Tiềm năng văn hóa du lịch của dân tộc Mường là thế tuy nhiên vấn đề đặt ra là quá trình đất nước mở của và hội nhập kinh tế, chúng ta phải làm như thế nào để vừa phát triển được văn hóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở KIM BÔI, HÒA BÌNH
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như cán bộ địa phương nơi em thực hiện làm đề tài Nhân dịp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, Phòng Văn hóa thông tin huyện Kim Bôi, đã nhiệt tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho em thực hiện bài khóa luận này
Em gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thanh, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em một cách tận tình trong suốt thời gian em thực hiện đề tài
Tuy đã có nhiều cố gắng, xong bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 05 năm 2010
Người Viết
Bùi Thị Nga
Trang 3Mục lục
Mở ĐầU
Trang
1 Tính cấp thiết của đề tài……… …3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… ….4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……… … 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… ……….… 6
5 Phương pháp nghiên cứu……….… …6
6 Bố cục của khóa luận……… ……… 7
Chương 1 KháI quát về tự nhiên, kinh tế - x∙ hội CủA người mường ở kim bôI, hòa bình 1.1. Điều kiện tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên……… … ……8
1.1.2 Đôi nét về lịch sử và truyền thống cách mạng…… …… …………10
1.2 Dân cư, dân số và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 12
1.2.1 Sự phân bố dân cư, dân số……… … …12
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội……… ……… …12
Chương 2 thực trạng vμ quá trình phát triển du lịch ở huyện kim bôi 2.1 Vị trí của khu du lịch Kim Bôi trong hệ thống du lịch Việt Nam… 15
2.2 Khu du lịch Kim Bôi trong cơ cấu du lịch của tỉnh Hòa Bình… 16
2.3 Tiềm năng du lịch ở Kim Bôi……… ……….….19
Trang 42.3.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên……….………….… 19
2.3.2 Tiềm năng du lịch nhân văn……… … 25
2.3.3 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch……… 41
Chương 3 Tác động của du lịch tới đời sống của người mường ở kim bôi 3.1 Những tác động tích cực 48
3.1.1 Tạo việc làm, tăng thu nhập nâng cao đời sống người dân…… …48
3.1.2 Khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống………… 50
3.1.3 Hoạt động du lịch góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái……… … ………….… ….53
3.2 Những tác động tiêu cực 55
3.2.1 Suy giảm diện tích đất canh tác, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường……… 55
3.2.2 Thương mại hóa hoạt động văn hóa truyền thống…… …56
3.2.3 Nảy sinh các tệ nạn xã hội……… ….…59
3.3 Một số giải pháp cho việc phát triển du lịch ở Kim Bôi 60
3.3.1 Giải pháp về bảo vệ và khai tác các giá trị văn hóa Mường phục vụ cho du lịch……… …… ……….… 60
3.3.2 Giải pháp về quy hoạch và đầu tư……….……… 63
3.3.3 Giải pháp về cơ sở vật chất, đôi ngũ lao động phục vụ du lịch…… 64
3.3.4 Giải pháp về tuyên truyền quảng cáo……… 67
3.3.5 Văn hóa với sự tham gia của cộng đồng……… 68
Kết luận……… 71
Danh mục tham khảo 72
Phụ lục………74
Trang 5b¶ng danh môc ký hiÖu, ch÷ viÕt t¾t
Trang 6Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau thì những giá trị văn hóa truyền thống đã trở thành trung tâm của sự chú ý, bởi lẽ đến với những nét văn hóa truyền trống đó con người có thể tìm lại sự cân bằng sau bao nhiêu những lo toan và bộn bề của cuộc sống Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa truyền thống mà đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Đại hội lần thứ VII vào tháng 6 năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đây vừa là mục tiêu phấn đấu vừa là nhiệm vụ trọng yếu của thời kỳ này Tư tưởng này được tiếp tục bổ sung, phát triển trong các văn kiện tiếp theo của
Đảng Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII (1991) đã ra nghị quyết riêng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
Để xây dựng nền văn hóa đó, Đảng ta đã đề ra 10 nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa trong đó có nền văn hóa các dân tộc thiểu số Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, các dân tộc anh em nước ta đã cùng nhau đoàn kết, gắn bó, sát cánh bên nhau Những thành tựu văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu
số góp phần tạo nên nền văn hóa đa dạng và phong phú Nó bổ sung, hỗ trợ, tạo điều kiện để mỗi dân tộc phát triển bình đẳng trong cộng đồng quốc gia Việt Nam
Giống như các dân tộc anh em khác, dân tộc Mường với những nét văn hóa truyền thống độc đáo và phong phú, đã thu hút và tạo nên nguồn cảm
Trang 7hứng cho những ai thích khám phá và tìm tòi những cái hay cái đẹp trong văn hóa truyền thống của tộc người này Bên cạnh những nét văn hóa đó thiên nhiên đã ban tặng cho người Mường một vùng nước non hùng vĩ tạo nên một không gian văn hóa hấp dẫn lòng người, đồng thời còn chứa đựng một tiềm năng du lịch vô cùng lớn lao Vì vậy, người Mường không chỉ có tiềm năng về văn hóa mà thêm vào đó là tiềm năng du lịch, đây chính là sự kết hợp một cách hợp lý, độc đáo trong văn hóa truyền thống của dân tộc Mường
Tiềm năng văn hóa du lịch của dân tộc Mường là thế tuy nhiên vấn đề đặt
ra là quá trình đất nước mở của và hội nhập kinh tế, chúng ta phải làm như thế nào để vừa phát triển được văn hóa du lịch đồng thời giữ được những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Là người con của dân tộc Mường sinh ra và lớn lên trên mảnh đất của người Mường, người viết mong muốn được đóng góp một phần ít ỏi của mình trong việc xây dựng quê hương Chính vì lý do trên tôi đã chọn đề tài “Tác
động của du lịch tới đời sống của người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mảnh đất Hòa Bình là cái nôi của dân tộc Mường nên từ lâu đã trở thành
điểm nghiên cứu hấp dẫn của nhiều học giả trong nước và quốc tế Dưới thời Phỏp thuộc đó cú nhiều bài viết về người Mường, trong đú nổi bật là cụng
trỡnh Les Mường, xuất bản ở Paris vào năm 1946 của Jeanne Cuisnier, đõy là
tỏc phẩm mụ tả dõn tộc học bao quỏt toàn bộ đời sống của người Mường, mụi trường phõn bổ đất đai, tớnh chất nhõn chủng, nhà ở, nụng nghiệp, làng xúm, thờ phụng tổ tiờn, lễ thức tang ma, lễ tết nụng nghiệp…
Sau ngày hũa bỡnh lập lại ở miền Bắc (1954), để phục vụ cho đường lối, chớnh sỏch dõn tộc của Đảng và Nhà nước, nhiều cụng trỡnh về Sử học, Dõn tộc học, Ngụn ngữ học, Văn học về người Mường đó được cụng bố trờn cỏc tạp chớ chuyờn ngành hoặc xuất bản thành sỏch, như: Vương Hoàng Tuyờn
Trang 8với Tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử dân tộc Mường; Lâm Tâm với Tên gọi của
dân tộc Mường và mối quan hệ người Mường với người Việt; Mạc Đường với
Xã hội và ruộng đất ở vùng Mường trước Cách mạng Tháng Tám; Nguyễn
Dương Bình với Một vài nét về tình hình xã hội vùng Mường tỉnh Vĩnh Phú
trước Cách mạng Tháng Tám; Nguyễn Lương Bích với Trong lịch sử người Việt và người Mường là hai dân tộc hay một dân tộc; Trần Từ với Góp phần tài liệu điền dã về chế độ nhà lang: xung quanh các hình thức khai thác ruộng lang, Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Mường, hai
bài viết này được in lại năm 1996, trong sách Góp phần nghiên cứu văn hoá
và tộc người; Viện Dân tộc học với Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập về nhiều vấn đề
liên quan đến kinh tế và xã hội của người Mường trước Cách mạng Tháng Tám, nguồn gốc dân tộc và tộc danh “Mường”, mối quan hệ giữa người Việt
và người Mường Đẻ đất, đẻ nước
Từ năm 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu về người Mường vẫn được tiếp
tục trên nhiều lĩnh vực Các công trình đã công bố như: Đôi điều về văn hoá
Mường của Trần Quốc Vượng; Người Mường với Văn hoá cổ truyền Mường
Bi của UBND huyện Tân Lạc và Sở Văn hoá, Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình; Văn hoá dân tộc Mường, Kỷ yếu hội thảo văn hoá dân tộc Mường của Sở Văn
hoá,Thông tin, Hội văn hoá các dân tộc tỉnh Hoà Bình; Gia đình và hôn nhân
của người Mường ở tỉnh Phú Thọ của Nguyễn Ngọc Thanh Nhìn chung, các
công trình này đã đề cập đến nhiều vấn đề về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, văn nghệ dân gian, tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời tìm hiểu nguồn gốc tộc
người Gần đây nhất, cuốn Văn hóa người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa
Bình của nhiều tác giả đã đề cập đến phong tục tập quán của người Mường
và các khu du lịch và danh lam thắng cảnh của huyện Tuy nhiên, tác động của du lịch tới đời sống của người Mường còn ít được nghiên cứu
Trang 93 Mục tiêu nghiên cứu
- Bước đầu nghiên cứu tác động của du lịch tới đời sống kinh tế của người Mường
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm củng cố và phát triển văn hóa du lịch quê hương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Tác động của du lịch tới
đời sống kinh tế của người Mường ở Kim Bôi Hòa Bình bao gồm nghiên cứu
về các tiềm năng du lịch ở huyện Kim Bôi và những tác động tích cực, hạn chế tới đời sống kinh tế của người Mường ở khu vực này
động qua lại giữa du lịch và văn hóa truyền thống
Chỳng tụi cũn thu thập cỏc tài liệu thứ cấp lưu giữ tại cỏc Ban, Ngành của tỉnh, huyện phục vụ cho quỏ trỡnh nghiờn cứu và thực hiện đề tài
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tự nhiên, kinh tế, x∙ hội của người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình
Chương 2: Tiềm năng và quá trình phát triển du lịch ở Kim Bôi
Chương 3: Tác động của du lịch tới đời sống của cư dân Mường
Trang 10Chương 1
kháI quát về tự nhiên, kinh tế, x∙ hội của
người mường ở kim bôI, hòa bình
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
Trong cuốn: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Bôi1, đã khái quát về huyện Kim Bôi như sau:
Địa giới hành chính: Theo lịch sử, từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Bắc
Thuộc, Kim Bôi thuộc Bộ Gia Ninh Thời Lý Thái Tổ (thế kỷ XI), phần lớn
đất ở Kim Bôi thuộc Bộ Quốc Oai, thời Lê, vùng đất Kim Bôi thuộc Phủ Lương Sơn thuộc tỉnh Mường Đến năm 1890 cả phủ Lương Sơn sác nhập lại thành tỉnh Mường Hòa Bình và được đổi tên thành Châu Lương Sơn Kim Bôi gồm ba tổng: Kim Bôi, Thông, Tú Sơn
Tháng 09 - 1910, tổng Thanh Nông nhập vào huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà
Đông (Hà Nội ngày nay)
Ngày 15 - 04 - 1959, huyện Lương Sơn chia làm hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi Huyện Kim Bôi mới thành lập gồm 22 xã, sau nhiều lần tách nhập,
đến nay huyện có 35 xã và 2 thị trấn
Huyện Kim Bôi có tổng diện tích tự nhiên là 693,64 km2, nằm ở phía
đông tỉnh Hòa Bình, Kim Bôi ở vào vị trí từ 200 32’ - 200 49’ vĩ độ bắc và 1050
22’ - 1050 43’ kinh độ đông, phía bắc giáp huyện Lương Sơn, phía tây và tây
1
Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân huyện Kim Bôi Lịch sử Đảng bộ Kim Bôi, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2001,tr 11
Trang 11
bắc giáp huyện Lạc Sơn, Tân Lạc, Cao Phong và thành phố Hòa Bình, phía Nam giáp huyện Lạc Thủy, phía Đông giáp huyện Mỹ Đức - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)
Địa hình Kim Bôi khá phức tạp, bị chia cắt bởi các hệ thống khe và suối Huyện có tới 2/3 diện tích đất là đồi núi, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 300 m có độ nghiêng theo hướng từ bắc xuống nam Tại Kim Bôi có một số vùng núi đá vôi, núi đá xanh, vách dốc thẳng đứng có nhiều ngọn núi cao có khi tới hàng nghìn mét, trong đó cao nhất là đỉnh Cốt cao 1.800m Dựa vào địa hình có thể chia Kim Bôi thành 3 vùng khác nhau như sau:
Vùng đông bắc: Gồm 10 xã Thượng Tiến, Vĩnh Tiến, Tú Sơn, Hợp
Đồng, Đông Bắc, Tú Sáng, Bình Sơn, Bắc Sơn, Sơn Thủy, Hùng Tiến Vùng này chủ yếu là đồi núi đá vôi xen kẽ với các vùng đất hẹp khá bằng phẳng chạy dọc theo các chân đồi núi các ruộng bậc thang nhỏ đứt đoạn
Vùng trung tâm: Gồm các xã Vĩnh Đồng, Trung Bì, Thượng Bì, Hà Bì,
Kim Bôi, Kim Trung, Mường Dăm, Cuối Hạ, Hợp Kim, Lập Khiêng, Kim Tiến, Kim Bình, Kim Sơn, Nam Thượng Vùng đất này địa hình chủ yếu là các cánh đồng bãi được bao bọc bởi các dãy núi, đồi thấp
Vùng ngoài: Gồm các xã Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Cao
Dương, Long Sơn, Thanh Lương, Thanh Nông, Hợp Thanh, Thị trấn Thanh
Hà Dây là vùng tiếp giáp với đồng bằng, có những cánh đồng nhỏ, bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước và cây ăn quả1
Khí hậu của huyện Kim Bôi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang những nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới miền Tây Bắc Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 160C - 220C, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm cao
1
. Huyện ủy, Hội đồng nhân dân,ủy ban nhân huyện Kim Bôi, Lịch Sử Đảng Bộ Kim Bôi, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001, tr 11
Trang 12Với địa hình và khí hậu như trên, thì sinh hoạt văn hóa của người dân Kim Bôi gắn liền với núi rừng, sông suối, gắn liền với những cánh đồng bậc thang màu mỡ, chính thiên nhiên nơi đây đã tạo nên cảnh nước non hùng vĩ thu hút được sự quan tâm chú ý không chỉ của những du khách trong nước mà còn có cả du khách nước ngoài đã đến đây để thưởng thức và chiêm ngưỡng vẻ
đẹp yên bình hoang sơ nơi đây
Kim Bôi là một huyện rộng và đông dân nhất của tỉnh Hòa Bình, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, 3/4 diện tích là rừng núi có chứa đựng tiềm năng lâm sản quý giá Rừng Kim Bôi cách đây chưa đầy một thế kỷ còn là những
khu rừng nguyên sinh có nhiều lâm sản quý hiếm như: đinh, lim, sến, lát, gù
hương, vàng tâm Các khu rừng già ở Kim Bôi có các động vật quý như: hổ,
báo, hươu, nai, vượn, khỉ, tê tê, trăn,…Rừng Kim Bôi còn có nhiều loại cây thuốc nam chữa bệnh rất hiệu nghiệm, có giá trị kinh tế cao Trải qua thời gian, sự khai thác của con người đã làm mất đi sự phong phú về rừng Hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất đai thường xuyên xảy ra Trong công cuộc đổi mới hiện nay, rừng Kim Bôi đã và đang được khôi phục, phủ xanh đặc biệt là hiện nay rừng đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái, điều đó làm cho môi trường được cân bằng trở lại, mang lại lợi ích kinh tế cho người dân
Khoáng sản ở Kim Bôi phong phú, dồi dào về số lượng cũng như chất lượng, trong đó có vàng, đồng, chì, than Sản lượng vàng, than, kể cả đã khai thác và chưa khai thác là rất lớn và có rải rác ở nhiều nơi trong huyện Đặc biệt Kim Bôi còn có nguồn nước khoáng tinh khiết và suối nước nóng nổi tiếng vừa có giá trị chữa bệnh, vừa có giá trị kinh tế cao hơn nữa đây là một trong những nguồn lợi lớn để phát triển du lịch cho huyện Kim Bôi nói riêng
và tỉnh Hòa Bình nói chung
Trang 131.1.2 Đôi nét về lịch sử và truyền thống cách mạng
Ngược dòng lịch sử, huyện Kim Bôi là địa danh có dấu tích của con người cách đây hàng vạn năm, nói đến Hòa Bình không thể không nhắc đến bốn mường Bi, Vang, Thàng, Động Mường Động chính là xã Vĩnh Đồng huyện Kim Bôi ngày nay, đây là một trong những cái nôi của nền văn hóa Hòa Bình
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Kim Bôi bắt tay vào công cuộc lao động sản xuất, khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, tích cực thực thiên chủ trương chính sách của chính phủ “Diệt giặc dốt, giặc đói và giặc ngoại xâm”
Ngày 15 - 04 -1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Hòa Bình, để
đối phó với địch, đội du kích xã Hạ Bì, Tú Sơn đã phá đoạn đường từ dốc Cun
đến xã Kim Bôi, đồng thời cắm chông, cài bẫy khắp cánh đồng, nương bãi, còn ở các xã Thang Nông, Thanh Lương thì lực lượng vũ trang và nhân dân tổ chức đào hào, hố sâu để cản bước tiến của địch
Trước tình hình ngày càng gay go của cuộc chiến tranh, năm 1949, hàng trăm thanh niên trong huyện đã xung phong lên đường nhập ngũ Cuối năm
