1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn

132 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hát Quan Lang Trong Đám Cưới Của Người Tày Ở Xã Tân Lang, Huyện Văn Lãng, Tỉnh Lạng Sơn
Tác giả Hoàng Hồng Nhung
Người hướng dẫn T.S Phạm Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hát Quan lang của người Tày ở xã Tân Lang cũng như các loại hình văn hóa dân gian ở các tộc người khác đã chịu ảnh hưởng và tiếp thu lẫn nhau.. Chính vì vậy, tôi đã chọn “ Hát Quan lang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ

-

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

HÁT QUAN LANG TRONG ĐÁM CƯỚI CỦA NGƯỜI TÀY

Ở XÃ TÂN LANG, HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

Giảng viên hướng dẫn : T.S PHẠM VĂN DƯƠNG

Sinh viên thực hiện : HOÀNG HỒNG NHUNG

HÀ NỘI - 2015

 

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

 

Để hoàn thành tốt bài khóa luận này, lời đầu tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành bài

Tác giả xin chân thành cảm ơn tới UBND xã Tân Lang, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, các nghệ nhân, cùng toàn thể đồng bào dân tộc Tày sinh sống ở xã đã giúp

đỡ, nhiệt tình cung cấp thông tin và nhiều tư liệu quý báu

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới

TS Phạm Văn Dương, người thầy đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo

trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã đọc và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của khóa luận

Tác giả

Hoàng Hồng Nhung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 13

Chương 1:KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÂN LANGVÀ TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG 13

1.1.Khái quát về người Tày 13

1.1.1.Điều kiện tự nhiên 13

1.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội 14

1.2.Tên gọi, nguồn gốc lịch sử cư trú 15

1.3.Đặc điểm kinh tế mưu sinh 16

1.3.1.Kinh tế 16

1.3.2.Chăn nuôi 16

1.3.3.Tiểu thủ công nghiệp 16

1.3.4.Thương nghiệp 16

1.4.Đặc điểm văn hóa, xã hội 16

1.4.1.Văn hóa vật chất 16

1.4.2.Văn hóa tinh thần 19

1.4.3.Văn hóa xã hội 20

1.5 Tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở xã Tân Lang 22

1.5.1 Xem số 22

1.5.2 Lễ hỏi 23

1.5.3 Lễ ăn hỏi 24

1.5.4 Ngày cưới 25

1.5.5 Lễ lại mặt gồm 28

Chương 2:HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀYỞ XÃ TÂN LANGXƯA VÀ NAY 30

2.1 Một số khái niệm chung 30

2.1.1 Khái niệm dân ca 30

2.1.2 Hát Quan lang 30

2.1.3 Nguồn gốc của hát Quan lang 33

Trang 4

2.2 Hát Quan lang trong đám cưới truyền thống 34

2.2.1 Nghệ thuật diễn xướng 34

2.2.2 Môi trường diễn xướng 35

2.2.3 Người hát Quan lang 37

2.2.4 Trang phục hát Quan lang 38

2.3 Nội dung các bài hát Quan lang 38

2.3.1 Hát Quan lang thay cho lời chào xã giao lịch sự 38

2.3.2 Hát Quan lang – lời khuyên dạy đạo lý, bổn phận làm người 40

2.3.3 Vai trò của Quan lang và pả me trong việc thực hành và giữ gìn hát Quan lang 46

2.3.4 Vai trò của hát Quan lang trong đám cưới truyền thống 49

2.4 Giá trị hát Quan lang trong đời sống xã hội của người Tày xã Tân Lang 51 2.4.1 Giá trị về văn học 51

2.4.2 Giá trị nghệ thuật diễn tấu 55

2.4.3 Các giá trị đạo đức, giáo dục và cố kết cộng đồng 56

Chương 3:NHỮNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁPBẢO TỒN GIÁ TRỊ CỦA HÁT QUAN LANG 59

3.1 Hát Quan lang trong xã hội hiện nay 59

3.2 Một số nguyên nhân biến đổi của hát quan làng ở Tân Lang hiện nay 62 3.2.1 Do tác động của toàn cầu hóa 62

3.2.2 Do nhận thức của các cấp chính quyền 62

3.2.3 Do nhận thức và đời sống của người dân 64

3.3 Những quan điểm chỉ đạo của Đảng về bảo tồn văn hóa phi vật thể 64

3.4 Một số khuyến nghị và giải pháp 66

3.4.1.Quan tâm hơn nữa đến đời sống người dân 66

3.4.2 Công tác sưu tầm, bảo tồn các bài hát Quan lang 66

3.4.4 Xây dựng hoạt động văn nghệ không chuyên 67

3.4.5 Đưa hát Quan lang lên chương trình của phương tiện truyền thông đại chúng 68 3.4.6 Mở các lớp truyền dạy, tạo nguồn và bảo tồn hát Quan lang 69

3.4.7 Các chính sách đãi ngộ đối với các nghệ nhân 70

Trang 5

3.4.8 Đối với cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền 71

3.4.9 Các giải pháp thực hiện khác 72

KẾT LUẬN 74

TÀI LIệU THAM KHảO 77

PHụ LụC 80

Trang 6

Hát Quan lang (thơ lẩu, hát cưới ) là những bài hát được diễn xướng trong đám cưới người Tày Điều quan trọng là, hát Quan lang không phải để biểu diễn mà để thể hiện sự kết nối giữa con người với con người và với thế giới tâm linh Vì ý nghĩa này

mà trong bất kỳ đám cưới truyền thống nào của người Tày cũng đều phải có hát Quan lang, dù nhiều hay ít Vì lẽ đó, hát Quan lang luôn giữ vị trí quan trọng và có vai trò chi phối toàn bộ diễn trình của một đám cưới Giữa đám cưới và hát Quan lang luôn

có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau, có đám cưới là có hát Quan lang và ngược lại Vì vậy, hát Quan lang trở thành một nét văn hóa đặc trưng, tiêu biểu cho phong tục cưới xin của người Tày Thông qua hát Quan lang có thể thấy được tất cả các giá trị văn hóa cổ truyền được hội tụ trong đó những quy ước đối nhân xử thế, giao tiếp giữa cá nhân với cộng đồng, với tổ tiên, với thần linh,thấy được những khát vọng sống, những nét đẹp, đạo lý, những môn nghệ thuật diễn xướng có tác dụng rất sâu sắc đến tình cảm con người

Với xu thế hội nhập giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc

và quốc gia như hiện nay Hát Quan lang của người Tày ở xã Tân Lang cũng như các loại hình văn hóa dân gian ở các tộc người khác đã chịu ảnh hưởng và tiếp thu lẫn nhau Trong bối cảnh đó sự mai một văn hóa truyền thống của mỗi tộc người là điều không tránh khỏi Vì vậy, việc tìm hiểu bảo tồn và phát huy những giá trị truyền

Trang 7

thống, trong đó có hát Quan lang trong đám cưới của người Tày nói chung và hát Quan lang của người Tày ở xã Tân Lang nói riêng là điều hết sức cần thiết

Là một sinh viên khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số hơn nữa lại là người con dân tộc Tày trên quê hương Lạng Sơn, tôi nhận thấy việc tìm hiểu hát Quan lang của người Tày là việc làm cần thiết góp phần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa truyền thống quý giá của dân tộc mình và quê hương mình Hơn nữa, với mong muốn trau dồi kỹ năng tìm hiểu văn hóa tộc người, việc thực hiện Khóa luận này sẽ giúp tôi thực hành các kỹ năng nghiên cứu khoa học, và có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về đời sống của người Tày ở Tân Lang

Chính vì vậy, tôi đã chọn “ Hát Quan lang trong đám cưới của người Tày ở xã

Tân Lang, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp đại học

Văn hóa ngành quản lý nhà nước về Văn hóa dân tộc thiểu số của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay, hát Quan lang đã trở thành đối tượng nghiên cứu của không ít nhà khoa học Và đã được tiếp cận trên các bình diện khác nhau như: Văn học dân gian, dân tộc học, văn hóa dân gian, văn hóa học…Có thể kể đến một số tác giả đã quan tâm đến hát Quan lang và đã có các công trình nghiên cứu được công bố như sau:

Từ những năm 1964 công tác sưu tầm và nghiên cứu về hát Quan lang đã được nhen nhóm, tuy nhiên trong thời gian này, công trình nghiên cứu về hát Quan lang chưa nhiều, chỉ là một số bài viết đăng trên báo chí

Đến năm 1973, trong cuốn “ Dân ca đám cưới Tày – Nùng”, Nông Minh Châu

đã tập hợp hơn 100 bài hát đám cưới Tày – Nùng Tác giả sưu tầm và dịch nguyên văn thơ Tày – Nùng ra tiếng Việt Bên cạnh giá trị sưu tầm, cuốn sách đã khá thành công

trong việc dịch thơ: lời thơ, hình ảnh sát thực và sinh động Cuốn sách “Dân ca đám

cưới Tày – Nùng”của Nông Minh Châu là tư liệu quý giá, cho ta những hiểu biết ban

đầu rất cần thiết, đặc biệt là về phương diện diễn xướng dân ca Tày – Nùng

Trang 8

Năm 1974, trong cuốn “ Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc” có bài viết của Lường Văn Thắng “ Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ Quan lang”, và của Vi Quốc Bảo “ Những bài hát đám cưới – Những bài thơ trữ tình”

Năm 1973, trong bài “ Vài suy nghĩ về hát Quan lang, lượn, Phong slư”, tác giả

Vi Hồng đã giới thiệu khái quát về hát Quan lang và nguồn gốc của nó

Như vậy, trong khoảng thời gian này, số lượng sách và các bài báo viết về hát Quan lang không nhiều nhưng cũng đã giúp ta hình dung bước đầu về diện mạo hát Quan lang

Đến những năm 80 của thế kỷ XX mặc dù trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định vị trí và vai trò của văn hóa dân gian các dân tộc trong nền văn hóa Việt Nam, nhưng công tác sưu tầm, nghiên cứu lời hát Quan lang vẫn còn hạn chế

Năm 1995, trong cuốn “ Tục cưới xin của người Tày”, tác giả Triều Ân và

Hoàng Quyết đã giới thiệu về tục cưới xin và lễ cưới của người Tày; thơ Quan lang,

Pả Me được sưu tầm ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang; phương hướng bảo tồn, kế thừa, phát triển hát Quan lang

Trong cuốn “ Văn hóa truyền thống Tày – Nùng” in năm 1996, nhà xuất bản

Văn hóa Dân tộc cũng dành một chương giới thiệu bài hát đám cưới Tày – Nùng Cả hai cuốn sách trên là nguồn tư liệu cần thiết cho người viết đề tài này

Năm 2002, Hoàng Thị Cành với đề tài nghiên cứu “Phong tục hôn nhân người

Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng” cũng đã giới thiệu khá toàn diện về phong tục hôn

nhân của người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng và văn bản thơ Quan lang được ghi chép, sưu tầm bằng chữ Nôm, phiên âm Tày và dịch ra tiếng Việt

Ở trường đại học sư phạm Thái Nguyên có một đề tài nghiên cứu khoa học cũng đã bước đầu nghiên cứu về thơ Quan lang ở xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Cuốn Văn hóa dân gian Tày do Hoàng Ngọc La chủ biên, ấn hành năm 2002 cũng nhắc tới hát Quan lang Trong cuốn sách này, các tác giả chủ yếu tìm hiểu nguồn gốc và đặc trưng văn hóa người Tày ở Việt Nam

Trang 9

Năm 2004, Lộc Bích Kiệm với luận văn “ Đặc điểm dân ca Tày – Nùng xứ

lạng” đã xác lập được những đặc điểm căn bản của dân ca đám cưới Tày – Nùng trên

các phương diện: diễn xướng, nội dung, thi pháp Đặc biệt người viết đi sâu vào phần thi pháp để thấy được sự độc đáo của bộ phận dân ca này

