LỜI CẢM ƠN Được sự gợi ý của giảng viên hướng dẫn – TS Nguyễn Anh Cường, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Xây dựng chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – P
Trang 1BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Khoa Văn hóa Du lịch
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN HỢP TÁC GIỮA BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Anh Cường Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Kiều Oanh
Hà Nội, tháng 5 năm 201 2
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự gợi ý của giảng viên hướng dẫn – TS Nguyễn Anh Cường,
em đã mạnh dạn chọn đề tài “Xây dựng chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ” làm khóa luận tốt nghiệp của mình Với bản thân em, đề tài là một thử thách khó khăn vì không chỉ đòi hỏi một lượng kiến thức văn hóa lớn mà trong thực tế chưa
có cuốn sách nào viết về một chương trình du lịch về cội nguồn hoàn chỉnh Chính vì vậy, khóa luận tốt nghiệp chính là một cơ hội để em thực hiện mong muốn xây dựng một chương trình du lịch cội nguồn hấp dẫn, có tính thực tiễn cao
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của: Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Lào Cai; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ; Ban quản lý di tích Đền Hùng (Việt Trì – Phú Thọ)… đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình khảo sát thực tế, thu thập tài liệu Em xin cảm ơn thầy cô trong khoa Văn hóa Du lịch đã cung cấp cho em những kiến thức nền tảng về nhiều lĩnh vực trong suốt bốn năm học để em có thể thực hiện đề tài này Một lần nữa em xin cảm ơn sự động viên và giúp đỡ rất tận tình của Thầy Cường trong suốt thời gian em làm khóa luận
Do những hạn chế về thời gian, vốn hiểu biết, đề tài còn rất nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự thông cảm, góp ý từ thầy cô và các bạn!
Sinh viên
Bùi Thị Kiều Oanh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ 9
1.1 Một số cơ sở lý luận 9
1.1.1 Loại hình du lịch 9
1.1.2 Loại hình du lịch về cội nguồn và chương trình du lịch về cội nguồn 10
1.1.3 Quy trình thiết kế chương trình du lịch về cội nguồn 13
1.2 Khái quát chung ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ 16
1.2.1 Lào Cai 16
1.2.2 Yên Bái 20
1.2.3 Phú Thọ 24
Chương 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN HIỆN NAY TẠI BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ 29
2.1 Tiềm năng du lịch về cội nguồn hiện nay tại ba tỉnh 29
2.1.1 Các di tích lịch sử nổi tiếng 29
2.1.2 Các danh lam thắng cảnh xếp hạng quốc gia 41
2.1.3 Các lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc 47
2.1.4 Các di sản văn hóa phi vật thể 56
2.1.5 Các làng thủ công nghề truyền thống 59
2.1.6 Ẩm thực 64
2.1.7 Giao thông 66
2.2 Thực trạng các chương trình du lịch (tour) về cội nguồn tại ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ 70
Chương 3: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN MỚI HỢP TÁC GIỮA BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ 85
Trang 43.1 Giải phát triển chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba
tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ 85
3.1.1 Giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch 85
3.1.2 Giải pháp thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch 87
3.1.3 Giải pháp tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến điểm đến 88
3.1.4 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 90
3.1.5 Giải pháp bảo vệ môi trường 91
3.1.6 Giải pháp về chương trình du lịch (tour) 91
3.2 Một số đề xuất, kiến nghị 93
3.3 Một số chương trình du lịch về cội nguồn mới 93
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 110
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếu của xã hội, không những là ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi quốc gia mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các miền trong một đất nước
Khi đi du lịch, trước hết du khách muốn được đảm bảo an toàn về tính mạng và sức khỏe, sau đó là thẩm nhận và tìm hiểu văn hóa của các quốc gia, dân tộc, các vùng miền khác nhau Du khách cũng muốn được trải nghiệm những cảm giác khác nhau thông qua các loại hình du lịch, các hình thức và cách thức tổ chức, điều phối các chương trình du lịch tạo ra những sắc thái riêng không nơi nào giống nơi nào, không chương trình nào giống chương trình nào Dù nhu cầu rất khác nhau nhưng nhìn chung, du khách đều có xu hướng về lại cội nguồn lịch sử, về lại với thiên nhiên, với những giá trị nhân văn, truyền thống của dân tộc Với xu hướng như vậy, vài năm gần đây, loại hình du lịch về cội nguồn với các tour hành hương trong và ngoài nước được một số doanh nghiệp tổ chức ngày càng nhiều, cho thấy nhu cầu du lịch trong cộng đồng ngày càng đa dạng Đây là một hình thái du lịch đặc thù, mỗi chương trình phải đồng thời thỏa mãn các nhu cầu: thưởng ngoạn, thư giãn và tín ngưỡng của du khách
Nếu chúng ta là nhà điều hành tour của một công ty lữ hành mà du khách yêu cầu phải xây dựng một chương trình du lịch về cội nguồn thì ta phải làm gì?
Ra đời (tự phát) năm 2005, chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Phú Thọ hiện đã trở thành một thương hiệu, có sức lan tỏa sâu rộng Lần đầu tiên Việt Nam có một chương trình
Trang 6liên kết du lịch giữa các địa phương, đem lại hiệu quả rõ nét trong việc quảng bá hình ảnh, tiềm năng, thế mạnh du lịch cũng như sự phát triển kinh
tế của ba tỉnh Theo ý kiến cá nhân, tôi cho rằng đây là một sáng kiến trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch mang tính liên vùng, đồng thời cũng là gợi ý giải đáp cho câu hỏi trên
Qua đây tôi mạnh dạn chọn đề tài “Xây dựng chương trình du lịch
về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ” với
mong muốn tìm hiểu thực trạng các chương trình du lịch về cội nguồn hiện nay của du khách tại ba tỉnh trên Bên cạnh đó đưa ra những giải pháp đóng góp và phát huy những ý tưởng thiết kế tour mới, hấp dẫn dành cho khách
đi du lịch
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng du lịch về cội nguồn hiện nay tại ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ, nắm rõ tiềm năng cũng như hạn chế về du lịch cội nguồn tại ba tỉnh Bên cạnh đó nghiên cứu một số tour mẫu, đưa ra thực trạng và giải pháp hợp lý khi đưa vào thực tế
Phác thảo gợi mở một số chương trình du lịch về cội nguồn mới hợp tác giữa ba tỉnh nhằm thu hút du khách
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các điểm du lịch đặc sắc, các sản phẩm du lịch về danh thắng, văn hóa, lịch sử trong tour du lịch về cội nguồn
Phạm vi nghiên cứu: ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Trong tổng số 44 bài tham luận của ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ phải
kể đến các bài tiêu biểu: “Hiệu quả bước đầu và những hạn chế trong quảng bá chương trình du lịch “Về cội nguồn” do 3 tỉnh Lào Cai - Phú Thọ - Yên Bái tổ chức hàng năm” của nhà báo Phạm Ngọc Triển, Phó Tổng biên tập Báo Lào Cai; “Một số giải pháp tăng cường công tác thông tin du lịch 3 tỉnh Lào Cai - Yên Bái - Phú Thọ” của ông Hà Quốc Trung, Giám đốc Trung tâm Thông tin Du lịch tỉnh Lào Cai;; “Phát triển du lịch bền vững ba tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai” của ông Nguyễn Hữu