1949, Liên Khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định mở chiến dịch ở các xã Hạ Bì, Kim Bôi, Nhất Sơn Ban chỉ đạo chiến dịch đã cử hàng nghìn công nhân vận chuyển vũ khí từ Thanh Hóa về cùng với việc chuẩn bị cáng thương, lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội, góp phần làm tăng thêm thắng lợi rực
rỡ của chiến dịch
Huyện Kim Bôi là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng của tỉnh Hòa Bình, đây là một trong những căn cứ cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến Nhân dân các dân tộc trong huyện đã tích cực góp sức người, sức của, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Điện Biên Phủ đánh đuổi thực dân Pháp
Trang 14Trong thời kỳ miền Nam chống Mỹ huyện Kim Bôi tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, quân và dân huyện Kim Bôi đẩy mạnh phong trào thi
đua, khắc phục mọi khó khăn thử thách, góp phần làm hậu phương vững chắc cho nhân dân miền Nam chiến đấu chống đế quốc Mỹ cứu nước
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang trên đà đổi mới nhân dân các dân tộc trong huyện vẫn đang cùng nhau chung tay xây dựng quê hương, phát triển về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hôi
1.2 Dân cư, dân số và đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
1.2.1 Sự phân bố dân cư, dân số
Theo thống kê đến năm 2008 thì dân số của huyện là 133.550 người nhân, trong đó người Mường chiếm đa số với 83% dân số của cả huyện, được phân bố ở hầu hết các xã trong huyện với số dân là 110 85 người, người Kinh chiếm 14% dân số sống sen kẽ với người Mường, tập chung đông nhất tại các thị trấn với số dân là 18,697 người, người Dao chiếm 3% sống tại các xã Tú Sơn, Bình Sơn, Hùng Tiến, Nật Sơn, Vĩnh Tiến với số dân là 4,0065 người Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tương đối tốt tỉ lệ tăng tự nhiên của huyện năm 2008 ở mức dưới 1,02% Đặc điểm dân số trẻ khỏe, số dân trong độ tuổi lao động là 73.453 người, chiếm 55% dân số, trong
đó tập chung chủ yếu ở khu vực nông thôn (69.827 lao động) Tuy lực lượng lao động rất dồi dào nhưng việc sử dụng vẫn chưa hợp lý, đăc biệt là trong sản xuất nông nghiệp vẫn còn tình trạng thiếu việc làm do tính mùa vụ, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ nhỏ
Với số dân như trên thì dân cư có sự phân bố không đồng đều dân cư tập chung đông tại các trung tâm xã và thi trấn thưa thớt tại các làng bản, đặc biệt
là vùng đồi núi
Trang 151.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Đặc điểm kinh tế
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Bôi lần thứ XIX đã nêu rõ về phát triển kinh tế của huyện là: “Đẩy mạnh sản xuất nông lâm nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản dịch vụ và du lịch, phấn
đấu năm 2005 tỉ trọng nông lâm nghiệp giảm từ 64.2% xuống còn 60%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cơ bản tăng 7,7% lên 10%, dịch vụ du lịch và các nguồn thu khác tăng từ 27,9% lên 30%”, mức độ tặng trưởng kinh tế hàng năm 10 - 13%1
Hiện nay trong cơ cấu kinh tế của huyện, trồng trọt là ngành cơ bản đạt giá trị sản xuất 271,9 tỷ đồng chiến 81% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong đó diện tích gieo trồng từ 19.000 đến 20.000 hecta; tổng sản lượng lương thực 47.000 đến 50.000 tấn, diên tích trồng lúa nước được ổn định 8300 hecta đến 8500 hecta/năm, Trong đó diện tích ngô là 3.800 đến 4.000 hecta/năm, diện tích mía là 1200 đến 1500hecta/năm Về chăn nuôi, chủ yếu phát triển theo kinh tế hộ gia đình với các loại gia súc chính là trâu, bò và lợn, trong đó trâu, bò có tiềm năng phát triển nhưng cần cải tạo giống theo hướng thương phẩm cho thịt và cho sữa kết hợp với việc đầu tư xây dựng đồng cỏ Bên cạnh đó ngành lâm nghiệp cũng là ngành kinh tế quan trọng của huyện, tuy nhiên việc khai thác rừng ở đây chưa hợp lý nên hiệu quả kinh tế chưa cao,
và chưa mang tính lâu dài Ngành tiểu thủ công nghiệp bước đầu phát triển với các cơ sở và sản phẩm bước đầu là: gạch nung, vôi củ, đá các loại Về dịch vụ thương mại, ngoài chợ, thị trấn, trên địa bàn huyện Kim Bôi còn có 10 chợ rải rác ở các dân cư khác, đây là điểm nhấn về giao lưu hội họp, về hoạt động thương mại trên địa bàn huyện Kim Bôi, tạo ra hành lang lưu thông hàng hóa
từ thành thị đến nông thôn, từ vùng thấp đến vùng cao với bên ngoài huyện
1
Huyện ủy, Hội đồng nhân dân,ủy ban nhân huyện Kim Bôi, Lịch Sử Đảng Bộ Kim Bôi, Nxb Chính trị Quốc gia, 2001,tr 428
Trang 16Đường giao thông của Kim Bôi đang dần dần được đầu tư, nâng cấp, các trục đường chính đã được rải nhựa còn lại là đường đá, cấp phối, đường đất 100% các xã trên địa bàn có đường ô tô vào trung tâm xã
Một trong những ngành được các cấp các ngành quan tâm và chú trọng
đầu tư phát triển đó là ngành du lịch, bởi lẽ nơi đây có rất nhiều tiềm năng có thể phát triển được ngành này đó là: Nguồn nước nóng vô giá, những khu rừng sinh thái đầy tiềm năng, những bờ thác đẹp, điều đó đã tạo điều kiện cho du lịch phát triển thu hút được nhiều khách thập phương đến thăm quan Có thể nói du lịch là một trong những nguồn lực lớn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển trên địa bàn toàn huyện
Đặc điểm văn hóa, xã hội
Sau một thời gian dài phấn đấu, hiện nay tất cả các xã trong huyện đã 100% đạt phổ cập giáo dục tiểu học, ngành giáo dục - đào tạo thường xuyên phát động các phong trào thi đua trong đội ngũ giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, tổ chức các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên
Mạng lưới y tế trên địa bàn huyện được kiện toàn, gồm trung Tâm y tế huyện, 3 phòng khám đa khoa khu vực, 37 trạm y tế các xã, thị trấn cùng với hàng trăm các cộng tác viên y tế thôn bản
Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh với trên 200 đội văn nghệ quần chúng Năm 2007, trung tâm văn hóa huyện đã tổ chức biểu diễn trên 250 buổi văn nghệ phụ vụ nhân dân trong toàn huyện, đặc biệt là vào các dịp lê, tết, hội hè …
Ngoài việc phục vụ nhân dân, hoạt động các đội văn nghệ quần chúng còn thu hút khách du lịch tới địa phương thưởng thức các giá trị văn hóa dân tộc Nhà văn hóa được xây dựng đã thúc đẩy phong trào văn hóa văn nghệ trong huyện, nhất là vùng thị trấn và các vùng phụ cận
Các hủ tục dần bị xóa bỏ, nhiều nét đẹp cũng như tinh hoa văn hóa của dân tộc cũng được kế thừa và phát huy, các đám hiếu hỉ được tổ chức trang trọng, gọn nhẹ mà vẫn mang đậm bản sắc văn hóa địa phương Nhiều gia đình
Trang 17được công nhận là gia đình văn hóa Một số lễ hội truyền thống đã được khuyến khích khôi phục như: Lễ hội cồng chiêng, hội sắc bùa, hội xuống
đồng,… được duy trì nhằm nâng cao đời sống tinh thần của người dân và bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc
Trạm phát sóng truyền hình được xây dựng ở trung tâm huyện lỵ năm
2007, đã phát sóng gần 2.000 giờ trong đó có 400 giờ phát sóng về tình hình
địa phương Đài truyền thanh phát sóng hơn 2.500 giờ trong đó có 900 giờ phát thanh cập nhật tin tức
Đời sống kinh tế xã hội của người Mường ở Kim Bôi đang dần được nâng cao, đời sống của người dân được cải thiện từng ngày Người dân đang dần tiếp súc với các luồng văn hóa mới bước đầu tạo điều kiện cho việc hội nhập
và phát triển kinh tế
Trang 18Chương 2
Thực trạng vμ quátrình phát triển Du lịch ở kim bôi
2.1 Vị trí của khu du lịch Kim Bôi trong hệ thống du lịch Việt Nam
Trong phát triển du lịch, những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc, được coi là nhân tố quan trọng, hết sức cần thiết trong việc thiết kế mô hình du lịch
để thu hút khách thập phương nhằm giới thiệu những nét văn hóa đó với bạn
bè trong nước và quốc tế, từ đó giúp du khách có thể cảm nhận được những nét văn hóa đặc sặc của tộc người mà du khách ghé thăm
Cách thủ đô Hà Nội 73 km về phía Tây Bắc, Hòa Bình tự hào là một tỉnh miền núi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, là cầu nối của cư dân miền núi và cư dân miền châu thổ ở đây núi non trùng điệp, có những cánh rừng nhiệt đới, nhiều núi đá và nhiều hang động đẹp, đó là nơi cư trú của người nguyên thủy, chủ nhân của nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng thế giới Hòa Bình còn là mảnh đất sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số anh em, trong
đó dân tộc Mường chiếm 63,32% dân số toàn tỉnh, vì thế mà việc khai thác các giá trị văn hóa để phục vụ cho hoạt động du lịch ở Hòa Bình là việc rất cần thiết trong quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước
Hòa Bình nằm trong vùng du lịch Bắc bộ gồm 28 tỉnh1, thành phố từ Hà Giang đến Hà Tĩnh với tổng diện tích là 149.046 km2 Hòa Bình năm trong tiểu vùng du lịch trung tâm gồm 14 tỉnh và thành phố, trong đó vùng trung tâm nhất là thủ đô Hà Nội Chính vì vậy mà vị trí của tỉnh Hòa Bình cũng như
1
Bao gồm 28 tỉnh: Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái nguyên, Cao Bằng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Binh, Nam Định, Hải phòng, Ninh Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hà Nội, Phú Tho
Trang 19sự quy hoạch của khu du lịch trong tỉnh đã trở thành trọng tâm cho sự phát triển du lịch trong tương lai không xa Khu du lịch Kim Bôi cách thành phố Hòa Bình 30km về phía đông của tỉnh, là một trong những địa bàn du lịch trọng yếu của tỉnh Hòa Bình Từ năm 2001 trở lại đây Kim Bôi đã thu hút
được rất nhiều vốn đầu tư cho du lịch và dịch vụ Đặc biệt là vấn đề phát triển
du lịch văn hóa dân tộc gắn với du lịch sinh thái đã và đang rất được quan tâm
và chú trọng đầu tư
Như vậy trong tương lai không xa đây sẽ là một trong những nơi có tiềm năng phát triển du lịch rất mạnh, vì vậy mà khu du lịch này chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển du lịch của nước ta nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng
2.2 Khu du lịch Kim Bôi trong cơ cấu du lịch của tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình một mảnh đất có sức hút kì lạ bắt nguồn từ một nền văn hóa riêng biệt, khoảng 1 vạn năm trước đây miền núi rừng Hòa Bình đã tồn tại một
bộ phận cư dân quan trọng, cư dân ấy đã tạo nên một nền văn hóa nổi tiếng, nền văn hóa Hòa Bình, nền văn hóa này là một trong những nhân tố thúc đẩy
sự phát triển của dân tộc, của xã hội Văn hóa Mường là một bộ phận của nền văn hóa Hòa Bình các di chỉ khảo cổ học được phát hiện trước đó và có sức hấp dẫn khách du lịch, nó luôn có giá trị cho văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình Hiện tại Hòa Bình đã có rất nhiều điểm du lịch, cụm du lịch đang được phát triển như:
- Du lịch làng bản dân tộc Thái ở Mai Châu
- Du lịch sinh thái lòng hồ sông Đà
- Du lịch văn hóa dân tộc Mường ở Tân Lạc
Trong đó không thể không nhắc đến khu du lịch Kim Bôi, đây là một trong những cụm du lịch quan trọng trong cơ cấu du lịch của tỉnh Hòa Bình Nơi đây không những là một khu du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng, khu du lịch
Trang 20sinh thái hấp dẫn, mà còn là nơi chứa đựng cả một nền văn hóa dân tộc Mường
Trong hệ thống quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Hòa Bình thì huyện Kim Bôi là một trong 04 khu trọng điểm trong quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch của tỉnh nhà, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và huyện, và có mối quan hệ chặt chẽ với du lịch vùng lân cận Đặc biệt
là các khu du lịch như: vùng hồ sông Đà, Lương Sơn, Mai Châu, Lạc Thủy, thủ đô Hà Nội, Ninh Bình Để phát triển du lịch thì cần bảo tồn và tôn tạo lại các di tích lịch sử Mặt khác muốn phát triển du lịch cần tạo môi trường thuận lợi thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển du lịch như: đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng khách sạn nhà nghỉ phát triển
du lịch sinh thái, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân Khuyến khích các hoạt động
đầu tư với mục đích bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đẩy mạnh giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa cho người dân Với việc phấn đấu mục tiêu tốc độ tăng trưởng (giá trị tăng thêm) ngành du lịch đến năm 2010 đạt 23,3% doanh thu xã hội của ngành du lịch đến năm 2010 đạt 7.286.500 USD, tạo việc làm cho 1.180 lao động
Hiện nay ở Kim Bôi có một số điểm du lịch như sau:
- Điểm du lịch nghỉ dưỡng: Nước khoáng Kim Bôi xã Hạ Bì
- Điểm du lịch sinh thái: Thác Bạc Long Cung, xã Tú Sơn; khu rừng nguyên sinh Thượng tiến, Kim Tiến, khu Đầm Quèn xã Cao Dương
- Điểm du lịch văn hóa: Thung Rếch xã Tú Sơn; khu mộ cổ Đống Thếch xã Vĩnh Đồng, Bản Vay xã Thượng Tiến
Ngoài ra trên địa bàn xuất hiện các tuyến du lịch:
Tuyến du lịch nội huyện:
- Tuyến thị trấn Bo - Hạ Bì - Vĩnh Đồng - Thượng Tiến - Tú Sơn - Kim Tiến - thị trấn Bo (theo quốc lộ 12B có hệ thống đường liên xã)
Trang 21-Tuyến thị trấn Bo - Cao Dương ( theo quốc lộ 12B - quốc lộ 21)
Tuyến du lịch liên huyện, liên tỉnh:
- Thị trấn Bo - Hạ Bì - Thượng Tiến - Tú Sơn - thành phố hòa Bình - Lương Sơn- Xuân Mai - Hà Nội
- Thị trấn Bo - Quen thị, xã Cao Dương - Quán Sơn ( Hà Tây cũ) - Hà Nội
Tuyến du lịch quốc gia:
- Thị trấn Bo - Thành phố Hòa Bình - Hà Nội - Hạ Long - Hải Phòng
- Thị trấn Bo - Mương Khến (Tân Lạc) - bản Lạc ( Mai Châu) - Sơn La -
Điện Biên - Sapa (Lào Cai)
- Thị trấn Bo - Hà Nội - Hà Nam - Ninh Bình - Đà Nẵng… (theo quốc
2.3 Tiềm năng du lịch ở Kim Bôi
Đã từ lâu du lich được ghi nhận như một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân về mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội nâng cao những giá trị về thể chất và tinh thần của cả cộng đồng Thời đại ngày nay con người đang đứng trước những thành tựu vĩ đại của khoa học cộng nghệ tiên tiến, các phương tiện thông tin và giao thông hiện đại đã xóa dần khoảng cách xa xôi giữa du khách với đối tượng thăm quan Trước những thay đổi của cuộc sống nhu cầu của con người ngày càng
Trang 22tăng, nếu các chuyến du lịch ngày xưa chỉ là ngắm nhìn và chiêm ngưỡng thì ngày nay sẽ là thưởng thức và đi sâu nghiên cứu Vì vậy để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách thì phải phát triển nhiều loại hình du lịch phù hợp
2.3.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên
Hiện nay trên địa bàn của huyện có khoảng 6 địa điểm du lịch: trong đó
không thể không nhắc đến khu du lịch suối khoáng Kim Bôi
Dọc theo quốc lộ 12 B con đường đi vào lịch sử của dân tộc trong những năm kháng chiến, sẽ đưa bạn tới một vùng đất anh hùng gắn liền nhiều địa danh nổi tiếng của xứ mường Động Câu ca xưa “Nhất Bi nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” đã khắc họa nên điều đó Kim Bôi một mảnh đất giàu chất thơ, đẹp như tranh vẽ, nơi có nguồn nước khoáng diệu kì được thiên nhiên ban tặng từ ngàn xưa, còn để lại giá trị du lịch đặc sắc, từ những nguồn lợi quý giá này đã phục vụ nhu cầu của du khách đến tham quan thưởng thức và tìm hiểu Khách sạn du lịch công đoàn suối khoáng Kim Bôi đã được xây dựng nằm ở một vị trí rất thuận lợi, khu du lịch công đoàn suối khoáng Kim Bôi thuộc địa phận của thôn Mớ Đá, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô
Hà Nội 75km, cách trung tâm thành phố Hòa Bình 30km chính vì thế du khách rất dễ tìm đến điểm du lịch này Khu du lịch công đoàn suối khoáng Kim Bôi nằm trên địa phận độc đáo hấp dẫn bởi nguồn nước khoáng từ ngàn xưa trong vắt, không mùi vô khuẩn, được khoan sâu dưới lòng đất khoảng 1000m khi vừa lộ thiên luôn giữ nhiệt độ ổn định từ 340C đến 360C thành phần chính là Bicacbonnat Sunphát, can xi Magiê, thuộc loại nước khoáng giải khát chữa bệnh có lợi cho sức khỏe, nước khoáng Kim Bôi có đủ tiêu chuẩn để làm nước uống, có thể tắm ngâm mình chữa bệnh để phục vụ đông đảo bạn bè gần
xa, nguồn nước khoáng Kim Bôi có đủ các yếu tố khẳng định là nguồn nước
có giá trị cao, theo nghiên cứu của các nhà khoa học nguồn nước khoáng này
có độ HP là 7,13 thành phần đặc hiệu là Silic đây là thành phần rất quý, độ
Trang 23khoáng hóa rất thấp khoảng 456,65 mg/l Theo công bố mới nhất của Bộ Khoa
học và Công nghệ số 03/2006 đã đưa ra bảng thành phần tổng chất rắn hòa tan
Nguồn nước khoáng Kim Bôi có rất nhiều chất tồn tại ở dạng vị lượng
được sản xuất theo hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế ISO
9001:2000 và được thanh trùng bằng tia cực tím
Công ty du lịch Công đoàn suối khoáng Kim Bôi đã phát triển mở rộng
xây dựng hai bể tắm lớn và các bể tắm khoáng, tắm xoáy cùng các cơ sở phụ
vụ ăn uống nghỉ ngơi và cơ sở đóng chai sản xuất nước khoáng tại chỗ Cùng
thêm nhiều hạng mục khác như: Khu vui chơi giả trí cao cấp, khu điều dưỡng
bệnh, khu nhà nghỉ dưỡng cao cấp phức hợp… hàng năm đã đón khoảng
40.000 lượt khách, hi vọng trong tương lai khu du lịch suối khoáng Kim Bôi
sẽ là một điểm đến lí tưởng cho các du khách
Khu mộ cổ Đống Thếch
Đến với Kim Bôi không thể không ghé thăm một địa danh cũng như một
di tích lịch sử của người Mường Đó là khu mộ cổ Đống Thếch nơi còn in dấu
nhiều vết tích minh chứng cho một thời kì phát triển và hình thành của người
Mường xưa
Với diện tích khoảng 6 hecta, khu mộ cổ Đống Thếch nằm trên địa phận
của xóm Chiềng Động, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi Theo tiếng Mường thì
“ Đống” là từ dùng để chỉ những nơi có mồ mả, còn “Thếch” là chỉ tên vùng
đất đó, vậy Đống Thếch chính là nơi người Mường chôn cất và mai táng
Trang 24những người quá cố Theo sử sách ghi lại thì trước đây Đống Thếch rộng hàng vạn mét vuông gối đầu lên thung lũng mường Động, tương truyền đất ở đây có
địa thế hàm rồng, do vậy mà Nhà Lang độc chiếm để đời đời giữ nghiệp
Điều bí mật ở khu mộ này là có tới hàng trăm ngôi mộ được chia làm tám khu chính Ngôi mộ được tìm thấy đầu tiên có niên đại sớm nhất là năm
1651 Như vậy ta có thể thấy rằng khu mộ cổ Đống Thếch đã gần tới 400 tuổi,
có niên đại từ rất sớm Nhìn tổng thể cả khu mộ cổ là cả một quần thể lớn nhỏ phần nhiều các mộ được khắc chữ Hán, nhưng đều tuân thủ một nguyên tắc chung là phía đầu mộ chôn ba khối đá cao, to nhất thành hàng thẳng, còn chân
mộ chôn ba khối đá nhỏ hơn, thấp hơn đối xứng với đầu mộ, có những khối đá cao tới năm mét và nặng hàng chục tấn Trên khối đá phía đầu mộ đều có khắc chữ Hán nói về thân thế và công danh của người quá cố
Theo bản dịch của các nhà khảo cổ học thì những dòng chữ Hán ghi trên bia mộ rất rõ, khu mộ này là nơi chôn cất mai táng của dòng họ Đinh Công một trong những dòng họ lớn nhất của người Mường Theo sử sách ghi chép lại ông Đinh Công Kỷ (1582 - 1647) một vị tướng giỏi dưới thời Vua Lê Công Hưng được phong chức Quận Công tước uy lộc hầu, thổ tù kiêm cai quản vùng mường Động Khi mất thi hài của ông được đưa về vùng đất này để chôn cất, được tùy táng bằng 15 chiếc xe tang, 7 con voi, 5 con ngựa và nhiều đồ vật có giá trị Điều làm cho nhiều người thắc mắc rằng khu mộ cổ có tầm vóc lịch sử như vậy mà không được phát hiện sớm để tôn tạo và phát triển Theo thông tin của các ngành quản lý và người dân địa phương thì vào năm 1945 người dân nơi đây đã tự khai quật một ngôi mộ đổi các hiện vật cho các lái buôn và đổi lấy lương thực để mưu sinh trong những ngày đói khát Hiện vật khai quật được gồm có đồ đồng, gốm, bình cổ, đồ bạc, ngọc ngà, rồi cả trống
đồng, thau đồng…Về sau các cơ quan quản lý vào cuộc thì số các ngôi mộ cổ còn lại chưa khai quật còn rất ít và nhiều khu mộ còn chưa được phát hiện Do quá trình địa chất nên các khu mộ cổ đã bị chôn vùi sâu dưới đất
Trang 25Năm 1986 Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình1 đã tiến hành khai quật kết quả cho thấy có nhiều dấu tích về một
đời sống văn hoá tinh thần cũng như vật chất rất phong phú của người Mường xưa Các đồ tìm thấy gồm rất nhiều mảnh tước được đúc tạc bằng nhiều hoa văn tinh xảo Đặc biệt là trống đồng, cồng chiêng cùng nhiều hiện vật dùng trong sinh hoạt hàng ngày đã được tìm thấy, đáng lưu ý hơn là ở đây còn có mặt của các sản phẩm gốm của nhiều trung tâm sản xuất khác nhau như: gốm Thổ Hà, Bát Tràng và các đồ gốm có nguồn gốc xuất sứ từ Trung Quốc, Nhật Bản, với những bằng chứng đó, năm 1991 Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận khu mộ cổ Đống Thếch là khu di tích lịch sử quốc gia Hiện nay khi đến thăm
du khách muốn tìm hiểu kỹ về khu mộ cổ này có thể đến tham quan khu nhà truyền thống trưng bày hiện vật, khu mộ cổ Đống Thếch đang được trùng tu tôn tạo để trở thành một điểm tham quan nghiên cứu, không những thế nơi đây cũng có thể là một điểm du lịch giúp du khách phần nào có thể tái hiện lại cuộc sống của người Mường trước kia
Thác Bạc Long Cung
Là một trong những khu du lịch sinh thái đầy tiềm năng đã và đang
được khai thác trong quần thể và cụm du lịch ở Kim Bôi, Thác Bạc Long Cung nằm trên địa phận của xóm Củ, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi, khu du lịch này ra
đời đã hình thành nên một tour du lịch mới ở Kim Bôi đó là: Thác Bạc Long Cung - Nước khoáng Kim Bôi - Khu mộ cổ Đống Thếch - Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng tiến
Khu du lịch này cách Hà Nội 70 km, cách khu du lịch nước khoáng Kim Bôi 10 km được nằm trong vùng rừng nguyên sinh, núi cao, khí hậu trong lành, với thảm thực vật, động thực vật phong phú, với độ cao 1300 m so với mực nước biển Đăc biệt khu du lịch này nằm ven một con suối lớn và những
1
Nay tách ra thành ba tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Hà Tây ( Hà Nội ngày nay)
Trang 26thác ghềnh có độ dốc cao, nước từ những thác tuôn chảy quanh năm, từ trên
độ cao hàng trăm mét dội ào ào tạo thành những bức trranh thủy mạc đầy sinh
động, Thác Bạc Long Cung sẽ có quy hoạch phát triển lớn trên diện tích 120 hecta và được phân thành các khu chức năng riêng biệt đây cũng là một trong những điểm du lịch lí tưởng ở Kim Bôi
Thác Bạc Long Cung sẵn sàng đón khách gần xa với các dịch vụ tắm bể bơi, cầu trượt, thác, hồ, thăm động long cung, thủy cung, nghỉ tại các nhà sàn ven suối, câu cá ở hồ thiên nga Thắng cảnh suối thác, hồ, hang, động, leo núi, chơi các trò chơi dân gian dân tộc như: tung còn, đánh đu, đi cà kheo, bắn nỏ, câu cá, chọi gà và các môn thể thao bóng chuyền, cầu lông, bóng đá,…văn hóa nghệ thuật cồng chiêng, hát ru, các làn điệu dân ca Mường, múa sạp, đốt lửa trại … các dịch vụ xông hơi, mát sa…với các món ẩm thực Hòa Bình như cơm lam, rượu cần, các món ăn đặc trưng của núi rừng…
Các điểm nhấn của thác Bạc Long Cung gồm có, thác Tình Âu Cơ, thác Trải chiếu Quan Lang, Nàng út Lót - Hồ Liên, thác Bạc, đường lên cổng trời Tiên Sơn, khu vườn Thượng Uyển, hồ Tiên Sa, thác Thiện Ngọc Thạch,… đến thác Bạc Long Cung du khách sẽ thỏa mãn chiêm ngưỡng những thác nước hùng vĩ và thi vị tôn thêm vẻ nguyên sơ của khu rừng nguyên sinh với đầy đủ các loại cỏ cây muông thú
Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến
Với diện tích trên 7 ngàn hecta trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 1.496 hecta, phân khu phục hồi sinh thái 1 là 4.016 hecta, phân khu phục hồi sinh thái 2 là 1.748 hecta bao gồm xã Thượng Tiến (Kim Bôi) 5.512, và xã Quý Hòa (Lạc Sơn) 1.2248 hecta, xã Kim Tiến (Kim Bôi) 500 hecta Khu bảo tồn này nằm ở 105020’ đến 1050 30’ kinh đông, từ 20030’ đến 200 độ 40’ độ vĩ Bắc, phía bắc giáp với xã Tú Sơn, Vĩnh Tiến, Đông Bắc, Hợp Đồng của huyện Kim Bôi, phía nam giáp xã Miền Đồi, Tuân Đạo, Mỹ thành huyện Lạc Sơn Phía Đông giáp xã Kim Bình, Kim Bôi, Kim Truy, Cuối Hạ huyện Kim Bôi
Trang 27Tây giáp với xã Xuân Phong, Yên Lập, huyện Cao Phong Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến có 133 loại cây bản địa, tiêu biểu như lim xanh, nhội, quế, sấu, lát hoa, chò chỉ… và các loại di thực từ nơi khác đến
Rừng nguyên sinh Thượng Tiến có trên một ngàn loại thực vật và hơn 3 ngàn loại động vật sinh sống, trong khung cảnh rừng nhiệt đới ẩm rậm rạp du khách sẽ tận mắt chứng kiến và tận tai nghe thấy tiếng chim kêu vượn hót, hàng đàn sóc nhảy chuyền cành kiếm ăn, thỉnh thoảng cầy, cáo chạy vọt qua
đường mòn, còn dưới chân núi là bản làng truyền thống của người Mường
được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào chương trình bảo tồn làng bản toàn quốc, du khách có thể dừng nghỉ cùng gia chủ ăn một bữa cơm thân mật nơi thôn dã sau một ngày đi thăm rừng thú vị
Khu du lịch sinh thái V- Resort
Đến với V- Reort là đến với những trang trại rau trái và đến với khung cảnh thiên nhiên thắm đượm vẻ hoang sơ và thanh bình, với những biệt thự
sang trọng, những căn nhà sàn dân tộc vùng Tây Bắc, những căn nhà tranh
đồng quê ẩn mình giữa bạt ngàn hoa lá, các chất liệu xây dựng được kết hợp
và trang trí theo phong cách dân tộc mà chủ đạo là mây, tre đan
Với các dịch vụ tắm bể, bơi bể nước khoáng nóng tự nhiên, câu cá, đạp
xe, leo núi, đánh cầu, chơi tenis, hát karaoke, khiêu vũ trên sàn chuyên dụng, thưởng thức các loại hình văn nghệ dân gian các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung và vùng Hòa Bình nói riêng, do các chàng trai cô gái của người Mường Kim Bôi thể hiện, quý khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành thoáng
đãng của núi rừng và văn hóa ẩm thực đặc trưng của đất Mường Kim Bôi do các đầu bếp nổi tiếng chế biến từ các thực phẩm được nuôi trồng từ trang trại
và được hưởng các dịch vụ từ V- Resort mang lại
2.3.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
Bất cứ một loại hình văn hoá nào, dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần thì đều do con người sáng tạo ra qua thời gian và qua các giai đoạn lịch
Trang 28sử khác nhau, các giá trị văn hóa của dân tộc nào thì mang những đặc trưng riêng của dân tộc ấy Có những giá trị văn hóa đã bị mai một và mất dần đi, nhưng cũng có những giá trị văn hóa vẫn còn nguyên giá trị của nó Những giá trị văn hóa của dân tộc Mường đã thu hút được rất đông đảo sự khám phá và tìm hiểu của các cộng đồng dân tộc khác trên đất nước ta, không những thế
mà còn có cả sự quan tâm của bạn bè quốc tế Vì những lẽ trên, tôi cho rằng những giá trị vật chất và tinh thần là những tiềm năng nhân văn to lớn, trong giai đoạn hiện nay các giá trị đó thực sự đang trở thành những tiềm năng lớn
để phát triển du lịch ở Hòa Bình nói chung và huyện Kim Bôi nói riêng trong
hệ thống du lịch Việt Nam
Địa vực cư trú chủ yếu của người Mường Hòa Bình nói chung và của
huyện Kim Bôi nói riêng là đều nằm trong các thung lũng hẹp trên sườn núi
đá vôi và thường bên các dòng suối, được bố trí theo hình rẻ quạt, người Mường vừa làm ruộng vừa làm nương rẫy, đây là tập quán cư trú của cư dân trồng lúa nước định cư Jeanne Suisinier trong tác phẩm Người Mường đã mô tả làng bản Mường như sau:
“ Bản Mường truyền thống không nằm trên các đường cái lớn mà nhấp nhô thấp thoáng ẩn hiện trong màu xanh bao la của núi rừng lối vào bản Mường thường khúc khủy ngoằn ngèo uốn lượn theo thế đất, thế rừng tự nhiên Ta có thể nhân thấy các làng bản Mường bởi dấu hiệu của một cây cao
từ một góc rừng nhỏ nhô lên một bui cau trong một vùng lá, một mái nhà tranh hiên lên như một khối màu nâu, một chút khói bốc lên không thành từng
cộ, như những bức màn, nhìn kỹ ta thấy đó đay độ daày của mái nhà, góc của hai bức vách, một bậc cầu thang, ngừng lại một lúc ta nghe rõ nhịp chày giã gạo”1
Bước vào ngay đầu bản Mường nơi mó nước có những cọn nước, một biểu tượng nên thơ với những em bé đứng tắm nô đùa, xa một chút là khối dã
1
Jeanne Cuisinier Người Mường( bản dịch), Nxb Lao Động,H, 1995,
Trang 29gạo bằng nước, một công trình tuyệt vời mang dáng vẻ đặc trưng của người Mường, phía xa là những thửa ruộng bậc thang màu mỡ xen kẽ những mảnh rừng xanh thẳm bằng dáng các chàng trai cô gái Mường lao động sản xuất Tất cả con người và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình tuyệt đẹp mang dáng vẻ Mường làm nao lòng biết bao du khách
Mỗi bản làng người Mường có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối riêng, thuộc phần quản lý sử dụng của mỗi bản Quy mô đất đai của từng bản to hay nhỏ phụ thuộc vào hoàn cảnh địa lý của mỗi bản, vào quy mô dân số, nóc nhà trong bản
Với điều kiện sống như vậy họ sống hòa mình trong núi rừng hiền hòa tươi đẹp, với mọi sinh hoạt từ tôn giáo tín ngưỡng đến phong tục tập quán đến các nhu cầu thường nhật như: ăn, mặc ở, đi lại đều do núi rừng mang lại Người Mường yêu núi, rừng, ruộng nương của họ như người Kinh yêu đồng bằng, yêu con sông mang nặng phù xa của mình vậy Cảnh quan văn hóa nơi cư trú ấy đã tạo nên một sắc thái văn hóa truyền thống đẹp đẽ của người Mường, điều đó đã thu hút được nhiều du khách đến tham quan khám phá và tìm hiểu mảnh đất đầy nét đặc sắc này
Có thể nói thiên nhiên đã ban tặng cho vùng người Mường nhiều ưu thế: nguồn khí hậu trong lành mát mẻ, không gian rộng lớn giữa núi rừng trùng
điệp du khách còn có cơ hội để thưởng thức không gian văn hóa ẩm thực của dân tộc Mường như; cỗ lá lợn thui, canh gà măng chua, cơm đồ, cá suối, cơm
Trang 30lam, hay ghé thăm các bản làng các nếp nhà sàn của người Mường hoặc có dịp trèo đèo lội suối thăm các hang động huyền ảo, rồi cuốn hút trong đêm giao lưu lửa trại, văn nghệ cồng chiêng, múa sạp, uống rượu cần, hát ví, hát đúm, hát giao duyên cùng với các chàng trai cô gái xứ Mường để khi ra về du khách không quên mua cho mình một chút sản vật của người Mường như: Mật ong, măng khô, những túi thổ cẩm xinh sắn được thêu dệt nên từ những bàn tay khéo léo của các cô gái Mường về làm quà cho người thân bạn bè Với những tiềm năng và lợi thế hiện có khu du lịch suối khoáng Kim Bôi đang
được mở rộng đầu tư phát triển thêm nhiều hạng mục như: Khu vui chơi giả trí cao cấp, khu điều dưỡng,…
Nhà ở
Nếu ai đã một lần đến thăm các bản của người Mường ở mường Động sẽ
được ngắm những ngôi nhà sàn cổ truyền Ngôi nhà ẩn hiện trong núi rừng, thấp thoáng trong hàng cây, ngôi nhà là tài sản quan trọng đối với các dân tộc nói chung và đối với dân tộc Mường nói riêng, đây là kiểu nhà của đại đa số các dân tộc ít người trên đất nước ta cư trú ở vùng miền núi thích hợp với điều kiện địa hình tự nhiên, người Mường đã gắn bó với ngôi nhà sàn của họ từ rất lâu đời, và ngôi nhà sàn được coi là nét văn hóa đẹp của người Mường
Ngôi nhà sàn là nơi diễn ra hầu hết mọi hoạt động sinh hoạt của gia đình Nhìn bề ngoài ngôi nhà sàn của người Mường rất dễ nhận biết: Bao gồm 4 mái, hai mái trước hình tam giác cân, hai mái đầu hồi có hình tam giác Kết cấu của nhà sàn Mường gồm có các vì kèo và các hàng cột, trong các hàng cột chia ra cột cái và cột con, nếu chú ý hơn nhà sàn truyền thống thường có 2 vì kèo, 4 cột cái và 8 cột con, ở giữa hai đầu cột cái được nối với nhau bởi xà ngang ngoài ra còn có các đòn tay nối các vì kèo với nhau, trên đòn tay có các hàng rui, trên rui có các hàng mè nằm vuông góc, trên cùng là đòn nóc, nhà của người Mường lợp bằng tranh hoặc bằng rạ, sàn nhà làm bằng cây bương hoặc cây nứa đập dập, cột nhà làm bằng thân cây gỗ to cũng có thể được chôn
Trang 31xuống đất hoặc kê lên hòn đá tảng, nhìn chung ngôi nhà sàn của người Mường
được làm hầu hết các vật liệu từ thiên nhiên do núi rừng mang lại như gỗ, tre, nứa, đât, đá,…
Việc tìm hiểu phong cách kiến trúc về ngôi nhà sàn của người Mường là vô cùng thích thú đối với khách du lịch đặc biệt là du khách quốc tế Ngôi nhà sàn của người Mường theo truyền thuyết là của thần rùa, do vậy hình dáng của ngôi nhà giống với hình dáng của con rùa Đối với người dân xứ Mường thì con rùa thành con vật vô cùng linh thiêng Du khách sẽ không khỏi bất ngờ trước lối kiến trúc, bố trí không gian trong căn nhà của người Mường đơn giản song lại vô cùng khoa học hợp lý, phù hợp với lối sống, tập tục và sinh hoạt của người dân miền núi
Toàn bộ khuôn viên nhà sàn được chia làm ba phần rõ rệt Sân trên cùng sát mái nhà là gác đựng lương thực, đồ dùng gia đình Sàn nhà là nơi sinh hoạt nghỉ ngơi, gầm sàn là nơi để các công cụ sản xuất, nhốt gia súc Phần không gian được chia theo cả chiều dọc và chiều ngang, từ cầu thang chính bước vào sàn phía dưới là bếp phía trên là bàn thờ, phía ngoài là tiếp khách, phía trong
là nơi sinh hoạt của phụ nữ Du khách muốn bước chân lên ngôi nhà sàn qua cầu thang chính thì phải rửa chân trên phiến đá, có bồn gỗ đựng hoặc ống tre
để đựng nước rửa chân trước khi lên sàn nhà, còn cầu thang phụ dùng để người nhà sử dụng khi làm ruộng nương về hay khi gia đình có khách
Nhiều khách du lịch rất ấn tượng và thích thú khi được lưu lại qua đêm tại ngôi nhà sàn của người Mường Ngồi bên bếp lửa uống rượu cần và nghe những giọng hát ngọt ngào của các cô gái Mường xinh đẹp, thưởng thức trích
đoạn của những áng Mo trong tiến trầm bổng vang vọng của tiếng cồng chiêng Đây là một trong những hình thức du lịch đang trở nên phổ biến của các công ty du lịch ở Hòa Bình
Trang 32ẩm thực
Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, trước hết món ăn của dân tộc Mường được chế biến từ các nguyên liệu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi, săn bắt, hái lượm Trên nương dưới ruộng người Mường ít trồng các loại cây ăn quả mà chủ yếu trồng lúa, ngô, khoai, sắn, vừng, đậu…họ tận dụng mọi yếu tố
tự nhiên để làm ruộng, bất kể ở đâu có đất mà họ có thể đưa được nước vào là
ở đó họ canh tác, những con suối tự nhiên được lợi dụng để làm mương dẫn nước Trong bữa ăn hàng ngày của người Mường cơm nếp được sử dụng thường xuyên bởi giá trị dinh dưỡng của nó Tuy nhiên ngày nay người Mường cũng sử dụng cơm tẻ làm khẩu phần ăn chính như người Việt
Bên cạnh việc trồng cây lương thực chính người Mường còn chăn nuôi gia súc để cung cấp thực phẩm chính cho bữa ăn, nhưng khác với đồng bằng là các con vật đều được thả rông
Rau hàng ngày cũng được hái trong rừng hoặc hái từ vườn nhà, bằng kinh nghiệm tích lũy từ bao đời nay họ biết được hàng chục loại rau ngon cùng với cả các loại măng, rừng cho người Mường rau quả quanh năm, sông suối không chỉ cung cấp nước tưới tiêu sinh hoạt, mà con là nơi cung cấp nguồn thủy sản cho người Mường
Như hầu hết các cư dân ở Đông Nam á, với kỹ thuật canh tác trồng lúa của người Mường từ xa xưa đã hình thành tập quán ăn cơm nếp Người Mường ngày nay ăn ba bữa, bữa sáng thường ăn trước khi đi làm rẫy, bữa trưa ăn khi
đi làm về, bữa tối ăn muộn hơn Bữa trưa và bữa tối bao giờ cũng có thêm rau
và thức ăn Nhìn chung, các món ăn của người Mường khá phong phú và mang bản sắc dân tộc, các món ăn tiêu biểu và đặc trưng như: cá chua, thịt lợn thui, măng chua nấu thịt gà, chả cuốn lá bưởi, cá nướng đồ, thịt Trâu nấu lá lồm, cơm lam, xôi nhiều màu…Ngoài ra còn một số món ăn khác được người Mường chế biến vào các dịp lễ tết hay thờ cúng riêng, nhưng thông thường thì
Trang 33trước khi ăn bao giờ người Mường cũng đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên trước rồi mới ăn sau
Nhắc đến văn hóa Mường trong nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống cộng
đồng Mường trong các buổi lễ, tiếp khách không thể thiếu rượu cần Từ Hà Nội tới Lương Sơn du khách sẽ bắt gặp ngay những quán ven đường bán rượu cần, đây chính là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của người Mường
Việc tổ chức uống rượu cần của người Mường đã có từ rất xa xưa Cần rượu được làm từ cây trúc hoặc bằng mảng tre thông nòng Hình dáng của những chiếc cần phụ thuộc vào tình cách của chủ do vậy thật thú vị là không
bộ cần nào giống bộ cần nào
Bình đựng rượu cần được coi là vật gia bảo càng lâu càng trở nên quý hiếm và trở thành của hồi môn, để có được một ché rượu cần ngon thì từ cách làm đến cách uống phải rất công phu và mang tính nghệ thuật cao Để chế biến loại rượu này người ta lấy một ít lá quế giã nhỏ trộn với bột gạo để làm men, ngâm gạo nếp sau đó bỏ vào vò bột sắn Sau từ 3 đến 5 ngày, mở hé miệng vò, đổ nước sôi sạch đến gần miệng ở đó có nan cài rồi lấy lá rừng cho vào vò rượu và cắm cần tre vào miệng vò cùng uống
Tục uống rượu cần thường có các cặp chẵn đi với chẵn, lẻ đi với lẻ, đính
2 hoặc 3 cần cùng một lúc Rượu uống đến đâu nước lại được cho thêm vào miệng vò đến độ sao cho mặt nước lúc nào cũng mấp mé trực tràn miệng vò Cũng có lúc theo tục uống rượu cần được chia làm 2 phe, phe nào uống kém
sẽ bị phe kia đổ nước lên đầu
Từ rất lâu rượu cần đã trở thành thân quen với khách du lịch Song cũng thật ấn tượng và may mắn nếu du khách được dự một buổi tiệc của người Mường Chủ nhà sẽ trải chiếu vuông vắn giữa sàn nhà rồi bưng vò rượu đặt giữa chiếu, mọi người ngồi vòng quanh, sau những lời hỏi thăm gia đình quê quán chủ nhà mời tất cả cùng chụm môi uống “của vườn của suối cho bớt mệt
Trang 34nhọc đường xa” người Mường gọi là uống thông cần, tiếp theo là uống đôi giữa chủ và khách, uống nam nữ, uống 4 người, uống 6 người và nhiều nữa, họ vừa uống vừa hát, hỏi thăm, hát mời, hát tiễn đưa, hát hẹn ước,…lời hát bay bổng hòa nhịp điệu trầm ấm và vang vọng của tiếng cồng chiêng
Chỉ một lần uống rượu cần mới hiểu hết được nét đẹp trong tục uống rượu cần của người Mường Tục uống rượu cần không chỉ thể hiện nét đẹp trong văn hóa ẩm thực mà nó còn là nét đẹp trong văn hóa ứng xử, thể thiếu tính tinh tế và tính cộng đồng cao, rượu cần là thứ không thể thiếu trong mỗi bữa tiếp khách, trong mỗi dịp lễ tết nó trở thành nếp sinh hoạt thường xuyên của người dân vùng miền núi Hòa Bình tươi đẹp này Đến bản Mường ngồi xung quanh vò rượu cần thưởng thức hương vị của núi rừng Tây Bắc nghe những điệu hát và xem những điệu múa, nghe sử thi “Đẻ đất đẻ nước” hòa quyện trong tiếng cồng chiêng âm thanh của núi rừng là một bước du lịch không thể thiếu trong hành trình du lịch của du khách, nếu chưa được uống rượu cần thì chưa được coi là đến Hòa Bình thăm bản làng của người Mường Một bình rượu cần đặc biết là vào dịp tết thật là một món quà tuyệt vời và có ý nghĩa cho người thân Ngoài rượu cần ra đồ uống của người Mường là nước suối, người Mường còn tìm các loại lá cây rừng để làm nước uống cho mình vừa có tác dụng chữa bệnh có lợi cho sức khỏe như lá vối, lá chè…
Trang phục
Cùng với ngôn ngữ trang phục là dấu hiệu, thông tin quan trọng thứ hai
để khi có dịp tiếp xúc chúng ta dễ dàng nhận biết được dân tộc này với dân tộc khác Trang phục của 54 dân tộc Việt Nam được coi như là một vườn hoa rực
rỡ sắc màu và đậm đà sắc thái tộc người mà trong đó trang phục của dân tộc Mường là bông hoa đẹp trong vườn hoa đa sắc ấy
Nghiên cứu và tìm hiểu về trang phục tức là chúng ta đi vào giải mã những dung lượng thông tin văn hóa ẩn chứa bên trong đồng thời thông qua trang phục ta có thể hiểu được những đặc trưng văn hóa của họ
Trang 35Trang phục của các dân tộc quả là rất đa dạng và phong phú bởi từng lứa tuổi, từng giới tính lại là lối cắt may xử lý khác nhau Rồi dần dần những trang phục này không đơn thuần chỉ có vai trò quan trọng trong việc sử dụng để bảo
vệ cơ thể mà nó còn đạt đến trình độ thẩm mỹ khá cao, phản ánh nếp sống văn hóa dân gian của cộng đồng dân tộc đó
Cùng với việc phát triển của dân tộc Mường trang phục cũng có một quá trình hình thành và phát triển dài, nó gắn bó một cách mật thiết và tồn tại trong sự vận hành của đời sống người Mường Từ khoảng nửa thế kỷ nay bộ trang phục của người Mường đã dần trở nên quen thuộc, gây ấn tượng với chiếc váy bó sát thân, cạp váy hoa phô trước ngực, chiếc áo cánh lửng, chiếc
áo trùng buộc vạt, thắt lưng xanh tấm khăn trắng đội đầu, vòng kiềng sáng lấp lánh Bộ nữ phục ấy không có vẻ diêm dúa quá như bộ trang phục Dao, cũng không quá kín đáo như bộ trang phục Tày, mà nữ phục Mường tiềm ẩn những sắc thái riêng qua đường nét may và qua màu sắc trang trí
Về áo của phụ nữ Mường có hai loại áo: áo ngắn (áo pắn) và áo dài (áo chùng)
áo ngắn thường được phụ nữ Mường mặc hàng ngày, áo may ngắn thân,
xẻ ngực, không cài khuy, cổ áo tròn, ống tay dài tới mu bàn tay và bó sát cánh tay, ở giữa sống lưng có một đường may bổ từ cổ xuống tới gấu áo, áo ngắn của phụ nữ Mường được may bằng vải bình thường hoặc bằng lụa với màu sắc sặc sỡ, áo mặc bó sát lấy thân, không cài khuy nên lộ phần cạp váy trước ngực
và chiếc yếm bó sát lấy ngực vừa nõn nã, vừa kín đáo nhưng lại có sức gợi cảm rất cao
áo dài (áo chùng) được mặc để tiếp khách hay đi lễ hội, áo may dài tới quá đầu gối, phần nửa thân trên ngắn, phần nửa thân dưới từ eo xuống buông xuôi may rộng dần áo xẻ ngực nhưng không xẻ tà, khi mặc áo phải ôm kín lấy phần dưới thân sau Trước đây, áo may bằng vải sợi tự dệt ngày nay may bằng vải lụa mềm mại và đẹp hơn
Trang 36Đặc biệt trang phục của phụ nữ Mường dễ nhận biết nhất là cạp váy Mường, cạp váy Mường mang tính nghệ thuật cao nó thể hiện lối tư duy, trình
độ nhận thức, hình họa thêu dệt của phụ nữ Mường, nói một cách khác cạp váy Mường là niềm tự hào, sự kiêu hãnh của phụ nữ miền sơn cước này
Ngoài ra, trang phục của người Mường còn được mặc và may theo địa vị hay trong nhà có việc đại sự, mà qua cách ăn mặc ta có thể phân biệt được Không giống như nữ giới trang phục của các chàng trai Mường đơn giản hơn, áo cũng có hai loại áo cánh và áo dài
áo cánh xẻ ngực, cài khuy, trùm lưng, cổ đứng, ở giữa sống lưng may ghép hai thân áo thẳng xuống từ cổ áo đến gấu áo, phía trước hai vạt áo có may túi rất to, bên ngực trái có một cái túi nhỏ
áo dài thường mặc bên ngoài, mặc khép, còn áo chùng thường được mặc trong các lễ hội hay trong đám cưới
Quần may ống rộng và đứng, cắt kiểu chân què, cạp quần rộng khi mặc dùng dây vải buộc để định vị
Trang phục của mỗi dân tộc quả là rất đa dạng và phong phú nhưng nếu chúng ta đi vào tìm hiểu nghiên cứu thì sẽ thấy ngay trong sự đa dạng và phong phú ấy những nét đặc sắc khác biệt từ hình dáng hoa văn tới chất liệu làm nên trang phục đó, đồng thời khi nhìn vào trang phục của mỗi dân tộc ta
có thể nhận thấy được đó là dân tộc nào, trang phục với phong cách và kiểu dáng là do điều kiện tự nhiên quy định nên, trong xu thế ngày càng hiện đại hơn và đặc biệt du lịch ngày càng phát triển
Đồ thủ công truyền thống
Trước hết phải kể đến nghề dệt, kỹ thuật dệt của người Mường được thể hiện rất rõ ở chiếc cạp váy mà ở phần trang phục ta đã thấy, ngoài ra nó còn
được thể hiện ở các sản phẩm khác như: mặt phà làm vỏ chăn, gối, váy
áo…bên cạnh kỹ thuật dệt là kỹ thuật nhuộm màu của họ, lúc làm phải biết cách ngâm như thế nào: trộn với nước vôi, với nước tro ngâm, để tạo ra một
Trang 37sản phẩm màu chàm xanh đẹp và bền màu Tất cả những việc đó đòi hỏi có kinh nghiệm, một sự khéo léo cao của mỗi người
Sau các sản phẩm dệt là nghề đan lát bao gồm các đồ dùng gia đình và
đồ dùng trong sinh hoạt, từ những cây tre, nứa, mây người Mường đã tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho đời sống hàng ngày Chủ nhân của những sản phẩm dệt may là phụ nữ còn chủ nhân của những sản phẩm mang tính nghệ thuật ứng dụng cao như đan lát lại được làm từ bàn tay của những người đàn ông Mường họ là những người nghệ nhân bậc thầy
Từ việc chọn nguyên liệu, pha tre nứa, vót nan, ngâm hong,…đến các kỹ thuật đan nong mốt, nong hai, nong ba…Người Mường đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm như: các kiểu rá, kiểu sàng, kiểu sọt, với các thao tác cuốn, xếp gài tạo hình dáng đẹp như tác phẩm mỹ nghệ cùng các sản phẩm như vách nứa, vách chạm kép, cái trò ổ (một dụng cụ đựng đồ dùng, quà của cô dâu) cái ếp trầu, cái muỗng đựng trầu, cái mủng đựng bông, bàn hè bằng mây và giang, cái ché đựng gạo…ngoài ra người Mường còn nổi tiếng với nghệ thuật trạm trổ trên các vật gia bảo hay trên các công trình kiến trúc…
Tất cả những đồ thủ công truyền thống có giá trị vô cùng lớn đối với việc phát triển du lịch ở Hòa Bình nói chung và ở Kim Bôi nói riêng, nhu cầu mua sắm quà du lịch của du khách ngày càng lớn, càng nhiều Tuy nhiên dưới sự phát triển của nền kinh tế kéo theo nhiều mặt và tác động của nó tới đời sống sinh hoạt của người dân là rất lớn, các nghề thủ công hiện nay ngày càng mai một đi hoặc do tính chất kinh doanh, do nhu cầu mua hàng lưu niệm của khách du lịch nên người dân chỉ chú ý đến số lượng chứ không chú ý đến chất lượng, những hoa văn họa tiết phức tạp đã bị lược bỏ bớt, đơn giản hóa đi, chất lượng của sản phẩm cũng không còn như nó vốn có Nếu như không có một chính sách kế hoạch hợp lý thì trong một ngày không xa những ngành nghề thủ công truyền thống này sẽ mất đi Đây là lợi ích kinh tế không nhỏ dành cho người dân địa phương, nhằm tạo công ăn việc làm cho một số lượng lao
Trang 38động lớn ở địa phương, tuy nhiên, không nên vì lợi ích kinh tế trước mắt mà
đánh mất các giá trị văn hóa truyền thống, đánh mất sự thích thú, thán phục, ngưỡng mộ của du khách thay vào đó là ánh mắt thất vọng tầm thường Điều này rất quan trọng nó có ảnh hưởng tới chiến lược phát triển du lịch của huyện
Như vậy những giá trị văn hóa vật chất tiềm năng ở người Mường là rất lớn nếu biết khai thác có kế hoạch một cách hiệu quả sẽ mang lại lợi ích kinh
tế cao Do vậy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần kết hợp với các cơ quan chức năng có những biện pháp thích hợp trong việc quy hoạch đầu tư và phát triển du lịch ở Hòa Bình nói chung và Kim Bôi nói riêng
Văn hóa phi vật thể
Văn hóa phi vật thể (văn hóa tinh thần) được hiểu là toàn bộ những giá trị văn hóa biểu hiện qua tôn giáo, tín ngưỡng phong tục tập quán trong đời sống tộc người Đó là những biểu hiện tâm linh của đời sống văn hóa những định hướng văn hóa thiên về những cái không cụ thể hay không cân đong đo đếm
được, nó được thể hiện qua những quan niệm, những ước muốn về tư tưởng về một cái “hư” không thể hiểu được bên cái “thực” của đời sống văn hóa và tâm linh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng Cũng chính vì lẽ ấy mà trong thời gian gần đây nhiều nhà văn hóa đã gọi hiện tượng văn hóa này bằng thuật ngữ
“Văn hóa phi vật thể”, “Văn hóa phi vật chất”
Xét trong đời sống các dân tộc ở nước ta thì văn hóa tinh thần được biểu hiện ở các loại tôn giáo như: Đạo phật, Đạo Lão, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa… hay các tín ngưỡng dân gian khác rất đa dạng và phong phú gắn với các hiện tượng tự nhiên (sấm, chớp, mây mưa, trăng, sao…) các biểu hiện về việc ước muốn có một cuộc sống yên ổn, tốt lành của cư dân nông nghiệp trồng trọt, vì thế mà các đặc điểm về văn hóa tinh thần thường gắn với nghi lễ, và quy trình thực hiện thông qua những niêm luật dân gian hay bác học
Trang 39Lễ hội
Có thể nói văn hóa của một dân tộc một vùng dân tộc được biểu hiện một cách tập trung nhất ở các lễ hội, nơi mà tất cả các hoạt động lễ nghi, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa văn nghệ… được biểu hiện toàn diện đầy đủ và tự
Lễ hội là của một cộng đồng, một bản làng hay một địa phương do nhân dân cùng đứng ra tổ chức Từ quy mô nhỏ hẹp có thể tiến lên thành hội của cả một vùng, hội của cả một nước Gọi là lễ hội vì thông thường có lễ thì có hội,
có thể có trường hợp có lễ mà không có hội, nhưng ngay cả trong những trường hợp ấy thì tinh thần của hội vẫn được bộc lộ âm thầm hay rõ nét
Đối với cư dân Mường ở Kim Bôi cũng vậy cũng không nằm ngoài quy luật ấy, họ thường tổ chức rất nhiều lễ hội trong năm
Các lễ hội của người Mường thường được diễn ra vào các dịp bắt đầu vụ thu hoạch, sau khi vụ thu hoạch, hay vào thời điểm giao thời chuyển mùa như: năm mới, chuyển mùa có hạn hay bệnh tật của cư dân trong làng bản
Lễ hội của người Mường ở Kim Bôi rất phong phú với các lễ hội xuống
đồng (khuống mùa), hội xéc bùa, lễ hội cầu mưa, lễ hội rửa lá lúa, lễ cơm mới, ngoài ra còn rất nhiều lễ hội khác nữa
Mặc du cư dân Mường ở Hòa Bình nói chung và Kim Bôi nói riêng có rất nhiều lễ hội truyền thống song do phạm vi đề tài nên tôi không thể giới thiệu hết được các lễ hội cổ truyền đó mà chỉ lựa chọn một số lễ hội cổ truyền tiêu biểu nhất, song điều quan trọng là ở các lễ hội này có thể được đưa vào để