Cuốn Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh chủ biên, in năm 2006 xếp hát Quan lang vào nhóm bài ca hôn lễ, thuộc tiểu loại dân ca nghi lễ - phong tục và

khẳng định: “Trong loại hình dân ca đám cưới của các dân tộc, thì loại hát quan

lang của người Tày hoặc thơ lẩu của người Nùng là loại dân ca đám cưới có quy mô nhất”[15] Tác phẩm đã giới thiệu trình tự, nội dung cơ bản của hát Quan lang, có lấy

một số câu hát làm dẫn chứng Tuy nhiên, đó mới chỉ là những điểm sơ lược nhất, cũng như cách tác giả giới thiệu về hình thức hát đám cưới của các dân tộc khác Cuốn sách chưa chỉ ra nghệ thuật, diễn xướng của loại hình

Trong sách “Thơ Quan lang” của Nguyễn Thiện Tứ xuất bản năm 2008 đã giới

thiệu trình tự những lời thơ Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng, song chưa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nội dung và hình thức nghệ thuật của văn bản ngôn từ Ngoài ra, hát Quan lang còn được đề cập trên một số trang báo văn hóa nghệ thuật, báo địa phương và một số trang web trên internet Đây là những bài viết chưa

có tính chuyên biệt, phần nhiều chưa mang tính khoa học

Gần đây, việc sưu tầm, nghiên cứu hát Quan lang từ góc độ văn học dân gian ở những địa phương cụ thể đã được quan tâm, nghiên cứu và có những đóng góp nhất

định Tiêu biểu như: Lê Thương Huyền với luận văn thạc sĩ “Thơ lẩu của người Tày ở

Hà Vị, Bạch Thông, Bắc Kạn” năm 2011, Đàm Thùy Linh với luận văn thạc sĩ “ Hát Quan lang của người Tày ở Thạch An – Cao Bằng tiếp cận dưới góc độ văn học dân gian” năm 2009, Hoàng Thị Quyên, khóa luận tốt nghiệp “Tục hát quan lang trong đám cưới truyền thống của người Tày xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”

Hiện nay, hát Quan lang vẫn còn tồn tại trong đời sống tinh thần của người Tày

ở vùng Việt Bắc Tại nhiều địa phương, hát Quan lang vẫn được tiếp thu, sáng tạo và

bổ sung Hát Quan lang ở mỗi địa phương lại có sắc thái riêng nên nghiên cứu hát

Trang 10

Quan lang ở từng địa phương cụ thể chính là khám phá sự độc đáo, phong phú trong

đa dạng, thống nhất của loại hình

Hát Quan lang ở Tân Lang nay vẫn được lưu truyền Nhưng bản thân người diễn xướng lại không ghi chép đầy đủ tất cả các lời hát Do đó, ngay ở các điểm văn hóa địa phương cũng chưa có một tài liệu nào thật sự đầy đủ, khoa học

Như vậy, các công trình nêu trên đã phản ánh một bước tiến lớn trong lịch sử nghiên cứu về hát Quan lang của người Tày trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Hát Quan lang ở xã Tân Lang, Lạng Sơn hiện nay chưa được khai thác, nghiên cứu một cách triệt để trong một công trình khoa học nào Các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước đã tạo ra những cơ sở, những điều kiện để tôi tiếp tục khai thác, làm rõ hơn về hát Quan lang trong đám cưới của người Tày ở Tân Lang, Lạng Sơn

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu để nhận định những giá trị của hát Quan lang, khám phá cái hay, cái đẹp trong nội dung các bài thơ Quan lang để hiểu được tâm tư, tình cảm, phong tục tập quán, tài năng sáng tạo của các nghệ nhân Chỉ ra được vị trí, vai trò, nét độc đáo của hát Quan lang trong đời sống văn hóa dân tộc Tày Đồng thời gợi mở những vấn

đề bảo tồn và phát triển trong xã hội đương đại

3.2 Mục tiêu

Tìm hiểu về người Tày ở xã Tân Lang; nghiên cứu hát Quan lang ngày xưa để thấy vai trò của nó trong đám cưới

Nghiên cứu hát Quan lang ngày nay để tìm ra sự mai một, thay đổi Trên cơ sở

đó đưa ra kiến nghị khôi phục, bảo tồn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý thuyết

Khóa luận này chịu ảnh hưởng của các quan điểm lý thuyết về biến đổi văn hóa, để nhận diện những giá trị truyền thống của tục hát Quan Lang và những biến đổi của nó trong cuộc sống đương đai,

Bên cạnh đó những quan điểm lý thuyết về vùng văn hóa cũng được quan tâm

sử dụng để nhận diện những nét tương đồng và sự khác biệt giữa hát Quan Lang ở Tân Lang so với các địa phương khác

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên khóa luận sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau:

Phương pháp điền dã dân tộc học để thu thập tài liệu thực địa ở xã Tân Lang, với các kỹ thuật chủ yếu là chụp ảnh, ghi chép, phỏng vấn, quan sát

Phương pháp nghiên cứu thư tịch, tài liệu báo cáo, thống kê, phân tích, so sánh các nguồn tài liệu về hát Quan lang trong đám cưới của người Tày ở Tân Lang Sau đó tổng hợp và soạn thảo thành văn bản

6 Đóng góp của khóa luận

7 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu,Kết luận, Phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung của khóa

luận được chia làm 3 chương:

Trang 12

Chương 1 Khái quát về người Tày ở xã Tân Lang và tập quán cưới xin truyền

thống

Chương 2 Hát Quan lang của người Tày ở xã Tân Lang xưa và nay

Chương 3 Những biến đổi và giải pháp bảo tồn giá trị của hát Quan lang

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÂN LANG

VÀ TẬP QUÁN CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG

 

1.1.Khái quát về người Tày

1.1.1.Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1.Vị trí địa lý

Xã Tân Lang nằm ở phía Tây của huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn, Phía Bắc giáp xã Tân Việt, phía Nam giáp xã Hoàng Việt, phía Đông giáp thị trấn Na Sầm và

xã An Hùng, phía Tây giáp xã Thành Hòa Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 18,20

ha, dân số là 4115 người (theo số liệu thống kê năm 2013), gồm 12 thôn bản: Nà Chà, Bản Làng, Thanh Hảo, Tân Hội, Kéo Van, Phiêng Khoang, Khun Roọc, Bó Củng, Pò Lâu, Tà Coóc, Nà Cưởm, Pác Cuồng

1.1.1.2.Địa hình

Địa hình phổ biến của xã Tân Lang là vùng đồi núi thấp, độ cao trung bình từ

300 - 600m Đồi núi ở xã là loại đồi sa diệp thạch có vỏ phong hóa dày vụn bở, đỉnh dạng vòm ít dốc, nhưng sườn bị sông suối cắt xẻ dữ dội, hay bị lở trượt Dạng địa hình núi đất thì có độ dốc trên 25 độ,chiếm 80% diện tích, thích hợp cho tròng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên Một số nơi thấp có thể phát triển cây ăn quả,hồi

1.1.1.3.Khí hậu

Xã Tân Lang có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 210C, có hai mùa lạnh – khô và nóng - ẩm rõ rệt Do vị trí địa lý nên xã Tân Lang nói riêng và huyện Văn Lãng nói chung bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc sớm và mạnh nhất, nhưng gió mùa Đông Nam và bão ít đến hơn vì bị cánh cung Bắc Sơn cản trở Thời gian có nhiệt độ trung bình dưới 200C gồm các tháng 11, 12, 1, 2, 3 trong đó có 03 tháng lạnh nhất là tháng 12, 1 ,2 nhiệt độ dưới 150 C Nhiệt độ ban đêm

có lúc thấp tuyệt đối xuống dưới O0C, do đó mùa đông có sương muối và khô Lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi, vì thế gây nên tình trạng thiếu nước cho cây trồng,hạn

Trang 14

nặng nhất vào tháng 12, 1 Tháng 2 và 3 mưa phùn mới tăng độ ẩm Mùa nóng với nhiệt độ trung bình tháng trên 250C từ tháng 5 đến tháng 9, đồng thời cũng là mùa mưa Giữa hai mùa lạnh – khô và nóng - ẩm là hai tháng chuyển tiếp trời mát dễ chịu vào tháng 4 và tháng 10 hằng năm, tháng 8 có mưa lớn nhất, lượng mưa hằng năm trên dưới 1500mm

1.1.1.4.Thổ nhưỡng

Về thổ nhưỡng của xã Tân Lang, do quá trình phong hóa, khí hậu cộng với tác động của sinh học tại chỗ cho nên chia thành các loại đất như sau: đất feralit đỏ vàng hình thành trên đá mác ma axit, ở đây được gọi là đá riolit Do đó có nhiều thạch anh nên thành phần cơ giới thô, giữ nước kém; đất feralit đỏ vàng hình thành trên nền đá diệp thạch, có nhiều sét, ít thạch anh, nền đất mịn hơn, màu ngả sang đỏ hơn; Đất feralit đỏ thẫm hoặc đỏ nâu hình thành trên đá vôi

1.1.1.5.Thủy văn

Xã Tân Lang có duy nhất hệ thống sông Kỳ Cùng chạy qua dài 8km Hướng chảy chính là từ Nam lên Bắc Những đoạn thẳng chảy theo hướng đó thường có thung lũng rộng với bãi bồi và thềm sông phát triển, thuận lợi cho quần cư và khai thác, còn đoạn quanh co hoặc chảy theo hướng khác là những lòng sông mới đào, sông chảy siết, lắm thác ghềnh, thung lũng hẹp men theo chân các núi Tại vùng núi

đá vôi thì thiếu nước trên mặt vì nước bị hút xuống, nhưng qua các cửa khe, nước ngầm vùng đá vôi lại tiếp sức cho các suối liền kề

Môi trường núi rừng tự nhiên đã giúp Tân Lang có được cái nôi vật chất nuôi sống đồng bào, đồng thời là đất mẹ sản sinh ra nền văn hóa miền núi đặc trưng, trong

Trang 15

thực phẩm thực hiện được 23 ha, cây công nghiệp hằng năm 9 ha, cây hằng năm khác

10 ha

Chăn nuôi: Tổng đàn trâu toàn xã là 595 con bằng 106,6% so với kế hoạch của huyện, đàn bò được 68 con bằng 147,1% so với kế hoạch của huyện Đàn lợn 1386 con, đàn gia cầm 15370 con

Lâm nghiệp: Trồng cây ăn quả các loại được 1870 cây, trồng cây phân tán được

40800 cây

1.1.2.2.Về xã hội

Văn hoá - xã hội đã có sự chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt Số hộ nghèo có chiều hướng giảm dần, các chính sách xã hội khác được quan tâm, các tệ nạn xã hội tiếp tục được đẩy lùi

1.2.Tên gọi, nguồn gốc lịch sử cư trú

Người Tày thuộc hệ ngôn ngữ Tày – Thái, có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam có dân số 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố Ở xã Tân Lang có 1.209 người, chiếm 57% dân số của xã Tày là tên gọi đã có từ lâu đời, dù ở Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn họ đều thống nhất gọi tộc danh mình là người Tày (Cần Tày) và là tên gọi chính thức của dân tộc kể từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay

Theo các nhà dân tộc học cho biết, đây là danh xưng phổ biến của dân tộc cùng ngôn ngữ đang sinh sống ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc chứ không riêng gì người Tày Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Tày và các âm biến của nó là Tai, Tải, Thai đều có nghĩa là “người tự do” Bên cạnh tên gọi Tày, trước kia người Tày ở nước ta còn gọi là Thổ Thổ cũng là một tên gọi được biết đến khá phổ biến ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, có nghĩa là người bản địa, cư dân lâu đời

Người Tày ở xã Tân Lang có mặt từ rất sớm, hiện chưa có tài liệu nào xác định chính xác vềthời gian có mặt của họ ở Tân Lang

Trang 16

1.3.Đặc điểm kinh tế mưu sinh

1.3.1.Kinh tế

Đời sống kinh tế của đồng bào các dân tộc ở Tân Lang vẫn chủ yếu là hoạt động kinh tế nông nghiệp làm hướng phát triển chính Đồng bào trồng hầu hết các loại cây thường thấy ở nhiều nơi trên miền Bắc nước ta Các loại cây: lúa, ngô, khoai, rau, đậu, cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày, cây ăn quả, hình thành nên cơ cấu trồng cây thích hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương và cho đến này nhiều yếu tố tích cực vẫn được chú ý phát triển

1.3.2.Chăn nuôi

Mỗi bản thường có một khu đất, bãi cỏ để chăn thả gia súc Mỗi hộ gia đình thường nuôi gà, vịt, lợn, trâu, bò Chăn nuôi chủ yếu là để ăn thịt và là vật thờ cúng Cùng với chăn nuôi gia súc, nuôi cá ao, cá ruộng có ở nhiều nơi Nuôi ong phát triển ở những nơi nhiều rừng với những loại mật thu được khá tốt

1.3.3.Tiểu thủ công nghiệp

Chủ yếu là thủ công nghiệp gia đình, đã đáp ứng nhiều nhu cầu sản xuất nông nghiệp và cuộc sống hằng ngày của người dân Sản phẩm làm ra mang tính truyền thống, thường là đồ gỗ, mây tre, vải, sợi phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của cư dân địa phương Các mặt hàng thủ công nghiệp ngoài việc để sử dụng trong gia đình còn đem bán trao đổi với các vùng phụ cận

1.3.4.Thương nghiệp

Nhìn chung nền kinh tế thương nghiệp ở xã Tân Lang kém phát triển Trong toàn xã không có một điểm chợ nào để bà con mua bán trao đổi hàng hóa Lác đác trong thôn bản có một vài gia đình kinh doanh buôn bán nhỏ một số mặt hàng khô Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương

1.4.Đặc điểm văn hóa, xã hội

1.4.1.Văn hóa vật chất

1.4.1.1.Nhà ở

Bản là đơn vị cư trú của người Tày, thường ở chân núi, cạnh cánh đồng hay ven sông suối, tên bản thường gọi theo tên đồng ruộng, khúc sông hay giếng nước Nhà

Trang 17

người Tày thường xây dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào đồi núi, phía trước nhìn ra cánh đồng, sông suối Người Tày có 3 loại nhà chính: nhà sàn, nhà đất và nhà phòng thủ Về kiến trúc, mỗi loại nhà đều có sự khác nhau

Nhà sàn là loại nhà phổ biến nhất của người Tày Những gia đình không có điều kiện thì làm nhà gỗ kê đá, lợp lá cọ, phên vách bằng nứa đan; gia đình nào có điều kiện thì làm nhà gỗ kê đá, cột, xà, các đồ dùng phụ tùng của nhà làm bằng gỗ tứ thiết, được bào nhẵn, lắp ghép mộng rất cầu kỳ, có nhà còn trạm trổ hình đầu rồng, các loại hoa văn hình chim, dây lá khá đẹp mắt, mái lợp bằng lá cọ hay lợp ngói âm dương Nhà thường chia làm 3 gian, 5 gian, 7 gian Vách nhà được ghép các ván gỗ mỏng hay phên nứa và có các cửa sổ mở thông thoáng nhìn ra phía trước, sau nhà hay nhìn ra cánh đồng Nhà người Tày thường có sân phơi nhỏ Sân phơi có tính chất như một công trình phụ thêm gia với toà nhà chính Sân phơi được sử dụng là nơi để phơi quần áo của các thành viên trong gia đình Vào mùa thu hoạch, đây còn là nơi để phơi lương thực như: Ngô, khoai, lúa Ngoài ra nhà người Tày còn có thêm một sân nước nhỏ được dựng ở đầu cầu thang lên nhà Ở đây đặt những vại nước to để khách và các thành viên rửa chân và sinh hoạt

1.4.1.2.Trang phục

Trước đây, đời sống của người Tày mang tính tự cung tự cấp, do vậy hầu như mọi trang phục của họ tự làm ra, tự tay trồng bông, nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải Nam,

nữ Tày chủ yếu mặc quần áo vải nhuộm chàm, cùng một kiểu áo: Áo dài 5 thân, quần

lá toạ Đàn ông quấn khăn hay chít khăn kiểu chữ nhân Nam phục Tày về cơ bản cũng đơn giản, gần như theo một kiểu gồm chiếc áo cánh 4 thân cổ tròn, cao, xẻ ngực, với hàng cúc vải 7 cái, không cầu vai, tà áo xẻ cao, có hai túi nhỏ không nắp ở hai vạt

trước; chiếc quần có đũng chéo, ống chân què hay cạp quần lá tọa; chiếc khăn đội đầu

có hình chữ nhân; đôi giày có đế bằng mo cau, bẹ măng, bẹ móc, dán keo làm bằng

khoai sọ trộn xôi giã nhuyễn… Rõ ràng, dạng trang phục trên rất thích hợp cho việc đi lại, làm ăn của cư dân nông nghiệp vùng núi rừng lắm đèo dốc

Áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài 5 khuy Vào những dịp lễ tết, hội hè phụ nữ còn mặc áo cánh trắng bên trong, vì vậy, người Tày còn được gọi là

Trang 18

người "Áo trắng" để phân biệt với người Nùng chỉ mặc áo màu chàm Phụ nữ còn thắt lưng bằng vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng 2 sải tay để tăng thêm vẻ duyên dáng Chị em phụ nữ thường đeo vòng cổ, vòng tay và mang xà tích bằng bạc, có người còn đeo khuyên tai bằng vàng Nhìn chung, phụ nữ Tày có cách ăn mặc rất kín đáo, che kín toàn thân, chỉ để hở khuôn mặt, bàn tay hay hai bàn chân Trang phục của

họ màu chàm là màu chủ đạo, không có hoạ tiết hoa văn trang trí nhưng vẫn tạo được nét mềm mại và duyên dáng Đây chính là nét độc đáo trong trang phục nữ người Tày Ngày nay, người Tày mặc âu phục khá phổ biến, nhất là lớp trẻ, quần áo may sẵn bán ở chợ hoặc tự mua vải về cắt may Trang phục truyền thống chỉ còn một số người già mặc Những người trẻ chỉ mặc trang phục truyền thống vào dịp lễ tết

1.4.1.3.Ăn uống

Người Tày thường ăn cơm tẻ, với cơ cấu bữa ăn giống các dân tộc anh em khác

ở miền núi là cơm, rau, cá, thịt Các dịp lễ tết trong Tết Nguyên Đán có bánh trưng, bánh khảo, bánh bỏng… Tết Thanh Minh có món xôi tím, bánh ngải cứu Tết Đoan Ngọ (5/5) có rượu nếp, bánh tro Rằm tháng Bảy có món bún, bánh gai Tết Trung thu ( Rằm tháng Tám) có bánh nướng Tết Mùng 10 tháng 10 lễ cơm mới, làm cơm lam Người dân tộc Tày có nhiều món nướng, rán, xào, quay nhiều mỡ và rất ít luộc, thích hợp với vùng có khí hậu lạnh và cũng do ảnh hưởng từ văn hóa ẩm thực của các tộc người ở Hoa Nam, Trung Quốc Điển hình là món thịt lợn quay, món khâu nhục,

đó là những món không thể thiếu trong đám cưới cũng như lễ vào nhà mới của người Tày

Gia vị chế biến món ăn của người Tày nơi đây là hung lìu, hành, ớt, giềng, gừng, nghệ, tỏi và các loại rau thơm khác Và đường, mật ong cũng được cư dân chế biến thành những món ăn ngọt vào các dịp lễ tết như bánh chè lam, kẹo lạc

Rượu là một món không thể thiếu trong đời sống của người Tày từ xưa đến nay, nhất là các dịp lễ hội Nếu người Việt dùng từ “ăn cưới” thì người Tày dùng từ “ kín lẩu” ( nghĩa đen là uống rượu) để chỉ việc đi dự đám cưới

1.4.1.4.Phương tiện vận chuyển

Trang 19

Phương tiện vận chuyển trước đây của người Tày chủ yếu là các vật dụng để gánh gồng, những vùng xa xôi hẻo lánh thì dùng ngựa thồ là chủ yếu, xe trâu được dùng tại vùng có đường xá thuận tiện Hiện nay, ở khắp mọi nơi hệ thống giao thông cũng được mở mang ít nhiều nên việc đi lại của bà con cũng dễ dàng hơn, vì vậy xe đạp và xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất

1.4.2.Văn hóa tinh thần

1.4.2.1.Ngôn ngữ

Ngôn ngữ Tày – Thái: thường ngày họ nói tiếng Tày bên cạnh đó còn nói tiếng Việt Người Tày có chữ viết riêng gọi là chữ nôm Tày (biến thể từ chữ Hán) Tuy nhiên ngày nay không còn được dùng

1.4.2.2.Tín ngưỡng dân gian

Thờ cúng tổ tiên: Trong mỗi gia đình người Tày đều có bàn thờ tổ tiên Theo

truyền thống việc cúng lễ tổ tiên thường vào các ngày rằm, lễ tết, dịp cưới, ma chay, làm nhà mới hay khi gia đình có chuyện không may, có người ốm đau, gia súc chết dịch… Đồ cúng thường là các món ăn truyền thống từ các sản phẩm tự cung tự cấp Thường thì việc cầu cúng là của ông chủ nhà Ngày nay việc làm ăn nhộn nhịp hơn, cuộc sống khấm khá nhưng cũng nhiều lo âu nên việc cầu cúng tổ tiên phù hộ diễn ra thường xuyên hơn Đồ cúng ngoài những sản phẩm tự cung tự cấp, thì giờ có thêm

các loại bánh kẹo sản xuất công nghiệp hay các đồ nhập ngoại

Thờ vua bếp: Nhà người Tày nào cũng thờ vua bếp, người ta cho rằng vua bếp

là vị thần cai quản, theo dõi công việc làm ăn ở trong nhà mình suốt cả năm đó để cuối năm lên trầu với Ngọc Hoàng Người Tày thờ vua bếp ở trong nhà bếp, thờ cúng vua bếp vào ngày rằm, mùng 1 chỉ thắp hương và khấn vái, đến ngày 23 tháng Chạp mới

cần phải có lễ vật

Thờ Thổ công: Đây là vị thần bảo vệ và che chở cho cả bản làng Theo quan

niệm của đồng bào đây là vị thần có thật, có công lao xây dựng bản làng Khi qua đời

họ được dân bản nhớ ơn, thờ làm thần bản mệnh của cả bản Nơi thờ Thổ công thường thờ ở đầu hoặc cuối làng, nơi có gốc cây to, nhiều người qua lại Vào dịp tết Nguyên

Trang 20

đán hay trong những ngày lễ, các gia đình thường mang lễ vật đến miếu thờ để cúng

thổ thần

1.4.2.3.Lễ hội

Các hội lễ theo chu kỳ thời gian.Các lễ, tết quan trọng nhất trong năm của người Tày ở xã Tân Lang là tết Nguyên đán, rằm tháng giêng, tết Thanh minh, rằm tháng 7

và một nghi lễ hết sức quan trọng là ngày giỗ tổ tiên

Việc tổ chức tết Thanh minh với mong muốn ông bà tổ tiên phù hộ con cháu gặp may mắn, phát đạt trong làm ăn, con đường học hành, thăng quan tiến chức

Rằm tháng 7 được người Tày rất coi trọng chỉ sau tết Nguyên đán đó là tết báo hiếu cha mẹ Vào ngày tết, con gái, con rể, cháu ngoại thường mang biếu bố mẹ, ông

bà đôi vịt, bánh gai, thịt lợn quay…và ít nhất cũng dự một bữa cơm cùng bố mẹ, ông

bà dù bận rộn đến đâu cũng phải cố gắng thu xếp

1.4.2.4 Văn nghệ dân gian

Văn học nghệ thuật của người Tày cũng rất đa dạng và phong phú thể hiện qua các làn điệu như then, hát quan lang, lượn, sli, các câu thành ngữ, tục ngữ, câu đố…then vừa là loại hình nghệ thuật vừa mang tính tôn giáo, vừa là yếu tố nghệ thuật truyền thống được quần chúng yêu thích cả về giai điệu dìu dặt,tha thiết của cây đàn tính, cả về giọng hát của người ca Thành ngữ, tục ngữ là thể loại truyền miệng nói về kinh nghiệm trong sản xuất,về dự báo thời tiết, quan hệ xã hội…có dấu ấn trong cuộc sống và có giá trị thực tiễn cao

1.4.3.Văn hóa xã hội

1.4.3.1.Quan hệ cộng đồng làng bản

Người Tày cư trú thành làng bản Bản là đơn vị tụ cư của nhiều dòng họ Quy

mô các bản vừa và nhỏ, mỗi bản thường có 30 đến 70 nóc nhà Mỗi bản có phạm vi cư trú, đất trồng trọt riêng Dân cư trong bản thường nhiều họ,mỗi bản thường có những nghi lễ chung liên quan đến nông nghiệp, lễ cúng thổ thần…nhằm cầu mong cho con người, cây trồng, vật nuôi phát triển, làng bản ấm no, hạnh phúc

Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyết thống dân tộc là mật thiết nhất Trong mỗi bản đều có miếu thờ Thổ công là linh quản của làng bản, che chở cho

Trang 21

cư dân trong bản Trong sản xuất, đồng bào có tập quán đổi công cho nhau trong những ngày mùa bận rộn Hay khi một nhà trong bản có lễ cưới hay tang ma đều nhận được sự giúp đỡ của người dân trong bản Đó là nét đẹp trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày nơi đây

1.4.3.2.Quan hệ gia đình

Gia đình người Tày là gia đình phụ hệ, quan hệ huyết tộc theo dòng cha, mang tính chất phụ quyền do ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến Nho giáo xưa kia Chủ gia đình là người cha, người chồng nắm toàn bộ tài sản, quyết định mọi việc trong nhà Phổ biến là gia đình nhỏ với hai thế hệ bố mẹ và con cái chưa lập gia đình Con cái sinh ra lấy theo họ bố

Người Tày có tục nhận con nuôi, với nhiều nguyên nhân như đỡ đầu con học, chữa khỏi bệnh, truyền dạy nghề thầy cúng Nhận con nuôi nhưng không phải nuôi thực sự Mặc dù vậy nhưng khi gia đình bố mẹ nuôi có công việc bân rộn, hay khi gặp khó khăn, con nuôi phải có trách nhiệm giúp đỡ như với bố mẹ đẻ của mình Vào dịp

lễ tết con nuôi phải đến lễ tết và có lễ vật cho bố mẹ nuôi Khi bố mẹ nuôi qua đời, con nuôi phải để tang báo hiếu và có lễ vật hiến tế như bố mẹ ruột

1.4.3.3.Sinh đẻ

Người phụ nữ đẻ được chăm sóc chu đáo và phải kiêng cữ trong thời gian 40 ngày, trong suốt thời gian ở cữ, người mẹ phải ăn cơm nóng, thịt gà xào gừng nghệ còn bổi dưỡng sức khỏe bằng chân giò hầm; về rau xanh chỉ được ăn rau ngót,

su hào, khoai tây, bắp cải xào thịt Còn các loại rau khác kiêng vì những lý do như ăn rau bí sẽ làm cho cả mẹ và con bị ngứa Trong thời gian ở cữ, sản phụ chỉ được ở trong buồng của mình, không tắm gội, không đến chỗ bàn thờ tổ tiên Sản phụ cũng không lui tới bất cứ nhà người khác nào vì người ta cho rằng thân thể sản phụ không được sạch sẽ đem rủi ro tới gia đình họ Đây là thể hiện lối sống văn minh lịch sử của người sản phụ trong quan hệ hàng xóm láng giềng

1.4.3.4.Tang ma

Người Tày quan niệm, người chết linh hồn tiếp tục sống ở thế giới bên kia Nếu người chết bất đắc kỳ tử thì người Tày làm lán quàn quan tài, làm ma chôn tại chỗ

Trang 22

Trẻ em chết thì bó chiếu chôn rất xa nhà Người già chết thì làm ma trên sân nhà ở Trong đám ma của người Tày một nghi thức bắt buộc đối với gia chủ là mời thầy cúng Thầy cúng có vai trò là người dẫn đường cho hồn người chết, là người làm phúc cho người sống Thầy cúng là người biết rõ các nghi thức đám ma Con trai trưởng đi mời thầy cúng và mang theo ống gạo

Người chết thường để hai ngày rồi đem chôn Hàng năm, người Tày chỉ đi tảo

mộ người chết vào tết Thanh Minh và chỉ cúng tổ tiên vào ngày rằm, mồng một, ngày Tết như cúng các thần linh khác

1.5 Tập quán cưới xin truyền thống của người Tày ở xã Tân Lang

1.5.1 Xem số

Nhà có con trai khi lớn khoảng 18 tuổi bố mẹ sẽ tìm hiểu trong vùng xem gia đình nào có con gái lớn đến tuổi lấy chồng Khi đó cha mẹ thường nhờ những người thân bên nội, ngoại hay các vị thân thích, bạn bè ướm tìm giới thiệu giúp, còn bản thân người con trai ấy cũng chú ý ngắm chọn bạn gái trong những dịp họ đi dự lễ cưới, đi chợ Nếu tìm được cô gái vừa ý, cha mẹ sẽ thăm dò hỏi về đạo đức tính nết, tác phong, cách cư xử, sự quan hệ bạn bè cũng như lai lịch gia đình của cô gái qua những người ở gần nhà cô ta, đặc biệt là lưu ý đến lai lịch của gia đình, dòng họ có môn đặng hộ đối hơn nữa còn xem gia đình dòng họ đó có sạch sẽ hay không (sạch sẽ

ý muốn nói ở đây là dòng họ đó có " ma gà" không) Nói đến “ma gà” tuy là mê tín nhưng nó đã trở thành tiềm thức sâu sắc của đồng bào Vì vậy, nếu người ta thẩm tra phát hiện trong gia đình cô gái ấy nghi là có ma gà thì dù cô gái ấy có nhan sắc, đức tính tốt đẹp đến đâu thì lập tức bỏ qua ngay Người Tày tin rằng nếu lấy con dâu mà gia đình có dính líu đến ma gà sẽ di truyền từ đời này sang đời khác Do đó gia đình nào mà bị làng xóm nghi vấn thì con trai khó lấy vợ, hoặc con gái khó lấy chồng

Khi tìm được những cô gái ưng ý cho con trai mình, bố mẹ tiến hành đi xin ngày, tháng, năm sinh của cô gái (chỉ hỏi dò thông qua những người hàng xóm thân cận), sau đó mang họ đến nhà thầy mo xem số có hợp không hay sung khắc với con trai mình không, cuộc sống tương lai của đôi trẻ sau này có hạnh phúc không, nếu thấy hợp số thì người bố chàng trai sẽ đến nhà cô gái để hỏi

Trang 23

Tuổi hai người hợp nhau nhà trai tiến hành làm lễ dạm vợ cho con Đến lúc này cha mẹ con trai và cha mẹ con gái mới nói cho con mình biết biết Bố mẹ có thể trực tiếp nói với con hoặc nhờ bạn bè của con để biết con mình có nhất trí lấy người đó làm vợ hoặc chồng hay không Nếu bố mẹ nhà gái và con gái trong gia đình nhất trí nhà trai sẽ tìm Thầy mối

Thầy mối: Là nhân vật không thể thiếu được trong đám cưới của người Tày, đây là người sẽ làm phép gắn kết tình cảm của đôi vợ chồng trẻ, và là người hòa giải mọi xích mích, ngay cả khi đôi vợ chồng không còn muốn chung sống với nhau nữa thì đều phải xin ý kiến ông mối

* Chọn người

Thầy mối là do gia đình người con trai chọn, thầy mối phải là người đã có gia đình và đã có con đủ trai, gái, thường nói là (có nếp có tẻ), là người nhanh nhẹn hoạt bát, hiểu biết các nghi thức mai mối để thay mặt nhà trai đến nhà gái bàn luận việc hôn thú của đôi trẻ; Thầy mối cũng phải là người nói được, làm được để người khác

nể trọng (nói mọi người nghe), để sau này có chuyện trục trặc thì thầy mối sẽ ra mặt

giải hòa

Sau khi được gia đình có lời mời ông mối đến đại diện cho nhà trai đi hỏi vợ cho chàng trai Ông mối đã đồng ý sẽ theo đám cưới từ đầu đến cuối và sau khi cưới xong gia đình sẽ trả lễ ông mối: khoảng 2 kg thịt, tiền (tùy theo gia đình thường thì khoảng 50 hoặc 100 nghìn), một túm gạo khoảng một bát và cho tiền vào đó để đôi vợ chồng trẻ mang lên cúng tổ tiên nhà ông mối Sau này vào dịp tết đôi vợ chồng đi tết nhà cha mẹ vợ thế nào thì cũng tết nhà ông mối như vậy

1.5.2 Lễ hỏi

Lễ vật gồm: một con gà (hoặc 1kg thịt), trầu cau, 1 lít rượu và 20 nghìn đồng Đến nhà gái: người bố đặt vấn đề nói chuyện, rồi đặt đĩa trầu cau và 20 nghìn đồng Nhà gái sẽ thịt gà (gà do nhà trai mang đến) làm cơm ăn trưa và nói chuyện

5 ngày sau không thấy bên nhà gái trả lại 20 nghìn có nghĩa là nhà gái đồng ý

Bố mẹ và cô gái nhất trí, nhà trai tìm người mai mối và sẽ tiếp tục mang lễ đến để đặt ngày ăn hỏi

Trang 24

Lễ đặt ngày ăn hỏi: gồm2 con gà (một con khoảng 2kg, một con khoảng 1kg)

mang đến nhà gái để nói chuyện đặt ngày ăn hỏi Nhà trai sẽ đi xem thầy đặt ngày ăn

hỏi, lễ ăn hỏi được tổ chức trang trọng hơn, tiến hành sau lễ dạm hỏi khoảng độ ba tháng do ước định của hai bên gia đình dựa vào việc chọn ngày lành tháng tốt hợp với tuổi của đôi trai gái; Việc định ngày lễ ăn hỏi do nhà trai chọn ngày làm lễ ăn hỏi Phải được báo trước một tháng trở lên để nhà gái có thời gian mời người thân thích bên nội, ngoại, bạn bè xa gần dến dự

1.5.3 Lễ ăn hỏi

Nhà trai sau khi xem bói được ngày sẽ mang lễ đến nhà gái, đoàn đi gồm: người

bố, một người làm mối đi theo (đây là người chứng kiến hai nhà đã thực sự ăn hỏi), một người gánh gà, hai người khiêng thịt, một người gánh rượu, xôi

Đến nhà gái: người chứng kiến (ông mối) đặt khoảng 20 nghìn lên bàn lấy lòng tin (ý nghĩa là con gái nhà này đã thành con dâu rồi, sẽ không được đi lấy người khác nữa, nếu có ai đến hỏi không được nhận lễ)

Trong buổi lễ ăn hỏi hai bên bàn bạc những vấn đề liên quan đến đám cưới như: của hồi môn, tiền bạc, chăn màn, ngày giờ đón dâu Trong lễ ăn hỏi nhà gái thường mời khách là những người họ hàng nội ngoại, hàng xóm, anh em đến dự và ăn cỗ (khoảng 10 mâm) Một hoặc hai tháng sau lễ ăn hỏi nhà trai sẽ đi xem ngày cưới (phong tục ở đây không được phép đi xem ngày luôn, nhà gái không cho phép điều đấy)

Khi nhà trai chọn được ngày lành tháng tốt thì người bố và người chứng kiến lại tiếp tục mang một chai rượu, một con gà thiến chủ động làm lễ báo ngày cưới, lễ báo ngày cưới thường diễn ra trước từ 2 đến 3 tháng trở lên, để nhà gái và nhà trai có nhiều ngày tháng thông báo cho những người đã hứa giúp vật phẩm như: gạo, rượu, lợn mặt khác để hai gia đình có thời gian mời bạn bè, họ hàng thân thuộc ở xa về dự

lễ cưới

Trước đây có tục thách cưới, bên nhà gái thường thách cưới là: một con trâu

thiến (tương đương với khoảng 20 triệu tiền mặt), 2 tạ thịt, 5 đôi gà tơ, 1 con gà chín,

7 chảy xôi cẩm Ngày nay, tuy có nhưng đơn giản hơn chỉ mang tính hình thức

Trang 25

Trong buổi lễ báo ngày hai bên cũng bàn bạc để thống nhất ngày giờ tốt để dẫn

đại lễ, để chú rể sang đón dâu về nhà chồng

Giai đoạn thử thách được tính từ khi họ nhà trai đến ngõ, cổng nhà gái, gặp chướng ngại vật đầu tiên nhà gái đem ra cản Ngay khi trông thấy đoàn đón dâu từ xa, nhà gái sẽ cử các cô gái trẻ đứng ở đầu ngõ đặt bắt nước và cành đào chặn lối dẫn vào nhà Theo tục lệ, đoàn nhà trai phải dừng lại, không có quyền vượt qua Bên nhà gái

mà đại diện là Pả me sẽ chủ động hát trước để chất vấn nhà trai Quan lang đại diện nhà trai hát đáp lại để được vào nhà cô dâu

Trước khỏi óc slam đổi khách lạ tàng quây Khách mà mí việc răng đây la cạ Rườn khỏi đang hỷ hạ rân ra Cẩm những khách pây mà lai vạng Lao ví sằng ví sạc mí đây Khỏi truyền thuổn khi nay slao báo

Au nặm bâư tào óc tặt chang tu Sle hử khách chu ru giải ví Giải mờ đông tây tử chỉ quang vinh Sle hử nữ nhình rườn khỏi te đảy hỷ hạ cón nỏ./

(Trước tôi xin ra hỏi với khách lạ đường xa/ Khách về có việc gì đẹp là bảo/

Nhà tôi đang có việc hỷ/ Vậy những khách đi về lai vạng/ Sợ vía xấu vía ác không tốt/

Trang 26

Khi nãy tôi truyền bảo con trai con gái/ Lấy nước lá đào ra đặt trong cửa/ Để cho khách chu ru giải vía/ Giải về đông tây tứ chi quang vinh/ Để cho nữ nhà tôi được tốt đẹp trước đã)

Để tăng thêm thử thách nhà gái sẽ đem chổi đặt ngược, treo đèn thắp, treo con mèo bị nhốt trong lồng, cái chày giã gạo chắn trước của Quan lang muốn chủ nhà cất chổi đi phải hát, xin cất từng thứ một

Sau bao thử thách, cuối cùng nhà trai cũng vào được trong nhà, nhưng oái oăm thay nhà gái lại không trải chiếu mời ngồi, khi trải lại trải ngược chiếu hoặc gấp chiếu xếp vào nhau Khách không được tự tiện ngồi ngay mà phải hát để xin được chủ nhà trải chiếu cho ngay ngắn Đây là những hình thức vui đùa, có ý muốn thử thách tài ứng xử của Quan lang vì thế rất cuốn hút người xem Sau đó, Quan lang tiếp tục hát các bài mời khách ngồi, mời uống nước, mở gánh lễ việc hát Quan lang tựa như một nghi thức bắt buộc thay cho lời nói của phái đoàn nhà trai Hát xong, lễ vật được nhà gái mang lên bàn thờ cúng báo tổ tiên Tiệc cưới đã chuẩn bị xong, khách khứa đã đến đông đủ, đại diện nhà gái sẽ hát mời họ nhà trai cơm, rượu Đáp lại lời mời trân trọng, thân tình ấy của họ nhà gái, nhà trai đáp lại lời cảm tạ, ngợi khen nhà gái hết lời

Kính mời thông gia kin nặm trà

Trà nảy trà nghẹng dú pó phia

Bươn hả so hả au má giá Trạch đắc ngày lành khỏi ngám pha

Khâm khâm slắp slắp thông cảm hử

Đây kin mí đây cũng gọi là

Trà thái háng khai mì tài pả

Nả mì chén giữ cũng nàn xa

Quý vị pây mờ mí đảy chảng

Nhằng phứa cần đai khẩu bản mà

(Kính mời thông gia uống nước trà/ Trà này trà hái ở đồi núi/ Mùng năm tháng

năm lấy về rồi/ Biết được ngày lành tôi mới pha/ Đắng đắng chát chát thông cảm cho/

Trang 27

Uống ngon không được cũng gọi là/ Trà thái chợ bán có rất nhiều/ Không có tiền mua cũng khó tìm/ Quý vị đi về không được nói/ Còn có người khác vào bản mà)

Sau bữa cơm, khi có đông đủ họ nội, ngoại, đại diện nhà gái tổ chức cho rể trình lạy tổ tiên, ông bà, cô chú, cảm ơn nhà bếp Và để rước dâu về đúng giờ, Quan lang phải hát những bài hát xin dâu: xin thắp đèn, thắp hương, trình tổ, xin về Tất cả đều được đối đáp thơ giữa hai họ Khi Pả me dẫn dâu ra thắp hương lễ lạy tổ tiên thì người gốc họ hoặc người biết cúng sẽ cúng báo tổ tiên chúc mừng và căn dặn vài lời bằng

khúc hát slốnglùa, rằng cháu phải ăn ở đúng đạo nghĩa làm vợ, làm dâu để gia đình

hạnh phúc, rồi cầm nón đội cho cô dâu, mang hài để cô dâu đi Nghi lễ diễn ra thật trang trọng, thiêng liêng và cảm động

Ơ là slíp giờ kén đẩy giờ nẩy mjạc Pác giờ kén đẩy giờ nẩy yên Giờ nẩy giờ nguyệt tiên, tiên đức

Ngụ phúc lâm môn Nguyệt lão xa mây ngần óc thả Thanh mậu đề bát tạ kim cang Khỏi dục au lùa óc tàng giờ nẩy Nhờ thàn cần biệt đảy túi khăn Khỏi xo dục au lùa óc theo chân đuổi khỏi Tàng quây cách khau khuổi không phương

(Mười giờ chọn được giờ này đẹp/ Một trăm giờ chọn được giờ này yên/ Giờ này giờ nguyệt tiên thiên đức/ Ngũ phúc đến cửa/ Nguyện lão xe mây thả nhiều vàng bạc/ Thanh mậu đề bát tạ kim cung/ Tôi dục lấy dâu ra đường giờ này/ Nhờ nhà gái chuẩn bị khăn gói/ Tôi xin dục lấy dâu ra cửa theo tôi về/ Đường xa qua nhiều đèo lội suối)

Đến nhà trai, đúng giờ đã định, Quan lang sẽ dẫn phái đoàn vào nhà Nhà trai sẽ tiến hành mọi thủ tục theo nghi lễ: mời Pả me đưa cô dâu vào buồng, mời Pả me và phù dâu trải chiếu, giăng màn rồi cùng dự tiệc rượu với gia đình nhà trai Lúc này,

Trang 28

Quan lang và Pả me hai bên có thể giao lưu để chúc mừng họ hàng, gia đình làm cho bữa tiệc thêm vui vẻ, long trọng và giàu ý nghĩa nhân văn

1.5.5 Lễ lại mặt gồm

Lễ vật gồm : 2 kg thịt, 1 làm xôi đỏ mang sang nhà gái Chú rể đi cùng hai cô đón và 3, 4 người bạn (cô đón mới chứ không phải hai cô đón trong lễ rước dâu), Trong lễ lại mặt chú rể mới có thời gian làm quen với những người thân thích của cô dâu và anh em họ hàng bên ngoại sau phần nghi lễ chú rể cùng đoàn lại mặt cùng ăn một bữa cơm trưa với nhà gái

Cơm nước xong, cô dâu sẽ đi cùng cô đón về nhà chồng trước, mang theo thuốc

lá và trầu cau để về làm lễ trước bố mẹ chồng và họ hàng Đến nhà chồng cô dâu quỳ xuống dâng trầu trước mặt bố mẹ chồng và họ hàng rồi nhận lại tiền mừng từ bố mẹ

và họ hàng nội ngoại Nghi lễ kết thúc cô dâu về nhà ngoại 20 ngày sau mới chính thức về nhà chồng 20 ngày sau mẹ chồng sang đón con dâu Trong trường hợp mẹ chồng không đi đón con dâu được thì chồng sẽ thay mẹ đi đón vợ về Mẹ đẻ của cô dâu chuẩn bị cuốc, xẻng, dao…cho con gái mang về nhà chồng

* Ý nghĩa: Chính thức từ giờ phút này là con dâu về nhà chồng bắt đầu làm

việc (ví dụ: sáng dậy sớm nhóm lửa, sàng gạo, gánh nước chuẩn bị nước rửa mặt cho

bố mẹ chồng, lên nương làm dẫy…làm tất cả các việc trong gia đình)

Chính thức nghi lễ cưới xin kết thúc khi cô dâu được mẹ đẻ giao quốc, xẻng, dao….và theo mẹ chồng về nhà chồng Kể từ giờ người con dâu sẽ ở lại nhà chồng làm việc nhà và phục vụ bố mẹ chồng và chồng cho chu đáo

Tiểu kết chương 1

Tân Lang là một vùng đất có rất đông người Tày sinh sống Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, đã tạo điều kiện cho cư dân Tày nơi đây phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước

Người Tày ở Tân Lang sống gắn bó với một số dân tộc anh em khác như Nùng, Kinh Vì vậy, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng cũng phần nào chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, văn hóa Tày vẫn có những nét riêng, độc đáo

Trang 29

Cũng như mọi người Tày ở những địa phương khác, Người Tày ở Tân Lang có một truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc riêng, độc đáo Mạch nguồn văn hóa ấy đã in đậm trong những sinh hoạt văn hóa hằng ngày của con người nơi đây Trong đó hát Quan lang trong lễ cưới là một hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc

Trang 30

Chương 2 HÁT QUAN LANG CỦA NGƯỜI TÀY

Ở XÃ TÂN LANG XƯA VÀ NAY

2.1 Một số khái niệm chung

2.1.1 Khái niệm dân ca

Dân ca truyền thống được hiểu là: âm nhạc, truyền khẩu âm nhạc của tầng lớp bình dân; âm nhạc mà người sáng tác vô danh Nhưng điều này tương phản với các thể loại âm nhạc đương đại và cổ điển Có người định nghĩa dân ca là những bài hát cổ không rõ người sáng tác; người khác cho rằng đó là loại hình âm nhạc được lưu truyền

và phát triển bằng cách truyền khẩu hoặc được biểu diễn theo phong tục trong một thời gian dài

Theo tác phẩm “Văn học dân gian Việt Nam” thì dân ca “là những bài hát có

hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác, lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng, có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc” Theo đó, hát quan lang trong đám cưới của người Tày là loại hình dân ca truyền khẩu giữa nam với nữ, giữa những người đến dự đám cưới họ cũng có thể hát đối đáp

2.1.2 Hát Quan lang

Trong kho tàng văn học nghệ thuật cổ truyền của dân tộc Tày và Nùng ở Việt Bắc, Quan lang là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời và chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân Nó vừa có tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng vừa có tính chất sinh hoạt phong tục nghi lễ Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một khái niệm cụ thể và có tính chất chung nhất về loại hình văn hóa dân gian này

Nhà nghiên cứu Vi Quốc Bảo, trong một số bài nghiên cứu của mình đã thống

nhất sử dụng khái niệm hát đám cưới với cách hiểu: “Đây là một hình thức sinh hoạt

văn nghệ quần chúng đặc sắc và rộng rãi trong đám cưới Hát đám cưới, thực chất là một cuộc hát đối đáp giữa nam và nữ, một cuộc thi hát, một cuộc thi thơ Nội dung chủ yếu của các bài hát là phản ánh hiện thực xã hội đương thời, đồng thời thể hiện

Trang 31

cái nhìn về vũ trụ và cuộc đời cũng như tâm hồn, tình cảm của dân tộc Tày, Nùng”.[26, tr.53-63]

Lường Văn Thắng khi tìm hiểu giá trị nội dung của một số bài thơ Quan lang đã cho rằng: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc Tày, các bài thơ đều mang những tiêu đề của việc giao dịch hôn lễ như: mở cửa, cất chổi, giải chiếu, kính cha mẹ Nội dung của thơ Quan lang tương đối ổn định, chủ yếu là phản ánh một nền đạo đức mang tính nhân văn sâu sắc.[26, tr.75-83]

Hà Văn Thư, Lã Văn Lô trong Văn hóa Tày – Nùng có viết: “Thơ ca đám cưới,

người Tày gọi là xướng quan làng Trong khi hành lễ nhất cử nhất động đều phải thể hiện bằng thơ Thơ ca đám cưới rất nhiều màu, nhiều vẻ và màu sắc đậm chất địa phương”.[32,tr.88]

Nông Văn Nhủng, trong Tiếng ca người Bắc Kạn, đã xếp Quan lang vào dòng

dân ca nghi lễ và phong tục văn hóa Là tục hát đối đáp giữa hai đại diện nhà trai và nhà gái trong lễ cưới của dân tộc Tày – Nùng ở Bắc Kạn Quan lang còn được hiểu là

“Bài ca chuốc rượu”.[25, tr.30]

Lộc Bích Kiệm trong Đón dâu bằng thơ – nét đẹp trong văn hóa Tày cũng cho rằng: “ Đó là những bài hát dành riêng cho đám cưới, chỉ cất lên trong đám cưới

Những bài hát đám cưới của người Tày mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn xướng theo nghi lễ truyền thống nên không nằm ngoài nhu cầu tinh thần,trí tuệ và thẩm mĩ”.[16]

Như vậy, bên cạnh những điểm chưa thống nhất thì các nhà nghiên cứu đều thừa nhận:

Một là: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc tày Theo nghĩa cổ “quan”

là người con trai đã lớn tuổi mà chưa có vợ “lang” là con rể Nhưng Quan lang ở đây lại chỉ nhiệm vụ dẫn chàng rể đi đón dâu, Quan lang thường chỉ người có trách nhiệm chính trong đoàn người đưa chàng rể đến nhà gái Người này thường được gọi là ông Quan lang Đi đến nhà gái, ông Quan lang thường phải ngâm các bài thơ làm mọi nghi thức của việc hôn nhân, nên các bài thơ này được gọi là thơ Quan lang

Trang 32

Hai là: Hát Quan lang là hát trong đám cưới, cuộc vui của đám cưới có say sưa

, tưng bừng hay không là nhờ ở tài thơ ca và giọng hát của ông Quan lang Có lẽ chính

vì thế mà người ta thường gọi dân ca này là hát Quan lang và cũng có người gọi là “ dân ca đám cưới” hay “ Quan lang” (thơ đám cưới) “lượn lẩu” (lượn rượu, lượn đám cưới)

Ba là: Thơ vấn đáp hát khi cưới còn gọi là thơ “ Quan lang” “Pả me” vì người

diễn xướng chủ yếu là các vị đại diện cho hai đoàn nhà trai (rể) nhà gái (dâu) hát khi đón dâu, đưa dâu, đó là Quan lang (đàn ông) Pả me (đàn bà)

Bốn là: Thơ Quan lang là loại thơ dân gian truyền miệng của đồng bào Tày

được thể hiện qua lối hát đối đáp trong khi xin dâu và đưa dâu giữa hai bên: Quan lang (đại diện nhà trai) và Pả me slống lùa (đại diện nhà gái) “Quan lang” là cách phát âm theo phương ngữ Tày vùng Lạng Sơn, còn nhiều vùng Tày khác có cách phát

âm là “ quan làng” Thời gian diễn ra thơ Quan lang được tính từ khi nhà trai bước chân đến cổng làng nhà gái

Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy có thể hiểu về hát Quan lang như sau:

Hát Quan lang thuộc loại dân ca nghi lễ - phong tục đám cưới Là hệ thống những bài thơ và giai điệu dân ca được chia thành các phân mục cụ thể, tương ứng với từng hình thức của lễ cưới và chỉ được hát trong đám cưới, thông qua đại diện nhà trai (chủ yếu là Quan lang) và đại diện nhà gái (chủ yếu là Pả me) Qua hát Quan lang cho

ta thấy, hiện thực xã hội đương thời, phong tục tập quán cũng như những quan điểm đạo đức, lối sống, tâm tư tình cảm của con người

Hát Quan lang có cách gọi khác nhau nhưng tựu chung đó là những bài hát dành riêng cho đám cưới, chỉ cất lên trong đám cưới, chủ yếu là người Quan lang (đại diện cho nhà trai) hát đối với người Pả me (đại diện cho nhà gái) nên người ta gọi là hát Quan lang Đây là điểm khác với những bài ca xuất hiện ở chợ phiên, trên những con đường vào bản, nương rẫy hoặc trong lễ hội Những bài hát Quan lang mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn xướng theo nghi lễ truyền thống nên nó cũng không nằm ngoài nhu cầu về tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày

Trang 33

2.1.3 Nguồn gốc của hát Quan lang

Hát Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tôc Tày được lưu truyền lâu đời trong dân gian Những lời ca là những bài thơ đối đáp khi hát trong đám cưới và được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu qua nhiều thế hệ và ở nhiều nơi Đến ngày nay chúng ta khó xác định được tác giả, vì mỗi giai đoạn, mỗi địa phương lại sáng tạo và bổ sung, tạo ra nhiều dị bản

Hát Quan lang được xếp vào dòng dân ca nghi lễ - phong tục cưới xin, từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa trong nghi lễ cưới xin của người Tày nói chung và người Tày ở Tân Lang, Văn Lãng, Lạng Sơn nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay, chúng

ta chưa thể biết chính xác Quan lang xuất hiện vào thời kỳ nào

Tác giả Vi Quốc Bảo trong bài giới thiệu về cuốn “Dân ca đám cưới Tày –

Nùng” cho rằng: “Xuất hiện từ thời nào, tác giả là ai, thật khó trả lời một cách chính

xác được Chỉ biết rằng,những phong tục tập quán về cưới xin, xã hội và con người nói trong các bài hát ấy đều ở thời đại phong kiến”.[5, tr.19]

Tiếp cận ở khía cạnh khác, bằng thông qua nội dung và hình thức các bài thơ,

nhà nghiên cứu Lường Văn Thắng trong bài “Tìm hiều giá trị nội dung của một số bài

thơ Quan lang” phỏng đoán rằng Quan lang “Bắt nguồn từ một loại hình dân ca trữ tình của dân tộc Tày, và chỉ có thể xuất hiện vào thời kỳ chế độ hôn nhân một vợ, một chồng đã thịnh hành trong xã hội Ở thời kỳ này, địa bàn hôn nhân của nam nữ thanh niên đã mở rộng, tức là một thanh niên nam ở địa phương này có thể xin cưới một cô gái ở địa phương khác về làm vợ Tất nhiên, việc cưới xin này chủ yếu vẫn do cha mẹ

và họ hàng hai bên thỏa thuận, sắp đặt”.[26, tr.76]

Khác với những phỏng đoán trên, nhà nghiên cứu Vi Hồng trong một nghiên

cứu quá trình tim hiểu nội dung lượn Quan lang đã chỉ ra rằng: “Những biểu hiện của

chế độ mẫu quyền còn in đậm trong phong tục cưới xin Qua lượn Quan lang ta thấy người phụ nữ còn được đề cao thực sự Cho nên chúng tôi nghĩ rằng, lượn Quan lang bắt đầu từ chế độ mẫu quyền chuyển sang giai đoạn phụ quyền Không phải tục lượn Quan lang nảy nở trong xã hội phong kiến như có người đã nghi ngờ” [10, tr.211]

Trang 34

Trong quá trình điền dã, khi được hỏi về nguồn gốc của loại hình này ở địa

phương, bác Hoàng Lương Sơn cho biết “cái nguồn gốc về hát Quan lang này thì bác

cũng không rõ, kể các cụ cũng chịu” (tư liệu phỏng vấn tại nhà bác Quan lang Hoàng

Lương Sơn,63 tuổi, thôn Pò Lâu, xã Tân Lang), và hỏi các nghệ nhân và người dân đều cho rằng: không thể xác định chính xác thời gian ra đời của nó, chỉ biết rằng hát Quan lang được ra đời và lưu truyền từ rất lâu, nó trở thành mọt hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian không thể thiếu trong đám cưới người Tày nơi đây

2.2 Hát Quan lang trong đám cưới truyền thống

2.2.1 Nghệ thuật diễn xướng

Hát Quan lang mặc dù là lối hát và những bài ca tồn tại trong đời sống dân dã,

ai cũng có thể thuộc, có thể hát nhưng không vì thế mà lối diễn xướng của nó thiếu tính bài bản, tùy tiện Trong thực tế nối hát này phải tuân thủ những trình tự nghi lễ nhất định Vì vậy, dù hát Quan lang tồn tại giống như một sân khấu văn nghệ tự do nhưng không phải ai cũng có thể tham gia vào cuộc hát Người hát đại diện cho nhà trai là Quan lang, còn phía nhà gái là Pả me, người nhà, bạn bè cô dâu Tùy thuộc vào đặc điểm nội dung của mỗi nghi thức hát mà có những yêu cầu cụ thể đối với từng người tham gia cuộc hát Hơn nữa, mỗi một loại hình dân ca đều có phương thức diễn

xướng, tức “cách thức và phương pháp tiến hành”[5, tr.15] riêng Ở đây đó là cách

thể hiện các bài hát theo một hệ thống và hình thức hát nhất định

Có thể nói, hát Quan lang là một thể loại dân ca được diễn xướng trong hoàn cảnh tương đối đặc biệt, đó là không gian và thời gian của một đám cưới Và cũng chỉ trong đám cưới, những bài hát Quan lang mới thể hiện hết được những giá trị vốn có của nó Đối với một cuộc hát Quan lang truyền thống, diễn xướng thường tuân thủ theo tiến trình của một đám cưới, mỗi giai đoạn lại có những bài hát và cách diễn xướng khác nhau Nếu là giai đoạn đầu, khi đoàn nhà trai mới đến nhà gái thì sẽ có những bài hát thách, hát đối đáp, nhằm mục đích thử tài, thử độ ứng xử khôn khéo của Quan lang trước các chướng ngại vật nhà gái đưa ra Cho nên, những bài hát đối đáp

đó thường biến không gian của đám cưới thành một sân khấu biểu diễn dân gian thực thụ Nhưng khi đã vào trong nhà làm lễ trình tổ thì Quan lang lại phải hát với một sắc

Trang 35

thái hoàn toàn khác, trang trọng và thiêng liêng Do đó, tùy thuộc vào mỗi thời điểm trong lễ cưới, Quan lang có cách thể hiện bài hát một cách phù hợp

Hình thức diễn xướng chủ đạo của hát Quan lang là lối hát đối đáp giữa nam và

nữ, nhưng khác với sli lượn, hát Quan lang được diễn ra trong không gian, thời gian của một đám cưới Cho nên, ngoài việc thể hiện những bài hát nhằm mục đích giải trí thì hát Quan lang còn có sự kết hợp với tính thiêng của nghi lễ, tạo nên một lối diễn xướng tương đối đặc biệt Nếu như những bài hát thử thách có nhiều người tham gia hát đối đáp, không khí của cuộc hát cũng ồn ào, vui vẻ thì ngược lại những bài hát nghi lễ, thủ tục lại trang trọng, thiêng liêng Vì tính chất đó mà khi chuyển sang giai đoạn hát nghi lễ thì chỉ có thể là một người hát, diễn xướng đối đáp khép lại Sự phong phú trong hình thức thể hiện đòi hỏi người hát cũng phải có cách ứng xử linh hoạt, phù hợp với không gian của buổi lễ Nên dù là hát theo lối nào, đối đáp hay tự

thể hiện, thì về cơ bản, hát Quan lang cũng đều “nhất loạt hát theo một điệu hát chung

gọi là điệu hát quan làng”[5, tr.13],“mang nhiều tính chất ngâm vịnh trang trọng, thanh lịch, nhẹ nhàng, và gắn với nhiều lời thơ, do đó mà âm nhạc cũng trang trọng, đàng hoàng, không dùng nhiều nốt bay bổng, luyến láy như trong hát sli lượn” [21,

tr.126] Vì thế, hát Quan lang mặc dù không phong phú về điệu hát nhưng lại không đơn điệu, không gây nhàm chán…nói đến vấn đề này, Quan lang Hoàng Lương Sơn

chia sẻ: “nếu như theo ngày xưa, mỗi lần được mời đi hát là lo lắm, sợ mình không

đối đáp được với Pả me bên nhà gái, sợ nhà gái đưa ra nhiều thử thách hóc búa Có những đám họ phải mời trước mấy tháng để chuẩn bị, vừa vui lại vừa lo (bác cười)”

Có thể nói, hát Quan lang là một loại hình diễn xướng nguyên hợp, là sự tổng hợp của nhiều hình thức diễn xướng mà hầu như không có hình thức nào là chủ đạo Những bài hát Quan lang cũng vì thế mà có được một cách thức diễn xướng phù hợp với không gian, thời gian của đám cưới và với phong tục sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc trưng của người Tày

2.2.2 Môi trường diễn xướng

Quan lang khác với các loại dân ca khác như hát Then, hát Pựt, hát Lượn, hát ru

ở phạm vi môi trường diễn xướng, môi trường diễn xướng của Quan lang gắn liền với

Trang 36

thời gian và không gian của đám cưới Hát Quan lang ở Tân Lang được tổ chức nhiều nhất vào mùa cưới (từ tháng 10 đến hết tháng Chạp âm lịch) Đây là khoảng thời gian đồng bào đã kết thúc mùa vụ,dồi dào lương thực,thực phẩm, vật chất đầy đủ; thời điểm đem lại cho con người cảm giác thoải mái về tinh thần, khát khao hạnh phúc lứa đôi, mái ấm sum vầy

Thời gian cụ thể của hoạt động diễn xướng Quan lang là thời gian của một đám cưới Hệ thống các bài hát Quan lang được diễn xướng theo trình tự nghi thức của hôn

lễ Nghĩa là, từ khi đoàn đại biểu nhà trai đặt chân đến cổng nhà gái và chỉ kết thức chỉ kết thúc khi nghi lễ của đám cưới được thực hiện đầy đủ

Không gian của một đám hát Quan lang thường là không gian mở, nhờ đó mà những bài hát Quan lang cũng được sử dụng một cách rộng rãi, không có đám cưới nào là sở hữu riêng một kiểu bài hát, ông Quan lang đi đến đâu thì những bài hát Quan lang cũng theo chân đến đó Tuy nhiên, trong không gian mở đó, những bài hát Quan lang cũng giới hạn cho mình một không gian đặc trưng, đó là không gian của đám cưới, không gian của những ngôi nhà sàn Trong không gian mộc mạc ấy, những bài hát Quan lang được diễn ra trước sự chứng kiến của toàn thể những người đang tham

dự đám cưới Chúng gắn với cuộc sống đời thường, bình dị, với môi trường sống gần gũi, thân thuộc hàng ngày Vì thế, trong cuộc thi hát, thi thơ này, sẽ không có sân khấu, không trang trí, không có tiếng nhạc, không hạn chế công chúng tham dự và thưởng thức, cũng không kén chọn người nghe, người xem mỗi khi Quan lang cất lên tiếng hát là tất cả mọi người đang có mặt tại đám cưới đều có thể trực tiếp xem hát, thưởng thức và bình phẩm xem Quan lang hát có giỏi không, đối đáp có hay không Nhưng điều làm nên sự khác biệt của một cuộc hát Quan lang không chỉ có không gian đặc trưng của nó mà còn phải kể đến thời gian của cuộc hát Có lẽ không

có cuộc hát nào lại có thời gian dài như cuộc hát Quan lang Hát Quan lang gắn liền với lễ cưới, do đó lễ cưới kéo dài đến bao lâu thì hát Quan lang cũng kéo dài chừng ấy thời gian Tuy nhiên, thời gian của những bài hát không hoàn toàn liên tục mà phụ thuộc vào diễn biến từng giai đoạn của lễ cưới Vì vậy, nếu là những bài hát thử thách thì thời gian có thể diễn ra trong thời gian tương đối dài và diễn biến liên tục Cứ mỗi

Trang 37

lần vượt qua được một thử thách thì Quan lang lại gặp ngay một thử thách khác Vì vậy thời gian kết thúc cuộc hát nhanh hay chậm đều phụ thuộc vào tài đối đáp, ứng xử khéo léo của ông Quan lang Còn những bài hát nghi lễ, do tính chất trang trọng, nên thời gian hát thường ngắn gọn, chỉ do Quan lang trình bày Do đó, những bài hát Quan lang chỉ kết thúc khi mọi nghi lễ của đám cưới kết thúc Từ góc độ người nghe, bà

Hoàng Thị Bóng, 85 tuổi thôn Pò Lâu cho hay: “mỗi lần được nghe hát Quan lang là

thích lắm, mọi người đến rất đông, hát đến hết đêm mà vẫn hào hứng, đúng là ông Quan lang và Pả me có tài Lúc vui khi nhà gái thử thách nhà trai, nhưng cũng rất xúc động khi nghe những lời căn dặn của cô dâu chú rể đối với bố mẹ”

Trong lời hát, có thể nhận thấy thời gian trong hát Quan lang vừa có tính xác định vừa có tính ước lệ Đó có thể là một khoảng thời gian xác định nào đó, cụ thể, hiện tại như giờ nẩy, hoằn nẩy, bươn nẩy, pi nẩy (giờ này, ngày này, tháng này, năm này), nhưng cũng có khi là thời gian ước lệ của thởi xưa (thời xưa) Nhưng dù là thời

xa xưa hay lúc này, các khái niệm thời gian đó đều được đặt trong một không gian, địa điểm có thực, gần gũi với đời sống sinh hoạt giản dị, mộc mạc của người dân - đó là không gian của đám cưới, cũng là không gian của một buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống sôi nổi, náo nhiệt nhưng cũng rất trang trọng, thiêng liêng

2.2.3 Người hát Quan lang

Các bài Quan lang không thể hát tùy tiện, mà phải theo một trình tự nhất định nên việc tổ chức hát cũng được quy đinh chặt chẽ và có những tiêu chuẩn nhất định Người diễn xướng Quan lang bao gồm: lực lượng hát bên nhà trai là Quan lang và các phù rể; lực lượng bên nhà gái là Pả me, các phù dâu và bạn của cô dâu Lúc ở nhà gái còn có người đại diện gia đình, được cử ra giao tiếp, đưa ra thử thách, dẫn dắt các nghi

lễ, thủ tục để nhà trai thực hiện Cô dâu và chú rể không tham gia vào cuộc hát Trong phái đoàn cuả hai họ thì Quan lang và Pả me là những người giữ vai trò quan trọng, là người đại diện cao nhất, là người có thẩm quyền giải quyết tất cả mọi việc liên quan đến vấn đề tục lệ, nghi lễ, là nhà “ngoại giao” đồng thời cũng chính là “cây văn nghệ”, những “nghệ nhân” diễn xướng chủ yếu trong đám cưới Bởi vậy, để mời được làm Quan lang, Pả me, họ phải đạt được những tiêu chuẩn chính: nhất thiết phải có vợ

Trang 38

(chồng) đầy đủ, đông con, có cả trai lẫn gái, gia đình hòa thuận ấm êm, có đạo đức, quan hệ xã hội tốt, nếu là người có địa vị xã hội thì càng tốt; là những người am hiểu phong tục, tập quán, ăn nói lịch thiệp, đặc biệt có tài ứng đối linh hoạt và tất nhiên là người giỏi thơ, trong mọi tình huống có thể “ứng khẩu thành thơ” Quan lang và Pả

me là những người có uy tín trong việc đưa đón dâu, chính là người “giữ lửa”, là “linh

hồn”của phái đoàn “Làm Quan lang như bác phải thuộc nhiều thơ mới được để đối

đáp với Pả me bên nhà gái,hiểu được những phong tục, tập quán dân tộc mình, ăn nói phải rất linh hoạt đấy Duy trì một cuộc hát đến khi kết thúc đám cưới là cũng phải có tài đấy Mỗi khi cất tiếng hát lên được mọi người khen ngợi, vỗ tay tán thưởng bác vui lắm vui vì mình đã vượt qua thử thách của Pả me và mọi người cũng đều vui vẻ.” (Tư

liệu phỏng vấn bác Quan lang Hoàng Văn Du,67 tuổi, thôn Nà Chuông II, xã Mai Pha, TP.Lạng Sơn)

2.2.4 Trang phục hát Quan lang

Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Tày trong những ngày lễ tết, đặc biệt là ngày cưới – ngày lễ trọng đại trong chu kỳ đời người, thì trang phục được lựa chọn đầu tiên chính là bộ trang phục truyền thống, sắc áo chàm với đường nét họa tiết đơn giản từ lâu đã trở thành niềm tự hào của người Tày Dâu, rể cùng phái đoàn phải ăn mục đồng phục Nam mặc áo dài đen, quần đen, đội khăn xếp hoặc mũ nồi,chân đi giày vải Nữ mặc áo dài cùng với quần hoặc váy, thắt lưng, đội khăn, đều màu chàm

Cô dâu đeo khuyên tai, vòng cổ, thắt lưng đeo xà tích, chân đi hài hoặc giày nữ, tôn thêm vẻ đẹp của cô dâu trong ngày cưới

2.3 Nội dung các bài hát Quan lang

2.3.1 Hát Quan lang thay cho lời chào xã giao lịch sự

Trong đám cưới, có rất đông người tham dự, họ đến đám cưới không chỉ để chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ, mà còn để gặp gỡ, xây dựng và củng cố tình cảm tốt đẹp với nhau Vậy nên, yêu cầu đầu tiên đối với hát Quan lang là phải thể hiện sự trân trọng, lịch sự thay cho lời ăn, tiếng nói của mọi người Mặt khác, hát Quan lang là một nghi lễ truyền thống có từ ngàn đời, là sản vật, là biểu trưng của nền văn hóa Tày vốn rất trọng lễ nghi, đạo lý Trong không gian đám cưới thân tình giữa hai họ thì việc

Trang 39

tránh những yếu tố thô tục, dễ gây bất hòa cũng là lẽ đương nhiên Do đó các bài hát phải làm sao chuyển tải được tình cảm và tạo được không khí lịch thiệp, tao nhã ngay

từ đầu khi gặp nhau

Hát Quan lang thay cho lời chào hỏi xã giao đầu tiên của hai gia đình Thay cho việc hỏi khách là ai, từ đâu đến, tới có việc gì, đại diện chủ nhà sẽ hát để chào hỏi lịch thiệp và phải phép Trước những bài hát như vậy, bên nhà khách phải nhanh trí hát đối lại một bài nhẹ nhàng nhắc chuyện hai nhà đã hẹn ước tới ngày cưới hôm nay

Dạ trước khỏi giam trình đuổi quý họ rườn cần Tua khỏi ná chừ khách hàng ngần buôn bán

Ơ là khỏi đưa tin ẻn nhạn tưới thăm Thắp mờ tình nghĩa nó chăm vằn cón Khỏi xo cằm đến đón căn cơ

Tự vằn dú rườn nơ tăm khẩu Tình cờ pây lỉn pậu chặp căn

(Dạ trước tôi xin trình với quý họ nhà mình/ Tôi không phải khách buôn bán vàng bạc/ Ơ là đưa tin ẻn nhạn đến thăm/ Tìm về tình nghĩa hôm trước/ Tôi xin nói đến đón căn cơ/ Từ hôm ở nhà trên giã gạo/ Tình cờ đi chơi gặp nhau)

Như vậy, qua tiếng hát những lời giới thiệu nhất đã được nhà trai trả lời Sau lời chào hỏi, tình cảm giữa hai gia đình lần lượt được thể hiện, tăng tiến qua các bài hát Tình cảm ấy thể hiện qua các bài có nhã ý mời mọc và từ chối hay nhận lời của hai họ Các bài hát của chủ thường thể hiện thái độ khiêm tốn, nhún nhường trước khách Không chỉ vậy, họ còn khéo léo lồng ghép việc hôn nhân giữa hai gia đình trong lời đáp của mình:

Chảng khua them chảng lỉn la đà

Cằm pây them cằm mà hỷ hả

Chính pần tình nghĩa đạo tào khang

Tua khỏi kẻ hua hang cốc tích

Ná chừ cần bích lích tầư no

Sự thật tình bạn chăm no vằn cón nó

Trang 40

(Nói đùa thêm nói chơi/ Nói đi thêm nói lại/ Mới thành tình nghĩa đạo tào khang/ Tôi là người có đầu đuôi gốc tích/ Không phải người bích lích đâu/ Sự thật tình bạn hôm trước đó)

“Vấn danh” trong hát Quan lang thực chất là một lời chào mới rất lịch sự, trang trọng, vui vẻ, ấm áp giữa hai họ trong đám cưới, nó xuất phát từ lối sống quý trọng

khách của người Tày “ Người Tày rất mến khách, khách đến nhà bao giờ cũng được

đón tiếp chu đáo Khách đến làng,tuy không quen biết, nhưng cũng được đồng bào chào hỏi thân mật”.[32, tr.8] Đây thực sự là một nét đẹp trong văn hóa ứng xử của

người Tày

Thái độ lịch sự của cả chủ và khách còn được thể hiện qua cung cách xưng hô

trong giao tiếp Khách gọi chủ là “quý họ”, chủ gọi khách là “khách lạ” nhưng cách

nói chuyện lại thân tình như nói với người trong một nhà Trong mỗi thử thách, để xin chủ nhà tạo điều kiện giúp mình, khách lại lễ phép xin nhà chủ giúp đỡ và hứa sẽ cảm

tạ

Thái độ lịch thiệp, nhã nhặn của chủ và khách đều thể hiện tấm chân tình muốn kết thông gia Đó là tình cảm trân trọng nhau của những người có văn hóa, có lễ nghi trong cuộc sống

Có thể thấy, những lời mời chào xã giao giữa hai họ mang nhiều ý nghĩa Một mặt làm tăng thêm không khí vui vẻ cho đám cưới, mặt khác thăm dò được tài “ngoại giao” của Pả me, Quan lang, phần nào đánh giá được thái độ, tình cảm của nhau Đây

sẽ là nền tảng cho mối thông gia giữa hai họ

Như vậy, những bài hát Quan lang cất lên thay cho lời xã giao vừa lịch sự vừa trân trọng, đã diễn tả một cách sâu sắc nhất thái độ, tình cảm và nguyện vọng của hai

họ Qua đó giúp ta hiểu thêm truyền thống hiếu khách, lối sống giản dị, khiêm nhường, ẩn chứa chiều sâu văn hóa của người Tày nơi đây

2.3.2 Hát Quan lang – lời khuyên dạy đạo lý, bổn phận làm người

2.3.2.1 Lời khuyên về cách ứng xử trong quan hệ con cái với cha mẹ

Cái độc đáo của người Tày là cách biểu hiện công lao đó: khi đưa con lập gia đình có thể coi là lúc con trưởng thành Ngày xưa, theo các cụ “ Nữ thập tam, nam

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Triều Ân (1994), Ca dao Tày – Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Tày – Nùng
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
2. Triều Ân - Hoàng Quyết (1995), Tục cưới xin người Tày, Hội văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục cưới xin người Tày
Tác giả: Triều Ân - Hoàng Quyết
Năm: 1995
3. Vi Quốc Bảo (1971), " Dân ca đám cưới Tày - Nùng", Văn hóa nghệ thuật số 3, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày - Nùng
Tác giả: Vi Quốc Bảo
Năm: 1971
4. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
5. Nông Minh Châu (1973) Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Nxb Việt Bắc, Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày - Nùng
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
6. Hoàng Thị Cành (2002) Phong tục hôn nhân người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng,Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục hôn nhân người Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng
7. Nguyễn Thị Diên, (2007) Tìm hiểu những đặc điểm ngôn ngữ trong hát đám cưới của người Tày (Lạng Sơn), Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những đặc điểm ngôn ngữ trong hát đám cưới của người Tày (Lạng Sơn)
8. Vi Hồng (1976), "Thử tìm hiểu về nội dung của Lượn",Văn học số 3, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu về nội dung của Lượn
Tác giả: Vi Hồng
Năm: 1976
10. Vi Hồng (1979), Sli Lượn Dân ca trữ tình Tày – Nùng, Nxb Văn hóa, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sli Lượn Dân ca trữ tình Tày – Nùng
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1979
11. Vi Hồng (1994), Dân ca nghilễ Tày, Nxb Văn hóa dân tộc,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca nghilễ Tày
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
12. Lê Thương Huyền (2011), Thơ lẩu của người Tày ở Hà Vị, Bạch Thông, Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lẩu của người Tày ở Hà Vị, Bạch Thông, Bắc Kạn
Tác giả: Lê Thương Huyền
Năm: 2011
13. Ma Ngọc Hướng (2011), Hát Quan lang trong đám cưới của người Tày Khao Hà Giang, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Quan lang trong đám cưới của người Tày Khao Hà Giang
Tác giả: Ma Ngọc Hướng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
15. Đinh Gia Khánh (1997) Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Lộc Bích Kiệm, " Đón dâu bằng thơ - nét đẹp trong văn hóa Tày ", Văn hóa nghệ thuật.www.vanhoanghethuat.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đón dâu bằng thơ - nét đẹp trong văn hóa Tày
17. Lộc Bích Kiệm (2004), Đặc điểm dân ca đám cưới Tày- Nùng xứ Lạng, Hội Văn học nghệ thuật Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dân ca đám cưới Tày- Nùng xứ Lạng
Tác giả: Lộc Bích Kiệm
Năm: 2004
18. Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn (1999), Tín ngưỡng dân gian Tày – Lịch sử và hiện tại, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng dân gian Tày – Lịch sử và hiện tại
Tác giả: Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn
Năm: 1999
19. Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn (2002), Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa thông tin, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Tày
Tác giả: Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn
Năm: 2002
20. Đàm Thùy Linh (2009), Hát Quan lang của người Tày ở Thạch An, Cao Bằng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Quan lang của người Tày ở Thạch An, Cao Bằng
Tác giả: Đàm Thùy Linh
Năm: 2009
21. Đỗ Minh (1975), Bước đầu tìm hiểu ca nhạc dân gian Việt Bắc, Nxb Việt Bắc, Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu ca nhạc dân gian Việt Bắc
Tác giả: Đỗ Minh
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1975
22. HoàngNam (2001), Dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam
Tác giả: HoàngNam
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MộT Số HÌNH ảNH Về ĐờI SốNG VĂN HÓA VậT CHấT VÀ TINH THầN CủA NGƯờI TÀY  - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
MộT Số HÌNH ảNH Về ĐờI SốNG VĂN HÓA VậT CHấT VÀ TINH THầN CủA NGƯờI TÀY (Trang 125)
Hình 1.Nhà sàn – một nét đẹp văn hóa đồng bào Tày. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 1. Nhà sàn – một nét đẹp văn hóa đồng bào Tày (Trang 125)
Hình 3. Bánh ngải cứu của người Tày. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 3. Bánh ngải cứu của người Tày (Trang 126)
Hình 4. Thi kéo co trong lễ hội Lồng Tồng - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 4. Thi kéo co trong lễ hội Lồng Tồng (Trang 126)
Một số hình ảnh về hát Quan lang trong đám cưới - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
t số hình ảnh về hát Quan lang trong đám cưới (Trang 127)
Hình 5.Bạn của cô dâu và chú rể đến chúc mừng hạnh phúc. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 5. Bạn của cô dâu và chú rể đến chúc mừng hạnh phúc (Trang 127)
Hình 7. Trải chiếu ngược trước khi khách hát bài xin trải chiếu lại. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 7. Trải chiếu ngược trước khi khách hát bài xin trải chiếu lại (Trang 128)
Hình 8. Cô dâu, chú rể chuẩn bị mời rượu bố mẹ vợ. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 8. Cô dâu, chú rể chuẩn bị mời rượu bố mẹ vợ (Trang 128)
Hình 9. Bố me và họ hàng nhà gái trao quà cho cô dâu. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 9. Bố me và họ hàng nhà gái trao quà cho cô dâu (Trang 129)
Hình 10. Cô dâu, chú rể lạy tổ tiê nở bên nhà trai. Ảnh chụp của tác giả tại đám cưới ở - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 10. Cô dâu, chú rể lạy tổ tiê nở bên nhà trai. Ảnh chụp của tác giả tại đám cưới ở (Trang 129)
Hình 11. Đại diện họ nhà trai và nhà gái. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 11. Đại diện họ nhà trai và nhà gái (Trang 130)
Hình 12.Nghệ nhân Hoàng Văn Du,67 tuổi ở Nà Chuông II,  xã Mai Pha,TP.LS.   - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 12. Nghệ nhân Hoàng Văn Du,67 tuổi ở Nà Chuông II, xã Mai Pha,TP.LS. (Trang 130)
Hình 13. Lì xì nhà bếp họ chặt giúp con lợn quay. - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 13. Lì xì nhà bếp họ chặt giúp con lợn quay (Trang 131)
Hình 14. Pả me Hoàng Thị Lê. Ảnh chụp tại nhà trai, - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 14. Pả me Hoàng Thị Lê. Ảnh chụp tại nhà trai, (Trang 131)
Hình 15. Quan lang Hoàng Lương Sơn đang hát bài mời tổ tiên (Nguồn: tác giả)  - Hát quan lang trong đám cưới của người tày ở xã tân lang huyện văn lãng tỉnh lạng sơn
Hình 15. Quan lang Hoàng Lương Sơn đang hát bài mời tổ tiên (Nguồn: tác giả) (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm