1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành hà nội thực trạng và giải pháp

93 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

du khách không muốn quay lại, trong đó một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng sản phẩm du lịch, đến độ thỏa mãn của du khách khi đến Hà Nội chính là cơ sở vật chất kĩ thuật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

KHOA VĂN HÓA DU LỊCH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Cơ sở vật chất kĩ

thuật du lịch tại 4 quận nội thành Hà Nội, thực trạng và giải pháp” em xin

chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Văn hóa du lịch đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong những năm học vừa qua

Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn tới giảng viên – thạc sĩ Nguyễn Văn Thắng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công tác tại Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập và tìm tài liệu cho bài khóa luận

Cuối cùng em xin kính chúc quí thầy, cô cùng các cán bộ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH 8

1.1 KHÁI NIỆM CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH 8

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH 8

1.2.1 Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch phụ thuộc lớn vào tài nguyên du lịch 8

1.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch mang tính đồng bộ trong xây dựng và sử dụng 9

1.2.3 Chi phí cho cơ sở vật chất kĩ thuật thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh du lịch 10

1.2.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật được sử dụng trong thời gian tương đối dài 10

1.2.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật được sử dụng theo thời vụ 10

1.3 PHÂN LOẠI CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH 11

1.3.1 Căn cứ theo hình thức sở hữu 11

1.3.2 Căn cứ theo qui mô 11

1.3.3 Căn cứ vào tính chất hoạt động 11

Chương 2:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH HÀ NỘI VÀ THỰC TRẠNG CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH TẠI 4 QUẬN NỘI THÀNH HÀ NỘI 13

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH THỦ ĐÔ HÀ NỘI 13

2.1.1 Vị trí của du lịch Hà Nội 13

2.1.2 Tài nguyên du lịch của Hà Nội 14

2.1.3 Điều kiện kinh tế – xã hội và hiện trạng kết cấu hạ tầng Hà Nội 19

2.1.4 Hiện trạng phát triển du lịch Hà Nội 23

2.2 KHÁI QUÁT VÈ 4 QUẬN NỘI THÀNH HÀ NỘI 26

2.2.1 Quận Hoàn Kiếm 26

Trang 4

2.2.2 Quận Ba Đình 27

2.2.3 Quận Đống Đa 28

2.2.4 Quận Tây Hồ 28

2.3 THỰC TRẠNG CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH TẠI 4 QUẬN NỘI THÀNH 29

2.3.1.Về cơ sở lưu trú 29

2.3.2 Về cơ sở dịch vụ ăn uống, ẩm thực 34

2.3.3 Các cơ sở dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm và dịch vụ liên quan 38

2.3.4 Cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí văn hoá thể thao 46

2.3.5 Hệ thống doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 50

2.3.6 Phương tiện vận chuyển khách du lịch 50

Chương 3:GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH TẠI 4 QUẬN NỘI THÀNH HÀ NỘI 53

3.1 NHÓM GIẢI PHÁP VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 53

3.2 NHÓM GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 59

3.2.1 Đầu tư phát triển cơ sở dịch vụ lưu trú 59

3.2.2 Về đầu tư phát triển cơ sở dịch vụ ăn uống 60

3.2.3 Các cơ sở dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm và dịch vụ liên quan 68

3.2.4 Cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí văn hoá thể thao 72

3.3 NHÓM GIẢI PHÁP VỀ TUYÊN TRUYỀN QUẢNG BÁ 73

3.4 NHÓM GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 75

3.5 NHÓM GIẢI PHÁP VỀ HỢP TÁC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 76

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 81

Trang 5

du khách không muốn quay lại, trong đó một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng sản phẩm du lịch, đến độ thỏa mãn của du khách khi đến

Hà Nội chính là cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch của Hà Nội, đặc biệt là ở 4 quận nội thành Hà Nội (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Tây Hồ), nơi được coi là trung tâm, là vùng chính phục vụ nhu cầu, cung ứng các dịch vụ cơ bản cho du khách đến Hà Nội

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, của hạ tầng cơ sở của Hà Nội, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch của Thủ đô đã phát triển, từng bước hoàn thiện đáp ứng cơ bản được nhu cầu của du khách Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại khiến cho việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất chưa đạt hiệu quả cao, hơn nữa, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chính đáng của du khách Để phát huy tiềm năng du lịch của Hà Nội, tăng cường hiệu quả việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, cần phải nhanh chóng khảo sát để tìm ra những hạn chế, tồn tại và đề ra giải pháp khắc phục, từ đó tăng cường sức hút của thủ đô với du khách, phát triển du lịch

