Trách nhiệm của thư viện công cộng đối với hoạt động phục vụ bạn đọc khiếm thị được quy định tại điều 2 khoản 4 của Nghị định số 72/NĐ-CP... Gần đây, do những đòi hỏi bức thiết từ thực t
Trang 1KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN
- -
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN
DÀNH CHO BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ
TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được bài khóa luận tốt nghiệp này, đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn đến toàn thể Thầy Cô khoa Thư viện-Thông tin trường Đại học Văn hóa Hà Nội những người đã hết lòng hết sức dìu dắt, dạy bảo em trong suốt những năm tháng học tại mái trường Văn hóa Hà Nội
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô giáo hướng dẫn Th.s Phạm Thị Phương Liên trong suốt thời gian vừa qua đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn bộ các Cô, Chú, Anh, Chị tại Thư viện Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và đã cho em nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tại thư viện
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách tốt nhất Song do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm còn non nớt nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong được sự góp ý của Thầy,
Cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
5 Cấu trúc bài khóa luận 10
Chương 1 11
THƯ VIỆN HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ 11
1.1 Người khiếm thị và ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị 11
1.1.1 Khái niệm người khiếm thị 11
1.1.2 Tình hình người khiếm thị ở thành phố Hà Nội 13
1.1.3 Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị 16
1.1.4 Đặc điểm nhu cầu thông tin của người khiếm thị 20
1.2 Thư viện Hà Nội và những yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị 22
1.2.1 Khái quát về Thư viện Hà Nội 22
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội 31
Chương 2 39
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN
PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 39
2.1 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu dành cho bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội 39
Trang 42.2 Xử lý và tổ chức phục vụ cho bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà
Nội 47
2.2.1 Xử lý tài liệu 47
2.2.2 Tổ chức kho 51
2.2.3 Tổ chức bộ máy tra cứu 52
2.3 Dịch vụ thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội 59
2.3.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu tại chỗ 59
2.3.2 Luân chuyển tài liệu 61
2.3.3 Tuyên truyền giới thiệu sách 63
2.4 Nhận xét 64
2.4.1 Kết quả đạt được 64
2.4.2 Hạn chế 65
Chương 3 69
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 69
3.1 Tăng cường nguồn lực thông tin đặc thù phục vụ bạn đọc khiếm thị 69
3.2 Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ bạn đọc khiếm thị 70
3.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị 72
3.4 Tuyên truyền quảng bá về các sản phẩm và dịch vụ thông tin viện tới bạn đọc khiếm thị 74
3.5 Đầu tư kinh phí phát triển vốn tài liệu và trang thiết bị hỗ trợ 75
Trang 53.6 Xã hội hóa công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị 75
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin, tri thức đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người Tiềm năng phát triển của mỗi người phụ thuộc vào khả năng khai thác thông tin của họ Hơn thế, trong giai đoạn bùng nổ thông tin như hiện nay tiềm lực quốc gia bị chi phối bởi khả năng khai thác thông tin của quốc gia đó Hoạt động thông tin thư viện với mục tiêu cuối cùng là đáp ứng đầy
đủ nhu cầu thông tin của bạn đọc vì thế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi người và toàn xã hội Tuy nhiên, trong xã hội không phải ai cũng có đủ điều kiện để có thể tiếp cận thông tin và nguồn thông tin, đặc biệt là những người khiếm thị Đối với những người bình thường đã gặp khá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận đến nguồn tin có chất lượng, thì đối với người khiếm thị, công việc đó lại càng khó khăn hơn gấp bội, họ dễ bị “đói thông tin”, “đói tri thức”
Trong các loại hình thư viện thì thư viện công cộng với vốn tài liệu tổng hợp thuộc mọi ngành, lĩnh vực khoa học có trách nhiệm phục vụ rộng rãi mọi đối tượng bạn đọc Bạn đọc tại thư viện công cộng vô cùng đa dạng nhiều lứa tuổi, trình độ, nghề nghiệp Trong số đó, thư viện cần quan tâm tới nhóm đối tượng bạn đọc đặc biệt đó chính là những người khiếm thị Những người khiếm thị có nhu cầu tìm hiểu kiến thức hoặc muốn đọc sách
là một đòi hỏi tất yếu và cũng là một yếu tố quan trọng giúp họ hòa nhập cộng đồng
Trách nhiệm của thư viện công cộng đối với hoạt động phục vụ bạn đọc khiếm thị được quy định tại điều 2 khoản 4 của Nghị định số 72/NĐ-CP
Trang 7ngày 6 tháng 8 năm 2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh Thư viện như sau: “…Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp
với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi và các dạng tài
liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị ” Trên cơ sở đó, Vụ Thư
viện (Bộ Văn hóa- Thông tin) đã chỉ đạo hệ thống thư viện công cộng phối hợp chặt chẽ với chi hội người mù tại địa phương quan tâm đến đối tượng bạn đọc đặc biệt này Thư viện Hà Nội là thư viện tiên phong trong hoạt động đó, những năm qua, bằng sự nỗ lực của mình Thư viện Hà Nội đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ để phục vụ bạn đọc khiếm thị Tuy nhiên, đối với bạn đọc đặc biệt này Thư viện Hà Nội cần nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện về mọi mặt, đặc biệt là hoạt động thông tin thư viện để làm tốt hơn trách nhiệm của mình
Gần đây, do những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn công tác phục vụ thông tin cho người khiếm thị nên nhiều đơn vị đã có một số các đề tài, công trình nghiên cứu, hội thảo nghiên cứu và trao đổi về nhiều khía cạnh khác nhau của công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu như:
- “Công tác phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Thành phố Hà
Nội” của tác giả Nguyễn Diệp Hà
-“Nhu cầu tin và khả năng đáp ứng thông tin cho người khiếm thị
tại Thư viện hà Nội” của tác giả Nguyễn Chí Trung
- “ Thư viện dành cho người khiếm thị” của tác giả Nguyễn Ngọc
Nguyên
Trang 8- “Tìm hiểu các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ
người khiếm thị trên thế giới” của tác giả Trần Thị Thanh Vân
Ngoài ra còn có rất nhiều các cuộc hội thảo bàn về vấn đề này như: hội thảo do Vụ thư viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức với
nội dung “Tăng cường và nâng cao chất lượng các dịch vụ thư viện công
cộng phục vụ người khiếm thị”
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy các công trình này vẫn chỉ thiên
về việc nghiên cứu từng khía cạnh của đối tượng nghiên cứu mà chưa có cái nhìn cụ thể và bao quát về hoạt động thông tin thư viện dành cho bạn đọc khiếm thị, cụ thể là tại Thư viện Hà Nội Nhận thức được điều đó nên tác
giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động thông tin thư viện dành cho bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
*Mục đích
Khóa luận nhằm mục đích làm rõ thực trạng hoạt đông thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị ở Thư viện Hà Nội hiện nay Trên cơ sở đó,
đề xuất tìm ra những giải pháp phát triển chất lượng của hoạt động thông tin
thư viện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng bạn đọc đặc biệt này
* Nhiệm vụ
- Tìm hiểu ý nghĩa của việc phục vụ bạn đọc khiếm thị, vai trò và trách nhiệm của Thư viện Hà Nội trong việc phục vụ nhu cầu thông tin cho bạn đọc khiếm thị
Trang 9- Khái quát nhu cầu sử dụng tài liệu và phương pháp tiếp cận thông tin của bạn đọc khiếm thị
-Tìm hiểu cách thức tổ chức tài liệu và hệ thống dịch vụ thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị ở Thư viện Hà Nội
-Đánh giá về hiện trạng vốn tài liệu (bao gồm hình thức, nội dung, chất lượng), cách xử lý, tổ chức, bảo quản và dịch vụ thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị ở Thư viện Hà Nội
- Đưa ra những giải pháp khả thi nhằm tăng cường chất lượng hoạt động thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị ở Thư viện Hà Nội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động thông tin thư viện bao gồm các công đoạn: xây dựng vốn tài liệu, xử lý tài liệu, dịch vụ thông tin thư viện dành cho bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có hạn nên tác giả đi sâu phân tích vào 2 vấn đề chính là: vốn tài liệu và dịch vụ thông tin thư viện
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các kết quả điều tra, nghiên cứu
Trang 10* Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp khảo sát thực tế tại Thư viện Hà Nội, đặc biệt là tại
phòng đọc dành cho bạn đọc khiếm thị
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bạn đọc khiếm thị và cán bộ thư
viện
+ Phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu điều tra
+ Phương pháp phân tích các tài liệu liên quan đến tài liệu và dịch
vụ dành cho bạn đọc khiếm thị
5 Cấu trúc bài khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu
tham khảo và các phụ lục, khóa luận được chia làm 3 chương chính sau:
Chương 1: Thư viện Hà Nội và hoạt động thông tin thư viện phục
vụ bạn đọc khiếm thị
Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin thư viện phục vụ bạn
đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường chất lượng tài liệu và dịch vụ
thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội
Trang 11Chương 1 THƯ VIỆN HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ
1.1 Người khiếm thị và ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị
1.1.1 Khái niệm người khiếm thị
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về người khiếm thị Dưới đây tác giả xin đưa ra một số cách hiểu về người khiếm thị
* Theo Từ điển Tiếng Việt:
“Người khiếm thị là người có khiếm khuyết về thị giác, mất khả năng nhìn hoặc chỉ nhìn được rất kém, không rõ ràng”
*Theo Tiến sĩ Gillian Burrington- nguyên giảng viên khoa Thông tin – Thư viện của Trường Đại học Bách Khoa Manchester (Anh):
“Thuật ngữ người khiếm thị dùng để mô tả những người tình trạng thị lực không thể điều chỉnh bằng kính thuốc hay phẫu thuật Nó bao gồm những người mắc bệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù hoàn toàn Một số người khiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số người khác lại có thể thấy rõ ràng những vật ngay trước mắt nhưng không thấy gì
ở hai bên Một số trường hợp bệnh lý có thể gây thị lực chỉ nhìn lốm đốm từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng đến sự nhận biết màu sắc hoặc khả năng nhận biết khoảng cách Cũng có một số người thì rất khó khăn khi
Trang 12gặp ánh nắng chói chang và một số người khác có thể không nhìn thấy gì cả khi gặp ánh sáng yếu”
*Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
“Khiếm thị hay còn gọi là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị
giác một phần hoặc hoàn toàn (mù, đui) Người khiếm thị là người sau khi
được điều trị hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày Riêng mắt người bị mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối, không thấy được những gì xung quanh Chứng mù mắt có thể do nhiều nguyên nhân như rối loạn bẩm sinh, sinh lý hay thần kinh
Người bị mù một mắt gọi là chột Người bị lòa hay mờ mắt có thể nhìn thấy một ít, phân biệt được sáng tối hay hình dáng chung chung”
* Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới:
“Khiếm thị hay còn gọi là khiếm khuyết về chức năng thị giác, là một giới hạn trầm trọng của chức năng thị giác gây ra do mắc bệnh, di truyền, bẩm sinh hay do trấn thương mà không thể điều trị khỏi bằng các phương pháp điều trị khúc xạ, nội khoa hay ngoại khoa
Khiếm thị được xác định khi thị lực ở mắt tốt giảm dưới 6/18 (20/60 hoặc 3/10) cho đến 3/60 (20/400 hoặc 2,5/50) hoặc thị lực trên 6/18 nhưng thị trường (khoảng không gian mắt bao quát được) thu hẹp dưới 10 độ”
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều khái niệm về người kiếm thị Thông qua những khái niệm này, chúng ta có thể thấy rằng người khiếm thị
Trang 13và người mù là hai khái niệm khác nhau Khiếm thị là những người có bệnh
lý về thị lực bị giảm một phần hoặc hoàn toàn, còn người mù là người hoàn toàn không nhìn thấy gì Ở trong nghiên cứu này, tác giả tạm thời sử dụng thuật ngữ bạn đọc khiếm thị để chỉ tình trạng bị khiếm khuyết thị giác ở bạn đọc từ mức độ còn nhìn được lờ mờ, tuy nhiên không đủ khả năng đọc được các chữ cái đến mức độ bị mù hoàn toàn (không nhìn thấy gì)
1.1.2 Tình hình người khiếm thị ở thành phố Hà Nội
Trong bản báo cáo Dữ liệu toàn cầu về suy giảm thị lực năm
2002 (Global data on visual impairment in the year 2002) vào tháng 11
