Với niềm yêu thích và mong muốn được tìm hiểu về nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng như các sáng tác của ông về người phụ nữ Việt Nam, đồng thời là sinh viên chuyên ngành Quản lý hoạt động âm nh
Trang 1Khoá luận đại học ngμnh QUảN Lý VĂN HóA
Người hướng dẫn khoa học: ths Trần thục quyên
Hμ Nội - 2014
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài khóa luận này tôi xin phép được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới giảng viên Trần Thục Quyên, giảng viên khoa Quản lý văn hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã là người trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bài khóa luận này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Quản lý văn hóa đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong suốt 4 năm theo học tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ của Thư viện quốc gia Hà Nội đã cung cấp những tài liệu quý báu, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận này
Với cương vị là một sinh viên, do trình độ, kinh nghiệm và thời gian có hạn nên chắc chắn bài khóa luận của tôi còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, các cô và sự góp ý của các bạn để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2014
Người thực hiện khóa luận Sinh viên
Ngô Thị Thu Hường
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CÁC LĨNH VỰC NGHỆ THUẬT NÓI CHUNG VÀ ÂM NHẠC NÓI RIÊNG 7
1.1 Hình tượng người phụ nữ trong các lĩnh vực nghệ thuật 7
1.2 Hình tượng người phụ nữ trong âm nhạc 12
Chương 2: MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN TÝ VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 20
2.1 Thân thế sự nghiệp và các sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý 20
2.1.1 Thân thế sự nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý 20
2.1.2 Sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý 22
2.2 Một số tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết về người phụ nữ Việt Nam 24
2.2.1 Hình tượng người mẹ 25
2.2.2 Hình tượng người phụ nữ trong tình yêu và chiến đấu 35
2.2.3 Hình tượng người phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng đất nước 46
Chương 3: ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT THÔNG QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÁC PHẨM CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN TÝ 59
3.1 Giá trị nghệ thuật thông qua hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý 59
3.1.1 Cấu trúc 59
3.1.2 Chất liệu âm nhạc 60
3.1.3 Ca từ 65
3.1.4 Nội dung âm nhạc 67
3.2 Vai trò của âm nhạc Nguyễn Văn Tý đối với công chúng yêu nhạc 69
3.3 Đề xuất nâng cao thẩm mỹ âm nhạc của công chúng 73
3.3.1 Thực trạng đời sống âm nhạc của công chúng hiện nay 73
3.3.2 Một số đề xuất nâng cao thẩm mỹ âm nhạc của công chúng 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 4Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển đất nước phụ nữ luôn có quyền đóng góp nhất định vào mọi thay đổi xã hội vì nền hòa bình, thống nhất
và văn minh nhân loại Các thành tựu phần lớn đạt được đang làm thay đổi cách nhìn nhận từ các tầng lớp xã hội đối với người phụ nữ Được khẳng định phẩm chất và năng lực đối với các lĩnh vực hoạt động, những lĩnh vực phi truyền thống nhất
Người phụ nữ ở vào những hoàn ảnh xã hội nhất định đã đem đến những hiệu quả tinh thần, thông qua những hoạt động lao động nghệ thuật, bao gồm: Thể thao, điện ảnh , ca múa nhạc, thời trang, điêu khắc, hội họa, ẩm thực, tiêu dùng, đối nhân xử thế,…
Hình tượng người phụ nữ không chỉ được các nhà văn, nhà thơ thể hiện trong văn học, điện ảnh, thơ ca mà phải kể đến lĩnh vực nghệ thuật âm nhạc –
là một trong những lĩnh vực thể hiện và truyền tải đến người nghe vẻ đẹp người phụ nữ một cách dễ dàng và phong phú nhất Trong các nhạc sĩ của âm nhạc Việt Nam, nhiều nhạc sĩ đã thành công với đề tài này như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Thanh Tùng,… trong đó Nguyễn Văn Tý là một trong những nhạc
sỹ thành công với chất liệu dân ca Những sáng tác của ông được chắt chiu và nghiền ngẫm qua những chuyến đi thực tế trong thời gian dài Trong đó đề tài quen thuộc trong nhiều sáng tác của ông là đề tài người phụ nữ với những ca
Trang 55
khúc như Bài ca phụ nữ Việt Nam, Mẹ yêu con, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm
xưa, Cô đi nuôi dạy trẻ, Dáng đứng Bến Tre, Mỗi ca khúc như một câu
chuyện kể, như khúc tâm tình của nhạc sỹ gửi đến những hình tượng người phụ nữ khác nhau, từ những thời đại và mọi vùng miền trên tổ quốc Việt Nam Đồng thời là những trải nghiệm, cảm xúc và dư âm mà nhạc sỹ dành cho người phụ nữ thông qua các ca khúc của mình Mỗi lần nghe là một lần tôi được mở rộng cái nhìn về người phụ nữ Việt Nam, về những hình ảnh dung dị, đẹp thuần khiết, là hậu phương vững chắc không những cho người con ra trận mà còn là tình yêu bao la dành cho tổ quốc; hơn thế nữa là tinh thần phụ nữ ba đảm đang, chung thủy Không hổ danh khi ông được đồng nghiệp phong cho danh hiệu nhạc sĩ “Chuyên trị phụ nữ”
Với niềm yêu thích và mong muốn được tìm hiểu về nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng như các sáng tác của ông về người phụ nữ Việt Nam, đồng thời
là sinh viên chuyên ngành Quản lý hoạt động âm nhạc, khoa Quản lý văn hóa
nghệ thuật Tôi đã chọn đề tài: “Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong
các tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý” cho bài khóa luận của mình
Qua đó phân tích những thủ pháp sáng tác để hiểu sâu hơn về hình tượng người phụ nữ Việt Nam, khơi dậy lòng đam mê âm nhạc cũng như nhận thức giá trị âm nhạc của công chúng yêu nhạc
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hình tượng người phụ nữ Việt Nam qua một số tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, qua đó đánh giá giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm, định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho công chúng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng người phụ nữ trong một số tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Trang 66
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Một số tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý về hình tượng người phụ nữ Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tài liệu