Trang 6

Để đáp ứng nhu cầu đó, là sinh viên ngành du lịch, tôi mạnh dạn chọn

đề tài: “Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành Hà Nội, thực

trạng và giải pháp” cho khóa luận tốt nghiệp của mình, với mục đích vừa là

đề tài tốt nghiệp, vừa mong muốn có được đóng góp thiết thực cho việc phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch ở 4 quận nội thành Hà Nội (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Tẩy Hồ), bao gồm hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ du lịch, các địa điểm phục vụ nhu cầu

ăn uống, vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển… Xem xét, đánh giá vai trò của chúng đối với việc phát triển du lịch, nghiên cứu thực trạng khai thác,

sử dụng của chúng phục vụ cho du lịch, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống các công trình phục vụ du lịch

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Khóa Luận nghiên cứu hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành Hà Nội là: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Tây Hồ trong mối liên hệ với việc phát triển sản phẩm du lịch cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu du khách tại khu vực

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở lý luận về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, vai trò của cơ sở vật chất kĩ thuật đối với du lịch, để tài khảo sát, đánh giá thực trạng việc khai thác, sử dụng hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật cho du lịch hiện nay tại 4 quận nội thành từ đó tìm ra những tồn tại, hạn chế trong việc khai thác hệ thống này cho việc phát triển du lịch Đề tài đưa ra những giải pháp khắc phục, thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch chính là mục tiêu, cũng là kết quả của đề tài

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập tư liệu;

Trang 7

- Phân tích, tổng hợp;

- Khảo sát thực tế

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Tên khóa luận: “Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành Hà Nội, thực trạng và giải pháp”

Ngoài mở đầu và kết luận, khóa luận được cấu trúc thành 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch

Chương 2 Khái quát chung về du lịch Hà Nội và thực trạng cơ sở vật

chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành Hà Nội

Chương 3 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4

quận nội thanh Hà Nội

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH

1.1 KHÁI NIỆM CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH

Theo chương 3 giáo trình Tổng quan du lịch (Trần Thị Thúy Lan –

Nguyễn Đình Quang, Nhà xuất bản Hà Nội, 2008):

Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và cung ứng các dịch vụ và hàng hóa du lịch (sản phẩm du lịch) nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của du khách trong suốt cuộc hành trình du lịch

Như vậy về mặt hiện vật cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm các công trình, khách sạn, nhà hàng, các trang thiết bị phục vụ cho quá trình kinh doanh của ngành du lịch

Nội dung của cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch gồm:

Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch gồm: hệ thống các khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải và có thể cả các rạp chiếu phim, công viên nếu do các ngành du lịch đầu tư và xây dựng

Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch bao gồm những thành phần cơ

sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch và một bộ phận cơ sở vật chất kĩ thuật của các ngành khác tham gia phục vụ du lịch như: hệ thống giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng (điện, nước, bưu điện và các cơ sở phục vụ khác)

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH

1.2.1 Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch phụ thuộc lớn vào tài nguyên du lịch

Mục đích các chuyến du lịch là để sử dụng tài nguyên du lịch như: nghỉ biển, nghỉ núi , mục đích chuyến đi đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào giá trị cũng như vị trí của tài nguyên du lịch (tài nguyên thiên nhiên và tài

Trang 9

nguyên nhân văn), khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch là cơ sở để xác định công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới thứ hạng của các công trình này

Sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kĩ thuật giúp cho cơ sở phục vụ du lịch hoạt động có hiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng của chúng trong năm Ví dụ ở các điểm du lịch nhỏ thì không cần thiết phải có cơ sở vật chất có qui mô lớn

Vị trí của tài nguyên du lịch là cơ sở để bố trí hợp lí cơ sở vật chất kĩ thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước

Sự phụ thuộc của cơ sở vật chất kĩ thuật vào tài nguyên du lịch không chỉ diễn ra một chiều mà các công trình phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định đến mức độ sử dụng tài nguyên du lịch

1.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch mang tính đồng bộ trong xây dựng và sử dụng

