1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đám cưới truyền thống của người thái đen ở xã chiềng xôm thành phố sơn la tỉnh sơn la

86 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 700,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HÓA CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐÁM CƯỚI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ CHIỀNG XÔM, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN L

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HÓA

CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

ĐÁM CƯỚI TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN

Ở XÃ CHIỀNG XÔM, THÀNH PHỐ SƠN LA,

TỈNH SƠN LA

Trang 2

Khúa luận tốt nghiệp

Lời cảm ơn

Khóa luận với đề tμi đám cưới người Thái Đen xã Chiềng Xôm, thμnh phố Sơn La, tỉnh Sơn La Được hoμn thμnh nhờ sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Việt Hương, cùng với sự giúp đỡ vμ động viên của thầy cô giáo trường Đại học Văn hóa Hμ Nội, khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số, sự giúp đỡ của các bác, các cô, sở Văn hóa Thể thao vμ Du lịch thμnh phố Sơn La, tỉnh Sơn La, trung tâm Văn hóa tỉnh, UBND xã vμ các nghệ nhân xã Chiềng Xôm Nhân dịp nμy tôi xin gửi lời cảm ơn vμ lòng biết ơn chân thμnh vμ tận tình đó

Với dung lượng kiến thức, lý luận, thực tiễn vμ thời gian có hạn Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót, tôi rất mong nhận

được những ý kiến đóng góp để khóa luận có thể hoμn thiện hơn

Sinh viên Ngần Văn Cường

Trang 3

Khúa luận tốt nghiệp

Mục lục

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục của đề tài 8

CHương 1: Khái quát về người thái ở x∙ chiềng xôm, Thμnh phố sơn la, tỉnh sơn la 9

1.1 Tổng quan về Xã Chiềng Xôm 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Dân cư và đời sống xã hội 11

1.2 Người Thái ở xã Chiềng Xôm 16

1.2.1 Lịch sử tộc người và quá trình cư trú 17

1.2.2 Văn hóa truyền thống 19

Chương 2: Những vấn đề cơ bản trong đám cưới truyền thống của Người Thái Đen ở x∙ Chiềng Xôm, thμnh phố Sơn La, tỉnh Sơn La 26

2.1 Quan niệm về việc cưới xin và hôn nhân truyền thống của người Thái Đen 26

2.2 Những quy tắc cơ bản trong cưới xin của người Thái Đen 27

2.3 Tiêu chí chọn vợ chọn chồng của người của người Thái Đen 29

2.3.1 Quá trình tìm hiểu dẫn đến hôn nhân 30

2.3.2 Tục lệ trước khi cưới 31

2.4 Diễn trình đám cưới truyền thống của người Thái Đen 37

2.4.1 Chuẩn bị đám cưới 37

Trang 4

Khúa luận tốt nghiệp

2.4.2 Đám cưới bên nhà gái gọi là “Cưới lên” (téng đong khửn) 40

2.4.3 Đám cưới bên nhà trai gọi là “cưới xuống” (Téng đong lông) 51

2.4.4 Tục lệ sau khi cưới – lễ lại mặt 53

2.5 Vai trò của các thành viên trong đám cưới truyền thống của người Thái Đen 54

2.5.1 Vai trò của gia đình 54

2.5.2 Vai trò của họ mạc và cộng đồng 55

2.5.3 Các trường hợp hôn nhân ngoại lệ 56

2.6 Những tương đồng và khác biệt trong đám cưới của người Thái Đen ở Chiềng Xôm Sơn La, với các nhóm Thái khác 56

2.6.1 Với người Thái trắng ở Mộc Châu, Sơn La 56

2.6.2 Với người Thái Đen ở xã Mường Chanh, Sơn La 57

CHƯƠNG 3: ĐáM CƯớI CủA NGƯờI THáI ĐEN VớI PHONG TRμO XÂY DựNG NếP SốNG VĂN HóA HIệN NAY ở X∙ CHIềNG XÔM, THμNH PHố SƠN LA, TỉNH SƠN LA 59

3.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc cưới xin 59

3.2 Những giá trị văn hóa của đám cưới người Thái Đen 60

3.2.1 Đám cưới thể hiện sự trân trọng tổ tiên 60

3.2.2 Đám cưới góp phần giáo dục chữ hiếu 62

3.2.3 Đám cưới góp phần lưu truyền các loại hình nghệ thuật dân gian 62

3.2.4 Đám cưới tôn vinh trang phục và nghề dệt may truyền thống 63

3.2.5 Đám cưới thể hiện tinh hoa ẩm thực của người Thái 64

3.2.6 Đám cưới người Thái thể hiện tính gắn bó cộng đồng 65

3.2.7 Đám cưới người Thái thể hiện truyền thống văn học nghệ thuật 66

3.2.8 Đám cưới người Thái thể hiện sự tiến bộ trong hôn nhân và gia đình 67 3.3 Những biến đổi trong hôn nhân và đám cưới hiện nay của người Thái

Trang 5

Khúa luận tốt nghiệp

3.3.1 Những biến đổi tích cực 68

3.3.2 Những hạn chế trong đám cưới của người Thái 72

3.4 Sự tác động của cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa đến biến đổi tích cực trong đám cưới của người Thái đen ở xã Chiềng Xôm 74

3.5 Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các yếu tố tích cực trong đám cưới truyền thống của người Thái Đen 77

KếT LUận 82

Tμi Liệu Tham Khảo 84

PHụ LụC ảNH 86

Trang 6

Khúa luận tốt nghiệp

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tμi

Cưới xin là một tập tục tốt đẹp trong đời sống của mọi dân tộc Cưới xin không chỉ thể hiện đời sống tâm linh, đánh dấu sự kiện quan trọng của một đời người, mà còn là ngày hội của họ hàng, của cộng đồng

Lễ cưới hội tụ và thể hiện đầy đủ những nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của một cộng đồng người Nói một cách khác, lễ cưới là nơi cố kết cộng đồng, tạo nên những hoạt động mang tính tập thể truyền thống Qua đó, ta có thể thấy được tất cả những giá trị văn hóa cổ truyền như những qui ước về đối nhân xử thế, giao tiếp giữa cá nhân và cộng đồng, với tổ tiên và thần linh, thấy

được những nét đẹp về đạo lý hay cả những nét độc đáo mang bản sắc riêng của từng vùng, từng dân tộc

Người Thái ở Việt Nam phân bố trên một địa bàn tương đối rộng, cả

phần Tây Bắc Bộ, miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An Mặc dù ở các địa phương có những nét khác nhau nhưng người Thái là một dân tộc khá thống nhất và là một trong những dân tộc thiểu số có nền văn hóa khá phát triển Trong hoạt động kinh tế, người Thái là một dân tộc sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước ở một trình độ cao Họ có một hệ thống thiết chế xã hội với quan hệ gia đình, bản Mường chặt chẽ Đời sống văn hóa tinh thần của họ cũng phong phú và đa dạng, cũng chính vì thế mà tục cưới hỏi của dân tộc Thái có rất nhiều nét đặc sắc

Tục cưới hỏi của dân tộc Thái đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên việc nghiên cứu những đặc trưng ở mỗi vùng miền là chưa rõ nét Là một sinh viên của khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, hơn nữa lại là một người con của dân tộc Thái tại Sơn La, người viết rất mong muốn tìm hiểu về

Trang 7

Khúa luận tốt nghiệp

cưới hỏi Vì vậy, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Đỏm cưới truyền thống của người Thái Đen ở x∙ Chiềng Xôm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” làm

đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của người Thái ở Sơn La nói riêng và dân tộc Thái nói chung

2 Mục đích vμ nhiệm vụ nghiên cứu

Thụng qua việc khảo sỏt đỏnh giỏ những vấn đề cơ bản trong đỏm cưới truyền thống của người Thỏi Đen ở Sơn La, đề tài nhằm khẳng định những giỏ trị tốt đẹp của tập quỏn cưới xin của họ từ đú đề xuất một số giải phỏp, để giữ gỡn và phỏt huy những giỏ trị tốt đẹp đú trong đời sống hụm nay

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu chỉ tìm hiểu về tục cưới hỏi của người Thái Đen tại xã Chiềng Xôm, thành phố Sơn La Đõy là một xó tập trung đụng nhất của người Thỏi Đen sinh sống, trong phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu về tập tục, các yếu tố văn hóa trong cưới xin của người Thái Đen và ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng đời sống văn hóa trong thời đại mới

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ nghiờn cứu, đề tài sử dụng một số phương phỏp sau đõy:

- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để đánh giá

sự vật, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử học, Dân tộc học, Mỹ thuật học…

- Phương pháp điền dã dân tộc học

- Tổng hợp, thống kê, phân tích thông tin, tài liệu…

Trang 8

Khúa luận tốt nghiệp

5 Bố cục của đề tμi

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, khóa luận gồm 3 chương sau:

Chương 1: Khỏi quỏt về người Thỏi Đen ở xó Chiềng Xụm

Chương 2: Những vấn đề cơ bản trong đỏm cưới truyền thống của người Thỏi Đen ở xó Chiềng Xụm

Chương 3: Đỏm cưới của người Thỏi Đen với phong trào xõy dựng nếp sống văn húa của người Thỏi Đen ở xó Chiềng Xụm

Trang 9

Khúa luận tốt nghiệp

CHương 1 Khái quát về người thái ở xã chiềng xôm,

Thμnh phố sơn la, tỉnh sơn la

1.1 Tổng quan về Xã Chiềng Xôm

Chiềng Xôm là vùng đất văn hóa đa dạng và phong phú, đậm đà bản

sắc dân tộc Đến với Chiềng Xôm dù chỉ một lần được hòa mình vào các hoạt

động văn hóa văn nghệ với bà con dân bản, mọi người đều bị chinh phục bởi

vẻ đẹp hồn hậu, mộc mạc, dân dã lại vô cùng độc đáo và đầy sức hấp dẫn xen

lẫn là phong cảnh sơn thủy hữu tình như muốn níu chân những du khách đã từng đến đây, chính điều đó đã tạo nên được những nét riêng biệt, thú vị với những vùng Người Thái khác trên cùng một địa bàn

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Chiềng Xôm là một xã miền núi trực thuộc thành phố Sơn

La - tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố Sơn La 3km, nằm ở phía Bắc thành phố Sơn La chạy dọc theo dòng suối Nậm La, với tổng diện tích tự nhiên là: 6.240ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 450ha; còn lại là đất lâm nghiệp

và đất khác

- Phía Bắc giáp với xã Bó Mười

- Phía Nam giáp với Chiềng An

- Phía Đông giáp với xã Chiềng Ngần

- Phía Tây giáp với xã Chiềng Đen

Địa hình: Chiềng Xôm là xã nằm ở vị trí khu vực thuộc hạ lưu suối Nậm La, nhiều núi đá, ít đất bãi bằng cho nên hạn hán lũ lụt thường xuyên

Trang 10

Khúa luận tốt nghiệp

xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, một số đường giao thông liên bản chưa được nâng cấp, cơ sơ hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn hiện nay

Khí hậu

Xã Chiềng Xôm mang đặc trưng của khí hậu vùng cao Tây Bắc, chia thành hai mùa rõ rệt, từ tháng 5 - 10, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, nhưng mưa nhiều tập trung vào tháng 6 - 7 - 8, mùa khô từ tháng 11 - 3 năm sau, khí hậu hanh khô, rét và mưa ít

Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình 19,80C; nhiệt độ cao nhất là 5,60C

Độ ẩm: Chiềng Xôm là khu vực có độ ẩm không khí tương đối cao, độ

ẩm trung bình từ 80 - 82%; mùa mưa độ ẩm không khí có thể lên tới 90%

Sương mù: số ngày có sương mù nhiều, bình quân 98 ngày trên một năm, cá biệt vào mùa khô có sương muối vào tháng 12 - 1 năm sau, thành từng đợt từ 2 - 3 ngày

Chế độ gió: Hình thành hai hướng gió theo mùa, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 - 3 năm sau, gió Lào xuất hiện từ tháng 4 - 6, ban ngày thường khô và nóng, thường kèm theo mưa rào

Chính vì vậy Chiềng Xôm có khí hậu tương đối khắc nghiệt tuy ít chịu

ảnh hưởng của gió mùa, nhưng lại chịu ảnh hưởng của gió Lào nóng khô và những đợt giá rét vào mùa khô, đem lại không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Thủy văn

Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 - 10, lượng mưa trung bình từ

1600 - 2500mm, phân bố không đồng đều cả thời gian lẫn không gian

Trên địa bàn xã có những sông suối chính: Đó là dòng suối Nậm La chạy dọc qua xã có trữ lượng nước khá lớn, bên cạnh đó xã đã xây được hồ

Trang 11

Khúa luận tốt nghiệp

nguồn nước ngầm như các hang nước, mó nước, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã, cải thiện được môi trường sinh thái trong toàn xã đồng thời cũng là xã tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái

Các nguồn tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên đất: Xã Chiềng Xôm có quỹ đất khá dồi dào theo kết quả kiểm tra của báo cáo “Tình hình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế x∙ hội năm 2010 mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế - x∙ hội năm 2011” thì tổng diện tích đất tự nhiên của xã là: 6240ha trong đó đất sản

xuất nông nghiệp là 450ha, còn lại 5.754ha là đất lâm nghiệp, núi đá và đất khác

Tài nguyên rừng: Chiếm khá lớn diện tích đất của xã với nhiều loại cây phong phú và quý hiếm

Từ tình hình thực tế như trên chúng ta thấy xã Chiềng Xôm có nhiều

điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây nông nghiệp toàn diện và bền vững

Về tài nguyên đất đai dồi dào, tiềm năng đất cả về số lượng và chất lượng còn khá, khí hậu và đất đai thích hợp trồng nhiều loại cây, phù hợp phát triển kinh

tế theo hướng nông nghiệp

Bên cạnh những thuận lợi đó còn rất nhiều những khó khăn ảnh hưởng

đến sản xuất và đời sống của con người như yếu tố khí hậu khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt, sương muối, giá rét thường xuyên xảy ra, do đó ảnh hưởng rất lớn

đến sản xuất nông nghiệp Một số đường giao thông lên bản chưa được nâng cấp, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 Dân cư vμ đời sống xã hội

Dân số: Tổng số hộ là 1.246 hộ với tổng dân số 5.131 người

Trong đó: Nam: 2554 người

Nữ: 2577 người

Trang 12

Khúa luận tốt nghiệp

Lao động trong độ tuổi: 3619 người

Thành phần dân tộc: Gồm 5 dân tộc đó là dân tộc Thái, Kinh, Mường, Tày và dân tộc Chăm Trong đó dân tộc Thái chiếm 92,6%; còn lại là dân tộc khác

Trong những năm vừa qua người Thái ở xã Chiềng Xôm luôn thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, luôn tuyên truyền vận động nhân dân ý thức được và thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình Tuy nhiên trong năm 2010 trong xã vẫn có trường hợp sinh con thứ 3 (Bản Cọ, Bản Ái)

Lao động trong độ tuổi: 3619 người

Thu nhập bình quân đầu người: 700.000đ/người/tháng

Trong thời gian vừa qua nền kinh tế của xã đã có những chuyển biến rõ rệt và đạt được nhiều kết quả, thu nhập và đời sống vật chất tinh thần được nâng lên rõ rệt không có hộ đói

Tỷ lệ hộ khá giàu đạt: 46,4%

Tỷ lệ hộ trung bình: 44,06%

Tỷ lệ hộ cận nghèo: 4,3% (theo tiêu chí mới)

Tỷ lệ hộ nghèo: 5,21% (theo tiêu chí mới)

Tỷ lệ hộ được nge đài và xem truyền hỡnh: 100%

Số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa: 81%

Tỷ lệ số hộ được sử dụng nước sạch trong sinh hoạt: 95%

Trang 13

Khúa luận tốt nghiệp

Sản xuất nông lâm nghiệp được đẩy mạnh, bình quân lương thực đầu người là 650kg/người/năm

Ban kiểm tra lâm sản của xã vẫn đuy trì hoạt động, thường xuyên tăng cường hoạt động, kiểm tra việc khai thác và sử dụng, mua bán lâm sản trong

địa bàn xã quản lý, các rừng dự án, khoanh nuôi tái sinh, rừng đầu nguồn luôn

được xã chỉ đạo đến từng bản, tổ bảo vệ chăm sóc rừng Song hiện tượng khai thác, mua bán lâm sản trái phép vẫn xảy ra nghiêm trọng

Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Duy trì hoạt động các lò gạch trên địa bàn, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nhàn dỗi nông nghiệp

Các điểm dịch vụ xay sát, chế biến lương thực luôn đảm bảo đáp ứng

được nhu cầu nhân dân trong xã Thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, nhiều hộ gia đình trong xã đã đầu tư mua máy công tác nhỏ để phục vụ vận tải và dịch

vụ làm đất, thay thế sức kéo của trâu bò, khâu làm đất chủ yếu là máy công tác nhỏ thưc hiện, toàn xã có hơn 100 máy cày ở các bản để phục vụ sản xuất

Giáo dục: công tác giáo dục và đào tạo được đẩy mạnh đến năm 2005 toàn xã đã có 3 trường 1 trường mầm non 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở, các phòng học khang trang, sạch sẽ, còn ngoài ra do đặc thù của xã miền núi, địa hình đi lại khó khăn, nên ngoài các trường học ở trung tâm xã còn có các lớp học nhà lá tạm bợ… Trong giai đoạn quy hoạch cần được nâng cấp các trường lớp tạm này, bên cạnh những thiếu thốn hạn chế đó, mạng lưới lớp học vẫn được duy trì và phát triển, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao được sự quan tâm của phòng và sở giáo dục, xã đã kiểm tra khảo sát

địa điểm xây dựng kiên cố hóa trường học đảm bảo cho học sinh từ trung tâm

đến các bản

Y tế: xã có một trạm y tế và luôn duy trì hoạt động, các thiết bị y tế tương đối đầy đủ đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân, đội ngũ y tế gồm 5 nhân viên, 1 y sĩ, 4 y tá phân công nhau trực 24/24 tại trạm và ngoài ra còn có 32 y tá bản cắm ở các bản phát huy hiệu quả hoạt

Trang 14

Khúa luận tốt nghiệp

động y tế của bản, đảm bảo sơ cứu ban đầu và cung cấp thuốc chữa bệnh cho nhân dân

Thực hiện tốt các chính sách chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, triển khai thực hiện có kết quả các chương trình y tế quốc gia, khám chữa bệnh cho người nghèo và tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh nguy hiểm như sốt rét, dịch tả, thương hàn và các bệnh lây truyền khác…

Văn hóa: trong những năm qua công tác văn hóa được chỉ đạo tốt việc tuyên truyền chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước được tiến hành thường xuyên Phong trào văn hóa văn nghệ được nâng lên hội thi hội diễn được diễn ra để chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước

Phong trào thể dục thể thao luôn được duy trì và phát triển cả về số lượng và chất lượng Toàn xã có 12 đội bóng đá, 7 đội búng chuyền Các đội vẫn duy trì hoạt động đều, sẵn sàng thi đấu khi có các cuộc thi do xã cũng như cấp trên tổ chức

Phối kếp hợp với các trường trong địa bàn tổ chức giao lưu các hoạt

động phong trào như: Thể dục thể thao, bóng đá, bóng chuyền, bắn nỏ…

Tổ chức thành công đại hội thể dục thể thao Qua đại hội đã tuyển chọn

được các vận động viên đi tham dự đại hội thể dục thể thao thành phố và đều

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã luôn

được giữ vững Ban công an xã luôn được kiện toàn đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, 100% bản tiểu khu đều có công an viên thuộc biên chế và dưới sự chỉ

Trang 15

Khúa luận tốt nghiệp

đạo của ban công an xã, song bên cạnh đó tình trạng nghiện hút trộm cắp buôn bán các chất ma túy vẫn còn xảy ra

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế x∙ hội

* Thuận lợi

- Yếu tố khách quan:

Điều kiện tự nhiên: Nhìn chung điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và bền vững, khí hậu thuận lợi cho việc trồng nhiều loại cây, nguồn tài nguyên đất cũng khá rồi rào, chất

đất tốt, trên địa bàn có nhiều dân tộc chung sống vì vậy mà phương thức canh tác khá đa dạng

Việc chuyển đổi số diện tích 15% đất canh tác sang trồng cây con có giá trị kinh tế cao ở các bản rất chậm, nên dẫn đến hiệu quả không cao

Việc khai thác mua bán lâm sản trái phép và quá mốc quy định, tuy đã giảm nhưng ý thức của một số người dân trong các bản vẫn còn vi phạm

Trang 16

Khúa luận tốt nghiệp

Địa bàn dân cư rộng, giao thông liên bản còn khó khăn, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn chưa đồng bộ

Trình độ canh tác của người dân còn lạc hậu, khả năng thâm canh còn hạn chế

Do thiếu vốn, thiếu hiểu biết về kinh tế xã hội nên việc chuyển đổi cây trồng và vật nuôi còn chậm

Hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư thỏa đáng nên hầu hết đất canh tác chưa được tưới tiêu chủ động, vẫn phụ thuộc vào nước mưa và dòng chảy tự nhiên

Đội ngũ cán bộ xã chủ yếu là chưa qua đào tạo, năng lực và trình độ quản lý còn hạn chế

Do cuộc sống vất vả nên việc hưởng thụ đời sống văn hóa chưa cao

1.2 Người Thái ở xã Chiềng Xôm

Người Thái ở Chiềng Xôm thuộc nghành Thái Đen cư trú ổn định, chung tay cùng các dân tộc anh em khác cựng xây dựng lên xã Chiềng Xôm trong những năm kháng chiến, dân tộc Thái cũng như các dân tộc anh em khác đã tiếp thu và kế thừa được truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, vượt qua mọi khó khăn thử thách cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, xây dựng

và bảo vệ tổ quốc

Người Thái ở đây có ý thức cộng đồng dân tộc, tộc người ổn định, bền vững, có những đặc trưng cơ bản về kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng cũng có những nét khác biệt trong đời sống tinh thần như trang phục, nhà cửa, một số

lễ hội nói riêng và một số phong tục nói chung…

* Kinh tế truyền thống

Về mặt điều kiện tự nhiên địa lý, tự nhiên tương đối thuận lợi, có nhiều sông suối len lỏi khắp vùng, đặc biệt có dòng suối Nậm La chảy dọc qua xã,

Trang 17

Khúa luận tốt nghiệp

ruộng Núi non hiểm trở, nhưng xen kẽ là những thung lũng màu mỡ, nhiều mùn có độ ẩm cao cộng với mưa nhiều Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi Trong thực tế thì nền kinh tế truyền thống của người Thái Chiềng Xôm là kinh tế nông nghiệp mà chủ yếu là cây lúa nước

Việc trồng trọt canh tác trên nương rẫy cũng có một vị trí quan trọng trong kinh tế truyền thống của người Thái ở đây Bên cạnh đó họ còn biết sử dụng triệt để, tận dụng những sản vật ở trên rừng, dưới sông suối để làm phong phú thêm cuộc sống của mình Đánh cá, săn bắt, hái lượm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân ở đây

Chúng ta có thể thấy được kinh tế của người Thái Chiềng Xôm là nền kinh tế mang đậm tính chất tự nhiên, tự cung tự cấp, do phân công lao động theo giới tính, tính chất tự túc tự cấp diễn ra từng bản thậm chí là từng hộ gia

đình Đây chính là nguyên nhân khiến thủ công nghiệp kém phát triển (chỉ tồn tại dưới dạng nghề phụ của gia đình), chưa hình thành tầng lớp thợ thủ công

hay thương nhân chuyên nghiệp Trao đổi kém phát triển chủ yếu là vật đổi vật

Dựa trên cơ sở loại hình kinh tế này, việc tăng cường nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng và hôn nhân cũng là cách tăng nguồn nhân lực phổ biến nhất, các lễ vật và lương thực thực phẩm chủ yếu trong cưới xin đều có nguồn gốc từ nông nghiệp

1.2.1 Lịch sử tộc người vμ quá trình cư trú

*Lịch sử tộc người

Đa số các học giả nghiên cứu về người Thái đều cho rằng, tộc người này

là cư dân cổ của vùng Tây Nam Trung Quốc (vương quốc Điền cổ xưa) Từ đó họ thiên di xuống phía Nam, tới Myanma, Thái Lan, Lào và miền Tây Bắc Việt Nam Việc nguồn gốc người Thái có liên quan trực tiếp tới cư dân cổ của quốc

Trang 18

Khúa luận tốt nghiệp

gia (Điền Việt) đều được đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận, nhiều người cho rằng người Thái thuộc ngành phía Đông trong khối cư dân Bách Việt

Các tài liệu cổ của Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cũng cho phép khẳng định nguồn gốc và quá trình thiên di của họ từ Tây Nam Trung Quốc sang Tây Bắc Việt Nam Truyền thuyết của họ kể lại rằng: Quê hương của

họ là vùng có chín con sông gặp nhau, chín con sông đó là: Nặm Tạo (sông Hồng), Nặm Ta (sông Đà ), Nặm Mã (sông Mã), Nặm Kông (sông Mê kông), Nặm U, Nặm Nua, Nặm Na và hai con sông nữa bên đất Trung Quốc (chưa xác định) Quam tô mương (kể chuyện bản mường) có ghi lại

rằng tổ tiên người Thái xưa đã từng sinh sống ở Mường ễm (cạnh châu

Tùng Lăng) cách Lai Châu một tháng đi bộ, Mường Then (Điện Biên Phủ,Việt Nam), Mường Bum, Mường Tè, Mường Luân (Lai Châu,Việt Nam ), Sông Mã (Sơn La, Việt Nam)

Sử sách cũ của chúng ta cũng ghi khá rõ về sự có mặt của dân tộc Thái

ở Việt Nam, theo các tài liệu này, vào thời Lý các tù trưởng người Thái (Ngưu hống) đã về kinh đô dâng cống vật cho triều đình nhà Lý, điều này chứng tỏ

khi đó, các tù trưởng Thái đã chiếm lĩnh và làm chủ nhiều vùng Tây Bắc

*Đặc điểm cư trú

Người thái cư trú trong bản Bản của người Thái thường được xây dựng

ở gần rừng, và gần nguồn nước, đó chính là những địa điểm thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cho công việc săn bắt hái lượm những sản vật tự nhiên

Đó thường là những thung lũng rất màu mỡ, có nhiều sông suối chảy qua, bước vào khu vực cư trú của người Thái ở Chiềng Xôm chúng ta sẽ thấy những ngôi nhà sàn xinh xắn, duyên dáng quần tụ nhau trên những gò cao, xen giữa các nhà là những cây ăn quả lâu năm, bao quanh bản làng là những cánh

đồng, sông suối

Trang 19

Khúa luận tốt nghiệp

Người Thái với dân số khá đông, họ thường đóng vai trò chủ yếu trong các địa bàn cư trú của mình, gắn bó với địa bàn này từ bao thế hệ Điều này đã cho phép kiến tạo một nền văn hóa riêng mang đậm tính tộc người

Chính vì điều kiện cư trú như vậy mà việc hôn nhân của người Thái ở xã Chiềng Xôm chủ yếu là giữa người Thái với người Thái, rất ít các trường hợp lấy dân tộc khác

*Tổ chức x∙ hội

Sự phân hóa giai cấp trong xã hội người Thái khá rõ nét: Có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, giai cấp thống trị bao gồm tầng lớp quý tộc Thái, những người này nắm trong tay bộ máy quản lý, thống trị và bóc lột trực tiếp những người trong châu mường Giai cấp bị trị là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho bản mường, lớp người này chia nhiều loại khác

nhau, chịu các mức bóc lột khác nhau, trong đó gia nô (côn hươn) là lớp người

bị bóc lột thậm tệ nhất khụng những về mặt kinh tế mà con cả về mặt tinh thần cũng bị áp bức, bị tước hết quyền lợi của một người dân trong bản, trong

mường (không có quyền tự do thân thể) ngay cả đám cưới của mình cũng

không được tổ chức

Ở bản có tạo bản, tạo bản là người đứng đầu bản, trông coi mọi việc trong bản nói chung là người có quyền hành cao nhất trong bản Là người nắm vững luật tục, am hiểu phong tục tập quán, quản lý ruộng đất và cư dân trong bản

Cùng với sự phân chia giai cấp đó thì việc tổ chức hôn nhân cũng chia thành nhiều trường hợp và tổ chức với các quy mô khác nhau Những người thuộc tầng lớp quan lại tổ chức cưới xin linh đình, các nghi thức tổ chức với quy mô hoành tráng, thách cưới lớn Còn trường hợp hôn nhân của tầng lớp bị trị thì tổ chức nhỏ hơn, cũng đầy đủ các nghi thức nhưng không tổ chức lớn, cũng có trường hợp không tổ chức lễ cưới

1.2.2 Văn hóa truyền thống

* Văn hóa vật thể

Trang 20

Khúa luận tốt nghiệp

Về nhà ở: Cũng giống các dân tộc khác, nhà ở của dân tộc Thái ở xã Chiềng Xôm là một công trình văn hóa Đồng thời là nơi hội tụ các sinh hoạt

văn hóa gia đình và đó cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa dân tộc

Ngôi nhà truyền thống của dân tộc Thái chính là ngôi nhà sàn, có khau cút ở hai đầu hồi Nhà sàn người Thái có nhiều gian, thường thì 5 gian, trong

đó có một gian gọi là Quản, gian dành cho chàng rể trong thời gian thử thách,

gian này nằm đối sát với gian thờ, nằm ngay đầu nhà phía bên cầu thang, trong thời gian ở rể thử thách thì chàng trai chỉ được ở trong gian này

Về trang phục: Bộ trang phục truyền thống dân tộc Thái là một sản phẩm văn hóa vật chất, tinh xảo, mang đậm chất đặc trưng dân tộc

Nguyên liệu làm sợi dệt vải là bông, màu sắc chủ yếu là màu chàm và công việc cắt may thêu thùa là của người phụ nữ

Nam mặc áo màu chàm cổ đứng, cài khuy giữa ngực, phía dưới hai vạt trước có túi tứ thân dài chấm mông

Nữ thì mặc váy và áo cóm (sửa cỏm) áo cóm ở đây là loại áo cổ cao,

khi mặc thì ôm khít vào những đường cong của cơ thể, nổi bật với hàng khuy

bạc ở giữa (hàng pém) khăn đội đầu là chiếc khăn piêu được thêu rất tinh xảo

tỉ mỉ hoa văn sặc sỡ, trang phục truyền thống của người Thái còn có bộ áo dài truyền thống, trong lễ cưới thì cô dâu tặng cho bố mẹ chồng áo dài, tặng cho

mẹ áo cóm Đây là những trang phục thường ngày, ngoài ra còn có ý nghĩa báo hiếu và thể hiện sự khéo léo của cô dâu mới

Người phụ nữ Thái thường xuyên lỗ tai để đeo hoa tai Vòng tay bằng

đồng, xà tích bằng bạc là trang sức thường thấy của người phụ nữ, đặc biệt nổi bật với những chiếc khăn piêu

Ẩm thực: Ăn uống cũng là nhu cầu hàng đầu để con người tồn tại và

phát triển Trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử kinh tế cụ thể nên người Thái đã sáng tạo ra đồ ăn, thức uống phù hợp với điều kiện sống của

Trang 21

Khúa luận tốt nghiệp

trồng lúa nếp và ăn cơm nếp, từ gạo nếp cư dân nơi đây đã chế biến ra rất nhiều những món xôi khác nhau, người ta ngâm gạo với các loại cây tự nhiên tạo thành các màu rất bắt mắt, từ gạo nếp họ còn chế biến ra món cơm lam và các loại bánh đặc trưng của mình Để phù hợp với món xôi, thức ăn chủ yếu là món nướng, đồ vùi tro bếp, sấy khô hay làm chua

Thức ăn có nguồn gốc phong phú, từ săn bắt hái lượm Khi nói đến món

ăn của người Thái xã Chiềng Xôm không thể không nhắc đến các món ăn chế

biến từ cá, cá nướng (pà pỉnh tộp), gỏi cá, cá sấy khô… Trong đó món cá

nướng và món cá sấy không thể thiếu trong lễ cưới của người Thái nơi đây

Món thứ hai đó là món nậm pịa Phèo non của các động vật nhai lại Các món ăn như thịt luộc hay đồ của trâu bò, dê mà chấm với nậm pịa thì đó

là món đặc sản truyền thống của người Thái Chiềng Xôm

Món thứ ba đó là món lạp Được làm từ thịt bò hoặc thịt trâu làm cùng với hoa chuối cùng với nhiều loại gia vị khác

Món thứ 4 đó là món canh bon Được nấu cùng rất nhiều các loại rau và gia vị, đặc biệt là không thể thiếu Mắc khén

Ngoài các món như đã kể trên, người Thái nơi đây còn thích ăn các loại côn trùng như bọ xít, châu chấu, dế mèn, ong, kiến…

Những thức ăn chế biến từ thực vật, được khai thác trong tự nhiên như măng, rau bợ, rau má, rêu đá lấy từ sông hoặc suối, là những món ăn quen thuộc với người Thái ở nơi đây

Thức uống chủ yếu là rượu Rượu sử dụng trong mọi trường hợp, hễ gặp nhau là lấy rượu ra làm đầu câu chuyện Loại rượu trắng này được ủ và tự cất, nguyên liệu chính là sắn, ngô, gạo Loại rượu thứ hai chính là rượu cần (lảu xá), là loại rượu được chế biến bằng cách đồ chín gạo, sắn trộn lẫn với men và

vỏ trấu của thóc nếp ủ trong hũ khoảng một tuần là uống được Đó là những nông sản gắn bó với cuộc sống hàng ngày của người dân

Trang 22

Khúa luận tốt nghiệp

Phần ẩm thực được đề cập tương đối kỹ, vì nó có vai trò rất lớn trong văn hóa của người Thái chung và đám cưới nói riêng Trong lễ cưới, những món ăn trên là những món đặc trưng thể hiện những nét văn hóa ẩm thực đặc sắc của người Thái Chiềng Xôm nói riêng và người Thái nói chung

* Văn hóa tinh thần

Văn hóa phi vật thể là sản phẩm sáng tạo của dân tộc không phải bằng cơ bắp mà bằng trí tuệ của dân tộc.Văn hóa phi vật thể là hình ảnh của văn hóa vật thể vì nó được xây dựng trên cơ sở của một nền tảng và trình độ văn hóa cụ thể

Người Thái ở Chiềng Xôm có đời sống văn hóa phi vật thể khá phong phú, đa dạng gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như tiếng nói, chữ viết, văn học dân gian, trò chơi dân gian, tín ngưỡng dân gian, các phong tục tập quán và lễ hội dân gian

Tiếng nói và chữ viết

Tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có gốc từ chữ Phạn - chữ

cổ Ấn Độ, chữ của Phật Ngôn ngữ khá phong phú, ít vay mượn, ngôn ngữ này trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung cho cộng đồng các dân tộc ở xã

Chữ viết Thái đã có từ lâu đời nhưng ngày càng ít người biết viết, biết

đọc chữ của mình, trừ một số nghệ nhân cao tuổi mà chủ yếu là thầy cúng…

Văn học dân gian

Trang 23

Khúa luận tốt nghiệp

Người Thái ở xã Chiềng Xôm có kho tàng văn học dân gian khá đa dạng và phong phú về thể loại, đặc sắc trữ tình về nội dung Đó là các loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, sự tích, ca dao, tục ngữ, hát đồng dao, câu đố Trong đó các diễn xướng bằng thơ ca khá nổi trội so với các thể loại khác, họ có thể xuất khẩu thành chương mà ở đây là câu văn vần, những câu văn vần như vậy có thể vận dụng trong mọi hoạt động của đời sống tộc người Khả năng ứng tác của nhiều người đã tạo ra không khí vui tươi phấn khởi, hào hứng trong cộng đồng Không cần lễ hội gì lớn chỉ cần bên mâm cơm, chén rượu nhạt sẽ nảy sinh ra cuộc hát đối bất phân thắng bại

Một số tác phẩm văn học dân gian Thái đã được dịch và in bằng chữ quốc ngữ, có thể kể đến:

- Tiễn dặn người yêu (xống chụ xon xao)

- Khun Lù – Nàng ủa (khun lu – nàng ụa)

- Tâm tình tiễn thương (tản chụ xông xương)

- Quam tô mương (kể truyện bản mường)

Những câu truyện truyền thuyết và cổ tích đa dạng với nhiều nội dung, gắn liền với sự ra đời của người Thái Sự ra đời của làng bản, sự tích các loại cây, con suối, truyện cười, truyện ngụ ngôn cũng rất phong phú

Tục ngữ, thành ngữ, những châm ngôn xử thế rất phong phú, trong xã hội cổ truyền Thái Luật tục của các bản được hình thành, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được mọi người làm theo Họ coi đó là một chuẩn mực của con người Thái ở đây

Những bài dân ca, những bài đối đôi khi được trích ra từ các tác phẩm truyện thơ dài, nhưng phần lớn là do bản thân của người hát ứng tác theo các làn điệu dân ca, mà người Thái hát gọi là (Khắp quam tay) Khắp Thái có nhiều làn điệu thích hợp với từng hoàn cảnh, tâm trạng của người hát

Trang 24

Khúa luận tốt nghiệp

Văn học dân gian có vai trò rất lớn trong việc dăn dậy con cháu nói chung và cô dâu, chú rể trong lễ cưới nói riêng Trong lễ cưới, ông bà mối hát

đối đáp dặn dò cô dâu và chú rể, lời bài hát chủ yếu lấy ra trong kho tàng văn học, những câu ca dao tục ngữ những câu truyện kể…

Tín ngưỡng dân gian

Với quan niệm vạn vật hữu linh, người Thái ở Chiềng Xôm luôn tin vào các sức sống quanh mình Do đó, họ thực hiện nhiều nghi lễ để cầu mong sự phù

hộ độ trì của các đấng tối cao cho mùa màng bội thu, người an vật thịnh, các hoạt

động cúng tế, từ đó sinh ra các nghi thức, nghi lễ tín ngưỡng dân gian

Chính vì vậy tín ngưỡng nơi đây dừng lại ở các tín ngưỡng nguyên thủy, các tôn giáo lớn khi du nhập vào đây thường bị địa phương hóa, lu mờ và chắp vá…

Thờ cúng tổ tiên là hoạt động gắn liền với mọi hoạt đông của người Thái ở Chiềng Xôm Trong luật tục cưới xin, mọi nghi lễ đều được báo cáo tổ tiên, làm lễ cúng xin phù hộ những điều tốt đẹp

Lễ hội truyền thống

Với loại hình kinh tế nông nghiệp trồng trọt, mà phương thức canh tác chủ yếu là ruộng nước, hầu hết các nghi thức, nghi lễ đều mang ý nghĩa cầu mùa, những nghi thức cầu mùa đó đều được thể hiện một cách sinh động bởi tín ngưỡng phồn thực Chính vì thế, thời điểm mở lễ hội cũng phải phù hợp với lịch tiết vụ mùa sản xuất

Một số lễ hội ở Xã Chiềng Xôm như: Kin chiêng (tết nguyên đán), tết bươn chiêng xíp hả (rằm tháng riêng), xên bản xên mường (cúng bản), xên lảu

nó (mừng măng mọc), pẳn nậm sau na (dẫn thủy nhập điền)…

Tri thức dân gian là cư dân nông nghiệp trồng trọt, nhất là nông nghiệp trồng lúa nước, người Thái đã sớm nhận thức được tự nhiên xung quanh, trong

Trang 25

Khúa luận tốt nghiệp

đó sự hiểu biết về lịch tiết là rất đáng trân trọng và cách tính lịch tiết đã in sâu vào tâm khảm mọi người

Trong sinh hoạt hằng ngày, đồng bào có thể chịu ảnh hưởng của dương lịch và âm lịch, nhưng mỗi khi có việc gì quan trọng trong đời sống của tộc người như làm nhà, cưới xin ma chay thì họ dùng đến cách tính của mình

Trong luật tục cưới xin thì ngày tốt không trùng với ngày sinh, ngày dỗ của ông bà cha mẹ, không trùng với ngày lên nhà mới

Tính chất và điều kiện tự nhiên, cũng như vị trí địa lí và những yếu tố khác… Đã tạo nên được những nét văn hóa riêng của người Thái nơi đây với những dân tộc khác Những nét riêng và độc đáo đó cũng được thể hiện trong

đám cưới của người Thái Đen

Trang 26

Khúa luận tốt nghiệp

Chương 2 Những vấn đề cơ bản trong đám cưới truyền thống

của Người Thái Đen ở xã Chiềng Xôm, thμnh phố Sơn La, tỉnh Sơn La

2.1 Quan niệm về việc cưới xin vμ hôn nhân truyền thống của người Thái Đen

Người Thỏi cú cõu “Nhinh bỏu tai nai, chai bỏu tai la” (nam khụng

chết đơn, nữ khụng chết độc), cú nghĩa là trai gỏi sinh ra đến tuổi thỡ phải cú

vợ cú chồng để cựng nhau xõy dựng gia đỡnh, sinh con đẻ cỏi Ngày xưa trai gỏi kết hụn người ta mong cú nhiều con cỏi “nhinh lai chai xọn” (con gỏi nhiều con trai đụng)

í thức được vai trũ, vị trớ nguồn lực của con người, ý thức được sức mạnh cộng đồng khi trống lại kẻ thự và thỳ dữ chống lại mọi thiờn tai để sinh tồn, trong mụi trường đú vấn đề tỏi tạo con người cú ý nghĩa vụ cựng quan trọng, hụn nhõn đó ra đời với mục đớch cố kết cộng đồng, tỏi tạo con người, tăng cường sức mạnh và nguồn lực con người

Chế độ phụ quyền, người đàn ụng đúng vai trũ là trụ cột trong gia đỡnh,

và người Thỏi quan niệm việc hụn nhõn là để nối dừi tụng đường, nõng cao uy tớn cho dũng họ, cú nơi nương tựa khi về già, cú phỳc khi sinh hạ được nhiều con cỏi

Kinh tế chủ yếu là nụng nghiệp, tự cung tự cấp, nờn nguồn nụng nghiệp

cú ý nghĩa rất lớn, hụn nhõn đúng vai trũ vào việc tăng thờm lao động, nhõn lực

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp

Với ý nghĩa đó, đám cưới trở thành thiêng liêng, và là ngày vui mừng nhất trong cuộc đời của mỗi người

Vì vậy việc tổ chức đám cưới từ lâu đã là một phong tục không thể thiếu trong cộng đồng, mà ý nghĩa xã hội của nó còn được thể hiện ở nhiều khía cạnh như: Kinh tế, đạo đức, văn hóa

Đám cưới là sự ghi nhận sự trưởng thành của đôi nam nữ, sau quá trình tìm hiểu và được xã hội thừa nhận một tình yêu Hôn nhân là sự thống nhất tình yêu và trách nhiệm giữa hai người

Đám cưới là sự họp mặt của hai họ và bạn bè thân thích để mùng cho hạnh phúc lứa đôi, là nơi để con người có cơ hội gặp gỡ tiếp xúc làm quen, tăng cường giao tiếp mở rộng quan hệ

Quan niệm hôn nhân không chỉ thể hiện riêng của môt gia đình, một dòng họ, là công việc chung của cộng đồng người

Ngày nay người Thái cũng giống như các dân tộc khác xây dựng hôn nhân theo chủ trương kế hoạch hóa gia đình Việc lấy vợ lấy chồng là cái đích của người con trai, con gái Để tạo lập cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc, phụng dưỡng cha mẹ lúc già, nuôi con, mong con khôn lớn để được cậy nhờ lúc già

Tuy nhiên, trong quan niệm hôn nhân của người Thái còn có những hạn chế, thể hiện sự mua bán rõ rệt nên không tránh khỏi sự phân biệt giàu nghèo Đám cưới của Người Thái ở Chiềng Xôm không tránh khỏi những tập tục rườm rà và lạc hậu

2.2 Nh÷ng quy t¾c c¬ b¶n trong c−íi xin cña ng−êi Th¸i §en

* Quy tắc ngoại hôn

Người Thái rất nghiêm túc không cho phép trai gái lấy nhau mà cùng huyết thống hoặc những người thân thích Chỉ cho phép lấy người ngoài dòng

họ hay không phải họ hàng càng tốt

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp

Trước đây hôn nhân chỉ trong phạm vi bản làng và trong cùng tộc người Thái, nay do địa vực cư trú của người Thái chung sống cùng các tộc người khác nên có trường hợp hôn nhân khác bản làng, khác tộc người

* Hôn nhân một vợ một chồng

Người Thái luôn chỉ lấy một vợ một chồng, nhất là phụ nữ Thái không bao giờ chấp nhận lấy chồng chung, chung sống chung thủy Trường hợp khi chồng chết hoặc vợ chết mới được lấy người khác sau thời gian tối thiểu là một năm Người đàn bà khi tái giá có hai trường hợp: Ly hôn hoặc chồng chết, những trường hợp chồng chết thì người phụ nữ phải hạ búi tóc ngược xuống để tang chồng, trước khi tái giá phải làm lễ khấn tạ chồng cũ

Hình thức hôn nhân một vợ một chồng này đã được xác lập từ lâu, tuy nhiên vẫn có trường hợp đa thê

Những trường hợp đa thê thường là tạo bản, tạo mường hoặc những gia đình có điều kiện khá giả hoặc người vợ không có con trai, thường xuyên ốm đau, khi cưới thêm vợ phải được sự đồng ý của người vợ cả, cũng có trường hợp vợ cả đích thân cưới vợ lẽ cho chồng vì không có con trai

Thường thì thân phận người vợ lẽ rất khổ cực, phải chịu sự sai khiến của người vợ cả, làm lụng mọi việc trong nhà Tuy nhiên trong gia đình các thành

viên vẫn có thể sống hòa thuận được với nhau, con cái được đối xử bình đẳng

* Cư trú sau hôn nhân

Cư trú sau hôn nhân: Bên nhà chồng hay gia đình chồng Sau khi lấy

vợ, lấy chồng người Thái có thể sống chung với bố mẹ chồng Tuy nhiên trước khi cùng vợ chung sống ở nhà mình, người con trai có thời gian ở rể Tùy thuộc vào gia đình nhà vợ có thể ở rể từ 3 đến 8 năm Đôi trẻ cũng có thể

ra sống riêng khi bên nhà chồng có đông anh em cùng phụng dưỡng cha mẹ, việc sống bên nhà vợ chỉ trong thời gian ở rể do thỏa thuận giữa con rể với bố

Trang 29

Khóa luận tốt nghiệp

mẹ vợ Theo phong tục của người Thái Đen, trong trường hợp bên nhà vợ neo người, nhà trai quá nghèo, không có con cái phụng dưỡng cha mẹ vợ, thì người con trai có thể ở luôn bên nhà bố mẹ vợ

Khi hết thời gian ở rể thì nhà trai tổ chức cưới bên nhà trai và làm lễ xin con dâu, sau lễ này vợ chồng con cái sẽ chuyển về gia đình nhà trai sống đến hết cuộc đời

* Trường hợp hôn nhân không có hiệu lực

- Mạo hôn (tráo hôn)

- Bà con họ hàng lấy nhau

- Cư tang giá thú

- Đem vợ lẽ làm vợ cả hoặc có vợ cả rồi vẫn cưới vợ cả nữa

- Một người đàn bà lấy hai chồng một lúc

2.3 Tiªu chÝ chän vî chän chång cña ng−êi cña ng−êi Th¸i §en

Người Thái có câu “nhinh hụ dệt pha, trai hụ xan hè” (con gái biết làm

chăn, con trai biết đan chài), ở mỗi dân tộc có những khuôn mẫu cho việc chọn lựa của họ Những định hướng này đã trở thành tiêu chuẩn được đánh giá bền vững và mang tính chủ đạo Trên cơ sở với mỗi cá nhân suy nghĩ và lựa chọn, người bạn đời của mình

Cũng như các dân tộc khác, người Thái cũng có những tiêu chí trọn bạn đời của mình và các bậc làm cha làm mẹ cũng muốn chọn cho con mình người bạn ưng ý nhất Họ thường xuất phát từ những đặc điểm như kinh tế, truyền thống dân tộc do vậy mỗi dân tộc đều có những tiêu chí và sự lựa chọn

Trang 30

Khúa luận tốt nghiệp

Biết trồng bụng, nhặt bụng, kộo sợi, dệt vải, biết thờu thựa (khăn piờu), may vỏ, làm đệm làm gối, những cụ gỏi như vậy thỡ được đỏnh giỏ rất cao

Cỏc chàng trai phải biết thổi pớ pặp, khốn bố hoặc sỏo, biết hỏt cỏc làn điệu (khắp bỏo sao), biết đan lỏt cỏc đồ đạc trong gia đỡnh, biết đan chài quăng chài

Đõy chớnh là cỏc yếu tố đảm bảo cuộc sống cho đụi bạn trẻ khi mụi sinh là nền kinh tế tự cung tự cấp

Trước kia người Thỏi cũng cú sự phõn chia giai cấp khỏ lớn, tạo mường thỡ thường chọn nhũng cụ gỏi xinh đẹp nhất cũn những người dõn bỡnh thường thỡ cỏc tiờu chuẩn phự hợp với điều kiện của gia đỡnh mỡnh

2.3.1 Quá trình tìm hiểu dẫn đến hôn nhân

Người Thỏi trong hụn nhõn cú một nột khỏc biệt với cỏc dõn tộc khỏc

đú là hiện tượng ộp gả hầu như khụng cú Trai gỏi tự do yờu đương, họ đến

Trang 31

Khóa luận tốt nghiệp

với nhau và được tự do hẹn hò nhau qua nhiều ngày tháng bên sàn, bên khuống

“Hạn khuống” là tụ điểm vui chơi văn hóa của mỗi bản Hạn khuống được dựng ngoài trời, nơi trung tâm của bản, cao 0.08m rộng từ 20-30m giống tương tự như các nhà sàn thường thấy ở các Bản Thái Có lan can xung quanh, ở giữa có một cái bếp để đốt lửa Tối đến gái trong bản rủ nhau xuống đốt lửa, người thì thêu thùa, kéo sới, bật bông, se chỉ Lúc này trai trong làng hoặc bản khác rủ nhau đến chơi, người thì thổi tam lay, pí pặp, khèn bè, tính tẩu Trai trong bản hoặc trai bản khác đến hạn khuống, muốn lên chơi hạn khuống phải biết hát đối đáp giỏi, được gái trên hạn khuống đồng ý bắc thang cho lên mới được lên, lên xong phải được cô gái đưa ghế ngồi mới được ngồi

Sau khi lên vui chơi trò chuyện tập thể thì các đôi nói chuyện riêng, đến khoảng 9 - 10 giờ thì tan hạn khuống Từ đó trai gái nào ưng thuận nhau thì theo nhau về nhà (đối với trai bản khác) Đầu tiên hai người chỉ biết vậy sau

đó chàng trai không đến hạn khuống nữa, chỉ khi tan hạn khuống chàng trai mới đến nhà cô gái mà mình muốn yêu mang theo pí pặp hoặc đàn môi đến thổi bên nhà sàn cô gái Nhận ra tiếng pí mà người mình đã hẹn người con gái thắp đền lấy ống điếu, ống nước ra sàn để nói chuyện

Qua bao ngày tháng yêu nhau tình cảm giữa hai người ngày càng sâu nặng, nồng thắm Hai người quyết định xây dựng hạnh phúc gia đình, chàng trai nói với bố mẹ về thời gian tìm hiểu yêu đương và lòng quyết tâm xây dựng hạnh phúc trăm năm của hai người

2.3.2 Tôc lÖ tr−íc khi c−íi

Mở gói ăn hỏi (hịt ổ bay khay hó)

Được sự thuận tình của ba họ: Ải noọng, lung ta, nhinh xao, bố mẹ chàng trai nhờ ông mối (polam) bà mối (melam) người thông hiểu phong tục tập quán

Trang 32

Khóa luận tốt nghiệp

nói năng lưu loát sành sỏi, gia đình xung túc, vợ chồng hòa thuận đứng ra đảm đương công việc từ đầu chí cuối Bên nhà trai chọn người làm mối nên mẹ đẻ hoặc người trong gia đình chàng trai không phải trực tiếp đi, mọi việc tốt lành cần trao đổi giữa hai gia đình đều thông qua người làm mối truyền đạt

Chọn được ngày lành tháng tốt, ông bà mối đem: 12 gói trầu không, 12 gói thuốc lào, 2 con gà trống thiến, 2 con gà mái tơ, 4 chai rượu - gọi chung bằng cụm từ “đôi rượu - đôi gà” (đôi lảu, đôi cáy), (lễ vật phải là số chẵn) Người Thái gọi sự kiện này là xin lập quan hệ giữa lung ta (họ nhà gái) với nhinh xao (họ nhà trai) Nhờ có sự qua lại không chính thức trước đó, khi đoàn mối mai đến, dù bố mẹ nhà gái có đưa ra quyết định cuối cùng hay không những vẫn nhận lễ “đôi rượu - đôi gà” để vui lòng đôi bên Trong những ngày tiếp theo bố mẹ cô gái có ý kiến của mình trước ba họ, trong đó ý kiến của ông cậu (của cô gái) là quan trọng hơn cả Bố mẹ cô gái có thể đi đến quyết định cuối cùng nhưng phải thuyết phục được ông cậu đồng tình Cho dù chỉ có một ông cậu thuận tình thì chính ông cậu đó sẽ trở thành trụ cột để lôi cuốn ba họ thuận theo Bằng giá nào, bố mẹ cô gái cũng phải tránh được sự bất hòa giữa ba họ, do quan hệ hôn nhân mới của con

Hỏi dứt lời, dạm đứt giá (Hịt ôm khát ca - Va khát kham)

Xã hội Thái xưa thiên về “trọng nam khinh nữ” nếu có quan niệm “gái

là của bán, trai là của nuôi” (nhinh khong nhai, chai khong liệng) “của bán”

có “giá đầu” (ca hua) Điều này cho ta cảm nhận được phụ nữ Thái có địa vị thấp ở xã hội cổ truyền Song việc “mua bán” như thế chỉ xảy ra trong cưới hỏi Lệ bản quy định cho nên tuyệt đại bộ phận người Thái đã theo hàng trăm năm và trở thành tập tục Ngược lại, luật Mường là những quy định cho tầng lớp quý tộc, nay đã lui vào dĩ vãng Vậy lệ “hỏi đứt lời dạm đứt giá” với quy định trong con số 12 ở xã hội cổ truyền Thái bao gồm những lễ vật sau:

Trang 33

Khóa luận tốt nghiệp

1 Lệ: “ống bằng gói đủ” gồm 12 gói: trầu không, vỏ, thuốc lào, cau qủa lấy từ 12 buồng khác nhau, thuốc lào hoặc thuốc lá 12 bao, gừng 12 gói,

- Vải trắng, tối đa 12 đơn vị độ dài gọi là ton Một ton có 10 chầu, 1 chầu bằng 4 sải tay Đây cũng là mức tối đa, không được phép quá trung bình

12 chầu và nghèo thì ở mức tối thiểu là 12 sải Vải thổ cẩm (khít hoặc nả pha) định mức chung là 12 sải

Tuy lệ là vậy nhưng khi thương lượng, nhà gái vẫn có thể dễ dàng đi đến thỏa thuận ở mức tối thiểu để nhà trai dễ bề lo liệu, thậm chí nhiều cuộc hôn nhân cũng chỉ tính đến mức thấp nhất tức “ống bằng gói đủ” là quãng qua được bước thứ hai này

Dẫn con trai lên làm rể quản (khươi quản)

Qua nghi thức “hỏi dứt lời, dạm đứt giá” chọn được ngày lành, tháng tốt, năm thuận, bố mẹ nhờ bậc cha chú dẫn con trai đến nhà cô gái xin làm rể tạm Lệ này quy định chàng rể chỉ được nằm một mình và sinh hoạt riêng ở gian phía quản nên được gọi là “rể quản” (khươi quản) Mục đích của lệ tục

Trang 34

Khóa luận tốt nghiệp

này là để gia đình bên nhà gái xem xét hành vi của chàng rể tương lai: Chăm chỉ hay lười biếng, nhanh nhẹn tháo vát hay chậm chạp, can đảm hay nhút nhát, khỏe mạnh hay ốm yếu, lao động giỏi hay vụng về Nói chung là biết

rõ mặt mạnh mặt yếu của chàng trai, để qua đó đi đến quyết định cuối cùng, tiến tới các lễ tục tiếp theo hay dừng lại, hủy bỏ việc tiến hành đám cưới Thời gian làm rể quản tối thiểu phải là ba tháng, tối đa là một năm

Trong thời gian ấy, chàng trai phải đảm đương mọi công việc đồng áng, nương rẫy, kiếm cá ngon ở sông suối, săn bắt muông thú Ngày rảnh việc ở nhà thì lại đan chài, đan đồ tre mây, rèn nông cụ, dạy bảo các em học chữ Thái rể quản đều phải gánh vác Ngoài bữa ăn và khi ngủ, người rể tạm phải luôn tay, luôn chân làm lụng Để “khươi quản” chàng trai cùng làm, cùng ăn, ngủ tại gia đình, nhưng người con gái lúc này chưa phải vợ mình, hai người tuy thương yêu nhau nhưng không được bộc lộ tình cảm, vì chưa được luật làng phép nước công nhận là vợ chồng Vì vậy chàng trai phải ngủ ở gian đầu hồi bên quản Ngày xưa nhà sàn Thái lợp gianh 2 đầu hồi mai rùa, được phân

ra hai ranh giới: Bên quản là dành riêng cho nam giới đi lại, còn đầu hồi bên cầu thang cửa chính ra vào hai bên đàn bà con gái gọi là “hỏng chan”

Vẫn còn là trong thời gian thử thách nên đêm hôm vẫn có trai bản đến chọc sàn nói chuyện bình thường coi như mình chưa có chồng Lúc này nếu cô gái không chung thủy với chàng trai thì dễ bị đi đến chỗ chia tay giữa chàng trai

và cô gái vì lời ra tiếng vào xúi giục kích bác đủ điều của đám trai làng Đối với chàng trai khươi quản lúc này không được ghen tuông bực tức phải tỏ thái độ hòa nhã vui vẻ niềm nở ra ngoài sàn chào hỏi đám thanh niên đến chơi

Trong thời gian làm “rể quản” nếu có sự bất bình, bố mẹ cô gái có quyền đuổi chàng trai ra khỏi nhà bất cứ lúc nào Cũng trong thời gian ấy, chàng trai tuyệt đối không được đi lại với vợ chưa cưới của mình Nếu vi phạm nghiêm trọng sẽ bị đuổi ngay lập tức Người làm rể cũng có thể tự xét

Trang 35

Khóa luận tốt nghiệp

nếu cảm thấy không theo đuổi được tục lệ này thì xin phép bố mẹ đôi bên để

ra khỏi nhà Thời gian khươi quản của chàng trai không có hạn nếu nhanh cũng phải đến 6 tháng, 1 năm hoặc lâu hơn thế Khi nào bố mẹ nhà gái công nhận trong thời gian khươi quản, chàng trai có nhiều tiến bộ, chịu đựng mọi gian nan vất vả, biết kính trọng lễ phép đối với ông bà cha mẹ, biết yêu thương người vợ tương lai của mình, được mọi người trong gia đình mến thương, họ hàng khen ngợi Thì ông bà cha mẹ nhà gái mới quyết định (Sú Phả) cho tổ chức đám cưới

Sú Phả (nhập phòng)

“Sú phả” là việc hai gia đình nhà trai, nhà gái thống nhất để cho chàng trai và c« gái thành vợ chồng, chàng trai được nhập buồng cô gái Nhà gái chọn ngày lành tháng tốt và cho người đến báo tin với nhà trai Phía nhà trai

cử người dẫn đồ sính lễ đến phục vụ nghi thức búi tóc cô gái lên đỉnh đầu (khửn cẩu) Nhà trai phải chuẩn bị sính lễ bao gồm: 1 con gà luộc chín, 2 chai rượu, kéo bánh hoa quả, 2 mớ tóc độn, 1 cái trâm cài búi tóc bằng bạc trắng, 1 vòng cổ, 1 đôi vòng tay Để lót dưới đồ trang sức ấy là 10 sải vải trắng, 4 sải thổ cẩm (khít) cùng với 4 gói trầu không, vỏ cau, thuốc lào Đón nhận được

đồ sính lễ ấy, “lung ta” cho người đi đón hai bà mẹ cô phúc cô phận trong bản (những người có uy tín và có cuộc sống hạnh phúc) đến giúp thủ tục “Khửn cẩu” thường được chọn vào cuối giờ dần, đầu giờ mão Đầu tiên, các bà bưng chiếc rổ đựng đồ sính lễ đặt giữa nhà, mé căn phòng tân hôn rồi trải chiếu, dắt tay cô gái quỳ trên chiếc chiếu ấy Sau khi lẩm nhẩm lời cầu phúc cho đôi lứa, hai bà tháo búi tóc sau gáy cô gái cho xõa xuống, chải cho xuôi bằng chiếc lược mới rồi cài dồn búi tóc, búi ngược lên đỉnh đầu và cái trâm bạc, đồng thời nói “từ nay con sẽ là người “mi phùa” (ca nị lụk cảu xú phua) Ngày xưa các cô gái Thái chưa có chồng thì búi tóc đằng sau gáy khi có chồng thì búi tóc ngược lên đỉnh đầu, do đó người ta rất dễ phân biệt phụ nữ Thái ai đã có

Trang 36

Khóa luận tốt nghiệp

chồng, ai chưa có chồng Khi chồng chết hạ cẩu xuống một thời gian rồi mới búi tóc lên như cũ Khi “khửn cẩu” đa số các cô gái khóc như mưa, phần vì sung sướng, phần vì nuối tiếc tuổi thanh xuân Sau đó hai bà đến bên quản mang đệm, chăn gối mới của chàng rể rát vào đồng chăn, đệm, gối mới của cô gái rồi căng màn, căng rèm hoa tại phòng tân hôn rồi các bà tới bên quản dắt tay chàng rể đến nắm tay nàng dâu cùng nhập phòng, vô màn Mọi người ở ngoài reo lời chúc tụng đôi tân hôn hạnh phúc Nghi thức “nhập phòng” thường được hoàn thành lúc chập tối để chuẩn bị cho sáng hôm sau làm tiếp các khoản khác của hôn lễ Đối với bữa cơm mâm cỗ gia đình nhà trai chuẩn bị: 1 con lợn 40 - 50kg, 4 con gà gồm 2 mái 2 trống, 20 - 30 chai rượu, 30 kg gạo để làm một bữa cơm ra mắt họ hàng làng xóm Ngoài bữa cơm ra theo tục

lệ, nhà trai phải chuẩn bị cho nhà gái (Tánh) có nghĩa là gói: 1 tánh bằng bao nhiêu là do nhà gái phát ra Theo quy định thường có 3 loại tánh: Tánh 4, tánh

6, tánh 8 Nếu nhà tánh 4 thì nhà trai phải có 4 gói gà luộc, 4 gói trầu không,

4 gói thuốc lào, 4 ông thịt ướp chua (nếu tánh 6 hoặc tánh 8 thì cứ như vậy mà tính lên) Ngoài ra nhà trai còn chuẩn bị các khoản tiền

- Tiền rọ thịt rọ cá 5 hào: Tiền khươi quản nếu thời gian khươi quản chưa đủ theo như hai gia đình thống nhất ban đầu

- Tiền xin liệng: Xin liệng là một khoản tiền lớn do nhà gái phát: Đấy là tiền tính công nuôi nấng đứa con gái Nhà gái sẽ lấy bao nhiêu năm, nhưng cao nhất cũng không quá 10 năm, lấy thóc làm chuẩn, ngày xưa chỉ tính gánh, mỗi gánh là 30kg bây giờ Mỗi năm quy định chung là 6 gánh nếu ăn 3 năm là

18 gánh Số thóc xin liệng này hàng năm nhà trai phải gánh cho nhà gái hoặc mỗi gánh bao nhiêu quy ra tiền theo từng thời điểm nếu nhà trai ở xa không trả bằng thóc được Nhưng xin liệng phần lớn chỉ quy định để như vậy khi bên nhà trai muốn trả, nhà gái còn từ chối Nếu lấy xin liệng coi như bố mẹ đã bán con gái, chỉ trường hợp nào bất đắc dĩ quá người ta mới lấy Do đó, ngày

Trang 37

Khúa luận tốt nghiệp

xưa người ta thường núi: “con rể nợ xin liệng đến khi chết vỡ trả bờn ngoại khụng lấy hoặc khụng cú trả”

2.4 Diễn trình đám cưới truyền thống của người Thái Đen

2.4.1 Chuẩn bị đám cưới

Đầu tiờn khi tổ chức đỏm cưới là phải chọn được ngày lành thỏng tốt, nhiều gia đỡnh phải nhờ đến thầy mo chọn hộ ngày, ngày đú khụng được trựng với ngày sinh của cỏc thành viờn chớnh trong hai họ thụng gia Khụng trựng với ngày giỗ của cỏc cụ, khụng trựng với ngày lờn nhà mới, đú phải là ngày đẹp trời để cho đụi trai gỏi được sống trăm năm hạnh phỳc

Việc chọn ụng mối bà mối cũng rất quan trọng, những người này phải

là người cú phỳc phận nghĩa là gia đỡnh hũa thuận, hạnh phỳc được bà con trong bản tin tưởng yờu quý, là người khộo ăn khộo núi, đặc biệt là người cú tài hỏt đối đỏp giao duyờn, nhà trai chọn ụng mối, nhà gỏi cũng chọn bà mối cho nhà mỡnh

2.4.1.1 Chuẩn bị bờn nhà trai

Tất cả mọi chi phớ cũng như việc tổ chức lễ cưới do nhà trai đảm nhiệm, nhà trai phải chuẩn bị chu đỏo lễ vật để làm lễ cỳng tổ tiờn bờn nhà gỏi

lễ lạy ơn cha mẹ cụ dõu, lễ chải chăn đệm cựng lương thực, thực phẩm để tổ chức lễ cưới

Lễ vật đỏm cưới bao gồm: 2 con lợn 1 cỳng tổ tiờn 1 con tạ ơn bố mẹ, 8 giỏ cỏ sấy, 8 ống thịt chua, 8 gúi xụi, 8 gúi trầu cau, rượu

Cỏch làm và chuẩn bị cỏ sấy: Phải là loại cỏ ngon hay dựng để đói khỏch quý, khi cỏ được bắt về người ta mổ lưng, bỏ ruột rồi ướp muối, và để trờn trạn bếp để hong khúi, họ đan những chiếc giỏ mắt cỏo và bỏ cỏ vào đú, mỗi giỏ cú 8 con (nếu nhỏ), hoặc 4 con (nếu to)

Thịt ướp chua: Cú thể làm từ thịt trõu hoặc thịt lợn, sau khi mổ lợn họ lấy vài cõn thịt ngon đem cạo hết lụng, rửa sạch rồi thỏi vuụng nhỏ bằng bao

Trang 38

Khóa luận tốt nghiệp

diêm rồi đem ướp muối, họ chọn những cây tre thẳng đều gióng, còn bánh tẻ đem về cưa ra thành ống nhỏ rồi cho thịt vào đó, công việc này được tiến hành trước lễ cưới khoảng một tháng

Trầu cau: Khác với người Kinh trầu cau được lấy ở trong rừng, mỗi gói

8 lá trầu và 4 miếng cau, được gói lại bằng lá rong

Chuẩn bị cho lễ trải chăn đệm:

Nhà trai phải chọn hai phụ nữ trung niên không góa bụa, chỉ có một đời chồng có gia đình hạnh phúc, biết làm ăn, có nhiều con cháu, có cả con trai con gái và được mọi người yêu quý

Để chuẩn bị cho lễ chải chăn đệm nhà trai phải chuẩn bị: 4 chăn, 4 đệm, 4 ga, 4 gối, 1 màn những thứ này phải mới, chưa sử dụng lần nào

Chuẩn bị cho lễ búi tóc ngược:

Thường là chọn 1 trong 2 người chải chăn, đệm vì họ có đủ những điều kiện trải tóc cho cô dâu

- Hai búi tóc độn (tóc giả, sòng cản chọng)

- 1 trâm cài tóc bằng bạc ( mảy mản của ngớn)

- Đôi hoa tai bạc ( đôi oong hù)

- Đôi vòng cổ bạc ( đôi pok có ngơn)

- Bộ cúc bạc (phú mask pém ngơn)

- Bộ xà tích bạc ( xúm sởi ngơn)

- 4 sải vải trắng tự dệt ( chấu phải lón)

- 1 sải thắt lưng tơ tằm (lểm sai eo)

- 4 sải vải thổ cẩm (chấu phải kit)

Chuẩn bị cho tiệc cưới:

Trang 39

Khóa luận tốt nghiệp

Theo quy mô nhà trai nhà gái đã bàn bạc, tuỳ thuộc vào số lượng người, có đám cưới chỉ mổ có vài con trâu và lợn nhưng cũng có đám cưới số lượng sẽ lớn hơn, ngoài ra còn có các loại rau củ quả là những thứ không thể thiếu trong đám cưới của người Thái Chiềng Xôm

2.4.1.2 Chuẩn bị bên nhà gái

Việc chuẩn bị cho đám cưới bên nhà gái có phần nhẹ nhàng hơn:

Họ cũng chuẩn bị số chăn màn giống như nhà trai, chọn người trải chăn đệm, và người chải tóc cho cô dâu

Buồng cô dâu, nơi diễn ra lễ trải chăn đệm, thường gần sát gian bếp, công việc lên danh sách khách mời do ông và bố cô dâu đảm nhiệm và thường

là mời hết cả bản

Người con gái Thái Chiềng Xôm thường được cha mẹ cho của hồi môn khi đi lấy chồng, thường là vàng bạc nếu là gia đình giàu có, không chỉ là con lợn con gà, ngoài ra còn có tiền, thóc gạo, vải, thứ mà không thể thiếu dù giàu hay nghèo cũng phải có khi về nhà chồng đó là khung cửu

Chuẩn bị quà tặng nhà chồng:

Công việc này do cô dâu chuẩn bị Người con gái Thái Chiềng Xôm ngay từ khi biết cầm cây kim sợi chỉ đã thêu những chiếc khăn piêu, làm những chiếc gối chiếc đệm, để làm quà tặng cho gia đình nhà chồng, khi cô đi lấy chồng, nhà chồng có bao nhiêu anh em họ hàng thì cô dâu phải tặng từng

ấy quà Qua những chiếc khăn piêu, những chiếc gối, chiếc đệm, nhà trai sẽ đánh giá cô dâu đó có chăm chỉ đảm đang hay không

Đám cưới là ngày trọng đại nhất của đôi trai gái và cũng là ngày hội của bà con trong bản, thường tổ chức nhiều ngày, tổ chức ở nhà gái trước sau

đó mới tổ chức ở nhà trai

Trang 40

Khóa luận tốt nghiệp

khön)

Gọi là cưới lên vì họ nhà trai phải lập ra một đoàn do ông bà mối dẫn chàng rể lên nhà gái để tạ ơn vừa tạ lễ, vừa xin ở lại lao động làm rể đền ơn cha mẹ đã có công sinh thành và nuôi dạy cô gái mang lại cho mình hạnh phúc từ đây Đó cũng chính là ngày cô gái tách khỏi cội nguồn ải noọng để trở thành vai chủ trong khối nhinh xao

Lúc này ông bà mối bên chàng rể xin phép họ hàng bên nhà gái bắt đầu nói có bài bản hẳn hoi như ông mối phải thuộc lòng nói lưu loát Tạm dịch như sau:

“Từ khi chàng rể còn nằm trong bụng mẹ rồi sinh ra, lòng bàn chân bằng ngón tay cái, biết bò sợ ngã thang, biết đi sợ ngã sàn, mẹ nhai ngô sớm,

bố nướng sắn đuôi, 13 tuổi biết đi câu cá, 14 tuổi biết thổi (tam lay) ý của ông làm mối nói ở đây là rất khiêm tốn Ông nói đến khi chàng rể biết đi chơi và bắt gặp cô gái, hai người tìm hiểu, yêu nhau, cho đến khi hai gia đình nhất là gia đình nhà gái đã không chê bai chàng trai và đã vui vẻ nhận làm con như một thành viên trong gia đình Từ thời gian khươi quản ông bà, cha mẹ, anh chị em và mọi người trong gia đình đã dạy bảo dìu dắt chàng trai từ một người dại dột non trẻ chưa thông thạo việc đồng ruộng, nay đã trở thành một tay lao động cừ khôi, đảm đương mọi công việc trong gia đình ” Ông mối cảm ơn bên nhà gái và xin phép để cho con rể ra mắt Nghi thức “cưới lên” thực chất chỉ là một việc trong gia đình hai họ nhưng theo phong tục tập quán phải thu hút tất cả bà con cô bác trong bản, bạn bè khắp nơi, những anh chị

em trong ba họ: Ải noọng, lung ta, nhinh xao gần xa của hai bên cha mẹ vợ Ngày cưới lên vì thế mặc nhiên trở thành ngày hội của cả cộng đồng Đoàn nhà trai đi theo ông bà mối và chú rể lần này mang theo đồ sính lễ như đã

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w