Thắng, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái… Nhiều tham luận đưa ra làm rõ thế mạnh và những kinh nghiệm tốt cùng các mặt hạn chế, yếu kém trong tổ chức chỉ đạo phát triển du lịch ở ba tỉnh Phú Thọ - Lào Cai - Yên Bái Từ đó, gợi mở các giải pháp phát triển du lịch hiệu quả ở ba tỉnh, nhất là nâng cao chất lượng chương trình du lịch về cội nguồn hiện nay mới chỉ thu hút du khách nội địa mà chưa có sản phẩm hấp dẫn du khách quốc tế, đặc biệt là du khách từ tỉnh Vân Nam và khu vực vùng tây nam Trung Quốc
Đặc biệt bản chi tiết “Kế hoạch tổ chức chương trình Du lịch về cội nguồn năm 2011” của Ủy ban nhân dân ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú
Thọ là tiêu biểu nhất, trong đó đã làm rõ mục đích, ý nghĩa khi tổ chức chương trình, bên cạnh đó đưa ra những nội dung chi tiết về việc triển khai các hoạt động theo kế hoạch chung ba tỉnh đề ra như: công tác tuyên truyền quảng bá, công tổ chức các sự kiện, khai thác xây dựng sản phẩm du lịch, hoạt động kinh doanh và đầu tư du lịch…
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết trên các báo điện tử, tạp chí du lịch Tuy nhiên lại chưa có nhiều cuốn sách hay bài nghiên cứu tạo dựng được một chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh cụ thể, đặc sắc
và hấp dẫn trong lòng du khách
Trang 86 Bố cục của đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, đề tài
“Xây dựng chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác giữa ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ” gồm 3 chương chính:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận và khái quát chung ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ
Chương 2: Thực trạng du lịch về cội nguồn hiện nay tại ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ
Chương 3: Xây dựng chương trình du lịch về cội nguồn mới hợp tác giữa ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG BA
TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ
1.1 Một số cơ sở lý luận
1.1.1 Loại hình du lịch
* Khái niệm về loại hình du lịch
“Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được sắp xếp chung theo một mức giá bán nào đó” (Tác giả Trương Sỹ Quý)
* Phân loại các loại hình du lịch
+ Dựa vào mục đích chuyến đi:
Du lịch văn hóa
Du lịch lịch sử
Du lịch sinh thái
Du lịch vui chơi giải trí
Du lịch thuần túy về nhu cầu thể chất và tinh thần (gồm du lịch thể thao, du lịch chữa bệnh, du lịch hành hương tôn giáo, du lịch hoài niệm)
Du lịch công vụ
Du lịch mang tính chất xã hội
+ Dựa vào địa bàn du lịch:
Du lịch quốc tế : những chuyến du lịch mà nơi cư trú của khách du lịch và nơi đến du lịch thuộc hai quốc gia khác nhau Gồm :
Du lịch quốc tế chủ động : là các hoạt động kinh doanh du lịch gắn liền với khách du lịch quốc tế đến nước ta
Trang 10Du lịch quốc tế bị động : là các hoạt động kinh doanh du lịch gắn liền với việc đưa khách du lịch nước ta ra nước ngoài
Du lịch trong nước : gồm những chuyến du lịch mà nơi đến du lịch
và nơi cư trú của khách du lịch ở trên cùng một quốc gia
+ Dựa vào nơi tham quan du lịch:
* Loại hình du lịch về cội nguồn
Du lịch về cội nguồn là loại hình du lịch mà du khách du xuân trên mảnh đất cội nguồn, phát tích, tham dự các lễ hội thấm đẫm giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc Qua đó du khách sẽ có thêm nhiều trải nghiệm thú vị của riêng mình để thêm hiểu, thêm yêu, thêm tự hào và có trách nhiệm hơn với quê hương, dân tộc Việt
Sự thật là mọi cá nhân đều có cách suy nghĩ khác nhau về ý nghĩa của từ “cội nguồn”, khái niệm du lịch về cội nguồn cũng vì vậy trở thành một khái niệm rất rộng lớn Nhưng quan trọng phải hiểu rằng du lịch về cội nguồn ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu tự khám phá lại cội rễ, tổ tiên
Trang 11của mỗi người dân Việt mà còn từ tình yêu quê hương và niềm tự hào quê cha đất tổ của những người làm du lịch
Tham gia bất kỳ một tour du lịch nào trong hệ thống tour du lịch về cội nguồn, du khách đều cảm nhận được từ các góc độ khác nhau những bản sắc, tập tục cổ truyền của người Việt cổ hay các dân tộc HMông, Dao, Thái, Cao Lan, Tày, Nùng…; khám phá những danh thắng: hang động, hồ, rừng nguyên sinh…
Sự hấp dẫn của một chuyến du lịch về cội nguồn có thể hiểu đơn giản là sự hấp dẫn qua việc tìm hiểu và được tận mắt nhìn thấy những di chỉ, di tích lịch sử, văn hóa qua các thời kỳ dựng nước và giữ nước của một vùng từng là kinh đô cổ xưa nhất của nước Việt, cũng như cả một vùng rừng núi rộng lớn đã và đang là miền biên ải của đất nước từ Văn Lang ngày xưa đến Việt Nam hôm nay
Thực tế du lịch về cội nguồn là loại hình có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa rất sâu sắc Nó đáp ứng được nhu cầu của đông đảo các đối tượng du khách như học sinh, sinh viên, đoàn viên, thanh niên, hội cựu chiến binh Hành trình đó không chỉ đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan, khám phá của du khách mà còn mang ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau Khi
du khách tham gia hành trình về nguồn cội chắc chắn sẽ có thêm cơ hội để gặp gỡ những người mới, có thêm các kiến thức mới về các nền văn hóa và đặc biệt mang lại cho chính bản thân những ký ức tuyệt vời
Du lịch về cội nguồn là một hành trình văn hóa hết sức thiết thực đối với mỗi người Về cội nguồn là về với những gì bản sắc nhất, truyền thống nhất, để lắng đọng và cảm nhận “khí phách cha ông, hồn thiêng sông núi”, đến với cái đích “Chân – Thiện – Mĩ” trong cuộc sống hôm nay
( Dịch từ www essentialtips.net)
Trang 12* Chương trình du lịch về cội nguồn
+ Chương trình du lịch:
Các chương trình du lịch là những nguyên mẫu, để căn cứ vào đó người ta tổ chức các chuyến du lịch với mức giá đã được xác định trước Nội dung của chương trình thể hiện lịch trình chi tiết các hoạt động từ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, tham quan Mức giá của chương trình bao gồm giá hầu hết của các dịch vụ và hàng hóa phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình
Đặc điểm của chương trình du lịch là sản phẩm đặc biệt được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Nó là sản phẩm du lịch nên chứa các đặc điểm của sản phẩm du lịch
Nó là sản phẩm tổng hợp của tất cả các sản phẩm riêng lẻ
Nó là phương án tối ưu hoặc một sự kết hợp hoàn thiện và thống nhất giữa các giá trị sử dụng để tạo ra chuyến du lịch trọn gói
Thể hiện tính hấp dẫn và khả năng sinh lời
Nội dung của chương trình du lịch rất phong phú và đa dạng, nó cũng xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó nhu cầu của du khách có tính chất quyết định Về cơ bản nó bao gồm :
Tên chương trình – mã chương trình
Thời điểm tổ chức chương trình
Tổng quỹ thời gian của chương trình du lịch (n ngày, n-1 đêm) Chi tiết hoạt động từng ngày
Giá của chương trình du lịch
Các dịch vụ khác (nếu có)
Các điều khoản khác của chương trình
+ Chương trình du lịch về cội nguồn:
Có rất nhiều loại chương trình du lịch về cội nguồn mà du khách có thể tham gia Dù cho sở thích, thị hiếu của mỗi người khác nhau, nhưng ai
Trang 13cũng sẽ tìm được cho mình một chương trình phù hợp với bản thân nhất Thứ nhất, tour du lịch về cội nguồn có rất nhiều giá khác nhau tùy thuộc vào địa điểm đến, tiện nghi và dịch vụ bao gồm trong đó Thứ hai, du khách tham gia tour không chỉ một mình mà với một nhóm người(có thể cùng sở thích, cùng trình độ hoặc bạn bè thân thiết )
+ Ý nghĩa và yêu cầu của việc thiết kế chương trình du lịch về cội nguồn:
Ý nghĩa : Một chương trình du lịch, đặc biệt là chương trình du lịch
về cội nguồn được thiết kế một cách kỹ càng, chi tiết và chuyên nghiệp sẽ
là cơ sở mang lại sự hài lòng, hấp dẫn cho du khách và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Khai thác tốt nhất hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của vùng
1.1.3 Quy trình thiết kế chương trình du lịch về cội nguồn
* Nghiên cứu nhu cầu thị trường du lịch về cội nguồn
+ Mục đích đi du lịch của khách: Mỗi người đi du lịch vì những nhu cầu nhất định Điều này ảnh hưởng đến việc họ sẽ lựa chọn điểm đến này hay điểm đến khác, chương trình du lịch này hay chương trình du lịch khác Đối với loại hình du lịch về cội nguồn động cơ của đa số du khách là muốn tìm về cội nguồn, gốc rễ của dân tộc thông qua những bản sắc, tập tục cổ truyền của người Việt cổ, qua những danh thắng: hang động, hồ, rừng nguyên sinh…để thêm yêu quê hương, dân tộc Nắm bắt được mục đích du
Trang 14lịch của du khách tiềm năng là cơ sở quan trọng trong định hướng xây dựng chương trình du lịch
+ Nghiên cứu khả năng thanh toán của du khách : Là cơ sở xác định điều kiện tiện nghi về phương tiện vận chuyển, lưu trú, ăn uống của khách Trước hết cần nghiên cứu về thu nhập của du khách ở các thị trường du lịch tiềm năng và quan trọng nhất là chi tiêu cho du lịch trong tổng thu nhập đó, tùy theo từng dân tộc, cư dân của các quốc gia khác nhau mà khả năng dành cho chi tiêu du lịch cũng khác nhau Theo xu hướng phát triển du lịch hiện nay, du khách ngày càng dành cho chi tiêu du lịch nhiều hơn Do đó các tổ chức lữ hành cũng cần xem xét cơ cấu chi tiêu của du khách, điều này rất quan trọng cho việc xây dựng mức giá của chương trình du lịch và xây dựng cơ cấu dịch vụ cung ứng sao cho đáp ứng tốt nhu cầu và khả năng của du khách Giá của loại hình du lịch này thường không quá cao vì vậy sẽ
có lượng lớn du khách có khả năng chi trả
+ Nghiên cứu quỹ thời gian dành cho du lịch của du khách : Cần nghiên cứu quỹ thời gian rảnh rỗi của du khách – khoảng thời gian trong năm họ không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ dành nó vào việc thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi sau những ngày tháng làm việc mệt nhọc Qua đó doanh nghiệp dễ dàng hoạch định độ dài thời gian cho một chương trình du lịch, từ đó có kế hoạch sắp xếp các tuyến điểm tham quan, nghỉ ngơi phù hợp
+ Nghiên cứu không gian du lịch muốn khám phá: Là cơ sở để xác định vùng du lịch mà chương trình muốn giới thiệu, tùy theo nội dung của mỗi chương trình du lịch mà không gian du lịch có thể thay đổi Đối với chương trình du lịch về cội nguồn, không gian du lịch ở đây có thể là khu vực núi non, thác nước với phong cảnh tuyệt đẹp, có khi là một loạt những
di tích lịch sử cổ kính, uy nghiêm, lại có lúc chuyển sang các bản làng của những dân tộc thiểu số
Trang 15+ Nghiên cứu khả năng sức khỏe của du khách: Bất kỳ du khách nào khi tham gia du lịch nói chung hay đi tour về cội nguồn nói riêng cũng đều phải có sức khỏe tốt Để trang bị tốt nhất cho mỗi du khách, các công ty lữ hành còn tổ chức các buổi tập huấn đặc biệt nhằm đảm bảo an toàn cho du khách
+ Nghiên cứu yêu cầu và tập quán về chất lượng phục vụ: Nghiên cứu thói quen tiêu dùng và yêu cầu chất lượng đối với các loại dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống làm cơ sở để kết hợp thành phần yếu tố dịch vụ theo các tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu của du khách về cấp hạng, chủng loại, tính chất Điều này phụ thuộc đặc điểm kinh tế xã hội và tập quán tiêu dùng của du khách
+ Nghiên cứu thời điểm nghỉ ngơi và có nhu cầu du lịch của du khách: Là cơ sở để nắm bắt mùa vụ du lịch của một thị trường du lịch Từ
đó công ty lữ hành sẽ tiến hành xây dựng các chương trình du lịch và xúc tiến các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền cho việc tiêu thụ sản phẩm du lịch
* Nghiên cứu nguồn cung du lịch về cội nguồn
+ Nghiên cứu tài nguyên du lịch:
Kiểm kê tài nguyên du lịch (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân tạo)
Lựa chọn tài nguyên du lịch căn cứ vào những yếu tố sau : giá trị của tài nguyên du lịch (uy tín và sự nổi tiếng) ; sự phù hợp của tài nguyên du lịch với mục đích của chương trình du lịch ; điều kiện phục vụ đi lại, an ninh trật tự, độ an toàn và môi trường tự nhiên, xã hội của khu vực có tài nguyên du lịch
+ Nghiên cứu điều kiện sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách:
Trang 16Cơ sở hạ tầng xã hội cho dịch vụ du lịch gồm mạng lưới giao thông (phi trường, bến cảng, nhà ga, bến xe ) và các cơ sở hạ tầng khác (hệ thống điện, nước, y tế )
Để một chương trình du lịch về cội nguồn thành công, điều kiện giao thông là một trong những điều kiện tiên quyết Doanh nghiệp lữ hành có thể tổ chức các tour bằng nhiều phương tiện khác nhau, phù hợp với khoảng cách và khả năng tiếp cận điểm du lịch, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho chương trình
Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch : gồm các cơ sở lưu trú, các cơ sở phục vụ dịch vụ ăn uống và các phương tiện chuyên chở (gồm tất
cả những phương tiện đưa khách từ nhà đế điểm du lịch, giữa các điểm du lịch và đi lại bên trong điểm du lịch)
Cùng với sự phát triển của kinh tế, du khách ngày càng đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng và điều kiện phục vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống đáp ứng nhu cầu, tâm lý và khả năng chi trả của họ Do đó sự chuẩn bị trước về điều kiện sẵn sàng đón tiếp càng trở nên quan trọng với các doanh nghiệp
lữ hành
* Lập lịch tour và định giá cho chương trình du lịch về cội nguồn
Lịch tour là sự phát triển của bảng phác thảo Phân bố tuyến hành trình một cách chi tiết theo từng ngày
Dựa vào các phương pháp định giá và đánh giá mức độ hấp dẫn của chương trình để đưa ra một mức giá thích hợp
1.2 Khái quát chung ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ
1.2.1 Lào Cai
* Điều kiện địa lý tự nhiên
+ Vị trí địa lý:
Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam, cách Hà Nội
296 km theo đường sắt và 375 km theo đường bộ Tỉnh có 203,5 km đường
Trang 17biên giới với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, trong đó 144,3 km là sông suối
và 59,2 km là đất liền Phía Bắc tỉnh Lào Cai giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu Hiện nay, tỉnh có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện)
+ Đặc điểm địa hình:
Địa hình tỉnh Lào Cai đặc trưng là núi cao xen kẽ với đồi núi thấp, bị chia cắt lớn, với phần thung lũng dọc sông Hồng và các tuyến đường bộ, đường sắt chạy qua vùng trung tâm của tỉnh Các huyện miền núi nằm bao quanh hành lang trung tâm này từ Đông - Bắc sang Tây – Nam, gồm nhiều dãy núi và thung lũng nhỏ biệt lập, nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống Những vùng có độ dốc trên 250 chiếm tới 80% diện tích đất đai của tỉnh Địa hình tự nhiên của tỉnh có độ cao thay đổi từ 80 m trên mực nước biển lên tới 3.143 m trên mực nước biển tại đỉnh Phan Si Păng, đỉnh núi cao nhất Việt Nam Địa hình vùng núi với các tác động tiểu khí hậu đã giúp tạo nên một môi trường thiên nhiên rất đa dạng