Đặc điểm này xuất phát từ tính đồng bộ của nhu cầu du lịch Cùng với những nhu cầu đặc trưng của du lịch như: tham quan, chữa bệnh, hội họp được đáp ứng chủ yếu bằng tài nguyên du lịch, hàng ngày khách du lịch còn cần phải thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu như ăn, ngủ, đi lại Ngoài ra khách còn cần tới những điều kiện thuận lợi, những dịch vụ bổ sung nhằm làm phong phú cho chuyến đi, gây hứng thú cho họ Do vậy để đáp ứng những nhu cầu trên cần phải xây dựng một hệ thống các công trình, các cơ sở phục

Trang 10

phục vụ lưu trú quyết định phần lớn tới qui mô sự đa dạng, chu kì sử dụng trong năm của các cơ sở khác như: ăn uống, vui chơi giải trí

1.2.3 Chi phí cho cơ sở vật chất kĩ thuật thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh du lịch

Nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp của con người Khách du lịch bao giờ cũng đòi hỏi nhu cầu của mình phải được thỏa mãn ở mức độ cao; nhất là nơi ở của khách đòi hỏi phải tiện nghi và thoải mái Cơ sở vật chất kĩ thuật tạo điều kiện cho sự đáp ứng cho những nhu cầu cao cấp đó Vì vậy giá trị của một đơn vị công suất sử dụng bao giờ cũng rất cao Mặt khác tính thời vụ của

du lịch cũng là nhân tố gây nên giá trị cao của một đơn vị công suất sử dụng

vụ chiếm tỉ trọng lớn và mang tính phi vật chất Các dịch vụ chủ yếu do con người tạo nên và thực hiện sự tham gia của máy móc thiết bị rất hạn chế Do vậy việc đầu tư xây dưng cơ bản phải có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về mặt thiết

kế kiến trúc để đảm bảo phù hợp lâu dài mà không cầu cải tạo nâng cấp nhiều

1.2.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật được sử dụng theo thời vụ

Đặc điểm này do tính chất thời vụ của hoạt động du lịch gây nên Công suất sử dụng của cơ sở vật chất kĩ thuật bị thay đổi theo các tháng, tuần, ngày

Trang 11

trong năm Vào mùa du lịch chính cơ sở vật chất kĩ thuật được sử dụng ở mức

độ rất cao vì lượng khách du lịch đông

Trong một tuần cũng có sự thay đổi nhịp độ sử dụng cơ sở thiết bị du lịch Nguyên nhân là do về cuối tuần lượng khách du lịch công vụ giảm, mật

độ khách ở các trung tâm hành chính kinh tế cũng giảm xuống Ngược lại vào cuối tuần có nhiều chuyến nghỉ ngắn ngày đến các điểm du lịch nằm ở ngoại

vi thành phố Vì vậy ở các điểm đó số lượng khách du lịch tăng lên Sự thay đổi nhịp độ sử dung cơ sở vật chất kĩ thuật trong một ngày thường diễn ra ở các cơ sở phục vụ ăn uống, giải trí, thể thao Nguyên nhân do nhịp độ đặc biệt của nhu cầu sống (nhu cầu ăn uống), thói quen giải trí vào buổi tối

1.3 PHÂN LOẠI CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH

1.3.1 Căn cứ theo hình thức sở hữu

Có thể phân ra cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch do nhà nước quản lí (bao gồm trung ương và các địa phương), do tư nhân quản lí, do các công ti liên doanh quản lí, do các công ti cổ phần quản lí, do các công ti TNHH quản lí hoặc công ti 100% vốn nước ngoài sở hữu

1.3.2 Căn cứ theo qui mô

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có qui mô lớn

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có qui mô vừa

Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch có qui mô nhỏ

1.3.3 Căn cứ vào tính chất hoạt động

Cơ sở giao thông vận tải du lịch chịu sự quản lí của các công ti vận tải

du lịch Cơ sở vật chất kĩ thuật gồm: các phương tiện vân chuyển, đường xá, nhà ga, bến đỗ xe, toa ngủ, toa phục vụ ăn uống

Cơ sở vật chất kĩ thuật của cơ sở phục vụ lưu trú bao gồm các công trình kiến trúc đặc biệt như các tòa nhà, các phương tiện, đồ đạc tiện nghi

Trang 12

trong các phòng phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi vui chơi của du khách ở trong cơ sở lưu trú

