TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA PHÁT HÀNH XUẤT BẢN PHẨM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH GIÁO DỤC HÀ NỘI NĂM 2010 – 2011 N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA PHÁT HÀNH XUẤT BẢN PHẨM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ
SÁCH GIÁO KHOA TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN SÁCH GIÁO DỤC HÀ NỘI
NĂM 2010 – 2011
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Thị Thanh Tâm
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoa Giang
Hà Nội- 2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1: Nhận thức cơ bản về sách giáo khoa và ý nghĩa của hoạt động này đối với Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội 8
1.1 Nhận thức cơ bản về sách giáo khoa 8
1.1.1 Khái niệm Sách 9
1.1.2 Khái niệm Sách giáo dục 10
1.1.3 Khái niệm Sách giáo khoa 13
1.2 Đặc điểm mặt hàng sách giáo khoa trong cơ chế thị trường 16
1.2.1 Sách giáo khoa có đối tượng sử dụng riêng biệt 16
1,2.2 Sách giáo khoa mang tính thời vụ cao 17
1.2.3.Sách giáo khoa có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước 18
1.3.Nội dung hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa 18
1.3.1.Tổ chức nghiên cứu thị trường và chuẩn bị nguồn hàng 19
1.3.2.Tổ chức mạng lưới tiêu thụ 21
1.3.2.1.Tổ chức kênh phân phối 21
1.3.2.2.Tổ chức bán lẻ 25
1.3.3.Xúc tiến tiêu thụ xuất bản phẩm và nghệ thuật bán hàng 28
1.4.Vai trò hoạt động tiêu thụ sách giáo dục đối với Công ty cổ phần giáo dục Hà Nội 31
1.4.1.Tiêu thụ sách giáo khoa thỏa mãn nhu cầu xã hội và đạt được mục tiêu của công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội 31
Trang 31.4.2Tiêu thụ sách giáo khoa góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho
công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội 32
1.4.3.Tiêu thụ sách giáo khoa góp phần làm hoàn thiện sản xuất sách giáo khoa 33
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội năm 2010 – 2011 34
2.1 Vài nét về Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội 34
2.2 Môi trường kinh doanh của công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội 41
2.2.1 Môi trường chính trị - pháp luật 42
2.2.2 Môi trường kinh tế 43
2.2.3 Môi trường văn hóa giáo dục 45
2.3 Tình hình tiêu thụ sách giáo khoa của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội năm 2010 – 2011 46
2.3.1 Tổ chức nghiên cứu thị trường và khai thác nguồn hàng 46
2.3.1.1 Tổ chức nghiên cứu nhu cầu, thị trường 46
2.3.1.2 Khai thác mặt hàng 49
2.3.2 Tổ chức xúc tiến tiêu thụ 51
2.3.2.1 Tổ chức tuyên truyền, quảng cáo sách giáo khoa tại cửa hàng 51
2.3.2.2 Hội chợ, triển lãm 56
2.3.2.3 Khuyến mại 57
Trang 42.3.2.4 Kỹ năng giao tiếp, bán hàng 59
2.3.3 Tổ chức xây dựng kênh phân phối sách giáo khoa 62
2.3.3.1 Kênh phân phối sách giáo khoa trong hệ thống phát hành sách giáo dục 64
2.3.3.2 Kênh phân phối sách giáo khoa qua mạng lưới đại lý 67 2.3.3.3 Kênh phân phối sách giáo khoa qua cửa hàng bán buôn, bán lẻ của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội 68
2.3.4 Kết quả hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa của công ty cổ phần sách giáo dục năm 2010 – 2011 71
2.4 Đánh giá về tình hình hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa của Công ty
cổ phần Sách giáo dục Hà Nội năm 2010 – 2011 74
2.4.1Ưu điểm 75 2.4.2 Hạn chế 77
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội 79 3.1 Phương hướng phát triển của Công ty cổ phần Sách giáo dục
Hà Nội 79 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sách
giáo khoa 81
3.2.1 Đối với Nhà nước 81
3.2.1.1 Hoàn thiện văn bản pháp lý về xuất bản, phát hành sách giáo khoa 81
Trang 53.2.1.2 Tăng cường quản lý đối với hoạt động xuất bản phát hành sách
giáo khoa 83
3.2.2 Đối với Nhà xuất bản Giáo dục 85
3.2.2.1 Nâng cao chất lượng sách giáo khoa 85
3.2.2.2 Đa dạng hóa các hình thức sách giáo khoa 86
3.2.3 Đối với Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội 87
3.2.3.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức cho khâu tiêu thụ 87
3.2.3.2 Xây dựng được chiến lược tiêu thụ hợp lý 87
3.2.3.3 Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bán hàng 89
3.2.3.4 Đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng bán hàng 90
3.2.3.5 Nâng cao hiệu quả quản lý tiêu thụ 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 95
Trang 6yếu ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Tiêu thụ là khâu nghiệp vụ đầu ra rất quan trọng góp phần trực tiếp thúc đẩy các khâu nghiệp vụ khác cùng phát triển và là hành vi trực tiếp phổ biến tri thức cho xã hội, nâng cao dân trí và phát triển nền giáo dục quốc gia theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Hoạt động tiêu thụ trực tiếp mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Tiêu thụ thuận lợi thì quá trình quay vòng vốn nhanh tạo điều kiện để
mở rộng phát triển khả năng kinh doanh, nâng cao uy tín, thương hiệu cho doanh nghiệp
Trang 7Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt khiến cho hoạt động tiêu thụ sách giáo dục gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi Công ty cổ phần sách giáo dục phải nỗ lực và tìm cho mình những giải pháp thông minh Tiêu thụ không đơn giản chỉ là mua – bán giữa hai bên tham gia mà còn là một quá trình được sử dụng những kỹ năng phù hợp
Trong vài năm nay các doanh nghiệp nói chung, công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng sách giáo dục, tìm kiếm thị trường, khách hàng và sử dụng một số kỹ năng bán hàng hiệu quả Tuy nhiên với bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay đang đặt ra cho các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần Sách giáo dục nói riêng những thách thức lớn Đó là làm sao để có chiến lược tiêu thụ hợp lý, đáp ứng nhu cầu sách giáo dục của xã hội và mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp
Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài : “ Tìm hiểu hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội năm
2010 – 2011” để làm bài khóa luận của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa về cơ sở lý luận tiêu thụ sách giáo khoa trong bối cảnh nền kinh tế thị trường Đồng thời phản ánh đúng thực trạng tiêu thụ ở công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội Thông qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ sách giáo dục ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ quy trình và diễn biến hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa ở Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
Trang 8- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu tại các cửa hàng bán sách giáo khoa của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội trong 2 năm qua
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp phân tích, đánh giá
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương sau đây:
Chương 1 : Nhận thức cơ bản về tiêu thụ sách giáo khoa và ý nghĩa của hoạt động này đối với Công ty cổ phần Sách giáo dục
Trang 9CHƯƠNG 1:
NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ
Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG NÀY ĐỐI VỚI
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH GIÁO DỤC HÀ NỘI
1.1 NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ SÁCH GIÁO KHOA
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đang là đòi hỏi một tất yếu của sự phát triển, nó trở thành làn sóng mạnh mẽ tác động đến tất cả các nước trên thế giới cũng như Việt Nam Thực tiễn cho thấy, công nghiệp hóa – hiện đại hóa có mối quan hệ chặt chẽ với sự nghiệp Giáo dục – đào tạo
Có thể nói, giáo dục – đào tạo là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy mô, tốc độ cũng như sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có một lực lượng lao động chất lượng cao Sự phát triển nguồn lực do tích hợp nhiều yếu tố như: Giáo dục- đào tạo, sức khỏe, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong đó giáo dục – đào tạo là yếu tố quan trọng nhất – là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực, tăng trưởng nền kinh tế nhanh, bền vững Giáo dục – đào tạo vừa có ý nghĩa chiến lược vừa có ý nghĩa trực tiếp đối với sự thành công của công nghiệp hóa hiện đại hóa