Trang 18mật độ rất dày Trong các đợt rét đậm thường xuất hiện sương muối, ở những vùng có độ cao trên 1.000 m (SaPa, Bát Xát) hàng năm thường có tuyết rơi
* Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên đất:
Lào Cai có diện tích tự nhiên rộng 805.708,5 ha, độ phì nhiêu cao, rất màu mỡ, đa dạng bao gồm 10 nhóm đất với 30 loại đất chính, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Trong đó: đất nông nghiệp có 76.203
ha, đất lâm nghiệp 178.192 ha, đất chưa sử dụng còn khoảng 393.500 ha + Tài nguyên rừng:
Tổng trữ lượng tài nguyên rừng toàn tỉnh có 17.244.265 m3 gỗ (trong
đó, rừng tự nhiên 16.876.006 m3; rừng trồng gỗ 368.259 m3); 207.512.300 cây tre, vầu các loại Diện tích quy hoạch cho đất lâm nghiệp 543.982 ha, chiếm 68% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất có rừng 274.766
ha, chiếm 34% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh (gồm có rừng tự nhiên 225.877 ha; và rừng trồng 48.889 ha) Đất chưa có rừng 269.216 ha, chiếm 33% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Với vốn rừng trên, chỉ tiêu về mặt diện tích rừng bình quân đầu người của tỉnh Lào Cai là 0,45 ha/người, so với chỉ tiêu tương ứng của thế giới là 0,97 ha/người
Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) với hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú (có trên 2.000 loài thực vật, trên 400 loài chim, thú, bò sát, rất nhiều loài động, thực vật đặc biệt quý hiếm, có kho tàng quỹ gen thực vật quý hiếm chiếm 50% số loài thực vật quý hiếm của Việt Nam)
+ Tài nguyên khoáng sản:
Lào Cai là một trong những tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản nhất Việt Nam với 35 loại khoáng sản khác nhau và trên 150 điểm mỏ Trong đó
có nhiều loại khoáng sản như apatít, đồng, sắt, graphít, nguyên liệu cho gốm, sứ, thuỷ tinh,… với trữ lượng lớn nhất cả nước Một số mỏ có trữ
Trang 19lượng lớn dễ khai thác, dễ vận chuyển và đang có thị trường quốc tế đã tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến các loại khoáng sản ở địa phương
* Tiềm năng kinh tế - du lịch
+ Những lĩnh vực kinh tế lợi thế:
Lào Cai có vị trí địa lý thuận lợi, nơi có hai con sông Hồng và sông Chảy, có cửa khẩu quốc tế Lào Cai và có nhiều tiềm năng khác thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại và du lịch Lào Cai nổi tiếng với khu
du lịch Sa Pa, là nơi có khí hậu, thời tiết mát mẻ vào mùa hè, hấp dẫn du khách nhiều nơi trên thế giới tới du lịch
Lào Cai là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng, là cơ sở để phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản
Cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Hải Phòng, là cửa ngõ lớn và thuận lợi nhất để phát triển thương mại, du lịch giữa Việt Nam với vùng Tây Nam - Trung Quốc (gồm 11 tỉnh, thành phố, diện tích hơn 5 triệu km2 và dân số hơn 380 triệu người); là con đường ngắn nhất, thuận tiện nhất từ tỉnh Vân Nam, vùng Tây Nam - Trung Quốc ra cảng Hải Phòng và nối với vùng Đông Nam Á Cửa khẩu quốc tế Lào Cai hội tụ đủ các loại hình vận tải: đường sắt, đường bộ, đường sông và tương lai sẽ có cả đường hàng không Là cửa khẩu quốc tế duy nhất của Việt Nam có vị trí nằm ngay trong thị xã tỉnh lỵ có hệ thống
hạ tầng và dịch vụ khá phát triển Hiện nay, cửa khẩu quốc tế Lào Cai đã và đang được tập trung xây dựng thành cửa khẩu văn minh, hiện đại, đủ điều kiện trở thành nơi trung chuyển hàng hoá lớn giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước ASEAN, từng bước chuẩn bị cho khu vực mậu dịch tự
do ASEAN – Trung Quốc
Trang 20+ Tiềm năng du lịch:
Lào Cai có tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch với các loại hình nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi, văn hoá Thiên nhiên ban tặng cho Lào Cai nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng gắn với các địa danh Sa Pa, Bắc
Hà, Bát Xát, Mường Khương, Trong đó, khu du lịch Sa Pa rất nổi tiếng trong nước và quốc tế; là một trong các trọng điểm du lịch của quốc gia Số khách du lịch đến Lào Cai năm 2002 là 350.000 người; khách qua cửa khẩu quốc tế năm 2002 đạt 1,4 triệu lượt người Năm 2003, khu du lịch Sa Pa tròn 100 tuổi
Tiếp giáp với Lào Cai là tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, một trong 4 tỉnh, thành phố có kinh tế du lịch phát triển nhất Trung Quốc (sau Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông), hàng năm có tới 2,5 triệu lượt khách quốc tế; đa số du khách đến Vân Nam đều muốn sang du lịch Việt Nam qua cửa khẩu Lào Cai và ngược lại
180 xã, phường, thị trấn; trong đó có 70 xã vùng cao và 70 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước Yên bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước
Trang 21+ Đặc điểm địa hình:
Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc – Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành
2 vùng lớn: vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh
+ Khí hậu:
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 - 230C; lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp Dựa trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình
18 – 200C, có khi xuống dưới 00C về mùa đông, thích hợp phát triển các loại động, thực vật vùng ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn – nam Văn Chấn, độ cao trung bình 800 m, nhiệt độ trung bình 18 – 200C, phía Bắc là tiểu vùng mưa nhiều, phía Nam là vùng mưa ít nhất tỉnh, thích hợp phát triển các loại động, thực vật á nhiệt đới, ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn – Tú Lệ, độ cao trung bình 200 – 400 m, nhiệt độ trung bình 21 – 320C, thích hợp phát triển các loại cây lương thực, thực phẩm, chè vùng thấp, vùng cao, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Tiểu vùng nam Trấn Yên, Văn Yên, thành phố Yên Bái,
Ba Khe, độ cao trung bình 70 m, nhiệt độ trung bình 23 – 240C, là vùng
Trang 22mưa phùn nhiều nhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả Tiểu vùng Lục Yên – Yên Bình độ cao trung bình dưới 300 m, nhiệt độ trung bình 20 – 230C, là vùng
có mặt nước nhiều nhất tỉnh, có hồ Thác Bà rộng 19.050 ha, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản,
ha, chiếm 0,55% và đất chưa sử dụng 303.730,7 ha, chiếm 44,13% Trong
đó số đất chưa sử dụng, đất có khả năng nông nghiệp là 1.358,26 ha; đất có khả năng lâm nghiệp là 278.729,14 ha Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám (chiếm 82,36%), còn lại là đất mùn alít, đất phù sa, đất glây, đất đỏ… + Tài nguyên rừng:
Năm 2002, toàn tỉnh có 186.808 ha rừng tự nhiên, chiếm 27,14% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, tăng 41,5% so với năm 1996 và tăng 3,5%
so với năm 2000; diện tích rừng trồng 95.430 ha bằng 13,86% diện tích đất
tự nhiên Tỷ lệ che phủ đạt 41% Tổng trữ lượng gỗ các loại theo số liệu điều tra năm 1998 có 17,2 triệu m3, 51,133 triệu cây tre, vầu, nứa và các loại lâm sản khác, trữ lượng gỗ rừng trồng còn 2,5 triệu m3 Về khai thác lâm sản, năm 1995, khối lượng gỗ tròn khai thác là 55.683 m3, năm 2000 đạt 105.344 m3, năm 2002 đạt 123.000 m3
+ Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản Yên Bái khá đa dạng, hiện đã điều tra 176 điểm mỏ khoáng sản, xếp vào các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại và
Trang 23nhóm nước khoáng Nhóm khoáng sản năng lượng gồm các loại than nâu, than Antraxit, đá chứa dầu, than bùn…; loại than nâu và than lửa dài tập trung ở ven sông Hồng, sông Chảy và các thung lũng bồn địa như Phù Nham (Văn Chấn) Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng gồm đá vôi, đá ốp lát, sét gạch ngói, cát sỏi…được phân bố rộng rãi trên khắp địa bàn tỉnh Nhóm khoáng chất công nghiệp gồm đầy đủ các nguyên liệu công nghiệp
từ nguyên liệu phân bón, nguyên liệu hoá chất, nguyên liệu kỹ thuật, đặc biệt là đá quý và bán đá quý được phân bố chủ yếu ở Lục Yên và Yên Bình Nhóm khoáng sản kim loại có đủ các loại từ kim loại đen (sắt) đến kim loại nâu (đồng, chì, kẽm) và kim loại quý (vàng), đất hiếm phân bố chủ yếu ở hữu ngạn sông Hồng Nhóm nước khoáng được phân bố chủ yếu ở vùng phía tây của tỉnh (Văn Chấn, Trạm Tấu), bước đầu được sử dụng tắm chữa bệnh
* Tiềm năng kinh tế - du lịch
+ Những lĩnh vực kinh tế lợi thế:
Yên Bái có lợi thế để phát triển ngành nông – lâm sản gắn với vùng nguyên liệu: trồng rừng và chế biến giấy, bột giấy, ván nhân tạo; trồng và chế biến quế, chè, cà phê; trồng và chế biến sắn, hoa quả; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản Với nguồn khoáng sản phong phú, tỉnh có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và chế biến khoáng sản như: đá quý, cao lanh, fenspat, bột cácbonnát canxi, sắt…và sản xuất vật liệu xây dựng: xi măng, gạch, sứ kỹ thuật, sứ dân dụng, đá xẻ ốp lát, đá mỹ thuật và các loại vật liệu xây dựng khác khác
+ Tiềm năng du lịch:
Yên Bái là một tỉnh miền núi, phong cảnh thiên nhiên đa dạng và đẹp: hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái suối Giàng, cánh đồng Mường Lò; di tích cách mạng, đền thờ Nguyễn Thái Học, Căng Đồn, Nghĩa Lộ…Tỉnh
Trang 24yên Bái có nhiều dân tộc thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái
La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km
và cảng Cái Lân 200 km
Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc
Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế
Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì
là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi,
7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn
Trang 25+ Đặc điểm địa hình:
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực
và chăn nuôi
+ Khí hậu:
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng
* Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên đất:
Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, theo kết quả điều tra thổ nhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27
ha chiếm tới 66,79% (diện tích điều tra) Đất thường có độ cao trên 100 m,
độ dốc lớn, tầng đất khá dày, thành phần cơ giới nặng, mùn khá Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một số nơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp
Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha
Trang 26Đánh giá các loại đất của Phú Thọ thấy rằng, đất đai ở đây có thể trồng cây nguyên liệu phục vụ cho một số ngành công nghiệp chế biến, nếu
có vốn đầu tư và tổ chức sản xuất có thể tăng năng suất ở nhiều nơi; đưa hệ
số sử dụng đất lên đến 2,5 lần (hiện nay hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng 2,2), đồng thời bảo vệ và làm giàu thêm vốn tài nguyên này; cho phép phát triển công nghiệp và đô thị
+ Tài nguyên rừng:
Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cả nước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tự nhiên) Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tự nhiên, 74.704 ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biến hàng năm Các loại cây chủ yếu như bạch đàn,
mỡ, keo, bồ đề và một số loài cây bản địa đang trong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất giấy) + Tài nguyên khoáng sản:
Phú Thọ không phải là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, nhưng lại có một số loại có giá trị kinh tế như đá xây dựng, cao lanh, fenspat, nước khoáng Cao lanh có tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác lên đến 24,7 triệu tấn Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 3,9 triệu tấn, nước khoáng có tổng trữ lượng khoảng
48 triệu lít, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 46 triệu lít
Ngoài ra, Phú Thọ còn có một số loại khoáng sản khác như: quactít trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 tỷ tấn, pyrít trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, tantalcum trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn, và nhiều cát sỏi với điều kiện khai thác hết sức thuận lợi Đây là một số lợi thế cho phép Phú Thọ
Trang 27phát triển các ngành công nghiệp như xi măng, đá xây dựng, các loại vật liệu xây dựng có ưu thế cạnh tranh
* Tiềm năng kinh tế - du lịch
+ Những lĩnh vực kinh tế lợi thế:
Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm sản Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ; đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp
và đầu tư với tốc độ nhanh
Khu di tích lịch sử Đền Hùng gắn liền với lịch sử dựng nước của dân tộc; đầm Ao Châu, vườn quốc gia Xuân Sơn, vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ… là những tiềm năng lớn để Phú Thọ phát triển du lịch
+ Tiềm năng du lịch:
Phú Thọ có bản sắc văn hoá dân tộc gắn liền với lịch sử dựng nước
và giữ nước từ thời Hùng Vương với trên 200 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, di tích cách mạng kháng chiến đều có khả năng khai thác phục
vụ cho tham quan, du lịch
Phú Thọ có nhiều di tích nổi tiếng như: khu di tích Đền Hùng (Lâm Thao), đầm Ao Châu, Ao Giời, Suối Tiên, khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (33.687 ha, trong đó 15.000 ha rừng nguyên sinh), vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ, đền Mẫu Âu Cơ, đình Lâu Thượng, Hùng Lô, Đào Xá, chùa Xuân Lãng, chùa Phúc Khánh; các khu di chỉ; Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun…Các di tích kháng chiến: chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà) Vạn Thắng (Cẩm Khê), tượng đài kháng chiến sông Lô (Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông), Chu Hoá (Lâm Thao)…
Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn; lễ hội
Trang 28Đền Hùng, hội phết (Hiền Quang), hội làng Đào Xá, Sơn Vi…; nhiều làn điệu dân ca, xoan ghẹo, nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại về dựng nước, nhiều truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng
Tiểu kết: Chương 1 nêu một số cơ sở lý luận (loại hình du lịch, loại hình
du lịch về cội nguồn, chương trình du lịch về cội nguồn…) và khái quát chung ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ đem lại cách nhìn dễ hiểu hay đánh giá chung nhất về ba tỉnh, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn trong chương 2 Tuy mỗi tỉnh có những đặc điểm riêng nhưng có thể tóm tắt theo nội dung thành bảng như sau:
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH VỀ CỘI NGUỒN HIỆN NAY TẠI BA TỈNH LÀO CAI – YÊN BÁI – PHÚ THỌ
2.1 Tiềm năng du lịch về cội nguồn hiện nay tại ba tỉnh
Ba tỉnh Lào Cai – Yên Bái – Phú Thọ có nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng cả về mặt tự nhiên (các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên gắn với đa dạng sinh học, sông hồ, thác nước, các nguồn suối khoáng…) lẫn về mặt nhân văn (các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, các làng nghề, các lễ hội truyền thống, văn hóa cộng đồng các dân tộc, văn hóa
ẩm thực…)
Tuy nhiên, mỗi địa phương đều có những đặc điểm riêng về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và có những đặc trưng riêng về tài nguyên du lịch Nhưng nhìn chung tiềm năng du lịch về cội nguồn của ba tỉnh được khai thác theo các hướng chính như sau:
2.1.1 Các di tích lịch sử nổi tiếng
* Đền Thượng ( Lào Cai) - điểm văn hóa tâm linh
Đền Thượng thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, được xây dựng trên ngọn đồi thuộc khu vực phường Lào Cai (TP Lào Cai), cách Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai gần 500m về phía Đông Bắc Nơi đây, hơn 700 năm trước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã chọn làm nơi hỏa hiệu để quân ta chủ động chiến đấu với quân giặc, tránh tổn thất Khu vực Đền Thượng có cảnh quan thiên nhiên đẹp, cùng sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc truyền thống với nét văn hoá bản địa, tạo cho ngôi đền sự uy nghi, linh thiêng
Đền Thượng được xây dựng vào thời nhà Lê (niên hiệu Chính Hòa
1680 - 1705), qua nhiều lần trùng tu tôn tạo đến năm 1996 được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia
Trang 30Nơi đây xưa có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ chống quân xâm lược, ngày nay, gần cửa ngõ giao thương giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc), vùng đất linh thiêng nơi địa đầu Tổ quốc này mỗi năm đón hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, hành hương thăm viếng, tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc Đền Thượng nằm trong quần thể di tích văn hóa bao gồm: Chùa Tân Bảo, Đền Am, Đền Mẫu, Đền Cấm, Đền Quan Vào mồng một, ngày rằm hàng tháng, rất đông du khách thập phương về dâng hương, cầu mong mọi
sự an lành, mùa màng bội thu, người yên, vật thịnh, cuộc sống ngày càng
ấm no, hạnh phúc
Hội chính Đền Thượng được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng hàng năm Trong hội tổ chức lễ rước kiệu, lễ tế thần, dâng hương tưởng niệm, lễ cầu an, cầu phúc… sau các nghi lễ sẽ tổ chức trồng cây xanh tại khu vực quanh đền Đây là nét đẹp văn hóa đầy ý nghĩa tâm linh của nhân dân, luôn nhớ về cội nguồn dân tộc
Đền Thượng được đầu tư, xây dựng khang trang với 7 gian thờ chính gồm: Cung thờ Phật Thích ca Mâu ni, Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu; Ban thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo; Cung thờ Đức vua cha Ngọc Hoàng…
và các ban thờ phía Tả Vu - Hữu Vu thờ Chầu bà Đệ Nhị Sơn Trang, Thập Nhị Tiên Cô, Chầu hầu cận Chúa và Cậu Bé thủ đền… tất cả đều được sắp đặt theo trình tự Các pho tượng thờ đều sơn son thếp vàng
Bên cạnh Đền Thượng là ngôi đình hình vuông với 4 cửa, 8 rồng chầu, giữa phương đình hình rùa vàng lưng đội bia đá khắc tích "Đức Thánh Trần" Nơi đây trước kia là nơi nghỉ chân của các quan quân đi tuần, ngày nay, là rừng sinh thái với đủ các loại cây trồng bảo vệ môi trường, phục vụ du khách tham quan, nghỉ chân thưởng thức khí hậu trong lành Đặc biệt, đây là một trong những ngôi đền linh thiêng được nhiều người biết đến nhất trong hệ thống các đền, chùa ở Lào Cai
Trang 31Nằm trong Chương trình du lịch về cội nguồn hợp tác ba tỉnh Lào Cai - Yên Bái - Phú Thọ, quần thể di tích lịch sử - văn hóa Đền Thượng là điểm đến lý tưởng của du khách Ngoài các hoạt động văn hoá tâm linh, tìm hiểu phong tục tập quán, thưởng thức các món ăn đặc sản truyền thống của các dân tộc Lào Cai, tại đây còn diễn ra các hoạt động văn hoá, văn nghệ
và các trò chơi dân gian dân tộc, các gian hàng trưng bày sản phẩm thủ công truyền thống hấp dẫn du khách
* Đền Bảo Hà (Lào Cai)
Đền Bảo Hà (xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, Lào Cai) nằm trong "Quần thể di tích Thần vệ quốc Hoàng Bảy" (cùng Đền Cô Tân An) từ lâu đã trở thành địa chỉ du lịch tâm linh của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài tỉnh mỗi năm trong hành trình "Du lịch về cội nguồn," nhất là dịp đầu Xuân mới
Đền Bảo Hà là khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được Nhà nước xếp hạng vào tháng 11/1997 Nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 60km
về hướng Nam, từ ga Bảo Yên đi xuống khoảng 1km, những năm gần đây, đền là điểm đến thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên
Đền Bảo Hà thờ thần vệ quốc Hoàng Bảy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bờ cõi biên cương Theo sử sách ghi chép lại, đền được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng), thờ danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn, có công đánh giặc ở cửa ải Lào Cai, bảo vệ Tổ quốc
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng trong phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc Đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo
Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng Tại đây có đài hỏa hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới
Trang 32Kiến trúc nguyên thủy của đền được giữ lại gần như toàn bộ cho đến ngày nay, thể hiện sự uy nghi và trang nghiêm nhưng không quá cầu kỳ, gồm: cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, Tòa đại bái, Cung cấm, Cung nhị, Cung công đồng với diện tích, bài trí các pho tượng khác nhau Trong các cung thờ chính của đền có các pho tượng: Đức Thánh Trần, Đức Vua Cha, Quan Tuần Trang, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Đông quan Bơ phủ, Mẫu Nhị, Mẫu Thượng Ngà, Mẫu Thủy Tiên, Thiên Phúc Thiên Nhãn
Đền Bảo Hà có rất nhiều ngày lễ hội, trong đó những ngày lễ chính
là Lễ thượng nguyên (rằm tháng Giêng), lễ tiệc quan tuần tranh (25/5 âm lịch), lễ hội ngày giỗ ông Hoàng Bảy (17/7 âm lịch), lễ Tết muộn (Tết tất niên)
* Đền Đông Cuông (Yên Bái)
Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng,
đã tồn tại từ lâu đời tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Ngày 3/02/2009, Đền Đông Cuông đã đón nhận bằng công nhận di tích lịch
bà bên tả ngạn, đối diện với miếu
Trang 33Theo tục truyền, xã Đông Cuông cổ xưa là Mương Khà đã có từ lâu đời do các dòng họ Hà, Hoàng - Tày Khao sáng lập; đồng thời họ Hà dựng đình để làm nơi cúng thần Sông, Núi, Thổ địa, Thành Hoàng Làng Hai họ
Hà và Cầm từng thay nhau đảm lãnh công vụ chính quyền và cúng lễ của toàn mường
Năm 1979, nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc Đền dỡ đi để xoá mục tiêu Đồ thờ cất giữ cẩn thận Năm 1980, Hội người cao tuổi ở khu Bến Đền tái dựng đền bằng vật liệu tranh tre nứa lá