về hình ảnh người phụ nữ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý mang lại Bên cạnh đó còn đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và phân tích một cách cụ thể hơn về một số tác phẩm của những người mến mộ tài năng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục ảnh, bài luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Hình tượng người phụ nữ trong các lĩnh vực nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng
Chương 2: Một số tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết về người phụ nữ Việt Nam
Chương 3: Đánh giá giá trị nghệ thuật thông qua hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Trang 77
Chương 1 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CÁC LĨNH VỰC NGHỆ THUẬT NÓI CHUNG VÀ ÂM NHẠC NÓI RIÊNG
1.1 Hình tượng người phụ nữ trong các lĩnh vực nghệ thuật
Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, qua những chặng đường vô cùng oanh liệt dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ truyền thống thông minh, sáng tạo, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm Trải qua bốn nghìn năm, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã được xây dựng và lưu truyền trong nền văn học dân gian: bà Âu Cơ đưa các con đi mở nước và dạy dân dựng làng, bà mẹ Gióng kiên trì nuôi đứa con
“Chậm lớn, chậm đi” và giúp con lên đường đánh giặc, nàng Quế Hoa, cô gái dùng đá làm vũ khí, tung hoành giữa đám giặc Ân Nguồn tư liệu khảo cổ học cũng bảo tồn những hình tượng thật của người phụ nữ “uy nghi chống nẹ trên chuôi kiếm” hoặc “nhịp nhàng giã cối, uyển chuyển đánh trống đồng”, Hai Bà Trưng, bà Triệu và những phụ nữ tài giỏi, dũng cảm khác của thời đại Ngô, Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê Tây Sơn như Thái hậu Vương Vân Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan, đô đốc Bùi Thị Xuân đã được ghi vào lịch sử thành văn của dân tộc
Cùng với sự phản ánh về lịch sử đất nước, lịch sử dân tộc, mọi nguồn
tư liệu đã cho thấy, vào những thế kỷ trước và sau công nguyên, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ nữ là những người đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng
Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam in đậm dấu ấn trong tất cả các loại hình nghệ thuật điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, văn chương, sân khấu và
cả điện ảnh… và mãi bất tử với thời gian Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc
Phụ nữ luôn là đề tài vô tận của nghệ thuật, những nghệ sỹ điêu khắc tài hoa đã sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị Trên thế giới nổi tiếng nhất
Trang 8độ phụ quyền Nho giáo, người phụ nữ bị khinh miệt, coi rẻ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “phụ nhân nan hoá” Vì vậy, người phụ nữ không được tới đình làng Vậy nhưng điêu khắc đình làng lại dày đặc hình ảnh người phụ nữ Họ tự do thể hiện tình yêu với chồng, với con, với bạn bè; tự do lao động, vui đùa, ca hát Có thể nói, không ở một công trình kiến trúc dân gian nào thể hiện khát vọng người phụ nữ lại được bộc lộ mạnh mẽ như ở đình làng Việt
Phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận của các họa sĩ Với người nghệ
sỹ, đó không chỉ là vẻ đẹp của hình sắc mà còn là cái đẹp trong quan niệm
Đó là hình ảnh bất biến nhưng không bất định mà uyển chuyển, biến tấu kỳ diệu trong từng cây cọ, lúc mờ khi tỏ trong vô vàn sắc diệu
Với hội họa truyền thống, hình tượng người phụ nữ với vẻ đẹp của đôi mắt lá dăm, đôi mày lá liễu, tóc bỏ đuôi gà…cùng những đường cong gợi cảm
ẩn trong mảnh yếm thắm, tà áo tứ thân đã khiến các họa sĩ của các dòng tranh
dân gian mê đắm, tạo ra nhiều tác phẩm như “Hứng dừa”, “Đánh ghen”, “Bà
Triệu”, “Bà Trưng”…(Đông Hồ) và “Tố nữ”, “Thúy Kiều”, “Hội chùa”,
“Đi chợ” (Hàng Trống)
Khi mỹ thuật hiện đại ra đời năm 1925 các họa sĩ của Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương được tiếp thu những kiến thức tạo hình hàn lâm, hiện đại, họ nhìn nhận và nghiên cứu hình thể phụ nữ rất kỹ bằng những bài hình
Trang 99
họa nghiêm túc và đã đưa vẻ đẹp vĩnh hằng với những đường cong tuyệt mỹ vào những kiệt tác mà cho tới mai sau vẫn là báu vật văn hóa nước nhà Có
thể kể đến “Thiếu nữ bên hoa huệ”, “Bên hoa phù dung” của Tô Ngọc Vân
“Em Thúy”, “Gội đầu” của Trần Văn Cẩn, “Mẹ con” của Lê Thị Lựu,
“Thiếu nữ Bắc, Trung, Nam” của Nguyễn Gia Trí…Trong hội họa, các họa sĩ
dành nhiều xúc cảm thẩm mỹ và chất liệu quý hiếm cho đề tài phụ nữ Việt
Nam, như Lê Nam với tranh sơn dầu “Dừng lại”, Huỳnh Văn Gấm với tranh sơn mài “Trái tim và nòng súng” hoặc Nguyễn Đức Nùng với tranh sơn mài
“Kết nạp Đảng trong tù”… Và còn nhiều tác phẩm khác phản ánh rất chuẩn
xác, hùng hồn sức mạnh diệu kỳ của đội quân tóc dài anh hùng, bất khuất Lão họa sĩ Nguyễn Phan Chánh được đánh giá là họa sĩ bậc thầy về vẽ phụ nữ
trên lụa Các nhân vật nữ của cụ suốt từ “Chơi ô ăn quan” (1931) đến “Trăng
tỏ, Trăng lu”, “Kỳ lưng”, “Sau giờ trực chiến” (1979) đều toát lên vẻ đẹp
tuyệt vời của phụ nữ Việt Nam
Có ai đó nói rằng: “Người phụ nữ là một nửa thế giới” Và quả thật, họ
đã đi vào những trang viết chảy suốt trong văn học từ trước đến nay, để rồi không chỉ làm nên một nửa, mà là trọn vẹn tấm hình trong sâu thẳm tâm hồn thế hệ người đọc hôm nay và cả mai sau
Ở thời kỳ phong kiến cả nước Việt Nam chìm trong những ràng buộc,
lễ giáo khắc nghiệt tối tăm Và vô hình chung, số phận của người phụ nữ cũng không thể nào vượt ra khỏi ranh giới của hoàn cảnh xã hội Trong thơ ca, họ hiện lên là những kiếp người nhỏ nhoi, bất hạnh Người phụ nữ càng đẹp, càng tài, càng lắm bất hạnh, khổ đau Giai đoạn đầu thế kỷ XX, hình ảnh người phụ nữ trong văn học dưới ngòi bút của các nhà thơ có cách nhìn nhận khác Không còn thấy những tiếng than thân trách phận; những lời thở than đau buồn…, người phụ nữ Việt Nam trong văn học hiện đại Việt Nam 1930 -
1945 trở về với nét đẹp giản dị đời thường và với những công việc thường
Trang 1010
nhật Thời kỳ kháng chiến 1945 – 1975, Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mới - vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng, được tháo ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến của thời,
để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước Đó là những cô thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn “Em đứng bên đường như quê
hương/ Vai áo bạc quàng súng trường” (Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi ) hoặc có thể là những cô gái Nam Bộ “dịu dàng như những nàng tiên”, là những “cô
du kích, giao liên” của chốn quê hương gian khổ mà anh dũng trong (Trở