Ý nghĩa được tầm quan trọng của giáo dục – đào tạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt tới hoạt động này Đó là các chính sách để phát triển giáo dục như: đầu tư cơ sở hạ tầng cho các trường học, nâng cao chất lượng giảng dạy và không ngừng cải tiến hình thức cũng như nội dung phương thức giáo dục trong đó có sách giáo dục nhằm hướng tới phát triển một nền giáo dục Việt Nam có chất lượng cao, xứng ngang tầm với thế giới
Trang 101.1.1 Khái niệm sách
Ngày nay khi đời sống ngày càng được nâng cao thì yêu cầu về học thức của mỗi con người càng phát triển và thực sự cần thiết Con người sẽ phải tìm tòi học hỏi nhiều hơn, không ngừng trau dồi vốn tri thức của mình để có thể đứng vững và phát triển trong thế giới hiện tại Quá trình học tập nghiên cứu đó được giúp sức bởi nhiều công cụ, phương tiện lưu trữ khác nhau, đặc biệt là sách và trong đó có sách giáo khoa Sách giáo khoa là phương tiện học tập truyền thống và giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập hiện nay
Sách là một sản phẩm văn hóa tinh thần, là kho tàng về tri thức của nhân loại Đặc biệt sách là phương tiện giáo dục không thể thiếu trong nhà trường và có vai trò to lớn trong việc trang bị những kiến thức cơ bản nhất về thế giới quan, nhân sinh quan Đồng thời, thông qua sách chúng ta cũng có những điều kiện giới thiệu truyền thống văn hóa nước nhà, tiếp thu văn minh nhân loại và thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới.Từ những ý nghĩa đó, có thể khẳng định sách là công cụ học tập không thể thiếu trong qua trình phát triển nhân cách con người nói chung và đối với đất nước ta nói riêng
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nhà xuất bản Bách Khoa Toàn Thư xuất
bản năm 2003 định nghĩa về sách như sau : “ Sách là những tập giấy đóng
lại thành quyển, trên đó có in chữ nhằm phục vụ cho các mục đích dùng khác nhau của con người”
Từ định nghĩa này chúng ta có thể nhận thấy đặc điểm cơ bản của sách đó là những tờ giấy được đóng lại thành quyển và trên bề mặt giấy được in chữ thể hiện nội dung mang lại cho bạn đọc những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu học tập, giải trí và nghiên cứu Tuy nhiên, định nghĩa này thiên về nghiên
Trang 11cứu các loại sách truyền thống là sách bằng giấy – loại sách có vai trò quan trọng trong nghiên cứu, học tập và phổ biến nhất hiện nay
Theo http://vi.wikipedia.org/wiki có định nghĩa về sách như sau:
“ Sách là một tập hợp các thông tin dạng chữ viết , hình ảnh được lưu
trong các tờ giấy, giấy da hoặc những vật liệu khác Mỗi mặt giấy được gọi là một trang sách, một quyển sách được sản xuất theo dạng điện tử được gọi là sách điện tử (hay e-book) Trong thư viện sách có nhiều loại sách khác nhau: sách nghiên cứu và thông tin khoa học, sách dùng trong trường học, sách nghiên cứu hay sách tham khảo theo chủ đề, sách ứng dụng tri thức Ngoài sách ra còn có những ấn phẩm xuất bản định kỳ như tạp chí, các tờ báo…”
Với định nghĩa này, chúng ta có cái nhìn rõ nét hơn về sách Ngày nay dưới
sự tác động của khoa học, công nghệ đã làm thay đổi cơ bản về hình thức, nội dung và nhất là vật mang của sách Theo quan điểm trên cho thấy, sách ngày nay rất phong phú đa dạng về vật mang, có thể là bằng giấy như truyền thống hay bằng da, trên đĩa mềm, băng từ… Về nội dung sách thì phong phú, rất nhiều lĩnh vực thể hiện sách thể hiện như chính trị - xã hội, văn học nghệ thuật, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ v.v.v Với việc thể hiện nhiều lĩnh vực tri thức khoa học khác nhau như vậy thì sách đã và đang đáp ứng tốt nhất nhu cầu của bạn đọc Từ đó mà đối tượng sử dụng sách với những mục đích khác nhau cũng vô cùng phong phú và đa dạng
1.1.2 Khái niệm sách giáo dục
Sách giáo dục – một trong những loại sách giữ vị trí quan trọng đặc biệt hiện nay và là mặt hàng có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất bản phẩm
Trang 12Trong cơ cấu mặt hàng sách, sách giáo dục chiếm một lượng lớn từ 75% - 80% trong tổng số sách xuất bản mỗi năm Với những đặc trưng riêng biệt, có
ý nghĩa xã hội lớn lao, sách giáo dục là bộ phận quan trọng trong cơ cấu mặt hàng phân phối ra thị trường của các doanh nghiệp xuất bản phẩm Việt Nam
Có thể khẳng định sách giáo dục có ý nghĩa lớn trong xã hội nước ta ở bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Có thể đưa ra khái niệm về sách giáo dục như sau:
“ Sách giáo dục là dạng xuất bản phẩm có nội dung chứa đựng những tri thức tổng hợp do con người khám phá và sáng tạo nên, được biên soạn theo chương trình giáo dục khác nhau, phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu”
( trích từ Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Mạnh Hà – năm 2004)
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy sách giáo dục được sử dụng chính trong các trường học được biên soạn theo các chương trình học khác nhau, phục vụ mọi cấp học từ tiểu học, trung học, đại học, cao đẳng với mục đích chính là học tập, giảng dạy và nghiên cứu Đối tượng sử dụng chính là học sinh, sinh viên và giáo viên
Đặc điểm của Sách giáo dục:
- Sách giáo dục là dạng xuất bản phẩm đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển xã hội của mỗi quốc gia Đây là loại hàng hóa sản xuất để phục vụ cho nhóm đối tượng là giáo viên, học sinh ở các trường học, lớp học Sách giáo dục được xuất bản và phát hành theo những tiêu chí riêng biệt nhằm đảm bảo những yêu cầu về số lượng, chất lượng, giá thành và thời gian cung ứng ra thị trường
- Sách giáo dục là công cụ phục vụ cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong đó sách giáo khoa phổ thông – là công cụ học tập mang tính chất bắt
Trang 13buộc với học sinh và giáo viên trong nhà trường Mỗi một tên sách chỉ đề cập tới một hay vài vấn đề cụ thể theo mục tiêu và nguyên lý giáo dục Nội dung sách được sắp xếp trình bày theo hệ thống logic kiến thức và mối tương quan giữa các môn học Sách giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức mà còn truyền thụ cho học sinh các phương pháp học tập, các kỹ năng ứng xử, những thói quen sống, lao động và học tập
- Sách giáo dục là công cụ trực tiếp tạo nên hiệu quả của quá trình học tập và giảng dạy trong nhà trường Đối với giáo viên, sách giáo dục đặc biệt là mảng sách giáo khoa cung cấp nhiều thông tin, là công cụ chuẩn mực để giáo viên thực hiện vai trò của mình trong quá trình dạy học Đồng thời giúp đào tạo, bồi dưỡng sư phạm qua các môn học, đánh giá được nhận thức của học sinh Còn đối với học sinh, sách giáo dục cung cấp thông tin, hướng dẫn học tập, trang bị kiến thức toàn diện giúp cho học sinh tiếp cận với tri thức khoa học, cuộc sống thường ngày và nghề nghiệp trong tương lai Có thể nói, sách giáo dục đã tạo ra những con đường mở giành cho giáo viên và học sinh phát huy cao năng lực hoạt động sáng tạo trong quá trình dạy và học trong cuộc sống
- Sách giáo dục gắn liền với sự phát triển xã hội và yêu cầu của chương trình giáo dục quốc gia Thông qua những chương trình cải cách, đã tạo ra những cơ hội để phát triển cả về hình thức lẫn nội dung sách giáo dục nhằm làm cho sách giáo dục thực sự là công cụ học tập quan trọng trong nhà trường
- Sách giáo dục có tính ổn định tương đối Đây là đặc tính vốn có của nội dung sách giáo dục và cũng là điều kiện thuận lợi giúp giáo viên và học sinh
có điều kiện giảng dạy và học tập, tiếp cận với những tri thức vừa mới và mang tính ổn định
Trang 141.1.3 Khái niệm Sách giáo khoa
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về sách giáo khoa, nhìn chung, sách giáo khoa được xem là tập hợp những kiến thức chuẩn, kiến thức cơ sở
Theo từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm 2006 đã định nghĩa : “ Sách giáo khoa là sách được soạn theo chương trình dung để dạy và học trong nhà trường”
“ Sách giáo khoa là loại sách đặc biệt dùng trong các trường học, nội dung của sách giáo khoa được biên soạn theo chương trình được Nhà nước ban hành cho một loại trường, lớp học và một đối tượng người học nhất định nhằm đạt một mục tiêu giáo dục đào tạo.”
(theo Trần Văn Hải – Biên tập các loại (sách chuyên nghành, tập 2)
Sách giáo khoa cũng được xem là “quyển sách trình bày có hệ thống những kiến thức cơ sở của một lĩnh vực khoa học nhất định ở mức độ hiện đại những thành tựu khoa học và văn hóa”
( theo Đại bách khoa toàn thư Xô -Viết, tập 27)
“ Sách giáo khoa là một bộ phận hợp thành tổng thể sách của xã hội, là hệ thống sách dùng để học của người học và là tài liệu giảng dạy của người thầy trong các nhà trường ở các cấp học và các loại hình đào tạo Sách giáo khoa tuy gồm nhiều loại khác nhau nhưng phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng bậc học, cấp học và trình độ đào tạo, bảo đảm tính ổn định và tính thống nhất.”
( trích Khóa luận tốt nhiệp của sinh viên Nguyễn Mỹ Hương
Lớp Phát hành xuất bản phẩm 23B)
Từ những định nghĩa, quan niệm về sách giáo khoa ở trên chúng ta có thể nhận thấy sách giáo khoa tập hợp những tri thức cơ bản chuẩn mực được biên
Trang 15soạn theo chương trình giáo dục quốc gia ứng với cấp học cụ thể và được sử dụng chính thức, thống nhất trong các trường học
Theo Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, xuất bản năm 2005
- Sách giáo khoa phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hóa nội dung, phương pháp giáo dục quy định chương trình của từng bậc học, cấp học, lớp học
- Sách giáo khoa do Bộ Giáo Dục- Đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên cơ sở của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy để học tập trong nhà trường và các
● Căn cứ vào nội dung kiến thức của sách giáo khoa thì có các loại sau:
- Sách giáo khoa khoa học cơ bản bao gồm các môn học như toán, tiếng việt, vật lý , hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, ngoại ngữ tự chọn như Tiếng anh, tiếng Nga, tiếng Trung quốc, tiếng Nhật…
Trang 16- Sách giáo khoa kỹ thuật: sách đề cập tới nội dung về khoa học, kỹ thuật như kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, lao động kỹ thuật… Sách trang bị những kiến thức kỹ thuật, kỹ năng của một ngành, một nghề nào đó Nhằm giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật sản xuất, kỹ năng thao tác nghề nghiệp
- Sách giáo khoa nghệ thuật: Sách dạy kiến thức âm nhạc, hội họa, thẩm
mỹ và nghệ thuật…
● Căn cứ vào đối tượng sử dụng sách giáo khoa
Ở mỗi cấp học, bậc học đều có nhu cầu sử dụng sách giáo khoa khác nhau, theo định hướng và quy định của ngành giáo dục Đối tượng sử dụng dù có đặc điểm riêng biệt của từng nhóm, nói chung đều thuần nhất là người đọc, người học, người nghiên cứu Hiện nay, hoạt động xuất bản sách giáo khoa ở Việt Nam chủ yếu được tiến hành theo đối tượng sử sụng vì đây là cách phân loại mang tính bao quát hơn cả về nội dung cũng như phương pháp
- Sách giáo viên là loại sách có nội dung hướng dẫn các phương pháp và cách thức giảng dạy cho giáo viên ở các cấp Loại sách này đi sâu hướng dẫn phương pháp giảng giải, cách minh họa đối với từng môn học và cho từng cấp học Sách được biên soạn theo quan điểm lý luận dạy học hiện đại
- Sách giáo khoa cho người học – học sinh phổ thông, loại sách này được xuất bản cho học sinh theo các cấp học như :
+ Sách giáo khoa cho các trường mầm non
+ Sách giáo khoa cho học sinh phổ thông cơ sở
+ Sách giáo khoa cho học sinh phổ thông trung học
+ Một số sách dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
Trang 17+ Sách giáo khoa cho các học sinh có năng khiếu
+ Sách giáo khoa cho các trẻ em khuyết tật
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục của quốc gia
Loại sách này được ra đời từ các quy định và chính sách giáo dục của quốc gia Đảng và Nhà nước ta có chiến lược cụ thể để chỉ đạo và hoạch định phát triển giáo dục Căn cứ vào chương trình mục tiêu và nội dung sách giáo khoa thì sách giáo khoa có sự thể hiện tương ứng Hiện nay ở Việt Nam có các loại sách giáo khoa phục vụ mục tiêu giáo dục quốc gia như:
- Sách giáo khoa thí điểm trung học cơ sở theo chuyên ban và chuẩn kiến thức
- Sách giáo khoa cho chương trình mục tiêu (100 tuần, 120 tuần, sách bằng tiếng dân tộc…)
- Sách giáo khoa để xóa mù chữ và hướng dẫn dậy sau xóa mù chữ
Có thể nói, sự nghiệp xuất bản sách giáo dục nói chung, sách giáo khoa nói riêng ở nước ta đã có khởi sắc cả về nội dung và hình thức Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sách giáo khoa đã ngày càng hoàn thiện cả về lượng, chất và hình thức thể hiện Đây là dấu hiệu tốt để ngành giáo dục nước
ta sớm hòa nhập với chương trình chuẩn của thế giới
1.2 Đặc điểm mặt hàng sách giáo khoa
1.2.1 Sách giáo khoa có đối tượng sử dụng riêng biệt
Đối với các mặt hàng sách như văn học – nghệ thuật, kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật…là sách có nhiều nhóm đối tượng cùng sử dụng một đầu sách trong cùng một thời gian nhưng sách giáo khoa thì lại có đối tượng riêng biêt
Do mỗi tên sách chỉ đề cập tới một hoặc một vài vấn đề cụ thể theo mục tiêu
và nguyên lý giáo dục, đặc biệt những vấn đề đó được sắp xếp trình bày theo
hệ thống logic kiến thức và mối tương quan giữa các môn học Ví dụ học sinh
Trang 18tiểu học không thể dùng bộ sách giáo khoa của học sinh trung học cơ sở hay trung học phổ thông Đồng thời học sinh lớp 1 không thể sử dụng sách giáo khoa của lớp 4
Có điều đó là do mức độ tri thức khác nhau được đưa vào sách giáo khoa ở cấp bậc khác nhau Những tri thức được đưa vào sách giáo khoa phải phù hợp với đối tượng và trình độ hiểu biết của người học
1.2.2 Sách giáo khoa mang tính thời vụ cao
Sử dụng sách giáo khoa phục vụ cho học tập và nghiên cứu trong các trường học hiện nay vừa được áp dụng một cách bắt buộc đối với giáo dục phổ thông vừa đặt ra một cách cấp bách – thực hiện tính tất yếu trong công tác giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học Sách giáo khoa chứa đựng kiến thức rất lớn
và toàn diện nếu người học không có sách thì rất khó trong việc tìm tòi và nghiên cứu Do vậy sách giáo khoa là công cụ học tập không thể thiếu của tất
cả mọi người học, các ngành học
Đặc biệt, sách giáo khoa là công cụ cần thiết và mang tính bắt buộc đối với các em học sinh khi đến trường Do đó nhu cầu sử dụng sách giáo khoa là rất lớn và bức thiết Hàng năm, vào đầu năm học mới nhu cầu sử dụng tăng cao làm cho thị trường sách trở nên sôi động hơn bao giờ hết Thời vụ sách giáo khoa chỉ kéo dài trong vòng 6 tháng ( từ tháng 4 đến tháng 9) nhưng đây là thời vụ tốt cho các lực lượng tham gia kinh doanh Trong thời gian này sách giáo khoa được tiêu thụ với số lượng lớn, doanh số tăng cao chiếm đa phần doanh số cả năm của cả doanh nghiệp phát hành sách giáo dục
Hoạt động phát hành mang tính thời vụ rõ rệt, trước khi vào đầu năm học mới của học sinh, sách giáo khoa phải được cung ứng một cách đồng bộ, kịp thời với đúng chuẩn mực trong các cấp học, bậc học Thời gian cung ứng sách
Trang 19giáo khoa cũng cần phải được xem xét kỹ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
1.2.3 Sách giáo khoa có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Đặc điểm và vai trò của sách giáo khoa đối với xã hội rất lớn nên việc quản lý sách giáo khoa cũng được Nhà nước đặc biệt quan tâm Theo Luật xuất bản của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2005 : “ Nhà nước quản lý việc xuất bản, in ấn, phát hành sách giáo khoa” Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc sản xuất và kinh doanh các mặt hàng sách nói chung đã có cơ chế thông thoáng Từ đó tạo ra thị trường xuất bản phẩm có sự cạnh tranh mạnh mẽ cả quá trình sản xuất và lưu thông Tuy nhiên, đối với sách giáo khoa cho đến nay Nhà nước vẫn còn những quy định quản lý riêng biệt cho loại sách này Sách giáo khoa được xuất bản và phát hành theo những tiêu chí riêng với những yêu cầu kế hoạch cụ thể về số lượng, chất lượng và giá thành Sách giáo khoa hiện nay do Nhà xuất bản Giáo dục độc quyền xuất bản và phát hành phân phối theo hệ thống công ty sách thiết bị trường học trong cả nước Sách giáo khoa được biên soạn theo chương trình của Bộ Giáo dục – đào tạo, nội dung sách giáo khoa có tính chuẩn mực lượng kiến thức do Hội đồng Giáo dục quốc gia phê duyệt và được thẩm định trên cơ sở đánh giá về mặt giáo dục so với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong đó khâu bán lẻ sách giáo khoa hiện nay đã thu hút được những cá nhân, tổ chức tham gia và tạo nên một thị trường sách giáo khoa sôi nổi
1.3 Nội dung hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa
Tiêu thụ là một khâu nghiệp vụ đầu ra quan trọng của quá trình kinh doanh
Nó không những thúc đẩy các khâu nghiệp vụ khác cùng phát triển mà tiêu thụ còn trực tiếp mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 20“ Tiêu thụ sách là một quá trình đầu tư công sức và trí tuệ để tổ chức thực hiện việc trao đổi giá trị cho sách từ hàng sang tiền và chuyển giao quyền sở hữu từ nhà sản xuất kinh doanh đến người mua cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn tốt nhất nhu cầu về sách cho khách hàng và mang lại hiệu quả cho người tiêu thụ”
( trích Chương 1- Cơ sở lý luận hoạt động tiêu thụ trong nền kinh tế thị trường - Bài giảng môn Tiêu thụ xuất bản phẩm – TS Đỗ Thị Quyên)
Tiêu thụ là một quá trình phải sử dụng các công cụ phương tiện, sức lao động
để đảm bảo quá trình di chuyển hàng hóa nhanh, đúng tiến độ, có hiệu quả Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ, sức lao động nhiều hay ít, lớn hay nhỏ phụ thuộc vào điều kiện, tính chất, quy mô, khả năng của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu yêu cầu tiêu thụ thì các nhà kinh doanh phải đầu tư tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động Đồng thời phải xác định hướng đi, đường đi cho hàng hóa thông qua các kênh phân phối Xuất phát từ ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ mà các nhà kinh doanh, nhà tiêu thụ phải phát huy hết khả năng và sử dụng có hiệu quả các hoạt động tiêu thụ bằng nghệ thuật tiêu thụ
1.3.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường, chuẩn bị nguồn hàng
Nhu cầu về xuất bản phẩm là những đòi hỏi mong muốn của con người về một hay một vài xuất bản phẩm nào đó trong những khoảng không gian, thời gian nhất định
Nghiên cứu nhu cầu xuất bản phẩm là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ để tìm hiểu mong muốn của một hay một nhóm khách hàng về xuất bản phẩm trong những khoảng không gian thời gian nhất định Quá trình nghiên cứu nhu cầu là quá trình thu thập thông tin với dữ liệu liên quan đến nhu cầu về sách Từ đó người nghiên cứu sẽ so sánh, phân tích
Trang 21những số liệu và rút ra kết luận Nghiên cứu nhu cầu giúp doanh nghiệp xác định được quy mô kinh doanh, cơ cấu và chủng loại mặt hàng kinh doanh Nghiên cứu nhu cầu còn giúp doanh nghiệp xác định được số lượng hàng hóa khai thác đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trường Nhu cầu nói chung và nhu cầu về sách nói riêng rất phong phú và đa dạng, phát triển không ngừng theo thời gian và không gian
Những phương pháp nghiên cứu nhu cầu xuất bản phẩm như : nghiên cứu nhu cầu tại văn phòng, nghiên cứu nhu cầu tại hiện trường
● Phương pháp nghiên cứu nhu cầu tại văn phòng
Đây là phương pháp nghiên cứu phổ biến vì chi phí dành cho nó thì ít, tận dụng được các kết quả nghiên cứu của những người đã nghiên cứu trước đó
Để nghiên cứu thành công người nghiên cứu phải phát hiện được các nguồn thông tin tin cậy, đầy đủ, triệt để khai thác các nguồn thông tin đó Việc xử lý thông tin trên các tài liệu đòi hỏi người nghiên cứu cẩn trọng, tỉ mỉ Tuy nhiên, phương pháp này còn tồn tại những hạn chế như vấn đề đã thu nhập được diễn ra nhưng có thể không phù hợp với thực tiễn, tương lai Những dữ liệu này có thể do nhiều người xây dựng và thiết kế nên chịu nhiều ảnh hưởng của quan điểm cá nhân, vì vậy thông tin thiếu chính xác.Với phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ, khách quan, kinh nghiệm để đánh giá những điều thu thập được
● Phương pháp nghiên cứu nhu cầu tại hiện trường
Đây là phương pháp nghiên cứu quan trọng có thể thực hiện ngay sau khi đã
có kết quả nghiên cứu sơ bộ về vấn đề trong nghiên cứu văn phòng Chủ yếu thu nhập thông tin từ trực quan và qua các quan hệ của người điều tra với các nhà doanh nghiệp hoặc người sử dụng xuất bản phẩm Phương pháp này phức tạp, tốn kém và không phải người nghiên cứu nào cũng thực hiện được vì :
Trang 22+ phải đến trực tiếp hiện trường
+ phải có kế hoạch trước về nội dung nghiên cứu ở hiện trường
+ phải lựa chọn người nghiên cứu có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm ứng xử ví dụ như khả năng ngoại giao, tạo được thiện cảm sự tin tưởng với người đối diện, khả năng truyền đạt thông tin
+ phải lựa chọn phương pháp tiếp cận thích hợp
Quá trình chuẩn bị mặt hàng là khoảng thời gian doanh nghiệp thực hiện đặt hàng từ những nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất có lượng, chất hàng hóa phù hợp với nhu cầu khai thác của doanh nghiệp Hàng hóa phải phù hợp với quy
mô của doanh nghiệp, số lượng hàng hóa khai thác phải hợp lý với tiềm năng của doanh nghiệp Vai trò của người đi khai thác rất quan trọng họ quyết định việc chuẩn bị hàng hóa cho doanh nghiệp tốt hay không? Đây là điều kiện quan trọng để hàng hóa khi ra thị trường phù hợp với nhu cầu của khách hàng
cả về số lượng, chủng loại và thời gian nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
1.3.2 Tổ chức mạng lưới tiêu thụ
1.3.2.1 Tổ chức kênh phân phối
“ Kênh phân phối được hình thành bởi các tuyến đi và phương thức di chuyển
hàng hóa được tổ chức bởi các lực lượng trung gian làm chức năng di chuyển
hàng hóa liên tục từ tay nhà sản xuất đến người mua cuối cùng”
( trích Chương 2 – Kênh phân phối hàng hóa Xuất bản phẩm
- Bài giảng môn Tiêu thụ xuất bản phẩm – TS Đỗ Thị Quyên)
Quá trình tổ chức kênh phân phối chính là quá trình nhà kinh doanh tìm kiếm cách thức di chuyển hàng hóa trên thị trường, nghiên cứu và xác định khách
Trang 23hàng ở vị trí nào, địa điểm nào và trên thị trường nào? Nhà kinh doanh cần phải nghiên cứu hàng hóa, qua đó thấy được tính năng của hàng hóa để phân phối sao cho phù hợp với nhu cầu Đồng thời tiếp tục gia công, phân loại hàng hóa để tiếp tục di chuyển hàng hóa trên thị trường sao cho quá trình di chuyển
ấy ngắn nhất mà vẫn mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp
Việc phân phối sách giáo khoa trải qua những tháng năm dài và đến nay đã hình thành lên các kênh phân phối khá ổn định Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp muốn có nhiều kênh phân phối thì việc xác định nhu cầu thị trường về hàng hóa là một đòi hỏi trước tiên Đồng thời với việc xác định nhu cầu là phải tổ chức các lực lượng tham gia vào kênh phân phối sao cho phù hợp Đó là các doanh nghiệp, tổ chức và những nhà kinh doanh hay đại lý phân phối hàng hóa cho mình Để thu hút lực lượng trung gia tham gia vào kênh di chuyển hàng hóa thì hàng hóa phải hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu thị trường Nội dung, hình thức và chất lượng hàng hóa đáp ứng đúng trúng nhu cầu của khách hàng, hàng hóa mới phân phối được và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngoài ra uy tín thương hiệu của doanh nghiệp cung cấp hàng hóa cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy kênh phân phối phát triển Quá trình phân phối hàng hóa là quá trình người ta sử dụng các phương thức bán hàng hóa để chuyển giao quyền sở hữu giữa các lực lượng trung gian
Quá trình di chuyển hàng hóa trong kênh phải đáp ứng đúng tiến độ là một yêu cầu gắt gao vì nó gắn liền với bài toán chi phí và hiệu quả kinh doanh Thời gian di chuyển hàng hóa càng lâu thì chi phí vận chuyển, lưu kho, bảo quản hàng hóa… càng nhiều và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà kinh doanh
Cấu trúc của kênh phân phối bao gồm: Nhà sản xuất, lực lượng trung gian, người tiêu dùng Để tổ chức kênh phân phối cần căn cứ vào hàng hóa, nhu cầu
Trang 24thị trường và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp để xác định kênh phân phối cho hợp lý
Các loại kênh phân phối
● Kênh phân phối dài:
Là kênh phân phối mà xuất bản phẩm phải di chuyển qua tay nhiều nhà trung gian mới đến người mua cuối cùng, đồng thời xuất bản phẩm di chuyển trong thời gian dài mới đến được đích cuối cùng Để đưa hàng hóa xuất bản phẩm vào kênh phân phối dài đòi hỏi nhà phân phối phải xác định được các lực lượng trung giant ham gia vào kênh phân phối Nhiệm vụ của các lực lượng trung gian là di chuyển hàng hóa liên tục từ tay nhà sản xuất đến người mua cuối cùng một cách nhanh chóng và đảm bảo an toàn cho hàng hóa Quá trình phân phối hàng hóa phải chi phí một khoảng thời gian nhất định đảm bảo cho hàng hóa di chuyển đến các thị trường khác nhau Tuy nhiên, hàng hóa di chuyển chậm hoặc ách tắc trong quá trình phân phối sẽ làm suy giảm hiệu quả của kênh phân phối Bởi lẽ, lúc này hàng hóa ra đến thị trường đã bão hòa sẽ làm mất khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường và làm tăng chi phí phân phối
Ưu điểm của kênh phân phối dài là: Thực hiện được mục đích tuyên truyền kiến thức sâu rộng có khả năng loại trừ những xuất bản phẩm độc hại vì quá trình phân phối ở các cấp khác nhau, các nhà phân phối có điều kiện để nghiên cứu, xem xét kỹ càng nội dung xuất bản phẩm trước khi phân phối ra thị trường hoặc điều chỉnh hướng đi phù hợp cho xuất bản phẩm Tham gia kênh phân phối dài các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ mới, chia sẻ rủi ro Tuy nhiên, nó cũng tồn tại những nhược điểm như: hàng hóa phải trải qua một thời gian dài mới đến được người sử dụng nên đôi khi nó làm giảm bớt giá trị của hàng hóa, chi phí kinh doanh lớn và lợi nhuận thu được sẽ bị
Trang 25chia sẻ Mặc dù kênh dài có những hạn chế nhưng nó vẫn là kênh được sử dụng phổ biến trên thị trường xuất bản phẩm hiện nay
● Kênh phân phối loại ngắn:Là kênh phân phối xuất bản phẩm trực tiếp hoặc chỉ qua một, hai nhà trung gian đến tay người mua cuối cùng Đặc điểm chính của kênh phân phối ngắn chính là lực lượng tham gia ít vì nó được đưa ngay
ra thị trường để bán Đó là thị trường trọng điểm, thị trường trung tâm của nhà sản xuất, nhà cung cấp độc quyền có số lượng khách hàng đông, thường xuyên quen thuộc và nhu cầu của khách hàng cao Kênh ngắn với phạm vi hẹp nên nhà cung cấp không phải tổ chức nhiều lực lượng trung gian để di chuyển hàng hóa Thời gian di chuyển ngắn, nhanh chóng, cơ hội đem lại hiệu quả lớn Ưu điểm của kênh ngắn chính là tốc độ di chuyển hàng hóa nhanh nên chi phí di chuyển, lưu kho, dự trữ và bảo quản hàng hóa thấp vì vậy mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Thỏa mãn nhanh và tốt nhất nhu cầu xuất bản phẩm trên thị trường
Tuy nhiên những nhược điểm còn tồn tại chính là: Kênh ngắn với sự tham gia của một, hai nhà trung gian nên họ không kiểm soát được những xuất bản phẩm có nội dung sai định hướng của Đảng và Nhà nước Hàng hóa đã phân phối khó thu hồi hoặc thu hồi không hết nên nó sẽ tác động không tốt tới người tiêu dùng Những xuất bản phẩm này có thể tạo ra sự xáo động trên thị trường, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và sự hưởng thụ tri thức trong
xã hội Điều đặc biệt đó chính là hàng hóa từ kênh ngắn có thể di chuyển vào kênh dài nhưng không phải hàng hóa nào từ kênh dài cũng có thể đưa vào kênh ngắn Ví dụ những mảng sách chính trị - xã hội, pháp luật, khoa học công nghệ - mang tính tuyên truyền sâu rộng
● Kênh phân phối rộng
Trang 26Là sự kết hợp giữa hai hay nhiều nhà tiêu thụ cùng cấp để khai thác các cơ hội kinh doanh mới Thông qua việc hợp tác các doanh nghiệp có thể góp vốn, sức lao động hoặc nguồn lực khác để đưa hàng hóa vào những hướng khác nhau trên một thị trường nhất định Đối với xuất bản phẩm thì kênh phân phối xuất bản phẩm loại rộng ít được sử dụng vì sức hút hàng hóa xuất bản phẩm chưa cao Kênh phân phối này có những ưu điểm như đến tay người sử dụng nhanh hơn so với kênh dài Nếu có ít cấp tham gia thì có thể nhanh hơn với kênh ngắn Hình thành những cụm thị trường có những điều kiện và đặc điểm đồng nhất Đây là điều kiện để tổ chức các mối quan hệ hiệu quả
Bên cạnh đó kênh phân phối rộng cũng tồn tại những nhược điểm như: không
có khả năng chuyển tải nhiều hàng hóa với những chủng loại hàng hóa có mẫu mã đa dạng Không phải lúc nào kênh phân phối cũng tổ chức được và không phải hàng hóa nào cũng phân phối được
1.3.2.2 Tổ chức bán lẻ
Trong nền kinh tế thị trường người ta sử dụng nhiều cách thức khác nhau để bán được hàng hóa vì nhu cầu trên thị trường rất phong phú đa dạng, khả năng dân trí cao, khả năng thanh toán cao Mỗi cách thức có những kỹ năng khác nhau đòi hỏi nhà kinh doanh phải thực hiện những hành vi khác nhau sao cho phù hợp với loại hàng hóa, môi trường kinh doanh và chính tiềm lực của nhà kinh doanh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Để thực hiện được điều đó buộc nhà tiêu thụ phải nghiên cứu tìm hiểu lựa chọn cách thức bán hàng phù hợp để hoạt động bán hàng đạt được hiệu quả cao nhất Trong đó có các hình thức bán xuất bản phẩm được nhiều doanh nghiệp chú ý và sử dụng hiệu quả
“ Hình thức tiêu thụ là những cách thức bán hàng mà tổ chức doanh nghiệp sử dụng tại những địa điểm và thời gian nhất định tương ứng với các nhóm
Trang 27đối tượng khách hàng nhất định trong xã hội.”
( trích chương 3 – Hình thức tiêu thụ Xuất bản phẩm –
Bài giảng Tổ chức tiêu thụ xuất bản phẩm - TS Đỗ Thị Quyên)
Có nhiều hình thức tiêu thụ như: Tiêu thụ tại điểm cố định, tiêu thụ lưu động, tiêu thụ qua mạng
- Tiêu thụ tại điểm cố định là hình thức tiêu thụ giữ vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp Điều đó không chỉ thể hiện thông qua khối lượng hàng hóa tiêu thụ được để thỏa mãn nhu cầu khách hàng mà nó còn tạo
ra hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường Bán cố định là bán xuất bản phẩm ở những địa điểm cố định thường xuyên liên tục và sử dụng hệ thống cửa hàng cửa hiệu các ki-ôt và các trang thiết bị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Với hình thức tiêu thụ này hàng hóa phải được sắp xếp trưng bày, phân loại khoa học để đảm bảo tiện lợi cho quá trình phục vụ khách hàng Tổ chức phục vụ khách hàng theo tính chất của hoạt động bán hàng với các hoạt động tư vấn, định hướng, tuyên truyền quảng cáo, bán trực tiếp và có thể bao gồm các hoạt động bán buôn Thường xuyên tiếp nhận ý kiến khách hàng để bổ sung kịp thời những thiếu xót những cái chưa tốt khi được khách hàng phản ánh
Đây là hình thức tiêu thụ đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp bởi tại đó doanh nghiệp có thể tiêu thụ được lượng hàng hóa phong phú, đa dạng với khối lượng lớn và tiêu thụ thường xuyên, ổn định sẽ tạo ra đội ngũ khách hàng quen thuộc Có thể sử dụng nhiều hình thức bán hàng tại điểm cố định như bán buôn, bán lẻ, bán tự chọn, bán qua mạng Hình thức này còn đảm bảo được hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục thường xuyên theo những quy ước nhất định Điều đó sẽ đem lại doanh số và lợi nhuận cao, tạo nên được hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp, thực hiện các hình thức và biện pháp
Trang 28bán hàng khác nhau, rèn luyện được kỹ năng bán hàng, giao tiếp Hình thức tiêu thụ tại điểm cố định sẽ là nơi cung cấp hàng hóa chủ yếu ra thị trường,
có điều kiện để doanh nghiệp thể hiện kỹ năng bán hàng và là trung tâm tiếp nhận thông tin từ thị trường
Nội dung của hoạt động tiêu thụ tại điểm cố định bao gồm: Hoạt động sắp xếp trưng bày, bố trí các trang thiết bị và dụng cụ phục vụ bán hàng, tổ chức phục
vụ khách hàng theo tính chất của cửa hàng, tiếp nhận ý kiến về đề xuất của khách hàng, bổ sung hàng hóa, quản lý hàng hóa và thanh quyết toán
- Tiêu thụ tại điểm lưu động là việc tổ chức mang các xuất bản phẩm ra khỏi cửa hàng hoặc khỏi địa điểm của doanh nghiệp đến một điểm xác định trong những khoảng thời gian nhất định và phục vụ những nhóm khách hàng nhất định Với hình thức này thì hàng hóa không phong phú đa dạng, số lượng hàng hóa mang đi không nhiều mà chỉ mang theo một số loại xuất bản phẩm phù hợp mà thôi Chỉ sử dụng được những cơ sở vật chất nhất định Bởi các nhà kinh doanh xác định chỉ bán trong những thời điểm nhất định chứ không thường xuyên liên tục, bán cho một vài đối tượng khách hàng Đây là thị trường không quen thuộc nên các nhà tiêu thụ khó có khả năng tổ chức và quản lý hàng hóa Hình thức tiêu thụ này chỉ có thể sử dụng một cách bán hàng trực tiếp có khả năng thỏa mãn nhu cầu tốt nhất, năng suất bán cao, tiêu thụ được cả những hàng hóa khó bán
Tiêu thụ xuất bản phẩm lưu động giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, phạm vi phân phối và mạng lưới bán hàng Giúp cho doanh nghiệp có khả năng giới thiệu, quảng bá khuyếch trương hàng hóa và tổ chức doanh nghiệp trên thị trường xuất bản phẩm đặc biệt đối với thị trường mới với những khách hàng tiềm năng Tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và nâng cao
Trang 29hiệu quả kinh doanh Đồng thời giúp nắm bắt và thỏa mãn tốt những nhu cầu mới, thiết lập mối quan hệ với khách hàng mới, gia tăng đội ngũ khách hàng
- Tiêu thụ qua mạng Internet là hình thức bán xuất bản phẩm qua mạng điện
tử là sử dụng công nghệ để thực hiên việc bán hàng Doanh nghiệp có thể phục vụ nhu cầu của khách hàng trên một thị trường rộng lớn với đông đảo các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau Hình thức này giúp doanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hóa với số lượng lớn và đạt hiệu quả cao Đây là một hình thức đòi hỏi yêu cầu cao về cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng như phải có hệ thống máy tính, lập trang web bán hàng và các phương tiện
kĩ thuật khác có liên quan Đội ngũ bán hàng phải đáp ứng được yêu cầu về trình độ tin học và ngoại ngữ
1.3.3 Xúc tiến tiêu thụ xuất bản phẩm và nghệ thuật bán hàng
Xúc tiến tiêu thụ là biện pháp thương mại nhằm kích thích và thu hút khách hàng mua hàng hóa xuất bản phẩm của doanh nghiệp Xúc tiến thương mại
là hoạt động thúc đẩy tìm kiếm cơ hội mua hàng hóa và cung ứng dịch vụ bao gồm các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, hội chợ triển lãm thương mại Mục đích của hoạt động xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm đạt được hiệu quả cao hơn
Các biện pháp xúc tiến tiêu thụ làm cho hàng hóa hấp dẫn hơn, thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp bán hàng nhanh hơn nhiều hơn Tạo uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp thông qua hàng hóa chất lượng, giá rẻ, quy cách phục vụ chuyên nghiệp…Mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn góp phần tạo dựng hình ảnh đẹp của doanh nghiệp trên thị trường
Các biện pháp xúc tiến bao gồm:
Trang 30● Xúc tiến quảng cáo tiêu thụ là biện pháp xúc tiến gây ấn tượng mạnh mẽ đến khách hàng Đây là một biện pháp xúc tiến hỗ trợ tích cực cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp trên thị trường Tuyên truyền quảng cáo được thể hiện qua cách trưng bày sắp xếp hàng hóa hợp lý, khoa học thông qua các biển đề chỉ dẫn Tuyên truyền quảng cáo có thể thông qua đội ngũ nhân viên bán hàng với những kĩ năng giao tiếp chuyên nghiệp Ngoài ra tuyên truyền quảng cáo thông qua các biển hiệu, pano, áp phích, các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đang trở thành một biện pháp xúc tiến tiêu thụ đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên cần phải hiểu rõ quảng cáo không phải là
sự phô trương đánh lừa khách hàng mà là thông tin cho khách hàng biết về đặc điểm của sản phẩm, thu hút sự chú ý của khách hàng
● Tổ chức hội trợ, triển lãm
Là một hoạt động xúc tiến thương mại tập trung với những hành vi của nhà tiêu thụ thông qua việc tổ chức mang hàng hóa đến một địa điểm nhất định cùng với các đối tác khác để khuyếch trương quảng bá hàng hóa và bán hàng
Hội chợ triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và dịch vụ.Đây là hình thức xúc tiến thương mại tập trung trong một quy mô nhất định với không gian cụ thể, những người tham gia có thể gây ảnh hưởng lớn tới đối tác, thị trường và đặc biệt là khách hàng cuối cùng
● Khuyến mại
Theo Luật Thương mại 2005 của Việt Nam, tại Điều 88: “ Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán
Trang 31hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.” Mục đích của khuyến mại là kích cầu tiêu dùng thúc đẩy người tiêu dùng mua và mua nhiều hơn các hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp hay phân phối Khi tổ chức thực hiện, chúng ta phải xây dựng cho mình những chiến lược ngắn hạn hay dài hạn trong một khoảng không gian, thời gian nhất định và đối với từng loại hàng hóa nhất định Biện pháp này
có khả năng giới thiệu hàng hóa một cách rộng rãi, thu hút khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp
● Kỹ năng giao tiếp bán hàng
Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc trực tiếp nhằm xác lập mối quan hệ giữa con người – con người trong đời sống xã hội thông qua các công cụ: tiếng nói, ngôn ngữ, hành vi, tâm lý nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định
Giao tiếp bán hàng là một quá trình vận dụng nghệ thuật nói chuyện để hướng đối tượng đến một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực kinh doanh xuất bản phẩm và những vấn đề có liên quan Diễn ra trong một không gian, thời gian
cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Ứng xử là sự lựa chọn những thuật ngữ, cách thức để trả lời đối tượng giao tiếp nhằm đạt được mục tiêu giao tiếp
Trong quá trình giao tiếp và ứng xử, người bán hàng phải sử dụng nghệ thuật nghe và thuật ngữ trả lời Từ đó tạo ra bầu không khí thân thiện, thoải mái trong quá trình giao tiếp và nhanh chóng đạt được mục tiêu mà mình đã đặt ra là khuyếch trương hàng hóa của tổ chức kinh doanh, của doanh nghiệp mình và bán được nhiều hàng hóa nhất
Trang 321.4 Vai trò hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa đối với Công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội
Cạnh tranh để tồn tại và phát triển là quy luật tất yếu của kinh tế thị trường Hoạt động tiêu thụ sách giáo dục của Công ty Cổ Phần Sách Giáo Dục Hà Nội những năm gần đây đã khẳng định và duy trì vị trí của mình trên thị trường Bởi vậy, hoạt động phát hành sách giáo dục có ý nghĩa rất to lớn đối với công ty và xã hội hiện nay
Sách giáo khoa là mặt hàng đặc biệt do đó tiêu thụ sách giáo khoa cũng là hoạt động kinh doanh đặc biệt: Vừa là một hoạt động kinh tế, vừa là hoạt động văn hóa Tổ chức tiêu thụ sách giáo khoa là hoạt động có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội của Đảng và Nhà Nước Trong điều kiện hiện nay, hoạt động tiêu thụ này càng góp phần to lớn và trực tiếp vào chiến lược phát triển giáo dục ở thủ đô Hà Nội và trên toàn quốc
1.4.1 Tiêu thụ sách giáo khoa thỏa mãn nhu cầu xã hội và đạt được mục tiêu của công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội
Là một doanh nghiệp công ích trực thuộc Sở Giáo Dục – Đào Tạo Hà Nội, Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội đã thực hiện nhiệm vụ xã hội trên địa bàn thủ đô thông qua hoạt động tiêu thụ và phát hành sách giáo khoa: đó
là tổ chức phân phối, di chuyển một khối lượng lớn sách giáo khoa thuộc mọi chủng loại nhằm thỏa mãn nhu cầu tiếp cận, nghiên cứu các tri thức và kiến thức xã hội Vì thế, phát hành càng nhanh càng nhiều sách giáo khoa thì tri thức khoa học càng được phổ biến rộng rãi đến mọi người Từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng của học sinh, góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục quốc gia nói chung và cuộc sống xã hội và kinh tế, theo kịp sự đổi mới và phát triển của đất nước
Trang 33Hàng năm, Công ty Cổ phần Sách Giáo Dục đã tổ chức phát hành một lượng lớn sách giáo khoa phục vụ cho học sinh phổ thông từ tiểu học đến trung học trên địa bàn Hà Nội, đảm bảo cho các em có đầy đủ sách cho năm học mới Sách giáo khoa được tiêu thụ chủ yếu thông qua hệ thống các Phòng giáo dục, các thư viện trường học, các đại lý, doanh nghiệp, khách hàng và cửa hàng bán lẻ trực thuộc công ty đạt khoảng từ 3 đến 3,5 triệu bản/năm Đồng thời quá trình kinh doanh tại cửa hàng lẻ và bổ sung thêm cho các thư viện trường học cũng giúp công ty tiêu thụ được khoảng từ 1 đến 1,2 triệu bản sách tham khảo mỗi năm
Như vậy, thông qua quá trình tiêu thụ, phát hành sách giáo khoa, Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội thực sự trở thành cầu nối giữa sách giáo khoa và người sử dụng, góp phần định hướng nhu cầu của người dân Hà Nội
1.4.2 Tiêu thụ sách giáo khoa góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho Công cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
Sách giáo dục nói chung và sách giáo khoa nói riêng là mặt hàng chủ lực trong cơ cấu mặt hàng kinh doanh của Công ty Cổ phần Sách Giáo dục Hà Nội Hoạt động kinh doanh của công ty diễn ra sôi động nhất vào thời vụ kinh doanh Trong thời gian này quá trình tiêu thụ sách giáo dục diễn ra nhanh chóng và đạt số lượng lớn
Hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa giúp Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội tự hoàn thiện mình hơn, Công ty có điều kiện đầu tư tái sản xuất sức lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật Với doanh thu lớn mỗi năm, thu nhập của cán bộ công nhân viên được đảm bảo không ngừng tăng lên theo hàng năm
Từ đó thổi vào Công ty một khí thế làm việc tích cực, thái độ làm việc nghiêm túc và tận tình với khách hàng Đồng thời, Công ty cũng có điều kiện để đầu tư, nâng cấp cho xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hơn,
Trang 34khang trang hơn, tạo ra môi trường làm việc thuận tiện, thoải mái cho cán bộ công nhân viên Từ đó, quy mô hoạt động của công ty được đảm bảo và từng bước được mở rộng
Tóm lại, tổ chức hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa của Công ty cổ phần sách giáo dục Hà Nội có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó là sự sống còn của công ty trong tình trạng cạnh tranh gay gắt hiện nay
1.4.3 Tiêu thụ sách giáo khoa góp phần làm hoàn thiện sản xuất sách giáo khoa
Hoạt động tiêu thụ giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp xuất bản phẩm Tiêu thụ sách giáo khoa hay khâu bán hàng chính là quá trình doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đây cũng chính là khâu tiếp nhận những thông tin từ thị trường, những phản hồi về sách giáo khoa Từ phản hồi đó nhà sản xuất biết được nhu cầu sách giáo khoa về lượng, loại, hình thức… từ đó mà có kế hoạch xuất bản sách phù hợp Mặt khác khi tiêu thụ sách giáo khoa đạt hiệu quả cao, bán nhanh, bán nhiều trong thời gian ngắn sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh và thực hiện tốt việc tái sản xuất mở rộng mặt hàng sách giáo khoa
Trang 35CHƯƠNG 2 :
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH GIÁO DỤC HÀ NỘI
NĂM 2010 – 2011
2.1 Vài nét về Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
Quán triệt Nghị quyết TW9 khóa 9 về đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện Quyết định số 102/QĐ – TTG ngày 21/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án thí điểm chuyển Nhà xuất bản Giáo dục sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Trung tâm phát hành sách tham khảo là một đơn vị thành viên của Nhà xuất bản Giáo dục đã thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp và đổi tên thành “Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội ”, viết tắt là HAEBCO theo quyết định số 1575/ QĐ BGD&ĐT – TCCB ngày 29 tháng 3 năm 2004 của Bộ giáo dục và Đào tạo HAEBCO là một trong những công ty trực thuộc Nhà xuất bản Giáo dục với
hệ thống cửa hàng bán buôn bán lẻ - đây là địa chỉ quen thuộc của nhiều học sinh, sinh viên, giáo viên Với mặt hàng chủ đạo là sách giáo khoa, sách tham khảo các cấp phong phú đa dạng, công ty đã và đang góp phần đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Từ khi thành lập đến nay Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội liên tục phát triển, hoàn thành chỉ tiêu được giao và luôn phấn đấu hoạt động năm sau cao hơn năm trước Lợi nhuận tăng rõ rệt, từ đó Công ty đã không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên Mạng lưới phát hành mở rộng khắp các tỉnh trong toàn quốc, hệ thống cửa hàng được nâng cấp, các trang thiết bị hiện đại tạo điều kiện cho khối cửa hàng và văn phòng làm việc thuận lợi hơn
Trang 36Thực hiện cổ phần hóa là một bước ngoặt quan trọng của công ty trong quá trình phát triển Với mô hình này, HAEBCO được chủ động hoàn toàn về hoạt động sản xuất kinh doanh Cán bộ công nhân viên của Công ty giờ đây là những người chủ thực sự, được tham gia và quyết định những chiến lược phát triển của mình nhằm đem lại hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh
Chức năng của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
Công ty có chức năng chính là :
- Tổ chức in và phát hành sách giáo khoa, sách tham khảo, phục vụ cho công
tác giảng dạy và học tập của giáo viên, học sinh ở mọi ngành học, bậc học từ mẫu giáo đến phổ thông trung học,các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học trên toàn địa bàn Hà Nội
- Tuyên truyền, quảng cáo sách giáo khoa, sách tham khảo của Nhà xuất bản Giáo dục đến đông đảo bạn đọc là học sinh, sinh viên, giáo viên, phụ huynh học sinh trên thị trường Hà Nội Nhằm định hướng và giúp họ lựa chọn đúng những tên sách cần tìm mua, tìm đọc
Từ nhiều năm nay Công ty luôn luôn có ý thức thực hiện đúng chức năng của mình và là một trong những Công ty con của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hoạt động có uy tín cao Công ty đã đóng vai trò không nhỏ vào việc thỏa mãn nhu cầu sách giáo dục cho nhân dân Hà Nội – một thị trường có nhu cầu lớn nhất cả nước hiện nay
Nhiệm vụ của Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
Để thực hiện tốt chức năng của mình, Công ty cổ phần Sách giáo dục Hà Nội
đã đề ra nhiệm vụ cụ thể sát hợp với yêu cầu và khả năng của cán bộ công ty Những nhiệm vụ này thường bám sát với các thời vụ xuất bản và phát hành sách giáo khoa cũng như các sự kiện chính trị, kinh tế, đối ngoại, văn hóa giáo dục của đất nước Các nhiệm vụ cơ bản của công ty là :
- Tìm kiếm và nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về sách giáo khoa thông qua các hoạt động quảng bá, giao tiếp, tổ chức mối quan hệ với cơ quan, trường học của công ty
Trang 37- hối hợp chặt chẽ với các phòng ban, ban biên tập và các đơn vị thành viên thuộc Nhà xuất bản Giáo dục trong sản xuất và phân phối sách giáo khoa
- Chủ động khai thác nguồn đề tài mới về sách tham khảo, tranh ảnh, bản
đồ, các thiết bị giáo dục… để xuất bản và sản xuất đáp ứng nhu cầu trên thị trường
- Tổ chức liên kết trong cả Xuất bản – in – phát hành với các đơn vị trong và ngoài hệ thống Nhà xuất bản Giáo dục
- Cung cấp đầy đủ, thường xuyên các mặt hàng sách giáo dục và thiết bị
đồ dùng học tập cho cả cửa hàng của công ty
- Đầu tư lao động chuyên nghiệp cho khâu bán hàng tại các siêu thị, nhằm tạo ra bộ mặt mới, hấp dẫn khách hàng và đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường
- Không ngừng đầu tư cở sở vật chất, kỹ thuật để làm cửa hàng khang trang, tiện ích cho cả hoạt động mua và bán
Cơ cấu tổ chức
Với mục tiêu xây dựng công ty là một khối thống nhất, một bộ máy hoạt động
ăn khớp, hoàn thành nhiệm vụ Trên tinh thần số lao động đã định biên, đảm bảo dùng đúng người đúng việc Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục đề bạt, bổ nhiệm các cấp quản lý như Giám đốc, Phó giám đốc, trưởng phó phòng ban chức năng và định biên cho từng bộ phận cụ thể Lãnh đạo công ty xem xét năng lực chuyên môn, sở trường của từng cá nhân người lao động để bố trí sắp xếp vào phòng, nhằm phát huy hết khả năng của người lao động Tổ chức của công ty được chia thành hai khối : khối văn phòng và khối cửa hàng Trong đó khối văn phòng bao gồm nhiều phòng ban như Ban giám đốc, Phòng tổ chức hành chính quản trị, Phòng kinh doanh v.v.v giúp Ban lãnh đạo công ty quản lý tốt hơn và nắm bắt kịp thời những hoạt động kinh doanh của công ty Khối cửa hàng thực hiện phân phối và bán hàn theo chỉ tiêu kế hoạch
Trang 38Bảng 1 : Mô hình tổ chức của HAEBCO
Phó giám đốc 1 Phó giám đốc 2 Phó giám đốc 3
Phòng quản
lý sản xuất
Phòng khai thác
Phòng kinh doanh
Phòng
kế toán tài vụ
Công ty con CT CP sách và thiết bị trường học Cao Bằng
Cửa hàng
187 Giảng
Võ
Cửa hàng
232 Tây Sơn Giám đốc điều hành Ban kiểm soát
Hội đồng quản trị
Trang 39Đại hội cổ đông có quyền lực cao nhất của công ty theo Luật doanh nghiệp
và điều lệ của công ty Đại hội cổ đông có trách nhiệm thảo luận và phê chuẩn những chính sách dài hạn và ngắn hạn về sự phát triển của công ty cũng như bầu ra bộ máy quản lý và điều hành hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty Từ đó bộ máy quản lý này thiết lập tổ chức cụ thể đảm bảo cho công
ty hoạt động có hiệu quả Bộ máy tổ chức công ty gồm :
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của công ty Các thành viên trong Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông bầu ra, cơ cấu gồm 01 Chủ tịch Hội đồng quản trị và 04 thành viên Hội đồng quản trị đại diện cho tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, có toàn quyền nhân danh các cổ đông quyết định mọi vấn đề có liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ, quyền lợi của cổ đông và tương lai phát triển của công ty trừ những vấn
đề thuộc thẩm định của Đại hội cổ đông
- Ban kiểm soát gồm 03 người do Đại hội cổ đông bầu ra Trong đó có
01 người là đại diện cho vốn công ty mẹ, 01 người có nghiệp vụ về kế toán và
01 người có nghiệp vụ về kinh doanh Ban kiểm soát có nhiệm vụ thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị và điều hành công ty
- Ban giám đốc gồm 01 Giám đốc điều hành và 03 Phó giám đốc Trong
đó, Giám đốc điều hành là người đại diện pháp nhân của công ty trong mọi giao dịch kinh doanh và điều hành hoạt động hàng ngày của công ty
Hệ thống các phòng chức năng :
- Phòng kế toán – tài vụ : có nhiệm vụ tham mưu giúp cho Giám đốc và chịu trách nhiệm về công tác tài chính kế toán, phân tích đánh giá hoạt động tài chính của công ty, cung cấp và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả Cụ thể
là kiểm tra và tham mưu cho Giám đốc ký các hợp đồng kinh tế ( in, mua,
Trang 40bán sách, vật tư) Tư vấn cho giám đốc các hoạt động liên doanh, liên kết, các hình thức huy động vốn
- Phòng kinh doanh là bộ phận bán hàng chịu trách nhiệm bán hàng, đề
ra phương án, xây dựng kế hoạch phát hành sách, khai thác và ký hợp đồng mua bán với khách hàng, xuất hóa đơn bán hàng Bộ phận cửa hàng có trách nhiệm theo dõi nắm bắt nhu cầu của các cửa hàng trên cơ sở đưa ra các hình thức quản lý có hiệu quả Nhiệm vụ chính của bộ phận này là :
+ quảng cáo, tuyên truyền, thẩm định và nghiên cứu thị trường
+ khai thác đề tài sách, đấu thầu sách và các hình thức đấu thầu khác + quản trị mạng, bảo mật số liệu, tìm hiểu thông tin trên mạng để phục vụ cho công tác hoạt động kinh doanh của công ty
+ tổ chức bán hàng trực tiếp và qua mạng
- Phòng tổ chức – hành chính quản trị : chịu trách nhiệm về công tác tổ chức nhân sự như tuyển dụng, sắp xếp, bố trí và sử dụng lao động Giải quyết mọi chế độ chính sách đối với người lao động, thực hiện công tác mua sắm văn phòng phẩm, phục vụ các hoạt động thường ngày của công ty, sữa chữa các công trình vừa và nhỏ Quản lý và xuất tem chống giả cho các nhà in
- Phòng quản lý sản xuất: tiếp nhận bản thảo trúng thầu và giao thầu từ Nhà xuất bản Giáo dục, tính lãi kế hoạch từng tên sách để ra quyết định in, lập các hợp đồng kinh tế in và chịu trách nhiệm về sản phẩm đưa in, nhập kho đúng thời hạn và đúng chất lượng Chịu trách nhiệm tổ chức bản thảo đối với sách liên kết và lên kế hoạch in đối với sách đã trúng thầu Lập kế hoạch
dự trù vật tư hàng năm
- Phòng kho vận có một số nhiệm vụ sau:
+ Nhập sách theo các quyết định in từ các nhà in