LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “HOA BAN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI VÙNG TÂY BẮC”, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới T.S Phạm Thị Thu Hươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC -
NGÔ THỊ MAI HƯƠNG
HOA BAN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN
TỘC THÁI VÙNG TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.PHẠM THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG TÂY BẮC 8
1.1 Định vị vùng văn hóa Tây Bắc 8
1.1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 8
1.1.2 Đặc trưng văn hóa vùng Tây Bắc 13
1.2 Đặc trưng văn hóa thái - chủ thể văn hóa của vùng Tây Bắc 15
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Thái 15
1.2.2 Một số đặc trưng văn hóa Thái 19
Chương 2: HOA BAN - BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA VÙNG TÂY BẮC 42
2.1 Đặc điểm và vai trò của cây ban 42
2.2 Hoa ban trong một số lễ hội vùng Tây Bắc 45
2.2.1 Lễ hội hoa ban của người Thái 45
2.2.2 Một số lễ hội khác vào mùa hoa ban 47
2.3 Hoa ban trong văn hóa ẩm thực vùng Tây Bắc 49
2.3.1 Nét độc đáo của hoa ban trong các món ăn đặc trưng 49
2.3.2 Cách chế biến một số món ăn cơ bản từ hoa ban 52
2.4 Hoa ban trong văn học - nghệ thuật 56
2.4.1 Hoa ban trong truyện cổ tích dân gian của người Thái 56
2.4.2 Hình ảnh hoa ban trong thơ ca dân gian Thái 70
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC BẢO TỒN, KHÔI PHỤC BIỂU TƯỢNG HOA BAN VÙNG TÂY BẮC 75
3.1 Thực trạng rừng ban Tây Bắc 75
3.2 ý thức của người dân trong việc bảo tồn cây ban và biểu tượng hoa ban 77 3.3 Một số ý kiến đề xuất để bảo tồn, khôi phục biểu tượng hoa ban 79
Trang 33.3.1 Vai trò của Nhà nước và các cấp chính quyền trong công tác bảo
tồn hoa ban 79
3.3.2 Phát huy vai trò của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 96
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “HOA BAN TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI VÙNG TÂY BẮC”, em xin chân
thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới T.S Phạm Thị Thu Hương, giảng viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã hướng dẫn và định hướng tận tình cho em những
cơ sở khoa học và hướng phát triển của đề tài nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện và góp ý cho em trong quá trình làm đề tài này nhằm giúp em có những suy nghĩ và những lưu ý trong khi tiến hành khảo sát thực tế để có cơ sở thực tiễn cho đề tài
Em xin cảm ơn thầy giáo Nguyễn Tiến Đông, giáo viên trường THPT Vân Nội đã cho em những góp ý để làm khóa luận
Mặc dù đã cố gắng nhưng đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót
Em mong quí thầy cô và các bạn có thể góp ý cho em để đề tài được hoàn thiện hơn
Người viết
Ngô Thị Mai Hương
Trang 5kể và tượng trưng cho những vẻ đẹp lý tưởng trong tâm hồn, tính cách conngười Vẻ đẹp tinh khiết của hoa ban cùng những ý nghĩa tiềm ẩn đã hấp dẫn, lôi cuốn con người ta tìm tòi và khám phá vẻ đẹp kì diệu ấy
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, những cánh rừng hoa ban ngút ngàn xưa kia giờ đây đã dần mất đi, những phong tục, tập quán về hoa ban cũng dần mai một Xót xa trước thực trạng này, thấm thía những giá trị của hoa ban trong đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc vùng Tây Bắc, với lòng
yêu mến hoa ban, nên tôi đã chọn đề tài: “Hoa ban trong đời sống văn hóa
người Thái vùng Tây Bắc ” để tìm hiểu và sưu tầm, nguyên cứu và hi vọng
khơi dậy lòng tự hào của bà con dân tộc vùng Tây Bắc về hoa ban, từ đó góp phần nhỏ bé vào việc bảo vệ những cánh rừng ban, bảo tồn và lưu truyền những giá trị văn hóa từ hoa ban - loài hoa diệu kì mà thiên nhiên đã ban tặng cho núi rừng Tây Bắc Tôi hi vọng trong một thời gian không xa, cùng với
Trang 6lễ hội, trong ẩm thực và trong văn học- nghệ thuật…Đồng thời, khẳng định vai trò của hoa ban đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa vùng hiện nay trước thực trạng những giá trị văn hóa dân tộc đang dần bị mai một
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu ý nghĩa của hoa ban trong đời sống các dân tộc vùng Tây Bắc, đặc biệt là trong đời sống văn hóa dân tộc Thái- chủ thể văn hóa vùng Tây Bắc để khẳng định tầm quan trọng của việc gìn giữ những đặc thù văn hóa vùng miền; từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn, khôi phục biểu tượng hoa ban trong đời sống văn hóa của người dân vùng Tây Bắc nói riêng, trong kho tàng văn hóa Việt Nam nói chung
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Hoa ban - loài hoa mang nhiều nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh,sinh hoạt và lao động của các dân tộc vùng Tây Bắc, đặc biệt trong đời sống người Thái, vốn là chủ thể văn hóa vùng Tây Bắc
Trang 7- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khai thác giá trị và biểu hiện của hoa ban trong đời sống dân tộc vùng Tây Bắc, trong đó chủ yếu tập trung vào văn hóa Thái
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết mục đích nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp, đánh giá, so sánh, phân tích
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học
6 BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài Mở đầu (3 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo, phụ lục (10 trang), nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát đặc trưng văn hóa vùng Tây Bắc
Chương 2: Hoa ban- Biểu tượng văn hóa vùng Tây Bắc
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất trong việc bảo tồn , khôi phục biểu tượng hoa ban
Trang 8Chương 1 KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VÙNG TÂY BẮC
1.1 ĐỊNH VỊ VÙNG VĂN HÓA TÂY BẮC
1.1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lí và địa hình
Vùng Tây Bắc là vùng núi phía Tây Bắc nước ta có đường biên giới chung với Trung Quốc và Lào Đây là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng)
Vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,64 triệu ha, bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và Hòa Bình Phía Tây của vùng này giáp với một số tỉnh của nước Lào; phía bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía đông có thế lấy sông Hồng làm ranh giới phân chia với vùng Đông Bắc Đây là vùng núi non hiểm trở, một địa bàn chiến lược trọng yếu về kinh tế và quốc phòng của Việt Nam
Cả vùng có 3 hệ thống sông chính, đó là hệ thống sông Hồng, sông Đà
và sông Mã Trục sông Đà cũng là trục quốc lộ 6 xuyên qua ba tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, là con đường thủy – bộ thông thương chính của cả vùng Tây Bắc Sông Đà (Nậm Tè) chảy từ Vân Nam vào Mường Tè từ độ cao gần 1000m rồi trườn qua cao nguyên đá vôi và đá phiến Ngược lại, quốc lộ 6 xuất phát từ thị xã Hà Đông vùng châu thổ Bắc bộ lại men theo các dãy núi cao lưu vực sông Đà, vượt lên đến tận Điện Biên- Mường Lay, với các con dốc: dốc Cun, Mộc Châu, Pha Đin… Trục thủy bộ từ lâu đã hình thành các thị trấn, thị
xã, tạo nên trục dân cư: Hòa Bình, Mộc Châu, Yên Châu, Mường La Thuận Châu, Tuần Giáo, Mường Thanh…
Trang 9Trục sông Thao (sông Hồng- Nậm Tao) vốn là con đường thông thương nội địa vừa thông thương quốc tế với vùng Vân Nam (Trung Quốc) Trục giao thông này cũng tạo nên một số đô thị lớn nhỏ, ít nhiều ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng như: Yên Bái Lào Cai, Cam Đường, Bảo Thắng… Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m Dãy núi Sông
Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh
Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm.
Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn
và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng
lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay Trong quá trình tạo núi, còn có
sự xâm nhập của macma Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét
Trang 10Do sự phân hóa về địa hình, đặc biệt là hệ thống núi trùng điệp và sông ngoài dày đặc cùng với sự phân bố của các tộc người từ xa xưa đã hình thành nên ba dạng sinh thái tộc người điển hình Đó là: dạng sinh thái người thung
lũng, dạng sinh thái người rẻo cao, dạng sinh thái người rẻo giữa
1.1.1.2 Khí hậu và cảnh quan thiên nhiên Tây Bắc
Tây Bắc là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với cảnh quan thiên nhiên mang vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng Tây Bắc cảnh núi non vừa hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất hữu tình Nằm ở vùng núi cao trên 1000m so với mực nước biển, Tây Bắc có nền khí hậu á nhiệt đới núi thấp xen kẽ ôn đới, quanh năm mát mẻ, xứ sở sương mù Tây Bắc đẹp và nên thơ với các địa danh du lịch như Sa Pa, Mộc Châu, Sơn La… Sông suối Tây Bắc dày đặc nhưng phân bố không đều, có nơi thì sẵn nước nhưng có nơi cực kì khan hiếm, do đó dân cư cũng phân bố không đồng đều theo nguồn nước Vùng lòng chảo rộng lớn mật độ dân cư khoảng 40-50 người/km2 nhưng ngược lại vùng cao nguyên thì chỉ khoảng 20người/km2 Vùng cư trú của đồng bào còn là nơi tiếp cận với rừng rậm nhiệt đới và á nhiệt đới Sự giàu có về tài nguyên rừng đã cung cấp cho nhu cầu trong cuộc sống của người dân Tây Bắc Rừng Tây Bắc hình thành từ rất lâu nên thẳm động-thực vật rất phong phú Đây là vùng rừng núi có quan hệ gần gũi với hệ thực vật lớn trên thế giới như hệ Vân Nam- Hymalaya, hệ Nam Trung Hoa, hệ Ấn Độ- Mã Lai Về chủng loại có đến 100 họ, 500 loại gỗ lớn, 30 loại tre nứa……Cây rừng có đủ loại ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới
Từ xưa, bản mường của bà con đã dựng lên bằng những nguyên liệu lấy
từ rừng Gỗ, tre từ hàng ngàn năm đã giúp họ dựng lên những ngôi nhà sàn vững chắc Có thể nói, gỗ, tre giúp họ giải quyết đầy đủ các nhu cầu từ việc dựng căn nhà ở cho đến các vật dụng sinh hoạt, đồ trang sức…Từ những vật
Trang 11dụng đan nát để đựng rau cỏ, thức ăn, vải vóc đều được đan bằng nan tre nứa Trong khuân khổ của một nền kinh tế tự nhiên, công cụ lao động của họ phải lấy từ gỗ, tre ở rừng về để chế tác: cán thuổng, bắp cày, cái bừa, gậy chọc lỗ….Cùng với sông suối, rừng là nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày cho người dân, nuôi sống con người từ khi lọt lòng đến lúc về già Có thể nói rừng
có vai trò vô cùng quan trọng, là đối tương săn bắt, hái lượm và nương rẫy của các dân tộc nơi đây
Từ những đặc điểm địa hình đồi núi hiểm trở, đồng bào phải cư trú trên các vùng khí hậu rất phức tạp Khí hậu vùng Tây Bắc chia thành 2 mùa rõ rệt:
Mùa nóng, mùa mưa ở Tây Bắc bắt đầu từ tháng 5, 6 đến tháng 10 Đặc điểm nổi bật mùa này là thời tiết oi bức, mưa to kéo dài và độ ẩm cao Khi thời tiết chuyển dần vào mùa nóng, người ta có thể cảm nhận sự oi ả và sau đó bắt đầu có sấm sét, mưa lớn từng cơn, thỉnh thoảng lại có những cơn dông mãnh liệt Sau đó lượng mưa tăng dần và chuyển hẳn sang mùa mưa thực sự Mưa của Tây Bắc là mưa của núi rừng, kéo dài đến hàng tuần và có vùng đến hàng tháng Người Thái gọi loại mưa này là “mưa nước chảy trên máng” Nước chảy trên máng không ngớt thì mưa không ngớt hạt, xen vào đó là những trận mưa xối xả gây ra hiện tượng xói mòn ghê gớm (khu vực thượng nguồn sông Đà và Hoàng Liên Sơn) Nhiều vùng còn có mưa đá, đỉnh cao của mùa mưa vào tháng 6, 7 và 8
Mùa rét, hanh khô ở Tây Bắc bắt đầu từ tháng 10, 11 đến tháng 4, 5, đặc điểm thời tiết lạnh sau chuyển sang hanh khô, mưa ít Từ tháng 11 trở đi trời bắt đầu trở lạnh, về mùa này nhiệt độ khoảng 5-7oC, có nhiều nơi ban đêm xuống 0 hoặc dưới 0oC Vì đọ ẩm ở thung lũng lớn và suối bốc hơi mạnh bởi vậy thường gây ra hiện tượng sương mù dày đặc Những tháng rét, gió mùa đông bắc tràn về mạnh, có tháng đến 3-4 đợt, nhiệt độ tụt xuống đột ngột
Trang 12và độ ẩm nhất trong ngày thường giảm xuống dưới 50% Gió tây thổi từ tây qua đông dãy Trường Sơn gây ra gió khô nóng chủ yếu ở khu vực miền Trung nước ta, thường xảy ra vào tháng 4, 5 và 6 hàng năm, thành từng đợt, kéo dài trong nhiều ngày Thời tiết trong những ngày này rất khô, độ ẩm có khi xuống 30%, và nóng, nhiệt độ có khi lên tới 43oC, bầu trời không một gợn mây, trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột ngạt, Ở các thung lũng khuất gió mùa khô kéo dài, lượng mưa năm giảm Mùa khô thường từ 4-5 tháng Lượng mưa thường dưới 1.500 mm, có nơi chỉ đạt 1.100mm
Cảnh quan thiên nhiên vùng Tây Bắc rất đa dạng, phân hóa theo độ cao Vùng núi cao phía bắc giáp dãy Hoàng Liên Sơn có cảnh quan của vùng ôn đới do địa hình cao, ít ảnh hưởng gió mùa, còn vùng núi thấp ở phía nam mang cảnh đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa Thành phần động thực vật phong phú và đa dạng, rừng nhiệt đới gió mùa chiếm ưu thế, trong rừng có những loài cây cận nhiệt và ôn đới (đào, lê, mận,…) và các loài thú lông dày (gấu, chồn,…) Giá trị lớn nhất của cảnh quan thiên nhiên vùng Tây Bắc đó là khai thác du lịch, đưa vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng đến với khách du lịch Chính những đặc trưng của cảnh quan nơi đây đã tạo nên diện mạo, sắc thái văn hóa riêng cho vùng Tây Bắc Đến với cao nguyên Mộc Châu với vẻ đẹp lung linh của những đồng cỏ, đồi chè ngút ngàn, tận hưởng luồng không khí mát lành Bởi vậy mà nhiều người ví cao nguyên Mộc Châu như “Đà Lạt của miền Tây Bắc” Rời Mộc Châu lên thị trấn vùng cao Sa Pa- nơi ẩn chứa nhiều điều kì
Trang 13diệu của tự nhiên, phong cảnh thiên nhiên với địa hình đồi núi, màu xanh của rừng cây tạo nên bức tranh có bố cục hài hòa, có cảnh sắc thơ mộng và hấp dẫn từ cảnh quan phía đất trời rừng núi Tây Bắc Sa Pa có khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới Thời tiết ở thị trấn một ngày có đủ bốn mùa, khí hậu quanh năm mát mẻ Sa Pa là một trong những nơi hiếm hoi có tuyết rơi, bởi vậy tạo nên sắc thái riêng cho Sa Pa và vùng Tây Bắc Sa Pa có những cảnh đẹp tự nhiên như thác Bạc (khoảng 200m), cầu Mây, Cổng Trời làđiểm cao nhất mà đứng đó có thể ngắm nhìn đỉnh Phanxipăng, bãi đã cổ Sa Pa nằm trong thung lũng Mường Hoa
Trải qua thời gian, vùng núi cao Tây Bắc đã hình thành hệ thống ruộng bậc thang với những vẻ đẹp đa dạng, độc đáo được nhiều du khách biết đến như ruộng bậc thang ở Tả Van, Lao Chải, Tà Phìn, Mường Khương, Bắc Hà,
Si Ma Cai (Lào Cai)… rồi đến ruộng bậc thang quanh co trải dài quanh dốc núi ở Lai Châu, Điện Biên…
Tây Bắc đẹp không chỉ bởi những cánh đồng xanh ngút ngàn, những làng bản xa xăm ẩn hiện trong sương khói, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những ruộng bậc thang, những con đường uốn lượn qua dốc, qua đèo mà lên Tây Bắc còn thưởng ngoạn cảnh sắc vời của những cánh rừng hoa đào, hoa mận, hoa mơ,… mỗi độ tết đến xuân về Tây Bắc vào mùa xuân với ngàn thứ hoa rừng, trong đó có một loài hoa – hoa ban Đây là loài ban mang đặc trưng riêng của đất trời Tây Bắc, mang bản sắc văn hóa đặc thù của vùng núi cao Hoa ban đã
đi vào tiềm thức của các tộc người nơi đây, nó không chỉ tô sắc cho cảnh quan rừng núi Tây Bắc mà còn mang trong mình nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu
1.1.2 Đặc trưng văn hóa vùng Tây Bắc
Núi rừng Tây Bắc từ ngàn xưa là môi trường sinh sống của nhiều tộc người Từ lâu những lưu vực các con sông lớn Tây Bắc đã trở thành đề tài của nhiều truyền thuyết về đường di cư và là vùng cư trú của nhiều tộc người
Trang 14Người La Hủ và Hà Nhì cho rằng tổ tiên của họ đã di chuyển từ miền Bắc theo dọc sông Nậm Na và sông Đà vào miền Tây Bắc Người Thái cũng kể rằng họ đã theo sông Hồngtới những thung lũng, lòng chảo Tây Bắc để làm ruộng Người La Ha, người Kháng từ lâu đời đã rất thành thạo việc chế tác những chiếc thuyền độc mộc để di chuyển trên sông Đà Người Mường cũng ngược sông Đà để đi vào Quang Huy, Nghĩa Lộ,…Bởi vậy miền Tây Bắc là một khu vực cư trú của nhiều tộc người Cũng từ những cuộc thiên di mang theo luồng văn hóa mới và sự cộng cư xen kẽ, ảnh hưởng lẫn nhau đã tạo ra những yếu tố văn hóa chung như: vai trò của kinh tế hái lượm, trồng lúa, nuôi trâu, ở nhà sàn, nhiều mô típ thần thoại chung như “quả bầu mẹ” Tuy nhiên từng tộc người vẫn bảo tồn được những nét riêng biệt
Có thể nói Tây Bắc là một vùng văn hóa đặc sắc Nói đến văn hóa Tây Bắc không thể không nói đến mái nhà sàn hình khum mu rùa với đôi “khau cút” độc đáo, thấp thoáng đâu đó chiếc khăn piêu sặc sỡ mà duyên dáng cùng với những hàng cúc bướm rập rờn, đôi xà tích lấp lánh
Vùng văn hóa Tây Bắc là vùng văn hóa ẩm thực độc đáo với món cá nướng “pa pỉnh ộp”, món xôi nếp thơm dẻo, cùng với các thức chấm “chẩm chéo”, “nậm pịa”, nồi thắng cố sôi sùng sục cùng thứ rượu “lau sậu” Điện Biên, rượu ngô Bắc Hà…Vùng văn hóa Tây Bắc là văn hóa của các làn điệu diễn xướng “ khắp” (Thái), “ đang” (Mường), “khèn” (H.Mông) và các điệu xòe vòng, xòe nón, xòe chai, múa sạp của người Thái, “tăng bu” của người Khơ Mú, lễ hội “ka sai síp” của đồng bào Xinh Mun, “khô già già” của người Hà Nhì…
Trong những nét văn hóa đặc sắc ấy, Tây Bắc còn được biết đến với vẻ đệp ngút ngàn của núi rừng, một vẻ đep hoang sơ, kì vĩ lạ lùng Ai đã một lần qua Tây Bắc đều ngây ngất với men say của rượu nồng, say đắm với những
Trang 15điệu xòe uyển chuyển, chìm ngập trong những cánh rừng đào phai, những
rừng ban trắng muốt mỗi dịp xuân sang
1.2 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA THÁI - CHỦ THỂ VĂN HÓA CỦA VÙNG TÂY BẮC
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Thái
Ở vùng phía nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam, từ đời nhà Đường hay có thể từ đời Tần Hán là nơi cư trú của tổ tiên người Thái sống xen kẽ với các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn- Khơme
và Tạng – Miến Điều này có thể được chứng minh rõ ràng thêm qua nhiều tài liệu lịch sử chép tay, nhiều truyền thuyết còn lưu lại trong dân cư Thái ở Tây Bắc (Việt Nam), ở Xíp Xoong Păn Na (Trung Quốc), ở Lào, Miến Điện và Thái Lan Các truyền thuyết đều thống nhất rằng quê hương xưa nhất của người Thái, người Lào và người Lự ở miền “chín con sông gặp nhau”, tức là nơi các con sông Hồng (Nặm Tao), Mã (Nặm Má), Mê Kông (Nặm Khoong), Nặm U, Nặm Na, sông Đà (Nặm Te), sông Nặm Tốn chảy vào Nặm Núa, sông Gâm (nặm Xang) và sông Lô (nặm Lo)
Theo những truyền thuyết ghi chép lại, tổ tiên người Thái xưa ở các Mường (các khu vực) như: Mường Ôm, Mường Ai, Mường Lò, Mường Bo
Te, Mường Hông, Mường Ốc, Mường Ác, Mường Tun Hoàng Các tên đất này xưa thuộc 16 châu Thái từ năm 1884 đến nay đã thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Riêng Mường Then hay (Mường Theng) được đặc biệt chú ý
Có thể thấy xưa kia người Mường Theng không chỉ đóng khung trong cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên Phủ) ngày nay) mà là một khu vực rộng lớn, bao gồm cả Mường Tè, Mường Bum, Sông Mã ở Tây Bắc - Việt Nam và tỉnh Phông Xa Lỳ (Lào) Mường Thanh có nghĩa là Mường Trời Hầu hết các nhóm Thái ở Lào, Thái Lan đều nhận Mường Theng là đất tổ của họ Ở đây
có rất nhiều tên đất gắn liền với truyền thuyết liên quan đến sinh hoạt cổ xưa
Trang 16di lớn từ thế kỉ IX- thế kỉ XI Theo “Quám tố mương” (Chuyện kể bản mường), ngành Thái Đen từ miền giữa Nặm U và sông Hồng do Tạo Ngần và Tạo Xuông dẫn dọc theo sông Hồng xuống chiếm vùng Nghĩa Lộ, Yên Bái Hai đời sau, Lạng Chượng dẫn dắt bộ tộc mình chiếm các vùng Sơn La, Điện Biên và Lai Châu Cuộc thiên di này dài hàng trăm năm do gặp phải sức kháng cự của những bộ tộc địa phương, nhất là bộ tộc Xá Khao
Sau khi chiếm Tây Bắc, một phần người Thái Đen tràn xuống lưu vực sông Mã qua Lào vào Thanh – Nghệ Các nhóm hàng Tổng, Mãn Thanh hay Tày Thanh Tày, Muổi, Tây Khăng, Tây Mương Đen đều là gốc Thái Đen Sau các nhóm này chịu ảnh hưởng qua lại về mặt nhân chủng, văn hóa với các dân tộc sống bên cạnh Vì vậy, họ có nét khác biệt với người anh em của họ ở Tây Bắc[4]
Cũng có ý kiến cho rằng, ngành Thái Trắng và bộ phận Thái Đen ở Mường Thanh có nguồn gốc bản địa, tổ tiên là người Tày- Thái cổ Vào đầu thiên niên kỉ I sau công nguyên, tổ tiên người Tày-Thái cổ đã từng tham gia vào việc xây dựng quốc gia Âu Lạc của An Dương Vương, sau đó một bộ phận di cư sang phía Tây, tách khỏi bộ phận gốc, chính là người Tày hiện nay Còn bộ phận Thái Đen đầu tiên có mặt tại Mường Lò (Văn Chấn, Yên Bái) là
Trang 17con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần gốc từ Vân Nam (Trung Quốc) di cư sang Đến thế kỉ VII, thủ lĩnh Lạng Chượng, cháu của Tạo Xuông đưa quân từ Mường Lò tràn vào miền lưu vực sông Đà, sông Mã, đánh chiếm và làm chủ Mường Thanh [11]
Về tên gọi, người Thái tự gọi mình là Phủ Tay hay Cồn Tay đều có nghĩa là người Có 2 ngành là Tay Đăm(Thái Đen) và Tay Khao hay Tay Đon(Thái Trắng)
Ngành Thái Đen cư trú ở Mường Lò(Văn Chấn, Yên Bái), Mường Than(Lào Cai), Mường La, Mường Vạt (Sơn La), Mường Thanh (Điện Biên)…
Ngành Thái Trắng cư trú ở Mường La, Mường Chiến(Sơn La), Mường
Tè, Mường So(Lai Châu), Mường Tấc, Mường Xang(Sơn La)… Ngành Thái Mộc Châu từ Lào sang Việt Nam vào cuối thế kỉ XIV Theo toàn thư và Cương mục, dưới triều Hiến Tông năm thứ 9 (1337) nhà vua sai Hưng Biểu Vương đánh người Thái ở Trinh Kì, chém được tù trưởng là Xa Phần Nhưng
rõ ràng họ Xa là tổ tiên dòng họ quý tộc ngành Thái Trắng (Mộc Châu) Thời gian ghi chép trong chính sử phù hợp với thời gian sử Thái cho biết về hoạt động của các tù trưởng Thái ở Mộc Châu Trước thời Lò Lẹt (thế kì XIV), sử Thái Sơn La không thấy nói đến lãnh địa Mộc Châu, mà chỉ nói ở đó người Thái còn cư trú Đến thời Lò Lẹt , các sử chép tay của người Thái như Quam
tố mường, Tầy pú xấc đều chép Nho Cầm làm chúa Mường Xang tức vùng cao nguyên Mộc Châu Hành trình của người tù trưởng này tới Mộc Châu được ghi trong cuốn “Piết mướng” hiện lưu hành rộng rãi ở Tây Bắc Pha nha Nhọt Chòm Căm hay Nho Cầm là con chua Mường Ngần (khu vực Viên Chăn) vì đuổi người Xá chiếm lấu đất Số người Thái này sau phát triển sang
cư trú miền Đà Bắc (Hào Bình) và Thượng Thanh Hóa; một ít sang Yên Châu
và Phù Yên (Sơn La)
Trang 18Ngành Thái Trắng ở Lai Châu cũng như ở miền Nam Trung Quốc tràn
về Thực ra Táy Khao (tức Thái Trắng) hay Táy Đón là tên gọi nhiều nhóm dân tộc hiện ở vùng Mường Lay, Mường So (Phong Thổ), Mường Tè, Quỳnh Nhai (Sơn La), nhóm Thái Trắng ở Phú Yên (Nghĩa Lộ), nhóm Tày vùng Văn Chấn (Nghĩa Lộ), Văn Bàn, Trấn Yên (Yên Bái) và có thể cả một bộ phận Tày ở vùng Hà Giang, Lào Cai và Yên Bái nữa Khu vực Thái Trắng là con đường qua lại của nhiều dân tộc, nhiều luồng văn hóa khác nhau về mặt nhân chủng và văn hóa Vì vậy, tuy cùng tên gọi, các nhóm đó không có những đặc điểm thuần nhất như ngành Thái Đen
Vào đầu thiên niên kỉ thứ II, ngành Lự ở Mường Thanh và Thái Trắng
ở nam Trung Quốc chiếm ưu thế ở miền Lai Châu Vào thế kỉ thứ XI-XII, mặc dầu ngành Thái Đen tạm thời chiếm ưu thế ở Mường Thanh, nhưng ngành Thái Trắng vẫn là nhóm người có thế lực ở đâu Họ vẫn làm chủ một phần Điện Biên và các miền trên như Mường Bum – Mường Tè, miền Phong
Xa Lỳ (Lào), miền Xíp Xoong Pắn Na và miền lưu vực sông Đà ở Vân Nam Nay chưa rõ cụ thể một bộ phận Thái Trắng đánh đuổi người Hà Nhì chiếm lấy Mường Lay lúc nào, chỉ biết thế kỉ XIII, tức vào đời chau năm hay sáu đời của Lạng Chượng, người Thái Trắng đã làm chủ Mường Lay và đến đầu thế
kỉ XV, với các chúa Pét Lạn và Cưới Cắm (tức Đèo Cát Hãn) chính quyền Thái Trắng ở đây đã rất mạnh, họ dần phát triển thế lực ra các vùng xung quanh như Quỳnh Nhai (Sơn La), Mường Xo, Mường Tè (Lai Châu) Thậm Chí có lúc họ còng xuống cả Mường Lò, Mường Tấc (Yên Bái)
Bộ phận Tay Khao ở Nghĩa Lộ, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang lâu dần đã hoài hợp với người Tày, cũng như bộ phận người Thái ở huyện Long Trân tỉnh Quảng Tây đã hòa hợp với Choang Khi nghiên cứu, ta còn thấy ở bộ phận này trong phong tục tập quán còn lưu lại một số yếu tố Thái Ngôn ngữ
Trang 19Phải đợi đến thiên niên kỷ thứ II sau công nguyên, tổ tiên ngành Thái Đen, Thái Trắng và Thái Mộc Châu mới thiên di mạnh mẽ vào Việt Nam
Ngày nay, địa bàn cư trú của người Thái trải suốt từ miền Tây Bắc qua Hòa Bình đến tận miền Tây 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Dân tộc Thái là một dân tộc lớn nhất trong nhóm ngôn ngữ Tày-Thái thuộc hệ Thái-Kađai
1.2.2 Một số đặc trưng văn hóa Thái
1.2.2.1 Văn hóa vật chất
* Phương tiện vận chuyển
Cũng như các dân tộc khác, trong 54 dân tộc anh em, người Thái cũng
sử dụng cá phương tiện vận chuyển cổ xưa: gùi, ngựa thồ, song phổ biến nhất
là gánh, còn gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán là các hình thức vận chuyển thông dụng trên bộ Còn ở dọc các con sông lớn, họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én
*Ẩm thực
Mỗi dân tộc đều có một truyền thống văn hoá ẩm thực riêng, có bí quyết riêng để chế biến các món ăn ngon miệng vào những ngày lễ tết, cưới
Trang 20Xôi nếp (khẩu óm) là món ăn truyền thống của dân tộc Thái Người Thái có phương pháp xôi cách thuỷ bằng chõ gỗ rất kỹ thuật Xôi được đồ từ
gạo ngâm qua đêm trong những chiếc chõ gỗ Nồi để đồ xôi là cái ninh (mỏ
nưng) cao, bằng đồng Xôi đồ chin được dỡ ra mâm bao giờ cũng phải quạt
cho nguội rồi mới cho lại vào chõ hay các giỏ xôi (ép khảu) để ăn hàng ngày
Xôi là khẩu phần lương thực thông dụng, và từ xôi người ta làm thành nhiều thứ có giá trị như là quà bánh cho trẻ con, người già ăn lót dạ hay ăn cho ngon miệng Các món ăn này bao hàm trong đó có có sự quan tâm , tình cảm quý mến mà người ta dành cho người già và con trẻ, Có 3 loại quà như vậy: xôi nướng, xôi cặp, xôi vừng
Ngoài ra, cơm lam (khẩu lam) cũng được người Thái sử dụng phổ biến trong những lần đi rừng, làm rẫy và các dịp lễ tết
Cơm lam là loại cơm chín trong loại ống đặc biệt thuộc họ tre.Gạo để làm cơm phải là gạo nếp thơm và dẻo Người ta chọn 1 loại ống bánh tẻ mà thành ruột của nó có mùi thơm như hương cơm nếp để làm ống lam Gạo được ngâm trước rồi cho vào ống với 1 lượng nước vừa phải, sau đó đặt nghiêng trên ngọn lửa xoay đều cho ống không bị cháy Nước sôi và cạn thì dập lửa, nướng ống cơm trên than hồng Cơm chín lấy ra để nguội, cạo bóc lớp vỏ, ăn rất dẻo thơm mà không ngán
Trang 21Món cơm lam này thường được làm cho sản phụ, nó cũng có giá trị như quà bánh cho người già,trẻ con ,cho khách quý hay người thân đi xa nhà cần
có lương thực mang theo vài ba ngày
Với đặc trưng 1 nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc điển hình “cơm cày ruộng, cá kiếm ăn”, thực phẩm dùng trong bữa ăn của người Thái về mặt
so sánh giống với nhiều tộc người ở Đông Nam Á Đó là thói quen ăn các loài động vật thuỷ sản với 1 lượng khá nhiều rau trong bữa ăn
Sống trong môi trường thung lũng với hệ thống song suối dày đặc là nguồn cung cấp thuỷ sản phong phú cho con người, Người Thái có câu tục nhữ “ Lúa ở ruộng, cá ở nước” ( Khảu dú na, pa dú nặm) hay “ Miếng cơm trắng, khúc cá bạc” (Khảu đón, tón pa khao) để nói về món cá trong kết cấu của bữa ăn Ngay cả trong ngôn ngữ văn chương, để biểu thị mùa cá người ta vẫn dùng những “mùa lúa,mùa cá” để thể hiện chu kì 1 năm hay nhiều năm Cũng cần lưu ý rằng do làm ruộng nước mà người ta có thể đánh bắt cá ngay trong các thửa ruộng, các cánh đồng của mình.Đấy là chưa nói ở nhiều vùng người Thái có nghề nuôi cá ruộng, 1 nguồn lợi lớn làm giàu thành phần đạm trong bữa ăn của họ
Trước hết là món cá sống, ăn gỏi ( tiếng Thái gọi là cỏi) Món này chỉ phổ biến đối với đàn ông Người ta ăn gỏi với các loại cá chép nhỏ cỡ gần bằng 2 ngón tay, cả con hoặc ăn gỏi loại cá chép to lọc lấy phần nạc nhất ở 2 bên lườn của nó Các món dùng cho ăn gỏi có nước chua, rau thơm, hành, ớt, hoa chuối thái nhỏ, các loại lá chát Ăn gỏi trở thành 1 thú ăn của đàn ông và người ta sánh gỏi cá ngang với thịt chó: “Thèm thịt thì ăn thịt chó, thèm cá thì
ăn gỏi cá” (Xép nhứa kin nhứa ma, Xép pa kin pa cỏi)
Cá chín cũng có nhiều cách chế biến, trong đó món ăn được ưa thích là món cá nướng (pa pỉnh).Người ta có thể nướng cá bằng cách hong trên than
Trang 22hay đặt trực tiếp trên than hồng, hoặc lùi cá trong chất bùn dẻo vào đống tro than đang cháy Cá cũng được dùng để nấu canh, kho như nhiều dân tộc khác Người Thái rất thích ăn cá chua Cá chua được làm từ cá con trộn với cơm lên men cho vào ống nứa để 1 số ngày, khi ăn đổ ra đun thành canh
Ở các vùng Thái (Thanh Hoá, Nghệ An) trước kia món cá chua (pa xỏm) là một thứ không thể thiếu được trong các đồ sính lễ của cả quý tộc và bình dân
Mắm là món ăn dự trữ,đồng thời cũng là món gia giảm Ở Sơn La đã nổi tiếng về các món mắm cá của người Mường Chiến, mắm “đòng đong”(mắm lý) của thị xã Sơn La Người ta có thể để các loại mắm này hàng năm Mắm để lâu thường ăn sống ngon hơn; mắm mới làm thường phải chưng lên trước khi ăn.Có thể ăn xôi chấm mắm cung các loại măng,rau ghém như: măng lay luộc, măng loi sống, quả non và búp của cây
vả, quả và lá cây sung…
Khi kiếm được nhiều cá người ta sấy khô để làm món ăn dần Ở Tây Bắc, cá sấy khô là 1 thứ đồ dẫn cưới, là lễ vật quý để thờ cúng tỏ tiên, biếu tặng bạn bè, người thân
Bên cạnh cá, thịt cũng là món ăn được coi là quan trọng Nguồn thức ăn thịt là do chăn nuôi gia đình cung cấp, cũng có thể do săn bắn, đặt bẫy mà có được từ tự nhiên
Trong các món ăn rất đặc trưng Thái còn phải kể đến món nặm pia Nặm pia là nhủ tương trong ruột non của các loài động vật ăn cỏ có vị vừa bùi,vừa đắng Món này có tác dụng kích thích dịch vị, dùng để chấm lạp, chấm thịt luộc rất hợp
Thịt nạc thái mỏng, để sống, ngâm vào nước măng chua cho tái rồi ăn thì gọi là xa, là món ăn của những người đàn ông Thịt băm nhỏ rồi nhúng tái
Trang 23hoặc rang chín dậy mùi thơm, đỏ vào nước chua có các gia vị đã chuẩn bị sẵn
để ăn thì gọi là lạp chin, thường dành cho phụ nữ và trẻ em
Món thứ hai cũng rất Thái là món chéo Thành phần không đổi của chéo
là muối và ớt giã cùng tỏi, rau thơm, mùi, lá hành….có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng…Có thể thêm các gia vị rồi giã nát để chấm thịt, cá, rau, măng Có nhiều loại chéo: Chéo ớt giã với muối gọi là chéo ượt cưa; nếu thêm tỏi để sống hoặc tỏi nướng gọi là chéo hua hom; thêm rau thơm, tỏi, cá nướng gọi là chéo pa Mỗi món chéo như vậy ăn với 1 loại thức ăn nhất định
Người Thái ưa thích ăn có các vị: Cay, chua, chát, đắng, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng…hay uống rượu cần, cất rượu
Ngoài ra tục ăn trầu, hút thuốc lào cũng được người Thái biết đến như là những tập quán quen thuộc của nhiều tộc người anh em Tuy vậy, ở Tây Bắc hiện nay tục ăn trầu hầu như đã gần mất hẳn, tục uống rượu cần cũng không phổ biến và điển hình như ở miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An Người Thái hút thuốc bằng điếu ống tre, nứa và châm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ Người Thái trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn
* Trang phục
Các nhóm người Thái như Thái đen, Thái trắng đều có nhiều điểm chung trong trang phục hằng ngày nhưng trong đó, vẫn nổi bật bản sắc riêng
để phân biệt
Một bộ trang phục truyền thống phụ nữ Thái gồm: áo ngắn (xửa cỏm),
áo dài (xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích
Xửa cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúc bướm) có thể may bằng nhiều loại vải với màu sắc khác nhau Chính hàng khuy bạc hay kim loại đã
Trang 24làm cho xửa cỏm thành chiếc áo đặc trưng của bộ nữ phục Thái Theo quan niệm dân gian Thái, hai hàng cúc bạc trên hai vạt áo xửa cỏm là tượng trưng cho sự kết hợp nam với nữ, tạo nên sự trường tồn của nòi giống “Xửa cóm”
có hàng cúc bướm giữa ngực chủ yếu phổ biến ở phụ nữ Thái vùng Tây Bắc Đay là loại áo xẻ ngực,dài tay,khi mặc áo ôm sát lấy thân người
“Mák pém” là những bộ cúc hình con bướm, ve sầu … đính ở 2 bên nẹp
áo giữa ngực.Với chất liệu kim loại,màu sáng nổi lên trên màu tối của chất liệu vải,hàng “mák pém” nổi bật giữa chiếc xửa cóm tạo nên 1 hiệu quả thẩm mỹ,một sự chu ý.Một áo ngắn trung bình có từu 11 – 13 bộ cúc bướm Số bộ cúc bướm nhất thiết phải là số lẻ
Nhìn lại toàn bộ xửa cóm nếu thoáng qua ta thấy rất giản dị,song nếu quan sát kĩ ta lại thấy không đơn giản Đó là sự gia công đúng mực về kỹ thuật
và nghệ thuật Điều đó làm choi xửa cỏm Thái nổi bật bởi sự hài hoà giữa cái che và cái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy
Phụ nữ Thái còn mặc hai loại áo dài là xửa chái và xửa luổng Xửa chái may bằng vải chàm đen, kiểu áo 5 thân, cài cúc phía bên tay trái, cổ đứng, gấu
áo phủ quá đầu gối Theo tục lệ, phụ nữ có chồng mới mặc xửa chải vào dịp cưới xin, hội hè Xửa luổng là áo khoác ngoài, may dài, rộng, chui đầu, có tay hoặc không có tay Phụ nữ Thái từ khi còn trẻ đã may loại áo này, một dành cho bản thân khi về già và một dành biếu mẹ chồng khi về làm dâu Các cụ già mặc áo xửa luổng lộn trái vào ngày thường, chỉ khi chết mới mặc mặt phải
Váy (xỉn) cùng với xửa cỏm tạo nên dáng nét chính của bộ nữ phục Thái Phụ nữ Thái mặc váy hai lớp: váy trắng lót bên trong và và váy chàm mặc ngoài Váy được tạo thành bởi 4 mảnh vải khổ 40cm,dài trên dưới 90
cm, khâu khép kín lại theo chiều dài, cạp váy được can từ miếng vải khác
từ thân váy
Trang 25Cạp váy thường được làm bằng vải màu trắng hoặc đỏ Khi nối vào thân váy, cạp váy có chiều cao khoảng 10cm Người Thái gọi cạp váy là “đầu váy” (hua xỉn) Tên gọi đó nói lên sự quy định khi sử dụng váy Đầu váy luôn ở phía trên để phân biệt với chân váy phía dưới Phía dưới chân váy được phụ
nữ Thái viền hoặc đáp thêm miếng vải khác màu vừa cho cứng, vừa tạo nên một giá trị thẩm mỹ riêng
Thắt lưng (xài ẻo) là một dải băng vải, có chức năng giữ cho cạp váy quấn chặt ở cơ thể người mặc váy Thắt lưng thường được làm bằng vải tơ tằm hay sợi bông màu xanh lam hoặc tím xẫm, giữ cho cạp váy quấn chặt lấy eo Thắt lưng truyền thống của phụ nữ Thái thường làm bằng vải tơ tằm óng ả Ngoài thắt lưng dệt bằng tơ tằm, người Thái còn phổ biến dùng loại thắt lưng dệt bằng sợi bông Thắt lưng dệt băng sợi bông thường đem nhuộm rồi mới dùng.Thắt lưng thường được nhuộm màu xanh lá cây Các cô gái còn gia công thêm 2 đầu thắt lưng miếng vải màu cho đẹp Các cô còn thêu xung quanh miếng vải ghép ở 2 đầu khăn
Khăn Piêu là vật dụng “cầm tay” của các cô gái Thái mỗi khi đi ra đường hay trong các dịp hội hè Chiếc khăn piêu được các cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái
Sự khác biệt giữa nữ giới của dân tộc Thái Đen và Thái Trắng được thể hiện trong các dịp hội hè Những dịp đó, phụ nữ Thái Trắng thường mặc
áo dài màu đen Đây là loại áo dài thụng thân thẳng, không lượn nách, được trang trí bằng vải “khít” ở giữa thân có tua vải phủ từ vai xuống ngực, nách
áo trang trí theo lối đáp hai mảng hoa văn trong bố cục hình tam giác Phụ
nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu Họ có loại nón rộng vành Trong khi đó, phụ nữa Thái Đen thường mặc áo dài xẻ nách, chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái
Trang 26trắng Nói đến trang phục người Thái thì không thể không nhắc tới các đồ trang sức đeo trên người như vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài tóc trên đầu, xà tích và cả cúc bạc…
*Nhà ở
Do nằm trong hệ sinh thái của rừng mưa nhiệt đới,độ ẩm cao,mưa nhiều,côn trùng, thú dữ lắm,các cư dân của khu vực Đông Nam Á trước đây chủ yếu là ở nhà sàn Do vậy, nhà sàn trở thành mô típ của Đông Nam Á Cho đến hiện nay ở các vùng nông thôn của các nước này ngôi nhà sàn vẫn hiện diện ở nhièu nơi như là 1 đặc trưng của văn hoá phương Nam
Nhà sàn Thái là lâu đài gỗ, tre, nứa, lá…Mọi nguyên liệu làm nhà đều
là sản phẩm của địa phương
Đối với bất kì dân tộc nào việc lựa chọn địa điểm phải thỏa mãn các yêu cầu: thuận tiện cho sản xuất, gần nguồn nước Ở người Thái địa điểm làm nhà thường là chân đồi, nơi gần ruộng, nương tiện cho sản xuất, gần các thung lũng có nước chảy Địa thế nhà thường thấp hơn nguồn nước để có thể bắc máng nước chảy về gần nhà
Trông quá trình dựng là nhà thì người Thái chú trọng đến việc chọn và dựng cột cái “xau hẹ’’ Xau hẹ được dựng trước nhà, là sức mạnh, là linh hồn,
là điểm tựa bên ngoài của gia đình
Nhà sàn Thái có 4 mái: 2 mái to chạy dọc theo chiều dài của nhà, 2 mái nhỏ che 2 mái nhà Các vùng khác nhau thì có sự khác nhau ở 2 mái nhỏ: ở vùng Sơn La 2 mái nhỏ chủ yếu có hình cánh quạt cong; còn ở Lai Châu, ngoài loại trên còn thêm loại hình cánh quạt phẳng
Nhà sàn truyền thống là loại nhà sàn có 2 mái phẳng hình chữ nhật, 2 mái nhỏ cong hình cánh quạt úp che 2 phía đầu hồi Trông toàn bộ mái nhà từ bên ngoài có hình dáng giống mai con rùa hoặc một chiếc thuyền úp Bên
Trang 27trong mái nhà rất thoáng, cao vì trong nhà hoàn toàn không có cột Một khoảng không gian rộng, lại được bếp lửa sưởi ấm suốt ngày cho nên trong nhà giữ được không khí ấm áp, thơm mùi khói bếp khác hẳn với môi trường bên ngoài Nhà sàn đẹp một phần quan trọng thể hiện ở các mái
Trên mái nhà sàn Thái ở hai đầu hồi có đôi khau cút vút cao, được ghi nhận như là một đặc trưng đậm đà màu sắc dân tộc Tác dụng trực tiếp của
“khau cút” là nó đóng vai trò làm cái nẹp giữ cho lớp chanh ở hai đầu hồi khỏi
bị tốc lên khi có mưa to gió lớn Song bên cạnh đó khau cút còn mang đặc trưng dân tộc rõ rệt
Khau cút dược làm từ hai miếng gỗ Màu tự nhiên của gỗ thường là màu ngà, còn khau cút lúc nào cũng có màu trắng Trước đây quét vôi trắng còn ngày nay quét sơn trắng
1.2.2.2 Văn hóa tinh thần
đó có 12 Then Lớn đảm nhận việc cai quản và chỉ đạo mọi hoạt động của trần gian, 22 Then Nhỏ giúp việc cho Then Lớn
Cõi trời là một thế giới đặc biệt, chứa đựng quyền lực tối cao, toàn bộ núi rừng, sông suối và hoạt động tự nhiên, hoạt động con người trên trần gian đều do các Then sáng tạo và quyết định
Trang 28Ở hạ giới, mỗi bản đều có phi bản, phi mường (ma bản, ma mường) Người Thái quan niệm bản mường là 1 ngôi nhà sàn khổng lồ, trong đó có nhiều người và 1 người làm trụ cột là chủ hồn “chẩu xửa” Nếu là người thuộc dòng dõi quý tộc thì gọi là “tạo bản” còn thuộc dòng họ bình dân thì gọi là “quan bản”-người có công khai phá đất đai, lập bản Ở mỗi mường đều là các cây gỗ thật được đẽo gọt cẩn thận rồi bày ở nơi cúng mường Ngoài ra, trong mỗi nhà đều có
ma nhà gọi là “phi hướn” và trong mỗi người đều có linh hồn “phi khuân” Họ phải luôn coi trọng và cúng bái cẩn thận tránh ốm đau, xui xẻo
Về thế giới tâm linh, người Thái có quan niệm đa thần và giữ tục cúng
tổ tiên Do đời sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp nên có tục lấy nước đêm Giao Thừa, lễ hội đón tiếng sấm năm mới và một số lễ hội cầu mùa khác
Các nghi lễ nông nghiệp thường được tổ chức vào tháng 8, khi những đàn chim màu đen bay xuống ăn sâu ở ruộng lúa, đồng bào Thái thường làm một lễ nhỏ ngay tại ruộng Họ dựng một cái miếu con ngay giữa ruộng và sửa soạn một mâm cơm cúng gồm: một con lợn, cơm, rượu, đồng thời nhổ một khóm lúa đặt bên cạnh mâm cúng với mong ước lúa sẽ tốt tươi, tránh được sâu bệnh Lễ này cũng có ý nghĩa cám ơn những con chim màu đen đã giúp người nông dân trừ được sâu bệnh, bảo vệ mùa màng
Việc thờ cúng trời đất, tổ tiên của người Thái diễn ra hang năm theo chu
kỳ sản xuất nông nghiệp và lồng vào các nghi lễ nông nghiệp chủ yếu nhằm cầu xin trời đất bảo vệ mùa màng Theo đó, tiếng sấm đầu mùa rất quan trọng
Nó báo hiệu cuọc sống vạn vật bắt đầu một chu kì mới sau những ngày đông tháng giá Cũng là lúc khởi đầu cho công việc đồng áng năm mới
Tại đây, người ta tổ chức các lễ xên mường, xên bản, xên hươn mời Then và các vị thần đất, thần ruộng, thần sông và tổ tiên về dự Nhiều hội hè vui chơi diễn ra trong ngày đón tiếng sấm đầu mùa
Trang 29Tiếp theo hội là một số ngày kiêng kị Nhà nào nhà nấy đều đóng cửa, cài cành lá xanh, người trong nhà nghỉ đi rừng, đi rẫy và không tiếp khách lạ
Hội Xên bản xên mường mở vào mùa hoa ban nở là hội cầu mùa, cầu phúc của người Thái Họ gửi gắm vào đó những ước vọng lớn lao về cuộc song bình yên, no ấm nơi bản mường, đồng thời cũng là dịp thi tài, vui chơi, trai gái tìm hiểu, tâm tình qua tiếng hát, tiếng đàn…
* Phong tục cưới xin-ma chay
- Phong tục cưới xin:
Cưới xin là sự kiện quan trọng của người Thái, là ngày hạnh phúc của đôi trẻ, niềm vui của gia đình, dòng họ và còn là dịp sinh hoạt văn hoá mang tính cộng đồng làng bản Trai gái người dân tộc Thái lớn lên được tự do yêu đương, tìm hiểu người bạn đời của mình, cha mẹ không sắp đặt Khi đã yêu nhau, người con trai thường trao kỷ vật như vòng tay, giỏ đeo cho cô gái để làm tin và còn có ý nghĩa khẳng định tình yêu chung thuỷ của chàng trai Vào dịp thuận lợi, chàng trai đặt vấn đề với cô gái để gia đình sắm lễ vật đến ăn hỏi Cô gái cũng báo với cha mẹ mình để chuẩn bị đón tiếp nhà trai Sau khi hai bên gia đình đã nhất trí về hôn sự, các bước chuẩn bị đám cưới sẽ được tiến hành Trước tiên nhà trai chọn người làm mối, đó phải là nam giới, có uy tín và gia đình tương đối khá giả Gia đình chàng trai mang một số lễ vật như
Trang 30rượu, trầu cau đến nhà ông mối để đặt vấn đề Sau khi nhà trai tìm được ông mối thì lễ ăn hỏi được tiến hành Thông thường người Thái có ba lần ăn hỏi Lần ăn hỏi thứ nhất là thưa chuyện Thành phần đi có ông mối, chú rể và một đại diện của nhà trai Lễ vật mang theo gồm hai chai rượu, bánh sừng bò, bánh kẹo, trầu cau Nhà gái mời ông cậu đến để cùng bàn bạc với nhà trai về hôn nhân Lần ăn hỏi thứ hai để xin ý kiến nhà gái về cá hua - đó là tiền mặt hoặc
số nén bạc trắng mà nhà trai phải mang đến nhà gái, thường thì từ 3-5 nén bạc (1 nén bạc trắng thường có trọng lượng từ 270g đến 310g) và các lễ vật Thành phần đi có ông mối, chú rể, 2 người già, 1 nam, 1 nữ Lễ vật gồm 20 bánh chưng, 10 bánh sừng bò, 2-4 chai rượu, 2 gói trầu cau, 2 con gà, 1 bó chè xanh Nhà gái mời anh em họ hàng và ông cậu đến dự Hai bên bàn bạc về tiền thách cưới, các đồ lễ Lần ăn hỏi thứ ba, thống nhất về các loại và số lượng lễ vật, cá hua và ngày tháng tổ chức lễ cưới Số lượng người đi thường từ 6 đến 8 người, trong đó có nam, nữ, già trẻ Lễ vật gồm 30-40 bánh chưng, 20 bánh sừng bò, 3 gói trầu, 3 gói cau, 4 chai rượu, 2 con gà, 3 kg thịt lợn, 5-10 gắp cá nường Nhà gái nêu các loại, số lượng lễ vật, cá hua, ông mối có thể xin giảm bớt và lễ cưới nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào khả năng chuẩn bị của nhà trai
và nhà gái
Sau đó lễ cưới lần một được tiến hành, thành phần nhà trai khoảng
12-14 người, có già trẻ, nam nữ, phù dâu, phù rể Lễ vật có bánh chưng, bánh sừng bò, gà, lợn, rượu, gạo Đến nhà gái, lễ vật được bày ra, chú rể bỏ chiếc
áo lên bàn thờ nhà gái Gà, lợn được mổ thịt, dọn thành các mâm, ông mối cúng báo cáo với tổ tiên nhà gái Cúng xong, chú rể lạy năm lần, sau đó lạy bố
mẹ vợ bốn lần Hai bên thông gia cùng ăn cơm và hát đến khuya mới thôi
Tiếp đó là lễ cưới chính thức, từ khi cưới lần một cho đến lễ cưới chính thức kéo dài lâu nhất trong vòng một năm Trước ngày cưới chính thức
Trang 31khoảng một tuần, nhà trai cử người đem lễ vật sang nhà gái để thông báo ngày giờ Đoàn nhà trai gồm 10 đến 14 người Lễ vật gồm 1 con lợn khoảng 30 kg trở lên, 20 kg gạo, 10 chai rượu, 4 hoặc 6 con gà, cá khô, trầu cau Trước khi đến nhà gái, nhà trai cử một người đem mâm trầu cau đến trước để thông báo Khi đoàn nhà trai đến cổng, nhà gái cử một vài người ra đóng cổng và choàng lên đó một tấm chăn hay tấm vải đỏ để thử tài đối đáp của ông mối Đại diện nhà gái hát để hỏi ông mối một vài câu hỏi Nếu ông mối trả lời được thì nhà gái mở cổng, nếu không nhà trai phải bỏ một ít tiền chuộc lỗi Đến đầu cầu thang, nhà gái chuẩn bị sẵn các thau nước và khi đoàn nhà trai lên cầu thang,
họ hắt nước làm cho đoàn nhà trai ướt quần áo trước khi vào nhà Nhà gái làm
cỗ 6 mâm cỗ: 1 mâm cúng ma nhà gái, 1 mâm làm vía bố mẹ cô dâu, 1 mâm cúng bên ngoại nhà gái, 1 mâm cúng ông mối, 1 mâm cúng biếu bên nhà trai
và 1 mâm cúng hồn của những người chết không có con thờ tự Ông mối cúng dâng lễ vật cho ma nhà của nhà gái, một thầy cúng khác cúng mâm làm vía cho bố mẹ cô dâu Cúng xong, chú rể lạy ma nhà vợ năm lạy Hai họ ăn cơm, uống rượu, hát chúc tụng mừng cho gia chủ và đôi vợ chồng trẻ Khoảng canh một, nhà gái đem của hồi môn của cô dâu ra để nhà trai nhận, đồng thời giao
cô dâu cho nhà trai Chú rể rót rượu mời mọi người nhà gái theo thứ bậc và họ
bỏ vào đĩa một ít tiền có ý nghĩa là tiền mừng rể Ngoài ra, bố mẹ vợ còn biếu chú rể một khoản tiền gọi là tiền gối rể Chú rể lạy họ hàng và bố mẹ vợ bốn lạy Ông mối thay mặt nhà trai cảm ơn họ hàng nhà gái rồi xin phép đưa dâu Thanh niên khiêng của hồi môn như chăn, đệm đi trước, vợ ông mối cầm tay
cô dâu, khi bước ra khỏi cửa, bà cô của cô dâu lấy chiếc nón đội lên đầu cô dâu và kéo tay cô dâu vào nhà, còn bà mối thì kéo cô dâu ra ngoài, như thế vài
ba lần thì thôi Khi chưa ra khỏi làng, trên đường đi, thỉnh thoảng người ta đánh 3 tiếng chiêng báo hiệu lễ đưa dâu Nhà gái cử một đoàn tiễn cô dâu sang nhà trai và phải là số chẵn, bố mẹ của cô dâu không được đi
Trang 322 chén rượu, 2 đùi gà, 1 quả trứng bổ đôi Ông mối diễn xướng phần nghi lễ tơ hồng, xe tơ, kết tóc trăm năm cho vợ chồng và vợ chồng phải ăn hết các thức
ăn trong mâm Khi ăn, vợ chồng gắp chéo tay cho nhau để khẳng định hạnh phúc bền lâu, sướng khổ có nhau
Nhà trai làm 4 mâm cỗ để cúng: 1 mâm cúng ma nhà, 1 mâm cúng bên ngoại, 1 mâm cúng tạ ơn ông mối và 1 mâm cúng tạ ơn nhà vợ Cúng xong, cô dâu ra quỳ trước bàn thờ để lạy ma nhà chồng, sau đó đó hai họ ăn cơm Ông mối giới thiệu cô dâu với họ hàng và giới thiệu đến người nào, người đó đón lấy một chén rượu từ tay cô dâu uống rồi bỏ vào khay tiền mừng Khi họ hàng nhà gái ra về, nhà trai biếu bố mẹ cô dâu một mâm cơm
Sáng sớm hôm sau, đôi vợ chồng và bố mẹ chú rể mang một số lễ vật như: Thịt lợn, 1 con gà, 3 chai rượu, 2 chiếc gối, 2 chiếc đệm vải đến tạ ơn ông bà mối đã giúp cho 2 con nên vợ, nên chồng Sau đám cưới 3 ngày, vợ chồng cùng bố mẹ mang lễ vật sang nhà bố mẹ cô dâu để tạ ơn
- Phong tục ma chay:
Thông thường đám tang của người Thái thường diễn ra các nghi lễ sau:
Trang 33+ Lễ tắm xác
Người chết được con cái mang nước thơm, ấm, lau mình, chỉa đầu gọn ghẽ Sau đó, mặc quần áo cho người chết Quần áo thường là bộ quần áo của ngày hội ngày xưa, may theo lối cổ: áo thụng bằng tơ nhuộm tím hay đỏ mặc ngoài, đầu đội mũ vải, lưng thắt dải, chân đi tất hoặc cuốn vải
+ Lễ liệm
Con cháu dùng chỉ buộc 2 ngón tay cái và 2 ngón chân cái với nhau đồng thời lấy miếng vải vuông buộc cằm để khỏi bị há miệng khi xác dần cứng lại
Ông mo lúc đó (hoặc một người cao tuổi) lấy hòn than vạch lên bức vải ngoài cùng (ý muốn nối số lượng vải con cháu đắp cho)
Khi liệm xong, tang chủ mới đánh một hồi một tiếng chiêng, chính thức báo cho dân làng biết nhà có việc tang
Khi dân làng kéo đến đầy nhà, mọi người khóc thương cho người đã mất theo hiệu lệnh của trống chiêng Tất cả quỳ gối trên sàn Một người thay mặt đoàn chia buồn với tang chủ Tang chủ cũng cử người đáp lễ, cảm ơn xóm làng Lúc này con cháu mới được khóc cha mẹ
+ Lễ nhập quan
Quan tài làm bằng gỗ tốt hình tròn, khoét theo lòng thuyền Mép quan tài lắp mộng kín Trước khi đặt xác, người ta bỏ tro bếp, bông lau vào lòng ngăn cách giữa tro bếp và thân người là một tấm phên đan bằng tre cứng Chôn theo người chết có chiếu cói, đệm, gối bông lau, quần áo cũ
Con cháu cởi chỉ buộc chân tay cho người chết và nhìn vào mặt người thân lần cuối cùng trước khi đậy nắp quan tài Một số người cao tuổi được mời đến dùng chày giã gạo làm động tác ấn mạnh nắp quan tài xuống Sau đó mọi người mới buộc lạt Để cho chắc, người ta còn đóng thêm 12 chốt buộc dây bện bằng tơ tằm đối xứng giữa thân và nắp quan tài
Trang 34Bọc lấy quan tài gỗ, có lượt “áo” (xửa cố) bằng giấy màu hình đuôi cá, gián làm 3 lớp trên tờ giấy to bản vừa khổ với quan tài ở phần lưng quan tài gián giấy đỏ nếu là đàn ông, giấy màu xanh nếu là đàn bà
+ Lễ chính:
Tang chủ cho giết lơn to làm cỗ chính cúng bố mẹ Đối với họ hàng gần
xa tuỳ theo tình cảm của mình mà giúp tièn, rượu, gạo, gà, vịt…
Ông mo kể lai lịch người chết “ẳm óc chẩu xứa” nói với linh hồn người chết hãy về nhận thưc ăn, đồ dùng, công cụ sản xuất của con cháu về “mường ma” làm vốn liếng tiếp tục sinh sốngểơ thế giới bên kia Con cháu và dân làng khóc đưa tiễn người thân lần cuối cùng
+ Lễ đưa tang:
Dân làng mỗi người một tay buộc chặt quan tài vào 4 đòn khiêng bằng cây bương thẳng, đẹp và cuốn thêm lượt vải để quan tài được sạch sẽ, thắp 4 cây nến cắm vào 4 góc của đòn khiêng và chụp nhà xe bằng vải màu làm bằng khung tre hình mái nhà chùm kín ra mồ
+ Lễ đưa cơm cuối (xống ngoài)
Lễ này làm ngay trong ngày chôn cất hoặc sáng hôm sau Con cháu mổ
gà đưa cơm cúng tại nhà mồ Cùng lúc đó, họ rào dậu nhà mồ để trâu bò khỏi phá và trồng cấy vài loại rau, làm tượng trưng vài thứ: chuồng lợn, chuồng gà, máng nước rửa chân Khi về, họ để lại trên nhà mồ một mâm cỗ, bộ ấm chén, giỏ đựng quần áo cũ của người chết
* Một số kiêng kị của người Thái
Cũng như nhiều dân tộc khác, người Thái vùng Tây Bắc có những điều kiêng kỵ nhất định Điều đó không chỉ phản ánh đời sống tâm linh, luật tục có
Trang 35Khi tổ chức lễ cúng bản, cúng mường - Xên bản, xên mường , đây là lễ cúng tưởng nhớ các bậc có công với bản mường đã được nhân dân tôn làm thành hoàng và cầu mong những điều tốt lành cho bản mường và mỗi người Nơi cửa ngõ ra vào bản mường có cắm ta liêu để trấn yểm không cho ma tà vào quấy nhiễu, không cấm người ra vào, ai thành ý và thiện lương đều được vào dự lễ hội
Những nơi công cộng như một khúc sông, suối có cắm ta liêu, thì đấy
là nơi cấm không được đánh bắt cá Thời gian cấm có thể từ hai đến ba năm trở lên để cho cá sinh sôi phát triển, chỉ đến khi trưởng bản cho phép mọi người mới được đánh bắt chung và chia nhau công bằng Khúc sông suối ấy người Thái gọi là vắngk hảm - tức là vũng cấm và ngày được đánh bắt cá gọi
là phá pa vắngk hảm - tức là phá cá ở vũng cấm Đây là ngày hội thực sự của bản mường, có sức hấp dẫn đặc biệt với mọi lứa tuổi Chẳng thế mà người Thái có câu ca: Chụ van ná/ phá pa vắngk hảm - có nghĩa là: Một đàng người tình nhờ làm ruộng, một đàng phá cá ở vũng cấm, biết chọn đường nào?
Khi vào rừng thấy một cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây có tổ ong có vết dao bập vào thân tước ra một mảnh vỏ có đặt hai đoạn cây buộc chéo là những thứ
đã có chủ, không được xâm phạm Mỗi dòng họ lại có những điều kiêng kỵ riêng Chẳng hạn, họ Lò kiêng không ăn thịt chim Tắng lòk - một loại chim
cu, không ăn quả tảng lòk, không ăn măng lòk; họ Lường không ăn nấm mọc
Trang 36trên thân cây đã mục; họ Cà không ăn thịt chim bìm bịp - cốt canh và không dùng nước mưa chảy từ mái nhà xuống; họ Hoàng không ăn thịt hổ - xưa, mèo – miu; họ Vi không ăn thịt rắn - ngúk , lươn - dấn;
Người Thái cũng có lịch riêng (chậm hơn nông lịch sáu tháng) và cũng tính theo chu kỳ can - chi Tuỳ từng dòng họ, cứ mười ngày lại có một ngày kiêng khác nhau Đây là ngày giỗ tổ, mọi người ở nhà không đi đâu và không làm những việc trọng như đám cưới, dựng nhà: Vên ók nha pay đông/ vên tông nha pay sỏn - Có nghĩa là ngày sinh không đi rừng, ngày kiêng không đi suối Đến bữa trưa, gia đình làm mâm cơm cúng ở gian thờ - hỏng hóng Mâm cúng không cần cầu kỳ, nhưng phải có: Cơm, cá, rau, rượu; họ Lò kiêng ngày ất - mự hặp; họ Đồng, họ Lường kiêng ngày canh - mự khốt; họ Cầm Ngọc kiêng ngày tân - mự huộng; họ Cầm Văn kiêng ngày bính - mự hái…
Mỗi người trong cộng đồng đều phải tôn trọng những điều kiêng kỵ chung và mỗi người lại có những điều kiêng kỵ riêng tuỳ vào giới tính, hoàn cảnh Con gái Thái Đen đã có chồng, tóc phải búi trên đỉnh đầu gọi là tằng cẩu Tóc của cô dâu được bện cùng những sợi tóc của bà, của mẹ sau mỗi lần chải gom lại Đấy không chỉ là thông điệp hoa đã có chủ mà còn chuyên chở ý nghĩa nhân sinh cao đẹp: Truyền thống, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ làm vợ, làm mẹ Trừ khi gội đầu, nếu người phụ nữ nào tự tiện buông tóc xuống sẽ bị cộng đồng chê cười, coi đấy là người hư hỏng Con trai không đi vào gầm sàn dành cho nữ giới - chan và không đi dưới dây phơi váy áo Người Thái quan niệm nếu làm ngược lại sẽ yếu vía - số lông bun lông Song khi bắt buộc phải vào như đuổi gà, lợn thì phải dùng co nát hoặc mák quạnh chải ba lần từ trán về phía sau rồi vứt về phía mặt trời lặn hoặc xuống dòng nước chảy Cũng vì vậy mà vào nhà người Thái không nên xoa đầu trẻ em hoặc đánh vào đầu, vì đầu là nơi hồn chủ trú ngụ, làm như vậy là sai, là xúc phạm tới hồn chủ - phít khuôn hua
Trang 37Khi trong nhà có người qua đời, hồn chủ trên đầu biến thành ma nhà - phi hướn Ban ngày ma nhà ngủ trên xà nhà nơi gian thờ - hỏng hóng Vì vậy người Thái không mang thịt, cá tươi qua gian thờ kẻo ma nhà ngửi thấy đòi
ăn, chủ nhà sẽ đau ốm Ngoài ra cũng không đem cành lá xanh qua gian thờ,
vì ma nhà ngỡ đó là rừng cây, nơi trú ngụ của ma quỷ, ma nhà sẽ hỏi chủ nhà làm cho chủ nhà bị ốm Khi đi đám ma về, trước khi lên nhà bao giờ cũng phải dùng co nát và mák quạnh dúng nước chải từ đầu đến chân, vứt về phía mặt trời lặn hoặc xuống dòng nước chảy rồi mới được lên nhà
Trong bữa ăn, trên đầu mâm có hai chén nhỏ đặt song song gọi là chẻn nóng Người ngồi gần chẻn nóng là người cao tuổi hoặc được quý trọng Trước khi uống chén rượu đầu, bao giờ mỗi người cả chủ và khách đều phải san chút rượu từ chén của mình vào chẻn nóng và rót vài giọt xuống sàn để mời tổ tiên và hồn vía của khách, tỏ lòng kính trọng và cầu chúc tốt lành Khi gắp thức ăn cho trẻ không gắp chân gà - tin cáy, đầu gà - hua cáy, quả tối táp lưm, vì người Thái quan niệm: Ăn chân gà không giữ được tiền, ăn đầu gà nói không ai nghe theo, ăn quả tối sẽ quên tất cả
Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cơ bản có nhiều điều kiêng kỵ giống nhau, song tuỳ từng vùng có những thay đổi ít nhiều do đặc điểm vùng, miền cùng sự giao thoa giữa các nền văn hoá Điều đó đem lại những sắc mầu riêng làm phong phú thêm bản sắc văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc đáng được trân trọng
* Các loại hình văn học-nghệ thuật
Người Thái có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng về dân
ca có làn điệu khắp phổ biến, nổi tiếng nhất là khắp “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xong xao), hát đối đáp trai gái là “khắp bá sao”, hát lên nhà mới là
“khắp khửn hươm mớ”, hát mừng đám cưới là “ khắp hặp đoong”, hát mừng
Trang 38mùa vụ là “khắp chôm” Khắp là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể đệm đàn tính hoặc múa Việc khắp nối thể hiện khả năng hiểu biết, độ nhạy bén và linh hoạt của người trong cuộc.
Dân tộc Thái là một trong những dân tộc vốn có nền dân vũ khá phong phú Một trong những điệu múa phổ biến nhất của dân tộc này là những điệu xòe duyên dáng, dịu dàng làm say mê ngây ngất lòng người Từ trước tới nay, múa xòe hay xòe luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và
đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong những dịp lễ Tết, cúng bản, cúng mường của người Thái Điện Biên
Xòe có từ bao giờ, chưa ai có thể khẳng định được Chỉ biết rằng khi người Thái sinh ra đã thấy xòe, khi con trai biết thổi pí, con gái biết thêu khăn
đã say sưa điệu xòe Vì thế từ lâu người Thái đã có câu:
Không xòe, không vui
Không xòe, cây lúa không trổ bông
Không xòe, cây ngô không ra bắp
Không xòe, trai gái không thành đôi
Xòe có thể phân chia ra làm hai hình thức chính đó là xòe vòng và xòe biểu diễu Xòe vòng là hình thức múa tập thể sơ khai nhất, là nét sinh hoạt vui chơi của người Thái xưa và nay Múa xòe phổ cập ở mọi lứa tuổi: trẻ già, trai gái ai cũng biết xòe và ai cũng thích xòe Đây là một điệu múa, một hình thức nghệ thuật và cũng là một tục lệ Xòe vòng được xuất hiện trong các nghi lễ mừng xuân, được mùa, lên nhà mới, cưới xin và ngay cả trong các cuộc liên hoan trên nhà sàn, quanh đống lửa Khi rượu đã ngà ngà, tiếng chiêng trống nổi lên thúc giục, không ai bảo ai mọi người cùng nắm tay nhau say sưa trong nhịp bước xòe vòng Ngày Tết, dân xòe rất đông, địa điểm tổ chức trên bãi đất rộng, vào ban đêm thì tâm điểm vòng xòe thường là đống lửa to đang bừng
Trang 39cháy Dân bản nắm tay nhau thành vòng tròn múa quanh đống lửa theo nhịp chiêng trống
Động tác xòe vòng gồm có kiểu: “xé khen vung” nghĩa là xòe tay cao,
“xé khen tàn” nghĩa là xòe tay thấp, “xé hạng eo” xòe tay ở ngang thắt lưng
Sở dĩ phân chia như vây bởi xòe không chỉ có sức hút với nam nữ thanh niên Thái yêu thích xòe mà các cụ già cũng hào hứng tham gia Mỗi động tác lại phù hợp với một lứa tuổi, với từng không khí cũng như tiết tấu âm nhạc Xòe tay thấp là động tác xòe có thể nói là đơn giản nhất, ai ai cùng có thể tham gia
từ trẻ em đến thanh niên hay người già, động tác thường được bà con dân tộc Thái múa ngay khi có tiếng trống, tiếng chiêng đầu tiên cất lên Khi tiếng trống đã dồn dập hơn, rượu đã ngà ngà say họ chuyển sang xòe tay cao hay còn gọi là xòe chọi gà Họ nắm tay nhau đưa lên ngang đầu rồi lại đưa xuống thấp, một chân bước, một chân ký, động tác mạnh mẽ, dứt khoát, vui vẻ Khi
đã thấm mệt, họ nhường vòng xòe cho người cao tuổi, các cụ già chỉ múa những động tác nhẹ nhàng đó chính là xòe hai tay ngang eo
Xòe biểu diễn là hình thức xòe phát triển vào những năm 1940 và do gái xòe biểu diễn Tiến trình phát triển của xòe biểu diễn có thể chia làm hai giai đoạn Giai đoạn đầu, xòe biểu diễn tiếp thu hầu hết những điệu múa lễ thức của “Kin Pang Then” có biến đổi phù hợp với yêu cầu và đặc trưng của nghệ thuật trình diễn Có thể kể tên một số điệu như: Nhụm hơn, Khóa hô, Quát bó héo… sau đó, các nghệ nhân trong quá trình sáng tác và dàn dựng đã
sử dụng những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, những công cụ lao động làm đạo
cụ như nón, khăn, ống nứa… do đó có múa nón, múa khăn với những động tác đơn giản, di chuyển đội hình không nhiều Giai đoạn sau, do tác động từ những biến đổi sâu sắc của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa người Thái, múa xòe có bước phát triển mới Từng xã, từng thôn bản thành lập đội xòe,
Trang 40và hòa mình cùng với bản nhạc hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc
Xòe giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Thái, ở nơi đâu, trong bất kỳ không gian, hoàn cảnh nào ta cũng dễ dàng bắt gặp người dân đang xòe: trong không gian linh thiêng của của lễ “Then Kin Pang”, xên bản, xên mường; trong không vui vẻ ấm của tết đến xuân về; trong niềm vui, đoàn kết của gia chủ trong lễ mừng lên nhà mới… Ở những vòng xòe ấy, người ta không phân biệt người già hay người trẻ, là nam hay
nữ, là người giàu hay người nghèo chỉ vang tiếng cười và tiếng trống Chính vòng xòe đã làm cho mối quan hệ làng bản, quan hệ người với người gắn bó hơn, đoàn kết hơn
1.2.2.3 Tổ chức xã hội
Người Thái tổ chức theo mô hình thiết chế bản-mường, có mường lớn, mường nhỏ, trong đó bao giờ cũng có một mường trung tâm quy tụ các mường khác được gọi là mường luông, các mường nhỏ được gọi là mường vảy Mỗi mường thường có chủ mường: anha (mường lớn), phìa (mường nhỏ)
và tạo lộng/quén (mường lộng) đứng đầu và điều hành, quản lí toàn bộ hoạt động của mường, có phạm vi đất đai, vùng thiên nhiên và luật lệ riêng
Mỗi bản thường có 40-50 nóc nhà, là một trong những cư dân bản địa lâu đời, người Thái đã lựa chọn cho mình những vị trí đẹp và thuận lợi cho đời sống để lập bản mường Đó là những vùng đồi núi thấp, gần sông suối,
có địa thế rộng rãi, bằng phẳng, thuận tiện cho việc canh tác, đi lại và giao lưu với các bản mường khác Bên cạnh bộ máy hành chính mỗi mường đều