năm 2004 của Tổ chức Y tế Thế giới, tính đến năm 2002 trên thế giới có trên 161 triệu người bị yếu mắt, trong đó 124 triệu người bị lòa và 37 triệu người bị mù hoàn toàn
Tại Việt Nam, chưa có một một công trình nghiên cứu, điều tra nào trên quy mô toàn quốc và toàn diện về người khiếm thị cho biết những số liệu chính xác, mang tính tổng thể về số lượng người khiếm thị, dạng khiếm thị, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, bên cạnh đó việc nghiên cứu tâm lý, nhu cầu thông tin và sản phẩm thông tin mà những người khiếm thị sử dụng cũng ít được chú ý Vì vậy, các số liệu tác giả công bố chỉ mang tính thống
kê cục bộ
Theo kết quả điều tra vào năm 2002 của Viện mắt Trung ương thì tại Việt Nam có khoảng 900.000 người khiếm thị trong đó có khoảng hơn 600.000 người thuộc đối tượng mù, chiếm 1,2% dân số cả nước
Trang 14Ngày 10 tháng10 năm 2013 tại Hà Nội, Ban chỉ đạo quốc gia Phòng chống mù lòa (Bộ Y tế), bệnh viện Mắt Trung ương và Hội Nhãn khoa Việt Nam đã tổ chức lễ mít tinh hưởng ứng Ngày thị giác thế giới năm 2013 (ngày thứ năm, tuần thứ hai của tháng 10 hàng năm) Đây là năm thứ 12 Việt Nam hưởng ứng ngày lễ này Phát biểu tại lễ mít tinh, PGS.TS Cung
Hồng Sơn, Phó giám đốc bệnh viện Mắt trung ương cho biết “cứ 5 giây trên
thế giới có thêm một người bị mù và cứ 1 phút có thêm 1 trẻ bị mù 90% người mù sống ở các nước nghèo và đang phát triển với các điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế khó khăn, bao gồm cả Việt Nam” Theo tính toán của các
nhà chuyên môn, dự báo nếu không có biện pháp hữu hiệu để phòng chống hiện tượng giảm thị lực thì đến năm 2020 cả thế giới số người khiếm thị sẽ tăng gấp đôi và Việt Nam có thể có khoảng 4 triệu người khiếm thị (tương đương với khoảng 4% dân số) Đây sẽ là trở ngại lớn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn đổi mới đất nước ở Việt Nam
Tại Hà Nội, theo số liệu thống kê năm 2010 của Thành Hội người
mù, số lượng người khiếm thị của thủ đô là 12.000 người Có một số nguyên nhân gây khiếm thị và mỗi nguyên nhân thì lại có ảnh hưởng khác nhau lên khả năng và nhu cầu đọc sách Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng khiếm thị là do di chứng chất độc màu da cam, tình trạng thiếu dinh dưỡng (đặc biệt là vitamin A), di chứng của tai nạn lao động Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác do biến chứng về mắt của các bệnh như đái tháo đường, cao huyết áp, sởi, đậu mùa ngày càng tăng cao
Trang 15Đảng, Nhà nước ta đã có sự quan tâm thiết thực đến cuộc sống của người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng như: hỗ trợ một phần tài chính, miễn phí đi xe buýt trong nội thành những thành phố lớn như Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, các Hội người mù, trung tâm người khiếm thị cũng được thành lập như: trung tâm phục hồi chức năng và đào tạo cho người khuyết tật (ở Trung Kính, quận Cầu Giấy
Hà Nội), trường học miễn phí dành cho người khiếm thị như trường Nguyễn Đình Chiểu (ở Lạc Trung, Hai Bà Trưng, Hà Nội) Mục đích của các tổ chức cơ sở này không chỉ nhằm đảm bảo sức khoẻ, cuộc sống vật chất cho người khiếm thị mà còn chăm lo những vấn đề về văn hoá, tinh thần, quyền lợi tiếp cận thông tin của họ Đảng, Nhà nước còn ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy như: “Pháp lệnh về người tàn tật” (năm 1998), “Pháp lệnh Thư viện (năm 2000), “Pháp lệnh về người cao tuổi” (năm 2000)… Trong các văn bản này đều chỉ rõ việc chăm lo cho người khuyết tật là nhiệm vụ của toàn dân, chăm lo cho người khuyết tật không chỉ về mặt vật chất mà còn về tinh thần để người khuyết tật có được cuộc sống hòa nhập với cộng đồng Thực hiện sự chỉ đạo ấy, nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động thông tin thư viện đã chú trọng đến những người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng Tuy nhiên,
cả trên phương diện nghiên cứu lý luận và triển khai tổ chức thực hiện trong thực tiễn vấn đề phục vụ thông tin cho người khiếm thị vẫn còn chưa đồng
bộ
Trang 161.1.3 Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị
Cũng giống như những đối tượng khác trong xã hội, người khuyết tật và cụ thể hơn là người khiếm thị có quyền được tiếp nhận thông tin và giao lưu thông tin Chính vì vậy, việc tổ chức các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, truyền bá tri thức cho người khiếm thị là một trong những hoạt động mang tính xã hội và nhân văn mà ngành thông tin thư viện
có chức năng, nhiệm vụ thực hiện
Trên thế giới, hoạt động thông tin thư viện của nhiều nước phát triển dành sự quan tâm đặc biệt tới việc đảm bảo tiếp cận thông tin cho người khiếm thị Trong tuyên ngôn năm 1994 của UNESCO về thư viện đã nêu rõ:
“ Cần xem xét tổ chức việc phục vụ bên ngoài các bức tường của thư viện cho những ai không thể đến thư viện” Các hoạt động thư viện phuc
vụ người khiếm thị trên thế giới khá phát triển Có thế kể đến hệ thống thư viện phục vụ người khiếm thị như ở Mỹ, Thụy Điển, Sec, Đan Mạch Cụ
thể như: ở Mỹ, từ năm 1930 đã có Dịch vụ Quốc gia Thư viện dành cho
người mù và người tàn tật của Thư viện Quốc hội Mỹ, chuyên lo việc sản
xuất và cho người khiếm thị mượn đọc tài liệu miễn phí, tại chỗ hoặc gửi qua bưu điện để đọc ở nhà bằng hai dạng chủ yếu là chữ nổi Braille và sách nói Ở Thụy Điển cũng vậy, các dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị được bảo đảm bởi luật Thư viện chữ nổi và sách nói (talking books and Braille Library- TPB) Tại cộng hòa Sec, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin
và tri thức của người khiếm thị, hội báo chí cho người khiếm thị Sec đã chính thức lập ra một thư viện của hội vào tháng 6 năm 1918 Như vậy có thể thấy ở mỗi quốc gia phát triển, họ đều xây dựng chính sách cụ thể nhằm
Trang 17tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người người khiếm thị có cơ hội được tiếp nhận, trao đổi thông tin dễ dàng và hiệu quả Qua đó, người khiếm thị sẽ được nâng cao sự hiểu biết, tự tin để hòa nhập xã hội, cộng đồng
Không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, nhận thấy tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin cho người khuyết tật đặc biệt là người khiếm thị, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tới đối tượng người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng Điều này thể hiện rất rõ trong hàng loạt các văn bản pháp quy đã được ra đời như: Pháp lệnh Thư viện năm 2000, Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 6/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện và Luật Người Khuyết tật năm 2010 Cụ thể như: trong Pháp lệnh Thư viện năm 2000 đã
quy định “…người khiếm thị được tạo điều kiện sử dụng tài liệu thư viện
bằng chữ nổi hoặc các vật mang tin đặc biệt” Còn thư viện có trách
nhiệm : “ d Phục vụ tài liệu tại nhà thông qua hình thức thư viện lưu
động hoặc gửi qua bưu điện khi có yêu cầu đối với người cao tuổi, người tàn tật không có điều kiện đến thư viện” Ngoài ra, tại điều 2 khoản 4 của
Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 6/8/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Pháp lệnh Thư viện như sau: “…4 Thư viện công cộng có trách
nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ
nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị ”
Thông qua các văn bản pháp quy này, càng khẳng định được việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị là vô cùng ý nghĩa và cần thiết
Trang 18Đối với người bình thường, thông tin đóng vai trò quan trọng một phần thì đối với người khiếm thị thông tin có ý nghĩa quan trọng hơn gấp bội
Thứ nhất, thông tin giúp người khiếm thị tự phục vụ cuộc sống Bởi
lẽ, người khiếm thị bị mất đi một giác quan quan trọng trong khả năng tiếp cận và cảm nhận thế giới, đó là đôi mắt vì thế khả năng tiếp nhận thế giới bên ngoài của họ bị hạn chế Bản thân người khiếm thị phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác, nhiều công việc cơ bản mà đối với người bình thường là rất dễ dàng nhưng bản thân người khiếm thị không thể tự thực hiện được Điều này gây
ra nhiều khó khăn trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt cá nhân, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội khác Từ sự cung cấp thông tin hỗ trợ sẽ giúp
họ hoàn thành tốt công việc của mình hơn Mặt khác khi được cung cấp các thông tin qua những tài liệu sách chữ nổi Braille, sách nói sẽ giúp họ hình dung về cuộc sống và cũng giúp họ thư giãn sau những bộn bề, lo toan hàng ngày
Thứ hai, khi có thông tin, người khiếm thị có thêm hiểu biết xã hội
họ sẽ bớt mặc cảm, không cảm thấy bị kì thị Trước đây, trong xã hội phong kiến, người khiếm thị tại Việt Nam thường bị kỳ thị, bị coi thường như những người thuộc tầng lớp dưới đáy của xã hội Họ sống bần hàn, không được học hành và bị người khác khinh thường Trên thực tế, nhiều người khiếm thị không được tạo điều kiện học hành đồng thời cũng không được đào tạo để có được những kỹ năng cần thiết giúp họ có một công việc tốt Tỉ
Trang 19lệ thất nghiệp của những người khiếm thị rất cao Chỉ có một số ít người khiếm thị có khả năng kiếm được tiền bằng việc đi ăn xin, hát rong trên phố hoặc làm nghề thầy bói hay một số việc khác như tầm quất mát xa và một
số nghề thủ công đơn giản- những nghề này thường đem lại thu nhập rất thấp Hơn thế, người khiếm thị không có nhiều cơ hội tiếp xúc với những người bình thường trong xã hội ngoại trừ người thân, gia đình của họ Vì thế để hòa nhập với xã hội thực sự là một điều khó khăn với họ Tuy nhiên, bất kì người khiếm thị nào cũng khao khát sống độc lập, dựa vào khả năng của chính mình và mong muốn có cơ hội để đạt được ước mơ của mình như bao người khác Họ không muốn bị cô lập và đứng ngoài vòng quay của cuộc đời, bị kỳ thị và bị đối xử như những kẻ thấp hèn trong xã hội Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển đã tạo ra nhiều cơ hội nghề nghiệp mới cho người khiếm thị: họ có thể làm việc với máy tính (trong lĩnh vực công nghệ thông tin), làm phiên dịch viên, giáo viên hoặc làm trong lĩnh vực nghệ thuật như hát, nhảy, đánh đàn Nhưng để làm được tất cả những việc trên, người khiếm thị cần được đào tạo và trước hết cần có thông tin
Ngoài việc mang lại ý nghĩa cho chính bản thân những người khiếm thị, thì việc cung cấp thông tin cho họ cũng mang lại ý nghĩa cho xã hội Vì hiện nay số lượng người khiếm thị ở đổ tuổi lao động là không hề nhỏ Những gia đình có người khiếm thị thường thiếu nhân lực lao động hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc Nhiều gia đình, chủ hộ lại chính là người khiếm thị, sức khỏe yếu, không làm được kinh tế, thất nghiệp nên hộ gia đình người khiếm thị thường thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, thu nhập ở
Trang 20mức thấp Điều kiện sống và sinh hoạt của người khiếm thị, hộ gia đình người khiếm thị không tốt không chỉ ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi của các thành viên trong gia đình mà rộng hơn là của xã hội
Do vậy, cần cung cấp thông tin cho người khiếm thị giúp họ có thêm kiến thức và khi được tiếp xúc với thông tin, họ sẽ không còn tự ti, mặc cảm về bản thân, có thể tìm và học những công việc phù hợp với khả năng, giúp ích cho gia đình và đóng góp cho xã hội
Như vậy có thể thấy việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị có
ý nghĩa rất quan trọng Tuy không thể đọc được sách báo bình thường, nhưng họ có quyền được tiếp nhận thông tin và quyền đọc thông tin trong các định dạng có thể truy cập cho họ Trách nhiệm này thuộc về thư viện – nơi có đầy đủ các tại liệu với các định dạng mà người khiếm thị có thể dễ dàng tiếp nhận như: sách chữ nổi Braille, sách nói Rõ ràng cần phải tạo ra nhiều hơn nữa các sản phẩm, dịch vụ thông tin để thu hẹp khoảng cách, để cho phép những người khiếm thị có thể truy cập bình đẳng và độc lập trong các thư viện công cộng như những người bình thường khác Tuy vậy những tài liệu gì thực sự tốt và phù hợp cho người khiếm thị về cả loại hình và nội dung thì vẫn là câu hỏi đặt ra cho hệ thống thư viện
1.1.4 Đặc điểm nhu cầu thông tin của người khiếm thị
Nhu cầu tin của người khiếm thị cũng đa dạng, phong phú như những người dùng tin bình thường khác, tuy nhiên do họ có những đặc điểm về tâm sinh lý đặc biệt nên nhu cầu tin cũng có một số đặc thù sau:
Thứ nhất, người khiếm thị có thể không may mắn bị khiếm thị từ
khi mới sinh ra, cũng có thể là do tai nạn lao động hoặc mắt lão hoá do tuổi
Trang 21cao Do đó nhu cầu sử dụng tài liệu của họ cũng liên quan đến nguyên nhân gây khiếm thị Ví dụ, đối với những người khiếm thị bẩm sinh thì chủ yếu
sử dụng sách chữ nổi vì sách chữ nổi giúp học đọc và học viết Còn đối với những người khiếm thị do tai nạn lao động hoặc lớn tuổi thì thường sử dụng tài liệu ở dạng âm thanh là chủ yếu Người nhược thị - chiếm đa số - còn một phần thị lực nên không dùng nhiều đến tài liệu sách chữ nổi mà họ cần thêm những thiết bị khác hỗ trợ việc đọc như máy nhược thị, làm cho kích thước chữ to ra Riêng sách nói (CD, cassettes) thì phù hợp cho tất cả những người có vấn đề về mắt
