Với những ỉý do trên, em chọn Đồ ăn uổng truyền thống của người í Mường ở xã Mai Hạ, huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình xưa và nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Cử nhân ngành Văn hóa dân
Trang 1XƯA VÀ NAY
Giảng viên hướng dẫn:PGS.TS TRẦN BÌNH Sinh viên thực hiện: PHAN DUY TOÀN
Hμ néi - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, hiệu quả của bà con người Mường ở đội 4 xã Mai Hạ, UBND xã Mai Hạ, ƯBND huyện Mai Châu (Hòa Bình), các giảng viên Khoa văn hỏa dân tộc thiểu số, PGS TS Trần Bình
và cảc bạn sinh viên lớp VHDT16C, Nhân đây em xỉn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả mọi người
Mặc dù đã rất cố gắng, song do khả năng còn nhiều hạn chế, khóa luận chắc chắn sẽ còn nhiều khiếm khuyết Em mong nhận được những ý kiến đỏng góp của các giảng viên, cảe bạn sinh viên, và tất cà những ai quan tâm đển văn hỏa Mường, ầm thực Mường
Em xin chần thành cảm ơn !
Phan Duy Toàn
Trang 3MỤC LỤC
MỞĐẲU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phươngpháp nghiên cứu 7
6 Nộidung, bố cục của khóa luận 8
Chưong 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG Ở MAI HẠ (MAI CHÂU, HÒA BÌNH) 9
1.1 Đặc điểm địa bàn cư trú 9
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên ở xạ Mai Hạ 9
1.2 Tên gọi, lịch sử tụ cư, phân bố cư trú 11
1.3 Tập quán mưu sinh 11
1 AĐặc điếm xã hội truyền thqng 13
1.5 Đặc điểm văn hóa 14
1 S.l.Đặc điểm văn hóa vật chất
14 Chương 2: CÁC ĐỒ ĂN UỐNG TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở MAI HẠ (MAI CHÂU, HÒA BÌNH) 20
2.LKhái quát về ẩm thực của người Mường ở Mai Hạ
20
Trang 42.2 Đồ ăn
uống truyền thống của người Mường ở Mai Hạ 23
2.2.1 Nguyên liệu chế biến đồ ăn 23
2.2.2 Các loại đồ ăn ừuyền thống 31 2.3 'Tìm kiếm nguyên liệu chế biến đồ ăn uống 46
2.3.1 Tìm kiếm nguyên liệu trong tự nhiên 46
2.3.2 Kỹ thuật chế biến các loại đồ ăn uống 48
2.4 Đồ ăn uống truyền thống với văn hóa Mường Mai Hạ 59
Chương 3: BIỂN ĐỐI CÁC LOẠI ĐỒ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở MAI HẠ (MAI CHÂU, HÒA BÌNH) HIỆN NAY 62
3.1 Những biến đổi về ăn uống ở Mai Hạ hiện nay 62
3.1.1 Biến đổi nguồn lương thực, thực phẩm 62 3.1.2 Biến đổi cách thức chế biến
63 3.1.3 Biến đổi dụng cụ chế biến và cách bảo quản 64
3.1.4 CƠ câu các món ăn thay đổi 64
3.1.5 Biến đổi ưng xử trong ăn uống 66 3.2 N guyên nhân dẫn đến sự biến đổi 68
Trang 53.2.1 Môi trường xã hội có nhiều thay đổi 68
3.2 2 Môi trường tự nhiên thay đối 70
3.2.3 Biến đổi các hoạt động kinh tế 70
3.2.4 Giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mễ 71 3.3 Bảo tồn, phát huy các giá trị của đồ ăn uống Mường ở Mai Hạ 71 3.3 LGiải pháp nâng cao hiểu biết, nhận thức 71
3.3.2 Giải pháp đầu tư, triển khai, thực hiện 73
3.3.3 Giải pháp thông tin, tuyên truyền, quảng bá 73
KẾT LUẬN
75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC
81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người Mường, còn có tên tự gọi: Mon, Mual, Mỡ/, , là một dân tộc sống ở khu
vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, Sơn la, Phú Thọ, Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, người Mường đã xãy dựng được nền văn hóa tộc người đặc sắc, đóng gớp lớn vào nền văn hóa đa dạng ở Việt Nam
Đến nay đã có tới hàng ngàn công trình nghiên cứu về văn hóa Mường đã được công bố Tuy vậy, đối với các nhóm Mường ở các địa phương, đến nay cũng chưa hẳn
đã được quan tâm tìm hiểu một cách thấu đáo Trong số đó có nhóm Mường ở Mai Châu Mặc dù có nhiều đặc điểm tương đồng như các nhóm Mường khác, nhưng họ cũng có nhiều khác biệt Những khác biệt đó có thể được qui định bởi các yếu tố: quá trình tụ cư, quy mồ và mức độ giao tiếp văn hóa với các dân tộc láng giềng, cung cách thích ứng với môi trường sỉnh sống, Người Mường ở Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình),
là một trong những trường hợp như vậy Bởi thế, tìm hiểu người Mường Mai Hạ, trong
đó có ẩm thực của họ, nhằm nâng cao hiểu biết về văn hóa của cộng đồng này là đòi hỏi của khoa học và thực tiễn hiện nay
Đồ ăn uống, hút truyền thống là một trong những thành tố của văn hóa tộc người Muốn hiểu biết cặn kẽ về bản sắc văn hóa của dân tộc, bắt buộc phải nghiên cứu, tìm hiểu ẩm thực Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu đồ ăn ' uống, hút truyền thống còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc giải quyết vấn đề dinh dưỡng, xây dựng chế dộ ăn uống nhằm tăng cường thể lực, nâng cao sức khỏe, an toàn dinh dưỡng, lương thực, cho các cộng đồng Không những thế, nghiên cứu đồ ăn uống, hút truyền thống, còn góp phần xác định tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch văn hóa Bởi vậy, nghiên cứu ẩm thực người Mường ở xã Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình) là nhu cầu
Trang 7của thực tiễn hiện nay
Với những ỉý do trên, em chọn Đồ ăn uổng truyền thống của người
í
Mường ở xã Mai Hạ, huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình xưa và nay làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp Cử nhân ngành Văn hóa dân tộc thiểu số của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Xưa kia, nghiên cứu đồ ăn uống, hút được xếp vào mảng văn hóa đảm bảo nhu cầu sinh tồn còn gọi là vãn hóa vật chất Từ rất xa xưa, ăn uống đã được đề cập đến
trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học ở cả trong và ngoài nước Trong Lĩnh nam
chích quái đã đề cập khá kỹ lưỡng về tục ăn trầu, tục gói bánh chưng, bánh đầy làm đồ
cúng dâng và cũng ỉà món ăn ngon, Cuốn Nữ công thẳng lãm của Hải thượng lãn ông
Lê Hữu Trác cũng đã giới thiệu cách chế biến hơn 100 món ăn Vào thế kỷ thứ VIII,
cuốn Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ nóỉ tới tục uống trà Dần dần, việc ăn gì,
uống gì, ăn với ai, uống với ai, ăn như thế nào, uống vào lúc nào, ăn uống phản árứi quan hệ gỉ vái môi trường tự nhiên, xã hội ừở thành đối tượng nghiên cứu của Dân tôc học, Văn hóa học, Y học, Dinh dưỡng học? Đến nay đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu về ẩm thực: “Văn hóa ẩm thực dấn gỉan Mường Hòa Bình”, “Tỉnh hoa ẩm
thực đất Bắc”; “Vãn hóa ẩm thực ở Trà Vinh”; “Vãn hỏa ẩm thực ở Kiên Giang” ỉ
“An uống của người Việt ở Kinh Bắc
về đồ ăn uống, hút truyền thống dân tộc Mường ở Việt Nam hầu hết được đề cập trong các công trình chuyên khảo chung Tuy chưa thành hệ thống, chưa thật chuyên sâu, nhưng qua những chuyên khảo cũng có thể hiểu
Trang 8được một cách khái quát về ăn uống của người Mường: Bùi Chỉ trong: Vãn hóa
ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình; Từ chi với Văn hóa Mường; Bùi Chỉ với Văn hóa
ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình; Nguyễn Thị Thanh Nga (và các tác giả) với Người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình; Sở văn hóa Thông tin, Hội văn hóa các dân tộc Hòa Bình
với Văn hỏa dân tộc Mường; Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình Bùi Tuyết Mai với Người Mường vởi vãn hóa cồ truyền Mường Bỉ; Cao Sơn Hải với Văn hóa dân gian
Mường;
Trong đó, Vãn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình của Bùi Chỉ là nghiên
cứu đấng chú ý nhất Đây là công trình đề cập tương đối cụ thể về ẩm thực Mường Trong đó tác giả đã phân tích nhũng tác động của môi trường tự nhiên đến mưu sinh, nguồn nguyên liệu để chế biến đồ ăn uống; các kỹ thuật chế biến đồ ăn uống và ứng xử trong ăn uống; của người Mường
