63 Chương 3:ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TRONG QUẢNG BÁ DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN .... Bởi vậy nên tôi lựa chọn đề tài: “Truyền
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO
VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
TRUYỀN THÔNG VỚI QUẢNG BÁ DU LỊCH
VĂN HÓA TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN
Sinh viên thực hiện: Đặng Thị Giang Người hướng dẫn: GV: Nguyễn Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận “Truyền thông với quảng bá du lịch văn hóa
tại Cao nguyên đá Đồng Văn” tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán
bộ sở VHTT&DL, Trung tâm đầu tư và xúc tiến du lịch tỉnh Hà Giang, Ban quản lí CNĐ ĐV - Trung tâm thông tin khu vực Quản Bạ đã nhiệt tình giúp
đỡ, cung cấp thông tin và tư liệu nghiên cứu giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa Văn hóa học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu để tôi vận dụng vào việc hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học cũng như trong công việc sau này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Giảng viên Nguyễn Thị Thanh Thủy – Giảng viên khoa Văn hóa học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện khách quan và chủ quan cũng như thời gian hạn hẹp, vốn hiểu biết còn hạn chế, nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để tôi có thể hoàn thiện hơn nữa đề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên
Đặng Thị Giang
Trang 3DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
VHTT &DL Văn hóa thể thao và du lịch
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 7
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mục đích 11
3.2 Nhiệm vụ 11
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu 110
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 12
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 13
1.1 Cơ sở lí luận 13
1.1.1.Khái niệm truyền thông 13
1.1.2.Khái niệm du lịch 14
1.1.3.Khái niệm văn hóa 14
1.1.4 Khái niệm du lịch văn hóa……… …14
1.1.4.1.Khái niệm 15
1.1.4.2.Đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa 15
1.1.4.3.Các loại hình du lịch văn hóa 16
1.2 Khái quát về Cao nguyên đá Đồng Văn 17
1.3 Giới thiệu một số tour du lịch tại Cao nguyên đá Đồng Văn 19
1.3.1.Tuyến: Đồng Văn – Mã Pì Lèng – Mèo Vạc 19
Trang 51.3.2 Tuyến du lịch: Quản Bạ – Nặm Đăm – Trúc Sơn – Lùng Tám 22
1.3.3.Tuyến du lịch: Mèo Vạc – Mậu Duệ – Ngam La – Đường Thượng – Du Già – Minh Sơn (Bắc Mê) 23
1.3.4.Tuyến du lịch: Quản Bạ – Yên Minh – Đồng Văn 254
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Chương 2:TRUYỀN THÔNG TRONG QUẢNG BÁ DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 29
2.1 Hoạt động du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn 29
2.1.1 Số lượng khách 31
2.1.2 Cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống 39
2.1.2.1 Cơ sở lưu trú 39
2.1.2.2 Dịch vụ ăn uống 43
2.2 Các hình thức truyền thông quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn ………42
2.2.1 Một số hoạt động truyền thông giời thiệu về Cao nguyên đá Đồng Văn trên các phương tiện thông tin đại chúng 47
2.2.2 Truyền thông qua các phương tiện truyền thông trực quan (Pano, tờ rơi, apphich, băng đĩa truyền thông…) 49
2.3 Đánh giá hiệu quả của các phương tiện truyền thông trong quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn 53
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
Chương 3:ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TRONG QUẢNG BÁ DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 65
3.1 Nhận xét chung 65
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông 67
3.2.1 Sở văn hóa thể thao và du lịch 67
Trang 63.2.2 Chính quyền địa phương, ban quản lý Cao nguyên đá Đồng Văn……….70
3.2.3 Đối với người dân 73
3.3 Đề xuất kế hoạch truyền thông cho hoạt động quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
MỤC LỤC PHỤ LỤC ………90
Phụ lục 1: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ……….……… 91
Phụ lục 2: MỘT SỐ CƠ SỞ LƯU TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN CNĐ ĐV 95
Phụ lục 3: MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TRỰC QUAN PANO, TỜ RƠI, TẬP GẤP, CẨM NANG DU LỊCH… 97
Phụ lục 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 98
Phụ lục 5: MỘT SỐ HÌNH ẢNH GIỚI THIỆU DU LỊCH CNĐ ĐV TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN THÔNG……… 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước Việt Nam được biết đến với nhiều danh thắng nổi tiếng được nhiều du khách nước ngoài yêu mến Trong những năm gần đây ngành du lịch
Việt Nam đã và đang có những bước tiến mạnh mẽ
Du lịch có rất nhiều hình thức trong đó du lịch kết hợp với văn hóa đang được chú trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn, phát huy và quảng bá các yếu tố văn hóa của địa phương, vùng miền Đây được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch quốc tế Loại hình du lịch này chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa như: lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những
phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch
Khi nói đến du lịch văn hóa thực chất là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch Đây là một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, qua tiêu thụ nhưng không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường khác mà còn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả
xã hội
Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào, du lịch là ngành có quan hệ mật thiết với văn hóa Nếu nói văn hóa là động lực của sự phát triển, thì đối với du lịch, văn hóa còn được coi là nền tảng, là điểm tựa cho sự phát triển bền vững
Du lịch văn hóa đang trở thành xu thế chủ đạo trong chiến lược phát triển du
lịch
Trong vài năm trở lại đây nhiều hoạt động du lịch văn hóa đã được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Có thể kể đến sự thành công của: Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với
Trang 8sự kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Trong số đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam
Hà Giang cũng được coi là địa phương có tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này trong đó phải kể đến Cao nguyên đá Đồng Văn với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Là địa bàn cư trú của hơn 17 dân tộc anh em trong đó người H’mông chiếm đa số Mỗi dân tộc lại có những nét văn hóa khác nhau, nếu người H’mông với ngôi nhà trình tường, món ăn mèn mén thì người Lô