Thứ hai, một bộ phận không nhỏ người khiếm thị không biết chữ,
đặc biệt là ở các vùng nông thôn, họ cũng không có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Chỉ có một bộ phận nhỏ người khiếm thị được đào tạo, rất ít người có trình độ đại học trở lên Cũng chính vì vậy người khiếm thị ở Việt Nam thường làm các nghề đơn giản như làm tăm tre, chổi quét nhà, tẩm quất, may vá…chỉ một số ít những người khiếm thị có trình độ cao là có thể làm phiên dịch, sáng tác văn chương nghệ thuật Do trình độ khác nhau, làm những công việc khác nhau nên nhu cầu tin của họ cũng khác nhau, vì vậy trong quá trình phục vụ, thư viện cần chú ý đến đặc điểm nghề nghiệp, trình
độ và tâm lý của mỗi người khiếm thị để phục vụ thông tin một cách phù hợp Thông thường, nội dung tài liệu người khiếm thị cần nhiều nhất vẫn là sách giáo khoa phổ thông, rồi đến văn học, xã hội – chính trị, âm nhạc, y học cổ truyền Ngoài ra, họ còn cần những tài liệu có nội dung về các ngành nghề thủ công, khoa học ứng dụng và tin tức nói chung
Trang 22Thứ ba là khả năng tiếp nhận thông tin của người khiếm thị thường
kém do khả năng nhìn hạn chế, do vậy họ cần có phương tiện hỗ trợ việc đọc như máy tính và các phần mềm chuyên dụng đọc tiếng Việt như: NDC, VCL, Mata, đọc tiếng nước ngoài như Jaws, máy đọc sách nói kỹ thuật số Victor Reader, máy cassettes, máy trợ thị SmartView Tuy nhiên khi sử dụng các phương tiện hỗ trợ này cần chú ý đến khả năng tiếp cận và kỹ năng sử dụng phương tiện của họ
Như vậy có thể thấy nhu cầu tin của người khiếm thị về hình thức, nội dung cũng đa dạng và phong phú không kém gì so với những người bình thường khác Tuy nhiên, do gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại cũng như hạn chế về mặt sức khỏe, tần suất sử dụng tài liệu ở thư viện của những người khiếm thị không cao Do vậy thư viện cần có những biện pháp thiết thực hơn nữa để thúc đẩy và đáp ứng nhu cầu tin cho bạn đọc khiếm thị
1.2 Thư viện Hà Nội và những yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị
1.2.1 Khái quát về Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội ( tên giao dịch quốc tế là Ha Noi capital library) là một trong những thư viện công cộng lớn của thủ đô Thư viện Hà Nội nằm
ở 47 Bà Triệu
Năm 1956 thư viện được thành lập với tên gọi ban đầu là “phòng
đọc sách nhân dân” Trong những năm đầu thành lập thư viện gặp rất nhiều
khó khăn, vốn tài liệu còn ít, cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhưng với sự nỗ lực Ban giám đốc cùng toàn bộ nhân viên của thư viện đã từng bước khắc
Trang 23phục khó khăn, không ngừng phấn đấu giúp thư viện ngày càng phát triển Thư viện đã qua nhiều lần thay đổi địa điểm, lúc ở bên hồ Hoàn Kiếm, khi
về Lò Đúc, Mai Dịch, Văn Miếu- Quốc Tử Giám Đến tháng 1 năm 1959,
Thư viện chính thức đặt tại 47 Bà Triệu và mang tên “Thư viện nhân dân
Hà Nội”, nay là Thư viện thành phố Hà Nội
Tháng 2 năm 2009, Thư viện Hà Nội hợp nhất với thư viện tỉnh Hà Tây theo quyết định số 539 QĐ-UBND ngày 4 tháng 2 năm 2009 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đến nay, Thư viện Hà Nội có hai cơ sở hoạt động, cơ sở 1 tại số 47 Bà Triệu- Hoàn Kiếm- Hà Nội và cơ sở 2 tại số 2B Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội
Trang 24Nhiệm vụ
1 Xây dựng và trình Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch thành phố Hà Nội quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động dài hạn, hàng năm của Thư viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
2 Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều khiện thuận lợi cho người đọc được sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn về nhà hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện
Phục vụ miễn phí tài liệu thư viện tại nhà cho người đọc cao tuổi,
người tàn tật bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện lưu động theo
quy định của Pháp lệnh Thư viện
3 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên- kinh tế- văn hoá của Hà Nội và đối tượng phục vụ của thư viện như:
- Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại Hà Nội và viết về Hà Nội
- Bổ sung, trao đổi, nhận biếu tặng tài liệu của cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
- Nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu tại Hà Nội; các bản sao khoá luận, luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các trường đại học tại Hà Nội, các công trình nghiên cứu khoa học của Hà Nội
và nghiên cứu về Hà Nội
- Xây dựng bộ phận tài liệu dành cho trẻ em, người khiếm thị, tài
liệu bằng tiếng dân tộc phù hợp với đặc điểm dân cư trên địa bàn Thành phố
Trang 25- Tăng cường nguồn lực thông tin thông qua việc mở rộng sự liên thông giữa thư viện với các thư viện trong nước và ngoài nước bằng hình thức cho mượn, trao đổi tài liệu và kết nối mạng máy tính
- Lưu trữ các tài liệu có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thư viện và phục vụ người đọc theo quy định của Pháp luật
- Thực hiện việc thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu không còn giá trị
sử dụng theo quy định
4 Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu kịp thời, rộng rãi vốn tài liệu thư viện đến mọi người, đặc biệt là các tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội Thủ đô; xây dựng phong trào đọc sách, báo sâu rộng trong nhân dân
5 Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin- thư mục, thông tin
có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của thư viện
6 Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thư viện ; tham gia xây dựng và phát triển mạng thông tin- thư viện của hệ thống thư viện công cộng
7 Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện quận huyện
và cơ sở trên địa bàn thành phố bằng các phương thức: biên soạn tài liệu, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo về nghiệp vụ thư viện theo sự phân công của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội
8 Hợp tác quốc tế về lĩnh vực Thư viện: tham gia các tổ chức quốc
tế về thư viện; xây dựng và tiếp nhận các dự án tài trợ tài liệu, trang thiết bị
Trang 26và dự án bồi dưỡng cán bộ thư viện do các thư viện , tổ chức nước ngoài tài trợ hoặc tổ chức; tổ chức hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động; triển lãm tài liệu theo quy định của pháp luật
9 Tổ chức các hoạt động, dịch vụ có thu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và phù hợp với quy định của pháp luật
10 Quản lý và tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ tài liệu; thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm
vị quản lý theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Giám đốc
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội
11 Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật
12 Thực hiện các nhiệm vụ khác được Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội giao
*Cơ cấu tổ chức
Hiện tại Thư viện Hà Nội được tổ chứcgồm Ban giám đốc, hội đồng khoa học và 7 phòng cụ thể như sau:
Trang 27*Đội ngũ cán bộ
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước
mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu Vì vậy các đấng thánh đế minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” (Thân Nhân Trung), cán bộ chính là
vấn đề then chốt trong mọi hoạt động Trong thư viện, một trong 4 yếu tố quan trọng cấu thành nên thư viện chính là cán bộ thư viện - cầu nối trung gian đưa tri thức đến với bạn đọc và phục vụ bạn đọc một cách tốt nhất Trong tuyên ngôn 1999 của UNESCO đã nhấn mạnh vai trò to lớn của cán
bộ thư viện: “Cán bộ thư viện là người môi giới tích cực giữa người dùng
Trang 28tin và nguồn lực Việc đào tạo nghề nghiệp và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện là đòi hỏi tất yếu để nâng cao trình độ phục vụ”
Với số lượng bạn đọc đông và nguồn tài liệu phong phú đòi hỏi Thư viện Hà Nội phải có cơ cấu tổ chức tốt, linh động để quản lý và đáp ứng nhu cầu ngày cao của bạn đọc Hiện nay, đội ngũ cán bộ Thư viện Hà Nội
có 85 người, trong đó có 49 cán bộ trong biên chế và 36 lao động hợp đồng Trên 80% cán bộ có trình độ trên đại học và đại học, đa số biết từ 1 đến 2 ngoại ngữ, 2/3 cán bộ có trình độ tin học cơ bản
*Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất, trang thiết bị có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động thông tin thư viện Cơ sở vật chất và các trang thiết bị có tốt, hiện đại thì hoạt động thông tin thư viện mới đạt hiệu quả cao, cán bộ làm công tác thông tin thư viện sẽ đỡ vất vả và nhu cầu tin của người dùng tin sẽ được đáp ứng kịp thời
Ban đầu Thư viện Hà Nội có diện tích là 1,347m2, sau đó nhận thấy diện tích sử dụng không đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Thủ đô, ngày 10 tháng 10 năm 2005, thư viện tiến hành cải tạo, xây dựng mới Thư viện đang xây dựng với định hướng trở thành thư viện hiện đại nên rất chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị Hiện nay, Thư viện
Hà Nội đã trang bị phần mềm quản lý thư viện LIBOL 6.0 thay cho phần mềm ISIS cũ, phần mềm sản xuất sách nói cho người khiếm thị Daisy, cùng
hệ thống máy tính, máy scan, máy in laze, máy photo… Toàn bộ phòng đọc được trang bị máy điều hòa, kho sách có máy hút bụi, chống ẩm Đặc biệt,
Trang 29được sự tài trợ của Quỹ Force, Thư viện Hà Nội đã xây dựng một Studio chuyên dụng sản xuất sách nói cho người khiếm thị
Hiện nay, trụ sở của thư viện được đầu tư xây dựng khá hiện đại, gồm 8 tầng nổi và 1 tầng hầm, cao gần 30 m, diện tích sàn khoảng 6,161m2với hệ thống trang thiết bị đồng bộ, phụ trợ tốt cho hoạt động phục vụ người đọc Tầng 1 trụ sở mới của Thư viện Hà Nội gồm sảnh, phòng trưng bày triển lãm sách, phòng đọc khiếm thị, không gian đa năng, từ tầng 2 đến tầng
8 được bố trí phòng hội trường, hội họp, phòng đọc, kho sách, phòng tin học Công trình được xây dựng trong 3 năm với tống vốn đầu tư khoảng 44
tỷ đồng Đến ngày 10 tháng 10 năm 2008 thư viện chính thức được khánh thành Thư viện được thiết kế như cuốn sách mở ôm lấy không gian tròn rộng mở, toà nhà thư viện là biểu tượng về sự vô tận của tri thức được ẩn chứa trong những trang sách Đây cũng là một công trình văn hoá trọng điểm của Thành phố hướng tới kỷ niệm 1.000 Thăng Long- Hà Nội
*Người dùng tin của Thư viện Hà Nội
Với mục đích là không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng và thoả mãn tối đa nhu cầu thông tin của người dùng tin, có thể nhận thấy đó không chỉ là mục đích mà còn là kim chỉ nam cho hoạt động của bất kỳ thư viện nào, đặc biệt là trong quá trình tạo lập các sản phẩm và dịch vụ mới Hiện nay người dùng tin của Thư viện Hà Nội phát triển nhanh chóng cả về số lượng và thành phần Đối tượng người dùng tin ở Thư viện Hà Nội rất đa dạng với mọi lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau như học sinh, sinh viên, cán bộ hưu trí… Trong đó còn có những đối tượng đặc biệt như thiếu nhi, người khiếm thị và người dân tộc thiểu số Hàng tuần, thư viện mở cửa
Trang 30phục vụ từ 8 giờ sáng tới 7 giờ 30 tối từ thứ 2 tới thứ 6, riêng thứ 7 thì phục
vụ theo giờ hành chính
Qua khảo sát thực tế về thành phần bạn đọc tại Thư viện Hà Nội, trên cơ sở đặc điểm nghề nghiệp, trình độ của họ tác giả tạm chia bạn đọc của thư viện thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm bạn đọc là học sinh sinh viên
Đây là nhóm bạn đọc chiếm số lượng lớn (khoảng 65%) bạn đọc thư viện Nhu cầu tin của nhóm này rất đa dạng phong phú, họ thường sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào dịp thi cử, chuẩn bị làm đề tài, thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, bảo vệ khoá luận Nhu cầu thông tin của họ chuyên sâu về chủ đề, tài liệu mang tính thời sự
Nhóm 2: Nhóm bạn đọc phổ thông
Nhóm này chiếm khoảng 20% trên tổng số bạn đọc của thư viện Đây là nhóm bạn đọc này rất đa dạng, đó có thể là những người dân trên địa bạn thủ đô có nhu cầu tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật, tìm hiểu về lịch sử thủ đô dó cũng có thể là những người dân có nhu cầu tìm tài liệu để giải trí sau những ngày làm việc mệt nhọc Nhìn chung nhu cầu tin của nhóm bạn đọc này rất đa dạng, phong phú và thường là không chuyên sâu
Nhóm 3: Nhóm bạn đọc nghiên cứu
Bao gồm các đồng chí lãnh đạo của Sở Văn hóa-Thông tin của Thủ
đô, các cán bộ nghiên cứu khoa học như các giáo sư tiến sĩ,các phóng viên, văn nghệ sỹ đặc biệt là những người làm công tác về địa phương Nhóm
Trang 31bạn đọc này tuy chiếm số lượng khá khiêm tốn (khoảng 15%) nhưng luôn được thư viện quan tâm, chú trọng phục vụ
Hơn nửa thể kỷ qua, Thư viện Hà Nội đã phục vụ thông tin, sách báo cho hàng triệu người và đã trở thành địa chỉ văn hoá quen thuộc của mọi người dân Thủ đô Với những hình thức hoạt động phong phú đa dạng, Thư viện Hà Nội đã phục vụ đắc lực công tác nghiên cứu, học tập, sản xuất, kinh doanh và nâng cao dân trí Để ghi nhận những đóng góp đáng kể của Thư viện Hà Nội, Đảng, Nhà nước đã trao tặng cho Thư viện Thành phố 3 Huân chương Lao động và Huân chương Độc lập hạng Ba
1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thông tin thư viện phục vụ bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội
Nếu như vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật, trụ sở, bạn đọc và cán
bộ thư viện là bốn yếu tố cấu thành thư viện thì có thể nói hoạt động thông tin thư viện là yếu tố quyết định sự sống còn của mỗi thư viện Mọi hoạt động của thư viện đều hướng tới việc phục vụ bạn đọc, hướng tới mục tiêu thỏa mãn mọi yêu cầu và nhu cầu của bạn đọc không phân biệt trình độ, nghề nghiệp độ tuổi hay tâm lý của họ
Tuy nhiên để các hoạt động thông tin thư viện có hiệu quả, bám sát nhu cầu của bạn đọc, ta không thể không kể đến những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng hoạt động thư viện Đó là: vốn tài liệu
và công tác phát triển vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện làm công tác nghiệp vụ, công tác đào tạo người dùng tin và nghiên cứu người dùng tin
Trang 32Trong những đối tượng bạn đọc tại Thư viện Hà Nội, có một đối tượng tuy chiếm số lượng nhỏ nhưng rất đặc biệt, đó là người khiếm thị Tổ chức các dịch vụ cho đối tượng bạn đọc này đặc biệt không chỉ về hình thức phục vụ, phương thức, quy mô và vấn đề tổ chức phục vụ cho họ mà còn đặc biệt cả về ý nghĩa xã hội và chức năng phục vụ Tuy nhiên để nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin phục vụ bạn đọc khiếm thị ta cũng phải để cập tới những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin thư viện- cũng không khác với các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thông tin thư viện chung như: vốn tài liệu và công tác phát triển vốn tài liệu,
cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện làm công tác nghiệp vụ, công tác đào tạo người dùng tin và nghiên cứu người dùng tin
Phòng đọc khiếm thị của Thư viện Hà nội được thành lập năm 1998, với chủ trương xây dựng mô hình thư viện truyền thống, phù hợp với trình
độ của đa số người khiếm thị trên địa bàn thành phố Nhằm mục đích nâng cao dân trí cho người khiếm thị, giúp họ có thêm những kiến thức khoa học đời sống cơ bản để kiếm sống, giúp họ giải trí, nâng cao đời sống văn hóa
và hòa nhập cộng đồng thông qua việc tham gia các hoạt động tại thư viện Hiện nay, Thư viện Hà Nội đã xây dựng được một số những tiền đề phục vụ bạn đọc khiếm thị Cụ thể như sau:
- Cơ sở vật chất:
+Phòng đọc: được bố trí tại tầng 1, rộng 50m2 ,với 2 bàn phục vụ +Phòng studio: được sự tài trợ bởi quỹ FORCE (Hà Lan), năm 2008 thư viện đã khánh thành một studio sản suất sách nói cho bạn đọc khiếm thị
Trang 33 2 máy Victor Reader- thiết bị để đọc sách nói
1 bộ loa và tai nghe
-Vốn tài liệu:
Đối với người bình thường, việc nhận thức được thực hiện dựa trên
cả 5 giác quan Còn đối với người khiếm thị, do bị hạn chế về thị giác nên xúc giác và thính giác của họ trở nên vô cùng nhạy cảm Dựa vào đặc điểm đặc trưng này mà tài liệu dành cho người khiếm thị cũng có những đặc điểm riêng biệt Tài liệu đặc thù dành riêng cho người khiếm thị như sách chữ nổi
và sách nói, đây đều là dạng tài liệu sử dụng chủ yếu qua sự cảm nhận của đôi tay và sự nhạy cảm của đôi tai
*Đặc điểm của sách chữ nổi Braille:
Hệ thống chữ Braille do Louis Braille (người Pháp), sáng tạo ra từ năm 1920, dựa trên hệ thống mật mã của quân đội Chữ Braille sử dụng các cách sắp xếp khác nhau của 3 hàng 2 chấm, được đánh số thứ tự từ 1 đến 6,
để thay cho các ký tự dùng trong ngôn ngữ như chữ cái, thanh điệu…Chữ
Trang 34Braille dành cho người khiếm thị, cảm nhận qua xúc giác bằng các đầu ngón tay Nên được viết trên giấy đặc biệt, dày và dai hơn giấy thường, được viết nổi lên trên bề mặt giấy Tại Việt Nam, hệ thống chữ Braille đã được người Pháp đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19.Mẫu chữ Braille nguyên thủy là các chữ cái Latin, không có các chữ cái như Â, Ă, Ê, Ơ nên các trường khiếm thị ở Việt Nam đã sáng tạo những chữ cái đó theo cách riêng của
Biểu đồ: nội dung sách chữ nổi Braille dành cho bạn đọc khiếm thị
tại Thư viện Hà Nôi
TL lịch sử 25% TL khoa học10%
TL khác 5%
TL văn học: 60%
Trang 35Về ngôn ngữ:
Chiếm đa số trong kho tài liệu dành cho người khiếm thị là tài liệu tiếng Việt Chỉ có một số ít tài liệu được quỹ ADB (ngân hàng Phát triển Châu Á) tài trợ là bằng tiếng Anh, chiếm khoảng 2%
Ngoài ra, Thư viện Hà Nội còn có hơn 500 đĩa CD-ROM, đây là dạng tài liệu có nhiều ưu thế, ngoài khả năng lưu trữ dữ liệu lớn, quản lý thuận lợi, không chiếm nhiều diện tích kho, dễ dàng định vị và linh hoạt khi khởi động hoặc dừng lại, nó còn giúp người khiếm thị dễ dàng sử dụng Ngoài hơn 500CD- ROM, Thư viện Hà Nội còn có hơn 1711 băng cassette
để phục vụ bạn đọc khiếm thị Đây là vật mang tin thông dụng và quan trọng nhất cho những người mù hoàn toàn hay chỉ còn một chút thị lực trong việc tiếp nhận thông tin Vì vậy, đối tượng sử dụng tài liệu này thường đông đảo nhất
Có thể thấy, với số lượng vốn tài liệu trên chưa phải là lớn, nhưng bằng sự nỗ lực của mình, thư viện vẫn đang dần tăng thêm về số lượng cũng như hoàn thiện hơn về chất lượng tài liệu để phục vụ đối tượng đặc biệt này Trong những năm gần đây, do điều kiện giao thông phức tạp, việc mượn tài liệu của bạn đọc khiếm thị chủ yếu thông qua đội ngũ tình nguyện viên Hiện nay, Thư viện Hà Nội duy trì việc phối hợp với quận huyện, Hội người mù: đưa sách luân chuyển xuống các chi Hội người mù tại quận huyện Bình quân hiện nay thư viện tổ chức luân chuyển sách khoảng 1 quý một lần Số tài liệu mỗi lần thông thường là khoảng 7-8 đầu sách (tương đương 50- 60 cuốn sách) và 9 đĩa CD
Trang 36Bên cạnh các yếu tố chủ quan của thư viện ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thông tin thư viện, không thể không kể đến những yếu tố khách quan như: trình độ đọc và hứng thú đọc của bạn đọc khiếm thị, tình hình sản xuất các dạng tài liệu chuyên biệt dành cho người khiếm thị, sự quan tâm của các tổ chức xã hội tới việc cung cấp thông tin cho người khiếm thị
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của người khiếm thị, tại Thành Hội người mù và quận (huyện) đã thành lập và xây dựng các câu lạc bộ văn nghệ, câu lạc bộ thường xuyên nghe băng đọc báo, câu lạc bộ tin học Nhìn chung, nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan tổ chức Thành Hội người mù
Hà Nội và các quận (huyện) hội vẫn là tập trung chủ yếu vào tìm các giải pháp chăm lo đời sống vật chất cho hội viên còn các hoạt động liên quan đến việc chăm lo tới đời sống văn hóa tinh thần cho người khiếm thị vẫn chưa được chú trọng
Trước năm 2000, các hình thức đáp ứng thông tin, nhu cầu thông tin cho người khiếm thị còn rất hạn chế, có thể thấy nguyên nhân là do:
Sách chữ nổi Braille chỉ được xuất bản và lưu hành nội bộ Nước ta chưa có một nhà xuất bản chính thống nào xuất bản và in ấn sách chữ nổi Braille cho người khiếm thị Những cuốn sách chữ nổi hiếm hoi có được là do các cơ sở có nhu cầu tự sản xuất, tất nhiên được sự cho phép của Nhà nước Đó là Hội Người mù Việt Nam và hệ thống các trường phổ thông trung học cơ sở Nguyễn Đình Chiểu ở ba miền Bắc, Trung, Nam Hội Người mù Việt Nam khi có nguồn kinh phí, Hội có chủ trương sản xuất ra
Trang 37sách chữ nổi Braille để gửi miễn phí về các địa phương tuy nhiên số lượng rất hạn chế
Hội người mù Việt Nam hiện nay mới chỉ có một tờ báo phục
vụ người khiếm thị là tờ “Tin tức hoạt động” ra đời bằng chữ nổi Braille và chữ Việt để thông tin tuyên truyền tới hội viên biết chữ braille và bạn đọc sáng mắt Năm 1973 thì tờ “Tin tức hoạt động” đổi thành “Bản tin” và đến
tháng 7 năm 1975 đổi tên thành tạp chí Đời Mới xuất bản bằng chữ Braille
Các tổ chức và cá nhân từ thiện cũng có những chương trình và
dự án phục vụ người khiếm thị, tuy nhiên thời gian hoạt động không được thường xuyên
Một tỉ lệ rất nhỏ tài liệu trên toàn thế giới (khoảng 2%-5%) được chuyển sang các dạng khác nhau cho người khiếm thị Ở Việt Nam, tỉ
lệ này là không đáng kể Do giá thành của việc chuyển dạng tài liệu thông thường sang chữ nổi Braille rất tốn kém, cần phải có trang thiết bị chuyên dụng đồng thời cũng cần cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao
Sách chữ lớn, chữ đại chưa được các nhà xuất bản ở nước ta quan tâm, trong khi đó máy trợ thị lại rất đắt, cá nhân người khiếm thị không thể tự trang bị được
Sách nói là băng cassetes dễ sản xuất nhưng để tìm các đoạn cần nghe thì lại rất khó khăn
Máy tính và các ứng dụng của nó tương đối phức tạp Cần một mức độ tập huấn nhất định mới có thể sử dụng được Hiện nay, hầu hết các Website đều thiết kế cho người sáng mắt
Trang 38Như vậy có thể thấy trước năm 2000, có rất ít các dịch vụ thư viện cho người khiếm thị Điều này có thể giải thích do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến sự hạn chế trong nhận thức của cán bộ và nhân viên thư viện cũng như thiếu kinh phí, cơ sở trang thiết bị cần thiết nhằm phục
vụ người khiếm thị
Sau năm 2000, tình hình này được cải thiện khi Thư viện Hà Nội được sự chỉ đạo, hỗ trợ của Bộ Văn hóa Thể thao và chính quyền địa phương đã thành lập phòng đọc cho người khiếm thị Hiện nay, Thư viện
Hà Nội đã tiến hành tạo lập, xây dựng và làm phong phú vốn tài liệu cũng như các sản phẩm và dịch vụ thông tin để đáp ứng nhu cầu tin cho bạn đọc khiếm thị
Như vậy, có thể nhận thấy các điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị, vốn tài liệu cũng như cán bộ thư viện để phục vụ người khiếm tại Thư viện
Hà Nội là tương đối tốt Thư viện có đủ điều kiện để tiến hành các hoạt động thông tin thư viện phục vụ người khiếm thị một cách hiệu quả nhất
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƯ VIỆN PHỤC VỤ BẠN ĐỌC KHIẾM THỊ TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI
2.1 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu dành cho bạn đọc khiếm thị tại Thư viện Hà Nội
Bất kỳ một cơ quan thông tin, thư viện nào muốn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, muốn đạt được hiệu quả phục vụ tốt nhất, điều quan tâm trước tiên là phải xây dựng và phát triển cho được một vốn tài liệu đủ lớn về số lượng với chất lượng tốt, phong phú về chủng loại, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của bạn đọc Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển vốn tài liệu, ngay từ những ngày đầu thành lập, Thư viện
Hà Nội đã cố gắng xây dựng một chế độ bổ sung tài liệu phù hợp dựa trên thành phần và nhu cầu bạn đọc
*Quá trình bổ sung
Để có thể bổ sung tài liệu, bước đầu tiên là phải xây dựng được một chính sách bổ sung hợp lý Sau khi đã có một chính sách bổ sung hợp lý, cán bộ thư viện sẽ tiến hành tìm và lựa chọn tài liệu Sau đó lập danh mục tài liệu bổ sung rồi trình gửi thủ trưởng cơ quan kí duyệt, nếu được đồng ý, cán bộ thư viện sẽ lựa chọn phương thức bổ sung và cuối cùng là nhận tài liệu
Tại Thư viện Hà Nội, cán bộ thư viện đã tiến hành điều tra khảo sát tại các cơ sở Hội người mù để giúp xác định rõ đặc điểm về trình độ, nhu cầu tin của họ và qua đó có thể đề ra được phương hướng ưu tiên trong
Trang 40chính sách bổ sung tài liệu Việc lựa chọn đúng tài liệu cần bổ sung là một việc làm không dễ, đặc biệt là các dạng tài liệu mang tính chất đặc thù như tài liệu dành cho bạn đọc khiếm thị Đối với việc lựa chọn bổ sung các tài liệu dành cho người sáng mắt cán bộ thư viện chỉ cần tìm các nhà xuất bản, các cơ quan phát hành để tìm kiếm, lựa chọn, thỏa thuận mua sách Sau đó lập danh mục tài liệu bổ sung gửi thủ trưởng cơ quan thư viện mình, chọn phương thức bổ sung và nhận tài liệu Nhưng đối với việc bổ sung tài liệu cho bạn đọc khiếm thị thì không hề dễ dàng như vậy, ngay từ việc tìm tài liệu đã gặp khó khăn vì hiện nay chưa có nhà xuất bản chính thống nào xuất bản và in ấn sách chữ nổi Braille cho người khiếm thị Chủ yếu là do các cơ
sở Hội người mù có nhu cầu tự sản xuất Do đó qui trình bổ sung tài liệu dành cho bạn đọc khiếm thị có thể khái quát như sau:
- Tìm hiểu nhu cầu tin của người khiếm thị thông qua việc điều tra
số liệu, phỏng vấn bạn đọc tại thư viện và trực tiếp tới các cơ sở Hội người
mù để khảo sát
- Lập kế hoạch bổ sung
- Chọn tài liệu phù hợp với nhu cầu tin của bạn đọc khiếm thị
- Lập danh mục tài liệu bổ sung
- Đặt hàng cho các cơ sở sản xuất
- Chuyển sách về thư viện
*Nguồn bổ sung
Các nguồn bổ sung tài liệu cho người sáng mắt rất đa dạng và phong phú như: mua, nguồn lưu chiểu, trao đổi, tặng biếu, sưu tầm, sao chụp