1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tích chùa bổ đà trong phát triển du lịch văn hóa tỉnh bắc giang

81 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Di Tích Chùa Bổ Đà Trong Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Tỉnh Bắc Giang
Tác giả Bùi Thị Thắm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Lưu
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 6,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang, di tích chùa Bổ Đà là một trong những điểm du lịch trọng điểm không chỉ bởi giá trị về văn hoá và du lịch mà còn là vị trí thuận l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA VĂN HÓA DU LỊCH

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài :

DI TÍCH CHÙA BỔ ĐÀ TRONG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC GIANG

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Lưu

Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Thắm

Niên khóa : 2007 – 2011

Hà Nội - 05/ 2011

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Di tích chùa Bổ Đà trong phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang”, ngoài vốn hiểu biết và sự nỗ lực của bản thân em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy hướng dẫn, Tiến sỹ Nguyễn Văn Lưu_người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Văn hoá Du lịch, Ban giám hiệu trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường

Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang và Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Việt Yên đã tận tình giúp

đỡ, cung cấp những tư liệu quý giúp em hoàn thành khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU………

1 Lí do chọn đề tài………

2 Mục đích nghiên cứu………

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………

4 Phương pháp nghiên cứu………

5 Bố cục đề tài………

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ ĐỀ TÀI………

1.1 Du lịch và các loại hình du lịch………

1.1.1 Du lịch………

1.1.2 Các loại hình du lịch………

1.2 Du lịch văn hoá trong xu thế hiện nay………

1.2.1 Du lịch văn hoá………

1.2.2 Các điều kiện để phát triển du lịch văn hoá ………

1.2.3 Di tích và vai trò của di tích trong phát triển du lịch văn hoá…………

1.3 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam…………

1.3.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam………

1.3.2 Thực trạng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam………

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HOÁ TỈNH BẮC GIANG VÀ DI TÍCH CHÙA BỔ ĐÀ………

2.1 Khái quát về tiềm năng du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang………

2.1.1 Khái quát về lịch sử và địa lí hành chính………

2.1.2 Dân cư và đời sống kinh tế………

2.1.3 Tiềm năng du lịch văn hoá………

2.1.3.1 Hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá………

2.1.3.2 Hệ thống các lễ hội văn hoá dân gian………

1

1

2

3

3

4

5

5

5

7

10

10

11

12

14

14

20

24

24

24

25

27

27

31

Trang 4

2.2 Khả năng của di tích chùa Bổ Đà trong phát triển du lịch văn hoá………

2.2.1 Môi trường cảnh quan………

2.2.2 Bố cục kiến trúc………

2.2.3 Vai trò của di tích chùa Bổ Đà trong phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang………

2.2.4 Thực trạng hoạt động du lịch văn hoá ở di tích chùa Bổ Đà………

2.2.4.1 Khách du lịch và doanh thu du lịch………

2.2.4.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch………

2.2.4.3 Nguồn lao động phục vụ du lịch………

2.3 Đánh giá chung………

2.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân………

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân………

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN DI TÍCH CHÙA BỔ ĐÀ THÀNH ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH VĂN HOÁ………

3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch của Bắc Giang trong thời gian tới………

3.2 Xác định nguồn khách tiềm năng cho điểm tham quan du lịch văn hoá chùa Bổ Đà………

3.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho việc xây dựng và phát triển di tích chùa Bổ Đà thành điểm tham quan………

3.3.1 Nâng cao nhận thức của người dân về du lịch và lợi ích của du lịch……

3.3.2 Tu bổ và tôn tạo tài nguyên du lịch văn hoá đã mai một để tạo sự hấp dẫn du lịch………

3.3.3 Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch………

3.3.4 Phát triển nguồn nhân lực phục vụ khách………

3.3.5 Thiết lập tour tham quan………

33

33

35

39

41

41

42

43

44

44

45

48

48

51

53

53

57

58

59

60

Trang 5

3.3.6 Tuyên truyền, quảng cáo cho điểm tham quan du lịch văn hoá chùa Bổ

Đà……… 3.4 Một số kiến nghị với các cấp, các ngành và cơ quan chức năng…………

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay trên thế giới du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến và là thói quen trong nếp sống sinh hoạt của xã hội hiện đại Ở nhiều quốc gia du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao Du lịch còn là chiếc cầu nối hoà bình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Từ thập niên 90 của Thế kỷ trước trở lại đây, hoạt động du lịch ở Việt Nam ngày càng phát triển về mọi mặt nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Du lịch không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi giải trí mà còn nhằm thoả mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần Thông qua du lịch, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các dân tộc được mở rộng Năm 1979, Đại hội Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đã thông qua hiến chương du lịch và chọn ngày 27/09 làm ngày du lịch thế giới với các chủ đề du lịch cho từng năm, gắn du lịch với việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,

vì nền hoà bình và tình hữu nghị trên toàn thế giới Du lịch không còn là hiện tượng đơn lẻ, độc quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó Ngày nay nó mang tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, củng cố hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc

Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), đầu thế kỷ XXI, châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có hoạt động du lịch sôi động, với nhịp độ tăng trưởng du lịch cao và chiếm vị trí quan trọng trong du lịch thế giới Các nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ là trung tâm du lịch lớn và đầy hấp dẫn

Nắm bắt được xu hướng phát triển trên, Việt Nam đã xác định vị trí của du lịch trong thời kỳ đổi mới và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã ban hành nhiều chính sách, tạo điều kiện cho du lịch phát triển, đưa Việt Nam trở thành điểm du lịch có vị trí trong khu vực và thế giới

Bắc Giang là một tỉnh miền núi Bắc Bộ, có vị trí thuận lợi và nhiều tiềm năng để phát triển du lịch thành một ngành kinh tế có vị trí trong cơ cấu kinh tế của địa phương Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010

Trang 7

được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tháng 5/1995 đã xác định Bắc Giang nằm trong Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận_là trung tâm du lịch vào loại lớn nhất nước ta, trong vùng Du lịch Bắc Bộ Đây là một yếu tố thuận lợi cơ bản của Bắc Giang trong phát triển du lịch Là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, tài nguyên

du lịch Bắc Giang vẫn mạng đậm vẻ nguyên sơ, núi rừng Đến với Bắc Giang, du khách sẽ được cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng sinh thái, vẻ đẹp tự nhiên cảnh đồi núi mây, trời, sông nước…và cùng thẩm nhận những giá trị văn hoá độc đáo của vùng đất này

Trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang, di tích chùa Bổ Đà là một trong những điểm du lịch trọng điểm không chỉ bởi giá trị về văn hoá và du lịch mà còn là vị trí thuận lợi trên trục giao thông và gần với thành phố Bắc Giang_Trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của tỉnh Sự phát triển du lịch khu di tích Bổ Đà còn có ý nghĩa đặc biệt với sự phát triển du lịch chung của khu vực, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Là một sinh viên khoa văn hoá du lịch, em muốn thực hiện đề tài: “Di tích chùa Bổ Đà trong phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang” để ứng dụng những kiến thức đã học nhằm góp một phần nào đó để phát triển và quảng bá hình ảnh về

du lịch Bắc Giang cũng như sự phát triển du lịch của khu vực và cả nước

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu những giá trị văn hóa của di tích chùa Bổ Đà, đồng thời khẳng

định vai trò của những giá trị đó trong hoạt động du lịch

- Khảo sát thực trạng khai thác di tích chùa Bổ Đà phục vụ cho việc phát triển du lịch hiện nay

- Đưa ra một số kiến nghị, đóng góp để khai thác hiệu quả quần thể di tích trong việc phát triển du lịch văn hoá của tỉnh Bắc Giang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn tốt nghiệp của mình, em xin tập trung nghiên cứu những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của di tích chùa Bổ Đà và hiện trạng hoạt động du

Trang 8

lịch của khu di tích này trong phạm vi xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp: Thông qua những số liệu, tài liệu khảo sát, phương

pháp tổng hợp giúp cho việc đánh giá đúng hiện trạng phát triển du lịch, đồng thời đánh giá đầy đủ tiềm năng phát triển du lịch tại khu di tích Bổ Đà

- Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Tư liệu được thu thập từ các nguồn

Sở Thương mại và Du lịch tỉnh, UBND huyện, Ban quản lý di tích… là các công trình nghiên cứu, các bài viết, báo cáo tổng kết… sau đó xử lí để đưa ra những kết luận cần thiết

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Các số liệu thống kê trong nghiên cứu du

lịch rất quan trọng và phổ biến như số lượng khách, doanh thu hàng năm… Bằng phương pháp phân tích biểu đồ, bản đồ cho phép rút ra những kết luận về hoạt động

du lịch

- Phương pháp thực địa: Khảo sát tại điểm nhằm thu thập các thông tin cần

thiết, phương pháp này giúp cho ý nghĩa thực tiễn của đề tài được nâng cao

- Phương pháp điều tra xã hội học: Trong quá trình thực tế, tiến hành thăm

dò ý kiến, phỏng vấn một số khách du lịch, cán bộ quản lý và nhân dân địa phương… Các ý kiến này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc với các kết luận có liên quan tới nhu cầu của khách du lịch, tác động của hoạt động du lịch tới đời sống của nhân dân địa phương

- Phương pháp sưu tập tài liệu tham khảo: Tiến hành sưu tập các tài liệu có

liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài khoá luận thêm phong phú

5 Bố cục của đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về đề tài

Chương 2: Khái quát về tiềm năng du lịch văn hóa tỉnh Bắc Giang và di tích chùa Bổ Đà

Trang 9

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển di tích chùa Bổ Đà thành điểm tham quan du lịch văn hóa

Trang 10

sự lịch lãm ở đời, đã có quá trình hình thành và phát triển từ xa xưa ở cả phương Đông và phương Tây Bên cạnh đó, du lịch gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động của con người

Trong vòng hơn sáu thập kỷ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm

1925 tại Hà Lan, có rất nhiều khái niệm du lịch được đưa ra với những cách tiếp cận khác nhau

Thuật ngữ du lịch chính thức xuất hiện khi Thomas Cook (người Anh) tổ chức chuyến du lịch đầu tiên với phương tiện vận chuyển là tàu thuỷ, có phục vụ ăn uống với bánh mỳ kẹp thịt, trà và vui chơi giải trí (nghe nhạc) trong chuyến đi Kể

từ đây, ngành Du lịch bắt đầu xác định vị thế của nó và phát triển rộng khắp

Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng, về cơ bản tất cả các hoạt động di chuyển ở trong hay ngoài nước trừ việc cư trú chính trị, tìm việc và xâm lược, đều mang ý nghĩa du lịch