Tuy vậy, nghiên cứu đồ ăn uống truyền thống Mường ở Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), một vùng Mường có quan hệ giao tiếp đặc biệt với cộng đồng người Thái, vẫn chưa phải đã được quan tâm đúng mức Hy vọng khóa luận này sẽ phần nào góp phần tìm hiểu đồ ăn uống truyền thống Mường ở Mai Hạ
■ %
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mực đích; Nâng cao nhận thức, hiểu biết về đồ ăn uống truyền thống người
Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình)
Trang 9truyền thống Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình)
4 Đối tương, phạm vi nghiên cứu
- Đỗi tượng nghiên cứu: đồ ăn uống truyền thống của người Mường Mai Hạ
(Mai Châu, Hòa Bình), sẽ là đổi tượng nghiên cứu chính của khóa luận Để hiểu biết hơn, các thành tố văn hóa khác của người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), cũng
sẽ là đối tượng nghiên cứu phụ của khóa luận
“ Phạm vi nghiên cứu: xã Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), trước và sau Đổi mới
(1986) đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xác định: tìm hiểu đồ ăn uống truyền thống Mường ở Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình) trong bối cảnh chung của văn hóa Mường ở Mai Châu (Hòa Bình) Theo đós mối quan hệ đồ ăn uống truyền thống - văn hóa - tự nhiên - xã hội - con
người, được đặc biệt chú trọng Trong đó, mỗi thành tố đều là'tác nhân và là kết
qụả tác động của thành tố khác; thành tố này biến đổi, các thành tố khác cũng phải biến đổi để thích ứng; các điều kiện tự nhiên, xã hội nhân văn ở Mai Châu thay dổi, buộc các thành tố văn hóa, trong đó có đồ ăn uống cũng phải thay đổi để thích ứng;
Phương pháp chủ đạo được sử dụng trong quá trình điều tra, nghiên cứu hoàn
thành khóa luận là nghiên cứu điền dã ở thực địa, với các kỹ thuật chủ yếu: quan sát,
phỏng vấn, hỏi chuyện, ghi chép, chụp ảnh Thông qua các đợt nghiên cứu thực địa ở Mai Hạ, tác giả đã làm việc trực tiếp vơi cộng đồng người Mường ở Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), để thu thập tư liệu, phục vụ việỏ hoàn thành khóa luận
Để bổ sung tư liệu, nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tham khảo các sách, các tạp chí chuyên ngành, cũng được chú trọng thực hiện
6 Nội dung, bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết ỉuận, phụ ỉục, nội dung chính của khóa luận được trình
Trang 10bày trong ba chương:
Chương 1: Khái quát về người Mường ở xã Mai Hạ, huyện Mai Châu tỉnh Hòa
Bình
Chương 2: Các loại đồ ăn uống truyền thống của người Mường Mai Hạ (Mai
Châu, Hòa Bình)
Chương 3: Biến đổi Các ỉoạỉ đồ ăn uổng truyền thỗng của người Mường Mai Hạ
(Mai Chầu, Hòa Bình) hiện nay
ị
Trang 11Chương1 KHÁI QUÁT VÈ NGƯỜI MƯỜNG Ở MAI HẠ (MAI
CHÂU, HOÀ BÌNH)
1.1 Đặc điềm địa bàn cư trú
- Mai Châu là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây bắc tỉnh Hoà Bình, có toạ độ địa lý 20°24’ - 20°45? vĩ bắc và 104°3r ~~ 105°16’ kinh đông; phía đồng giáp huyện
Đà Bắc và huyện Tân Lạc, phía tây và phía nam giáp'huyện Quan Hóa của tỉnh Thanh Hóa, phía bắc giáp huyện Mộc Châu (của tỉnh Sơn La) Mai Hạ là một xã thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam
- Địa hình Mai Hạ khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối và núi cao Theo đặc điểm địa hỉnh, có thể chia thành hai vùng rõ rệt: Vùng thấp, có diện tích gần 2.000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ Có nhiều dãy núi, địa hình cao và hiểm trở Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 800 - 900 m, điểm cao nhất là 1.536 m , điểm thấp nhất là 220 m Độ dốc trung bình từ 30 đến 35° Nhìn tổng thể, địa hình Mai Hạ thấp dần theo chiều từ tây bắc xuống đông nam
- Ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, khí hậu của vùng Mai Hạ chịu ảnh hưởng
rõ rệt của chế độ gió mùa tây bắc, mang sắc thái riêng của khí hậu nhiệt đới núi cao, bức xạ của vùng tương đối thấp,
- Mai Hạ có nguồn tài nguyên rừng khá phong phú, chủ yếu là các kiểu rừng tự nhiên với nhiều loài cây nhiệt đới, gồm các loại gỗ quý (lát hoa, sến ), các ỉoại cây đặc sản có giá trị (sa nhân, song ), các loại tre, nứa, luồng Tuy nhiên, do quá trình khai thác không có kế hoạch kéo dàij thiếu tổ chức, quản lý, thêm vào đó là việc đốt phá rừng làm nương đã dẫn đến hậu quả là hiện nay nguồn tài nguyên rừng nơi đây đã nhanh bị cạn kiệt Quá trinh chặt phá thiếu tổ chức, phát nương làm rẫy của bà con đã
Trang 12tạo ra những trảng cỏ nghèo, độ che phủ thấp, huỷ diệt môi trường sinh sống của các loài động vật Hiện nay, các ỉoại động vật rừng như lợn, gấu, khỉ, vượn, hoẵng, gà lôi, rắn trong các thảm rừng hiện còn ở Mai Hạ rất hiếm, nếu có thì số lương ít, sống tập trung trong các khu rừng cấm
- Hệ thống giao thông vận tải ở xã Mai Hạ cũng được chú trọng Trong 5 năm quạ, cùng với các dự án, chương trình làm đường giao thông của Trung ương, Mai Hạ
đã làm được 59,5 km quốc lộ, 59 km tỉnh lộ, 91 km đường huyện, 15,25 km đường liên
xã, gần 329,5 km đương nội xóm Từ ngày có những con đường này, ô tô đã đến được với trung tâm xã Giao thông thuận lợi là điều kiện cơ bản tạo cho giao thương hàng hóa, phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Đặc biệt, những con đường đã đẩy lùi dần phương thức sản xuất tự cung, tự cấp vốn có của bà con dân tộc, góp phần trong xóa đói, giảm nghèo của huyện
- Vớ i hóàn cảnh tự nhiên như trên9 Mai hạ là địa phương có lợi thế trồng ừọt và chăn nuôi các loại cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn, ), cây ăn quả, cây rau mầu và các loại gia súc, gia cầm, thủy sinh, nhiệt đới Đó cũng chính là nguồn nguyên liệu vô tận, giàu dinh dưỡng, cung cấp cho việc chế biến các món ăn của người Mường Mai
Hạ
- Tà i nguyên rừng, tài nguyên dưói sông suối phong phú,.', đó là đối tượng săn bắt, hái lượm ngàn đời nay của người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình) Đó cũng chính là nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp cho việc chế biến đồ ăn uống của người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình)
Trang 13- Thiên nhiên đa dạng, là cơ sở, tạo điều kiện cung cấp nguồn nguyêíì liệu phong phú, cho việc chế biến các đồ ăn uống Đó chính là kết quả thích ứng, lợi dụng thiên nhiên để tồn tại của người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình): Song điều kiện khí hậu nhiệt đới ảm ở Mai Hạ, cũng chính là tác nhân quyết định cung cách ăn uống, thông qua các loại đồ ăn người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), chứng tỏ cách thức ứng phó với khí hậu, rất tuyệt vời của mình
1.2 Tên gọi, lịch sử tụ cư, phân bố cư trứ
Cũng như người Mường ở Hòa Bình, tộc danh của người Mường Mai Hạ (Mai
Châu) được nhà nước chính thức công nhận là Mường Trong thực tế, họ còn tự gọi mình là Mon, Moi, Mual, Mường Mai Hạ, Mường Mai Châu,
Tổ tiên người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình) cư trú ở quê hương của họ hiện nay đã từ rất lâu đời Theo các tài liệu đã công bố, tổ tiên họ đã có mặt ở Mai
Châu, ngay từ gĩai đoạn Đồ đá mới, và là chủ nhân của Vãn hóa Hòa Bình
Hiện nay, người Mường cư trú ở khắp các xóm, bản ở Mai Hạ Trong đó tập trung đông nhất là ở Đội 4 (Xóm 4) Tại Mai Hạ, họ cư trú en kẽ cùng với người Thái, người Kinh (Việt), đã lâu đời Đây chính là tiền đề cho giao tiếp văn hóa giữa người Mường Mai Hạ (Mai Châu, Hòa Bình), đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, sâu sắc
1.3 Tập quán mưu sinh
Cư trú ở thung lũng chân núi người Mường Mai Hạ lấy trồng trọt lúa ở ruộng
nước, và ruộng bậc thang {nà chân quêỉ, nà hộc) làm hoạt động kinh tế chủ đạo Kỹ