Lô lại nổi bật với những bộ trang phục nhiều màu sắc được dệt may tinh sảo, cầu kì… tất cả những điều đó đem lại cho cao nguyên đá sắc màu văn hóa độc
đáo, đa dạng
Cao nguyên đá Đồng Văn không chỉ sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên mà còn
có sự đa dạng trong văn hóa tộc người đây chính là điều kiện cần để tạo đà
phát triển cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và các mô hình du lịch văn hóa
Ngày nay, khi phương tiện truyền thông đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống và giúp con người tìm kiếm, định hướng, tiếp cận thông tin một cách dễ dàng thì càng tạo điều kiện cho việc quảng bá với lợi
thế đó du lịch văn hóa ngày càng có cơ hội đến gần hơn với công chúng
Trên thực tế, chính quyền địa phương đã có những chính sách cũng như
kế hoạch quảng bá du lịch thông qua việc kết hợp nhiều hình thức truyền thông hiện đại bao gồm: Bài PR, mạng xã hội và mạng tìm kiếm Google, quảng bá trên Youtube, trên báo in, báo điện tử,… nhằm quảng bá tiềm năng
du lịch văn hóa nơi đây Theo thống kê của ban quản lí khu du lịch lượng khách đến đây ngày một nhiều, đặc biệt là khách nước ngoài Qua đó thấy
Trang 9được những đóng góp mà truyền thông đem lại cho ngành du lịch Hà Giang, biến nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước
Bởi vậy nên tôi lựa chọn đề tài: “Truyền thông với quảng bá du lịch
văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn” làm đề tài khóa luận của mình để qua
đó thấy được những lợi ích mà truyền thông đem lại cho ngành du lịch, đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp góp phần phát huy hơn nữa vai trò của
hoạt động truyền thông với quảng bá du lịch văn hóa tại đây
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hiện nay chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu về du lịch văn hóa Chỉ có một số bài viết phân tích về vai trò của du lịch văn hóa trong phát triển kinh tế - du lịch trên một số website tiêu biểu là:
Bài viết: “Du lịch văn hóa và văn hóa du lịch” trên trang báo điện tử
Ninh Thuận ngày 29/4/2014 Bài viết chủ yếu phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, thực chất của du lịch văn hóa chính là biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch Bài viết chỉ ra để phát triển du lịch văn hóa cần tiến hành đầu tư, quy hoạch để phát triển hiệu quả mô hình này
Bài viết: “Du lịch Văn hóa trong xu hướng Toàn cầu hóa” của tác giả
Nguyễn Thị Thảo – Khoa Du lịch &Ngoại ngữ - Đại học Sao Đỏ được đăng trên trang của trường Cao đẳng Nghệ thuật & du lịch Sài Gòn ngày 7/1/2015 Bài viết chỉ ra tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong việc thúc đẩy toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Tác giả khẳng định tầm quan trọng của yếu tố Văn hóa trong việc phát triển du lịch đặc biệt trong xu thế Toàn cầu hóa Văn hóa được coi là mục tiêu, động lực để phát triển kinh tế - xã hội Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể là chất liệu chủ yếu để hình thành chương trình du lịch và các sản phẩm du lịch văn
Trang 10hóa độc đáo, khác biệt với các quốc gia khác Đem lại sức hấp dẫn cho du khách quốc tế
Bài viết: “Văn hóa: một toa thuốc đặc trị cho ngành du lịch” của tác
giả Trần Anh Dũng đăng trên website của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch ngày 9/11/2008 Bài viết chỉ ra các loại hình du lịch văn hóa hiện đang được các nước tiên tiến khai thác, chỉ ra những kết quả mà văn hóa có thể đem lại cho ngành du lịch như: giải quyết vấn đề gia tăng lượng khách, vấn đề bảo tồn và phát huy môi trường du lịch, du lịch văn hóa là công cụ để khôi phục, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa một cách hữu hiệu, và văn hóa giải quyết vấn đề kiểm soát tác động tiêu cực và nâng cao hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia…
Bài viết: “Ấn phẩm thông tin trong hoạt động xúc tiến quảng bá du
lịch” của tác giả Lê Anh Tuấn – Nguyễn Tuấn Dũng đăng trên website trường
Đại học Văn hóa Hà Nội – Nghiên cứu số 7 Bài viết chỉ ra được những vai trò quan trọng của ấn phẩm thông tin trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, mục đích của việc sử dụng ấn phẩm bao gồm: nâng cao hình ảnh của địa chỉ du lịch, tạo niềm tin cho khách du lịch tiềm năng và quảng cáo để bán sản phẩm du lịch Vì thế, ấn phẩm thông tin du lịch cần được nghiên cứu nhằm tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch Ngoài ra đây còn là phương tiện cung cấp thông tin cho khách du lịch, tạo dựng hình ảnh và nâng cao điểm đến, hướng dẫn du khách lựa chọn điểm đến cho chuyến đi của họ Đồng thời chỉ
ra một số cách phân loại và đề xuất một số những định hướng sử dụng ấn phẩm thông tin du lịch
Bài viết “Một số ứng dụng của Internet Marketing trong kinh doanh du
lịch” của tác giả Trương Sỹ Vinh đăng ngày 9/11/2008 trên website của Viện
nghiên cứu và phát triển du lịch Bài viết chỉ ra tầm quan trọng của Internet
Trang 11Marketing trong việc quảng bá và xúc tiến du lịch Đồng thời nêu ra các hoạt động Marketing thông qua các công cụ Internet, tính ưu việt của Internet và các hình thức Internet Marketing Qua đó chỉ ra tầm quan trọng của Internet trong quảng bá và xúc tiến du lịch
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích
Đề tài muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch văn hóa và đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông với quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn
3.2 Nhiệm vụ
Đề làm rõ mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết các vấn đề:
Tìm hiểu cơ sở lí thuyết về du lịch văn hóa và khái quát về CNĐ ĐV
Phân tích thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở Cao nguyên đá Đồng Văn, đánh giá hiệu quả của hoạt động truyền thông với du lịch văn hóa nơi đây
Đưa ra đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông trong việc quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động truyền thông, quảng bá du lịch văn hóa tại CNĐ ĐV
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các hoạt động truyền thông du lịch văn hóa tại CNĐ ĐV
Thời gian: Từ tháng 1 – tháng 4 năm 2015
Trang 125 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp điều tra xã hội học sử dụng bảng hỏi (Anket)
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn, sách báo, tạp chí, nhất là những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả đi trước Tham khảo thông tin trên các website về du lịch Hà Giang
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Chú thích và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết về du lịch văn hóa và khái quát về Cao
nguyên đá Đồng Văn
Chương 2: Truyền thông trong quảng bá du lịch văn hóa tại Cao
nguyên đá Đồng Văn
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động
truyền thông trong quảng bá du lịch văn hóa tại Cao nguyên đá Đồng Văn
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT
VỀ CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của Dương Xuân Sơn,
Đinh Hường, Trần Quang, các tác giả đã liệt kê ra 15 định nghĩa khác nhau về
đổi, chuyển biến và ứng phó với các tình huống (Martin P Adelsm)
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và
thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn đến sự thay đổi trong hành
vi và nhận thức
Những hành vi truyền thông nguyên thuỷ trong lịch sử loài người đã được tìm thấy trong nhiếu di chỉ khảo cổ trên khắp thế giới Nó cho thấy, con người sống với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc) Thông qua quá trình truyền thông, con người gắn kết với nhau, chia sẻ các mối quan tâm chung, và
Trang 14có những thay đổi trong nhận thức và hành vi Truyền thông là 1 trong những
hoạt động căn bản của bất cứ 1 tổ chức xã hội nào [3, tr.13]
Truyền thông là quá trình giao tiếp, chia sẻ thông tin, suy nghĩ, tình cảm… nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau, nâng cao nhận thức, hình thành
thái độ và thay đổi hành vi của con người
1.1.2 Khái niệm du lịch
Định nghĩa theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Cannada tháng 06/1991 “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian
ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm
vi vùng tới thăm”
“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong
khoảng thời gian nhất định” (theo Điều 10 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam)
1.1.3 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận dưới nhiều góc độ
và nhiều ngành khác nhau Cho đến nay, đã có khoảng hơn 450 định nghĩa về
văn hóa Chính vì vậy, giáo sư Hoàng Vinh trong cuốn “Mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay” đã đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa là tổng thể các hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy làm hình thành một
hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị hiếu, những yếu tố xác định tính
riêng của mỗi tộc người” [4, tr.42]
Trong cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập, in lần 2 có nêu định nghĩa văn hóa của chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
Trang 15đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [5, tr.431]
1.1.4 Khái niệm du lịch văn hóa
1.1.4.1 Khái niệm
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu dựa trên việc khai thác các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra (hay nói cách khác là các giá trị nhân văn) nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng khách du lịch muốn nâng cao hiểu biết, mở rộng kiến thức hoặc tìm hiều chuyên sâu những lĩnh vực văn hóa khác nhau như: Văn học nghệ thuật, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, chế độ xã hội, kinh tế, lịch sử, chính trị, triết học, truyền thống, phong tục tập quán, lối
sống, ngôn ngữ, phục trang… của các dân tộc khác nhau
1.1.4.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa
Đặc trưng thứ nhất: Du lịch văn hóa không mang nhiều tính mùa vụ, ít
chịu tác động trực tiếp của yếu tố khí hậu, thời tiết
Tính mùa vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam được hình thành bởi nhiều yếu tố như: thời gian nhàn rỗi, hoạt động tín ngưỡng và quan trọng nhất là yếu tố khí hậu mà ảnh hưởng rõ nhất ta thường gặp là ở các loại hình du lịch sinh thái như du lịch biển và du lịch núi Còn đối với du lịch văn hóa hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm và ít có cản trở về khía hậu Nhìn vào điểm du lịch văn hóa là các di tích lịch sử văn hóa ở Hà Nội như: Văn Miếu Quốc Tử Giám hay khu vực Lăng Bác, Bảo tàng Hồ Chí Minh,
Chùa Trấn Quốc… hầu như không ngày nào vắng bóng du khách
Đặc trưng thứ hai: Việc phát triển du lịch chủ yếu dựa vào các tài
nguyên du lịch nhân tạo hay còn gọi là nguồn lực nhân văn của mỗi địa
phương
Trang 16Trong khi du lịch sinh thái chủ yếu khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên như: cảnh quan thiên nhiên, các loại hình vui chơi giải trí, thể thao, dưỡng bệnh gắn liền với thiên nhiên thì du lịch văn hóa tập trung khai thác tối
đa nguồn lực nhân văn được con người sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt
và lao động của mình đặc biệt là những biểu hiện đặc trưng văn hóa của mỗi
dân tộc
Đặc trưng thứ ba: Đối tượng khách đa phần thuộc tầng lớp trí thức, có
thu nhập ổn định nên việc kinh doanh du lịch văn hóa thường đem lại hiệu
quả kinh tế cao, tuy nhiên đòi hỏi phải cung ứng những sản phẩm tương ứng
Đặc trưng thứ tư: Du lịch văn hóa tính giải trí không cao so với các loại
hình du lịch khác
Các chương trình du lịch văn hóa thực chất không có tính giải trí cao giúp con người thư giãn hay làm sảng khoái tinh thần nhanh chóng như loại hình du lịch thể thao hay trong các khu vui chơi Thường du lịch văn hóa đem đến cho con người những kiến thức hiểu biết về một nền văn hóa lạ, khám phá, tìm tòi những đặc trưng văn hóa của các dân tộc, quốc gia khác hay sự ngưỡng mộ những thành tựu của con người về kiến trúc, hội họa , âm nhạc, những tư tưởng lớn về văn học nghệ thuật, hoặc lịch sử đấu tranh giữ nước… qua việc đến thăm các di tích, di sản những bằng chứng sống chứng minh cho các giá trị văn hóa quá khứ
1.1.4.3 Các loại hình du lịch văn hóa
Căn cứ vào mục đích tiếp cận kiến thức văn hóa mà ngưới ta thường
phân chia thành hai loại hình du lịch văn hóa như sau:
Du lịch nghiên cứu chuyên sâu: Đối với đối tượng khách du lịch chủ
yếu là các chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học, học sinh, sinh viên có nhu
cầu tìm hiểu sâu về một khía cạnh văn hóa nhất định
Trang 17Du lịch văn hóa thuần túy: Với đối tượng là tất cả các du khách có mục
đích thăm quan tìm hiểu về văn hóa Những du khách này được gọi là khách
du lịch thuần túy
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN
Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở cực Bắc Việt Nam, cách Hà Nội hơn
320 km, thuộc tỉnh Hà Giang Ranh giới khu vực Công viên địa chất bao gồm: Địa giới hành chính của 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc
Tổng diện tích Công viên địa chất là: 2.350km2, chia làm 2 vùng theo mật độ phân bố di sản, mức độ quan trọng của các di sản và chức năng hoạt động của từng vùng, trong đó vùng trung tâm là 1033.45km2, vùng đệm phụ cận là 1314.18km2
Ranh giới vùng trung tâm: Bao gồm toàn bộ địa giới hành chính của huyện Đồng Văn và một phần huyện Mèo Vạc Đây là vùng có mật độ hệ thống di sản địa chất, di sản nhân văn tập trung cao, trong đó các di sản địa chất được xếp hạng quốc gia và quốc tế chiếm phần đa trên toàn bộ hệ thống
di sản của công viên
Ranh giới vùng đệm phụ cận: Bao gồm toàn bộ địa giới hành chính của huyện Yên Minh và huyện Quản Bạ Đây là khu vực mang lại khác biệt về cảnh quan, địa hình, đất đai, khí hậu v.v và đặc biệt tính đa dạng sinh học trong khu vực
Do địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh nên khí hậu trên Cao nguyên đá mang nhiều sắc thái ôn đới và chia làm 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Nhiệt
độ trung bình năm khoảng 24 28ºC, mùa đông nhiệt độ có khi xuống tới 5ºC
Khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn xưa nay đã nổi tiếng là một vùng
xa xôi hẻo lánh, địa hình vô cùng hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thiếu trầm trọng về đất sản xuất và nước sinh hoạt ảnh hưởng không nhỏ đến đời
Trang 18sống của nhân dân các dân tộc Bởi vậy, nếu chỉ dựa vào nông nghiệp truyền thống với nguồn tài nguyên đất và nước quá khan hiếm chắc chắn sẽ khó thoát khỏi đói nghèo Vì thế, việc xây dựng Công viên địa chất Cao nguyên
đá Đồng Văn là một mô hình du lịch mới có thể hạn chế những bất lợi của khu vực để phát triển kinh tế dựa trên chính những điểm mạnh, tiềm năng đặc biệt của Cao nguyên đá Đồng Văn
Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn là nơi chứa đựng nổi bật các loại hình di sản địa chất, di sản văn hoá và đa dạng sinh học Đến nay, các nhà khoa học đã điều tra, xác định được 139 biểu hiện di sản địa chất cụ thể thuộc đủ kiểu loại, với 15 di sản địa chất cấp quốc tế, 68 di sản địa chất cấp quốc gia và 56 cấp địa phương, ngoài ra, còn rất nhiều di sản hang động, di sản hóa thạch trong các tầng đá trầm tích ở Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn chưa có điều kiện nghiên cứu, điều tra, đánh giá
Khu vực Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn là nơi lưu giữ nhiều sự kiện địa chất quan trọng tầm cỡ khu vực và hành tinh, đặc biệt là 2 trong số 5 sự kiện lớn lịch sử sinh giới của trái đất với sự hủy diệt của hàng loạt giống, loài, thậm chí cả họ cổ sinh vật, đó là: Biến cố sinh học Devon muộn xảy ra ở ranh giới Frasni/Famen cách ngày nay 364 triệu năm đã làm cho 19% số họ và 50% số giống cổ sinh bị tuyệt diệt Biến cố sinh học Permi/Trias xảy ra sát trước ranh giới Permi/Trias cách ngày nay khoảng 251 triệu năm, là sự kiện lớn nhất trong 5 biến cố của sinh giới, làm tuyệt diệt khoảng 90% số giống và loài sinh vật biển
Cao nguyên đá Đồng Văn có rất nhiều hang động có ý nghĩa khoa học
và thẩm mỹ, có khả năng khai thác du lịch như: Hang Ong, hang Khố Mỷ, Động Nguyệt, hang Tia Sáng… Ngoài ra còn rất nhiều những hang động đang
ẩn mình trong lòng các khối núi đá vôi vẫn chưa được khám phá Cao nguyên
đá Đồng Văn chiếm một phần diện tích của khu bảo tồn thiên nhiên Du Già
Trang 19và khu bảo tồn loài và sinh cảnh Khau Ca, đây là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam Đặc biệt là loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) là một trong năm loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam và một trong 25 loài linh trưởng của thế giới có nguy cơ tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu
Cao nguyên đá Đồng Văn là địa bàn sinh sống của 17 tộc người, mỗi tộc người có một nét sinh hoạt và tập tục lễ hội riêng Quá trình phát triển gắn bó lâu dài của cư dân các dân tộc trên vùng cao nguyên đá đã để lại những dấu ấn văn hóa đậm nét tạo nên sự đặc sắc và phong phú của văn hóa nơi đây Trải qua những thăng trầm biến cố của lịch sử và sự phát triển về mọi mặt của xã hội, đồng bào vùng Cao nguyên đá vẫn luôn giữ gìn được giá trị bản sắc riêng với nhiều nét quyến rũ
Đến với cao nguyên đá không thể không nhắc đến di sản vật chất còn nguyên giá trị về lịch sử, văn hoá những biểu tượng độc đáo về nét văn hóa kiến trúc của cư dân trong vùng Nhiều di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được công nhận là di tích cấp quốc gia như: Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Vương, di tích kiến trúc nghệ thuật Phố cổ Đồng Văn, di tích lịch sử danh lam thắng cảnh Cột cờ lũng cú, di tích lịch sử danh thắng đèo Mã
Pì Lèng và rất nhiều các di tích khác cũng góp phần làm nên một Cao nguyên
đá Đồng Văn vô cùng hấp dẫn, bí ẩn và cuốn hút
Ngoài ra nét văn hóa độc đáo để lại ấn tượng sâu sắc cho du khách khi đến với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn chính là lễ hội của các dân tộc: Lễ hội “Gầu Tào” của người H’mông, lễ “cúng thần rừng” của người Pu Péo… và nhiều hoạt động lễ hội tín ngưỡng khác Nhưng nổi bật nhất vẫn là chợ tình Khau Vai đây là nơi kết tinh những mối tình đôi lứa,
là cách đồng bào dân tộc duy trì và tiếp nối sự phát triển gắn chặt tình cảm của đời mình với thiên nhiên, đá, cây cỏ nơi đây Hơn nữa đến với CNĐ ĐV
Trang 20không thể không nhắc đến chợ Phiên một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, đây không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà quan trong là nơi giao lưu của bà con các dân tộc Trong chợ phiên có rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú diễn ra như: Thổi kèn, đàn môi, hát giao duyên v.v.v
Cao nguyên đá Đồng Văn, một miền đất hoang sơ với nhiều núi non trầm mặc như trong truyện cổ tích, sẽ là điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong
và ngoài nước, tạo điều kiện góp phần đưa kinh tế của địa phương phát triển
1.3 GIỚI THIỆU MỘT SỐ TOUR DU LỊCH TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN
1.3.1 Tuyến: Đồng Văn – Mã Pì Lèng – Mèo Vạc
* Đặc điểm tuyến:
Đây là tuyến đường bộ nối trung tâm 2 huyện Cụm du lịch vùng CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn (Huyện Mèo Vạc) Cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay đang được nâng cấp Hiện tại trên tuyến chưa có dịch vụ xe khách và các địa điểm cho thuê xe gắn máy
Độ dài: 24km (dọc theo quốc lộ 4c nối trung tâm 2 huyện với nhau)
* Điểm du lịch trên tuyến:
- Du lịch địa chất:
Tham quan hẻm vực Mã Pì Lèng Hẻm vạc sâu 700 – 800m, dài 1,7km
là danh thắng kỳ vĩ nhất của CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn
Khu vực đèo Mã Pì Lèng còn có một chóp núi đá vôi rất độc đáo là Tháp Kim Pả Vi, một biểu hiện điển hình của quá trình trẻ hóa địa hình karst v.v đã tạo ra ở đây một cảnh quan vô cùng độc đáo
Ngoài ra, cũng ngay trên vách taluy đường ở khu vực này còn quan sát thấy những nếp gợn sóng trên mặt lớp của đá vôi, các nhà khoa học cho rằng
đó chính là những sản phẩm của quá trình nén ép kiến tạo vì đá vôi silic hệ tầng Si Phai thành tạo trong môi trường biển sâu
Trang 21Cũng tại khu vực đèo Mã Pì Lèng, một số giá trị di sản địa chất khác đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, như ranh giới F/F, ranh giới D/C, ranh giới giữa các hệ tầng Si Phai và Bắc Sơn, karst cổ
Tham quan di tích đáy cổ nhất của Mèo Vạc treo trên sườn của độ cao 900m có giá trị khoa học là di tích sót ở vùng núi được nâng cao mạnh (bậc thềm xâm thực cổ)
Nếp uốn trong đá vôi silic ở đèo Mã Pì Lèng: Lần đầu tiên được phát hiện ở Đồng Văn – Mèo Vạc trên vách đứng đá vôi cách ngày nay 400 triệu năm được hình thành do dòng sóng của đáy biển cổ và được chứng nhận là di sản địa chất cấp quốc gia
- Du lịch văn hoá:
“Con đường Hạnh Phúc” một di tích lịch sử – danh thắng cấp quốc gia
mà hàng vạn đồng bào 16 dân tộc các tỉnh Cao Bắc Lạng, Thái Tuyên Hà, Hải Hưng và Nam Định đã đổ biết bao mồ hôi và xương máu trong suốt 5 năm liền (từ 10/9/1959 đến 15/6/1065) để làm nên Chỉ riêng đoạn qua đèo Mã Pì Lèng hơn 1.000 thanh niên xung phong đã phải treo mình trên vách đá trong suốt 11 tháng ròng, thậm chí phải thành lập cả đội cảm tử, để phá đá mở đường Đây cũng là một kỳ tích về sức mạnh đoàn kết của đồng bào các dân tộc anh em trên Cao nguyên đá, một kỳ tích đã được khắc vào bia đá để du khách đến tham quan đèo Mã Pì Lèng giờ đây có thể hồi tưởng một cách trân trọng
Tham quan và tìm hiểu phong tục tập quán làng văn hóa dân tộc LôLô thôn Sảng Pả A, tham quan và tìm hiểu về lễ hội cầu mưa của người Lô Lô Với những nghi thức đặc sắc, độc đáo, lễ cầu mưa được lưu truyền từ đời này tới đời khác, đến nay không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng, mà còn
là dịp để mọi người gặp gỡ, bàn chuyện làm ăn, trai gái giao duyên
Trang 22- Sản phẩm du lịch trên tuyến:
Thăm quan và tìm hiểu các điểm các điểm di sản địa chất trên tuyến
Tìm hiểu các phong tục tập quán cũng như bản sắc văn hóa của các dân tộc
dọc tuyến Tìm hiểu cuộc sống người dân bản địa sinh sống quanh khu vực
Độ dài: Tuyến có độ dài khoảng 25 km
Tình trạng giao thông: toàn bộ tuyến đều bằng đường nhựa khá tốt có thể đi được bằng các phương tiện giao thông đường bộ
- Điểm du lịch trên tuyến: Tìm hiểu văn hóa dân tộc
Làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Dao thôn Nặm Đăm xã Quản
Bạ Thôn Nặm Đăm có 47 hộ, gồm 235 khẩu được triển khai xây dựng làng văn hóa du lịch cộng đồng từ năm 2008 Thăm quan và tìm hiểu nét độc đáo trong phong tục, nghi lễ truyền thống và ngay cả trong sinh hoạt thường nhật Tham gia lễ hội tiêu biểu và các trò chơi dân gian của dân tộc Dao vẫn được lưu truyền và gìn giữ
Làng văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Dao thôn Trúc Sơn, một ngôi làng cổ của đồng bào dân tộc Dao Tìm hiểu về kiến trúc nhà cổ, văn hóa ẩm thực, về cuộc sống của người Dao nơi đây
Trang 23Xã Cán Tỷ: Thăm quan Cổng thành – một trong những dấu ấn cho cuộc kháng chiến chống Pháp Thăm quan nghề dệt Lanh truyền thống của người dân địa phương
Hợp tác xã dệt lanh truyền thống Hợp Tiến, xã Lùng Tám Thăm quan các tổ xản xuất tại gia đình
Du khách tìm hiểu về nghề dệt thổ cẩm, tham gia vào quá trình sản xuất và mua các sản phẩm lanh tại chỗ
1.3.3 Tuyến du lịch: Mèo Vạc – Mậu Duệ – Ngam La – Đường Thượng – Du Già – Minh Sơn (Bắc Mê)
- Lộ trình tuyến và tình trạng giao thông
Tuyến có 3 phần, mỗi phần của tuyến có đặc điểm giao thông khác nhau:
Phần tuyến từ Trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc đến Mậu Duệ (Yên Minh) theo quốc lộ 4B và tỉnh lộ 176 đến xã Mậu Duệ (độ dài 30km) là đoạn đường rải nhựa có thể đi bằng các loại phương tiện đường bộ từ dưới 30 chỗ ngồi Tuy nhiên chất lượng đường hiện nay đã xuống cấp nghiêm trọng
Phần tuyến đi từ Mậu Duệ – Ngam La – Lũng Hồ – Du Già – Minh Sơn đến km31 quốc lộ 34 (Minh Ngọc) có độ dài 76km Chủ yếu là đường đất, một số đoạn trải cấp phối Hiện nay cơ sở hạ tầng giao thông toàn tuyến đang nâng cấp chỉ có thể đi được bằng xe gầm cao, xe gắn máy
* Điểm du lịch trên tuyến:
- Du lịch văn hóa
Chợ phiên Lũng Phìn
Thôn Kẹp (Kẹp A và Kẹp B) Chợ Du Già huyện Yên Minh
Vị trí: Cách trung tâm thị trấn Yên Minh 65 km về phía Đông Nam, trên trục đường Mậu Duệ (Yên Minh) – Minh Sơn (Bắc Mê)
Trang 24Chợ họp ngay ở trung tâm xã, địa hình tương đối bằng phẳng Đây là một trong những phiên chợ khá hoang sơ và đậm nét văn hoá dân tộc, du khách đến đây có thể tìm hiểu một số những nét văn hóa độc đáo, đồng thời thưởng thức các hoạt động văn hoá văn nghệ
Các sản phẩm: rượu ngô, thắng cố, hàng thổ cẩm, đồ đan lát…
- Du lịch cảnh quan
Cua M
Hệ thống vách trượt cắt qua đá vôi liên quan đứt gãy Yên Minh – Chợ
Mới là ranh giới giữa đới Sông Gâm và Sông Hiến
Hệ thống cảnh quan ruộng bậc thang núi đất
Hang Nà Tậu
Hang Bản Vàng
Chỏm đá vôi hình tháp trong thung lũng đứt gãy phương TB – ĐN Các chỏm đá vôi dạng tháp bị dăm hoá trong trũng đứt gãy phương Tây
Bắc – Đông Nam hình thành trong Tân kiến tạo
Địa hình cuesta tạo nên các kim tự tháp lệch
Ruộng bậc thang trên đá lục nguyên hệ tầng Sông Hiến
Hẻm vực Nậm Lang sâu gần 400m ở phía Bắc xã Du Già có thể coi là
hẻm vực Tu Sản thứ 2 của CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn
- Sản phẩm du lịch trên tuyến: Thăm quan và tìm hiểu văn hoá các dân tộc
trên tuyến, thăm quan chợ Phiên và thăm quan rừng nguyên sinh Du Già
- Cơ sở lưu trú:
Trang 25Hiện nay trên tuyến chưa có dịch vụ Homestay tại các làng, bản của đồng bào dân tộc Du khách có thể nghỉ tại các cơ sở lưu trú ở thị trấn Yên Minh
1.3.4 Tuyến du lịch: Quản Bạ – Yên Minh – Đồng Văn
* Huyện Quản Bạ:
- Điểm du lịch Văn hóa:
Chợ Quyết Tiến: Chợ họp vào ngày thứ 7 hàng tuần, là nơi giao thoa văn hóa của các dân tộc xã Quyết Tiến và các xã lân cận
Chợ Quản Bạ: Là phiên chợ lớn nhất của huyện, họp chợ vào ngày chủ nhật hàng tuần và kéo dài đến hết chiều Các sản phẩm gồm: rượu ngô Thanh Vân, hàng nông sản (rau, quả ), hàng thổ cẩm, đồ trang sức làm bằng bạc…
Thăm vườn rau sạch xã Quyết Tiến
Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Nặm Đăm: Làng văn hoá du lịch cộng đồng thôn Năm đăm được du khách biết đến bởi những làn điệu dân ca, dân gian truyền thống như hát đối, hát giao duyên, hát đám cưới… cũng như các lễ hội tiêu biểu như lễ Cấp sắc, lễ cúng Cơm mới, lễ Cầu mùa…vv Tại đây du khách sẽ có dịp thưởng thức các món ăn dân tộc địa phương do người dân tự chế biến Ngoài ra người Dao thôn Nặm Đăm còn có nghề thêu hoa văn trên trang phục dân tộc, tự may những bộ trang phục với những nét hoa văn độc đáo được trang trí hài hoà trên quần áo của người phụ nữ, cùng với
đồ trang sức bằng Bạc như hoa tai, vòng cổ, vòng tay, và khăn quấn đầu đã tạo nên sự duyên dáng khác biệt cho người phụ nữ dân tộc Dao
Hợp tác xã dệt lanh truyền thống thôn Hợp Tiến: Hợp tác xã dệt lanh Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ, nằm cạnh bên bờ sông Miện, cách trung tâm huyện 12km, nơi có khí hậu ôn hòa, con người hòa nhã, thân thiện
Trang 26Đây là nơi cư trú của đồng bào dân tộc H’mông nổi tiếng với nghề dệt Lanh, nhuộm chàm và vẽ sáp ong, cũng là nơi mà: “chỉ có mặc vải lanh, mình mới không bị lạc tổ tiên…”,
* Huyện Yên Minh:
- Điểm du lịch Văn hóa: Một số điểm tham quan du lịch chính của
huyện: Rừng đặc dụng; hang Làng Khác (xã Du Già); hang Nà Tậu, hang Bản Vàng (xã Hữu Vinh); hang Chúng Pả và nơi ở của đồng chí Đặng Việt Hưng trong những ngày đầu đến xây dựng cơ sở cách mạng (xã Đường Thượng), Cổng thành (xã Lũng Hồ), hang Nà Luông (xã Mậu Long), Ruộng bậc thang
(xã Ngam La), Cổng thành (xã Lao Và Chải)…
Làng văn hóa thôn Bục Bản, thị trấn Yên Minh: Nằm cách trung tâm thị trấn Yên Minh 1,5km, huyện Yên Minh Thôn có 4 dân tộc: Nùng, Bố Y, Tày và Giấy, có 53 hộ và 249 nhân khẩu cùng sinh sống Văn hóa đặc trưng của thôn tập trung vào dịp lễ tết, bà con trong thôn thường tổ chức một số lễ hội dân gian truyền thống như: Kéo co, đánh yến, đánh sảng, hát phướn, hát cọi Nhà cửa của thôn vẫn giữ được bản sắc như nhà sàn, mái lợp ngói máng
địa phương
Lễ Cấp sắc dân tộc Dao thôn Lùng Búng xã Na Khê: Cấp sắc là một thủ tục không thể thiếu của đàn ông Dao Lễ cấp sắc cũng tương tự như lễ thành đinh của một số dân tộc khác Đối với người đàn ông dân tộc Dao sau khi tiến hành cấp sắc mới được coi là người đàn ông đã trưởng thành, được
làm nghề cúng bái và được giao tiếp với cõi âm
Lễ mừng cơm mới dân tộc Xuồng thôn Bó Mới, xã Đông Minh: Cúng cơm mới là lễ thức cúng tế sau một mùa lúa nhằm cảm tạ trời đất, ông bà tổ tiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, tránh được dịch bệnh, mùa màng bội thu
Trang 27Khi những đám ruộng chín vàng rộm, chuẩn bị chờ ngày gặt là mọi người đã nghĩ tới lúc nào thuận lợi để làm bữa cơm mới Người thì tính làm khi đang thu hoạch dở dang hay khi thóc lúa đã đầy bao nhưng phải thuận mọi bề công việc để anh em, họ hàng, hàng xóm có thể đến vui cơm mới cùng gia đình mình
* Huyện Đồng Văn
- Điểm du lịch Văn hóa
Làng Văn hóa du lịch Thôn Sủa Pả A và Trúng Pả A: nằm cách đường quốc lộ 4C khoảng 700m Hai thôn còn giữ được nhiều nét phong tục, tập quán cũng như văn hoá bản địa Các ngôi nhà được trình tường, lợp ngói máng địa phương, tường xếp đá quây xung quanh nhà tạo nên những nét đặc thù của dân tộc H’mông nơi đây Hai thôn nằm trong thung lũng xã Phố Cáo với cảnh quan đẹp, địa hình rộng, bằng phẳng, xung quanh là những vách núi
đá cao, trùng điệp, cư dân sống tương đối tập trung
Làng Văn hóa thôn Lũng Cẩm trên: Nằm trên trục đường quốc lộ 4C, thuộc xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, nơi sinh sống của dân tộc Lô Lô và H’mông Nơi đây nổi bật với cảnh quan tự nhiên đặc sắc, đã đi vào phim ảnh
và là nơi chọn làm làng văn hóa du lịch Kiến trúc nơi đây lưu lại một thời
trồng cây dược liệu quý (thuốc phiện) của vùng núi đá vôi
Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Vương: Khu nhà Vương là dinh cơ kiêm pháo đài của dòng họ Vương Được xây dựng theo kiến trúc cổ Trung Quốc (đời Thanh) hình chữ Mục với kiến trúc độc đáo
Khu phố cổ Đồng Văn: Phố cổ phân bố trên diện tích hơn 10.000m2, bao gồm khu chợ và những ngôi nhà cổ thuộc hai thôn Quyết Tiến và Đồng
Tâm Hiện nay, Phố cổ Đồng Văn còn 2 ngôi nhà cổ có niên đại trên 100 năm
Trang 28và 18 ngôi nhà xây dựng vào giai đoạn 1915 – 1930, trong đó có khu chợ cổ huyện Đồng Văn Nhìn về tổng thể phong cách kiến trúc của Phố cổ có sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống của cư dân bản địa với kiến trúc của cư dân
vùng Hoa Nam (Trung Quốc) Cũng như các vùng miền đa dân tộc khác, Phố
cổ Đồng Văn là khu vực đa sắc màu văn hoá Người Tày chiếm đa số trong cộng đồng dân cư và có đời sống văn hoá nổi trội so với các dân tộc có số dân
ít hơn Tuy nhiên, mỗi dân tộc nơi đây vẫn bảo lưu được những nét sinh hoạt
văn hoá tinh thần đặc trưng của dân tộc mình
Chợ phiên Đồng Văn: Chợ phiên Đồng Văn họp vào ngày chủ nhật hàng tuần Chợ phiên là nơi giao lưu, trao đổi và buôn bán các sản phẩm nông
nghiệp của người dân địa phương
Tham quan đỉnh Mã Pì Lèng: Nơi được coi là đỉnh đèo có cảnh quan
hùng vĩ, và đặc sắc nhất trên CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Cao nguyên đá Đồng văn là thành viên của mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu với vị trí đặc biệt là cầu nối vòng cung Đông Tây Bắc, đây là một cơ hội lớn cho phát triển du lịch gắn với danh hiệu công viên địa chất toàn cầu
Với đặc điểm nổi bật là những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, những vách núi dựng đứng cao vút, các chóp núi như những kim tự tháp, các trũng sâu hun hút, hang động và các vườn đá tạo nên vẻ đẹp
lạ thường có giá trị to lớn về du lịch
Là một vùng có đồng thời nhiều di sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc đặc sắc công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn Tại đây phục vụ du khách tìm hiểu văn hóa, kiến trúc và sinh kế của cộng đồng các dân tộc bản địa trong công viên Đây là điều kiện tốt để phát triển du lịch nói chung và
đặc biệt là loại hình du lịch văn hóa
Trang 30Chương 2 TRUYỀN THÔNG TRONG QUẢNG BÁ DU LỊCH VĂN HÓA
TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN 2.1 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN
Trong những năm qua, do kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất còn kém nên chưa có nhiều doanh nghiệp lữ hành đưa khách nên Cao nguyên đá Đồng Văn Việc quảng bá Cao nguyên đá Đồng Văn đến du khách trong nước và quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, việc quan tâm đến cao nguyên đá chưa nhiều, các nhà đầu tư chưa mạnh dạn đầu tư vào CNĐ ĐV Nhiều điểm du lịch vẫn chưa tạo được sức hút với khách du lịch Các cơ sở dịch vụ như nhà hàng, khách sạn về cơ bản còn chưa đáp ứng được nhu cầu khách du lịch và
chất lượng còn thấp
Tuy nhiên trong 2 năm trở lại đây CNĐ ĐV đã có nhiều bước tiến, lượng khách du lịch đến đây ngày một nhiều, hàng loạt các tour du lịch được
mở ra, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng cũng có nhiều thay đổi Đây là cơ hội để
CNĐ ĐV xây dựng thương hiệu du lịch của mình
“Xác định du lịch văn hóa là thế mạnh của vùng cao nguyên đá, UBND tỉnh giao cho sở nông nghiệp và phát triển nông thông lên kế hoạch đầu tư phát triển mới và khôi phục các làng nghề truyền thống trên địa bàn công viên như: Sản xuất ngói máng, rèn, đúc vật dụng phục vụ sản xuất; sản xuất Khèn
Mông; dệt thổ cẩm; nuôi ong…” [13, tr.12]
Việc xây dựng khôi phục làng nghề sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình du lịch cộng đồng, du khách được trải nghiệm cuộc sống của người dân, cùng tham gia lao động sản xuất, có thể sở hữu những sản vật địa phương khi kết thúc chuyến đi
Trang 312.1.1 Số lượng khách
Hà Giang là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách trong nước
và quốc tế Theo thống kê năm 2014, toàn tỉnh Hà Giang đón 650.000 lượt khách, tăng 25% so với năm 2013, trong đó khách quốc tế đạt 120.000 lượt; doanh thu đạt gần 600 tỷ đồng tăng 20% so với năm 2013 trong đó lượng khách lên CNĐ ĐV chiếm 80% Lượng khách quốc tế ước đạt 120.000 lượt, chủ yếu là khách đến từ Trung Quốc; khách nội địa đạt 530.000 lượt, tăng
35,9% so với năm 2013 và tăng 17,8% so với kế hoạch năm 2014
Doanh thu du lịch, dịch vụ du lịch năm 2014 ước đạt gần 600 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2013 và tăng 9,1% so với kế hoạch năm 2014 Qua đó thấy được tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch đã và đang trở thành điểm nhấn mới cho kinh tế của tỉnh, mục tiêu phát triển bền vững bước đầu
đạt được kết quả như mong đợi
Trong hội nghị hợp tác Việt Bỉ của viện khoa học khoáng sản Việt Nam
đã đưa ra mục tiêu phát triển cho toàn ngành du lịch Hà Giang phấn đấu đến
năm 2020 toàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng GDP du lịch cao, cụ thể:
“Đẩy mạnh phát triển du lịch, xây dựng Hà Giang thành một trung tâm du lịch của vùng Đông Bắc Phấn đấu tăng số khách du lịch đến Hà Giang từ 145.000 lượt năm 2005 đến 450.000, 700.000
và 1.000.000 lượt khách tương ứng vào các năm 2010, 2015 và
2020 Phấn đấu GDP du lịch, khách sạn nhà hàng tăng từ 35 tỷ đồng năm 2005 lên 140 tỷ đồng năm 2010 và 400 tỷ đồng năm
2020 Tăng tỷ trọng giá trị GDP của ngành từ 1,6%/năm lên 3,5%/năm vào năm 2010 và 5-6%/năm vào năm 2020 Tăng số ngày lưu trú của khách trong nước từ 1,8 lên 3 ngày và của khách
Trang 323,0-nước ngoài từ 0,8 ngày lên tương ứng 1,5 và 2 ngày vào các năm
2015 và 2020” [9, tr.3]
Hà Giang được biết đến với những danh thắng đẹp: Thác Tiên đèo Gió, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, cánh đồng hoa Tam Giác Mạch, các khu di tích lịch sử,…và nói đến sự đóng góp cho phát triển du lịch không thể bỏ qua vai trò của CNĐ ĐV Ngày 3 tháng 10 năm 2010, hồ sơ "Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn" đã được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất toàn cầu Đây hiện là danh hiệu duy nhất ở Việt Nam và thứ hai ở Đông Nam Á chính nhờ đó đã thu hút hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm
đem lại nguồn thu không nhỏ cho du lịch toàn tỉnh
Trong hai năm 2013, 2014 Công viên địa chất toàn cầu - Cao nguyên
đá Đồng Văn đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế đến thăm quan trải nghiệm, tìm hiểu văn hóa bản địa và khám phá những nét đặc
sắc của vùng Cao nguyên đá
Đặc biệt lượng khách du lịch đến CNĐ ĐV tăng vọt vào những mùa lễ tết Khách thăm quan chủ yếu trong độ tuổi từ 18 – 30 chiếm 94 % đây được xác định là đối tượng mục tiêu mà du lịch Hà Giang hướng đến Đây là nhóm
đối tượng có kinh tế và nhu cầu du lịch
Đặc biệt đến thăm CNĐ ĐV vào mùa xuân du khách sẽ được tham dự các lễ hội truyền thống, được đón tết cổ truyền và thưởng thức những món ăn mang đậm văn hóa nơi đây Tận hưởng không khí trong lành cùng trải nghiệm cuộc sống của người dân địa phương
Trang 33Bảng 2.1 Mùa du khách lựa chọn đến Cao nguyên đá Đồng Văn
[Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát tháng 4/2015]
Theo kết quả khảo sát cho thấy có tới 53,16 % lựa chọn đến CNĐ ĐV vào mùa xuân, 13,92 % chọn mùa hè, 16,45 % lựa chọn mùa thu, 12,65 % lựa chọn mùa đông, có 3,79 % lựa chọn cả 4 mùa Theo thống kê trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi – 2015, Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn đã đón gần 5.500 lượt du khách đến tham quan du lịch, với doanh thu đạt trên 5,5 tỷ đồng, trong đó lượng khách quốc tế cũng tăng hơn so với
cùng kỳ năm trước 10%” [Nguồn: Dongvan.gov.vn]
Doanh thu du lịch ngày càng cao, lượng du khách ngày một nhiều điều
đó chứng tỏ sức hấp dẫn của CNĐ ĐV Theo số liệu của ban quản lí CNĐ
ĐV lượng khách du lịch vào trung tâm thông tin khu vực Quản Bạ so sánh lượng khách giữa quý I/2014 và quý II/2015 thấy được sự thay đổi rõ rệt về
lượng khách du lịch đến đây
Theo số liệu thống kê trong 3 tháng đầu năm 2015 khách đến CNĐ ĐV của Trung tâm thông tin khu vực Quản Bạ tổng số là 10.040 lượt, khách trong nước chiếm 8.910 lượt người, khách quốc tế là 1.130 trong đó chủ yếu là khách
du lịch đến từ Pháp chiếm 50%, Anh chiếm 30% giảm 10 % so với quí I/2014
và các quốc gia khác là 20% Số lượng khách quốc tế khá khiêm tốn, chủ yếu
Trang 34là đến từ Pháp so với quí I/2014 tăng 10% Tuy nhiên đây cũng là thành công
lớn bởi lượt khách đến tăng đáng kể
Bảng 2.2 Lượng khách du lịch lên Công viên địa chất Quý I/2015
%
3 Tổng số 3.150 3.380 3.510 10.040
[Nguồn: Trung tâm thông tin khu vực Quản Bạ - 2015]
[Nguồn: Trung tâm thông tin khu vực Quản bạ - 2015]
Theo thống kê, tổng lượng khách quý I/2014 là 6.420 (lượt) trong đó khách nước ngoài là 870 (lượt), khách nội địa 5.550 (lượt) Trong quý I/2015 tổng lượt khách là 10.040 (lượt) tăng 3.620 (lượt) so với quý I/2014, khách nội
Trang 35địa là 8.910 (lượt) tăng 3.360 (lượt), khách quốc tế là 1.130 (lượt) tăng 260 (lượt) Con số thống kê cho thấy, CNĐ ĐV đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước khi con số lượt khách đến ngày càng tăng
Theo kết quả cuộc khảo sát của Ban quản lý Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn phần lớn du khách quốc tế chia sẻ: Họ lo lắng nhất khi trải nghiệm cuộc sống với người dân bản địa là điều kiện ăn ở, tắm giặt chưa đảm bảo vệ sinh, tiện nghi thiếu thốn, nên không giữ chân họ ở lại lâu dài Hầu hết nhà cộng đồng ở đây chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách
Tuy nhiên vấn đề đặt ra với ngành du lịch là nếu xây dựng mô hình homestay thiết kế hiện đại thì lại không phù hợp với khung cảnh và nhu cầu của du khách Đây là bài toán nan giải khiến cho các cấp quản lí đều lo lắng Cần xây dựng được những mô hình “homestay” đạt tiêu chuẩn để thu hút khách thăm quan
Theo số liệu thống kê của sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Hà Giang lượng khách du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn ngày một nhiều nhất là hai huyện thuộc khu vực trung tâm đó là huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc Từ tháng 1- 8/2014 toàn huyện Đồng Văn đã đón 7.694 đoàn khách, tương đương với 49.783 lượt khánh đến tham quan, du lịch, trong đó khách nước ngoài là 1.203 đoàn, tương đương với 2.769 lượt khách Và con số đã tăng vọt theo thống kê từ tháng 1/2015 đến tháng 3/2015, huyện Đồng Văn đã đón 14.105 đoàn khách, với 80.632 lượt khách đến thăm quan, du lịch Trong đó khách quốc tế là 1.801 đoàn, với 4.412 lượt khách Lượng khách đến Đồng Văn ngày một tăng bởi nơi đây sở hữu nhiều cảnh quan, và các yếu tố văn hóa độc đáo Các điểm thu hút khách du lịch đến thăm quan, trải nghiệm là Dinh thự Nhà Vương (xã Sà Phìn), Cột cờ Quốc gia Lũng Cú (xã Lũng Cú), Phố Cổ Đồng Văn (thị trấn Đồng Văn) Cụ thể:
Trang 37Bảng 2.3: Lượng khách đến các điểm du lịch huyện Đồng Văn quý I/2015
Stt Điểm du lịch Khách quốc tế Khách nội địa Tổng số
0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000 Dinh thự Nhà Vương
Cột cờ Quốc gia Lũng Cú
Phố cổ Đồng Văn
Biểu đồ thể hiện lượng khách đến các điểm du lịch tại huyện
Đồng Văn quí I/2015
Khách quốc tế (Lượt) Khách nội địa
Trang 38Bảng 2.4 Các điểm đến hấp dẫn du khách trên Cao nguyên đá Đồng Văn
[Nguồn: Theo kết quả khảo sát tháng 4/2015]
Theo kết quả khảo sát có 11.39 % chọn Phố cổ Đồng Văn, 29,11 % chọn Cột cờ Lũng Cú 5,06 % lựa chọn các làng du lịch cộng đồng, 3,79 % lựa chọn các điểm du lịch địa chất, 41,77 % chọn cánh đồng hoa Tam Giác Mạch, 6,32 % lựa chọn các địa điểm khác
Để tiếp tục thu hút khách du lịch tới tham quan, du lịch trên địa bàn, trong thời gian tới, huyện Đồng Văn nói riêng và bốn huyện có CNĐ chạy qua nói chung cần tiến hành rà soát, nâng cấp, tôn tạo các khu du lịch, đặc biệt là các khu du lịch mới, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động phát triển du lịch, đảm bảo tốt dịch vụ nhu cầu ăn nghỉ, vui chơi, giải trí đối với du khách
Trong tương lai, Cao nguyên đá Đồng Văn cần tiếp tục đầu tư hơn nữa các nguồn lực cho công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch, xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, gắn kết sự phát triển du lịch với công tác bảo tồn và
Trang 39phát huy các giá trị văn hóa để thu hút hơn nữa khách du lịch đến với công viên địa chất toàn cầu
2.1.2 Cơ sở lưu trú và dịch vụ ăn uống
2.1.2.1 Cơ sở lưu trú
Trong những năm gần đây, do nhu cầu của khách du lịch tăng cao, nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã xây dựng thêm các loại hình lưu trú trên
Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn Chất lượng phòng
nghỉ ngày càng được nâng cao, tình hình an ninh trật tự được đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho du khách lưu trú trong quá trình thăm quan tại các
khu, điểm du lịch
Hiện nay trên khu vực CNĐĐV có đến 30 cơ sở lưu trú du lịch với công xuất sử dụng phòng bình quân đạt 60 – 65 % Trong đó, có 25 nhà nghỉ,
4 khách sạn 1 sao và 1 khách sạn 2 sao [Nguồn: sở VHTT&DL Hà Giang –
2015] Nhìn vào thực tế khoảng 5 năm về trước, khi cao nguyên đá chưa được
công nhận là CVĐCTC khi đó mới chỉ có khoảng 1 khách sạn đạt sao nhưng
qua 5 năm đã có đến 5 khách sạn đạt từ 1 – 2 sao
Hiện nay các nhà nghỉ, số phòng cũng như chất lượng đã được tăng lên đáng kể để đáp ứng nhu cầu du khách Số lượng nhà hàng cũng ngày một tăng, hiện trên vùng có đến 21 nhà hàng ăn uống Với sự đầu tư của tư nhân được hỗ trợ bởi cấp ủy, chính quyền địa phương đã góp phần vào phát triển
du lịch tại CNĐ ĐV
Là hai huyện có hoạt động dịch vụ du lịch sôi động, đến nay riêng huyện Đồng Văn, Mèo Vạc đã có đến 4 khách sạn đạt từ 1 – 2 sao, chiếm phần lớn số lượng cơ sở lưu trú của vùng CNĐĐV với 22 trên tổng số 30 cơ
sở lưu trú Số lượng nhà hàng cũng chiếm 12/21 nhà hàng trên khu vực CNĐĐV Ngoài ra, trên địa bàn cũng ghi nhận sự phát triển của các cơ sở lưu trú như: Nhà nghỉ Tam Sơn, Cao quyết, Anh Hoạt, 567, Khánh Duy, Họ Sơn
Trang 40Quán tại thị trấn Tam Sơn Nhà nghỉ Hai Sơn, Phúc Cái, Phương Nam, Minh Hải, khách sạn Thảo Nguyên tại thị trấn Yên Minh Tại thị trấn Đồng Văn có một số cơ sở lưu trú như khách sạn Khải Hoàn, khách sạn Cao Nguyên Đá,
khách sạn Hoàng Ngọc [Phụ lục 3]
Để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, riêng huyện Đồng Văn đã có
11 nhà nghỉ, trong đó 2 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 1 sao, 10 cơ sở lưu trú bình dân với hơn 35 phòng nghỉ thường xuyên hoạt động Chính quyền huyện Đồng Văn hiện nay đang tiếp tục mời gọi, tạo điều kiện để các nhà đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú du lịch tại huyện với quy mô trên 60 phòng nghỉ, đặc biệt hỗ trợ kinh phí để các hộ phát triển cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng ăn
uống, giải khát, vui chơi giải trí khác như cà phê phố cổ
Đến nay toàn huyện Đồng Văn có 148/225 thôn, bản được công nhận danh hiệu làng văn hoá, trong đó có 6 làng văn hoá đang được triển khai xây dựng trở thành làng văn hóa du lịch cộng đồng trong đó thôn Lũng Cẩm Trên,
xã Sủng Là trong năm 2014 đã có trên 100 đoàn khách đến tham quan tại thôn Giá phòng nghỉ, bình quân mỗi phòng có thể bố trí ngủ được từ 5 - 7 người (tùy nhu cầu nghỉ nhiều hay ít người của khách), với giá bình quân từ
50 - 70.000 đồng/người/tối
Vào mùa cao điểm, khách du lịch lên đông, mỗi tháng các gia đình cũng có thu nhập thêm từ dịch vụ Homestay Đây cũng chính là hình thức được đông đảo mọi người chọn lựa để thưởng thức và trải nghiệm với cuộc sống của người dân và thêm hiểu phần nào văn hóa đời sống của các tộc người Kết quả khảo sát đánh giá về hình thức mà bạn lưu giữ nét văn hóa tại Cao nguyên đá thì có tới 54.43% lựa chọn hình thức trải nghiệm cùng cuộc sống người dân Ngoài làng du lịch cộng đồng thôn Lũng Cẩm Trên còn có
mô hình du lịch cộng đồng tại các làng Lô Lô Chải - xã Lũng Cú, làng Sủa Pả
A - xã Phố Cáo, làng Lũng Hòa B - xã Sà Phìn, làng Phố Trồ - thị trấn Phố