Trang 11

Nếu xác định du lịch là sự di chuyển nơi này sang nơi khác, thì từ hàng triệu năm trước con người đã thực hiện những chuyến đi từ Tây bán cầu sang Đông bán cầu Tuy nhiên, mục đích của những cuộc hành trình đó khá đơn giản, chủ yếu là tìm kiếm thức ăn và trốn tránh kẻ thù Mà du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác với nơi cư trú thường xuyên Thực chất, du lịch là quá trình du ngoạn của con người theo một lịch trình nhất định để thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ, không nhằm mục đích sinh lợi bằng đồng tiền

Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hoá, dưỡng sức… và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống”

Hội nghị Liên Hợp Quốc tế về Du lịch ở Roma năm 1963 định nghĩa: “Du lịch là tổng hoà các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nước của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Theo I.I.Pirogionic (1985), khái niệm du lịch có thể được xác định một cách đầy đủ như sau: “Du lịch là một hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức- văn hoá hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”

Định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada tháng 06/1991: “Du lịch là tổng hoạt động của con người đi tới một nơi khác ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Trang 12

Các học giả Trung Quốc trên cở sở phân tích bản chất và thuộc tính của việc

du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hoà tất cả các quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hoá nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới”

Theo Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”

Tóm lại, du lịch đã ra đời và trở thành một nhu cầu không thiết yếu trong cuộc sống của con người ngày nay Hoạt động du lịch không những giúp con người cân bằng cuộc sống, giúp làm việc hiệu quả hơn mà còn gắn kết mọi người trong cộng đồng, xã hội lại với nhau; cung cấp thêm sự hiểu biết về các vùng, miền văn hoá khác nhau

1.1.2 Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có tính đa dạng và phong phú về loại hình dựa vào tài nguyên, đặc điểm, vị trí phương tiện và mục đích Các loại hình du lịch được chia theo các tiêu chí cơ bản như: Tài nguyên du lịch, theo mục đích chuyến đi, theo lãnh thổ hoạt động, theo đặc điểm địa lý du lịch, theo phương tiện đi lại, theo loại hình cư trú, theo lứa tuổi, theo độ dài chuyến đi, theo hình thức tổ chức

tài nguyên rõ rệt Theo đó, hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm chính là:

Du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, các tài nguyên này do con người tạo nên, nó có giá trị về kiiến trúc nghệ thuật, thời gian và không gian Du lịch thiên nhiên là việc sử dụng các tài nguyên có sẵn trong tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu

về với thiên nhiên của con người

Trang 13

2/ Phân loại theo mục đích chuyến đi: Dựa vào mục đích chuyến đi có du

lịch thuần tuý và du lịch kết hợp Du lịch thuần tuý bao gồm các loại như: Tham quan (phong cảnh, công trình văn hóa… ); Giải trí; Nghỉ dưỡng (nghỉ biển, nghỉ núi); Thể thao( Golf, tennis, leo núi, săn bắn, câu cá…); Khám phá (mạo hiểm, tìm hiểu thiên nhiên, văn hóa…) Du lịch với mục đích kết hợp: Khách du lịch đi với những công việc khác nhau đồng thời kết hợp với việc tham quan những danh lam thắng cảnh tại nơi đi qua hoặc nơi đến; Tín ngưỡng (hành hương); Học tập, nghiên cứu (đi thực tế, thực tập, điền dã, thực hiện đề tài…); Thể thao (tham gia các cuộc thi đấu, tập luyện thể thao); Kinh doanh (tìm cơ hội, ký hợp đồng trực tiếp); Cộng tác; Chữa bệnh; Thăm thân; Mục đích khác…

3/ Phân loại du lịch theo lãnh thổ hoạt động: Sẽ có du lịch quốc tế và du

lịch nội địa Du lịch quốc tế là hoạt động du lịch diễn ra ít nhất ở 2 nước với việc đón khách nước ngoài vào nước bản địa và gửi khách ra nước ngoài, có sử dụng và thanh toán bằng ngoại tệ Du lịch nội địa là hoạt động du lịch diễn ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia

điểm địa lý, mỗi vùng du lịch có những đặc thù riêng mang thế mạnh để phát triển các loại hình du lịch như: Du lịch miền biển với các vùng ven biển, phát triển nhất vào mùa nóng; Du lịch nghỉ núi, thường phát triển khi có nhiệt độ thích hợp với việc nghỉ dưỡng; Du lịch đô thị; Du lịch đồng quê

5/ Phân loại theo phương tiện giao thông: Ngày nay có nhiều loại phương tiện giao thông dùng trong ngành du lịch như: Du lịch bằng xe đạp; Du lịch bằng ô tô; Du lịch tàu hoả; Du lịch tàu thuỷ; Du lịch máy bay… Trong đó, du lịch tàu biển hiện nay đang phát triển mạnh mẽ Có những con tàu du lịch như một khách sạn 5 sao trên biển đưa du khách đi du lịch vòng quanh các nước ven biển Ngoài những phương tiện giao thông hiện đại, một số động vật cũng được sử dụng trong phát triển du lịch, rất thích hợp với du lịch ở các bản, làng

Trang 14

6/ Phân loại theo loại hình cư trú: Phụ thuộc vào nhu cầu lưu trú của du

khách mà nhà cung ứng có thể đáp ứng vào các loại hình lưu trú: Khách sạn, Motel; Nhà trọ; Camping; Bungalow; Làng du lịch

7/ Phân loại theo lứa tuổi du lịch: Lứa tuổi khác nhau có nhu cầu và sở

thích du lịch cũng khác nhau Vì vậy, có du lịch thiếu niên (độ tuổi dưới 17); du lịch thanh niên (độ tuổi từ 17 đến 35); du lịch người cao tuổi

8/ Phân loại theo độ dài chuyến đi: Dựa vào thời gian dành cho du lịch của

khách có thể phân thành: Du lịch ngắn ngày (từ 1 - 3 ngày); Du lịch dài ngày, chủ yếu là nghỉ phép, nghỉ hè và nghỉ đông

9/ Phân loại theo hình thức tổ chức: Dựa trên việc đăng ký của du khách có

thể chia ra: du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân

Nhìn chung, việc phân loại theo các tiêu chí trên chỉ mang tính chất tương đối giúp các nhà quản lý thuận tiện trong việc theo dõi nhu cầu của khách nhằm đáp ứng tốt nhất cho du khách Vì trên thực tế, các loại hình du lịch này có sự liên quan đến nhau như khi đi du lịch du khách đều cần được phục vụ cả về phương tiện vận chuyển, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí… Các tài nguyên du lịch

tự nhiên và nhân văn đan xem với nhau trong các điểm du lịch, tuyến du lịch tạo nên các tour du lịch hấp dẫn Du khách có thể thẩm nhận các giá trị văn hóa của tài nguyên nhân văn bên cạnh những giá trị của cảnh quan thiên nhiên của các tài nguyên tự nhên

1.2 Du lịch văn hóa trong xu thế hiện nay

1.2.1 Du lịch văn hóa

Nền kinh tế càng hiện đại thì điều kiện sống của con người càng được nâng cao và các nhu cầu của con người xuất hiện ngày càng phong phú hơn Theo đó, các loại hình du lịch ngày càng đa dạng để phục vụ nhu cầu của con người Các loại hình du lịch du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch kết hợp với đi công tác, du lịch thám hiểm, du lịch kết hợp với

Trang 15

nghiên cứu khoa học… Trong đó, du lịch văn hoá là sự lựa chọn của đông đảo khách du lịch khi đến với Việt Nam

Du lịch văn hoá là hoạt động du lịch mà thông qua đó người ta có cơ hội để khám phá nền văn hoá, văn minh của một quốc gia, dân tộc, vùng, miền cụ thể nào

đó Du lịch văn hoá là phương tiện để duy trì, phát triển, làm phong phú và truyền

bá, tạo sức lan toả văn hoá rộng rãi hơn trong cộng đồng nhân loại, trong chiều sâu của không gian và thời gian

Nếu như du lịch là động lực cho sự phát triển của văn hoá, thì văn hoá là nền tảng, là điểm tựa cho sự phát triển bền vững của du lịch Một ví dụ cụ thể về điều

đó như: Các điệu nhảy của các dân tộc tạo nên sức hút, sự lôi cuốn và sôi động mạnh mẽ về nền văn hoá bản địa với du khách Các chương trình và hình thức được tiến hành đấy sắc màu, trang phục cổ truyền dân tộc, âm nhạc, điệu nhảy và trình

độ nghệ thuật đã làm tăng thêm sức cuốn hút đối với du khách, đồng thời qua hoạt động du lịch cũng tạo thêm nhiều cơ hội cho mới để duy trì và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc

Ngày nay, du lịch nói chung và du lịch văn hoá nói riêng đang bùng nổ và thu hút khách du lịch trên toàn thế giới Trải qua năm tháng của lịch sử, chúng ta vô cùng may mắn đã được ông cha để lại cho một số lượng lớn các di tích lịch sử văn hoá, kho tàng tri thức dân gian với các lễ hội truyền thống, các làn điệu dân ca mượt mà đằm thắm…để làm “vốn” Người ta đi du lịch để tìm kiếm cái mới lạ, để thẩm nhận các khác biệt với nơi mà họ vẫn thường sinh sống và làm việc Du lịch văn hoá mở ra cho mỗi người một thế giới mới lạ với nhiều điều kỳ thú trong văn hoá của các vùng miền mà du khách đặt chân tới

Việt Nam có mặt giữa dòng nhân loại từ lâu đời, được coi là một trong 34 nền văn minh gốc của loài người Văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng, giàu tính nhân văn, vừa cởi mở vừa hoà đồng lại giàu bản sắc Nó là điểm giao thoa của nhiều nền văn hoá, nhiều sản phẩm vật chất và tinh thần, thiên nhiên và xã hội, lại

Trang 16

có cốt cách bản địa bền vững, nơi chứa đựng nhiều biến đổi lịch sử có ý nghĩa lớn,

vì vậy từ lâu dành được mối quan tâm của nhân dân thế giới

1.2.2 Các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa

Trong những năm gần đây, du lịch văn hoá ngày càng được quan tâm và trở thành sự lựa chọn của rất nhiều du khách Để loại hình du lịch này ngày càng phát triển và phục vụ hiệu quả cho ngành Du lịch cũng như cho du khách, cần phải có những điều kiện để phát triển du lịch văn hóa Những điiều kiện nổi bật là nguồn tài nguyên nhân văn, nhu cầu của khách du lịch và yếu tố văn hoá trong du lịch

Để phát triển du lịch văn hoá, trước hết cần phải có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, đây chính là điều kiện đầu tiên cho phát triển loại hình du lịch này Việt Nam có một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô cùng phong phú với nền văn hoá có bề dày lịch sử hàng ngàn năm Bao gồm các di tích lich sử - văn hoá, các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số… Bên cạnh đó, bảo tàng là nơi lưu giữ rất nhiều hiện vật văn hoá, cũng là một điểm du lịch văn hoá hấp dẫn Đây là một thế mạnh của du lịch nước ta cần được bảo vệ và khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên này

Nhu cầu của du khách là yếu tố quyết định cho việc phát triển du lịch văn hoá Vì vậy, muốn phát triển loại hình du lịch này cần có sự xúc tiến quảng bá mạnh mẽ để kích cầu du lịch văn hoá trong thị trường khách du lịch

Ngoài ra, yếu tố văn hoá trong du lịch cũng là vấn đề cần được quan tâm trong xu thế phát triển du lịch ngày nay Vì văn hoá trong du lịch tạo nên môi trường du lịch văn hoá, đó là yếu tố quan trọng cho sự phát triển du lịch một cách bền vững

Loại hình du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch nổi trội, đồng thời cũng là thế mạnh của du lịch Việt Nam Song, việc phát triển loại hình du lịch này cần được sự đầu tư và quan tâm hơn nữa để ngày càng phát huy lợi thế của mình

1.2.3 Di tích và vai trò của di tích trong phát triển du lịch văn hóa

Trang 17

Theo “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu (nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993), di tích là tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ Theo Đại từ điển tiếng Việt thì di tích lịch sử văn hoá là “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hoá được lưu lại”

Theo Luật Di sản văn hoá thì “ Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”

Như vậy, có thể nói di tích hay di tích lịch sử văn hoá là các công trình kiến trúc, các đồ vật, di vật có liên quan đến các nhân vật, sự kiện lịch sử, các hoạt động văn hoá xã hội thuộc về cá nhân hay cộng đồng người trên một địa bàn cụ thể Trong quá khứ lịch sử, những công trình di tích được xây dựng lên hầu như chỉ để đáp ứng các nhu cầu tâm linh, tinh thần và các nhu cầu văn hoá xã hội khác của các tầng lớp nhân dân Trong giai đoạn hiện nay, khi kinh tế thị trường phát triển, nhu cầu con người phát triển nhanh chóng và đa dạng trong đó có nhu cầu du lịch Việc khai thác các giá trị nhiều mặt của hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá phục vụ phát triển du lịch là một công việc tất yếu và cần thiết

Trong sự phát triển du lịch của đất nước, các di tích lịch sử - văn hoá có vai trò hết sức quan trọng Chúng trở thành những điểm “mấu chốt” để xây dựng các tuyến điểm du lịch văn hoá, mở rộng các tour du lịch văn hoá đặc sắc tới các vùng quê của đất nước; nối rộng và mở rộng tầm hiểu biết của nhân dân địa phương, đồng thời khai thác thế mạnh của các vùng miền trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Đưa du khách tới thăm các di tích lịch sử - văn hoá, đối với một

số đối tượng khách còn là dịp tạo điều kiện cho họ được tiếp xúc với các sự kiện, nhân vật lịch sử được lưu giữ, tôn thờ tại các điểm di tích Bằng các hoạt động tôn giáo, tìn ngưỡng của mình tại các tuyến điểm di tích, du khách được thoả mãn các nhu cầu tâm linh và tinh thần chính đáng của mình Đây cũng là một thế mạnh đáng

kể mà hệ thống di tích lịch sử - văn hoá đem đến cho du lịch, giúp du lịch tăng thêm nguồn thu từ du khách với các đối tượng khác nhau không phụ thuộc vào giới

Trang 18

tính, lứa tuổi, chủng tộc, nghề nghiệp, quốc tịch… Đưa du khách đến thăm các di tích lịch sử - văn hoá cũng chính là một hình thức phát triển du lịch bền vững

Nước ta nằm trong vùng Đông Nam Á, có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, tương đối thuận lợi tuy cũng gặp không ít khó khăn về thời tiết, khí hậu Hệ thống di tích thường xuyên mở cửa hàng ngày, suốt bốn mùa để phục vụ nhu cầu tôn giáo - tín ngưỡng của các tầng lớp dân cư Điều đó giúp cho các di tích

có thể đón khách được quanh năm Là một nước có khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng

ẩm, các yếu tố địa hình, thời tiết, khí hậu, thuỷ văn thuận lợi đã góp phần tạo nên

hệ sinh thái có sự đa dạng về mặt sinh học; các yếu tố địa mạo, địa chất đặc thù hầu như còn giữ được vẻ nguyên sơ vốn có thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch trong nhiều thời điểm khác nhau trong năm Đến với các khu di tích, ngoài các giá trị về lịch sử huyền thoại, tâm linh tinh thần và nghệ thuật văn hoá - xã hội thì các khu di tích còn là những nơi có một môi trường sinh thái tự nhiên tốt Trong hệ thống di tích có nhiều cây xanh, hồ nước, tạo ra sự cân bằng sinh thái Cũng trong không gian này, chứa đựng các công trình kiến trúc và các tác phẩm nghệ thuật đẹp

đẽ, luôn trầm mặc với thời gian và thế cuộc Không gian nơi hệ thống di tích cũng

là không gian trong sạch, lành mạnh Đó thực sự là môi trường tốt, trong sạch theo

cả ý nghĩa hiện thực và ý nghĩa biểu tượng, thực sự có ý nghĩa, phát huy vai trò trong phát triển du lịch nói chung và loại hình du lịch văn hoá nói riêng

Tóm lại, di tích lịch sử có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển loại hình du lịch văn hoá Mà du khách tham gia các tour du lịch văn hoá không chỉ đơn thuần là đi nghỉ ngơi mà còn là cảm nhận, thẩm nhận sự mới lạ của các vùng miền văn hoá khác và thông qua đó nâng sự hiểu biết về các giá trị văn hoá của nhân loại Các di tích mang trong mình những giá trị tâm linh, tinh thần, mang dáng dấp

và dấu tích của nhiều giai đoạn lịch sử Chúng là linh hồn, thành tố không thể thiếu trong các tour du lịch văn hoá

1.3 Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam

1.3.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam

Trang 19

Bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển du lịch một cách bền vững đều phải căn cứ vào nguồn lực của đất nước mình và nguồn lực bên ngoài Một trong các nguồn lực phát triển du lịch đó là hệ thống di sản văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch văn hóa Hệ thống di sản văn hóa bao gồm di ssản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Hệ thống di sản này là những sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị phản chiếu lịch sử, văn hóa của đất nước Việt Nam chúng ta

Về hệ thống di sản văn hóa vật thể, bao gồm các thành tố tiêu biểu như: các

di tích lịch sử văn hóa; các di vật cổ vật, bảo vật quốc gia, các bộ sưu tạp trưng bày

ở các bảo tàng, nhà lưu niệm, nhà truyền thống…

Đối với hệ thống di sản văn hóa phi vật thể thì bao gồm các thành tố tiêu biểu như: tiếng nói; chữ viết; tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; diễn xướng dân gian;

lễ hội; văn hóa ẩm thực; trang phục truyền thống dân tộc; bí quyết làng nghề; tri thức y dược học cổ truyền; lối sống, nếp sống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Đối với đất nước ta, với chiều dài lịch sử, từ thời tiền sử đến thời đại các vua Hùng, các triều đại phong kiến và thời đại Hồ Chí Minh… với biết bao thăng trầm, biến động đã để lại một hệ thống di sản văn hóa hết sức đa dạng, phong phú và đặc sắc, trở thành một nguồn lực, một tiềm năng vô giá cho sự phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch văn hóa Việt Nam

* Về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa: Chúng ta có các khu di chỉ Thẩm

Khuyên, Sơn Vi, Quỳnh Văn, Hoà Bình - Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Sa Huỳnh, Ốc Eo…minh chứng cho sự tiến hoá của loài người trên đất Việt Đồng thời nói lên trung tâm văn minh trong thời tiền sử của dân tộc Việt Nam

Trong hệ thống các di chỉ này có những cụm di chỉ rất đặc sắc để khai thác đưa vào hoạt động du lịch, thu hút khách như cụm di chỉ Phùng Nguyên - Đồng Đậu- Gò Mun- Đông Sơn đã khẳng định có một nền văn minh Sông Hồng trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc Cụm di chỉ văn hóa Ốc Eo với những di vật đã khai quật được ở các miền thuộc châu thổ đồng bằng sông Cửu Long từ Ba Thê

Trang 20

thuộc tỉnh An Giang toả đến Long An, Đồng Tháp, Đồng Nai… đã nói lên một thời

kỳ lịch sử đã từng tồn tại một nền văn minh rực rỡ với những kiến trúc đền đài, thành quách tráng lệ và những vật dụng trang sức tinh xảo mang đậm dấu ấn Tây Phương và Thiên Trúc Đặc biệt, mới đây nhất, giới khảo cổ đã khai quật cụm di tích Hoàng Thành Thăng Long làm phát lộ lên nhiều tầng văn hoá trên mảnh đất Thăng Long - Hà Nội Ngày 21/07/2010 cụm di tích này đã được công nhận là Di sản văn hoá thế giới, nay đã và đang trở thành điểm du lịch văn hoá đặc sắc của đất nước, của thủ đô để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế

Tóm lại, hệ thống di tích khảo cổ ở nước ta hết sức đa dạng, đặc sắc, bí ẩn được khai quật và tiếp tục được khai quật để phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau,

và đặc biệt là hoạt động du lịch văn hoá của đất nước

Về hệ thống di tích lịch sử văn hóa thuộc thời đại Hùng Vương và gần 1000 năm sau Công nguyên, nước ta có hệ thống các di tích thuộc thời đại Vua Hùng như Đền Hùng, Cổ Loa và các cụm di tích phụ cận Chỉ tính riêng di tích đền Hùng

đã ẩn chứa trong nó biết bao bí ẩn với du khách Đây là đền thờ tổ của người Việt - với tục truyền tốt đẹp “Giỗ tổ Hùng Vương” vào ngày mồng 10/03 Âm lịch Nay ngày này đã trở thành quốc giỗ của Việt Nam, cũng là ngày những người con đất Việt về với tổ tiên cội nguồn dân tộc Đó cũng là một hiện tượng lịch sử, văn hoá hiếm có đang tồn tại trong lịch sử hiện đại của nhân loại ngày nay Di tích Đền Hùng hàm chứa cả di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, có sức cuốn hút lớn đối với

du khách trong nước và quốc tế

Tiếp đến là hệ thống di tích lịch sử- văn hoá suốt gần 1000 năm đầu sau Công nguyên Những di tích này nói lên quá trình dựng nước, chống ngoại xâm, sinh hoạt văn hoá của 54 dân tộc anh em trên đất Việt như di tích đền thờ Bà Trưng, đền thờ Bà Triệu, di tích về khởi nghĩa của Lý Bôn và Triệu Quang Phục… Cộng vào đó là hệ thống di tích kiến trúc đình chùa, tháp Chàm được xây dựng ở những thế kỷ đầu Công nguyên Tất cả hệ thống di tích này từng bước trùng tu, tôn tạo, quy hoạch- đầu tư để trở thành những điểm du lịch văn hoá thu hút du khách

Trang 21

Bên cạnh đó, nước ta có một hệ thống các di tích thuộc các triều đại phong kiến Việt Nam, từ Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê - Nguyễn Hệ thống đó có những di tích tiêu biểu như cố đo Hoa Lư, Hoàng Thành Thăng Long, Đền Đô, Đền Trần và chùa tháp Phổ Minh, Lam Kinh, cố đô Huế, Hội An… Ngoài ra còn có rất nhiều di tích kiến trúc đặc sắc như Thánh địa Mỹ Sơn, chùa Khmer ở Nam bộ, chùa Trăm Gian, chùa Thầy… Trong số này có 2 di sản vật thể là Cố đô Huế và Thánh địa Mỹ Sơn đã được công nhận là di sản văn hoá thế giới, đã trở thành những điểm du lịch thu hút đông đảo du khách quốc tế và trong nước Đặc biệt là những di tích trên địa bàn Hà Nội và cụm di tích cố đô Huế với một độ dày đặc những di tích bộ phận đã trở thành điểm đến liên tục quanh năm của du khách từ các vùng trong nước và du khách quốc tế

Cuối cùng là hệ thống di tích trong thời đại Hồ Chí Minh với những cụm di tích tiêu biểu như “ATK” (an toàn khu) ở Việt Bắc, di tích chiến tranh biên giới Thu Đông năm 1950, di tích Điện Biên Phủ, di tích Phủ Chủ tịch, địa đạo Củ Chi, nghĩa trang Trường Sơn… cũng từng bước được khai thác trở thành điểm du lịch hấp dẫn Ngoài ra, chúng ta cò những cụm kiến trúc Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh… cũng là những điểm du lịch văn hoá độc đáo để quảng bá cho du khách

Như vậy có thể khẳng định rằng: Nước ta có một hệ thống di tích lịch sử- văn hoá phản chiếu suốt thời kỳ tiền sử, thời đại các Vua Hùng, thời kỳ các triều đại phong kiến và thời đại Hồ Chí Minh… Đây là một nguồn lực rất quan trọng cho

sự phát triển du lịch văn hoá bền vững ở Việt Nam

* Về hệ thống các bộ sưu tập trưng bày và bảo quản ở các bảo tàng: Việt

Nam có một hệ thống các bảo tàng đa dạng, khắp cả nước, có sự hấp dẫn, thu hút khách du lịch như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng dân tộc học, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng cổ vật Chàm, Bảo tàng hải dương học, Bảo tàng tổng hợp tỉnh… Đây cũng là một nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch văn hoá

Trang 22

* Về hệ thống văn học, nước ta có một nền văn học dân gian đặc sắc, bao

gồm ca dao, tục ngữ, truyện cười dân, truyền thuyết, sử thi… Tiếp đó là dòng văn học Trung đại với những tác phẩm tiêu biểu dưới thời Trần; những áng văn bất hủ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… Đặc biệt là dòng văn học cận - hiện đại với những tác giả Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… Tất cả đều thuộc hệ thống di sản văn hoá phi vật thể và là một bộ phận của tiềm năng phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch văn hoá nói riêng Đặc biệt là các tour với đối tượng học sinh, sinh viên tìm hiểu những địa danh xuất hiện trong các áng văn thơ nổi tiếng như bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, bài thơ Tây tiến của Quang Dũng… Qua các tour du lịch này mà học sinh, sinh viên được hiểu sâu sắc hơn về các kiến thức

đã học ở nhà trường

* Về hệ thống các loại hình nghệ thuật truyền thống: Nước ta có các loại

nhạc cụ dân tộc, trong đó du khách đặc biệt thích thú với âm hưởng, tiết tấu của các dàn công chiêng, đàn T”rưng và đàn bầu Song song với các loại nhạc cụ dân tộc là những làn điệu dân ca như chèo, ví dặm, cải lương, các điệu hò… Đặc biệt phải kể đến Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan họ đã được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể thế giới Cùng với những loại hình sân khấu truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, múa rối nước… thực sự trở thành một nguồn lực để phát triển du lịch văn hoá ở nước ta Hầu hết các điểm du lịch trong cả nước đều tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống cho khách du lịch thưởng thức Tất cả những điều đó càng nói lên vị thế của các loại hình nghệ thuật dân tộc trong phát triển du lịch văn hoá của Việt Nam Đó cũng là một trong những con đường hữu hiệu để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

* Về phong tục tập quán các dân tộc: Nước ta có 54 dân tộc anh em Ngoài

người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất còn có các dân tộc Thái, Mường, Dao, Tày, Mông, Nùng… Mỗi dân tộc như vậy đều có những phong tục tập quán rất đặc sắc về ăn, ở,

lễ nghi, phong tục… Chỉ có riêng trang phục cũng hết sức đa dạng Phụ nữ Việt có

Trang 23

tà áo dài duyên dáng nổi tiếng Trang phục thổ cẩm của đồng bào dân tộc Thái, Mường, Dao, Mông… rất hấp dẫn đối với khách du lịch Chính những yếu tố đó đã tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước đến với các điểm

du lịch văn hoá như SaPa, Mai Châu, Buôn Đôn, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam…

* Về lễ hội để phát triển du lịch: Nước ta có rất nhiều lễ hội truyền thống

cũng như lễ hội hiện đại để thu hút du khách Những lễ hội nổi tiếng như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Hương, lễ hội Phủ Dày, lễ hội Núi Sam, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Lim… và các lễ hội hiện đại Hầu như các lễ hội đều diến ra tại các di tích lịch sử- văn hoá hoặc gắn liền với các sự kiện lịch sử Và được tổ chức vào mùa xuân để đón khách du xuân Trong đó, có những lễ hội kéo dài cả mùa xuân, thu hút hàng chục vạn du khách tham gia như lễ hội Chùa Hương, lễ hội Yên Tử… Như vậy, lễ hội cũng là một loại hình di sản văn hoá phi vật thể rất phong phú và đặc sắc của nước ta để phát triển du lịch văn hoá

* Về hệ thống các làng nghề truyền thống: Nước ta như làng gốm Bát

Tràng, gốm Quảng Ninh, gốm Đồng Nai, gốm Bình Dương, làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng tranh Đông Hồ, làng tranh Hàng Trống, các làng tơ lụa, làng chạm khảm gỗ… Các làng nghề truyền thống là một nguồn lực để phát triển du lịch để phát triển du lịch văn hoá của nước ta, vừa cung cấp các mặt hàng lưu niệm cho khách du lịch vừa là điểm tham quan du lịch văn hoá hấp dẫn

* Về văn hoá ẩm thực: So với các quốc gia, văn hoá ẩm thực Việt Nam hết

sức đặc sắc để thoả mãn nhu cầu thẩm nhận của du khách Ẩm thực là ăn uống Nhưng trong hoạt động du lịch đòi hỏi ăn uống phải đạt tới trình độ văn hoá, tạo nên “thú ẩm thực” của từng vùng, từng quốc gia để du khách được thưởng thức màu sắc, hương vị, nguyên liệu, cách chế biến, bài trí các món ăn, thức uống tạo ra cảm giác lạ

Văn hoá ẩm thực Việt Nam với các nét đặc trưng là nguồn lương thực và thực phẩm luôn tươi sống và phong phú để đưa vào chế biến các món ăn, thức uống phục vụ du khách, đồng thời mang tính bản địa rất cao Khác với ẩm thực Trung

Trang 24

Hoa luôn đậm độ béo và độ ngọt thì ẩm thực Việt lại ít béo và ít ngọt, người Việt

ưa các món “luộc” với sự đa dạng của các loại nước chấm Các món “nộm” của Việt Nam cũng là một sản phẩm mang tính bản địa hấp dẫn với du khách

Ẩm thực Việt Nam còn ưa chuộng sự đa dạng, hài hoà và tinh tế Vì vậy từ một nguyên liệu gốc, người Việt Nam có thể chế biến ra hàng chục món ăn khác nhau Đi sâu vào bức tranh văn hoá ẩm thực Việt Nam, ta thấy hiện lên những vùng

ẩm thực tiêu biểu là ẩm thực Hà Nội, ẩm thực Huế và ẩm thực Thành phố Hồ Chí Minh với sự đa dạng của các món ăn, thức uống đã trở thành thực đơn của các nhà hàng, khách sạn để thoả mãn thú ẩm thực của du khách

Như vậy, nhìn từ góc độ phát triển du lịch, văn hoá ẩm thực cũng là một nguồn lực để thu hút du khách Nó không chỉ giải quyết nhu cầu ăn uống đơn thuần, mà vươn tới nghệ thuật ăn uống để tạo ra ấn tượng trong các chương trình du lịch của du khách

1.3.2 Thực trạng phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam

Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia,

vì vậy nó xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam

Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là

cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ

Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ

nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du

Trang 25

lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo

ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Du lịch văn hóa được coi là một trong những loại hình du lịch có sức cuốn hút du khách nhất hiện nay Từ năm 2003 đến 2010, Việt Nam đã tổ chức các năm du lịch với các chủ

đề khác nhau Trong số đó, phần lớn là tổ chức loại hình du lịch văn hoá Như năm

2004 là năm du lịch Điện Biên “Hào hùng chiến khu”; năm 2005, du lịch Nghệ An

“Theo chân Bác”; năm 2006, du lịch Quảng Nam “Một điểm đến_hai di sản”; năm

2007, năm du lịch Thái Nguyên “Về thủ đô gió ngàn - chiến khu Việt Bắc”… đặc

biệt năm 2010, năm du lịch Thủ đô “Thăng Long - Hà Nội, hội tụ ngàn năm”

Ở Việt Nam, du lịch văn hoá dù đã được chú trọng đầu tư để phát triển nhưng Di sản nói chung và di sản văn hoá nói riêng là một nguồn lực lớn phát triển

du lịch văn hoá Hiện nay, cả nước có hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, một số có giá trị nổi bật toàn cầu Từ năm 1993 đến nay, UNESCO đã tôn vinh 9 di sản văn hóa và thiên nhiên nước ta là

di sản thế giới (có 6 di sản văn hoá: Cố đô Huế, Hoàng thành Thăng Long, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ Bắc

Ninh và Ca trù là những di sản văn hóa thể được UNESCO tôn vinh)

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm đầu tư của các cấp, du lịch nói chung và du lịch văn hoá nói riêng của Việt Nam có bước phát triển đáng kể, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế đất nước Thực tế cũng cho thấy, với những chiến lược quảng bá được thực hiện ở trong và ngoài nước, cùng với sự hợp tác với các tổ chức quốc tế, lượng khác du lịch văn hoá đến nước ta không ngừng tăng Nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị:

50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận) là

Trang 26

những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Theo đại diện của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam may mắn có được nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phong phú, đa dạng và đặc sắc Đó

là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch Sau khi được xếp hạng di tích quốc gia, số khách tham quan làng cổ Đường Lâm (Hà Nội) từ chỗ "gần bằng không" trong năm 2005, đã lên tới khoảng 40 nghìn lượt người trong năm 2009 Tại phố cổ Hội An, lượng khách du lịch đã tăng đáng kể (từ 160 nghìn trong năm 1999 lên hơn

1 triệu trong năm 2007) sau khi nơi đây được công nhận là di sản văn hoá thế giới

Cơ quan này sẽ phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Trường Đại học

Nữ Chiêu Hòa (Nhật Bản) thực hiện "Dự án hỗ trợ thúc đẩy phát triển cộng đồng tự lực bền vững thông qua du lịch di sản" trong 4 năm (từ 2011 đến 2014) Dự án sẽ được thí điểm tại 3 làng văn hóa: làng cổ Đường Lâm (Hà Nội), làng Phước Tích (Thừa Thiên Huế) và làng Đông Hòa Hiệp (Tiền Giang) với mục tiêu cải thiện mức sống thông qua việc xây dựng một cơ chế du lịch di sản tự lực bền vững

Thông qua hoạt động phục vụ du lịch tại di sản, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật trình diễn như: Đồ gỗ mỹ nghệ, tô, tạc, nặn tượng (Sơn Đồng - Hà Nội); khảm trai, xà cừ (Chuyên Mỹ - Hà Nội); đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh), Ngũ Xã (Hà Nội); gốm sứ Bát Tràng - Hà Nội, Chu Đậu - Hải Dương, Đông Triều - Quảng Ninh; tranh Đông Hồ - Bắc Ninh; mây tre Phú Vinh - Hà Nội… được phục hồi phát triển

Hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam đã và đang phát huy các giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống Du lịch văn hóa trở thành sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Việt Nam Tuy nhiên, việc phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch chưa thực sự tương xứng với tiềm năng Nhiều di sản có giá trị chưa bảo tồn và khai thác tốt, một số đã bị xuống cấp nghiêm trọng Với các di sản tầm thế giới, việc đầu tư phát triển du lịch cũng thiếu kế hoạch, chưa có sự hợp

Trang 27

tác đồng bộ của các ban ngành… Điều đó không có lợi cho bảo tồn và phát huy các di sản để phục vụ phát triển du lịch văn hoá

Trang 28

Chương 2

KHÁI QUÁT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HOÁ

TỈNH BẮC GIANG VÀ DI TÍCH CHÙA BỔ ĐÀ

2.1 Khái quát về tiềm năng du lịch văn hoá tỉnh Bắc Giang

2.1.1 Khái quát về lịch sử và địa lí hành chính

Bắc Giang vốn là miền Thượng của lộ Bắc Giang thời Lý - Trần (Thế kỷ X- XIV), trấn Kinh Bắc thời Lê (thế kỷ 15 - 18), tỉnh Bắc Ninh thời Nguyễn (thế kỷ 19)

Ngày mồng 10/10/1895, Toàn quyền Đông Dương Rút Xô (Roussean) ký Nghị định số 983 thành lập tỉnh Bắc Giang, lấy phủ Lạng Thương làm tỉnh lỵ Ngày 01/10/1959, Phủ Lạng Thương đổi tên thành thị xã Bắc Giang

Ngày 27/10/1962, Nghị quyết kỳ họp Quốc hội khoá II hợp nhất 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, bắt đầu hoạt động từ 1.4.1963, tỉnh lỵ là thị

xã Bắc Giang Ngày 06/01/1996, Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX tách tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh, bắt đầu từ 01/01/1997 bộ máy hành chính tỉnh Bắc Giang chính thức hoạt động, tỉnh lỵ là thị xã Bắc Giang Tỉnh Bắc Giang là tỉnh miền núi, thuộc miền trung du, cách Hà Nội khoảng

50 km về phía Tây Bắc; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn; phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên; phía Nam và Đông Nam giáp Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh Tỉnh có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên 9 huyện

và 1 thị xã là Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hoà, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng và Thị xã Bắc Giang, với 227 xã, phường, thị trấn; diện tích 3816,7km2; dân số trên 1,5 triệu người

Về mặt hành chính, Bắc Giang có lịch sử hành trên 100 năm Song, trước đó các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ đồ đá cũ ở Khe Táu, Chũ; di chỉ đồng thau ở Đồng Lâm, Bắc Lý, Song Giang (Hiệp Hoà)… Những chứng tích ấy chứng tỏ Bắc Giang là vùng đất cổ phát triển lên tục từ hàng vạn năm trước cho tới nay Trải qua

Trang 29

hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân các dân tộc Bắc Giang đã lập lên bao kỳ tích anh hùng ở Như Nguyệt, Xa Lý - Nội Bàng, Cần Trạm - Xương Giang, Yên Thế… mà sử sách đã ghi chép Các di tích lịch sử - văn hoá có giá trị để lại đã chứng minh Bắc Giang là vùng đất văn hiến cách mạng Có thể nói, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, Bắc Giang cũng xuất hiện những tên đất, tên người tiêu biểu Mỗi dân tộc chung sống lâu đời trên đất Bắc Giang đều có truyền thống tốt đẹp, mỗi địa phương trong tỉnh đều có tiềm năng phát triển Nguồn lực con người Bắc Giang đã, đang và sẽ được phát huy ở các thế hệ hôm nay và mai sau

2.1.2 Dân cư và đời sống kinh tế

Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du ở phía Đông Bắc thuộc vùng Trung

du miền núi phía Bắc với diện tích tự nhiên là 3.822,5 km2 với dân số (năm 2005)

là 1.563,9 nghìn người, đứng thứ 33 về diện tích và thứ 15 về dân số trong 64 tỉnh, thành phố lúc đó của cả nước

Bắc Giang còn có một hệ thống giao thông tương đối thuận tiện: Đường sắt

Từ Bắc Giang có thể về thủ đô Hà Nội, lên Lạng Sơn, sang Thái Nguyên và vùng công nghiệp mỏ Quảng Ninh Đường bộ: có quốc lộ 1A chạy qua, nối liền Bắc Giang với các tỉnh bạn Đường thủy: Bắc Giang có 3 con sông lớn (sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam) thông thương với các tỉnh bạn

Nằm không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, thành phố Bắc Giang cách thủ đô Hà Nội khoảng 50 km và cách cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, Tân Thanh khoảng 90 - 100 km Với vị trí của tỉnh, Bắc Giang có thể được ví như chiếc cầu nối giữa các tỉnh đồng bằng và thủ đô Hà Nội với miền trung du và núi phía Bắc rộng lớn, với đất nước Trung Hoa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị giữa miền xuôi, miền ngược và quốc tế

Bên cạnh đó, con người nơi đây luôn cần cù, chịu khó và yêu lao động Mặc

dù có một vị trí giao thông tốt cùng những điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng ngành Công nghiệp của Bắc Giang vẫn chưa phát triển, chủ yếu tập trung ở khu

Trang 30

vực tiểu vùng trung du với 10,6 % diện tích và 30,6% dân số của tỉnh Với đặc điểm tự nhiên là một vùng tiếp giáp giữa miền núi trung du và đồng bằng nên nền kinh tế Bắc Giang chủ yếu là Nông lâm nghiệp Thiên nhiên không ưu đãi cho Bắc Giang một vùng đồng bằng màu mỡ phì nhiêu, nhưng đã cho Bắc Giang một thế mạnh để phát triển những vùng trồng cây chuyên canh như vải thiều, nhãn, na dai, hồng không hạt… Trong đó, nổi tiếng nhất là những đồi vải thiều ở Chũ - Lục Ngạn, nơi tập trung trồng vải thiều lớn nhất cả nước Đất đá soi son ở đây rất phù hợp với vải thiều, nên cây được nuôi dưỡng tốt, lá xanh thẫm, tán tròn như những mâm xôi Đặc biệt, những chùm quả vải chín đỏ mọng, vỏ mọng căng, hạt rất nhỏ, cùi dày và ngọt lịm có vị thơm mát, từ lâu đã trở thành sản vật của quê hương Kinh Bắc

Trên cở sở nông nghiệp phát triển, nơi đây cũng phát triển mạnh mẽ các làng nghề truyền thống như làng gốm Thổ Hà, làng Kế với nghề làm bánh đa và nghề mộc, rượu làng Vân, mây tre đan, nghề thêu ren… Trong đó, nổi tiếng nhất phải kể đến là Rượu làng Vân:

“ Vân hương mỹ tửu lừng biển Bắc Chiến công Như Nguyệt vang trời Nam”

“Vân hương mỹ tửu” chính là tên rượu làng Vân, một thứ đặc sản không thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết hay làm quà Rượu được nấu bằng gạo nếp thơm ngon trồng trên chính trên cánh đồng làng Vân Xá, xã Vân Hà, huyện Việt Yên cộng với men gia truyền bằng các vị thuốc Bắc quý hiếm và nghệ thuật nấu rượu tài tình của người làng Vân Ngày nay, rượu làng Vân trở thành một món quà không thể thiếu của những du khách khi đặt chân tới Bắc Giang

Như vậy, các làng nghề truyền thống không chỉ mạng thêm nguồn thu cho người dân mà nay đã góp phần làm phong phú thêm sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu về thưởng thức ẩm thực đặc sản địa phương du khách mỗi khi đến với Bắc Giang Bên cạnh đó, làng nghề còn là những điểm du lịch hấp dẫn trong các tour du lịch văn hoá hoặc tour du lịch văn hoá kết hợp du lịch sinh thái

Trang 31

Trong tương lai, kinh tế Bắc Giang sẽ được phát triển mạnh Các thị trấn tiếp tục được đầu tư, nâng cấp để làm chức năng hạt nhân, trung tâm thương mại, trung tâm văn hoá, nghệ thuật, thể thao cho từng huyện Hệ thống kết cấu hạ tầng như đường giao thông, hệ thống cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống chiếu sáng, đất xây dựng các khu vui chơi, giải trí… sẽ được phát triển đồng bộ và nhịp nhàng Kinh tế nông thôn đã, đang và sẽ được phát triển theo hướng công nghiệp háo nông thôn, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, khôi phục và mở rộng sản xuất với các làng nghề thủ công mỹ nghệ… trong mối quan hệ phân công hợp tác gắn kết với đô thị Tất cả đang tạo đà cho phát triển kinh tế nói chung và ngành du lịch Bắc Giang nói riêng

2.1.3 Tiềm năng du lịch văn hoá

2.1.3.1 Hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá

Bắc Giang có bề dày văn hoá lịch sử, với 2.337 di tích văn hoá lịch sử (số liệu kiểm kê đến hết năm 2007), trong đó có 385 di tích được xếp hạng (108 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 277 di tích được xếp hạng cấp tỉnh) và hàng ngàn lễ hội truyền thống Điều đó tạo nên cho Bắc Giang một tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế, du lịch, đặc biệt là du lịch văn hoá

Là một vùng đất giàu truyền thống văn hoá lịch sử, Bắc Giang có một hệ thống các di tích mạng dấu ấn lịch sử cách mạng và các di tích đình, chùa gắn với

sự tiếp nhận và truyền bá đạo Phật mang nhiều giá trị nghệ thuật và kiến trúc

Một số kiến trúc mang dấu ấn lịch sử:

* Thành cổ Xương Giang: Thành thuộc xã Thọ Xương, cách thị xã Bắc Giang 1 km, bên cạnh quốc lọ 1A đi Lạng Sơn Thành do nhà Minh xây dựng vào thế kỷ XV để trấn giữ cửa ngõ đường rút quân phía Bắc Những dấu tích hiện nay cho biết thành cổ Xương Giang hình chữ nhật, dài 600m, có 4 cổng chính, diện tích khoảng 27 ha, tường đắp đất cao, có pháo đài ở 4 góc, hoà rộng vây quanh Đây là nơi diễn ra trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/09/1426 và trận đánh lịch sử thắng 10 vạn quân Minh oanh liệt ngày 03/11/1427, chôn vùi mộng xâm

Trang 32

lăng của các đạo quân xâm lược Kỷ niệm chiến thắng này, hàng năm tỉnh Bắc Giang đã tổ chức lễ hội Xương Giang vào ngày mồng 6 và mồng 7 tháng Giêng,

Âm lịch

* Di tích khởi nghĩa Yên Thế: Từ thị xã Bắc Giang ngược lên phía Tây Bắc,

du khách sẽ tới huyện Yên Thế Yên Thế gắn liền với cuộc khởi nghĩa nông dân do thủ lĩnh áo vải Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) lãnh đạo Khởi nghĩa nông dân Yên Thế là sự minh chứng hùng hồn cho tinh thần bất khuất, tự lập, tự cường của nhân dân Bắc Giang nói riêng, của dân tôc ta nói chung mà lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, giai cấp nông dân đã không khuất phục kẻ thù, chống lại thực dân trong suốt 30 năm Về Yên Thế, du khách có thể đến thăm đồn Phồn Xương_ trung tâm của cuộc khởi nghĩa, bảo tàng Hoàng Hoa Thám_nơi lưu giữ các di vật của cuộc khởi nghĩa

* Di tích cách mạng Hoàng Vân - Hiệp Hoà (còn gọi là An toàn khu 2): Đây là nơi hoạt động bí mật của các đồng chí lãnh đạo trung ương thời kỳ tiền khởi nghĩa (1940 - 1945) để chuẩn bị cho ngày giành độc lập Tại khu di tích có 119 gia đình được công nhận là cơ sở cách mạng, trong đó 7 di tích được công nhận là di tích lịch sử (đình làng Xuân Biểu, đình Vân Xuyên, nhà ông Ngô Văn Thâu, Nguyễn Văn Chế, Ngô Văn Đông, đền Soi, đình Chợ Vân) Ngày nay, nhà Bảo tàng của khu di tích cách mạng Hoàng Vân còn lưu giữ được một số tài liệu, hình ảnh và hiện vật của cuộc cách mạng thời tiền khởi nghĩa, phục vụ du khách đến thăm quan, nghiên cứu

Vang vọng chuông chùa

* Chùa Bổ Đà: Chùa nằm trên ngọn núi Bổ Đà, còn có tên chữ là “Tứ Ân tự”, thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên Chùa là trung tâm Phật giáo thời nhà Lê, vốn có nguồn gốc từ thời nhà Lý ở thế kỷ 11, có diện tích là 51.784 m2, chia làm 3 khu chính gồm khu vườn tháp, khu vườn chùa và khu nội tự Chùa Bổ Đà là trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh, là nơi kế truyền các vị tổ sư khai trường thuyết pháp đào tạo tăng ni, thuộc dòng phái Trúc Lâm hay Trúc Lâm tam tổ Bên trong chùa,

Trang 33

còn lưu giữ nhiều hiện vật, tài liệu quý, tượng thờ 3 vị tổ… Các tổ sư trong chùa đã cho khắc nhiều bản kinh để phục vụ việc đào tạo truyền bá kinh Phật, làm phong phú thêm kho tàng pháp bảo của Phật Giáo Việt Nam Chùa được xây dựng ở vị trí

có cảnh quan đẹp nên còn là một thắng cảnh hấp dẫn du khách đến tham quan

* Chùa Đức La: Chùa toạ lạc tại thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, cách Hà Nội 80 km Chùa có tên chữ là Vĩnh Nghiêm tự, là trung tâm Phật giáo do vua Trần Nhân Tông sáng lập vào thế kỷ 13, nay vẫn trầm nghiêm dựa lưng vào dãy núi Cô Tiên Bên trái chùa là bờ sông Lục, trước mặt chùa là những cánh đồng ruộng xen giữa các xóm làng, xa xa là dãy núi Nham Biền nên thơ Chùa Đức

La có lối kiến trúc đồ sộ, nằm trên một trục dọc hướng Đông Nam gồm 4 khối lớn Khối thứ nhất là 3 nếp chùa Hộ, Thiêu Hương và chùa Phật liên kết với nhau trong một khối kiến trúc kiểu chữ công Toà Thiêu Hương lộng lẫy với 3 lớp hoành phi

và cửa võng sơn son thiếp vàng Khối thứ 2 làm theo kiểu chữ công nhưng thấp và nhỏ hơn gọi là nhà tổ đệ nhất Bên trong vẫn còn lưu giữ tấm hoành phi “Trúc Lâm Hội Thượng” cùng 3 pho tượng Trúc Lâm Tam tổ Khối thứ 3 là gác chuông và 2 tầng mái, và khối thứ 4 là nhà tổ đệ nhị, kết cấu kiểu chuôi vồ, có 2 pho tượng cổ tiêu biểu cho nghệ thuật tạc tượng thời Nguyễn Hơn 7 thế kỷ trôi qua, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn còn nguyên vẹn và là trung tâm Phật giáo lớn của Bắc Giang

* Chùa Tiên Lục: Được xây dựng từ thế kỷ 18, chùa có những nét kiến trúc

cổ độc đáo và hấp dẫn Đặc biệt, nơi đây có cây Dã Hương ngàn năm tuổi với chu

vi gốc hơn 13m, là một trong hai cây Dã Hương duy nhất còn lại trên thế giới Tương truyền cách đây khoảng một trăm năm trở lại, có nhiều cành cây to bị gãy, làm cho tán lá của cây hẹp dần, và mỗi lần như vậy đều linh ứng với những sự kiện trọng đại của đất nước Cây Dã Hương ngày nay là tài sản vô giá, được các cấp chính quyền và nhân dân địa phương bảo tồn và giữ gìn

* Chùa Làng Vẽ (tên chữ là Huyền Khê tự): Nằm ở trung tâm làng vẽ và phường Thọ Xương, chùa có kiến trúc liên hoàn kiểu nội công ngoại quốc Trước chùa là hồ nước rộng với cây đa, bến nước, sân đình Chùa được xây dựng từ thời

Trang 34

Lê_Vĩnh Thịnh (1705 - 1719) Bên trong chùa, hệ thống tuyến tượng Phật được bài trí hoàn hảo với điêu khắc tinh xảo, tỉ mỉ Trải qua 300 năm, chúng vẫn giữ được nét sơn son thiếp vàng lộng lẫy Đây là một ngôi chùa cổ kính được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1994

Đình cổ ở Bắc Giang

* Đình Lỗ Hạnh: Đình toạ lạc tại xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà, là công trình kiến trúc độc đáo được xây dựng từ thời nhà Mạc (1576), từng được khắc ghi “Đệ Nhất Kinh Bắc” Lúc đầu, đình Lỗ Hạnh chỉ là tòa đại đình chữ “nhất” Sau lần trùng tu năm 1850, đình có kiến trúc kiểu chữ “công” với hậu cung và hai dãy tả vu

và hữu vu phía trước Đình gồm 5 gian 2 chái, nền dài 23,5m rộng 12,3m Các vì gian gữa kết cấu theo kiểu chồng rường-giá chiêng; vì gian bên kiểu kẻ chuyền-giá chiêng Các xà ngang liên kết các vì chuyền vươn xa đưa đầu mái vượt ra không gian khá lớn Bên trong đình là các di vật quý như bộ tranh gỗ phủ sơn thế kỷ 18 -

19 vẽ cảnh bát tiên dài 2,23m, cao 1m; đôi nghè gỗ thế kỷ 17 sơn son thiếp vàng; tượng Bà chúa Tiên Dung cùng bài vị Cao Sơn Đại Vương và Thành Hoàng Làng

* Đình Thổ Hà: Đây là ngôi đình cổ được xây dựng vào đời Lê Hy Tông trên khu đất rộng 3000 m2, xung quanh được bao bọc bởi những cây cổ thụ, thuộc làng Thổ Hà, huyện Việt Yên Được xây dựng theo kiểu chữ “công” Mái đình lợp ngói mũi hài to bản, bốn góc là những đầu đao cong vút Đầu bờ nóc uốn quanh hình lưỡi liềm, góc mái có gắn nghê, thú nhỏ bằng sành nung già lửa đỏ tía Bái đường chia làm 7 gian, bộ khung mái chạm trổ tinh vi với nhiều cảnh trang trí sinh động Bức cửa võng thiếp vàng chạm trổ lộng lẫy làm bái đường càng thêm trang nghiêm

cổ kính

* Đình Phù Lão: Là ngôi đình cổ nhất ở Bắc Giang, đình Phù Lão có niên đại gần 300 năm, được dựng trên một khu đất cao trước cửa làng Phù Lão Trước đây, đình có kiến trúc kiểu chữ nhất, chỉ có toà đại đình, về sau gian giữa nối thêm 2 gian hậu cung, cách sân 5m xây thêm 3 gian nhà nhỏ làm tiền tế Các vì kèo được làm kiểu chông rường-giá chiêng Đặc biệt, bốn cột cái được thêm vào bốn bức cốn

Trang 35

tại cột chạy dài gần bằng cả gian đình Trong lòng toà đại đình là một rừng chạm khắc với đủ các thủ pháp chạm nền, chạm thủng, chạm bong kênh… Đình Phù Lão vẫn giữ vẻ đẹp khiêm nhường với sự hoà hợp cùng trời đất, bên bờ tre, cây đa, bến nước, ao làng… Nhưng lại chinh phục lòng người bởi sự cân xứng kiến trúc gỗ thể hiện sự sáng tạo, công phu

2.1.3.2 Hệ thống các lễ hội văn hoá dân gian

Nằm trong vùng Kinh Bắc xưa, vùng đất Bắc Giang có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời, hàng năm có nhiều lễ hội cổ truyền được tổ chức ở hầu hết các làng quê trong tỉnh Một số lễ hội tiêu biểu:

* Lễ hội Xương Giang : Hội được tổ chức vào ngày 6 - 7 tháng Giêng Âm lịch hàng năm tại sân vận động thị xã Bắc Giang và nơi dâng hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sĩ Lam Sơn ở thành Xương Giang thuộc khu ngã 3 Quán Thành Lễ hội Xương Giang tái hiện lại một phần lễ hội toàn thắng của nghĩa quân Lam Sơn khi xưa, phản ánh lịch sử hào hùng chống xâm lăng của dân tộc Trong ngày hội, từng đoàn người với cờ, trống, biểu ngữ giăng khắp mọi nẻo đường Không khí tưng bừng, rộn rịp…Tại khu vực sân vận động, thanh niên nam nữ thi cắm trại; đoàn nghệ thuật tái hiện lại quang cảnh năm xưa: đọc Cáo bình ngô, lễ xuất quân… Lễ hội Xương Giang được tổ chức với quy mô lớn, khí thế mạnh mẽ,

thu hút được nhiều người dân địa phương tham gia

* Lễ hội Yên Thế: Lễ hội được tổ chức tại đồn Phồn Xương - đại bản doanh của nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám trực tiếp chỉ huy trong những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Lễ hội diễn ra vào ngày 16/03 Dương lịch hàng năm

Từ các ngả đường, người người kéo nhau đi hội, quần áo chỉnh tề, tham gia hội hoá trang, diễu hành và tái hiện lại cuộc khởi nghĩa Yên Thế, múa kỳ lân… Sau lễ diễu hành, các trò vui chơi, giải trí được tổ chức ở nhiều địa điểm Cuộc khởi nghĩa Yên Thế đã ghi thêm trang sử chói lọi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta Cũng

là nét đẹp văn hoá của người dân vùng Kinh Bắc xưa

Trang 36

* Lễ hội đền suối Mỡ: Hội chủ yếu diễn ra ở 3 đền: đền Thượng, đền Trung

và đền Hạ Đền Hạ là nơi tập trung đông nhất du khách các nơi đổ về đền Đây là lễ hội cầu mùa màng tươi tốt bởi đền suối Mỡ là nơi thờ công chúa thời Hùng Vương,

có công giúp dân làm ruộng, làm nương xây dựng cuộc sống, là vị nữ thần nông nghiệp của cư dân cổ xưa

Ngoài ra, Bắc Giang còn có nhiều lễ hội mang âm hưởng dân gian đặc sắc như lễ hội chùa La diễn ra vào ngày 14/02 Âm lịch giỗ tổ Trúc Lâm; lễ hội Bổ Đà

từ 16 – 18/ 02 Âm lịch tại khu vực núi Bổ Đà, xã Tiên Sơn, Việt Yên; lễ hội Chu Nguyên, lễ hội hát dân ca các dân tộc huyện Lục Ngạn, lễ hội Cầu Vồng, hội Trám rụng của dân tộc Dao… Và nhiều lễ hội khác mang nét đẹp riêng của quê hương vùng Kinh Bắc xưa vốn giàu truyền thống văn hoá, lịch sử

Bên cạnh các di tích lịch sử - văn hoá và lễ hội văn hoá dân gian, Bắc Giang còn là nơi của các làng nghề truyền thống như: gốm Thổ Hà, bánh đa Kế, mỳ Chũ, rượu làng Vân, mây tre đan Tăng Tiến, tơ tằm Hiệp Hòa, nghề mộc mỹ nghệ làng Kế… Hiện nay, Bắc Giang đã và đang phát triển thêm một số nghề mới như: nghề gốm công nghệ Trung Quốc ở Mật Ninh - Việt Yên, nghề thêu ren ở Việt Yên, nghề mộc ở Kế… Tất cả đang trên đà khôi phục và phát triển, tạo một tiềm năng lớn cho phát triển du lịch văn hoá ở Bắc Giang

2.2 Khả năng của di tích chùa Bổ Đà trong phát triển du lịch văn hoá

2.2.1 Môi trường cảnh quan

“Bốn bề phong cảnh lạ thay Bồng lai kia cũng thế này mà thôi”

Ấy là câu thơ người xưa mô tả về chốn Bổ Đà (xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên) Bổ Đà là dãy núi lớn với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có rất nhiều di tích, truyền tích về tín ngưỡng đạo Phật trong đó trung tâm và nổi bật là chùa Bổ Đà (còn gọi là chùa Bổ) Chùa Bổ Đà từ xa xưa đã là trung tâm lớn Phật giáo của tỉnh Bắc Giang sau chốn tổ Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) Khu danh

Trang 37

thắng Bổ Đà là niềm tự hào của người dân vùng Kinh Bắc xưa và Bắc Giang ngày nay

Bổ Đà là từ Hán Việt Phổ Đà mà ra Phổ Đà lại là từ Hán Việt phiên âm từ Buttha (Phật - Bụt) của tiếng Phạn Với ý nghĩa của từ ấy thì danh thắng Bổ Đà là nơi phong cảnh đẹp gắn liền với đạo Phật Bổ Đà là tên núi cũng là tên một khu chùa nằm ở núi Phượng Hoàng của xã Tiên Sơn

Cái tên núi Bổ Đà không chỉ riêng một ngọn núi nào của dãy núi nằm ở xã Tiên Sơn huyện Việt Yên mà chỉ chung cho dãy núi thuộc xã Dãy núi Bổ Đà đột khởi giữa vùng đồng bằng phẳng lặng tạo nên một cảnh quan tươi đẹp cho cả vùng; bao gồm nhiều núi nhỏ là Con Cóc, Phượng Hoàng, Bộ Không, Bộ Trắng,

Bộ Kháng, Lều Bàn Cờ Tiên, Văn Chỉ, Cao Biền, Con Voi, Bộ Trê, Bộ Trạch, Bộ Trúc, đèo Trũng Môn… Trong đó, có bốn ngọn núi tiêu biểu là Thạch Long, Kỳ Lân, Kim Quy và Phượng Hoàng tượng trưng cho bốn con vật linh thiêng hay “tứ linh” là Long, Ly, Quy, Phượng Một khối núi mà hội đủ tứ linh thì dù không cao cũng là núi quý, núi thiêng, thực là nơi long dừng khí tụ, âm dương giao hoà mà sinh nhân tài tuấn kiệt, hiền lương Đỉnh cao nhất là ngọn Tự Kháng (84m), tại đó

có thể bao quát toàn vùng phía Nam huyện Việt Yên với những cánh đồng bát ngát

và con sông cầu đang tuôn dòng chảy hiền hoà, êm đềm Và mỗi khi đến hẹn lại lên là tiếng hát lại được cất lên bởi liền anh liền chị quan họ từ những chiếc thuyền lững lờ xuôi dòng sông Cầu

Chùa Bổ Đà tên chữ là Tứ Ân, tọa lạc ở phía Bắc chân núi Phượng Hoàng, thuộc dãy Bổ Đà sơn Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, mở mang và bề thế ở nhà Lê (Lê Dụ Tông) thế kỷ 18 và phát triển trong thời nhà Nguyễn Nơi đây cảnh quan thoáng đãng, mát mẻ hấp dẫn lòng người Toàn khu đẹp mà u tịch, thanh tịnh, quanh năm vút tiếng thông reo trong gió, tiếng xào xạc của bờ tre, tiếng cúc

cu êm đềm của loài chim gáy… Dưới bóng mát của các cây lưu niên cổ kính bên trong các lớp luỹ dày cao đồ sộ rêu phong là những ngôi nhà kiến trúc cổ truyền lâu đời thờ đức Phật từ bi Ngoài những kiến trúc cổ kính, chùa còn có một khu

Trang 38

vườn cây ăn quả lâu năm xen kẽ với những cây cổ thụ đã rêu xanh cùng thời gian Giữa vườn cây rợp bóng mát yên tĩnh vô cùng, người ta có thể tìm về với sự bình yên và thanh tịnh trong tâm hồn Trong không gian tĩnh lặng ấy, con người mới thẩm nhận sự tồn tại vĩnh hằng của song hành quá khứ và hiện tại cũng như sự tồn tại vĩnh hằng cõi tâm linh

Đến thăm khu danh thắng Bổ Đà là đến thăm cảnh quan thiên nhiên kỳ thú Nơi đây có núi sông quanh vòng ôm lấy nhau thực là một chốn sơn thuỷ hữu tình

Bổ Đà có một không gian không đâu xứ Kinh Bắc này có được Đó là sự tôn nghiêm, trầm mặc, yên ả, thanh tịnh tuyệt đối trong mái chùa rêu phong, cổ kính giữa thông reo và tre xanh Xa xa dòng sông Cầu ngày đêm vẫn chảy miên man cùng những kỳ tích và huyền thoại

2.2.2 Bố cục kiến trúc

Chùa Bổ Đà là một trung tâm Phật giáo lớn của Bắc Giang thuộc thiền phái Trúc Lâm hay Trúc Lâm tam tổ Trúc Lâm là thiền tông thứ tư ở Việt Nam được do Vua Trần Nhân Tông (1279 - 1393) lập ra ở Yên Tử thuộc dòng Lâm Tế nhưng có tính độc lập sáng tạo của Phật giáo Việt Nam nên được coi là vị tổ thứ nhất Tổ đệ nhị là Kim cương Pháp Loa và tổ đệ tam là Huyền Quang Cả ba vị tổ đều được thờ

ở nhà tổ của chùa

Chùa Bổ Đà còn là nơi kế truyền các vị tổ sư khai tường thuyết pháp đào tạo tăng ni Hàng năm kết hạ an cư có các tín đồ tham thiền học đạo khá đông Các vị

tổ sư còn cho khắc nhiều bản Kinh luật đạo thừa để phục vụ cho việc đào tạo truyền

bá kinh Phật Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử nhưng chùa Bổ Đà vẫn còn bảo lưu được khá nguyên vẹn các công trình kiến trúc và nghệ thuật

Toàn bộ chùa Bổ Đà có diện tích tích khoảng 51.784m2 được phân ra làm ba khu rõ rệt: Khu vườn 31.000m2, khu nội tự 13.000m2 và khu vườn tháp rộng 7.784m2

* Khu vườn tháp: Vườn tháp chùa Bổ Đà - nơi lưu giữ xá lị, tro cốt nhục

thân của các tăng ni dòng thiền Lâm Tế nằm ở bên trái khu Nội tự và Vườn chùa

Trang 39

Đó là bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của núi Bổ Đà với diện tích gần tám nghìn mét vuông Bao quanh vườn tháp nhà chùa đã dùng đá núi, gạch chỉ và đất thó tạo nên bức trường thành để giữ gìn giấc ngủ ngàn thu cho những nhà tu hành đắc đạo Qua gần ba trăm năm hưng thịnh, kể từ khi sư tổ có tên tục là Phạm Kim Hưng viên tịch đến nay, sơn môn Bổ Đà đã xây dựng tất cả 93 ngôi tháp, mộ lớn nhỏ Trong vườn tháp, đa số là những ngôi tháp ba, bốn tầng với độ cao từ ba đến năm mét, riêng mấy ngôi tháp sư tổ thì đồ sộ cao rộng hơn nữa Tàng chứa trong 93 ngôi tháp, mộ là xá lị, tro cốt, nhục thân của 1214 nhà sư tu hành đắc đạo của dòng Lâm

Tế khắp nơi trên cả nước gần ba thế kỷ nay

Các ngôi tháp chùa Bổ Đà đều được kiến tạo bằng chất liệu truyền thống xây bằng gạch đá và gạch chỉ và bít mạch thì dùng vôi vữa trộn với mật mía và bột giấy bản nên rất bền, mịn Đa số các ngôi tháp đều có tên, nhưng lâu năm nét chữ dần

mờ đi nên không thống kê hết được Trong lòng tháp thường đặt bia ghi bài vị và thời gian sinh, hoá của các nhà sư

Một điều độc đáo nữa nơi vườn tháp chùa Bổ Đà là trong vườn tháp có cả tháp mộ sư tăng và sư ni (điều hiếm thấy ở các dòng phái khác) Chúng ta có thể dễ dàng phân biệt đâu là tháp mộ sư tăng, đâu là tháp mộ sư ni Tháp mộ sư tăng thì trên đỉnh tháp bao giờ cũng gắn bình cam lộ đặt trên toà sen Tháp mộ sư ni thì khác, đỉnh tháp mộ lại được gắn một búp sen Như thế, Phật tử có thể đến vãn cảnh vẫn biết được có bao nhiêu vị tăng, ni viên tịch và yên nghỉ chốn này

* Khu vườn chùa: Vườn trồng các loại cây ăn quả truyền thống và các loại

hoa màu theo thời vụ Xung quanh đào hào rộng (rộng 2m; sâu 1.5m) vừa để thoát nước vừa để ngăn cách bảo vệ

* Khu nội tự chùa: Toàn bộ khu chùa hiện nay gồm 16 toà nhà lớn nhỏ khác

nhau với tổng số 92 gian được bố trí lần lượt từ cổng vào như sau:

Từ cổng vào chùa dài 45m, đường rộng 3.2m nền lát đá muối có kích thước

to nhỏ khác nhau Cổng có hai lớp, lớp thứ nhất cách lớp thứ hai là 27m Cổng được xây theo kiến trúc thời Nguyễn mang dáng dấp gác chuông

Trang 40

Tiếp đến là nhà bếp dài 11m, rộng 5m gồm 4 gian lợp ngói, tường xây gạch

Từ nhà bếp đến nhà để dụng cụ, cối xay, giã cách nhau 4m, nhà dài 16m, rộng 5m gồm 7 gian lợp ngói, kết cấu kèo kìm đơn giản

Nhà Tạo soạn dài 17m, rộng 5m, gồm 7 gian, tường gạch lợp ngói nền lát gạch vuông Kết cấu khung nhà kiểu tiền kẻ hậu bẩy Phía trước là sân gạch to kích thước 18m : 8.5m Nhà tổ ly nằm sau nhà Tạo soạn Nhà dài 18m, rộng 6.5m nền nhà cao 0.8m gồm 7 gian Tường gạch, mái ngói và nền lát gạch

Nhà Tổ dài 20m rộng 6.5m nền cao 0.9m, có 7 gian tường gạch, lợp ngói, nền lát gạch vuông Nhà Tiền tế dài 20m, rộng 8m, gồm 5 gian Nhà nhung gỗ với kiến trúc kiểu chồng rường, tường gạch và lợp ngói Phía trước là sân gạch kích thước 12.6m x 9.3m

Nhà In kinh làm theo kiểu chồng diêm hai tầng, mái cao 8m gần vuông có kích thước 6m x 5m, tường gạch, lợp ngói, nền lát gạch vuông Nhà Trai dài 9.5m x 6.5m gồm 3 gian tường gạch lợp ngói Nhà hành lang: hình thước thợ dài 7m, nối

bể trên Dãy hành lang dài 14m, rộng 5m, gồm 6 gian

Nhà Khách nơi hoà thượng ở, dài 15m rộng 8m, gồm 7 gian, hai gian đầu là lối lên gác kiến, nhà chồng diêm hai tầng mái Nhà tiếp khách dài 15m rộng 5.5m gồm 6 gian, tường gạch lợp ngói Khung nhà bằng tre ngâm

Nhà Ga dài 17m, với 6 gian Khung nhà bằng tre ngâm lợp ngói Nhà dùng

để thi hài và thủ tục làm ma cho các vi sư già quá cố Phía trước nhà Ga là sân gạch

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn Sáu. Di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng Việt Nam.-H.: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.- 414tr Khác
2. Dương Trọng Tài, Thân Nhân Tôn, Hoàng Văn Đại. Chào mừng quý khách đến Bắc Giang.-H: Nxb Thông tấn, 2004.-71 tr Khác
3. Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình. Kinh tế du lịch & Du lịch học.-HCM.: Nxb Trẻ, 2001.- 471 tr Khác
4. Lâm Giang, Nguyễn Đình Bưu. Địa chí Bắc Giang di sản Hán Nôm.-BG.: Sở Văn hoá Thông tin Bắc Giang, 2003.- 1153 tr Khác
5. Ngô Văn Trụ, Bùi Văn Thành. Di sản văn hoá Bắc Giang.-BG.: Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, 2008.-848 tr Khác
6. Nguyễn Quang Ân, Ngô Văn Trụ, Anh Vũ. Địa chí Bắc Giang : Lịch sử và văn hoá.-BG.: Sở Văn hoá Thông tin Bắc Giang, 2006.-771 tr Khác
7. Nguyễn Quang Ân, Ngô Văn Trụ, Anh Vũ. Địa chí Bắc Giang : Lịch sử và văn hoá.-BG.: Sở Văn hoá Thông tin Bắc Giang, 2006.- 771 tr Khác
8. Nguyễn Quang Ân, Ngô Quang Toản, Bùi Xuân Đính. Địa chí Bắc Giang: Địa lí và kinh tế.-BG.: Sở Văn hoá Thông tin Bắc Giang, 2006.- 720 tr Khác
9. Nguyễn Thị Thắng. Non nước Việt Nam.-H.: Nxb Văn hoá thông tin, 2009.- 746 tr Khác
10. Nguyễn Thu Minh, Trần Văn Lạng. Làng nghề và những nghề thủ công truyền thống ở Bắc Giang.-H.: Nxb Văn hoá Thông tin, 2010.- 347 tr Khác
11. Nguyễn Xuân Cần, Nguyễn Xuân, Thích Thiện Văn. Cảnh thiền: Thơ văn.-H.: Nxb Văn hoá dân tộc, 1997.- 92 tr Khác
12. Nguyễn Xuân Cần, Trần Văn Lạng, Nguyễn Hữu Tự. Di tích Bắc Giang.-BG.: Bảo tàng Bắc Giang, 2001.- 557 tr Khác
13. Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khắc Đạm (biên dịch). Địa lý hành chính Kinh Bắc.- H. Sở văn hoá thông tin Bắc Giang, 1997.- 255 tr Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm