nói bình dân giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ Có thể nói sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về số lượng, tuy nhiên khối lượng những tác phẩm nghiên cứu về chúng thì hết sức lớn Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du bao gồm 2 mảng:

* Thơ chữ Hán : thơ chữ Hán của Nguyễn Du có ba tập:

- “Thanh hiên thi tập” được viết từ năm 1785 đến 1802 khi Nguyễn Du lánh ẩn quê vợ ở Thái Bình rồi trở về Hồng Lĩnh và lại ra Bắc Hà làm quan triều Gia Long

- “Nam trung tạp ngân” viết từ năm 1805-1812 khi Nguyễn Du làm quan

ở Huế rồi cai bạ Quảng Bình

Trang 29

29

- “Bắc Hành tạp lục” (1813-1817) viết trên đường ông đi sứ Trung Quốc Chúng ta nghiên cứu thơ chữ Hán không hẳn như là những tài liệu bổ sung để hiểu một đôi điều về tiểu sử, về tâm sự, về thái độ của ông đối với các triều đại, mặc dù đôi lúc những chuyện đó cũng thú vị Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa

Thơ chữ Hán của ông như một cuốn nhật ký giải bày mọi nổi niềm ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật Trong hơn 100 bài thơ ở hai tập đầu ( Thanh hiên thi tập và Nam trung tập ngân) Nguyễn Du đã trực tiếp thổ lộ tâm trạng của mình Đọc phần này chúng ta thấy một nỗi niềm u uất thê lương, một tiếng thở dài não ruột Hơn “mười năm gió bụi”dưới triều đại Tây Sơn, Nguyễn Du sống trong một tình trạng cô đơn đến ghê sợ Trong thời gian này, Nguyễn Du suy nghĩ nhiều về cuộc đời đến nổi mới ngoài 30 tuổi tóc đã bạc trắng

Khi Tây Sơn ra Bắc năm 1786, Nguyễn Du trung thành với nhà Lê không cộng tác, tìm đường lánh ẩn, chịu sống nghèo khổ Nhưng thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ Có lúc ốm không có tiền mua thuốc, rét không có áo mặc Nguyễn Du đau xót vô cùng

Những bài thơ chữ Hán với lời thơ điêu luyện, có nhiều bài phản ánh bất công xã hội, biểu lộ thương yêu con người Một số bài “Phản Chiêu Hồn”, “Thái Bình mãi ca giả”, “Long Thành cầm giả ca” đã thể hiện rõ rệt lòng ưu ái của ông trước vận mệnh con người Cuộc đời cơ cực của Nguyễn

Du đã làm cho nhà thơ gần gũi với tầng lớp nghèo khổ rất nhiều Chính nhờ thế mà cái nhìn của Nguyễn Du đối với xã hội khác hẳn với cái nhìn của những người quyền quý lúc bấy giờ Trên đường đi đã có lúc ông ngủ chung với các bậc tiền phụ và nghĩ rằng:

Trang 30

“ Thương nhau chẳng lo nghiệp đồng mới thương ” Đến tập “Bắc Hành tạp lục” thì tâm trạng ông đã thay đổi Đến đây tâm hồn Nguyễn Du khác hẳn lên Ngòi bút sinh động với nhiều bài như :“Đi thuyền trên sông Ninh Minh ”, “Trở Binh Hành” được như thế có lẽ vì đi ra nước ngoài Nguyễn Du cảm thấy tâm hồn mình được thoải mái, thoát khỏi sự ràng buộc, ưu phiền mà ngày ngày vẫn gặp

Nhiều bài thơ chữ Hán có nội dung phê phán xã hội sâu sắc Đó là xã hội dưới thời của nhà Nguyễn, người nghèo bị cưỡng bức, bọn quan lại thì tranh chấp hãm hại lẫn nhau… Nguyễn Du yêu những người tài đức kiểu Khuất Nguyên bao nhiêu thì lại khinh bỉ bọn gian ác, ti tiện bấy nhiêu Trong

“Bắc Hành tạp lục”, những bài thơ viết về những cảnh sống hàng ngày có rất nhiều, và đó cũng là những bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Du Ông đặc biệt quan tâm đến những lớp người nghèo, người dân lao động Điều đó được thể hiện đậm nét trong các tác phẩm “Sở kiến hành”, “Trở binh hành”,

“ Hà nam đạo trung khốc thử”

*Thơ chữ Nôm : mảng thơ chữ Nôm không nhiều, chỉ có 4 tác phẩm: Văn

chiêu hồn (1796 - 1802), Truyện kiều, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường Nón “Văn chiêu hồn” là bài thơ trữ tình dài viết bằng thể song thất lục bát và bằng tiếng nói của dân tộc có một âm điệu hết sức bi thương, mỗi câu thơ cứ xoáy sâu vào lòng người như một mũi dao nhọn và

để lại dư vị ngậm ngùi Nó là tác phẩm mà tác giả viết nhằm gọi hồn cho những người đã khuất, đó là người nghèo khổ, quần chúng bị áp bức, những người chết mà không được thờ cúng … “Văn chiêu hồn”cũng có thể coi là một thứ tổng kết nhận thức của nhà thơ về cuộc đời Hiếm có một bức tranh

xã hội nào mà văn học dựng lên được nhiều loại người, nhiều cuộc đời, nhiều cảnh sống và nhất là nhiều cái chết như tác phẩm này Phải chăng đó là do một thời loạn lạc, một thời đại suy tàn thì con người mới có nhiều cái chết

Trang 31

và ngay cả bạn bè trên thế giới họ cũng biết đến “Truyện Kiều” với một lòng say mê hiếm thấy

Theo “Đại Nam chính biên liệt truyện”, truyện Kiều được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quốc Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến 1825 Bản khắc in đó nay không còn Tác phẩm viết bằng thơ lục bát dựa theo tác phẩm “ Kim vân kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân gồm 3254 câu thơ Truyện Kiều là một tác phẩm trong đó thể hiện xã hội phong kiến thu nhỏ Trong đó nhân vật chính Thúy Kiều là một cô gái tài hoa nhưng bạc mệnh Nguyễn Du cảm thông sâu sắc với cuộc đời thân phận của những người phụ nữ lúc bấy giờ Hàng trăm năm qua truyện Kiều đã sống trong đời sống của toàn dân tộc, không riêng gì văn học Việt Nam mà trên toàn thế giới cũng hiếm có tác phẩm nào chinh phục được tình cảm đông đảo người đọc như truyện Kiều Đúng như nhà nghiên cứu Georges Boudarel đã nhận xét: “ ít nhà thơ trên thế giới có khả năng đạt được tiếng vang sâu đậm trong dân chúng của mình như Nguyễn

Du ở Việt Nam Truyện Kiều của ông là cuốn sách kinh điển mọi người đều biết, không có ai là ngoại lệ” Tác phẩm đã được dịch ra hơn 60 thứ tiếng Truyện Kiều trở nên phổ biến và được coi là cơ sở của nhiều loại hình nghệ thuật khác Ca nhạc dân gian có lẩy Kiều, sân khấu dân gian có trò Kiều, hội họa có tranh Kiều, ngoài ra còn có vịnh Kiều, bói Kiều…

Tóm lại, văn chương của Nguyển Du dù là thơ chữ Hán hay chữ Nôm

cũng đều thể hiện điểm sâu sắc sự quan tâm đồng cảm của nhà thơ với những con người khốn khổ trong xã hội phong kiến Thơ Nguyễn Du là tất cả tâm

Trang 32

hồn và tư tưởng của ông Ông đã gửi gắm cuộc đời mình vào tác phẩm, lẫn vào đó là những suy nghĩ, lo âu, đồng cảm và tình yêu thương Càng đọc thơ Nguyễn Du, chúng ta càng tự hào bởi các tác phẩm của ông như Phạm Quỳnh đã nhận xét “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn thì nước ta còn ” Những tuyệt tác văn chương ấy đã bất chấp những quy luật băng hoại của thời gian đã trở nên bất hủ góp phần làm rạng rỡ toà lâu đài văn học dân tộc, đã đưa một người con của quê hương Hà Tĩnh lên địa vị đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới

Với tầm vóc và vị thế to lớn ấy, Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền xứng đáng được nhân dân Hà Tĩnh và cả nước nghiêng mình cảm phục, tưởng nhớ Và khu lưu niệm Nguyễn Du đã được hình thành từ đó, trở thành một khu di tích lịch sử văn hoá bề thế của Hà Tĩnh và cả nước

Trang 33

33

Chương 2: KHU LƯU NIỆM NGUYỄN DU 2.1 Khái quát về khu lưu niệm

2.1.1.Vị trí địa lý

Qua cầu Bến Thủy chưa đầy 500m, du khách gặp ngay một ngã ba lớn,

rẽ về bên trái theo trục đường huyện lộ dọc triền sông Lam, qua thị trấn Xuân

An, xã Xuân Viên, xã Xuân Giang, thị trấn Nghi Xuân, một làng quê cổ kính hiện ra trước mắt bạn, đó chính là xã Tiên Điền - quê hương của Nguyễn

Du

Tiên Điền nằm về phía Đông bắc huyện Nghi Xuân, phía Bắc giáp xã Xuân Mỹ, phía Đông giáp xã Xuân Yên, phía Đông Bắc giáp xã Xuân Hải,

và phía tây bắc giáp xã Uy Viễn ( Xuân Giang)

Dưới thời nhà Nguyễn, Tiên Điền thuộc tổng Phan Xá, huyện Nghi Xuân, cách huyện lỵ 1km về phía đông - bắc theo đường chim bay Tiên Điền có diện tích tự nhiên là 386 ha Địa thế làng không bằng phẳng mà mấp

mô bởi nhiều cồn cát và phù sa của sông Lam tạo thành Làng Tiên Điền bao gồm 10 xóm với 722 hộ, 3005 khẩu Tiên Điền là xã nhỏ nhất của huyện nhưng lại nằm ở vị trí đặc biệt, có non cao, biển rông, sông dài, là mảnh đất

tụ nhiều linh khí Cũng chính vì lí do đó mà ông tổ của dòng họ Nguyễn đã chọn nơi đây làm mảnh đất “ dừng chân lập nghiệp”

Dòng họ Nguyễn đã sinh sống lâu đời trên mảnh đất ấy và sau này tư dinh của dòng họ được chọn làm nơi xây dựng khu lưu niệm

Toàn bộ khu di tích của Nguyễn Du và dòng họ ông nằm rải rác trên vùng đất rộng từ bờ Nam sông Lam đến xứ Đồng Cùng, bao gồm đền thờ Nguyễn Huệ Đại Vương, từ đó đi về hướng Nam lần lượt đến Cầu Tiên, khu lưu niệm, đền thờ Nguyễn Nghiễm, đền thờ Nguyễn Trọng Tiếp đó đi về hướng Đông khoảng 1km sẽ tới phần mộ Nguyễn Du

Mặc dù khu lưu niệm Nguyễn Du nằm trên địa bàn tỉnh Hã Tĩnh , song lại ở vị trí trung tâm của huyện, thuận lợi trong giao lưu, tiếp nhận các luồng

Trang 34

văn hóa, lại tiếp giáp với thành phố Vinh, là khu du lịch tham quan của khách trong nước và ngoài nước nên rất thuận tiện cho việc phát triển du lịch nhất là trong việc liên kết tour tuyến Du khách có thể di chuyển bằng đường

bộ, đường thủy hoặc đường hàng không để có thể đến điểm tham quan một cách dễ dàng

2.1.2 Lịch sử hình thành và tồn tại

Khu di tích Nguyễn Du hiện nay là cả một quần thể các di tích gắn liền với sự hình thành và phát triển của dòng họ Nguyễn Tiên Điền Khu di tích vốn xưa là tư dinh của dòng họ Cuối thế kỷ XVI, kể từ khi Nam dương công Nguyễn Nhiệm chạy trốn sự truy bức của triều đình Lê -Trịnh vào sống tại vùng đất hoang vu hẻo lánh của xứ Nghệ An, bằng sức lao động cần cù với tinh thần quả cảm, các thế hệ con cháu dòng họ đã khai hoang phục hóa, mở rộng điền trang địa ấp dựng nhà lập làng trở thành dòng họ lớn ở Nghi Xuân

Họ đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc về lịch sử dòng họ, tôn giáo tâm linh Nhưng về sau qua nhiều biến động lịch sử của chiến tranh và sự tàn phá của thiên nhiên, các công trình này phần nhiều hư hỏng, chỉ còn lại một số di tích con cháu còn giữ đến nay

Năm 1964, trong phiên họp tại Beclin ( Đức) từ ngày 6-9/12/1964 hội đồng Hòa Bình Thế giới đã ra quyết định kỷ niệm 200 năm sinh đại thi hào Nguyễn Du trên toàn thế giới cùng 8 danh nhân khác đã có công đóng góp to lớn cho nền văn hóa của nhân loại Ở Việt Nam, thời gian đó cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đang diễn ra ác liệt cả hai miền bắc nam Tuy vậy, Đảng và nhà nước ta vẫn tổ chức lễ kỷ niệm một cách long trọng trên cả hai miền và đã gây ấn tượng sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân ta và nhân dân trên toàn thế giới

Tại Nghi Xuân Hà Tĩnh- quê hương của nhà thơ, Ty văn hóa Hà Tĩnh cùng với cụ Lê Thước cán bộ bảo tàng Bộ Văn hóa đã tiến hành khảo sát và xây dựng khu lưu niệm Nguyễn Du trên cơ sở những di tích còn lại của dòng

Trang 35

35

họ bao gồm: Nhà thờ và mộ Nguyễn Du, đàn tế và bia đá Nguyễn Quỳnh ông nội Nguyễn Du, nhà tư văn đồng thời chuyển ngôi đình làng chợ Trổ xã Đức Nhân, Đức Thọ về đặt trong khuôn viên dòng họ làm nhà trưng bày các tư liêu hiện vật về Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền Cùng một số di tích như : đền thờ và mộ Nguyễn Nghiễm - thân phụ Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Trọng là chú Nguyễn Du và một số di tích liên quan khác

Như vậy kể từ năm 1965, khu lưu niệm Nguyễn Du được thành lập và

đi vào hoạt động phục vụ du khách Ban đầu khu lưu niệm chỉ đơn giản là mấy di tích còn sót lại qua nhiều biến động của lịch sử và sự tàn phá của thiên nhiên khắc nhiệt với nắng gió đất miền trung Di tích nằm trên một bãi cát trống trải Ngoài cây cổ thụ là cây muỗm (xoài) và cây bồ lỗ (cây nóng) còn có một số cây xanh khác, bờ rào chưa có nên trâu, bò, người qua lại tự

do trong khu di tích, nhà Tư văn sau năm 1945 dùng làm trường học cho con

em trong vùng nên không còn giữ được nguyên trạng ban đầu của nó Nhà trưng bày chỉ có một ít tư liệu, hiện vật do cụ Lê Thước và Ty văn hóa Hà Tĩnh sưu tầm từ con cháu và dân làng Tiên Điền Nhìn chung thời kỳ đó khu

di tích còn rất hoang sơ

Năm 1965, giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, làng Tiên Điền là

cơ sở hậu cần của chiến trường miền Nam nên máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá khu vực này Cán bộ trông coi khu di tích đã cùng với nhân dân trong xã trồng nhiều cây xanh để che chắn máy bay địch Mặc dù Hà Tĩnh lúc bấy giờ là vùng đất bị bom Mỹ đánh phá ác liệt nhưng học sinh, sinh viên, cán bộ chiến sỹ trên đường ra mặt trận vẫn thường xuyên đến thắp hương tưởng nhớ nhà thơ

Từ 1965 đến 1970 khu di tích được giao cho phòng văn hóa huyện Nghi Xuân quản lý, người phụ trách lúc đó là ông Phan Huy người xã Xuân Song Mãi đến năm 1975 đất nước thống nhất, Hà Tĩnh và Nghệ An được nhập lại thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Nghệ Tĩnh Sau khi thành lập tỉnh, để

Trang 36

bảo tồn và phát triển văn hóa, tỉnh mở trường trung cấp Văn hóa, trong đó có khoa Bảo tàng nhằm đào tạo cán bộ chuyền ngành cho bảo tàng tỉnh và phòng văn hóa các huyện Đến năm 1977 sau khi tốt nghiệp, ba cán bộ đựoc phân công về công tác ở khu di tích là chị Nguyễn Thị Xuân Phương, chị Nguyễn Thị Mậu và anh Phạm Xuân Phương chịu sự quản lý và điều hành của phòng bảo tàng, sở văn hóa Nghệ Tĩnh Nhưng từ khi thành lập đến lúc này khu di tích mới có cán bộ có chuyên môn bảo quản và trông coi

Đến năm 1980, bảo tàng Nghệ Tĩnh được thành lập, khu di tích Nguyễn Du lại do bảo tàng Nghệ Tĩnh quản lý Thời gian đầu, bảo tàng tĩnh cùng với anh chị em công tác tại khu di tích bắt tay vào sắp xếp tư liệu, hiện vật trong nhà trưng bày theo từng chuyên đề một, đồng thời tiến hành làm hồ

sơ phích phiếu cho các hiện vật đã có Tuy vậy công việc chỉ dừng lại ở những thao tác nghiệp vụ đơn thuần, nhiệm vụ chính là khi có khách thì mở cửa giới thiệu cho khách tham quan

Trong thời gian từ khi thành lập đến năm 1990, lượng khách đến tham quan nhiều hơn nhưng ở đây vẫn chưa được đầu tư thêm kinh phí để nâng cấp

Năm 1991, Nghệ Tĩnh được tách ra làm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Khu di tích trở thành một tổ của bảo tàng Hà Tĩnh với ba cán bộ trực tiếp trông coi: 2 trung cấp bảo tàng và 1 cán bộ bảo vệ

Giai đoạn này đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đời sống kinh tế của nhân dân ngày càng được nâng cao, lượng du khách hàng năm về tham quan, học tập, nghiên cứu ngày một nhiều

Tháng 7/1994, thứ trưởng Nguyễn Đình Bin đã về tham quan khu di tích Nguyễn Du

Năm 1994, ông Nguyễn Phước Lương Bằng, một Việt kiều tại Mỹ ủng

hộ 25000 USD xây mộ Nguyễn Nghiễm và làm đường ra mộ, năm 1997 tổ chức UNESCO tài trợ 20000 USD xây dựng lại bờ rào, làm đường đi lại

Trang 37

37

trong khuôn viên Từ đó khu di tích từng bước đổi mới Sự phát triển của khu

di tích,đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của khách đến tham quan và tưởng niệm

Năm 2001, Sở Văn hóa Hà Tĩnh triển khai dự án trùng tu và tôn tạo khu di tích Nguyễn Du với vốn trên 9 tỷ đồng, bao gồm 19 hạng mục, trong

đó có những hạng mục cơ bản trùng tu các di tích quan trọng như nhà Tư văn, đền thờ Nguyễn Du ,đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng Xây dựng nhà văn hóa và dựng tượng Nguyễn Du Sau 3 năm khẩn trương thi công, đến năm 2004 khu di tích đã hoàn thành và đi vào hoạt động phục vụ đồng bào trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu, học tập Đến nay khu di tích vẫn hoạt động bình thường, ngày càng được tu bổ nâng cấp Với sự nhiệt tình của các cán bộ hoạt động trong nghành, khu di tích đã hoàn thiện và trở thành điểm du lịch thu hút đựoc số lượng lớn khách tham quan, nghiên cứu ở trong nước và quốc tế Khu lưu niệm Nguyễn Du đang từng bước trở thành một trung tâm văn hóa du lịch lớn của tỉnh Hà Tĩnh và cả nước

2.1.3 Không gian cảnh quan

Trải qua bao đời xây dựng, gìn giữ và phát triển, cư dân Tiên Điền đã cùng nhau xây dựng nên đời sống văn hóa tinh thần phong phú độc đáo, đồng thời để lại một cảnh quan văn hóa làng phản ánh trình độ xây dựng, kiến trúc và thẩm mỹ nói chung trong các công trình

Đến với Tiên Điền bạn sẽ cảm nhận được không gian yên ả của một vùng quê trước mắt là sông, sau lưng là núi Và nằm ngay ở vị trí mà khách qua đường có thể dễ nhận ra chính là Khu lưu niệm Nguyễn Du Toàn bộ khu

di tích chiếm một phần diện tích lớn của xã, nằm ẩn mình dưới những hàng cây xanh rợp bóng Một khoảng không gian thoáng đãng và không kém phần khang trang, sạch đẹp Trọng tâm của khu di tích chính là nhà lưu niệm hình chữ U với kiến trúc khá đẹp mắt và cân đối, giữa không gian ấy, hòa lẫn với

Trang 38

màu xanh của cỏ cây hoa lá chính là màu ngói đỏ của nhà lưu niệm tạo nên một màu sắc hài hòa Đứng trên ban công tầng 2 của nhà lưu niệm, phóng tầm mắt ra xa về bốn phía là những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay Xa xa

là những ngôi nhà mái đỏ thấp thoáng bóng những người lại qua, tất cả hiện

ra trước mắt bạn là một vùng quê thanh bình và có phần cổ kính

Từ cổng chính nhà lưu niệm mời bạn rẽ phải theo những lối đi được lát bằng xi măng để ghé thăm những di tích khác Hai bên lối đi được che chắn bởi những hàng cây xanh mát dẫn bạn tới Đình Chợ Trổ, nhà tư văn, đền thờ Nguyễn Huệ,…Chính vì khu lưu niệm được xây dựng trong thời kỳ chiến tranh ác liệt nên cán bộ trông coi khu di tích đã cùng với nhân dân trong xã trồng nhiều cây xanh vừa làm đẹp cảnh quan, vừa che chắn máy bay địch Cũng vì vậy mà khu lưu niệm có được một không gian đẹp như ngày nay Tất cả các công trình kiến trúc ấy đều luôn luôn rợp bóng những cây nhãn, cây phượng, cây tràm, cây thông, cây cọ dừa mượt mà xanh mát đan xen muôn thắm nghìn tươi Hai cây lộc vừng trổ lộc đâm chồi những mong khu lưu niệm cũng mãi xanh biếc, trổ lộc đâm bông như thế Còn nữa, đây chính là cây Bồ lỗ và cây Muỗm mà ông Nguyễn Quỳnh đã tự tay trồng vào khoảng những năm 1715-1720

Rời khu lưu niệm, dọc theo con đường Nguyễn Du rải nhựa 1km, bạn

sẽ đến với đền thờ Nguyễn Nghiễm Trước cổng đền xưa có hồ sâu rộng gọi

là Tiên Trạch, nay là đồng ruộng và một con sông nhỏ chảy quanh Vẫn dọc theo con đường này, bạn sẽ đến với mộ của đại thi hào Nguyễn Du Cũng giống như nhà lưu niệm, phần mộ Nguyễn Du cũng được bao bọc bởi nhiều cây xanh nằm nổi bật hơn so với những khu mộ còn lại Vườn mộ trồng những cây cảnh như bàng, keo, tượng, những cây tùng, cây vạn tuế, cây trà cùng mẫu đơn rực rỡ Hai khóm trúc ngà phất phơ trước gió Quanh cây có hàng rào phi lao xanh thẳm được cắt xén thành hàng Như thế là mộ của bậc

Trang 39

để tận hưởng bầu không khí tĩnh lặng của vùng đất này

2.1.4 Bố cục kiến trúc

Cụm di tích bao gồm nhiều phần nhưng lại nằm trên một trục đường với bố cục hợp lý lần lượt từ nhà lưu niệm đến đền thờ và mộ Nguyễn Nghiễm, đền thờ Nguyễn Trọng và mộ Ngyễn Du

Từ quốc lộ 8B, rẽ về phía nam khoảng 50m, ô tô tiến vào bãi đỗ, chúng ta sẽ đến khu lưu niệm Tại khuôn viên trước nhà trưng bày chúng ta

sẽ được chiêm ngưỡng tượng đài Nguyễn Du bằng đồng đường bệ, hiền minh, khắc họa khá đầy đủ tâm thế, tính cách một bậc đại thi hào …Từ đây bước vào nhà lưu niệm, khu nhà cao tầng hình chữ U, gồm văn phòng làm việc, nơi giao lưu, sinh hoạt văn nghệ của du khách và nhân dân địa phương,

nhà trưng bày hiện vật

Vào khuôn viên trong bóng cây râm mát, chúng ta đến nhà thờ Nguyễn

Du Trước kia: nhà thờ Đại thi hào được xây dựng vào năm 1825 trên mảnh

vườn nhà tại làng Tiên Điền Theo học giả Breton trong LaVieux An Tĩnh:

“đây là ngôi đền khiêm tốn nhất của thế tộc này” Trong đền có bàn thờ xây bằng vôi cát, một bàn nhỏ để gác bút nghiên Trên bàn thờ có bức hoành phi

“Hồng Sơn thế phả” Nhưng nay trên nền đất của đền thờ ấy đã dựng trường cấp 1 Tiên Điền, di tích còn lại chỉ là hai cây đại và một tảng đá Năm 1940

Trang 40

Hội Khai trí Tiến Đức dời đền vào chỗ mà chúng ta thấy bây giờ Năm 1954 trong tình hình chung, đền thờ bị phá hỏng nhiều chỗ Năm 1956, Ty văn hoá

Hà Tĩnh cho sửa lại, mới có đền hiện nay

Sau đền thờ, đi về phía đông bắc 30m là một ngôi đình Đình này, nguyên là đình chợ Trổ (ở huyện Đức Thọ) dời về đây năm 1963 theo sự sắp xếp của Ty văn hoá Hà Tĩnh Đây là ngôi đình làm toàn bằng gỗ mít, mái lợp ngói vảy, chạm trổ cầu kỳ, phong cách kiến trúc kiểu cuối Lê đầu Nguyễn

Từ đền thờ đi về phía nam 25m là đàn tế và bia đá Chuyện là: Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du, có năm vợ chín người con (gồm sáu trai, ba gái) Trong sáu người con trai thì ba người đậu cao, làm quan to là Nguyễn Huệ, Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Trọng (hay Nguyễn Vĩ) Năm 1762, sau khi nhận chức tể tướng bốn tháng, để tưởng nhớ công ơn cha mẹ, Nguyễn Nghiễm cùng Nguyễn Trọng và con cháu lập bàn tế, dựng bia đá tại khu vườn tưởng niệm của gia tộc, và quy định: hàng năm cứ đến ngày giỗ, lễ, tết, con cháu lại tập trung tại đây làm lễ dâng hương nhớ ơn các bậc tiền nhân Đàn tế được đắp cao gần 1m, xây và lát gạch bốn mặt, hướng phía tây,

có bậc lên xuống, trên có tấm bia khắc vào mùa thu năm Nhâm Ngọ (1762) Trước đàn tế có cột lư hương bằng đá vốn nguyên gốc về chất liệu và cấu trúc: Đá làm cho bia Nguyễn Nghiễm lấy từ Thanh Hoá về, Nguyễn Khản viết chữ, thợ khắc chữ là người Thanh Hoá chính gốc Năm 1954, giặc Pháp

bỏ bom làm nền bia sụt lở 1/4, rồi hậu duệ đã cho tu sửa lại như hiện nay Gần bia, về phía trước có hai cây: muỗm và bồ lỗ Nguyên có chuyện là: Nguyễn Quỳnh là người tinh thông lí số, giỏi kinh dịch Thi cử không hanh thông, ông chuyển hướng, chuyên tâm đọc sách, dạy con, muốn con thành danh, làm vẻ vang dòng họ, gia đình Vì biết dịch số, nên ông đoán trong sáu con sẽ có ba con đỗ cao nên khoảng năm 1715-1720 ông đã tự tay trồng ba cây: cây muỗm, cây bồ lỗ, cây roi (bị đổ do bão năm 1976), để sau

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w