Theo bản "Tóm tắt lịch sử đền mẫu Đông Cuông" ngày 01/6/1998 của nhà Đền Đông Cuông thì bên trong được sắp đặt các bàn thờ như sau: Trong cung cấm có một tượng Mẫu, một tượng Quan Hoàng và hai tượng hầu cận Gian giữa bệ thờ Công Đồng Tứ Phủ có 5 tượng quan Nhìn theo hướng nhà đền bên phải là toà sơn trang thờ 12 cô sơn trang Bên trái xây toà thờ Trần Triều và hai cô hầu cận" Tượng Quan Hoàng chính là tượng
"Vua Báo" mà đồng bào Tày thường gọi
Thời phong kiến, chư thần Đông Cuông được bốn đời vua sắc phong
về công lao "bảo vệ đất nước, che chở nhân dân" và xã Đông Cuông được đặc cách chuẩn y cho theo trước phụng thờ chư thần và chăm non miếu đền: Năm Tự Đức thứ 33 ngày 11 tháng 4 âm lịch; năm đồng Khánh thứ 2 tháng 7 ngày 1; năm Duy Tân thứ 3 tháng 8 ngày 11; năm Khải Định thứ 9 tháng 7 ngày 25
* Di tích mộ Nguyễn Thái Học
Di tích lịch sử - văn hóa “Khởi nghĩa Yên Bái”
Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, nằm trong khuôn viên công viên Yên Hoà (rộng
30 ha ), bên cạnh đại lộ mang tên nhà yêu nước Nguyễn Thái Học, thuộc phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái Đánh giá đúng tầm vóc lịch
sử của khu di tích, Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao
Trang 34và Du lịch) đã công nhận đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia theo quyết định số 177/QĐ-VHTT, ngày 5/3/1990
Di tích lịch sử - văn hóa “Khởi nghĩa Yên Bái” gồm khu lăng mộ, khu tượng đài, khu nhà đón khách, bia tưởng niệm và khuân viên cây cảnh Với ý tưởng tôn vinh tinh thần yêu nước, cho nên mọi chi tiết kiến trúc đều nhất quán, vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính văn hóa, vừa có ý nghĩa truyền thống, vừa có ý nghĩa thẩm mỹ lâu dài
Nổi bật nhất khu vực này là câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học trở thành phương châm hành động và tư tưởng chủ đạo của Việt Nam quốc dân Đảng, đó là “Không thành công cũng thành nhân”, được nghĩa quân coi như lời thề quyết tử
Mộ 1: gồm 4 người bị hành quyết ngày 8/5/1930 là các ông cai phục
vụ trong quân đội Pháp, nổi dậy trực tiếp chỉ huy đánh chiếm đồn Pháp
Mộ 2: gồm 13 người bị hành quyết ngày 17/6/1930, là các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng, trong đó có Nguyễn Thái Học (mất lúc 27 tuổi), Phó Đức Chính (mất lúc 21 tuổi)…
Bảng ghi tên 17 liệt sỹ, có mái che mô phỏng mái âm dương truyền thống của Việt Nam, tạo cảm giác linh thiêng, tôn kính Mô phỏng lưỡi máy chém, ghi câu thơ dịch từ nguyên văn tiếng Pháp do Nguyễn Thái Học đọc trên đường ra pháp trường: “Chết vì tổ quốc chết vinh
Lòng ta sung sướng, chí ta nhẹ nhàng…”
Ý đồ kiến trúc: 17 liệt sỹ tương ứng với 17 cột trụ được liên kết bằng vòng tròn không khép kín, biểu hiện sự dở dang , sự thiếu toàn vẹn, sự thất bại của cuộc khởi nghĩa, sự khiếm khuyết của phong trào Mảnh vỡ được rơi về đất mẹ, làm mầm mống cho sự tiếp tục, lòng yêu nước mãi mãi sinh sôi Nhìn qua khoảng trống giữa các cột thấy được các bức tranh thiên nhiên sinh động Đây là nơi tập trung anh linh tôn kính, với phong thủy độc đáo, gần với triết lý nhân sinh dân tộc Với không gian kiến trúc mở, gợi
Trang 35cho mọi người liên tưởng về sự bất diệt giữa cõi trời, cõi đất và cõi người Cuộc khởi nghĩa Yên Bái làm chấn động toàn cõi Đông Dương, lay động tới nước Pháp Với ý tưởng tôn vinh tinh thần yêu nước và tâm thế của ý chí quật cường dân tộc Việt Nam, nhóm nhân vật được liên kết thành khối, vừa thực vừa siêu thoát Nhóm tượng thế hiện tinh thần chung, bao hàm cho cả cuộc khởi nghĩa, nên có người hy sinh tại Yên Bái, có người không
hy sinh tại Yên Bái nhưng rất tiêu biểu, đều được chọn làm nhân vật Nhóm tượng được đặt trên nền đất bền vững, theo nguyên tắc lý tưởng về sơn thủy:
Nhân vật thứ nhất là Nguyễn Thái Học, được lấy nguyên mẫu từ bức ảnh khi ông là sinh viên thương mại, sáng láng trí tuệ, trẻ trung và đầy ý chí Ông là linh hồn của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, trước khi lên đoạn đầu đài, thực dân Pháp bắt ông chứng kiến lần lượt 12 đồng chí của ông bị hành quyết Dưới máy chém ông hô vang “Việt Nam vạn tuế”, tiếng
hô nửa chừng, đầu văng ra, miệng vẫn còn mấp máy
Nhân vật thứ 2 là Nguyễn Khắc Nhu, 48 tuổi, chỉ huy trực tiếp đánh đồn Hưng Hóa nhưng không thành Quân Pháp đuổi bắt, ông nằm trên trái mìn tự tạo, giật nổ nhưng ông chỉ bị thương Với ý chí không chịu sa vào tay giặc, về nhà lao Hưng Hóa, ông đã tự đập đầu chết
Nhân vật thứ 3 là Phó Đức Chính, người trực tiếp chỉ huy đánh Đồn Thông (Sơn Tây) Trước khi lên máy chém, người Pháp hỏi: “Anh chết trẻ,
có ân hận không?”, Phó Đức Chính trả lời: “Sống làm người mong làm một việc lớn, việc không thành có gì ân hận!”
Nhân vật thứ 4 là Nguyễn Thị Giang, thường gọi là cô Giang, người làm công tác binh vận, là vợ Nguyễn Thái Học, đã tổ chức đám cưới bí mật tại Đền Hùng, có sự chứng kiến của tổ chức và người nhà Khi Nguyễn Thái Học bị chém, cô Giang đóng giả đàn ông, trà trộn vào người xem để được nhìn mặt chồng lần cuối Rồi trở về quê Nguyễn Thái Học, thắp
Trang 36hương trên mộ tổ tiên, sau đó ra giữa cánh đồng, dùng khẩu súng ngắn Nguyễn Thái Học tặng để tự sát Cô Giang để lại một bài thơ tuyệt mệnh rất cảm động Chính vì thế mà cụ Phan Bội Châu đã viết bài văn tế cô Giang lên hàng nữ liệt của Việt Nam
Nhân vật thứ 5 là hình ảnh ông cai (lính Việt trong quân đội Pháp) đại diện cho lực lượng chủ yếu nổi dậy chống Pháp trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái Lăng mộ và nhóm tượng đài đều hướng ra phía hồ Cô Giang, không bao giờ cạn nước, như lòng yêu nước mãi mãi dâng đầy
Khởi nghĩa Yên Bái tuy thất bại, nhưng lòng yêu nước là bất diệt Chính vì thế, trên đất nước ta, rất nhiều nơi lấy tên Nguyễn Thái Học đặt tên cho các đại lộ và các trường học Nhiều tỉnh lấy tên Nguyễn Khắc Nhu (xứ Nhu), Phó Đức Chính, Cô Giang… đặt tên cho các đường phố Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ đã lấy đề tài khởi nghĩa Yên Bái để viết thành tiểu thuyết, thơ, nhạc, kịch bản sân khấu, để lại nhiều tác phẩm giá trị, thấm đẫm tình yêu nước Cụ Phan Bội Châu đã viết bài văn tế về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và các nhân vật trọng yếu của cuộc khởi nghĩa Cụ Ngô Quang Đoan, yếu nhân của Quang Phục Hội đã có câu đối:
“Nghĩa lớn đã làm: Giết giặc, lòng son ngời nhật nguyệt
Thù sâu chưa trả: Hy sinh, khí mạnh rạng non sông”
Đối với cuộc khởi nghĩa Yên Bái: “Lòng yêu nước không bao giờ cũ” là như vậy Đó cũng là tài sản tinh thần mà cuộc khởi nghĩa Yên Bái để lại
* Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ)
Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; là nơi thờ các vua Hùng có công dựng nước, Tổ Tiên của dân tộc Việt Nam Ngày xa xưa vùng đất này là khu vực trung tâm của nước Văn Lang - thời đại các vua Hùng, các ngôi đền thờ vua Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh (còn gọi là núi Cả theo địa phương hay
Trang 37các tên khác: núi Hùng, núi Hy Cương), có độ cao 175 mét so với mặt nước biển Ngày nay núi Hùng vẫn giữ dáng vẻ của rừng tự nhiên với nhiều thế
hệ cây tầng khác nhau, gồm 150 loài thảo mộc, thuộc 35 họ, trong đó còn lại một số cây đại thụ lớn như: đa, thông, thiên tuế, trò v.v
Đền Hạ: Được xây dựng vào thế kỷ XVII - XVIII Kiến trúc kiểu
chữ nhị (=) gồm Tiền bái và Hậu cung Kiến trúc đền Hạ đơn sơ, kèo cầu