về quê nội - Lê Anh Xuân)… Tất cả đều hiện lên đẹp đẽ bởi mang trong
mình hồn thiêng của sông nước
Văn học sau đổi mới, vẫn không ngừng khám phá, thể hiện hình tượng người phụ nữ Nhưng sau cuộc chiến tranh, đất nước hòa bình trở lại, họ đã khác nhiều về tâm tư, tình cảm và cả những khát vọng yêu thương Nếu coi
“thơ ca là tiếng nói của tâm hồn” thì hơn bao giờ hết thời đại tự do đã cho phép người phụ nữ nói rõ những cung bậc của lòng mình Họ hiện lên trong thơ như con người giữa đời thường tâm sự với ta về cuộc đời, tình yêu về sự sống (điển hình là thơ Xuân Quỳnh) Và đặc biệt, chưa bao giờ ta thấy nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu tự do đến tột độ như tình yêu lại hiện lên rõ nét như trong thời kỳ này khi đến với thơ của Phan Huyền Thư hay Vi Thùy Linh
Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam còn nổi bật trong các tác phẩm điện ảnh, được thể hiện đặc sắc theo suốt 3 thời kỳ:
Thời kỳ 1959 - 1975, tuy điện ảnh Việt Nam ra đời trong chiến tranh
nhưng đã phát triển được nhiều tác phẩm nổi tiếng như "Chung một dòng
sông", "Vợ chồng A Phủ", "Con chim vành khuyên", "Đường về quê mẹ",
"Nổi gió" Và là thời kỳ đầu của cả phim truyện, phim tài liệu và phim
Trang 11tài về người phụ nữ Được thể hiện khá rõ nét qua những bộ phim "Mùa gió
chướng", "Chom và Sa", "Hòn đất", "Đứng trước biển", "Chuyến xe bão táp"
Thời kỳ từ 1987 đến nay là thời kỳ xóa bỏ bao cấp và hội nhập quốc tế, điện ảnh đã và đang phản ánh thực tế cuộc sống người phụ nữ Việt Nam trong
xã hội hiện tại Một phần quay về với những số phận con người trong và sau
chiến tranh như "Anh chỉ có mình em", "Bông hoa rừng Sác", "Hà Nội 12
ngày đêm" Phần khác là những người đàn bà trăn trở, vật lộn với cuộc sống
mưu sinh trong phim "Giải hạn", "Hải Nguyệt"; sự sao nhãng cuộc sống bản
thân, gia đình và xã hội để lao vào một kiếp đời phù du của những cô gái nhảy
đáng thương trong phim "Gái nhảy"; là nhân vật Dần, một điển hình cho người phụ nữ chịu thương, chịu khó, đức hạnh và dịu dàng trong phim "Áo
Trang 1212
Lưu Bình Dương Lễ, Thoại Khanh trong Thoại Khanh, Châu Tuấn và còn nhiều vai nữa Trong đó, một nhân vật tài sắc với cuộc đời đầy sóng gió là nàng Kiều, lẽ dĩ nhiên, là một nguyên mẫu hấp dẫn cho nghệ thuật sân khấu
1.2 Hình tượng người phụ nữ trong âm nhạc
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, hình ảnh đẹp đẽ, rực rỡ của người phụ nữ Việt Nam là biểu tượng của niềm tin, tình yêu và sự thủy chung, là tượng đài vô song, vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân đất Việt Ở thế kỷ XX, phụ nữ Việt Nam có những đóng góp lớn lao cho hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, âm nhạc cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc tôn vinh những giá trị, phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam
Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ thường được nhắc đến với đức tính: chung thủy, nhân hậu, kính mẹ, thương cha, thương chồng yêu con, thì ở chế độ mới, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, họ lại gánh trên vai một trọng trách nữa, đó là góp sức chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Có thể bắt gặp họ với những công việc lao động sản xuất nơi hậu phương thông qua các ca
khúc: Ngày mùa (Văn Cao), Lên ngàn (Hoàng Việt), Đường cày đảm đang (An Chung), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi – Huyền Tâm), Những cô gái quan
họ (Phó Đức Phương), Người Châu Yên em bắn máy bay (Trọng Loan)…
Nhiều chị em còn trực tiếp đóng góp sức mình trên tuyến lửa, việc làm đó
được thể hiện trong: Cô gái Sài Gòn đi tải đạn (Lư Nhất Vũ), Chào em cô gái
Lam Hồng (Ánh Dương), Cô gái mở đường (Xuân Giao), Đường Trường Sơn
xe anh qua (Văn Dung), Những cánh chim Hồng Gấm (Nguyễn Đức Toàn)…
Dù là người bình thường hay khi trở thành người anh hùng thì phẩm chất vốn
có của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn bộc lộ trong cuộc sống gia đình với
chức năng làm mẹ, làm vợ Có thể bắt gặp hình ảnh ấy trong ca khúc Mẹ yêu
Trang 1313
con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn – Nguyễn Khoa Điềm),
Áo mùa đông (Đỗ Nhuận), Khâu áo gửi người chiến sỹ (Nguyễn Đức Toàn)…
Trong ca khúc viết về người phụ nữ, mỗi nhạc sỹ đều có những tìm tòi, sáng tạo riêng để xây dựng hình tượng âm nhạc sao cho phù hợp với nội dung cần phản ánh Tuy mỗi ca khúc khai thác một khía cạnh, nhưng tất cả đều chung một mục đích là làm nổi bật lên phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại mới: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang Nhìn chung, có thể nhận thấy các nhạc sỹ đã xây dựng được hình tượng người phụ
nữ ở hai mảng chủ yếu: trong chiến đấu, lao động sản xuất và người mẹ, người vợ, người yêu nơi hậu phương
Ca khúc viết về người phụ nữ trong chiến đấu và lao động được khắc họa một cách chân thực, xúc động Trong số hàng vạn tên tuổi đã hy sinh cho đất nước, Võ Thị Sáu được xem như tấm gương điển hình cho tinh thần dũng cảm, sự hy sinh bất khuất, gan dạ phi thường của người phụ nữ Việt Nam Với lòng kính trọng về tấm gương hy sinh cao đẹp đó, bằng cảm xúc chân thành và sự rung động sâu sắc, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã hoàn thiện ca
khúc Biết ơn Võ Thị Sáu vào năm 1958 Ông đã chọn hình ảnh hoa lê ki ma
để khắc họa chân dung người chiến sĩ cách mạng Hình ảnh đó toát lên cái thần thái vừa gần gũi, thanh tao vừa ung dung tự tin, hiên ngang bất khuất của người nữ anh hùng
Người phụ nữ trong chiến đấu được khắc họa vào ca khúc không phải lúc nào cũng là người thật, việc thật, bởi trong chiến tranh có nhiều tấm gương anh hùng đã xả thân vì đất nước mà chúng ta không biết mặt, biết tên
Họ là những người mẹ miền Nam, tay không bắt giặc (Thuận Yến) Người mẹ
ấy chỉ mong một cuộc sống yên lành, bình dị: “Gieo lúa trồng khoai, ngày qua ngày gặt hái nuôi con, nhưng chẳng được ăn, thù giặc Mỹ, bát cơm ăn còn
Trang 1414
thắm máu đào, cả miền Nam lòng đau dạ xót” Trước sự áp bức, kìm kẹp, mẹ
đã “không thể ngồi yên, nhìn quân thù tàn phá quê hương, mẹ đã đứng lên giành lấy chính quyền, vũ khí mang theo là khối căm hờn, với tình yêu quê hương đất nước” Và với ý chí kiên cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần quật khởi, người mẹ miền Nam chỉ có tay không đã chiến thắng kẻ thù
Gương người phụ nữ anh dũng chiến đấu còn bắt gặp ở ca khúc Người
con gái sông La (Doãn Nho – Phương Thúy) Người nữ dân quân đang ngày
đêm bám sát trận địa để “đếm hàng loạt bom rơi, mặc cho bom nổ bên tai, em vẫn đứng giữa trời”, để khơi thông cho những tuyến đường giao thông huyết mạch Có thể nơi đây là một ca khúc thành công trong việc khắc họa về hình tượng của người phụ nữ Việt Nam Những âm hưởng của chất liệu ví dặm Nghệ Tĩnh, đường nét giai điệu mượt mà đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn
và hình dáng của “người con gái sông La, đôi mắt trong tựa ngọc, đôi giọt nước sông La, trong như trời quê ta”, nhưng rất đỗi gan dạ, kiên cường Người con gái đó chính là biểu tượng sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất, lòng quả cảm cho sự trường tồn vĩnh cửu và tương lai rạng ngời của đất nước
Trong ca khúc Cô gái Sài gòn đi tải đạn, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ đã khắc
họa chân dung những cô gái thanh niên xung phong vừa vui tươi hồn nhiên, vừa gần gũi, bình dị Mở đầu bài hát là nét giai điệu sinh động, rộn ràng tươi vui mang âm hưởng của điệu thức 5 âm trong âm nhạc dân gian, miêu tả được khung cảnh thiên nhiên thơ mộng: “chim kêu ven rừng suối gọi, hoa mai vàng chen lá ngụy trang” Cùng với đó là hình ảnh của người con gái Sài Gòn đi tải đạn, một công việc hết sức nặng nề, vất vả khó nhọc đối với những cô gái mảnh mai: “ta lên đường nặng trĩu hai vai” và mặc dù “sương đêm ướt đầm nón vải”, chị em vẫn “lên đường theo giải phóng quân” Thiên nhiên và con người hòa quyện để từ đó toát lên sự hồn nhiên, yêu đời và tinh thần lạc quan không sợ gian khổ, khó khăn Trên suốt chặng đường vận chuyển, dù “đường
Trang 1515
dài sức nặng càng tăng”, nhưng chị em vẫn hồn nhiên, yêu đời, vẫn coi quả pháo như đứa trẻ, để suốt đêm dài bế trên vai Dù bom rơi, dù bao bốt đồn, chị
em vẫn có một niềm tin bất diệt vào “chiến thắng đang chờ ta”
Trong khí thế sục sôi của cách mạng, hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã hòa mình vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, từ đồng bằng đến miền núi, đâu đâu cũng rộ lên phong trào đánh Mỹ cứu nước Trong giai đoạn này, mảng đề tài phản ánh về cuộc sống chiến đấu của người phụ nữ Tây Nguyên còn khá mới mẻ trong ca
khúc Việt Nam Cô gái vót chông (Hoàng Hiệp – Môlôyclavi) là một trong số
các bài hát tiêu biểu về đề tài này Với âm hưởng của âm nhạc dân gian Tây Nguyên, nhạc sĩ đã khắc họa một hình tượng âm nhạc vui tươi, rộn rã, miêu tả các cô gái Tây Nguyên với tâm hồn lạc quan, yêu đời và tinh thần sục sôi, cháy bỏng ngọn lửa nhiệt tình cách mạng: “như bao cô gái ở trên non, cô gái sông La đầu búi tóc thon, tay vót chông miệng hát không nghỉ”, hay sự tự tin, yêu đời: “ai nhanh tay vót bằng tay em, chim hót không hay bằng tiếng hát em” Hình tượng âm nhạc và lời ca đã tạo cho người nghe cảm nhận được thêm hình ảnh về tương lai của đất nước hòa bình trong không gian bừng sáng: “mai đây giặc chạy rồi, tre làng ta làm nhà, làm chòi cao”
Trong kháng chiến chống Mỹ, hưởng ứng phong trào thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang, ngoài việc tham gia trực tiếp chiến đấu, phụ nữ
còn đảm đương những công việc lao động nặng nhọc nơi hậu phương Đường
cày đảm đang (An Chung) là ca khúc tiêu biểu và khá thành công trong mảng
đề tài này Bằng những cảm nhận tinh tế, nhạc sĩ đã khắc họa hình ảnh người con gái của vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ dung dị, hồn nhiên, chất phác nhưng ẩn chứa trong đó là vẻ đẹp của một tâm hồn cao quý, nồng ấm tình người Để âm nhạc phù hợp với việc miêu tả người phụ nữ, nhạc sĩ đã khai thác âm hưởng và âm hình tiết tấu của làn điệu chèo, kết hợp với các âm
Trang 1616
luyến láy…tạo nên tính chất âm nhạc vừa vui tươi, rộn rang, vừa sinh động, nhẹ nhàng, tha thiết Nội dung lời ca giản dị như lời tâm sự của người phụ nữ hậu phương gửi tới người chồng, người yêu nơi tiền tuyến: “từ ngày anh đi việc đồng em giỏi giang, ruộng cấy chăng dây, cấy lúa thẳng hàng, đào đắp mương dẫn nước quanh làng” Công việc đồng áng vất vả nặng nhọc là thế, nhưng ấp ủ trong lòng các chị là niềm lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi ngày mai: “giặc tan anh về, đón anh thăm đường cày”
Cùng tuyến đề tài này, năm 1966 nhạc sĩ Phó Đức Phương viết Những
cô gái quan họ Ca khúc cho người nghe thấy được hình ảnh người con gái
vùng Kinh Bắc vừa dịu dàng, duyên dáng như cô Tấm trong cổ tích, vừa xinh đẹp đảm đang việc nước, việc nhà Cuộc sống của họ trong chiến tranh càng bận rộn hơn, năng động hơn với bao lo toan vất vả, với bao nắng mưa nhọc nhằn, nhưng nét tươi duyên của người con gái không hề phôi phai Cuối cùng phẩm chất cao quý nhất của người con gái Kinh Bắc một lần nữa được khẳng định “giặc đến giặc không đường về, lúa xanh mùa về vẫn tươi xanh”
Bên cạnh những ca khúc ngợi ca người phụ nữ trong chiến đấu và trong lao động sản xuất, nhiều tác phẩm còn miêu tả về người mẹ, người vợ, người yêu nơi hậu phương, làm hoàn thiện và rạng rỡ hơn hình ảnh người phụ nữ Việt Nam Mảng đề tài này phải kể đến những ca khúc về người mẹ Việt Nam vừa chu toàn việc nước, vừa đảm đang việc nhà, là chỗ dựa tinh thần cho những người con thân yêu yên tâm ra mặt trận
Tấm lòng bao dung nhân hậu ấy còn bắt gặp ở những bà mẹ tuy không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng cũng bám sát trận địa để thức thâu đêm
vá áo cho những chiến sĩ Với tính chất âm nhạc nhẹ nhàng tha thiết, ca khúc
Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa (Nguyễn Văn Tý) đã toát lên hình ảnh một
tấm áo từng theo người chiến sĩ trên khắp các nẻo đường chiến trận Tấm áo
Trang 17Cùng tuyến đề tài về tình mẫu tử còn có các ca khúc như Địu con đi
nhà trẻ (Đào Ngọc Dung), Lời ru trên nương (Trần Hoàn – Nguyễn Khoa
Điềm), Từ trên đỉnh núi (Nguyên Nhung)…
Trong đời sống người phụ nữ, ngoài tình mẫu tử, ta còn thấy một tình cảm cao đẹp, tự nhiên và đáng trân trọng, đó là tình yêu lứa đôi Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, tình yêu của người phụ nữ càng thêm thắm thiết
và cao đẹp lạ thường
Đề tài về tình yêu đôi lứa trong âm nhạc Việt Nam chiếm số lượng khá
phong phú, có thể kể ra một số tác phẩm tiêu biểu: Tình em (Huy Du – Ngọc Sơn), Sợi nhớ sợi thương (Phan Huỳnh Điểu - Thúy Bắc), Em ở nơi đâu (Phan Nhân), Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (Hoàng Hiệp – Phạm Tiến Duật), Tình ca (Hoàng Việt), Nhớ (Lê Yên – Thanh Hải)…
Một trong những ca khúc viết về đề tài này đã để lại dấu ấn tốt đẹp
trong người nghe và trở thành bài ca đi cùng năm tháng, đó là Tình em Vào
đầu bài hát, hình tượng âm nhạc kết hợp với lời ca bằng lối so sánh ví von đã toát lên hình ảnh về một mối tình lãng mạn, xúc động, tràn đầy tinh thần lạc
Trang 1818
quan: “khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh, mà sao em xa anh, đời vẫn xanh rời rợi” Nét giai điệu uyển chuyển, trữ tình, mềm mại kết hợp với lời ca trong sáng như lối kể chuyện, đồng thời cũng như một câu hỏi; tiếp đó
là câu trả lời mộc mạc nhưng triết lý: “có gì đâu em ơi, tình yêu là sự sống” Cái triết lý tưởng như đơn giản ấy lại hàm chứa một niềm tin lạc quan, tin tưởng “nên nắng hửng trong lòng, nhịp đời căng máu nóng” Còn có mối tình nào đẹp hơn khi mà “anh đi xa bao núi, tình em như khe suối, lưu luyến và nhớ thương, chảy theo anh khắp rừng” Tình yêu ấy càng đằm thắm hơn, nồng cháy hơn “anh đi xa càng xa, tình em như cỏ hoa, lưu luyến và thiết tha”, để rồi dù anh có đi bao tháng ngày, thì em vẫn như sông dài
Một ca khúc khác cũng rất xúc động, chân thực khi nói về tình yêu,
nhưng không phải của riêng cá nhân ai, của một con người cụ thể nào Sợi
nhớ sợi thương miêu tả về cảnh của Trường Sơn, nơi cuộc chiến đấu ác liệt
đang xảy ra cùng với thời tiết khắc nghiệt của nắng lửa, mưa rừng “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, bên nắng đốt, bên mưa quây” Chính trong hoàn cảnh đó đã nảy sinh một tình yêu mãnh liệt Tình yêu ấy khao khát và nồng cháy đến mức “em dang tay, em xòe tay chẳng thể nào mà che anh được” Tình yêu ngày càng cháy bỏng hơn như được rút ra từ “sợi nhớ, sợi thương” của chính tấm lòng mình để “nghiêng sườn Đông mà che mưa anh, nghiêng sườn Tây xòe bóng mát” Cuối cùng tình yêu đã được dồn nén để rồi “rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mấy về bên anh”
Cũng viết về đề tài tình yêu trên núi rừng Trường Sơn, Trường sơn
Đông, Trường Sơn Tây miêu tả về một tình yêu đậm chất thơ Họ cùng nhau
sống chiến đấu trên dãy Trường Sơn nhưng “hai đứa ở hai đầu xa thẳm” Tình yêu ấy cũng thật lãng mạn với những nỗi nhớ dâng đầy trong lòng nhưng vì vận mệnh chung của đất nước, của dân tộc nên hai người tạm gạt bỏ nỗi niềm riêng tư để vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc sống Chính tình yêu
Trang 2020
Chương 2 MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA NHẠC SĨ
NGUYỄN VĂN TÝ VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM
2.1 Thân thế sự nghiệp và các sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
2.1.1 Thân thế sự nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Nguyễn Văn Tý sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại Vinh, Nghệ An, quê gốc ở xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, còn quê hiện giờ
ở Vĩnh Phúc Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cha của ông
là "trùm một phường bát âm của miền quê Vĩnh Phú thành thạo cả hát văn, hát chèo và hát ả đào", sau vào làm thợ máy nhà máy xe lửa Trường Thi ở Nghệ An Thuở bé, Nguyễn Văn Tý học ở trường Quốc học Vinh và được một giáo viên người Pháp dạy cho những bài hát của Tino Rossi đang thịnh hành thời đó Trong thời gian tham gia hoạt động hướng đạo, ông được một cha cố người Tây Ban Nha cho vào dàn nhạc nhà thờ hát thánh ca Ở đó ông được học nhạc lý cơ bản và nhất là nâng cao trình độ hòa thanh, hát bè Nguyễn Văn Tý còn được một thầy giáo nhạc sĩ người Hoa tên Mạnh Hinh dạy chơi đàn guitar Hawaii
Từ năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh kiếm sống Năm 1945, Nguyễn Văn Tý tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An Theo lời của Nguyễn Văn Tý, ông bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi là Trưởng phòng Thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương, nhưng ông coi tác phẩm đầu tay của mình
là bài Ai xây chiến lũy được viết 1949
Năm 1948, Nguyễn Văn Tý ở đoàn văn hóa tiền tuyến thuộc Quân huấn cục Sau đó, từ năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công
Trang 2121
của Sư đoàn 304 và làm trưởng đoàn Bản Dư âm nổi tiếng được ông sáng tác khoảng 1950 sau một lần về chơi nhà bạn ở Quỳnh Lưu, Nghệ An, Dư
âm viết về cô em gái của người bạn đó Cũng vì bản nhạc này ông bị đơn vị
đưa ra kiểm điểm vì đã sáng tác một bài hát quá ủy mị, không hợp với thời kỳ
đó Tuy nhiên, bài hát Dư âm sau này lại rất nổi tiếng và được hát nhiều tại
miền Nam Ngoài ra ông còn sáng tác bài Mùa hoa nở, Pha màu luống cày
Đến 1951, Nguyễn Văn Tý giải ngũ và chuyển về công tác ở Chi hội Văn nghệ Liên khu IV Năm 1953, ông yêu rồi lập gia đình với một cô gái rất đẹp Bà sống với ông một năm, sinh hạ một con gái thì qua đời Bảy năm sau, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Bạch Lê, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, cũng có với ông một người con gái Thời gian này ông sáng tác
những bài như Vượt trùng dương (1952), Tiếng hát Dôi-a (1953) và đặc biệt
là ca khúc nổi tiếng Mẹ yêu con (1956) Ba năm sau, cha ông mất
Cuối năm 1957, Nguyễn Văn Tý cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam Sau đó, khi đang là ủy viên chấp hành khóa đầu tiên của hội thì báo Nhân Văn ra đời, xảy ra vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, theo lời khuyên của Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Tý đi tránh và nghiên cứu dân ca Đầu 1961, ông được biệt phái về Hưng Yên Thời gian này, Nguyễn Văn Tý đã viết một số
ca khúc như Chim hót trên đồng đay (1963), Dòng nước quê hương (1963), Tiễn anh lên đường (1964), Múa hát mừng chiến công (1966)
Năm 1967, ông quay về công tác tại Hội nhạc sĩ Việt Nam và tiếp tục viết nhiều bài hát được phổ biến rộng rãi Sau năm 1975, ông chuyển về Viện nghiên cứu âm nhạc, Bộ Văn hóa, cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong khoảng thập niên 1990 ông vẫn sáng tác đều, khoảng hơn 20 bài, nhưng không có ca khúc nào nổi tiếng Đầu năm 2006, một đêm diễn mang tên Dư
Trang 222006 trên SGGP Xuân Đinh Hợi
Năm 2009, mừng thượng thọ 86 tuổi, ông đã có nhã ý tặng người hâm
mộ gần xa clip Nguyễn Văn Tý sự nghiệp và âm nhạc
Đến nay nhạc sĩ đã 91 tuổi, hiện đang sống tại nhà riêng trong một con ngõ nhỏ trên đường Trần Khắc Chân, phường Tân Định, quận 1, thành phố
Hồ Chí Minh
2.1.2 Sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý
Nguyễn Văn Tý sáng tác được khá nhiều bài hát, những sáng tác của
ông lại được đông đảo công chúng mến mộ như Dư âm, Mẹ yêu con, Dáng
đứng Bến Tre, Bài ca năm tấn, Bài ca phụ nữ Việt Nam, Em đi làm tín dụng, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Cô nuôi dạy trẻ
Dư âm có thể coi là ca khúc tiền chiến duy nhất của ông Ca khúc tuy
không được phổ biến ở miền Bắc trong những năm chiến tranh nhưng lại được biểu diễn nhiều ở miền Nam trước năm 1975 Về sau ca khúc được lưu hành rộng rãi, trở thành một trong những bản tình ca được nhiều công chúng
yêu thích Sau này ông có viết thêm bài "Dư âm 2" mang tên Một ánh sao
trời (1988)
Nguyễn Văn Tý là một trong những nhạc sĩ nhạc đỏ thành công với chất liệu dân ca Những sáng tác của ông được chắt chiu và nghiền ngẫm qua những chuyến đi thực tế trong thời gian dài, nhiều sáng tác đã sử dụng khéo
Trang 2323
léo chất liệu dân ca của nhiều vùng miền (Một khúc tâm tình người Hà Tĩnh,
Dáng đứng Bến Tre, Mẹ yêu con ) Một đề tài quen thuộc trong nhiều sáng
tác của ông là phụ nữ với những ca khúc như Bài ca phụ nữ Việt Nam, Mẹ yêu
con, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa Nguyễn Văn Tý cũng là một nhạc sĩ có
nhiều sáng tác "ngành ca": Em đi làm tín dụng, Anh đi tìm tôm trên biển cả,
Chim hót trên cánh đồng đay, Cô đi nuôi dạy trẻ, Bài ca năm tấn
Ngoài ra ông còn viết một số ca khúc thiếu nhi như Tôi là gà trống, Gà
mái mơ, Út cưng Ông còn viết nhạc cho phim hoạt hình, múa rối và một số
vở chèo: Đảo nổi, Sông Hồng (1967), Nguyễn Viết Xuân (1968)
Ông đã xuất bản các tác phẩm: Những dư âm còn lại, video, (VAFACO, 1993), Tuyển chọn ca khúc Nguyễn Văn Tý, NXB Âm nhạc, Hội
nhạc sĩ Việt Nam 1995; Băng chân dung và tác phẩm của Đài truyền hình TP
Hồ Chí Minh
Giải thưởng
Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ
thuật cho các tác phẩm: Mẹ yêu con, Vượt trùng dương, Bài ca năm tấn, Tấm
áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre Trong cuộc đời hoạt động của mình, ông còn giành được một
số giải thưởng như:
Giải nhì (không có giải nhất) của Hội văn nghệ Việt Nam cho bài Vượt
Trang 2424
Giải Ngân hàng với bài Em đi làm tín dụng
Tác phẩm chính
1949 Ai xây chiến lũy 1970 Bài ca phụ nữ Việt Nam
1952 Vượt trùng dương 1973 Tấm áo chiến sĩ mẹ vá
năm xưa
người Hà Tĩnh
1963 Dòng nước quê hương 1976 Người đi xây hồ Kẻ Gỗ
1963 Chim hót trên đồng đay 1980 Cô đi nuôi dạy trẻ
1964 Tiễn anh lên đường 1980 Dáng đứng Bến Tre
1966 Mừng hát chiến công 1999 Ru người trăm năm
2.2 Một số tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết về người phụ nữ Việt Nam
Hình tượng của người phụ nữ luôn luôn thăng trầm theo điều kiện lịch
sử của xã hội Khi ở thời kỳ tiền chiến thì hình ảnh của họ luôn thơ mộng, lãng mạn quyến rũ, khi bắt đầu thời kỳ kháng chiến thì họ trở thành những biểu tượng của người phụ nữ với tám chữ vàng: “Anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang” như Bác Hồ đã tặng Đến giai đoạn giải phóng, người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn là biểu tượng trong xây dựng, trong nông nghiệp, lao động sản xuất và các đề tài lao động khác nhau thì luôn luôn có hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam Vậy nên hình tượng người phụ nữ Việt Nam không bao giờ tách khỏi sự phát triển thăng trầm của đất nước cũng như sự phát triển âm
Trang 2525
nhạc của Việt Nam Người phụ nữ Việt Nam gần như được tôn vinh một cách hoàn hảo, và các nhạc sĩ Việt Nam đã rất tài ba trong việc đưa hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam làm biểu tượng bằng chất liệu dân gian của vùng miền để phác họa lên hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam với tình yêu thương con người trong cuộc sống, tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước và đôi khi là tình yêu lứa đôi Hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà sáng tác trong thi ca nhạc họa và nhất là trong âm nhạc Việt Nam
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý chia sẻ rằng, với ông phụ nữ bao giờ cũng là những người đẹp Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sáng tác rất nhiều ca khúc về phụ
nữ, điển hình như: Tiễn anh lên đường (1964), Bài ca năm tấn (1967), Cô
nuôi dạy trẻ (1980), Bài ca phụ nữ Việt Nam (1970), Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa (1973), Dáng đứng Bến tre (1981), v.v… Vì thế không hổ danh ông
được đồng nghiệp phong cho danh hiệu Nhạc sĩ “chuyên trị phụ nữ”
Nhạc sĩ đã có những khám phá và tìm tòi mới cũng như cách tiếp cận mới
và điều này thể hiện rõ qua một số ca khúc của ông viết về đề tài người phụ nữ
2.2.1 Hình tượng người mẹ
2.2.1.1 Ca khúc “Mẹ yêu con”
Hình ảnh người mẹ luôn là nguồn cảm hứng sáng tác của bao thế hệ nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ Bằng ngôn ngữ riêng của từng loại hình nghệ thuật, hình ảnh người mẹ được khắc họa, ngợi ca dưới nhiều góc độ khác nhau Trong âm nhạc, hình ảnh người mẹ không chỉ được thể hiện qua giai điệu ngọt ngào, thiết tha, êm đềm, sâu lắng, trữ tình mà còn được khắc họa qua ca
từ đã được các tác giả gọt giũa, chắt lọc
Năm 1956, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được đi học lớp kế toán tài
vụ xa nhà ngót nửa năm Ông ở nhà, chuyển sang công tác ở Ban Nhạc vũ –
Trang 2626
thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam Ở nhà chung với hai hộ gia đình khác nên ông biến gầm cầu thang thành nơi ở, đủ để kê một chiếc giường nhỏ và một cái bàn làm việc, một chiếc ghế ngồi Không có chỗ cho con chơi nên lúc nào cũng để con ngồi trên bàn làm việc Một hôm sơ ý, để con tập tễnh đi ra ngoài cửa Rồi nằm lăn ra ngủ ở gốc cây Bà chủ hàng sách bên cạnh thấy thương quá, bèn bế vào trong nhà cho cháu ngủ Nhạc sĩ hớt hởi đi tìm con, tường có
mẹ mìn nào đã bế con đi Bị một phen hết vía, từ đó không dám mải mê làm việc mà quên con như thế nữa Có nuôi con mới hiểu thế nào là mẹ, mới thông cảm với lòng người, chín tháng mang nặng đẻ đau Tình yêu dạt dào như sóng bể, phải có những lời ru chứa đựng được tình này Từ đó ông nảy
sinh ra ý định làm một bài hát ru Ca khúc Mẹ yêu con được ra đời từ đó
Ca khúc Mẹ yêu con được nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý sáng tác vào năm
1956 trong niềm hạnh phúc đón cô con gái nhỏ chào đời Song giá trị của ca
khúc không chỉ dừng lại ở đó Mẹ yêu con là bài ca hoà quyện nhuần nhuyễn
những giá trị truyền thống của dân tộc vào đời sống nhân dân một cách tự nhiên
và đồng điệu, một khúc ca đằm thắm, mạnh mẽ về người phụ nữ Việt Nam
Mẹ yêu con được viết ở nhịp 6/8, giọng Rê trưởng (D dur), thuộc thể
loại đoạn nhạc không nhắc lại, có hai câu và có sự phát triển liên tục
Câu 1:
“À á ru hời ơ hời ru!
Mẹ thương con có hay chăng?
Thương từ khi thai nghén trong lòng
Mấy nắng sớm chiều mưa dòng”
Câu một gồm có bảy ô nhịp, còn câu hai có 13 ô nhịp từ “Chín tháng so chín năm…giữa (ư) mùa xuân” Ngoài hai câu trên, ca khúc còn có kết bổ sung ở cuối tác phẩm:
Trang 27Bước nhảy tuần tự đi xuống ở nốt Fa Mi Rê ngay đầu câu nhạc, tiếp theo dó là bước nhảy quãng 4 ở nốt Rê Là và Là Rê và lặp lại ở nốt La Rê ở ô nhịp thứ 3, bước nhảy đi ngang ở ô nhịp thứ 2 nốt Rê Rê Rê và ô nhịp thứ 5 nốt La La La Ngay từ những nốt nhạc và ca từ đầu tiên đã đem lại cho người nghe cảm giác bình yên và ngọt ngào, dường như yêu thương về tràn ngập Man mác giai điệu hát ru của đồng bằng Bắc Bộ, một âm hưởng mênh mang, bàng bạc, sâu lắng và nồng nàn những ca từ và giai điệu ngọt ngào, hoà quyện
và tràn đầy tình yêu, từ những điều bình dị, gần gũi đến những điều lớn lao
Ai đó không quá khi ví von Mẹ yêu con như một khúc sử thi về tình mẫu tử
Trang 28), tạo hiệu ứng ngân dài tùy cảm xúc của người thể hiện Câu nhạc này đồng thời cũng là cao trào bộ phận của tác phẩm, nhấn mạnh hình ảnh đất nước với hình ảnh của người con, tức người mẹ không chỉ có tình mẫu tử, tình yêu đối với người con của mình mà trong đó còn có cả tình yêu quê hương đối với đất nước nữa
Trang 29Phần kết bổ sung trở về tốc độ ban đầu với tính chất dịu dàng hơn (A tempo – Con tenerezza) Nhạc sĩ khắc họa rõ nét niềm tự hào của người mẹ đối với người con, con sẽ góp phần vào sự phát triển của đất nước, mai đây tương lai con sẽ đẹp lắm Tâm trạng của mỗi người mẹ trên mỗi bước đường con lớn lên cũng là sự gửi gắm, niềm hy vọng của những người mẹ với thế hệ trẻ của đất nước Khép lại ca khúc lại là câu "à á ru hời ới hời ru" khẳng định dẫu thời gian có qua đi, dẫu vật đổi sao dời nhưng tấm lòng của người mẹ vẫn luôn hướng về những đứa con yêu
Trang 3030
Tác phẩm Mẹ yêu con của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cho người nghe
được đắm chìm trong niềm cảm xúc thiêng liêng của tình mẫu tử Nhạc sĩ đã khai thác chất liệu hát ru vùng châu thổ Bắc Bộ và lồng vào đó hơi thở của thời đại mới, với lời ca giàu cảm xúc, thể hiện tình cảm yêu thương của mẹ dành cho đứa con thân yêu của mình Bài hát không chỉ đơn thuần là tình mẫu
tử, mà vượt lên là tình cảm của con dân nước Việt đối với đất nước: “Chín tháng so chín năm, gian khó tính khôn cùng” Ẩn chứa sau tình mẫu tử là hình ảnh đất nước của ngày tươi sáng: “Kháng chiến đã dành đất nước về cho đời Bóng đất nước hình như bóng dáng con tôi” và lời ra của mẹ cứ lắng đọng
ngọt ngào, xao xuyến mãi không thôi Ca khúc Mẹ yêu con của nhạc sĩ
Nguyễn Văn Tý vẫn còn mãi với thời gian, rung động mãi muôn đời
2.2.1.2 Ca khúc “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa”
Bên cạnh những tác phẩm miêu tả về tình mẫu tử của người mẹ, mảng đề tài này còn phải kể đến những ca khúc về người mẹ Việt Nam vừa chu toàn việc nước, vừa đảm đang việc nhà, là chỗ dựa tinh thần cho những người con thân yêu yên tâm ra mặt trận Trong biết bao cung bậc, biết bao nỗi niềm của cuộc sống, bên cạnh những ca khúc mang những âm điệu, âm hưởng dân ca, trong âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vẫn luôn vang
lên những ca khúc “rực lửa” Điển hình phải kể đến ca khúc Tấm áo chiến
sĩ mẹ vá năm xưa Những năm tháng chiến tranh, ca khúc đã đi cùng mỗi
người chiến sĩ, trở thành bài hát khắc cốt ghi tâm Nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Văn Tý đã viết về người mẹ Việt Nam anh hùng đầy trìu mến và yêu thương: “Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo, đời mẹ nghèo trông
áo rách, áo rách nên thương Các con ra đi đã mấy chiến trường mang theo
cả tình thương của mẹ” Nhạc sĩ bồi hồi nhớ lại: “Năm 1973, trong chuyến
đi công tác ở Hà Bắc, tôi được nghe kể lại, cách đây mấy năm, các mẹ các chị trong hội phụ nữ cứ tối tối lại đến các trận địa pháo để thăm hỏi, vá lại
Trang 3131
quần áo cho các chiến sĩ ngày đêm chiến đấu với máy bay Mỹ Nhiều mẹ
đã già, mắt mờ, tay run mà vẫn cặm cụi vá áo trong ánh đèn dầu hiu hắt Tôi đã tìm gặp những người mẹ ấy và thấy có một người rất giống mẹ ruột của tôi Chợt nhớ ngày tôi đi bộ đội và những lần được về thăm nhà, mẹ thường chăm sóc, vá lại quần áo cho tôi Mẹ cũng hay thăm nom, vá lại quần áo cho các chiến sĩ đóng quân trong làng Cứ nhớ về mẹ là lòng tôi lại thấy rưng rưng Hình ảnh mẹ tôi cũng là hình ảnh của tất cả những người
mẹ trên khắp mọi nẻo đường đất nước Tôi đã sử dụng chất quan họ cho ca
khúc này, vì Hà Bắc là quê hương quan họ” Ca khúc Tấm áo chiến sĩ mẹ
vá năm xưa đã được ra đời trong hoàn cảnh như thế Bài hát ra đời năm
1973 trong một chuyến đi thực tế, cảm xúc trước hoạt động của Hội mẹ liệt
sĩ xã Đa Mai, Bắc Giang Hình ảnh các bà mẹ tiễn con bằng những tấm áo với tất cả tấm lòng mẹ đã gửi gắm vào đường kim, miếng vá trong những đêm trắng để chuẩn bị cho ngày mai các con của mẹ đi vào chiến trận Và với tấm áo ấy, con đã đi khắp mọi miền Tổ quốc, đã sưởi ấm lòng con khi
ở chiến trường khốc liệt, nơi ranh giới giữa cái sống, cái chết rất mong manh Tấm áo của mẹ là quê hương, là đất nước, là nguồn động viên vô tận của chúng con trên mọi nẻo đường
Tác phẩm được viết ở giọng Đô thứ (c moll), nhịp 2/4, chất liệu dân ca quan họ, đặc biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã dùng chất ngâm vịnh của làn điệu lới lơ, cụ thể là ngâm sống trong làn điệu chèo làm câu mở đầu và cũng
là âm hưởng chính của cả bài
Tác phẩm thuộc thể loại đoạn nhạc không phân câu rõ rệt, là đoạn nhạc
có kết cấu tự do phức tạp, trong đó có nhiều tiết nhạc, toàn tác phẩm có 6 tiết nhạc, mỗi tiết nhạc có 2 ý nhạc ở trong đó, có nhiều âm hình khác nhau cùng phát triển nên không thể phân biệt câu rõ rệt
Trang 32Bước nhảy đi ngang ở 3 nốt ngay đầu câu nhạc Mi Mi Mi và lặp lại với
3 nốt Đô Đô Đô ở tiết nhịp thứ 2 Sử dụng bước nhảy quãng 4 ở ô nhịp thứ 3, nốt Fa Đồ và bước nhảy quãng 8 liên tiếp ở các nốt Đồ Đô Đồ ở ô nhịp thứ 5 Với giai điệu nhẹ nhàng nhằm miêu tả hình tượng tấm áo mà bấy lâu người con vẫn sử dụng như là vật kỷ niệm để nhớ về Hà Bắc, nơi mà những người
mẹ ở đó đã ngày đêm chăm lo cho các con ra trận Quãng 8 liên tiếp hai lần ở
ô nhịp thứ 5 vào chữ “thường” đã một lần nữa nhấn mạnh hơn sự trân trọng, hình ảnh đẹp đẽ khi các chiến sỹ vẫn ngày đêm khoác lên mình tấm áo mà ở
Trang 34Một lần nữa khẳng định được niềm tự hào, sự hi sinh của người mẹ Hà Bắc nói riêng và những bà mẹ Việt Nam nói chung là hình ảnh bất diệt trong trái tim của hàng triệu triệu người con ra trận
Cùng là những ca khúc viết về hình tượng người mẹ nhưng nhạc sĩ
Nguyễn Văn Tý đã thổi vào mỗi tác phẩm một tính chất riêng Mẹ yêu con
được viết bằng giai điệu hát ru của đồng bằng Bắc Bộ, một tác phẩm về tình mẫu tử và hơn thế nữa là tình yêu quê hương đất nước Những lời hát giản dị được xây dựng trên nền nhạc đằm thắm đượm chất quê hương đã không chỉ lột tả vẻ đẹp của tình mẫu tử mà bài ca còn chất chứa trong đó nỗi vất vả của người mẹ sinh thành và nuôi dạy con Người mẹ trong tác phẩm được khắc họa trong bức tranh màu xám khói bom đạn thù bao năm tháng kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta Nên qua bao tháng ngày cơ cực mang nặng đẻ đau, ước mơ lớn nhất của đời mẹ là mong cho con được sống trong nền hòa bình
độc lập, tự do của đất nước Ca khúc Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa được tác
giả sử dụng chất liệu dân ca quan họ, chất ngâm vịnh của làn điệu lới lơ, bên cạnh đó trong bài còn có sự chuyển điệu từ điệu thứ sang điệu trưởng, thay đổi về cảm xúc, nhịp độ khỏe khoắn hơn Hình ảnh người phụ nữ trong ca
Trang 3535
khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý hết sức đa dạng, phong phú nhưng tất cả đều toát lên được sự dung dị, một lòng chung thủy, sẵn sàng hy sinh hết thảy cho Tổ quốc
2.2.2 Hình tượng người phụ nữ trong tình yêu và chiến đấu
Từ xưa đến nay, người phụ nữ Việt Nam đã để lại dấu ấn đậm nét văn học và trong lịch sử dân tộc, từ Mẹ Âu Cơ đưa các con đi mở nước, đến Hai
Bà Trưng, Bà Triệu phất cờ, dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của ngoại xâm, rồi Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Đô đốc Bùi Thị Xuân, trong bất cứ thời đại nào đều có những người phụ nữ xuất chúng, có công lao với đất nước và sống mãi trong lòng dân tộc
Tiếp nối truyền thống hào hùng đó, phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục cống hiến, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Từ thực tiễn cuộc sống và chiến đấu, đã hình thành nên những phẩm chất, đức tính quý báu rất riêng của người phụ nữ Việt Nam, được Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khái quát qua 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất,
trung hậu, đảm đang”
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phụ
nữ Việt Nam đã trở thành lực lượng cách mạng quan trọng Điển hình là “Đội quân tóc dài” đã trở thành nỗi ám ảnh, khiếp sợ của kẻ thù trong kháng chiến chống Mỹ mà Bác Hồ đã từng khen ngợi: “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ Họ rất mưu trí và
dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài” Chúng
ta không thể quên những thế hệ phụ nữ anh hùng đã đổ mồ hôi, xương máu,
hy sinh tính mạng trong hai cuộc kháng chiến cứu nước như: nữ tướng Nguyễn Thị Định, các chị Nguyễn Thị Út, Trần Thị Lý, Đặng Thùy Trâm…
Bên cạnh đó là câu chuyện về 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc, 12 cô gái Truông
Trang 3636
Bồn là những hình ảnh đẹp đẽ nhất, biểu tượng cho khí phách anh hùng, gan
dạ của người phụ nữ Việt Nam Hình ảnh, tinh thần yêu nước của các mẹ, các
chị sẽ mãi là tấm gương soi sáng, tiếp sức cho thế hệ hôm nay và mai sau
Bên cạnh những đức tính quý báu đó, họ còn mang trong mình những đức tính cần cù, hy sinh, nhẫn nhịn, vị tha, khiêm nhường, thủy chung trong tình yêu như một nét đẹp đặc trưng của phụ nữ Việt Nam Đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ Việt Nam được khắc họa thật đẹp đẽ trong thơ ca:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng” (Trần Tế Xương)
“Con cò lặn lội bờ sông…
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non” (ca dao)…
2.2.2.1 Ca khúc “Tiễn anh lên đường”
Gái miền Bắc vừa dìu dặt, vừa trung tính, nhưng cao hơn, mối tình ấy lại được đặt trong nhiệm vụ chung của đất nước lúc đó là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước “Căm thù giặc Mỹ sục sôi, anh ra nơi tiền tuyến em vào dân quân Đôi chúng ta đã chung một lời nguyền Thề quyết đánh tan giặc
Mỹ, Nguyễn Văn Tý cũng đã khai thác khá nhiều về đề tài người phụ nữ Việt Nam trong chiến đấu và đan xen trong đó có cả cái đẹp của người phụ nữ
trong tình yêu đôi lứa Nổi bật có các ca khúc Bài ca phụ nữ Việt Nam, Dáng
đứng Bến Tre, Bài ca năm tấn, Tiễn anh lên đường, Tiếng hát Zôi-a,… Trong
đó ca khúc Tiễn anh lên đường là ca khúc khá thành công của ông với giải
nhất trong cuộc vận động sáng tác về phong trào phụ nữ 3 đảm đang
Đầu năm 1961, Nguyễn Văn Tý được biệt phái về Hưng Yên sau khi cùng một số nhạc sĩ khác thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam Thời gian này ông
Trang 37Quãng 4 ở nốt La Xi và Mi La ô nhịp thứ 3 và ô nhịp thứ 5, quãng 8 ở hai nốt Lá La và quãng 5 ở nốt Rê La Trong bài, tác giả sử dụng chủ yếu các
Trang 38liên tiếp thể hiện âm vực to hơn, hát to dần, phát triển lên cao trào
Trang 40Nguyễn Văn Tý là nhạc sĩ có đóng góp đáng kể trong việc nâng cao hình ảnh người phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ ở vùng châu thổ Bắc
Bộ nói riêng Với ca khúc Tiễn anh lên đường ông đã cho thấy sự dám nhận
trách nhiệm cao cả và những việc làm cụ thể đáng khâm phục của chị em thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước: “Yên tâm vững bước mà đi, hỡi người mà
em yêu/Việc nhà việc nước dẫu có bao nhiêu em sẽ làm tròn/Anh cứ yên tâm, vững bước anh lên đường…” Và không chỉ có nói thế, mà khi anh nơi chiến trường thì ở nhà người vợ/người chị vào dân quân cũng chắc tay sung bên cạnh việc ruộng đồng làm thủy lợi, sớm hôm vun trồng, cuốc bẫm cày sâu để
lo cho vụ sau đồng lúa xanh rờn Cái niềm tin đã được khơi lên: “Căm hờn lửa đốt càng nung, nhân dân cả nước đang cùng ra tay/Quân Mỹ kia nó xâm phạm vùng này thì các sung đây cùng bắn/Em quyết có ngày em sẽ lập công”
Rõ ràng đây là cái kết có hậu bởi vai trò của người phụ nữ trong kháng chiến