thuật canh tác lúa nước của họ khá phát triển, vơi các công đoạn kỹ thuật: chọn giống, làm mạ, làm đất, gieo cấy, chăm bón và thu hoạch, khá cao Bộ công cụ canh tác lúa
nước truyền thống của họ gồm cày chìa vôi, bừa răng tre, bừa răng gỗ, liềm (nại), dao cắt lúa (cai nại), cào cỏ (guệt), hái (quào), Kỹ thuật dẫn thủy nhập đỉền ở vùng thung lũng chân núi của họ vào loại khá phát triển Đó là hệ thốngpaỉ (đập ngăn nước),
Trang 14mương, hạnh (các loại máng dẫn nước vào ruộng) và guồng (cọn) vận hành bằng sức
nước,, Cùng vái canh tác lúa, họ còn trồng ngô, khoai, sắn, đậu, vừng, bí, bầu, và một vài loại rau màu khác trên nương Từ khá sớm, ở một số địa phương tại Thanh Hóa, Hòa Bình người Mường còn trồng luồng, trẩu, sở, quế, đay, gai, và các loại cây công nghiệp khác
Ngoài hoạt động chính là trồng trọt, người Mường Mai Hạ còn có các hoạt động mưu sinh hỗ trợ không kém quan trọng: chăn nuôi, thủ công gia đình, săn bắt và hái lượm, Mặc đù chăn nuôi theo kiểu thả rông, nhung từ xưa họ đã coi việc có nhiều trâu, bò là khá giả, giàu có Cùng với chăn nuôi trâu bò, các gia đình còn nuôi lợn, gà, vịt, và các loại gia cầm khác
Mặc dù thủ công gia đình của người Mường Mai Hạ tương đối phát triển, nhưng
nó vẫn chỉ là hoạt độíig kinh tế phụ trợ Sản phẩm thủ công của họ chủ yếu phục vụ trồng trọt và nhu tiêu dùng gia đinh Đáng chú ý nhất phải kể đến đan lát, dệt may, rèn, mộc} Sản phẩm đan lát của họ gồm: sọt {choảng), bung, bồ {trò ỗ\ mâm (bàn hế), các ỉoại nong nia, mẹt, rổ rá (cặp), các loại ngư cụ đánh bắt thủy sàn: vợt (kha), đó (ngọ),
rọ (xoong), chài, vó, Họ có truyền thống đùng bông ipôông) và tơ tằm làm nguyên
liệu chế sợi, dệt vải Nguyên liệu chế màu để nhuộm của họ chủ yếu là chàm (hóm), vỏ
phang, hem, puỉ và cây vang, Bộ công cụ chế sợi và dệt truyền thống của họ gồm:
cán bông, bật bông {cung pôổng), guồng cuộn sợi (xa) và khung dệt (itrường phại) Sản phẩm dệt của người Mường gồm hai loại: vải mộc và vải dệt hoa (thồ cẩm) Trong
đó không thệ không kể loại vải hoa, được trang trí các kiểu đồ họa đặc biệt, dừng để
làm cặp váy (ikỉôốc) của họ
Trong xã hội truyền thống, săn bắt hái lượm của người Mường Mai Hạ là hoạt động kiếm sống quan trọng Nếu trồng trọt đáp ứng nhu cầu lương thực, thì hái lượm, săn bắt đáp ứng nhu cầu về thức ăn cho các gia đình Ngày nay, môi trường tự nhiên đã
Trang 15có nhiều thay đổi, hoạt động săn bắt, hái lượm của họ ngày càng bị thu hẹp dần
1.4 Đặc điểm xã hội truyền thống
, Trong xã hội truyền thống Mường ở Mai Hạ, thiết chế xã hội tự quản cơ bản của
họ là xóm và mường Đứng đầu xóm, mường là các lang đạo, lang cun Đơn vị cư trú
cơ sở của họ là xóm thường được lập ở chân núi hoặc trên gò đồi; đường đi lại trong xóm nhỏ, hẹp nhà cửa thường bố trí theo lối ngõ, hoặc quây quần theo hình vành khăn Xóm thường được đặt tên theo địa thế như Xóm Đác (có nguồn nước), Xóm Đung (cổ rừng), Xóm Thung (thung lũng) hoặc theo tên các loại cây: Xóm Lảo (nứa), Xóm Trạch (tre), Xóm Pai (cỏ gianh) hoặc theo tên các con vật: Xóm Hò (rùa), Xóm Oong (ong) , hoặc theo địa vị xã hội người cư trú ở đó: Xóm Chiềng (có lang cun ở đó), Xóm Roong (xóm của những người ỉàm nưang)
Xóm Mường ở Mai Hạ xưa cũng có lãnh địa riêng, ranh giới mang tính ước lệ thường là sông, suối, tảng đá gốc cây cổ thụ Mọi gia đình đều có quyền khai thác kiếm sống trên phạm vi lãnh địa chung của xóm Các thành viên trong xóm thường cố kết tương đối chặt chẽ với nhau trong các hoạt động Hình thức giúp đỡ theo kiểu lụ nhau (đổi công) Đứng đầu xóm là các lang đạo, người quản lý mọi hoạt động của xóm Giúp việc cho các lang đạo là một vài chức địch khác trong xóm (ậu)
Cho đến trước năm 1954, về cơ bản xã hội người Mường ở Mai Hạ là xã hội nhà lang Chế độ này đã từng được chính quyền cũ sử đụng để cai trị những người lao động Sau khi miền Bắc giải phóng, chế độ nhà lang bị xóa bỏ, thay vào đó là C0 cấu hành chính xóm, xã, huyện, tỉnh, của chế độ mới
1.5 Đặc điểm văn hóa
1.5.1 Đặc điểm văn hóa vật chất
Cách nay vài chục năm về trước, người Mường Mai Hạ ở nhà sàn Nhà sàn của họ
Trang 16nhìn bên ngoài không khác gì nhà sàn của người Tày, người Thái, nhưng nhỏ bé và xây cất đơn giản, mộc mạc hơn Nhà của họ đều được làm bằng gỗ, tre, nứa, lợp bằng cỏ tranh hay lá cọ Ngôi nhà cổ xưa thường chôn cột xuống đất, nay chân cột đều kê tảng Thiết kế nhà truyền thống của họ theo kiểu vì kèo, liên kết chủ yếu là buộc, gá hoặc dùng ngoẵm; có một hoặc ba gian chính, hai chái, hai mái chính hình thang cân và phang, hai mái đầu hồi nhỏ và thấp Những ngôi nhà cổ của họ thường nhỏ và thấp, vách làm bằng phên nứa, mái chảy xuống gần hết cửa sổ Cửa sổ thường được thiết kế
ở đầu hồi và vách phía sau Đối với người Mường Mai Hạ, cửa sổ ở gian thờ tổ tiên
(voóng tông) rất linh, thiêng, thường ngày họ kiêng đưa đồ vật và ngồi dựa vào cửa sổ
này Tại hai đầu hồi người ta đặt hai cầu thang lên, xuống, có số bậc lẻ, bằng gỗ hoặc
tre cầụ thang phía gian ngoài (voóng tôông) dành cho nam giới, cầu thang phía gian trong (voóng khựa) dành cho nữ giới, Cách bố trí nơi ăn ở trong nhà của họ tương đối thống nhất Nửa sàn phía trên (giáp voóng tôông) thường dùng để làm nơi ngủ, nghỉ,
nửa phía dưới đặt bếp, là nơi sinh hoạt của gia đình Nếu tính theo chiều ngang sàn nhà,
phần bên ngoài (voóng tỏỏng) dành cho nam giới, phần bên trong (voóng khựa) là khu
vực của phụ nữ Bên ngoài, liền với phần đành cho phụ nữ là sàn phơi và để nước ăn Xưa kia gầm sàn nhà người Mường Mai Hạ thường được đành phần lớn làm1 nơi nhốt trâu, bò, lợn và các loại gia cầm khác Phần còn lại là nơi đặt các loại cối giã, để nồng cụ, và các đồ dùng khác Xung quanh khuôn viên cư trú của họ thường bao bọc bằng hàng rào tre, nứa hoặc các loại cây gai (dứa, xương rồng, găng, , ), có cổng ra vào Trong khuôn viên cư trú của người Mường, ngoài nhà ở thường là vườn trồng các loại cây ăn quả lưu niên, chè, mía, và các loại rau, đậu khác
Ngày nay, làng xóm và nhà ở của người Mường Mai Hạ đã thay đổi rất nhiều Đa
số các gia đình ở gần đường gỉao thông đều đã ở trong các ngôi nhà xây lợp ngói, hoặc mái bê tông Tổ hợp kiến trúc nhà ở của họ có nhiều thay đổi Nhà ở, nhà bếp và
Trang 17chuồng trại gia súc được thiết kế, xây dựng thành khu riêng biệt Khuôn viên cư trú đều được thu hẹp lại, đa số được xây hàng rào bao quanh, cổng ra vào được xây dựng chắc chắn, có cánh để khóa Làng xóm của họ cũng được bố trí, quy hoạch lại theo kiểu nông thôn mới, đường đi trong làng, xóm phần lớn đã dược làm bằng bê tông, lát đá hoặc gạch
Y phục và trang sức của người Mường Mai Hạ có nhiều nét độc đáo Nữ phục thường bảo lưu được nhiều nét truyền thống của dân tộc hơn y phục nam giới Một bộ y
phục cổ truyền của phụ nữ Mường thường bao gồm: khăn đội đầu {mu), áo cánh (ạo
pắn\ áo dài (ao chựng), khăn thắt áo (đẹt ạo), yếm ịỵệm/ảo báng), váy (kỉoổc), thắt lưng {tênh)
Trong bộ nữ phục của người Mường Mai Hạ, đangc hú ý nhất: Khăn (mu): làm
bằng tấm vải thô? mầu trắng, có kích thước khoảng 35cm X 150- 160cms khi đội trên
đầu thường dùng hai góc thắt lại phía sau gáy; Áo ngắn (ạo pắn) ngắn nhất trong số các
loại áo của phụ nữ các tộc người ở Việt Nam, may bằng vải trắng, xanh xí lâm, hồng,
có 4 thân, cổ tròn có viền đứng, tay dài, mở chính giữa ngực, nhưng không có khuy cài,
khi mặc chỉ khoác bên ngoài yếm, chờm ra ngoài cặp váy một chút; Áo dài (ao chụng),
mặc chùm bên ngoài trong các dịp lễ tết, hội hè, chiết eo, mở phía trước, không có
khuy cài; Yếm ịyệm / ảo báng) gần giống yếm của phụ nữ người Việt (Kinh); Cạp váy (klôỗc), bằng vải hoặc lụa tơ tằm, là yếu tố đặc trưng riêng biệt về văn hóa mặc của họ,
nó gồm ba băng vải có tên gọi riêng, được may ghép với nhau: dang trên, dang cao và
dang dưới (phần quan trọng nhất của cạp váy, được dệt các mô tip hoa văn hỉnh động
vật, với nhiều màu sắc: như rùa, rồng (xổng), phượng (phương),chim lạc, cá, rắn 0thạnh), có nhiều nét tương tự như hoa văn trên mặt trống đồng Đông Sơn);
Y phục truyền thống của nam giới người Mường Mai Hạ chủ yếu gồm áo cánh và
Trang 18quần, gần giống y phục truyền thống của nam giới người Kinh (Việt), gồm: Áo cánh bằng vải mộc trắng, kiểu áo bà ba bốn thân, cổ tròn, thân dài trùm mông, dưới hai thân trước có túi, ở ngực phía thân trái có một túi; Quần truyền thống của nam giới bằng vải mộc trắng, hoặc nâu, chàm, đũng và ống rộng, không có cạp, khi mặc người ta thắt dây
lưng (tênh) bên ngoài, gần đay luồn giải rút; cổ xưa, nam giới người Mường thường để tóc dài, búi tó và quấn khăn ba trồng trên đầu Cũng có người quấn khăn kiểu búi tó củ
hành (đầu rìu) như người Việt xưa kia
Y phục nhà lang Mường Mai Hạ, cơ bản gần tương tự như của thường dân, nhưng may bằng lĩnh, lụa, gắm vóc màu sắc đẹp, Mặt khác, phụ nữ nhà lang thường mang các
loại trang sức bằng vàng, bạc và các loại nguyên liệu quý hiếm khác
“ Đồ ăm uổng Mường Mai hạ khá phong phú, và có nhiều nét đặc biệt Sẽ được
trình bày ở chương 2
“ Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Mường Mai Hạ cho rằng muôn vật trên thế gian này đều có linh hồn (vạn
vật hữu linhỉanimisme) Chính vì có quan niệm tín ngưỡng như trên mà họ cầu cúng tất
cả cáe loại thần thánh, ma quỷ, một khi cảm thấy cần thiết Họ cho rằng con người chết
đi cũng biến thành ma, và ma tổ tiên có thể phù hộ được con cháu Vì thế thờ cúng tổ
tiên {thờ huy, chiềng thở; thẩm thẳm, ) có tầm quan trọng số một trong đời sống tâm
linh của người họ Ngoài việc thờ cúng tổ tiên dòng bố (bố mẹ, ông bà nội, các cụ nội,
các kỵ nội / bác mạng, pắ tá- mệ dạ, pổ mệ hạm, pắ mệ hươu), người Mường còn thờ cúng cả tổ tỉên bên vợ ịpố mộng, mộng hạmViệc thờ cúng tổ tiên được thực hiện ngay tại bàn thờ đặt ở voóng tôông trong nhà Đối với người Mường Mai Hạ, ngày giỗ là
ngày chôn cất, chứ không phải ngày người thân qua đời Tuy thế, việc cúng bái tổ tiên của họ chỉ diễn ra vào các ngày tết cổ truyền, các dịp gia đình tiến hành các nghi lễ thuộc chu kỳ vòng đời cho eác thành viên, hoặc khi dựng nhà mới Lễ vật cúng tổ tiên
Trang 19của họ thông thường chỉ là cơm nếp đồ, cá nướng, canh và thịt luộc Ngoài việc thờ
cúng tổ tiên, họ còn có tục: thờ đá, cúng bỉ đỏ (lễ lên nhà mới), thờ cây si (chu dồng),
thờ mỏ mước, thờ vật tồ dòng họ (tô tem), thờ thồ công, ông Tùng, ông Keo Heng, ải
Lý, ải Lo, ông Chàng Vàng, )
về lễ hội cổ truyền của người Mường Mai Hạ, đáng chú ý nhất là các lễ hội liên
quan đến sản xuất nông nghiệp của họ Đó ià: lễ hội xuống đồng (khuống mùa), từ mồng Bảy đến mồng Mười tháng Giêng hàng năm, mà có người còn gọi là lễ Khai Hạ
Lễ hội cầu mưa, đánh thức ma khử dậy để làm mưa, lấy nước cho dân làm mộng, vào
đầu tháng Tư hàng năm; Lễ hội rửa lá ỉúa, vào lúc lúa mùa chuẩn bị làm đòng (tháng
Bảy hoặc tháng Tám), đan sọt tre, cắm lông gà vào rồi mang đặt quanh ruộng, buộc lông gà vào đầu cọc mang cắm vào ruộng, cầu khấn cho lúa trổ đòng nhanh, không bị
sâu bệnh; Hội sắc bùa (séc bùa), gióng chiêng, đánh cồng chúc phúc cho các gia đình vào dịp đầu xuân mới; Củng cơm mới vào tháng Mười, sau khi thu hoạch mùa Theo tập quán Mường Mai Hạ, họ còn cúng nạ mụ (cúng bà mụ) khi trẻ con đầy 7 ngày tuổi,
cầu mát khi có hỏa hoạn, lễ nhỏm ỉửa khi vào nhà mới
- Vãn học nghệ íhuật dân gian Người Mường Mai Hạ có kho tàng văn học,
nghệ thuật dân gian khá phong phú Đáng chú ý nhất phải kể tới các truyền thuyết về Ải
Lậc Cậc, Ông Tùng, Sự tích chim pángpảng 'pỏi pỏi, Sự tích ve sầu, Nàng Nga Hai Mối, Con côi, Đẻ đất Đẻ nước, Đó là những tài liệu có giá trị lớn giúp hiểu được
phần nào về vũ trụ quan, nhân sinh quan, lịch sử phát triển của người Mường Mai Hạ
Đặc biệt hơn, Sách Đoi của họ làm bằng 12 mảnh tre, trên đó khắc vạch, đánh dấu tiết
thời, hoặc những hiện tượng íhời tiết đặc biệt
Trong kho tục ngữ, ca dao quí giá của người Mường Mai Hạ cũng khả phong phú
Họ có Thường dang, Bộ mẹng, Đập hoa, hát ru, đồng dao và hát đúm,.,.là các loại hỉnh
ca hát dân gian nổi tiếng Thường dang là lối hát trong các cuộc liên hoan mừng nhà
Trang 20mới, mừng lúa mới, trong đám cưới, hoặc ở các tiệc rượu Bộ mẹng là lối hát ứng đáp, giao duyên của các nam thanh nữ tú Đập hoa, hát ru, đồng dao cũng là các hình thức
ca hát được họ ưa thích
Múa dân gian của người Mường Mai Hạ khá đặc biệt, trong đó các điệu múa đã
ăn sâu vào phong cách sống của họ phải kể tới: múa cờ, mủữ quạt ma, múa dâng lễ vật
ị m ủa mặt ỉạ (trong các đám tang) Biểu diễn cồng chiêng là
*
hoạt động biểu diễn dân gian đặc biệt nhất của họ cồng chiêng được diễn tấu trong các
đám rước (đón dâu, rước cơm mới, rước thần nước, ), trong các cuộc tế lễ, hội hè,
đình đám Đặc biệt nhất là chiêng sắc bùa, chiêng đám cưới, chiêng tang low, chiêng đì
săn Trò chơi dân gian người Mường Mai Hạ khá nhiều Đó là: đánh cằỉ (đánh gậy), cố
le (đuổi nhau), đánh chỏ (đẩy bưởi vào lỗ), đảnh mảng (chơi nhảy cò), chám chỉ, chám chán (ủ tim), Thanh niên người Mường Mai Hạ chơi đánh đu, bắn nỏ, ném còn vào
đầu xuân mới
Trang 21Chương 2
CÁC ĐÒ ĂN UÓNG TRUYỀN THÓNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở MAI HẠ (MAI CHÂU, HÒA BÌNH)
2.1 Khái quát về ẩm thực của người Mường ở Mai Hạ
Người Mường ở Mai Hạ xưa, nay vẫn tự hào về ẩm thực của họ, điều đó được ghi nhận qua việc truyền tụng trong xã hội những câu thành ngữ khá nổi tiếng:
Củ mài, rau sắng, mãng đắng, mật ong
Hoặc: Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui,
Các loại đồ ăn truyền thống chế biến từ lương thực của người Mường Mai Hạ
gồm: cơm nếp (cơm đếp/ cơm rểp) đồ chín bằng chõ (hỏng); cơm tẻ (cơm tưởi) xưa kia cũng được đồ bằng hông, nay họ dùng xoong để nấu; củ mài (cú đếp/củ dãng) đồ
Ngoài ỉàm cơm, người Mường Mai Hạ còn dùng các loại lương thực chế biến các
loại bánh Đáng chú ý nhất là bánh chưng ipẻng chưng), loại bánh to dùng để cúng tổ tiên, các loại thần linh, vua mỡỉ, vua bếp vào dịp tết, loại nhỏ (bảnh bò, bánh trâu) dùng để cúng vía trâu, vía các loại nông cụ; bánh uôi dùng trong các tang lễ; bánh
bắng dímg trong cưới xin; bánh chì (gần giống bánh dày của người Kinh/Việt); bánh chay dùng trong lễ cầu mát hàng năm trong các gia đình, lễ củng vía cho người ốm;
bánh ống (pẻng tồng khiu) có hình dáng tương tự chiếc bánh tày, bảnh tẻt (hình trụ), dùng trong nghi lễ ăn hỏi (ti nòm), hoặc làm quà khi đi thăm thân
Đồ ăn chế biến từ các loại thịt của người Mường Mai Hạ tương đối phong phú,
Chế từ thịt lợn có: giò lụa (gio lua) làm bằng thịt nạc, giò đầu (gio trlổc) làm bằng thịt thủ, giò chân (gio hỏi) làm bằng thịt nạc ở chân lợn, chả thịt nạc (chá nạc), chả lá bưởi, chả sườn {chả kìíành), chả rang {chá rang), mọc luộc (rác moọc), mọc đồ
(moọc tồ), Chế từ thịt gà có: gà luộc, gà nấu gừng, gà nấu măng chua, gà gói lá
Trang 22chuối nướng, Chế từ thịt ừâu có: trâu xào tiêu rừng, thịt và da chân trâu hầm lá lồm
(lá chua)/món ăn nổi tiếng eủa họ Chế từ các loại thủy sản có: cua xiên que nướng
(cua nảng) chấm với muối xả, ớt; cua luộc {cua luốc), ăn cùng khế chua, rau thơm,
vừng; cua rán (cua rảrì)\ cá rán; cá nướng (cá náng); cá đồ (cá ốch) ăn trong dịp tết?
hoặc biếu bố vợ; ruột cá nấu rau đắng; ếch rán, nấu măng chua, băm viên gói lá lốt và rán, ướp gia vị gói lá nướng qua rồi mang đồ; nòng nọc đồ lẫn với nõn khoai môn; ốc
vặn chặt đuôi, để cả vỏ nấu với ỉá ỉốt (chồ hoi nổ tắc lốt); ốc nấu với lá môn ròng,
măng chua
Đồ ăn chế biến từ các loại rau, măng của người Mường Mai Hạ không kém
phong phú về chủng loại Trước tiên phải kể tới món măng vầu hoặc
*
măng bương luộc; sau đó là các món măng đắng đồ {măng mu, măng ỉènh enh, măng
chảu)> hỗn hợp các loại rau pheo, móng naỉ, tai rề, khiu, bò, dổm, chuỗi, bẹ, tẻng tẻ, tèng gai, lá mít non, lá sung non, lá ắn? lá đu đủ non, quả cà gai, lá sắn non, đồ chín
bằng chõ (tắc đồ); rau éo (rau ấp bợ) luộc với măng vầu; rau sắng nấu canh,
Đe cất trữ thực phẩm, theo tập quán cổ truyền, người Mường Mai Hạ thường
phơi khô, sấy khô (khổ khưa) các loại thịt bò, thịt trâu, thịt lợn, thịt chuột và các loại
măng, mộc nhĩ, nấm Phương pháp cất trữ khá nổi tiếng của
họ là muối chua các loại thịt, cá, tiết trâu, tiết bò, măng, rau cải (muối dưa),
i
làm mắm tôm tép
Đồ uống nổi tiếng của người Mường Mai Hạ có rượu trắng (rảo chai) và rượu cần (rảo khòe) Các loại rượu này họ thường dùng vào các dịp lễ tết, cưới
Trang 2323
xin, ma chay hoặc thết khách Thường ngày, theo tập quán người Mường
uống nưóc nấu bằng lá hoặc rễ pạng Hiện nay hàng ngày họ cũng uống nước
chè tươi, chè khô, và các loại nước giải khát có ga khác
Cổ truyền người Mường Mai Hạ đã có tập quán hút thuốc lào Không chỉ nam giới mà phụ nữ người Mường Mai Hạ GŨng nghiện thuổc lào Điếu cày hút
thuổc lào của họ ỉàm bằng ống bương, ống nứa dài tới 60“70 cm, lõ dài tới ỉ 5-
20 cm Loại điếu này to, dài nên khi hút phải kéo vài hơi mới được Phụ nữ người Mường Mai Hạ thường hút thuốc lào ở cạnh bếp và dùng loại điếu to
{tiểu khuổng) Họ hay hút theo kiểu chuyền tay nhau, dùng than hồng hoặc củi
cháy dở để châm thuốc
Cung cách ứng xử trong ăn, uống và hút của người Mường Mai Hạ có nhiều'nét đặc biệt Nấu nương và ỉo bữa ăn hàng ngày trong các gia đình do phụ nữ đảm trách Chế biến và chuẩn bị cỗ bàn trong các đám lớn do nam giới
đảm nhiệm Hàng ngày họ thường ăn ba bữa, bữa phụ (cơm ngày) ăn vào buổi sáng sớm, bữa chính thứ nhất ăn vào buổi trưa (cơm trưa), bữa chính thứ hai ăn vào buổi tối (cơm hôm), Bình thường họ ăn cơm tại gian giữa nhà, khi ăn họ
dùng tay nắm cơm đồ, theo thói quen họ thường rửa tay trước khi ăn Khi thết
khách, cỗ thường đặt ở vỏng tồng, người cao niên nhất trong nhà và khách sẽ ngồi gần cửa voóng, sau đó là người ít tuổi hơn Theo phong tục người Mường Mai Hạ, khi mổ gà, phao câu nhất thiết phải dành cho cụ già, đùi {tỏi) dành cho
trẻ nhỏ Khi ăn cỗ đám cưới, đám ma, theo tập quán người Mường Mai Hạ, đàn ông và đàn bà không ngồi ăn chung mâm với nhau, mà ngồi thành mâm riêng,
cỗ đám cưới bao giờ cũng có mâm riêng dành tiếp thông gia {tiếp khỏa), Họ có tập quán uống rượu cần {rảo khòe) sau khỉ ăn cỗ họ 'hoặc uống rượu trắng
Đối với người Mường Mai Hạ, ăn uống cũng có một số kiêng kỵ nhất
Trang 24định Ví dụ, sau khi sinh con phụ nữ không ăn các loại cá, ếch, nhái, thịt vịt, thịt trâu, trứng gà, vì sợ bị hậu sản; nhà đang còn gạo thì kiêng ăn củ mài, vì
sợ vía lúa tự ái bỏ đi; trẻ con không án mề, phao câu gà vịt {côi ca, côi wit), sợ
ăn sẽ tối dạ và mồ côi cha mẹ;
2.2 Đồ ăn uống truyền thống của người Mường ở Mai Hạ
2.2.1 Nguyên liệu chế biến đồ ăn
2.2.1.1 Cảc loại lương thực tự sản xuất
'Người Mường Mai Hạ trồng lúa là chính với điều kiện tự nhiên thuận lợi loại đất ruộng màu mõ nên rất thích hợp với việc trồng lúa nếp Các giống lúa nếp rất thơm và dẻo Kỹ thuật làm ruộng nước khá hoàn chỉnh Phần lớn các cánh đồng có thể cấy được hai vụ, nhưng trước kia họ chỉ quen cấy một vụ, hiện nay ruộng đất nơi đây đã được làm cả hai vụ và những năm gần đây được cấy đến ba vụ (vụ Đông Xuân) Hệ thống thủy lợi cũng được quan tâm Hệ thống thủy ỉợi cưng cấp nước cho sản xuất Hàng năm, việc đắp đập khơi dòng mương máng được người ta chú ý và giải quyết từ đầu năm Làm ruộng nước phải tiến hành những khâu kỹ thuật liên hoàn từ lúc làm đất cày bừa bón phân gieo trồng và thu hoạch Đầu tiên là làm đất mạ và ngâm mạ Đất làm mạ bao gồm những thửa ruộng tốt gần xóm được làm cẩn thận đất phải ngấu, nhuyễn đều Mặt ruộng phải phẳng Trước khi gieo mạ một tháng người ta bắt đầu làm đất cày lật đất một lần rồi đắp bờ chắc chắn tháo nước vào ruộng ngâm vài ngày cho đất ngấm nước sau đó bừa 2 đợt Mỗi đợt bừa cách nhau
10 ngày Đợt 1 bừa 2 đến 3 lần, mỗi lần bừa từ 3 đến 4 lượt cày xáo đất Bừa xong gánh phân chuồng đổ thành từng đống mỗi đống cách nhau 2 đến 3m rồi bừa lần cuối để đảo phân Sau lần bừa này ruộng được giữ nước Kinh nghiệm khi thấy nước có màu xanh nâu, thời tiết tốt mới gieo mạ Trước ngày gieo mạ
Trang 25bừa bừa ỉoạt mạ một lần nữa xong tháo nước cạn dùng tay cào bằng mặt ruộng Làm xong ruộng mạ, bắt đầu ngâm mạ kinh nghiệm gieo cấy cổ ừuyền của đồng bào được thể hiện qua hai bước:
Bước thứ nhất ngâm lúa giống thóc giống phơi khô quạt sạch đem đãi để loại bỏ hạt lép, sau đó đem đổ vào một chiếc sọt ngâm nước 3 ngày đêm đối với
mạ chiêm và 2 ngày đêm đối với mạ mùa, Mạ chiêm ngâm hơn một ngày có thể chịu đựng được rét tốt Hết thời hạn ngâm người ta vớt thóc lên rửa sạch mùi ôi tiếp tục cho thóc vào một chiếc sọt khác đậy kín ủ thóc ở trên cạn 3 ngày đêm
để kích thích mạ mọc rễ
Bước thứ hai mạ đã mọc rễ đem ra gieo xuống ruộng mạ nếp gieo đầu tiên sau 7 ngày gieo nếp con, sau 7 ngày nữa gieo mạ tẻ gieo cách nhau như vậy để tránh mạ bị già
Mạ mùa từ lúc gieo đến lúc cấy trong 30 đến 45 ngày Mạ chiêm từ lúc gieo đến lúc cấy trong 40 đến 45 ngày
Giai đoạn trước khi cấy được coi trọng hơn gồm các khâu cày, bừa, bọc
cổ, gặt đến đâu cày bừa đến đó Ở nhiều chân ruộng cao, cày một lượt phơi ải, sau đó tháo nước ngâm vào đất Chân ruộng thấp giữa lòng do lầy thịt gặt xong dùng bừa, bừa để bẻ ra sao cho đứt gốc rạ rồi tháo nước vào ruộng đắp bờ giữ nước khoảng 5 đến 7 ngày sau, sau lần bừa này dùng chân dẫm gốc rạ dìm xuống bùn, người đi dẫm tay dùng cọc tre, đồng thời tiến hành phát bờ, dẫy cỏ, đắp bờ Kỹ thuật đắp bờ đảm bảo chắc chắn, thông thoáng sạch cỏ từ lúc ấy cho đến ngày thu hoạch, bờ ruộng đắp rộng 40 - 60 cm những chỗ rò rỉ nước đều được đắp lại Nam nữ đều có thể nhổ mạ để cấy nhưng công việc nhổ mạ do người phụ nữ đảm nhận đàn ông làm nhiệm vụ vận chuyển, cấy lúa được đồng bào chú trọng và quyết định sự thành bại của mùa lúa vì thế người ta phải hình thành khâu cày bừa để cấy đúng ngày tháng Khi lúa đã mạ
Trang 26xanh đồng bào làm cỏ một lần, kiểm tra nước và tháo nước vào ruộng, iần làm
cỏ này khá kỹ cỏ được vơ nhổ bằng hai tay nhét sâu xuống bùn hoặc vứt lên bờ
để mục Lúa ừổ đòng làm cỏ lần hai lúa chín tháo nước ruộng để khô cho dễ gặt đối vớỉ những chân mộng cao gặt cắt riêng phần nhọn bó thành từng bó nhỏ người ta bẻ gập bó iúa lại ngoắc lên thân cây lúa phơi ngày tại ruộng
Do ngô chịu lạnh kém nên người ta trồng ngô vào mùa xuân Hệ thống rễ của nó nói chung là nông vì thế ngô phụ thuộc nhiều vào độ ẩm của đất Là một loại thực vật C4 (thực vật sử dụng cơ chế quang hợp C4), nên ngô là loại cây lương thực tương đối có hiệu quả hơn trong sử dụng nước so với các thực vật C3 như các loại cây lương thực nhỏ, cỏ linh lăng hay đậu tương Ngô nhạy cảm nhất với khô hạn khi trổ bắp, lúc hoa (râu) ngô đã sẵn sàng cho việc thụ phấn Ngô sử dụng để làm cỏ ủ chua được thu hoạch khi cây còn non và bắp chưa già Ngô ngọt được thu hoạch khi hạt ở "giai đoạn sữa", sau khi thụ phấn nhưng trước khi hình thành tinh bột Ngô lấy hạt được để lại trên đồng cho tới cuối thu nhằm làm khô hạt và đôi khi người ta còn để nó qua mùa đông hay đầu mùa xuân Với điều kiện lượng mưa tập trung chủ yéu từ tháng 7 đến tháng 9 và thường bị hạn vào cuối tháng 11 và đầu tháng 2 Các đợt gió mùa Đông Bắc nhiệt độ không khí thấp 10 - 15°c? cá biệt 5 - 6°c thường kéo dài từ 5 ~ 7 ngày, Các vụ chính ngô thu đông được gieo cụối tháng 8 dầu tháng 9 và vụ ngô đông được gieo chủ yếu từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10
Khoai lang không chịu được sương giá Nó phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình khoảng 24°c Phụ thuộc vào giống cây trồng và các điều kiện khác, các rễ củ sẽ phát triển đầy đủ trong vòng từ 2 đến 9 tháng Với sự chăm sóc cẩn thận, các giống ngắn ngày có thể trồng như cây một năm để cho thu hoạch vào mùa hè Khoai lang ít khi ra hoa nếu khoảng thời gian ban ngày vượt quá
11 giờ Chúng được nhân giống chủ yếu bằng các đoạn thân (dây khoai lang)
T
hay rễ hoặc bằng các rễ bất định mọc ra từ các rễ củ trong khi lưu giữ bảo quản Các hạt hầu như chỉ dành cho mục đích gây giống mà thôi Trong các đỉều kiện
Trang 27tối ưu với 85-90% độ ẩm tương đối ở 13-16 °c, các củ khoai lang có thể giữ được trong vòng 6 tháng Nhiệt độ thấp hoặc cao hơn đều nhanh chóng làm hỏng củ Khoai lang phát triển tốt trong nhiều điều kiện về đất, nước và phân bón Nó cũng có rất ít kẻ thù tự nhiên nên thuốc trừ dịch hại là ít khi phải dùng tới Do nó được nhân giống bằng các đoạn thân nên khoai lang là tương đối dễ trồng Do thân phát triển nhanh che lấp và kìm hãm sự phát triển của cỏ dại nên việc diệt trừ cỏ cũng tiêu tốn ít thời gian hơn
2.2.1,2 Các loại ỉương thực khai thác trong tự nhiên
Hái lượm là hoạt động lđnh tế phụ gắn bó với cuộc sống thường ngày của người Mường Mai Hạ Các cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn chỉ được người Mường khai thác và những năm đói kém, mất mùa Việc thu 'hái rau rừng thường được thực hiện cùng với các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn Họ tranh thủ làm việc này sau khi đã hoàn tất các công việc khác mà theo họ là quan trọng hơn Hoạt động săn bắn chim thú, bổ sung cho bữa ăn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của người đàn ông người Mường Mai Hạ Ngoài ra, săn bắn còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo
vệ nương rẫy khỏi sự phá hoại của chim thú cũng rứiư việc mất mát các con vật nuôi Trong gia đình người Mường, người đàn ông thường có những chiếc nỏ súng cho riêng mình Họ rất tự hào và chăm sóc chu đáo cho dụng cụ mà họ cho rằng thể hiện nam tính cũng như vai trò của mình trong gia đình Con trai người Mường Mai Hạ ngay từ nhỏ đã được ông, cha cho theo trong mỗi lần đi săn, làm bẫy thú nên khi lớn lên rất thạo việc săn bắn Đặc biệt, những sản phẩm người Mường thu từ rừng không chỉ đủ đùng trong gia đình mà còn được dùng để trao đổi với các lái buôn từ miền xuôi như măng, mộc nhĩ, nấm, trầm hương, sa nhân, cánh kiến, các loại gỗ quý như đinh, lim, táu, lát, xửa, kháo trắng, kháo vàng, treo, chò và các loại dược liệu quý như đẳng sâm, khúc khắc, hoài sơn Xưa kia, người Mường Mai Hạ đổi những sản phẩm từ khai thác rừng để lấy những vật dụng dùng trong gia đình như muối, dầu thắp, kim chỉ, kiềng, bát đĩa, xoong nồi, dao, cuốc, gương lược Bên cạnh đó, hàng năm,
Trang 28họ còn bán cho các lái thương một số lượng lởn trâu bò Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản mường xa, từng bước tạo nên mối quan hệ giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người người Mường Mai Hạ, người Kinh
và các dân tộc khác, góp phần vào giao lưu văn hoá - kinh tế giữa các tộc người gầa gũi nhau
2.2.1.3 Các loại thực phẩm
Người Mường ở Mai Hạ thường chăn nuôi trâu bò là chính để cung cấp thịt và sức kéo Trong chăn nuôi trâu bò lấy thịt họ chọn những giống chuyên dụng có tốc độ sinh trưởng và tăng trọng lớn tỷ lệ thịt cao và ngon Điều kiện
và kỹ thuật chăm sóc đóng vai trò quan trọng chia ra làm các giai đoạn giai đoạn bú sữa giai đoạn nuôi lớn và giai đoạn vỗ béo Giai đoạn nuôi lớn từ 7 -
21 tháng tuổi giai đoạn này bê non đang hoàn thỉện các cơ quan nội tạng phát triển cơ thể và tăng trọng họ cho bê ăn các loại thức ăn nhiều protein họ đậu như cỏ Trong giai đoạn này cũng cần hạn chế cho bê non vận động chăn thả gần chuồng tập trung cho việc tích lũy mỡ Thời gian dành cho việc vỗ béo là
3 tháng: tháng thứ nhất họ làm vệ sinh chuồng trại, tẩy giun sán cho trâu bò, và cho ăn đủ rơm, cỏ, đối với,các con gầy yếu họ cho ăn thêm thức ăn nhiều đạm
để phục hồi cơ thể và tạo đà cho những tháng tiếp theo Tháng thứ hai họ chăn thả gần cho ăn cỏ và thức ăn tinh cho uống nước đầy đủ Tháng thứ ba họ cho ừâu bò ăn các loại thức ăn giàu gluxit, chăn thả gần chuồng để hạn chế vận động để tích lũy mỡ Sau thời gian đó, trâu bò có độ béo khá dùng ỉấy thịt
2.2 ỉ.4 Các loại gia vị
* Lá làm gia vị
Người Mường Mai Hạ dùng nhiều loại lá làm gia vị khi chế biến đồ ăn uống Húng quế là cây rau xanh, lá nhỏ, cành tím, hoa trắng Theo đông y, húng quế có vị cay, tính nóng, làm ra mồ hôi, lợi tiểu, giảm đau nhức Trái húng quế cho hột làm “hột é” có vị ngọt và cay, tính mát, tổt cho thị lực, nhuận trường, đẹp da Lá húng quế rất thơm, đem nhai sống làm thơm tho răng miệng
Tía tô vừa là rau gia vị, vừa là cây thuốc phổ biến trong nhân dân Có 2
Trang 29loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm mạnh Loại tía tô mép lá quăn có giá trị sử dụng cao hơn Tránh nhầm với cây cọc giậu (dã tô, cây nhâm) có bề ngoài giống hệt loại tía tô mép
lá phẳng, nhưng không có mùi thơm của tía tô
Kinh giới là một loại cỏ, sống hằng năm, mùi rất thơm, cao 0,60 -
0,80m, thân vuông, phía gốc màu hơi tía, toàn cây có lông mềm ngắn Lá mọc đốỉ, lá dưới gốc không có cuống hay gần như không có cuống, xẻ sâu thành 5 thùy, lá phía trên cũng không cuống, xẻ 3 đến 5 thùy Hoa tự mọc thành bông gồm những hoa mọc vòng ở mỗi đốt Bông hoa dài 3 - 8cm, hoa nhỏ, màu tím nhạt Quả hình trứng hay hình trái xoan, dài chừng lmm, mặt bóng, màu nâu
t
* Các loạỉ hạt làm gia vị
Người Mường Mai Hạ hay dùng dổi làm gia vị Có hai loại hạt dổi: một loại cho vị hắc không thơm và loại không hắc, dậy mùi thơm Hạt dổi tươi có màu đỏ, đem phơi thì săn lại đổi thành màu đen sậm Cứ 3kg hạt đổi tươi phơi được lkg hạt dổi khô Những quả của cây ít tuổi thường hắc và thiếu vị thơm
Những cây dổi trên hàng chục năm mới thật sự quý hiếm Hạt của nó quy đến nỗi người dân phải căng bạt dưới gốc cây để thu hoạch, không bỏ sót quả nào Khi trồng, họ thường ví cây dổi như của gia bảo để đời COĨ1, đời cháu được hưởng Và những người dân vùng cao cũng coi nó là loại cây lành, cãy quý của đất Mường Mai Hạ; Họ thường lấy hạt dổi làm gia vị để chấm ăn 'cùng thịt lợn nướng, thịt luộc hoặc làm gia vị tẩm ướp Khi chế biến, hạt dổi sẽ được nướng trên than lửa cho thơm, sau đó đem giã nhỏ như hạt tiêu vì thế hạt dổi cũng được coi như hạt tiêu rừng Tây Bắc
Hạt dổi có đặc điểm là khi đã rang hoặc nương chín không để được lâu như hạt tiêu nên khi đùng mới đem nướng để giữ được mùi thơm Hạt dổi cho mùi thơm ngậy đặc trưng nên nhiều người vẫn nói “khéo bị nghiện hạt dổi”, không thể thiếu nó trong mỗi bữa cơm Những món: thịt gác bếp, thịt lợn rừng, thịt nướng, tiết canh * nhờ có hương vị hạt dổi nên rất hấp dẫn
Hạt dổi cũng là gia vị không thể thiếu để tẩm ướp thịt lợn rừng và các
Trang 30món nướng như gà nướng, thịt ba chỉ nướng, sườn nướng Thông thường hạt dổi được giã nhỏ trộn với muối chanh, ớt thành một thứ nước chấm cay cay, chua chua, thơm ngậy, dùng để chấm thịt gà, thịt luộc thì không một thứ nước chấm nào có thể sánh được hay đơn giản nhất, chấm xôi trắng với muối rang hạt dổi thôi cũng đã đủ thơm ngon
Flat dổi cũng rất thích hợp với các món ăn được chế biến từ măng chua, nổi tiếng như thịt gà nấu măng chua với hạt dổi Nếu bát tiết canh được rắc thêm một ít hạt dổi thì hương vị càng thêm đậm đà, tiết sẽ, đông giòn hơn
Ớt tươi: dùng làm gia vị, thực phẩm vì chứa nhiều Vitamin A, Vitamin c gấp 5-10 hai loại sinh tố này có trong cà chua và cà rốt Chất cay trong quả ớt gọi là Capsaicin có công dụng trị bệnh được dùng nhiều trong y học, Ngâm rượu xức ngoài da trị nhức mỏi, sưng trặc gân Ớt bột trị được chứng say sóng
Ớt bột trộn với quế và đường trị bệnh mê sảng Các bệnh đau bụng, đau răng, nhức đầu, sưng cổ họng, tê thấp, thần kinh cũng được điều trị bàng ớt Lá ớt giã nhỏ đắp vào vết thương bị rắn cắn hay các vết lở ngứa ngoài da Rễ ớt, nhất là
ớt hiểm, sắc uống để trị bệnh sốt rét
* Các loại củ dùng làm gia vị
Người Mường Mai Hạ hay dùng tỏi không chỉ đơn thuần là một loại thực phẩm gia vị mà nó còn có nhiều đặc tính chữa bệnh Củ tỏi tươi có thể giúp người Mường kháng khuẩn, vì nó giúp phòng ngừa và chữa trị được bệnh cảm cúm và cảm lạnh thông thường, ioại trừ nhiều vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng gây kháng thuốc trong cơ thể
Gừng là một loại cây nhỏ, cao từ 5cm - lm, thân rễ phát trỉển thành củ
t
Lá mọc so le, không cuống, có bẹ hình mác dài khoảng 15cm-20cm, rộng 2cm,
vò lá có mùi thơm đặc trưng của gừng Gừng là một gia vị rất quen thuộc và hầu như lúc nào cũng có sẵn ở ngăn bếp của các gia đình người Mường Gừng không những thêm hương vị cho món ăn mà còn giúp cơ thể tiêu hóa và hấp thụ thức ăn dễ dàng Ngoài ra, gừng còn là một vị thuốc quý trong kho tàng y học dân gian mà mỗi người có thể vận dụng để tự chữa bệnh cho mình
Trang 31* Các ỉoại mắm gia vị
Cũng như người Kinh, người Thái lân cận, người Mường Mai Hạ hay dùng mắm tôm làm gia vị Đó là loại mắm được làm bằng tôm hoặc moi giã nhỏ, trộn muối, ủ cho lên men, có mùi vị và màu sắc đặc trung Khi làm mắm, người Mường Mai Hạ thường thái cây bọ mắm rồi trộn với tôm cùng muối để chống giòi bọ Quá trình lên men mắm tôm bắt buộc phải sử dụng chính 1 loại enzyme có trong ruột của loài giáp xác này để lên men, các vi khuẩn phân huỷ khác phải bị kiềm chế bằng nồng độ muối khá cao trong mắm tôm Nhờ đó hương vị chính của mắm tôm là hương vị của enzyme này tạo ra Khi nào mùi
vị của mắm tôm giống như mùi vị của ruột con tôm trong đầu con tôm tươi sống là có thể dùng được
Muối ăn là một khoáng chất, được con người sử dụng như một thứ gia vị tra vào thức ăn Có rất nhiều dạng muối ăn: muối thô, muối tinh, muối iốt Đó là một chất rắn có dạng tinh thể, có màu từ trắng tới có vét của màu hồng hay xám rất nhạt, thu được từ nước biển hay các mỏ muối Muối thu được từ nước biển có các tinh thể nhỏ hoặc ỉứn han muối mỏ
2.2,2 Các loại đồ ăn truyền thống
22.2.1 Các loại đồ ăn uổng hút thường ngày
a Các món ăn chế biến từ lương thực
- Cơm nếp đồ: Ngưởi Mường Mai Hạ gọi là côm đép hoặc cơm rếp
Trong sổ các giống lúa ruộng và lúa nương, người Mường Mai Hạ ưa dùng các
giống lúa nếp hơn, nhất là giống lúa nếp cái (Tlởng khe) Gạo Tỉởng khe tròn và hơi nhỏ, thom, dẻo Dân gian Mirờng Mai hạ có câu thành ngữ: Cơm đếp tẳp
nẫm nà, Tùi ca pỏng cọc, nghĩa là cơm nếp như bờ ruộng, đùi gà như cái cọc
đóng vào bờ ruộng cho chắc Đó cũng chính là ước mơ bình dị của ngươi Mường Mai Hạ? và khẩu vị ăn uống của họ Người ta sung sướng khi con họ một tay cầm nẳm cơm nếp, tay kia cầm cái đùi gà Cơm nếp đồ có thể thiếu trong bữa án hàng ngày mà không thể thiếu trong lễ dãng cúng tổ tiên, thần
thánh, Hình như tất cả những nghi lễ có mo khấn, có rượu thịt thì phải có
Trang 32cơm nếp Tục cúng bằng cơm nếp cũng nói lên tổ tiên xa xưa của người
Mường Mai Hạ Vậy cơm nếp đồ là món không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực truyền thống người Mường Mai Hạ
- Cơm tẻ đồ (cơm tưởi): Trong dân gian người Mường Mai Hạ người
Mường Mai Hạ chỉ thấy nhắc đến “tồ cơm tưởi cảó*\ nghĩa là đồ cơm tưới gạo
Cơm tưới không ngon như cơm nấu nhưng nở hơn nhiều, rất phủ họp với gia đình đông người Vả lại cơm tưới chỉ cần phải đồ một lần mà đủ ăn cả ngày, trẻ con muốn ăn lúc nào chỉ cần chạy vào cậy lấy một mảng vừa chơi
vừa ăn như cơm nếp Chưa bao giờ thấy một lễ mo khấn nào có cơm tẻ, hoặc
ì
dùng cơm tẻ thay cơm nếp Duy nhất, khi nhà nghèo chưa làm ma cho người thân, hàng ngày, vào bữa ăn, con cháu phải lấy cơm tẻ cúng cho ông bà, bố mẹ
- Củ màỉ đồ: Ở Mai Hạ có hai loại củ mài mọc trên rừng, một loại củ to
bằng bắp chân, đâm thẳng xuống và ăn sâu vào lòng đất, người Mường Mai Hạ gọi là u cứ đếp” (củ nếp) Giống kia hay mọc ở vùng núi rừng bằng phẳng hoặc
đồi thoai thoải, củ ăn ngang và nông cách mặt đất chừng 20 - 30cm, người
Mường Mai Hạ gọi là “dãng”
Củ mài đồ trên hông (chõ gỗ) nhanh chín, rất bở, ăn ngon, thơm, nhất là giống củ nếp Củ mài nhiều dinh dưỡng, có thể đồ ăn thay cơm hoặc nấu cháo cho người ốm ăn rất có lợi cho sức khỏe vì củ mài có tính mát Những năm mất mùa, vào khoảng tháng ba, tháng tư âm lịch, người dân người Mường Mai Hạ phải vào rừng tìm củ mài, đồ ăn thay cơm Nhưng đến khi lúa chín thì lập tức thôi ngay vì công việc tìm đào củ mài cũng rất vất vả
- Khoai môn nấu đẳng: Đó là thứ môn dại, cọng nhỏ mọc trong khe rừng
sâu Người Mường Mai Hạ dùng tay hái dọc môn về, để vài ngày cho nhựa tiêu bớt, đem rửa sạch bỏ vào nồi úp vung đun kĩ cho rau khoai chín nhừ Khi nấu không được dùng đũa đảo, hoặc ngoáy, Người Mường Mai
Hạ cho rằng, nếu dùng đũa ngoáy món ăn này sẽ gây ngứa Khi khoai sắp chín
họ cho một thứ lá rừng rất đấng (lá kịa) nấu cùng Món này trẻ COĨ1 thường không thích vì quá đắng, song dần dần quen và thích ăn Khi ăn móĩì này người
Trang 33ta ăn kèm rau mùi tầu và ớt ngâm măng chua Vị đắng của canh rau khoai, vị chua và cay của ớt măng, mùi thơm lá mùi tầu quện vào nhau làm người ăn có cảm giác vị nào cũng hơi quá, khiến cho người ăn càng ăn vang hăng hái thêm Món này chỉ ăn vào mùa rét, mùa khô sẽ có vị đậm đà
“ Bánh đầy: Với người Mường Mai Hạ, bánh dày được để thờ hương hồn
người quá cố trong tang lễ, không thờ cúng trong ngày tết Trong tang lễ, người
ta dâng bánh dày được bày vào mâm thau hoặc xâu chuỗi rồi quấn ra ngoài của
cỗ nhắm nhiều tầng Bánh dày của họ làm bằng xôi nếp Cách thức chế biến cũng gần tương tự như củạ người Kinh (Việt)
- Bánh chưng của người Mường Mai Hạ được gói, luộc giống như bánh
trưng của người Kinh/Việt Tuy thế, nhân bánh trưng của họ thường làm ít đậu thịt hơn và có khi không nhất thiết phải ỉà nhân đậu xanh mà là đậu khác cũng được Dịp tết cổ truyền người Mường Mai Hạ thường gói nhiều cỡ bánh, có gia đình gói tới hàng trăm chiếc các cỡ, cỡ to nhất cũng chỉ vài ba lạng gạo, cỡ nhỏ nhất chỉ hơn một chén gạo ngâm Bánh cỡ to dùng để thờ tổ tiên, các vị thần,
thờ vua mỡỉ, vua bếp Các loại bánh , nhỏ (bảnh trâu, bánh bò) họ dùng cúng
vía trâu, vía nông cụ Khi cúng bánh chung phải có mật ngọt, khi ăn bánh
trưng họ thường chấm mật
“ Bánh trôi: Người Mường Mai Hạ gọi là pẻnh tlôỉ Nguyên liệu và cách
làm giống như bánh trôi người Kinh/Việt Đó là việc giã bột, dần cho mịn rồi trộn nước cho dẻo nám thành hòn nhỏ, luộc chín vớt vào bát nước đường mật Nếu bánh trôi nhuộm đỏ thì khi bánh chín vớt ra họ nhúng vào chậu nước lá
“tlồng” lá này nấu lên sẽ chiết xuất ra nước màu đỏ ăn không độc rồi mới cho bánh vào bát nước ngọt Loại bánh trôi trắng chỉ để thờ tổ tiên vào đêm 30 tết (lúc giao thừa) Sáng mồng một con cháu có thể lấy ăn vì cho rằng các cụ tổ tiên đã hường lễ xong
Bánh uồi: Nguyên liệu làm bánh uôi của người Mường Mai Hạ là bột
gạo nếp, giống như bột làm bánh nếp người Kinh/Việt Với người Mường Mai
Hạ bánh uôi chỉ đùng để thờ trong lễ tang Khi cúng, họ bỏ uôi vào bát đặt bốn
Trang 34góc của cỗ bánh nhắm năm tầng cùng với một số món nhắm khác nữa Ngày thường người Mường Mai Hạ không làm loại bánh này
- Bánh chay (pẻnh chay): Cũng là loại bánh nếp nhưng người Mường
Mai Hạ làm dẹt mỏng, có hình chiếc quạt nan không cán Sau khi đồ chín, họ xếp bánh vào cỗ ăn chay trong lễ cầu mát cho gia đình hàng năm Bánh chay còn được dùng vào lễ chữa ma cho người ốm Nó cũng được bày ữong mâm ăn chay như trong lễ mát nhà Cúng xong họ biếu ông mo một phần, phần còn lại thì mang ra ăn trong bữa cơm ngày lễ ấy
dùng vào lễ “77 nòm" (ăn hỏi) Nhà trai thường mang sang nhà gái khoảng một
trăm chiếc bánh ống Nhà gái đem bánh đó cùng với chè, trầu cau, biếu họ hàng
để báo tin con gái đã có chồng, sắp làm các ỉễ tiếp theo để họ hàng cùng mừng
và chuẩn bị đồ mừng lễ cưới Người Mường cũng dùng loại bánh này cho dâu,
rể làm quà khi về giúp nhà vợ (chồng) trong thời gian chưa cưới Loại bánh này còn được làm quà đi thăm người ốm đau không dùng loại bánh này trong tang
lễ và các mo khấn khác
- Bảnh ồc (pẻnh wach): Loại bánh này của người Mường Mai Hạ giống
hình con ốc vặn, một đầu to, một đầu nhọn, lạt xoắn bên ngoài như hình xoắn của con ốc Loại bánh này họ thường dùng để đi thăm người ốm hoặc cho' trẻ
em ăn bữa phụ không dùng đe thờ cúng
b Các món ăn chế biến từ các loại thịt
thái mỏng, khi ăn chấm với muối, nước mắm Thịt ba chỉ thái mỏng hình chữ nhật bằng hai ngón tay cặp đôi Nó vừa miếng để ăn lại đáp ứng đủ nhu cầu để bày biện cỗ lễ Vì khi đã thịt một con lợn ra để làm một lễ gì đó thì tiếng rằng thịt con lợn là lễ to, do đó các luật tục cũng lắm Người ta phải soạn đầy đủ số thịt theo luật tục quy định là ông mo hưởng cái gì, phải gói thịt biếu những ai còn lại bao nhiêu mới dọn ra ăn tại nơi làm lễ Nhiều nghi lễ của người Mường Mai Hạ cúng bàng thịt lợn Trong đó thịt lơn luộc là món chính
Trang 35- Thịt gà luộc: Người Mường Mai Hạ gọi là thịt gà luộc là nổ thaĩ\ Với
họ, thịt gà luộc là một món ăn thông thường, và cũng thường là món dùng để
cúng bái: lễ “hốc wãi ” gọi vía, “là mũ ” gọi vía mụ, cỗ nhắm dâng cho ma người chết (Ca nhất ca nhì, Ca ti wêỉ tổng/ (Gà nhất gà nhì, Gà đi về mộ)
Cách giết mổ gà cũng cắt tiết nhúng nước sôi9 tiếng Mường gọi nước nhúng gà
để vặt lông là “đác luôc” (nước luộc), vặt lông, mổ như người Việt Có một cách giết đặc biệt là quật đầu con gà trống chúa chuồng vào cột nhà ở trước cầu thang cho chết mà vặt lông Đó là trương hợp con gà dâng cúng trong lễ “bớ nài” Tức là con vật đầu tiên bị giết trong đám tang, lễ bớ nài nghĩa là lễ mà ông mo vào cắt những sợi rơm buộc chân tay ngượi chết khi người chết còn đặt trong vải quây Thịt gà luộc dùng vào lễ làm vía cho người sống thì chặt ra như cho người ăn Còn thịt gà để dâng trong đám tang, trong lễ cúng người ốm, không chặt Khi ăn thịt gà chặt thành miếng, để trên là chuối tươi trải,trên mâm
- Thịt chó luộc: Ngày nay người Mường Mai Hạ cũng ăn thịt chó, với
cách chế biến giống như người Kinh/Việt Họ giết chó bằng cách đập đầu cho chết, rồi làm lông bằng cách nhúng nước sôi, thui rồi mổ bụng lấy lòng ra Cảcon chó đem luộc chín Thịt chó luộc được đống vào lá chuối chứ không bày, người ta thái nhỏ ỉoại rau răm cay để trộn vào thịt Người ta giải thích rau răm trộn vào để chống bớt mùi hôi của thịt chó và chổng sốc cho cơ thể vì thịt có nhiều chất đạm Xưa kia hầu như chỉ có đàn ông ăn thịt chó, còn đàn bà thì không ăn Ngày nay họ ăn như đàn ông Người Mường quan niệm chó là con vật khồn ngoan và gần gũi với người nhất, có tình cảm với người nhất, vả lại chó cũng được ăn cơm như người, được họ coi như một thành viên trong nhà Cho nên người trong nhà không ai được giết chó, khi có một lễ phải có thịt chó thì họ phải mượn một người (dù người đó ở bản khác) giết Người hay đi giết chó như vậy thường là những người cô đơn không con cái và đã có tuổi Khi
làm thủ tục giết chó, nhà chủ phải đưa cho ông ta một cái khăn tang Ông
*
Trang 36thắt khăn tang vào bụng, rồi dắt con chó vào nơi vại nước hoặc buồng vệ sinh cho chó ăn no cơm rồi đập đầu Ông ta vừa kéo con chó ra vừa vờ khóc hu hu như khóc người chết Cả nhà không ai dám nhìn và cũng ứa nước mắt tiếc thương thực sự Có lẽ vì thương như vậy nên đàn bà mềm lòng không ăn nổi thịt con vật yêu quý này
tôm là món được ưa thích Người Mường Mai Hạ gọi món này là chả rang
Trong cỗ cưới và những dịp mổ lợn họ đều làm món này Thường thì
khi cúng tế, họ cũng ỉàm món này để cúng Đối với người Mường Mai Hạ,
ỉ
quà biếu trong các đám cỗ nhất thiết phải có một hai miếng sườn lợn rang Khi
ăn cỗ, chả sườn lợn được mời từng người, rất cẩn thận c Những món ăn chê
biến từ cá, nòng nọc
cá chép, cá trê, hoặc cá quả, cắt thành khúc, trộn với măng bương hoặc măng giang ngâm chua, xả thái mỏng, gừng đập nhỏ, muối, bói là chuối (túm lại, buộc bằng lạt giang) Cho vào hông đồ khoảng hai giờ đồng hồ Khi được,
cá ngấm vị chua của măng cứng xoăn, vẩy rộp lên như rán Khi ăn bở, mềm bởi chín bằng hơi Món cá đồ có thể ăn với cơm nếp hoặc cơm tẻ đều thích hợp Ăn nóng và ăn nguội đều ngon Đây là một trong những món ăn quý của người Mường Mai Hạ, họ thường dùng làm lễ vật cúng bái, biếu bố mẹ vợ Cá đồ là
món con rể dùng để biếu ông bà nhạc (Con tửữ màm cả, con cải lả tác/ con trai
giỏ cá, con gái lá rau)
đồng ruộng mùa vào thời kỳ mới sấm dậy, mưa rào vào dịp tháng Hai, tháng
Ba Người Mường Mai Hạ dùng vợt (cảy kha) vớt nòng nọc, bóp hết bùn trong
Trang 37- Món ruột cá nấu đắng: Khi mổ những con cá to, người Mường Mai Hạ
dùng ruột của nó, loại sạch phân cá, trộn với xả, gừng, tấm gạo, nấu chín Món này có vị đắngs ngậy, dùng để chấm kèm theo một số món khác
“ Các món ăn chế biến từ rau, măng
Rau trộn đỏ (tắc bầỉ bải tồ): Người Mường Mai Hạ dùng các loại rau ở
ruộng, ở rừng, mang đồ chín Món này khi ăn chỉ cần chấm muối trắng là ngon
vĩ muối trắng Đây là món ăn có từ lâu đời, nay họ vẫn ưa thích Cũng 'thuộc loại này, hoa đu đủ đồ kỹ với lá non của nó, rồi chấm muối, gừng, tỏi, là món
khoái khẩu của người Mường Mai Hạ Họ có thành ngữ: Ỷ pầ cảl tao chăng
khắc, Ông tửa cách tắc chăng đỉênh ăn / Đàn bà mài dao' không sắc, Đàn ông hái rau không ngon Đây là một trong những món mà nguyên liệu dùng để chế
biến do phụ nữ tìm kiếm
Trang 38Măng đắng đồ: Người Mường Mai Hạ thường dùng các loại: đắng (măng mu\ măng lành ngạnh (lènh enh) và măng chảu (bằng ngón tay cái) đồ
làm món ăn Với măng, họ thường nướng, hoặc đồ trong chõ bương (caôp) Ăn
măng đắng chấm muối tỏi sẽ chống được sự đầy hơi khó tiêu do măng gây nên Khi ăn măng, họ thường kèm với lá dấp cá, lá bưởi nướng, Măng đắng là món quý, các nàng dâu mới thường dùng để biếu bố mẹ chồng
c Đồ uống cỏ men , -
Rượu cần (Rão tỏng)
Người Mường Mai Hạ có tục uống rượu cần từ xưa Họ làm rượu cần bằng gạo nếp, nhất là nếp cẩm Gạo làm rượu không cần giã, chỉ xay loại vỏ trấu Họ mang gạo ngâm một đêm, trộn với trấu, đồ chín, cho ra mẹt, để nguội bớt, trộn với men giã nhỏ, mang ủ khoảng hai ngày, cho vào hũ bịt kín miệng, chát kín bằng hỗn hợp tro ướt, ủ khoảng một vài tháng Cũng có khi họ ủ rượu cần đến 3 năm trời mới đem ra uống Đối với họ, rượu cần ba năm trở lên là rượu cần ngon nhất
Theo tục lệ người Mường Mai Hạ, rượu cần thường dùng nhiều trong đám cưới Nhà trai, nhà gái thết nhau), đám ma (cúng cho người quá cố), khi tiếp khách, khi hội hè, và những dịp tụ tập đông người thân thích
“ Nước uống và thuốc lào
Xưa kia, thường này người Mườỉig Mai Hạ uống nước lã Nay, thường nagyf họ uống nước chè, nhất là người lớn tuổi.Nước chè khong chỉ để uổng,
mà còn là đồ tiếp khách hàng ngày của họ Trẻ em và thanh nữ Mường Mai Hạ thích uống nước đựng trong ống bương tươi Sản phụ, người còn cho con bú uống nước vối, nước nấu cây thuốc bổ máu, chống đau bụng,
Xưa kia, đàn ông Mường Mai Hạ đều hút thuốc lào Ngya tườ khi còn trẻ con họ đã tập hút Điếu hút thuốc lào của họ là loại điều cày, làm bằng ống nứa,
Trang 39dài khoảng 50cm, đương kính khoảng 5 cm, nõ dài 15 -20cm Người Mường Mai Hạ ỉt khi dùng điếu bát Xưa kia chỉ nhà lang mới dùng loại điểu này ĩ?óm
dùng chăm lửa khi hút thuốc lào, họ gọi là tiêm tỉèm Điếu hút thuốc lào của
phụ nữ Mường Mai Hạ thường tương đối lớn, ống điếu có đường kính tiết điện ngang khoảng trên 10cm, dài khoảng 60cm Loại điếu này người Mường Mai
Hạ gọi là tiểu khuồng (điếu suồng) Khi hút, phụ nữ ngồi cạnh bếp, dùng than
hồng làm lửa, nhiều người cùng hút theo kiểu truyền tay
2,22.2 Đồ ăn uống cỗ đám ma, đảm cưới
Trong đám cưới của người Mường Mai Hạ, nhà trai thường mổ thịt một con lợn khoảng 50 kg trở lên, gạo nếp đủ cho khoảng 200 ~~ 300 người ăn Rượu cần và rượu chai chủ yếu trông vào nơi họ hàng mang đến mừng Luật tục xưa mang sang nhà cô dâu một vai lợn chưa luộc, và 6 lá thịt luộc tầu thằm tức ià loại thịt được bày theo kiểu dẻ quạt hình tròn, 6 chai rượu và những miếng thịt được bày theo kiểu vòng tròn nhưng bì thịt quay ra ngoài, miếng nọ