suốt, quá giang đóng trụ, mái lợp ngói mũi Tương truyền rằng nơi đây, mẹ
Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con trai, nguồn gốc của cộng đồng người Việt, nghĩa “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây Khi các con khôn lớn cha Lạc Long Quân mang theo 50 người con về vùng biển quai đê lấn biển, mở mang bờ cõi Mẹ Âu Cơ mang theo 49 người con ngược lên vùng núi, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, xây dựng cuộc sống Người con trưởng ở lại làm Vua, cha truyền con nối 18 đời đều gọi là
Hùng Vương
Chùa Thiên Quang: Chùa xưa có tên gọi là " Viễn Sơn Cổ Tự " sau
đổi thành " Thiên Quang Thiền Tự " Chùa được xây dựng vào thời Trần đến thế kỷ XV xây dựng lại, thời Nguyễn chùa được đại trùng tu Hiện nay chùa có kiến trúc kiểu chữ công (I) gồm ba toà tiền đường (5 gian) Tam bảo (3 gian) và Thượng điện (3 gian) các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột, kèo suốt cài nóc Phía ngoài có hành lang xây xung quanh Mái chùa lợp ngói mũi có đầu đao cong, bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nguyệt Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa Trước cửa chùa
có cây Vạn tuế có tuổi gần tám trăm năm Nơi đây ngày 19/9/1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội, Bác đã ngồi làm việc bên gốc cây Vạn Tuế
Đền Trung: Có tên Hùng Vương Tổ miếu Đền được xây dựng vào thời Lý - Trần Đến thế kỷ XV bị giặc Minh tàn phá, sau này được xây dựng lại, kiến trúc hiện nay kiểu chữ nhất (-) 3 gian, kiến trúc đơn sơ không
Trang 38có cột, kèo cầu quá giang cột trốn gối vào tường, mái lợp ngói mũi Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng Lạc Hầu, Lạc Tướng ngắm cảnh và họp bàn việc nước Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu người con hiếu thảo sáng tạo ra bánh chưng, bánh dầy
Đền Thượng: Có tên chữ là Kính thiên lĩnh điện (Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh) Tương truyền các vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ Thần lúa cầu mong cho mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh Trên đỉnh núi Hùng xưa có mảnh vỏ chấu khổng lồ, có chiếc thuyền nan ba cắng gắn với truyền thuyết về hạt lúa thần, phản ánh mơ ước về cuộc sống ấm
no Truyền thuyết kể rằng vua Hùng thứ 6 sau chiến thắng giặc Ân đã lập miếu thờ Thánh Gióng để ghi nhớ công ơn người anh hùng đã đánh giặc cứu nước Người đời sau, biết ơn các vua Hùng nhân dân ta đã lập đền thờ Hùng Vương Đền thượng đến thế kỷ XV được xây dựng quy mô, vào thời Nguyễn triều đình cấp tiền, cử quan về giám sát việc đại trùng tu Hiện nay đền có kiến trúc kiểu chữ Vương, được xây dựng 4 cấp: Nhà chuông trống, Đại bái, Tiền tế và Hậu cung Ngày 18/9/1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng, người đã nghỉ trưa ở cửa ngách Đông Nam đền Thượng trước khi về Bác căn dặn phải trồng cây cối Xây dựng Đền Hùng thành công viên lịch sử cho con cháu sau này thăm viếng
Lăng Hùng Vương: Tương truyền là mộ vua Hùng thứ 6, trước khi
chết có dặn hãy chôn ta trên núi Cả để đứng trên núi cao ta còn trông nom
bờ cõi cho con cháu Xưa là mộ đất, đến thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây Lăng Mộ, thời Khải Định năm thứ 2 (1922) được đại trùng tu như
ngày nay
Cột đá thề: Tương truyền rằng Thục Phán An Dương Vương khi
được vua Hùng nhường ngôi đã thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn
gấm vóc mà vua Hùng trao lại và đời đời hương khói họ Hùng
Trang 39Đền Giếng: Tên chữ là Ngọc Tỉnh Tương truyền là nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con gái Vua Hùng thứ 18 thường soi gương chải tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này Hai nàng là người có công dậy dân trồng lúa, trị thuỷ nên nhân dân lập đền thờ Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18, đền được xây dựng lên trên giếng nên hiện nay giếng ở bên trong hậu cung của đền bốn mùa nước trong mát, không bao giờ cạn Hiện nay đền có kiến trúc kiểu chữ công (I) gồm Tiền bái, ống muống, Hậu cung, hậu cung được xây dựng kiểu chuỗi vồ Mái đền lợp ngói mũi, bờ nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt Ngày 19/9/1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng, Người nói chuyện với các đồng chí cán bộ Đại Đoàn quân tiên phong, tại đền Giếng Người căn dặn
" Các Vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"
Đền Tổ Mẫu Âu Cơ: Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên đỉnh núi Vặn (Tên mỹ là tự là núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn Đền Tổ Mẫu Âu Cơ là một quần thể kiến trúc bao gồm: Đền chính thờ Mẫu Âu Cơ, nhà tả vu, nhà hữa vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan… được thiết kế theo phong cách xây dựng truyền thống, xen lẫn tính hiện đại Các họa tiết trên trống đồng Đông Sơn: Cột gỗ có thớt đá kê, tường xây gạch mộc đỏ, mái đền có đầu đao cong vút như cánh chim Lạc, trụ biểu đá giống như cây bút đang viết lên trời xanh…cho nhân dân ta vừa cảm giác gần gũi với mẹ vừa thiêng liêng cao quý Trong Hậu cung đền đặt tượng Tổ Mẫu Âu Cơ được làm bằng đồng Phía dưới đặt tượng Lạc hầu, Lạc tướng Đền thờ Tổ Mẫu
Âu Cơ là một công trình văn hoá lớn của thời đại chúng ta - con cháu các vua Hùng xây dựng nên, nhằm mục đích bổ sung cho quần thể kiến trúc tín ngưỡng trong Di tích lịch sử Đền Hùng, thể hiện tình cảm của nhân dân ta
Trang 40đối với Tổ Mẫu Âu Cơ người mẹ thiêng liêng huyền thoại của dân tộc Việt Nam
Đền Thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân: Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân được xây dựng dưới chân núi Sim vào năm 2006, nằm trong quần thể kiến trúc của Di tích lịch sử Đền Hùng Núi Sim nhìn xa có hình giống con rùa lớn đang hướng về Hồ Hóc Trai Núi có độ cao 94m, diện tích rộng 5ha Đền được xây dựng kiến trúc kiểu chữ đinh gồm: Cổng đền, Phương đình, Tả Vu, Hữu Vu, trụ biểu, đền thờ Kiến trúc truyền thống gỗ lim, sơn son thếp vàng, tường bao xây gạch chỉ màu đỏ, mái lợp ngói mũi Trong đền đặt tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân, tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng được đúc bằng đồng Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân tạo thành một quần thể kiến trúc cảnh quan, góp phần bảo tồn, tái tạo hình ảnh lịch sử, đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong việc thờ tự thuỷ tổ dân tộc Nhằm giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc
Bảo tàng Hùng Vương: Bảo tàng Hùng được xây dựng năm 1986
do Hội kiến trúc sư Việt Nam thiết kế phỏng theo truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy phản ánh quan niệm của người Việt cổ về vũ trụ trời tròn, đất vuông Năm 1993 Bảo tàng mở của đón khách thăm quan, với hơn
700 hiện vật, 102 bức ảnh, 4 bức tranh bằng gốm tráng men, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng bằng đồng và nhiều hiện vật bổ trợ Bảo tàng đã giới thiệu khái quát sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các vua Hùng thông qua các nội dung trung bầy với các chủ đề chính:
1 Đất nước con người một thời nguyên thuỷ
2 Bắt đầu thời dựng nước
3 Sự nghiệp dựng nước Văn Lang của các Vua Hùng
4 Con cháu tưởng nhớ các Vua Hùng