Đặc biệt, tiếp tục đưa nền văn hóa mới đến với từng người dân, đến với đồng bào “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng
Trang 1Trường đại học văn hoá hμ nội
Khoa văn hoá dân tộc thiểu số
Khoá luận tốt nghiệp cử nhân văn hoá
Chuyên ngμnh văn hoá dân tộc thiểu số
M∙ số: 608
Người hướng dẫn : Ths Nông Anh Nga
Hμ nội: 06/2009
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận này em xin được trân trọng cảm ơn
sự giúp đỡ nhiệt tình của huyện uỷ, UBND, Phòng Văn hoá - Thông tin - Thể thao huyện, Uỷ ban nhân dân và các ban ngành đoàn thể xã Yên Hân, huyện Chợ Mới tạo điều kiện cho em khảo sát và cung cấp tư liệu thiết thực cho đề tài
Trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số và đặc biệt là Ths Nông Anh Nga đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này
Vì thời gian có hạn, hơn nữa đây cũng là công trình nghiên cứu
đầu tiên nên không thể tránh khỏi những thiếu sót chưa có kinh nghiệm nên bài viết còn nhiều hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến
đóng góp quý báu để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 20 thỏng 5 năm 2009
Ma Thị Mừng
Trang 3Mục lục
mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài……….……1
2 Mục đích ngiên cứu của ……….… 2
3 Lịch sử nghiên cứu……….………3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… …… 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ……… …… 4
6 Đóng góp của khóa luận……… …….4
7 Nội dung và bố cục của khóa luận……… … 4
Chương 1 Một số cơ sở lí luận chung về văn hoá và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở 1.1 Những khía cạnh lý luận và thực tiễn của việc đời sống văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào DTTS……… ……… 5
1.1.1 Quan niệm vùng dân tộc thiểu số ……….…… 5
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở vùng dân tộc thiểu số……… 10
1.2 Vai trò của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đối với việc phát triển toàn diện vùng DTTS xã Yên Hân……… … 17
Chương 2 Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hoá ở x∙ Yên Hân, huyện Chợ Mới 2.1 Tổng quan về xã Yên Hân……… ……24
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên……… ……24
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển……… …… 25
2.1.3 Đặc điểm xã hội……….………26
2.1.4 Đặc điểm văn hóa……… …….29
2.2 Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hoá ở xã Yên Hân.…….35
2.2.1 Quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở xã Yên Hân……… … 35
2.2.2 Những tồn tại thách thức đặt ra trong việc xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu số……….… 61
2.3 Những vấn đề đặt ra hiện nay cần giải quyết……… 67
Trang 4Chương 3 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa vùng dtts ở x∙ yên hân,
huyện chợ mới, bắc kạn
3.1 Phương hướng chung đê xây dựng đời sống văn hóa vùng DTTS… 72
3.1.1 Xây dựng đời sống văn hóa vùng DTTS phải góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự phát triển vùng DTTS……… …….72
3.1.2 Xây dựng đời sống văn hóa vùng DTTS phải kết hợp giữa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của địa phương với việc mở rộng giao lưu, tiếp thutinh hoa văn hóa bên ngoài……… 73
3.1.3 Từng bước xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho hoạt động văn hóa vùng đồng bào DTTS……… 74
3.1.4 Xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào DTTS phải nhằm góp phần phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng……… 75
3.2 Phương hướng xây dựng đời sống văn hóa ở xã Yên Hân, Chợ mới, năm 2009……….76
3.3 Một số giải pháp và kiến nghị……… ………….81
3.3.1 Một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đời sống văn hóa ở vùng DTTS xã Yên hân……… 81
3.3.2 Một số kiến nghị ban đầu……… …83
Kết luậN 86
Tài liệu tham khảo 87 Phụ lục
Trang 5Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ phát triển và hội nhập hiện nay, nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng một nâng cao và hiện đại
Do đó, nhu cầu hưởng thụ văn hóa cũng ngày một đa dạng và phong phú, nhất
là những vùng đô thị với nền kinh tế phát triển Để đáp ứng được những nhu cầu
đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách nhằm tăng cường mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân Song thực tế cho thấy, các tỉnh miền núi vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số đời sống của nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn cả về vật chất và tinh thần, đặc biệt đời sống văn hóa còn nhiều hạn chế Vì vậy chủ trương của Đảng và Nhà nước về “Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở” nhằm đẩy mạnh, nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân cả nước, nhất là đồng bào DTTS miền núi có cơ hội tiếp cận với nếp sống văn hóa mới hiện đại và lành mạnh, tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân Đây luôn là vấn đề luôn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các ban ngành hết sức quan tâm để phấn đấu từng bước thu hẹp khoảng cách về phát triển văn hóa đô thị, nông thôn với vùng sâu, vùng xa và vùng DTTS trên từng
địa bàn
Đây là chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với công cuộc xây
dựng đất nước với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” Đặc biệt, tiếp tục đưa nền văn hóa mới đến với từng người dân, đến
với đồng bào “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã
hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư và mọi lĩnh vực sinh hoạt, vào quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước…”[14; tr.16] đang được Đảng
và Nhà nước ta từng bước thực hiện
Trang 6Yên Hân là một xã miền núi tập trung chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống Đây là xã khó khăn, nhân dân sống bằng sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế vẫn mang tính tự cung tự cấp, mức hưởng thụ văn hóa còn thấp Trong quá trình hội nhập hiện nay, mỗi người dân, mỗi gia đình đều cố gắng vươn lên làm ăn kinh tế, giao lưu học hỏi để nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống của mình Cùng với sự cố gắng của đồng bào, ban chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đã vận động, hướng dẫn tổ chức thực hiện các phong trào xây dựng đời sống văn hóa một cách tích cực và nhiệt tình Tuy đã có những kết quả bước đầu nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa đến các chương trình phát triển kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa ngày càng cao của nhân dân các dân tộc, nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa vật chất và tinh thần ở địa phương Để nắm bắt được những thành công và hạn chế, cũng như tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho các giai đoạn tiếp theo, việc nghiên cứu tìm hiểu về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa ở Yên Hân là một
đòi hỏi của thực tiễn hiện nay
Là sinh viên đang theo học ngành Văn hóa dân tộc thiểu số, em nhận thức
được rằng, mình phải có đóng góp gì đó cho quê hương, cho cộng đồng của mình Thiết thực nhất đối với suy nghĩ đó của em lúc này là vận dụng những gì
đã học tập được ở trường, góp phần tìm hiểu thực trạng cũng như những thành công, tồn tại và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này ở Yên Hân
Với những lý do trên đây, em quyết định chọn đề tài “Công tác xây dựng
đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu số xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc khảo sát thực trạng và đánh giá tình hình hoạt động xây dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu số xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng đời sống văn hóa ở vùng này trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trang 73 Lịch sử nghiên cứu
Công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở từ khi triển khai đến nay đã
được hơn 20 năm Là một chương trình then chốt trong chiến lược phát triển đất nước, nên đây là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa quan tâm Đến nay đã có nhiều đánh giá, tổng kết từng giai đoạn của công tác này ở quy mô toàn quốc và cấp tỉnh Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này cũng
đã được công bố Trong đó có “Xây dựng đời sống văn hoá ở vùng cao” của Trần
Hữu Sơn (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2004) Trong công trình này, tác giả đề cập đến hiện trạng công tác xây dựng đời sống mới ở vùng cao, vùng miền núi và dân tộc thiểu số; những bất cập và những kết quả đã đạt được; những thuận lợi và khó khăn… Phạm vi của công trình tương đối rộng, đó là vùng cao ở Việt Nam
nói chung Cũng nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, Mô hình xây
dựng làng văn hoá nông thôn Bình Định (NXB VHTT, HN.2000) của Trần Bình
Minh là một nghiên cứu đáng chú ý Trong công trình này, tác giả đã đề cập việc xây dựng làng văn hóa nông thôn ở Bình Định, thực trạng đời sống văn hóa của nhân dân, những kết quả thực tế của công tác này đem lại cho đời sống của nhân dân Đây là nghiên cứu đề cập một khía cạnh của công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Ngoài các nghiên cứu nói trên, các Hội thảo về Công tác xây dựng
đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc khác như: Hmông, Khơ - me, Dao…cùng một số luận văn ngắn đã được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng ít nhiều đã đề cập đến vấn đề này
Kế thừa những thành tựu đã đạt được, khóa luận sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu đề tài này Giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài sẽ có ý nghĩa
về lý luận và thực tiễn, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng đời sống văn hóa ở vùng DTTS xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trong tình hình hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 8- Nghiên cứu này tập trung vào đổi tượng chính là: Công tác xây dựng đời sống
văn hóa vùng dân tộc thiểu số ở xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Do hạn chế nhiều mặt, khóa luận chỉ tập trung tìm hiểu, phân tích và đánh giá về thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa trong phạm vi xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn trong khoảng thời gian trên một chục năm trở lại đây
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Khoá luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan
điểm của Đảng ta về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa trong thời ký đổi mới
- Khóa luận kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgíc và lịch sử, tiếp thu và sử dụng các phương pháp so sánh, thống kê, điều tra xã hội học và các phương pháp liên ngành trong quá trình nghiên cứu
6 Đúng gúp của khoỏ luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đời sống văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa ở vùng DTTS nước ta hiện nay
- Phân tích đánh giá một cach tương đối toàn diện về thực trạng đời sống văn hóa ở vùng DTTS xã Yên Hân trong những năm qua
- Đề xuất một số giải pháp hợp lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả việc xây dựng đời sống văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở địa phương hiện nay
- Khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở các địa phương, nhất là đối với các xã miền núi của tỉnh Bắc Kạn
7 Nội dung và bố cục của khoỏ luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chớnh của khúa luận được trỡnh
bày trong 3 chương chớnh:
Chương 1: Mấy vấn đề lí luận chung về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở
Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hoá ở vùng DTTS xã Yên
Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Trang 9Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây
dựng đời sống văn hóa vùng dân tộc thiểu sốxã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Chương 1
Một số cơ sở lí luận chung về văn hoá
vμ xây dựng đời sống văn hoá cơ sở
1.1 những khía cạnh lý luận và thực tiễn của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng đồng bào DTTS
1.1.1 Quan niệm về vùng DTTS và xây dựng đời sống văn hóa ở vùng DTTS
- Khái niệm vùng đồng bào DTTS
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại bộ phận của đất nước, các dân tộc còn lại sống ở khắp mọi nơi, phần lớn là tại các vùng núi, biên giới và hải đảo Số lượng tuy ít nhưng họ vẫn là nhữ ng cộng đồng tương đối ổn định, được hình thành và phát triển trong lịch sử trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, bản sắc văn hóa và ý thức tự giác tộc người
Trong số các DTTS thì số tộc người đông hơn là Tày Nùng, Mường, Thái, Khơ Me có tới hơn 1 triệu người Mỗi một dân tộc đều có những nét riêng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, địa bàn cư trú và địa lý hành chính làm nên diện mạo đời sống văn hoá từng cơ sở, phong phú và đa dạng nhưng vẫn thống nhất trong nền văn hóa chung của đất nước
Mỗi tộc người đều cư trú tập hợp lại trong các bản, mường, phum, sóc vừa
có sự biệt lập khép kín, vừa có tính giao lưu rộng hẹp tuỳ theo hoàn cảnh Các
đơn vị như thế còn gọi là từng vùng như: Vùng Thái, Mường, Ban Na, Êđê…hoặc tiểu vùng Mỗi vùng gồm các tộc người hay nhóm địa phương tộc người, có chung cách thức sinh hoạt, phong tục, lễ nghi, tôn giáo, phương thức sản xuất, những thành tựu văn hóa vật thể và phi vật thể Do điều kiện lịch sử cư trú và di cư, tạo ra sự sinh sống xen kẽ giữa các tộc người với nhau
Trang 10Như vậy, vùng đồng bào DTTS là khái niệm dùng để chỉ một không gian
có sự quần cư nhất định diễn ra các hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt tinh thần của đồng bào để phân biệt với các khu vực khác Khái niệm vùng đồng bào DTTS ở đây hiểu theo nghĩa hẹp gắn với quy mô nhỏ ở cấp làng, bản, xã, huyện trên một tỉnh Vùng được xác định một cách tương đối vì nơi đó thường có một hoặc nhiều DTTS, và có nhiều nơi xen kẽ cả người Kinh
Tổ chức hoạt động văn hóa thông tin cơ sở vùng dân tộc thiểu số là vấn đề thường xuyên được Đảng, Nhà nước và Ngành Văn hóa - Thông tin quan tâm chỉ
đạo, hỗ trợ để không ngừng nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa cho đồng bào
- Khái niệm về văn hóa và xây dựng đời sống văn hoá ở vùng DTTS
Khái niệm về văn hóa:
Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa dần dần tiềm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Văn hóa là một phạm trù lịch sử, nó
có sự thống nhất thực tiễn hoạt động con người với tự nhiên và xã hội Văn hóa
là một lĩnh vực rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, nó có mặt và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người, vì thế có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu và khai thác khác nhau về văn hóa Trong quá trình đi tìm định nghĩa và xác định nội hàm của văn hóa đã có những tìm tòi khoa học có giá trị sâu sắc về lĩnh vực này Theo Giáo sư Phan Ngọc đến năm 1994 cả thế giới đã
có khoảng 400 định nghĩa, quan niệm về văn hóa [27; tr.19]
Các Mác và Ph Ăng- ghen viết: “Của cải là gì nếu không phải là sự biểu
hiện tuyệt đối của những tài năng sáng tạo của con người, không cần đến tiền đề nào khác, ngoài sự phát triển lịch sử đã có, sự phát triển vốn lấy cái chỉnh thể của phát triển làm mục đích tự thân, tức là mọi lực lượng bản chất người, bất chấp quy luật đã định trước”.[36; tr.36] Các Mác và Ăng ghen đã chứng minh tính chất xã hội của các lực lượng bản chất người, trong đó có sức lao động và tài năng sáng tạo của con người Đó chính là phương thức tồn tại và tái sản xuất
Trang 11ra đời sống xã hội Lao động sáng tạo là biểu hiện tự do của tư chất tinh thần và thể chất của con người, là khởi điểm của văn hóa
Về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt dùng với biểu hiện của nómà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống đòi hỏi của sinh tồn…” [22; tr.431] Hồ
Chí Minh cũng có sự thống nhất về quan điểm tư tưởng Chủ nghĩa Mác-xít là đều xem lao động sáng tạo là cội nguồn của văn hóa
GS Hoàng Vinh đã nêu một định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hóa là
toàn bộ sáng tạo của con người, tích luỹ lại trong quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hoá và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội
là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy” [36; tr.45] Vì lẽ đó, văn hóa là một bộ phận cấu
thành đời sống xã hội, có vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của loài người
Đến Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp Hành TW khoá VIII, trong văn kiện hội
nghị cũng đã có những quan điểm chỉ đạo: “Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy kinh tế xã hội; nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hay nền văn hóa Việt Nam thống nhất
mà đa dạng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam…” Lần đầu tiên, văn kiện của
Đảng đã dành phần riêng cho sự nghiệp văn hóa, góp phần làm sáng tỏ vị trí của văn hóa trên con đường phát triển và hội nhập Văn hoá được coi là nhân tố cấu thành, là yếu tố nội sinh của sự phát triển Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn liền với sự phát triển văn hóa Như vậy văn hóa vừa có trách nhiệm phục
Trang 12vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa là bộ phận cấu thành tạo ra sức mạnh nội tại, tạo ra sự sáng suốt bên trong của sự nghiệp này
Qua quá trình phát triển, con người thấy được vai trò của văn hóa trong sự phát triển chung của toàn xã hội, là một bộ phận cấu thành, một mặt không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện nay Lĩnh vực văn hóa được tất cả các quốc gia quan tâm vì sự liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến các nhiệm vụ chính trị, an ninh của đất nước
Văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các thế hệ người Việt Nam, là kết quả sự giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện và phát triển mình Đất nước ta có một sức mạnh nội sinh của văn hóa Việt thể hiện trong suốt những năm bắc thuộc đến thời kỳ đụng độ, tiếp xúc nhằm Việt hóa các giá trị văn hoá phương Tây và trong hai cuộc kháng chiến thần thánh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Để phát huy sức mạnh ấy trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Văn kiện đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chủ trương: “Dựa vào nguồn lực
trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa là nguồn lực bên ngoài”, “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [15; tr 84]
Con người là chủ thể của sáng tạo văn hóa và mang những giá trị văn hóa
do chính nó tạo ra Vì vậy, phát huy nguồn lực con người cũng chính là phát triển văn hóa, góp phần đẩy mạnh công cuộc xây dựng và kiến thiết nước nhà
Xây dựng đời sống văn hóa vùng DTTS
Đời sống văn hóa cơ sở của đồng bào các DTTS là tổng thể các hoạt động, các thiết chế văn hóa diễn ra trong đời sống sinh hoạt hàng ngày trên từng địa phương, địa bàn dân cư thuộc vùng DTTS và miền núi
Hiện nay, các nhà văn hóa học, dân tộc học cơ bản đã thống nhất khi tính
đến các yếu tố thuộc văn hoá các DTTS bao gồm:
- Ngôn ngữ tộc người
Trang 13Trong những năm qua, ngành văn hoá thông tin và các cấp chính quyền,
đoàn thể đã quan tâm đầu tư xây dựng đời sống văn hoá các vùng DTTS, bước
đầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, tình hình xây dựng văn hoá cơ sở ở vùng đồng bào DTTS nổi lên những vấn đề về việc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống chưa được quan tâm Đời sống nhiều nơi còn khó khăn và không đồng đều, hơn nữa ở những vùng này các giá trị văn hóa truyền thống ngày càng mai một và tiếp nhận luồng văn hóa mới nhanh chóng Nhân dân chưa có nhận thức đúng về xây dựng nếp sống văn hóa mới cho nên đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội nhiều nơi còn kém phát triển
Về quản lý Nhà nước đối với hệ thống văn hóa cơ sở còn nhiều vấn đề đặt ra trong việc xác định mục tiêu đào tạo cán bộ cơ sở Họ là lực lượng trực tiếp tham gia vào các hoạt động xây dựng văn hóa ở địa phương Do đó, cần xác lập và cụ thể hóa cơ chế chính sách quản lý Nhà nước về văn hoá ở cấp cơ sở trong bối cảnh hiện nay
Trong những năm qua, ngành Văn hóa thông tin đã thu được nhiều thành tựu
đáng kể theo phương châm hướng về cơ sở, đưa văn hóa và tiếng nói của Đảng về với đồng bào Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng từng bước nâng cao mức hưởng thụ văn hóa Tuy nhiên, so với nhu cầu phát triển của địa phương
và đất nước hiện nay, Đảng ta cần có những quan điểm chỉ đạo, định hướng
Trang 14phương thức hoạt động phù hợp với từng địa phương, tộc người, từng địa bàn, lấy hiệu quả làm mục tiêu xây dựng và phát triển đời sống văn hoá trong từng thôn bản Có như vậy, mới có thể đẩy chất lượng của đời sống cơ sở nâng lên một bước, phát triển đúng hướng, tiến bộ để làm sao những vùng, mường, bản DTTS
sẽ có đủ điều kiện để theo kịp các đơn vị miền xuôi mà vẫn giữ được nét độc đáo trong bản sắc dân tộc của mình
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng đời sống văn hoá cơ
sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Các DTTS ở nước ta tuy chỉ chiếm khoảng 14% dân số nhưng lại cư trú trên địa bàn rộng với 3/4 diện tích cả nước, nơi có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng và giao lưu quốc tế Nhiều vùng là căn cứ cách mạng kháng chiến cũ, hình thái cư trú xen kẽ giữa các tộc người ngày càng tăng Sự chênh lệch về trình độ phát triển khá lớn, nhất là những vùng miền núi tập trung
đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại
Từ khi thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc Ngay từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 45 xác định nhiệm vụ của Đông Dương bác cổ học viện là “bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam” Tháng 8 năm 1952, khi cuộc kháng chiến đang ở trong giai đoạn ác liệt, Đảng ta đã ra Nghị quyết Bộ chính trị về chính sách DTTS, trong đó đề cập tới vấn đề văn hóa các DTTS: “Tôn trọng tiếng nói và chữ viết của các dân tộc…Tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của các dân tộc Giúp đỡ các DTTS phát triển…Việc vận động cải cách phong tục tập quán của đồng bào thiểu
số, không nên làm hấp tấp, vội vàng; tuyệt đối không nên dùng mệnh lệnh bắt buộc, phải hết sức thận trọng và tiến hành từng bước một”
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Ban Bí thư Trung ươngg Đảng đã ra chỉ thị số 114/CT - TW ngày 6/12/1965 về “Tăng cường công tác lãnh đạo văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước hiện nay” đã nêu những nội dung
về văn hóa các DTTS: “Coi trọng việc sưu tầm, giữ gìn và phát huy vốn tốt đẹp trong nền văn hóa, văn nghệ của các DTTS Có biện pháp tiếp tục khai thác và
Trang 15phát huy các vốn văn hoá, văn nghệ quý báu ấy để làm vốn xây dựng nền tảng văn hóa, văn nghệ mới của các dân tộc với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc”
Từ thời kỳ đổi mới đất nước đến nay (từ 1986), Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều sự quan tâm cụ thể và sâu sát hơn với vấn đề phát triển và xây dựng đời sống văn hóa ở các vùng DTTS và miền núi Ngày 27/11/1989, Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết 22/NQ/TW về những chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Nghị quyết chỉ rõ:
“Tôn trọng và phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn hóa tốt
đẹp của các dân tộc Nền văn minh ở miền quê phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hoá của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của dân tộc khác và góp phần phát triển căn hoá chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”
Một số giải pháp cụ thể cũng được Nghị quyết đề cập: “Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh cát sét, máy thu hình, băng ghi hình để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương, phổ biến các văn hoá phẩm và tài liệu
có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền”
Quyết định 72 của Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nhằm thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ chính trị cũng nêu lên những vấn đề cụ thể:
“Bộ Văn hoá Thông tin soạn thảo sớm các chính sách văn hoá đối với các dân tộc thiểu số…giúp các tỉnh, các huyện miền núi như kinh phí, xây dựng các trạm tiếp sóng Đài tiếng nói Việt nam, Đài truyền hình…tăng thêm các buổi phát sóng ngắn, nhất là các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc, chú trọng cải tiến
và nâng cao chương trình phát thanh, truyền hình địa phương cho phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào dân tộc…”
Nhà nước tăng kinh phí cho việc khai thác hoạt động văn hoá cổ truyền của các dân tộc ít người, khôi phục và phát triển các đội văn nghệ nghiệp dư, đội
Trang 16chiếu bóng lưu động (có trang bị video và băng ghi hình) có thuyết minh bằng tiếng dân tộc và phổ thông Cải tiến và nâng cao chất lượng nội dung và hình thức Bộ văn hóa thông tin phối hợp với các tỉnh, huyện miền núi tổ chức sưu tầm, xuất bản các truyện dân gian vùng dân tộc, các truyền thống đấu tranh cách mạng, bảo vệ các di tích lịch sử, di tích cách mạng, xây dựng các phòng hoặc nhà bảo tàng trong địa phương để giáo dục truyền thống cho nhân dân nhất là thanh thiếu niên
Nghị quyết Ban chấp hành TW lần thứ 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (16/07/1998)
Nghị quyết đã nêu lên 5 quan điểm chỉ đạo trong đó có quan điểm “Nền văn hóa
Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, đồng thời chỉ rõ một trong những nhiệm vụ cụ thể là “Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các DTTS”, chỉ ra hàng loạt giải pháp được tiến hành
như: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng,
phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các DTTS [13;
tr 13-14]
Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các DTTS học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm nghiên cứu văn hoá, văn học, nghệ thuật là người DTTS
Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng DTTS
Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS, sớm giảm
tỷ lệ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, xoá mù chữ nâng cao dân trí, xoá
bỏ hủ tục” [13; tr 14 - 15]
Để thực hiện những nhiệm vụ mà Nghị quyết TW 5 khóa VIII đã đề ra, ngày 3/12/1998 Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 39/CT-TTg về việc đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào DTTS Chỉ thị đã nêu rõ:
Trang 17- Các ngành, các cấp phải có chủ trương, biện pháp gắn chặt nhiệm vụ phát triển văn hóa - thông tin miền núi và vùng DTTS với nhiệm vụ phát triên kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng…
- Làm tốt hơn nữa công tác giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc Đồng thời với việc sưu tầm, nghiên cứu, khai thác, và giới thiệu, cần có
kế hoạch bảo tồn các công trình, địa chỉ văn hóa có giá trị tiêu biểu ở các vùng DTTS
- Cải thiện và nâng cao một bước mức hiưởng thụ văn hóa thông tin ở miền núi và vùng DTTS Các ngành, các cấp phải có kế hoạch cụ thể nhằm tăng cường nguồn lực cho văn hóa - thông tin; đẩy mạnh các hình thức xã hội hóa các hoạt động văn hóa - thông tin, mở rộng sự hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực bên ngoài
Phấn đấu đến hết năm 2000 ít nhất mỗi xã có một bản (hoặc tương đương)
đăng ký và chỉ đạo tổ chức thực hiện có kết quả công tác xây dựng làng, bản văn hóa
- Tổ chức, xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các đội văn nghệ quần chúng cơ sở Thúc đẩy các hoạt động văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa cộng đồng, từ đó hình thành những điểm sáng văn hóa
- Củng cố và phát triển các đội chiếu bóng lưu động, đội tuyên truyền văn hóa lưu động phục vụ đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa…cải tiến và quản lý
để phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa - thông tin ở các cấp, xây dựng các trạm văn hóa thông tin ở các trung tâm cụm xã miền núi cơ sở
- Các cơ quan thông tin đại chúng cần cải tiến nội dung, hình thức tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sao cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện từng vùng; chú trọng vốn tuyên truyền văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc, các điển hình làm ăn giỏi, vận động giữ gìn, bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, bài trừ tệ nạn xã hội
- Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời nghiên cứu ban hành chính sách phù hợp đối với cán bộ văn hóa - thực hiện ở miền núi, vùng
Trang 18DTTS….Củng cố kiện toàn và phát triển các cơ quan đơn vị văn hóa - nghệ thuật chuyên trách phục vụ miền núi, tạo điều kiện để các cơ quan, đơn vị này phục vụ tốt hơn, nhất là đối với vùng cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa
- Nhà nước tài trợ những loại sách có tác dụng thiết thực đối với đồng bào
miền núi, DTTS Tiếp tục cấp báo chí Nhi Đồng và Báo thiếu niên Tiền
Phong cho học sinh các trường miền núi
- Trước mắt và những năm tới phải làm tốt hơn việc tổ chức giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, mở rộng hình thức những “Ngày hội văn hóa - thông tin - thể thao các dân tộc” [13; tr 21- 22]
Để tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ quan trọng đó trong giai đoạn phát triển hiện nay, có Quyết định số 19/2003/QĐ-TTG ngày 28/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa
đến năm 2005 (Trích) “Mục tiêu: Tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong việc xây dựng và phát triển văn hóa thông tin cơ sở, nhất là khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Không để tồn tại các điểm thiếu tổ chức các hoạt động văn hóa; xây dựng các điểm sáng hoạt động văn hóa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tạo sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển văn hóa trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [13; tr 33]
Để thực hiện được trên trực tế về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, một mặt pháp luật phải đảm bảo, mặt khác phải cho chính sách và tạo điều kiện để nhân dân các DTTS vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh tế và văn hóa, từng bước nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào; coi trọng đào tạo cán bộ văn hóa cơ sở là người dân tộc để có nguồn lực cho các
địa phương, tôn trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Nền văn hóa của các dân tộc phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác, vừa góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam
- Những nội dung cơ bản của việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Trang 19Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chương trình chiến lược đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức Vì vậy tuỳ theo điều kiện, nhu cầu của từng vùng, từng dân tộc mà vận dụng sáng tạo trong quá trình triển khai và thực hiện
Để tăng cường hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, cần chỉ ra
được những nội dung cơ bản và những mặt hoạt động thiết thực
Như trên đã phân tích, đời sống văn hóa cơ sở thể hiện ở hai mặt Một là phát huy vai trò của người dâửatong việc chăm lo đến đời sống văn hóa của cá nhân
và cộng đồng Mặt khác, vai trò của các tổ chức cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong việc thúc đẩy các hoạt động văn hóa ở cơ sở Xét dưới góc độ hai mặt cơ bản trên, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở bao gồm những lĩnh vực cụ thể:
Một là: Hoạt động thông tin cổ động
Đây là nhiệm vụ chủ yếu của công tác văn hóa thông tin, tuyên truyền và cổ
động Có vai trò làm cho mọi người tiếp nhận thông tin nhanh nhất, đầy đủ nhất
về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuyên truyền nêu gương người tốt việc tốt, phê phán các thói hư tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn hóa ở cơ sở Hình thành những thói quen của đông đảo quàn chúng nhân dân khi tiếp nhận thông tin cũng như cung cấp thông tin, đảm bảo thông tin nhiều chiều, khách quan, góp phần đẩy mạnh dân chủ hóa mọi mặt đời sống văn hóa, tăng cường hiểu biết, nâng cao dân trí Thông qua các hoạt động thông tin cổ động, các cơ sở có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác với nhau và với các vùng khác trong khu vực
Hai là: Hoạt động nghệ thuật quần chúng
Trong quần chúng không chỉ có nhu cầu thưởng thức mà còn có nhu cầu hưởng thụ sáng tạo nghệ thuật Chính những sáng tạo của họ, những tác phẩm nghệ thuật của quần chúng tự sáng tác và biểu diễn đã làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở cơ sở Bởi những tác phẩm nghệ thuật do quần chúng sáng tác thường phản ánh sát thực cuộc sống sinh hoạt và lao động của họ Nhờ những hoạt động nghệ thuật của quần chúng mà các loại hình nghệ thuật dân tộc được lưu giữ và phát huy, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
Ba là: Hoạt động thư viện đọc sách báo
Trang 20Chúng ta biết rằng sách, báo là nguồn tri thức vô tận góp phần nâng cao dân trí và sự hiểu biết cho mọi người Vì vậy việc xây dựng các thư viện, phòng
đọc, cung cấp các tủ sách, báo đáp ứng yêu cầu của nhân dân là việc làm hết sức cần thiết trong điều kiện mới hiện nay Không những thế, phong trào đọc sách báo của nhân dân phải lấy thư viện làm cơ sở, ngược lại thư viện phải dựa vào phong trào đọc sách, báo của quần chúng nhân dân để duy trì và phát triển
Bốn là: Hoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di tích danh lam thắng cảnh
Đây là hoạt động thiết thực nhằm duy trì và đẩy mạnh công tác xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở Bởi nó thiết thực góp phần xây dựng cảnh quan văn hóa
và giao lưu văn hóa, giao lưu truyền thống yêu nước và cách mạng cho nhân dân
Từ ngàn đời nay, nhân dân Việt Nam ta vốn có truyền thống yêu nước, giữ nước
và dựng nước Các di tích, danh lam thắng cảnh đã lưu giữ và phản ánh các giá trị lịch sử văn hóa đó Chính vì vậy công tác bảo tồn và tôn tạo các di tích trên thực
tế đã khơi dậy các giá trị truyền thống, có giá trị to lớn đối với tình cảm của nhân dân, làm lành mạnh hóa đời sống văn hóa của nhân dân, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Năm là: Hoạt động của nhà văn hóa – câu lạc bộ
Nhà văn hóa là một thiết chế văn hóa không thể thiếu khi nói đến việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Bởi vì thông qua các hoạt dộng của nhà văn hóa, câu lạc bộ mà nhân dân ta có thể sử dụng thời gian rỗi của mình để tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật của đất nước Những hoạt động này thực sự góp phần làm cho đời sống văn hóa ở cơ sở thêm phong phú, đa dạng
Sáu là: Công tác xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa
Thực chất của việc xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng đời sống văn hóa trong phạm vi vi mô, đó là gia đình Đây là yếu tố nền tảng và cốt lõi nhất hình thành nên giá trị văn hóa của cá nhân và cộng đồng Bởi lẽ tất cả đều xuất phát từ gia đình với tư cách là “tế bào của xã hội ”
Trong giai đoạn hiện nay, gia đình không chỉ đảm bảo chức năng duy trì nòi giống mà còn có vai trò to lớn về văn hóa, xã hội, kinh tế Do đó việc xây
Trang 21dựng gia đình văn hóa càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Việc cưới, việc tang, việc giữ gìn thuần phong mỹ tục ở trong mỗi gia đình được tổ chức tốt sẽ là cơ sở tạo nên môi trường văn hóa lành mạnh của xã hội
Bảy là: Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, x∙ hội hóa các hoạt động văn hóa
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là phong trào vận động quần chúng tích cực xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa của cộng
đồng, trước hết từ cơ sở Vì vậy, cần tập trung đẩy mạnh và phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói giảm nghèo, xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh, xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật, xây dựng môi trường văn hóa sạch, đẹp an toàn, xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động này, Thực hiện tốt các phong trào như: Xây dựng người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, xây dựng gia
đình văn hóa, đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng làng, bản, ấp khu phố văn hóa, xây dựng các cơ sở, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang… có nếp sống văn hóa Phát động phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ Có thể nói đây là những biện pháp huy
động sức dân chăm lo đời sống của dân Thực chất, đó chính là xã hội hóa các hoạt động văn hóa
Muốn xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, phải chú trọng phát triển các lĩnh vực trên đây để có hiệu quả thiết thực Điều quan trọng là nơi nào cũng phải
đảm bảo hoạt động về các mặt chung như vậy, nhưng phải tùy tình hình, hoàn cảnh của địa phương mà vận dụng, đề ra phương pháp thích hợp, có bước đi và sáng kiến hợp lý hợp tình Vì vậy, tập trung nghiên cứu thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các vùng DTTS ở các xã miền núi để nâng cao đời sống cho
đồng bào là một điều cần thiết và cấp bách
1.2 Vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đối với việc phát triển toàn diện vùng DTTS xã Yên Hân
Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá IX đã đưa ra Nghị
quyết chuyên đề: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
Trang 22thôn thời kì 2001 - 2010” Thực hiện đúng mục tiêu, Hội nghị đã đưa ra một số
chủ trương cụ thể trong đó có chủ trương “Xây dựng đời sống văn hóa - xã hội và
phát triển nguồn nhân lực” Trong đó, đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, xã
văn hóa, phục hồi và phát triển văn hóa truyền thống, phát huy tình làng nghĩa xóm, giúp đỡ và hỗ trợ nhau cùng phát triển
Như vậy, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là chiến lược rất quan trọng Từ lâu, Đảng ta đã đặt đúng vị trí công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa Xây dựng đời sống văn hóa cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đời sống của nhân dân có tiến bộ, đầy đủ và vững mạnh thì mới thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí và mức hưởng thụ văn hóa Công tác văn hóa thông tin là một trong những biện pháp và hình thức tuyên truyền phục vụ đắc lực và có hiệu quả Đây là một bộ phận của công tác văn hóa nói chung, mà trọng tâm của nó là xây dựng đời sống văn hoá ở cơ
sở, tổng hợp những hoạt động của các cơ quan làm công tác văn hóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân, xây dựng nếp sống lành mạnh, tiến bộ trên từng địa bàn dân cư
“Phát triển công tác thông tin đại chúng và các hoạt động văn hóa, khuyến
khích, động viên những nhân tố mới, kịp thời phê phán các tiêu cực trong xã hội, xây dựng đời sống lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục ở nông thôn Đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, y tế phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Tăng ngân sách cho giáo dục - đào tạo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa tạo điều kiện cho người nghèo ở nông thôn được học tập, có kế hoạch tuyển chọn và đào tạo cán
bộ, nhân viên phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.[14; tr 53-54]
Trang 23Theo Quyết định số 71/2001/QĐ - TTg ngày 04/05/2001 của Thủ tướng chính phủ về các chương trình trong giai đoạn 2001 – 2005, trong đó: “Xây dựng
và phát triển đời sống văn hóa cơ sở” là chủ trương đã được đề ra, nhằm nâng cao
đời sống văn hóa, dân trí cho người dân, nhất là ở những khu vực nông thôn và miền núi, vùng DTTS
Theo tưởng của hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương khóa IX
“cần đảm bảo sự gắn kết giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với không
ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, tức là gắn kết xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Hội nghị
cũng thảo luận và đưa ra các nguyên nhân về trình độ nhận thức và mức hưởng thụ đời sống văn hóa của nhân dân có quyết định nhanh hay chậm đến quá trình phát triển Đời sống văn hóa của nhân dân nhiều nơi ở cơ sở còn khó khăn và thiếu thốn, nhất là những vùng nông thôn và miền núi DTTS trình độ dân trí hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn, tập quán sinh hoạt còn lạc hậu, hủ tục còn nặng nề,
đó cũng sẽ là những hạn chế gây sự cản trở lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhận thức tầm quan trọng đó, mỗi kì đại hội của Đảng ta đều có những quan điểm chỉ đạo sát sao và cụ thể hơn, nhấn mạnh Văn kiện Đại hội lần V của
Đảng đã xác định “ đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đảm
bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, mỗi cơ quan, trường học, mỗi xã phường, hợp tác xã, mỗi cấp đều phải có đời sống văn hóa”[14; tr.101]
Để cụ thể hóa chủ trương trên của Đảng, ngày 19/12/1983 Hội đồng Bộ
trưởng ban hành Quyết định số 159/HĐBT nêu rõ: “phải đảm bảo phần lớn đơn
vị cơ sở đều có hoạt động văn hóa; nhân dân được đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật Đặc biệt chú ý các vùng cao và biên giới Theo phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, cần củng cố từng bước xây dựng các cơ sở văn hoá tuỳ theo thực tế cơ sở”[13; tr.3]
Trang 24Phương hướng Nghị quyết Trung Ương 5 khoá VIII chỉ ra rằng: “ Đặt
trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội”, đồng thời cũng nhấn mạnh cần: “ Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, bản làng, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi) đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân” Đó là chiến lược đối với toàn
xã hội, các cấp, các ngành trong cả nước [17; tr.36-37]
Trước đổi mới, đã từng tồn tại phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, trong đó xã, phường, khu dân cư, trường học, các đơn vị bộ đội được xem như
đơn vị cơ sở để tiến hành xây dựng đời sống văn hóa Chiến lược xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã đề ra 6 hoạt động, trở thành một môtíp chung cho hoạt
động đưa văn hóa về các cơ sở: Phong trào xây dựng nếp sống mới, văn nghệ quần chúng, giáo dục truyền thống, thông tin cổ động, xây dựng gia đình văn hóa mới, thư viện Muốn triển khai được các hoạt động đó, cần phải có cơ sở vật chất, trước hết là trụ sở, nhà cửa, phòng Các xã đã cố gắng xây dựng phòng đọc sách, thư viện, nhà truyền thống, đội văn nghệ…Kinh phí đa phần do từ trên rót xuống hoặc tích luỹ phúc lợi của hợp tác xã mang tính bao cấp Chính do phương thức hoạt động này mà khi chuyển sang nền kinh tế thị truờng cùng với sự giải thể của các hợp tác xã nông nghiệp, các thiết chế này không hoạt động nữa
Kể từ sau Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là nông thôn miền núi và vùng DTTS lại được quan tâm chú trọng Các phong trào xây dựng gia đình văn hóa làng bản văn hóa, phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”…đã có những tác động
nhất định đối với đời sống văn hóa của nhân dân ở nhiều nơi, đặc biệt là nông
thôn miền núi
Hiện nay, giữa nông thôn và thành thị trình độ dân trí còn chênh lệch khá lớn nhất là các vùng miền núi, trung du nơi tập trung đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống văn hóa còn nhiều thiếu thốn và lạc hậu, mà văn hóa cơ sở là
Trang 25Vì vậy, để tiếp tục “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc”, đưa chủ trương của Đảng về xây dựng đời sống văn hóa ở các cơ sở,
nhất là các xã, huyện của các tỉnh miền núi, từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân góp phần làm giảm khoảng cách và chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng
Nghị quyết Trung Ương 5 khoá VIII chỉ ra rằng: “Nhận thức được vị trí và
vai trò của đời sống cơ sở trong bối cảnh hiện nay, đẩy mạnh và phát triển công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là chiến lược mà trọng tâm là cuộc vận
động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã và đang được triển
khai và đưa vào thực hiện một cách có hiệu quả, thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân và chính quyền các cấp, nội dung là xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, khu dân cư tiên tiến, nếp sống mới…đang dần trở thành phong trào thi đua giữa các cá nhân, gia đình và cộng đồng Đời sống văn hóa tinh thần và vật chất của nhân dân được cải thiện rõ rệt về mọi mặt, góp phần vào
sự phát triển chung của địa phương và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vai trò của xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các vùng DTTS và miền núi bắt đầu từ sự tác động biện chứng giữa kinh tế và văn hóa Đời sống văn hóa
được nâng cao, người dân được tiếp xúc và hiểu biết về khoa học - kỹ thuật và công nghệ thì người ta mới có được suy nghĩ, tư duy và nhu cầu hành động cụ thể
để sống và làm việc phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và thế giới Hơn nữa, để phát triển cuộc sống, người dân có nhu cầu về kinh nghiệm lao động sản
Trang 26xuất, sinh hoạt, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa dưới nhiều hình thức thì họ mới thấy cần thiết có trình độ văn hóa để có khả năng tiếp nhận nâng cao và làm giàu thêm đời sống của mình
Muốn cho đồng bào DTTS được phát triển, đời sống được cải thiện, thu hẹp khoảng cách với đồng bào Kinh, thì việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
là nhiệm vụ ưu tiên và chủ yếu
Do đó, tạo điều kiện chăm lo đến đời sống văn hóa cơ sở là tạo điều kiện cho cuộc sống của nhân dân, đồng bào được nâng cao, có chính sách tuyên truyền phong phú, hợp lý thì người dân sẽ hiểu dần và tự giác, tự nguyện thực hiện thay đổi lối sống và hoạt động sản xuất theo hướng tích cực, không để cho sức ỳ trệ, lạc hậu kìm hãm sự tiến bộ Góp phần thúc đẩy và nâng cao ý thức, trách nhiệm và nhiệm vụ, nghĩa vụ của người dân đối với sự lãnh đạo, quản lý, của Đảng và Nhà nước, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật
Yên Hân là một xã vùng cao, vùng sâu và xa của tỉnh Bắc Kạn, người dân chủ yếu là dân tộc Tày sinh sống Do đó, màu sắc cuộc sống nơi đây mang đậm những phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Tày Quán triệt tinh thần nghị quyết TW 5 khóa VIII về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là thực hiện Nghị quyết TW Đảng khóa XI về công tác dân tộc, một yêu cầu bức thiết hiện nay là phải phát triển toàn diện các lĩnh vực
đời sống xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã
Trong những năm vừa qua, xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã
cố gắng kết hợp phát triển kinh tế và văn hóa, xác định và coi trọng vai trò của văn hóa đối với công tác xoá đói giảm nghèo tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư của các cơ quan ban ngành, đoàn thể cấp trên về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt
động; đầu tư các chương trình cấp sách báo: Nhân dân, Dân tộc và miền núi, Báo Thiếu niên Tiền phong và Báo Thiếu nhi cho trường học, các sách về kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt,…để nhân dân có điều kiện tiếp xúc và họ tập qua sách báo Xây dựng các thiết chế văn hóa thông tin như: Nhà họp thôn, Bưu điện, thư viện (tủ sách văn hóa)…
Trang 27Chương trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã mang lại cho nhân dân
sự khởi sắc rõ rệt Đến hết năm 2005, Yên Hân đã tự nguyện rút khỏi vùng 135 của Đảng và Nhà nước Ngày 30/12/2006, xã Yên Hân vinh dự được đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Nhà nước, do đích thân Tổng Bí thư Nông
Đức Mạnh đến thăm, làm việc và trao tặng Đó là kết quả mà nhân dân các dân tộc và chính quyền địa phương đã thực sự nỗ lực cố gắng rất lớn, là thành tích thiết thực chào mừng 10 năm thành lập huyện Chợ Mới năm 2008
Tuy còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và nhân dân luôn luôn cố gắng, khắc phục những khó khăn và thiếu thốn, lãnh đạo tập trung xây dựng phát triển kinh tế nông lâm nghiệp là thế mạnh của địa phương Ban lãnh đạo xã và các ban ngành đoàn thể luôn luôn đưa sự nghiệp phát triển đời sống văn hóa cho nhân dân làm mục tiêu để hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - chính trị - xã hội trong những năm tới
Trang 28Chương 2
Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa
vùng DTTS ở x∙ Yên Hân, huyện Chợ Mới,
tỉnh Bắc Kạn
2.1 Tổng quan về xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Về vị trí địa lý: Yên Hân là một xã vùng sâu, vùng xa nằm ở phía đông của
huyện Chợ Mới, cách thị trấn khoảng 23km về phía Đông bắc Được cấu thành 9 thôn bản gồm: Nà Đon, Nà Sao, Chợ Tinh 1, Chợ Tinh 2, Trà Lấu, Thôm Trầu,
Nà Giáo, Bản Mộc, Nà Làng Diện tích tự nhiên của xã là 2657,56 ha, gồm có 3 dân tộc anh em sinh sống là: Tày, Kinh, Dao Phía Bắc giáp xã Yên Cư, phía Nam giáp xã Bình Văn, phía Đông giáp xã Sảng Mộc (Thái Nguyên), phía Tây giáp xã Nông Hạ
Về địa hình: Địa hình của xã Yên Hân chủ yếu là đồi núi, các dãy núi khá
cao tạo thành hình vòng cung với những cánh đồng nhỏ dài, hẹp xen kẽ giữa các dãy núi Các dãy núi chiếm 1/2 diện tích, chủ yếu là núi đá vôi, đá cứng và
đồi.Thôn này cách thôn kia 1- 2 Km Đất đai ở đây chủ yếu là đất đỏ và đất xám bạc màu, thuận lợi phát triển nông lâm nghiệp, canh tác lúa nước và trồng các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày
Về khí hậu: Yên Hân đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
mưa nhiều Một năm chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu, đông Mùa đông ở đây khá lạnh, nhiệt độ trung bình 10 – 18 oC (từ tháng 10 đến tháng 4 dương lịch), mùa này thường xuyên có gió mùa đông bắc gây sương muối, sương giá làm ảnh hưởng đến đời sống sản xuất của bà con Mùa hè, khí hậu nóng ẩm, độ ẩm cao,
Trang 29mưa nhiều, lượng mưa trung bình hàng năm trên 850 mm/năm Điều kiện khí hậu này đã tạo cho địa bàn xã có độ nóng lạnh khá cân bằng Hơn nữa, địa bàn mạng lưới suối khe khá dày chảy theo hướng núi dưới các khe, thung lũng như: Tát Vạ, Thắm Làng, Thôm Trầu…lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt và canh tác của bà con
Về thảm thực vật: Với địa hình là đồi núi cùng với khí hậu nhiệt đới gió
mùa nóng ẩm nên Yên Hân vẫn còn có những thảm cỏ, rừng cây phong phú, đa dạng và mang tính bản địa Mặc dù xã không còn những cánh rừng nguyên sinh nhưng vẫn có nhiều loại gỗ quý như: Đinh, Sến, Táu, Vầu Trúc các loại với số lượng khá, nhất là những khu rừng nằm ở suối đầu nguồn như Tát Vạ, Đán Đeng, Khuổi Tát, Thẳm Chuông… Ngoài ra, còn có các loại cây dại nhỏ, số khác còn
là thực phẩm và dược liệu quý cho nhân dân như: Rau ngót rừng, Rau cây bồ khai, thòm bóp, Cây gió, sa nhân, nhân sâm, tam thất…Tuy đã bị người dân khai thác và phá rừng đốt nương làm rẫy, nhưng hiện nay rừng của xã đã được quy hoạch và giao cho người dân quản lý, trồng, sử dụng và khai thác có kế hoạch, nâng độ che phủ rừng lên 60% Theo chủ trương này, người dân rất hăng hái tham gia và đăng kí trồng rừng được nhà nước hỗ trợ theo chương trình dự án trồng và tái tạo rừng như dự án: 661, 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc, về trồng chè, quế, hồi…
Về động vật: tuy bị khai thác và săn bắt nhiều nhưng vẫn còn có nhiều
động vật quý như: Cầy, Lợn rừng, Hươu, Nai, Khỉ, Rùa, rắn và chim quý
Về giao thông vận tải: Trước đây việc đi lại của nhân dân gặp rất nhiều
khó khăn, đường dốc, hoang vu và ít người đi lại Trong những năm trở lại đây,
được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước, chính quyền địa phương đã tranh thủ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Điện, đường, trường, trạm từ các chương trình 135, xoá đói giảm nghèo, dự án VOICE xây dựng hệ thống thủy lợi kênh mương đê điều… Hiện nay cơ bản, xã Yên Hân đã có hệ thống giao thông chính đi qua trung tâm xã, liên thông sang các xã lân cận và lên từng thôn bản Mạng lưới điện sinh hoạt đã được triển khai từ năm 1999 và kéo dây sử dụng cho các hộ gia đình, trước đó nhân dân sử dụng đèn dầu và điện sinh hoạt tự tạo
Trang 30Thời điểm huyện Chợ Mới thành lập, xã Yên Hân đã có điểm xuất phát thấp, kết cấu hạ tầng còn thiếu thốn, chưa có đường ô tô đến trung tâm, hệ thống thuỷ lợi chưa được đầu tư, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, mùa khô kéo dài, mùa
đông lạnh có sương muối nên sản xuất còn rất bấp bênh Nền kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu, trình độ đội ngũ cán bộ xã còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như quản lý các hoạt động, tỷ lệ hộ nghèo còn trên 60%
Đảng bộ xã có 64 đảng viên và 08 chi bộ hoạt động, xã chưa có trường cấp 3, chưa có thư viện và bưu điện, chưa có điện và đường đi lại còn khó khăn, các thôn chưa có nhà họp thôn
2.1.3 Đặc điểm x∙ hội
Theo số liệu thống kê, dân số toàn xã có 370 hộ dân sinh sống với 1701 nhân khẩu (2008), có 3 dân tộc anh em sinh sống gồm: Tày, Kinh, Dao Người Tày có dân số đông nhất chiếm 96%, Dao chiếm 3% và Kinh 1% sinh sống xen
kẽ Dân cư tập trung thành từng bản, nà, khuổi, mật độ phân bố trung bình là 63 người/Km Do địa hình, đất đai sản xuất, ruộng đồng phân tán không đồng đều nên có bản mỗi thôn vài hộ, sống không tập trung để tận dụng đất đai làm nông nghiệp
Đảng bộ và nhân dân xã Yên Hân luôn nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, một lòng theo Đảng Dưới thời Pháp thuộc, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, cực khổ Từ khi có ánh sáng cách mạng của Đảng, vốn mang tinh thần yêu nước và đoàn kết, đồng bào đã sớm giác ngộ và hăng hái tham gia chiến
Trang 31đấu trên các chiến trường Hàng trăm thanh niên nam nữ đã tham gia chiến đấu
và phục vụ cách mạng, người dân thì tham gia sản xuất và dân quân tự vệ Nhiều anh hùng đã xả thân hy sinh cho tổ quốc vì sự nghiệp cách mạng cao cả, hiện nay toàn xã có 5 người được công nhận là liệt sĩ, 19 người hiện nay được trợ cấp thương bệnh binh và 41 người đã từng tham gia thanh niên xung phong Tiếp tục trang sử hào hùng đó, mỗi dân tộc mang trong mình những nét văn hóa phong tục tập quán riêng nhưng đồng bào luôn cùng nhau phấn đấu, tiếp tục xây dựng quê hương đổi mới Mỗi người dân, mỗi gia đình đều gắng thi đua sản xuất, giao lưu
và giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn
Đồng bào xã Yên Hân sống thành từng bản, hiện nay mỗi bản từ 40 - 50
hộ, cấu thành các gia đình nhỏ, phụ quyền thuộc nhiều dòng họ khác nhau Nhà ở phân bố và dựng chủ yếu ở chân núi liền nhau, trước nhà là cánh đồng, sau nhà là núi Trong bản có ít nhất từ 2 - 3 dòng họ lớn Hiện nay, nền kinh tế đã có sự chuyển biến, dân số cũng tăng lên nên cũng khá đông vui và tập trung nhiều dòng họ Các dòng họ lớn chủ yếu là họ: Ma, Nông, Hà, Nguyễn, Trịnh, Trần,
Lê, mỗi dòng họ đều có chi trưởng, chi thứ, dù ít hơn tuổi nhưng người chi trưởng vẫn là anh chị và có vai trò nhất định trong họ Hôn nhân ngoại tộc, tuy nhiên trong dòng họ cách nhau từ 4 - 5 đời cũng có thể kết hôn Trong dòng họ rất coi trọng lẫn nhau:
“Phân tốc chẳng hăn tạc
Khó khát chẳng hăn pì noọng”
Dịch nghĩa: Mưa rơi mới thấy vắt
Hoạn nạn mới thấy anh em
Nhìn chung các bản đều có ranh giới riêng bằng con suối, quả đồi Các dòng họ có mối quan hệ mật thiết với nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và các dịp lễ tết, ma chay, cưới xin, người dân ở đây có tục kết bạn (hắt tồng)
Nền kinh tế của xã Yên Hân chủ yếu là nông nghiệp, dân sống bằng nghề trồng lúa và ngô, sắn Cây lúa là nguồn lương thực chính và cũng là nguồn thu nhập lớn và quan trọng nhất hàng năm của đồng bào, có lúa nếp và lúa tẻ Trước
đây, do trình độ khoa học - kĩ thuật còn hạn chế, giống lúa thuần tự bảo quản,
Trang 32máy móc sản xuất không có nên sản lượng rất thấp Hơn nữa, người dân cấy trồng chủ yếu một vụ nên nhiều gia đình vẫn thiếu đói hàng năm
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước đầu tư khoa học kĩ thuật, đầu tư nhiều giống lúa mới có năng suất cao, có chính sách hỗ trợ vốn và kĩ thuật canh tác cho nông dân Hơn nữa, địa phương đã xác định được sản xuất nông lâm nghiệp là mặt trận hàng đầu nên đã tập trung chỉ đạo nhân dân phát huy mọi tiềm năng và thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng vụ với công thức (vụ đông xuân + vụ mùa + vụ màu), ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chú trọng đầu tư phát triển sản xuất các loại vốn cây trồng, vật nuôi có năng suất và giá trị kinh tế cao đã tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Đời sống nhân dân đã có sự thay da đổi thịt, từng bước đi vào ổn định Mấy năm nay, đồng bào trồng thêm cây ngô lai, thuốc lá, chè, dưa hấu…tăng thêm nguồn thu nhập cho cuộc sống Đặc biệt mô hình trồng dưa hấu của ông Trình Phúc Thưởng thôn Trà Lấu đạt 50 triệu/ ha
Cùng với sản xuất nông nghiệp, đồng bào trong xã còn biết làm nhiều nghề khác như chăn nuôi, dệt, đan các vật dụng (rá, rổ, dậu…) làm đồ dùng vận chuyển trong sinh hoạt và sản xuất Và chế biến lâm sản, hiện nay toàn xã có 7 xưởng chế biến gỗ, các hộ thực hiện theo quy định cấp phép kinh doanh Bên cạnh đó, trồng các loại cây ăn quả như: Na, mận, mơ, cam, dưa hấu…cũng giúp cho bà con có thêm thu nhập đáng kể
Sự tập trung phát huy nội lực và duy trì được sự phát triển ngày càng khá Tổng diện tích gieo cấy cả năm 2008 đạt 295,66 ha so với năm 2007 đạt 105,6%
kế hoạch đề ra Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 876,4 tấn đạt 109,3% kế hoạch, nâng mức lương thực bình quân đầu người là 312 kg/người/năm (2004) lên 480kg/người/năm (2008)
Nền kinh tế nông lâm nghiệp đã có nhiều phát triển, song kinh tế tự nhiên vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Mỗi thứ một ít chỉ đủ ăn trong gia đình, ngoài ra còn phụ thuộc vào thiên nhiên, thu hái các loại rau quả rừng: măng, tôm cá, nấm, rau rớn…Nhìn từ góc độ khoa học thì cảm thấy trì trệ
Trang 33chậm phát triển, song nhìn từ góc độ văn hóa thì đó là truyền thống, một phong tục nề nếp mang bản sắc dân tộc
Chợ Tinh là trung tâm trao đổi mua bán theo chợ phiên, cứ 5 ngày một phiên Đây là nơi người dân trao đổi hàng hoá và cũng được coi là nới để gặp gỡ giao lưu của bà con nhân dân trong xã Có người đi mua hay bán hàng, có người lại đi ngắm hàng hay đi chơi hẹn hò…Nhất là vào những chợ xuân và ngày giáp tết Tất cả tạo nên diện mạo của văn hóa chợ phiên miền núi
2.1.4 Đặc điểm văn hóa
* Văn hóa vật chất
Đồng bào các dân tộc cư trú thành các thôn, bản, làng, đó cũng là đơn vị nhỏ nhất Thôn bản đã có từ rất lâu, không biết từ bao giờ ông cha ta đã đặt những cái tên rất gần gũi, dễ gọi, dễ nhớ và ý nghĩa như: Nà Sao, Nà Đon, Nà Làng…các thôn thường cư trú gần khu vực có nguồn nước và tiện cho giao thông
đi lại
Về nhà ở: Nhà sàn vốn là văn hoá phi vật thể của dân tộc Tày ở vùng đông
bắc ở Yên Hân cũng vậy, người dân chủ yếu ở nhà sàn chiếm 95% Nhà sàn ở Yên Hân dựng theo kiểu 24 cột và 4 mái, nhà dựng dưới chân đồi
Cho đến nay, nhà sàn vẫn là kiểu nhà mà đồng bào ưa sử dụng, vì nó tiện
đi lại, có không gian thoáng đãng, mát mẻ và nhiều công dụng cho sinh hoạt,
đông thời cũng là thói quen, một nếp sống của đồng bào Nhà sàn phù hợp với
điều kiện địa hình miền núi ẩm ướt, trước đây mái nhà thường lợp bằng lá cọ, lá tranh vách nứa Dần dần, lợp bừng ngói máng tự làm Nhà hình chữ nhật, giữa nhà có bếp đun nấu, có bàn thờ tổ tiên
Bên cạnh nhà ở, hầu hết trường học, UBND xã, trạm y tế cũng đã được xây dựng Hệ thống điện, đường, trường, trạm đã đầy đủ Sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh, công tác phổ cập giáo dục được duy trì, xã đã hoàn thành Phổ cập giáo dục tiểu học và THCS Công tác chăm sóc sức khoẻ được chú trọng, cơ sở vật chất tuy thiếu thốn nhưng các y bác sĩ tận tình, kịp thời chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, Trạm có đủ các loại thuốc thông thường Cán bộ trạm có 4 đồng chí, hiện tại có một đồng chí đang đi học nâng cao chuyên môn dài hạn 9/9 thôn
Trang 34đều có nhân viên y tế hoạt động Các chỉ tiêu của các chương trình đều đạt 100%
và được nhân dân hưởng ứng Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình và trẻ em
được quan tâm, 8/9 thôn từ 12 năm trở lên không có trường hợp sinh con thứ 3 Xây dựng kế hoạch quỹ vì trẻ thơ, ngày toàn dân lao động vì hạnh phúc trẻ thơ
Về trang phục, các dân tộc ở xã Yên Hân đều có trang phục riêng, người
Tày và Kinh mặc áo dài và quần, còn người Dao thì mặc váy Nhưng hiện nay do chịu ảnh hưởng của kinh tế thị trường, khó có thể nhận ra đâu là người của dân tộc nào, chỉ có thể phân biệt qua ngôn ngữ, vì họ mặc âu phục khắp mọi nơi do
sự tiện lợi trong lao động, chất liệu đơn giản, dễ mua Tuy nhiên, người Dao và Tày vẫn còn giữ được trang phục truyền thống, thỉnh thoảng vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của những chiếc áo trong các dịp lễ, chợ phiên
Về ẩm thực, Đồng bào sử dụng những sản phẩm trong nông nghiệp và tự
nhiên Lương thực chủ yếu là gạo và ngô Trước đây, đời sống còn khó khăn, bà con sử dụng sắn khoai trộn gạo nấu thành cơm độn Từ xa xưa, đồng bào đã chú
ý đến việc chế biến các món ăn, nhất là trong những dịp lễ tết Những món ăn này chủ yếu được chế biến từ gạo tẻ, gạo nếp, khoai sắn…như bánh trôi, bánh dày, bánh dợm, bánh chưng, xôi 7 màu trông rất đẹp và ngon Những món đó
được dùng trong các dịp lễ tết, thờ cúng tổ tiên Đồng bào cũng tự cất rượu để uống, uống rượu được coi như một nét văn hóa trong giao tiếp thể hiện tấm lòng của đồng bào nơi đây giữa khách và chủ nhà Có rượu ngô là đặc trưng, rượu gạo, rượu sắn Bữa ăn hàng ngày chia làm 3 bữa, bữa chính ăn cơm với rau, thịt, cá, trứng tuỳ vào hoàn cảnh từng gia đình Có nhiều loại rau rất ngon hái từ rừng, bờ ruộng, ven suối làm thức ăn hàng ngày, cải thiện thay đổi bữa ăn
Về tang ma: Mỗi dân tộc đều có những quan niệm và nghi thức tiến hành
tang lễ riêng Việc tang ma là hành động mang ý nghĩa vừa là nghĩa vụ, vừa là lòng hiếu thảo của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ Nhìn chung, mọi gia đình khi có người mất đều mời thầy cúng, thầy mo, pụt đến làm lễ Làng xóm, láng giềng trong làng, bản mỗi nhà góp một chút gạo, củi tuỳ theo quy định trong quy
ước Trong thôn, mỗi nhà có 1 người đến giúp gia đình có tang làm đám tang,
đào huyệt, nấu nướng, dọn dẹp Hiện nay, bà con nhân dân các dân tộc thực hiện
Trang 35theo quy chế về nếp sống mới, nhanh gọn, thi hài người chết chỉ để 2 ngày rồi chôn ngay để tránh ô nhiễm
Về tổ chức cưới xin, tuỳ theo mỗi dân tộc mà các thủ tục và trình tự 1 lễ
cưới rất khác nhau Đó là phong tục mỗi dân tộc Hiện nay người Tày và Kinh lễ cưới tổ chức đơn giản, gọn nhẹ theo nếp sống mới, không còn tình trạng ăn uống linh đình nhiều ngày, cũng không còn kiêng kị cấm đoán nhiều như trước kia Hôn nhân là tự nguyện và được pháp luật công nhận bằng bản đăng kí kết hôn tại UBND xã Quan niệm cưới xin dần dần thay đổi, không còn hiện tượng thách cưới Việc cư trú sau khi cưới do vợ chồng trẻ quyết định Đối với dân tộc Dao thì vẫn còn giữ được những nét của dân tộc mình, ngày cưới cô dâu vẫn mặc trang phục của dân tộc mình nhưng cũng ít
* Văn hóa tinh thần
Về tín ngưỡng tôn giáo
Đời sống tinh thần của đồng bào cũng khá đa dạng và phong phú, góp phần vào việc tạo nên những nét văn hoá tâm linh của đất nước Đồng bào ở đây theo tín ngưỡng đa thần, đời sống tâm linh thể hiện qua các tín ngưỡng và tôn giáo mang tính dân gian Do ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo hòa quyện với
tín ngưỡng dân gian không còn thuần chất nữa mà đã bị dân gian hóa đi nhiều
Tuy ảnh hưởng nhưng đồng bào vẫn coi trọng sự che chở của các loại ma (phi) tổ tiên, thổ địa, thành hoàng Tín ngưỡng dân gian mà trong ngôn ngữ Tày
Nùng gọi chung là các “phi” là người dân coi vạn vật đều có linh hồn, còn gọi là ma: ma núi, ma thổ địa, ma rừng (phi khau), ma nhà (phi lườn)…Trong các loại
ma có ma lành và ma dữ Họ quan niệm, ma dữ luôn đi cùng và gây tai hoạ đến con người vì vậy họ cúng bái sử dụng các phép thuật để trừ ma dữ Chủ trì là các thầy Tào, vừa cúng bái chữa bệnh, vừa cầu kết hợp chữâ bệnh bằng các vị thuốc dân gian Đồng bào dân tộc xã Yên Hân đều có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong mỗi gia đình Theo bà con, Ông bà mất đi nhưng linh hồn vẫn tồn tại ở trên trời dõi theo phù hộ, che chở cho con cháu gia
đình bình yên, làm ăn mùa màng tươi tốt và may mắn Thờ cúng thành hoàng, thần thổ địa cũng được bà con coi trọng
Trang 36Càng ngày với sự phát triển và gia tăng dân số, người Việt di cư lên làm ăn sinh sống nên tín ngưỡng của nhân dân sở tại cũng có sự ảnh hưởng và giao thoa
về mọi mặt, các nghi thức cầu cúng, bói toán, lên đồng, giải hạn…ngày càng phong phú dưới nhiều hình thức và thể loại đi liền với các lễ hội dân gian của dân tộc, có liên quan đến sản xuất nông nghiệp Mỗi lần, lễ tết trong năm đều có ý nghĩa riêng, các lễ vật thường là sản phẩm của từng mùa Tết lớn nhất trong năm
là tết nguyên đán, đây là dịp mọi người trong gia đình xum họp, thờ cúng tổ tiên, dành cho nhau những lời chúc tụng, cầu mong những điều tốt đẹp và kiêng cữ để tránh cái xấu, cái dữ trong năm mới Đồng thời đây cũng là dịp cuối năm cũ - đầu năm mới, đồng bào ăn tết mừng kết thúc một năm lao động sản xuất, thu hoạch thắng lợi và chuẩn bị tinh thần thoải mái cho một mùa lao động sản xuất mới Mong muốn một năm mới nhiều may mắn và tốt đẹp Các món ăn dân tộc trong ngày tết không thể thiếu đó là: Bánh chưng, gà thiến, thịt lợn, bánh gio, bánh khảo, bánh chè lam, hoa quả…Trong dịp tết nguyên đán, tổ chức lễ hội lồng tồng (hội xuống đồng) rước và dâng lễ vật cúng thần nông, các trò chơi dân gian diễn
ra là ném còn (tọt còn), đẩy gậy, kéo co, đánh yến…6 năm trở lại đây, lễ hội lồng tồng đã không còn được tổ chức nữa, chỉ còn các trò chơi và hoạt động vui chơi giải trí, TDTT của các thôn tham gia vui xuân, mùng 1 tổ chức ném còn và vui xuân của từng thôn, mùng 2 là xã tổ chức tại trung tâm xã Tung còn, đánh quay
và đẩy gậy được mọi người thích nhất vì mọi lứa tuổi đều có thể tham gia Một bài thơ lưu truyền của người Tày mô tả:
…Mừa Nà lại tọt còn Mừa Nà Đon tọt xáng
Nà Lại bấu lìa còn
Nà Đon bấu lìa xáng Xáng ăn pây ăn mà Còn lăn pây lăn tẻo Báo tức xáng lừm nòn Thao tọt còn lừm khấu…
Trang 37Tết thanh minh vào ngày 3/3 AL, các dân tộc đều đi tảo mộ, làm các món
ăn như: Xôi, bánh lá ngải, bánh trôi, thịt gà
Tết đoan ngọ Mồng 5 tháng 5 còn gọi là tết diệt sâu bọ Đồng bào cho
rằng, đây là thời điểm đầu mùa, khí hậu nóng ẩm, là môi trường thuận lợi cho sâu
bọ phát triển Để diệt trừ sâu bọ, bà con cho rằng cần ăn những thứ nóng, có màu sắc đặc biệt như: xôi ngũ sắc, hoa quả, rượu nếp, hái lá cây thuốc để tắm
Tết trung thu, làm bánh cốm, xôi, trẻ em thì rước đèn lồng vào đêm rằm Trước đây, tết trung thu các nhà đều làm nếp cốm, thanh niên trong làng tụ tập nhau cùng giã cốm, một nét văn hoá đẹp nay đã không còn
Tết Rằm tháng Bảy, đây là tết lớn thứ hai trong năm với ý nghĩa xá tội vong nhân những ngày này, họ làm bánh gai, bánh dậm, xôi trám đen, làm bún
và thịt vịt để cúng tổ tiên Ngoài cúng tổ tiên, người ta còn làm mâm cúng ngoài sàn nhà cho những linh hồn không ai thờ tự để không quấy phá cuộc sống của họ
Tết mừng cơm mới Mồng 10 tháng 10, là thời điểm khi bà con thu hoạch xong lúa Bà con đem gạo nếp mới để làm bánh dày, mỗi nhà làm từ 1-2 cối bánh Mọi người đến nhà nhau lần lượt để giúp nhau giã bánh, một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng tốt đẹp hiện nay vẫn còn, thể hiện tính đoàn kết cộng đồng làng xóm
Người Tày có câu:
Thăng bươn cẩu khẩu mẩu còi mà Thăng bươn slíp tan nà còi tẻo
Trang 38Nghĩa là:
Đến tháng 9 mùa cốm hãy về
Đến tháng 10 mùa gặt hãy lại
Đó là các ngày lễ tết của đồng bào nhân dân xã Yên Hân, những ngày lễ tết nói chung có ý nghĩa lành mạnh, nói đến mong ước của người lao động làm sao để mùa màng tươi tốt, thu hoạch được nhiều, của cải dồi dào, đời sống ngày một ấm no, hạnh phúc Thực tế hơn, nó nhằm cải thiện phần nào đời sống của nhân dân sau những ngày làm việc vất vả, mệt nhọc trên đồng ruộng, nương rẫy
Về văn hóa, văn nghệ
Đồng bào xã Yên Hân có kho văn hoá dân gian khá phong phú, được thể hiện trong kho tàng truyện cổ tích như: Cẩu khây, tùa nhình tùa tếnh, Truyện thơ
Phạm Tải Ngọc Hoa…các câu truyện chủ yếu nhằm phản ánh đời sống của nhân
dân và có tác dụng giáo dục con cháu ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác Ngoài ra còn
có ca dao, tục ngữ, câu đố, những khúc hát đồng dao và các trò chơi dân gian (mèo đuổi chuột, ô ăn quan, đi cà kheo ) cũng đã góp phần tạo nên diện mạo của văn hóa dân gian Nổi bật hơn là còn có các làn điệu hát lượn, then, pụt và đối
đáp trong đám cưới, hội hè vẫn được coi như là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, hiện nay không còn phổ biến, chỉ còn một
số cụ đã có tuổi nhớ và được mời hát, biểu diễn trong các dịp lễ, tết truyền thống của nhân dân, lớp trẻ hầu như không còn ai biết Do đó có nguy cơ bị mất rất cao, nhưng địa phương vẫn chưa có những biện pháp quan tâm nào để lưu giữ bảo tồn loại hình nghệ thuật này
Về tiếng nói, chữ viết và ngôn ngữ
Bà con xã Yên Hân chủ yếu sử dụng tiếng Tày, đó là ngôn ngữ dân gian
được người dân sử dụng lâu năm Có chữ viết Nôm Tày được xây dựng trên mẫu tượng hình gần giống với chữ Nôm Việt, được dùng để ghi chép sách cúng, then,
nợ nần Một số các loại sách thì dùng chữ hán Hiện nay rất hiếm khi sử dụng và hầu như đa số người dân không biết viết chữ dân tộc mình
Về văn hóa gia đình
Trang 39Đồng bào ở đây chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo, do đó các gia đình theo chế độ phụ hệ, một số gia đình vẫn còn có những phong tục phong kiến như: con dâu không được ngồi cùng mâm với bố chồng và ngược lại,
bố chồng không được vào buồng cô dâu Đây là tập tục đã có từ ngàn xưa vẫn tồn tại trong một số gia đình
Với đời sống tinh thần phong phú và đa dạng như vậy đã tạo cho xã Yên Hân có đời sống văn hoá mang những nét đặc trưng riêng biệt so với các vùng khác, vừa có những nét hoà nhập và vừa mang tính cộng đồng
2.2 Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa ở xã Yên Hân
2.2.1 Quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở x∙ Yên Hân
- Những thành tựu đ∙ đạt được
Công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nói chung được khởi xướng từ
Đại hội V của Đảng Đây là một chủ trương lớn, có tính chất chiến lược nhằm nhanh chóng nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân trên mọi địa bàn của cả nước
Trong những năm qua, Bộ văn hóa thông tin đã tích cực triển khai và được các địa phương hưởng ứng rất mạnh mẽ Trong đó, Bắc Kạn là một tỉnh miền núi còn nghèo, sản xuất chậm phát triển, đời sống của nhân dân con gặp rất nhiều khó khăn Quán triệt nhiệm vụ chính trị của Đảng đề ra, ngành văn hóa thông tin luôn coi trọng vấn đề xây dựng văn hóa ở cơ sở, coi đây là nhiệm vụ cơ bản và thường xuyên, đồng thời như là một trong những mục tiêu quan trọng xây dựng ngành Ngay từ cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80, công tác này đã được triển khai một cách nhanh chóng xuống các cấp cơ sở huyện và xã
Huyện Chợ Mới đã tiến hành công tác điều tra nghiên cứu tình hình đời sống văn hóa nhân dân ở các xã trên địa bàn, đặc biệt là các xã khó khăn vùng sâu, vùng xa để đến một thời gian nhất định phải hoàn thành việc xóa bỏ các cơ
sở “trắng văn hóa” nghĩa là cơ sở nào cũng có tổ chức và hoạt động văn hóa, dần dần thu hẹp khoảng cách ngày càng ngắn về sự chênh lệch mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền
Trang 40Đảng và Nhà nước ta có chủ trương là: “Cần phải xây dựng một số công trình như nhà văn hóa, rạp chiếu bang, thư viện, sân vận động…ở huyện lỵ và các xã trong huyện, tạo thành một mạng lưới có chức năng xây dựng, phát triển và truyền bá nền văn hóa mới ở nông thôn” Còn về nội dung xây dựng nền văn hóa
ở cơ sở được quy vào mô hình “sáu mặt hoạt động”, tương ứng với những thiết chế giáo dục văn hóa chuyên ngành của ngành văn hóa thông tin: Thông tin cổ
động; văn nghệ quần chúng; thư viện đọc sách; bảo tàng truyền thống; nhà văn hóa - câu lạc bộ; xây dựng nếp sống văn hóa Bởi vậy các hoạt động trên đã góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, mức hưởng thụ văn hóa và phát triển khả năng sáng tạo của nhân dân trong khu vực
Từ những năm sau của thập kỷ 80, công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở bắt đầu khủng hoảng Nghị quyết 10 đã làm thay đổi hẳn cơ chế quản lý nông nghiệp, tạo bước phát triển mới ở nông thôn, nhưng cũng gặp không ít khó khăn đối với các hoạt động văn hóa văn nghệ ở cơ sở Xuất hiện tình trạng
“xuống cấp” đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là vùng nông thôn miền núi Hàng loạt các thiết chế được xây dựng trước đây ở huyện, và các xã đang dần sa sút các hoạt động, bị vô hiệu hóa, hư hỏng hoặc tồn tại một cách hình thức Quần chúng nhân dân thưa vắng dần hay ít tham dự các hoạt động văn hóa Lực lượng nhân sự làm công tác văn hóa cũng không còn tâm huyết, rất khó khăn trong việc tổ chức các buổi dạ hội, hội thi, hội diễn văn hóa, văn nghệ quần chúng Kinh phí hoạt
động văn hóa ở xã, phường trước đây do hợp tác xã giải quyết nay không còn nên các đội văn nghệ quần chúng, đội thông tin lưu động, tủ sách gần như tan rã Mức hưởng thụ văn hóa văn nghệ của đồng bào DTTS ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa rất thấp so với đồng bằng, thành phố, thị xã Nhiều nếp sống văn hóa cũng bị phá vỡ, tệ nạn xã hội phát triển: cờ bạc, nghiện hút, hủ tục mê tín dị đoan phát triển, phim ảnh nước ngoài có nội dung bạo lực, đồi trụy cũng len lỏi đến với đồng bào DTTS vùng hẻo lánh Tình trạng mê tín, hội hè, việc cưới, việc tang, vui chơi giải trí thiếu lành mạnh v.v… có xu hướng phát triển
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không được tuyên truyền kịp thời tới nhân dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa vùng đặc biệt khó khăn