Cơ sở vật chất kĩ thuật của cơ sở phục vụ ăn uống bao gồm nhà hàng, nhà bếp, nhà kho, nhà bảo quản, quầy bar, các trang thiết bị nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ăn uống, giải trí cho khách Ngoài ra nó có thể phục vụ cả dân cư ở địa phương

Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ giải trí bao gồm: các công trình thể thao, phòng tập luyện, các trung tâm thể thao và các phương tiện phục vụ cho tập luyện và chơi thể thao Các công trình phục vụ hoạt động văn hóa thông tin như nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm Các cửa hàng thực phẩm, cửa hàng bán đồ lưu niệm, bán đồ chuyên dùng du lịch các cơ sở này phục vụ khách du lịch là chủ yếu

Cơ sở hoạt động trung gian: cơ sở vật chất kĩ thuật của cơ sở phục vụ các hoạt động trung gian là do các đại lí du lịch, các văn phòng du lịch quản

lí Nó gồm có: các văn phòng, các phương tiện thông tin (điện thoại, máy vi tính ), quầy hàng hóa, đồ lưu niệm, phương tiện giao thông

Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác gồm: trạm xăng dầu, hiệu cắt tóc, giặt là, bưu điện

Trang 13

du lịch trở thành ngành kinh tế trọng diểm của thủ đô chiếm 15 -16% GDP của thành phố Nghị quyết về phát triển du lịch thủ đô hà nội đến năm 2020

và những năm tiếp theo đã khẳng định “Xây dựng Hà Nội thực sự là một trung tâm du lịch của cả nước và khu vưc, là trung tâm phân phối khách hàng đầu của vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước, thực hiện chức năng cầu nối giữa thủ đô với các tỉnh, thành phố trong cả nước và quốc tế Phấn đấu đến năm 2020 đưa du lịch thành ngành kinh tế trọng điểm của thủ đô; Hà Nội trở thành thành phố du lịch mang giá trị của một thủ đô lâu đời; văn minh, hiện đại; thành phố du lịch cao cấp, điểm đến du lịch được ưa chuộng trên thế giới Phát triển một cách tương xứng các loại hình du lịch văn hóa; du lịch hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; du lịch cộng đồng”

Trong thời gian qua, Hà Nội có vị trí quan trọng trong du lịch của vùng

và cả nước: là một trong hai trung tâm du lịch quan trọng nhất của cả nước (chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh về một số chỉ tiêu ngành); là nơi thu hút phần lớn khách du lịch, trung tâm điều phối khách du lịch đến Việt Nam qua khu vực miền Bắc

Trang 14

Tóm lại, du lịch Hà Nội có vị trí quan trọng trong Qui hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Chiến lược phát triển

du lịch Việt Nam đến năm 2020… Các Chiến lược, Qui hoạch trên đã xác định

Hà Nội là một trong hai cửa đón khách đồng thời cũng là đầu mối phân phối, tổ chức thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế lớn của cả nước (cùng với thành phố Hồ Chí Minh), là một trong năm trung tâm du lịch quan trọng của cả nước và là trung tâm du lịch của khu vực phía Bắc, là cầu nối giữa du lịch các tỉnh vùng Bắc Bộ với du lịch cả nước, giữa du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế

2.1.2 Tài nguyên du lịch của Hà Nội

2.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20m so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông

Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh như Ba Vì cao 1.281m, Gia Dê 707m, Chân Chim 462m, Thanh Lanh 427m, Thiên Trù 378m Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp như gò Đống Đa, núi Nùng

b Thủy văn

Là con sông chính của thành phố, sông Hồng bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài

Trang 15

của con sông này trên đất Việt Nam Hà Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra, qua địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sống Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu đây là những đường tiêu thoát nước thải của thành phố

Hà Nội là một thành phố với nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông cổ Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500ha, đóng vai trò quan trọng trong điều hòa thủy văn; hồ Gươm lá phổi xanh nằm ở trung tâm của thành phố, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội; và các hồ Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ Ngoài ra, những hồ đầm khác được biết đến như Kim Liên, Linh Đàm, Ngãi Sơn – Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn

c Khí hậu

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh năm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao

Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2oC Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,2oC Cùng với hai thời kì chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông

d Cảnh quan, sinh thái

Trước năm 2008, tài nguyên du lịch về cảnh quan, sinh thái của Hà Nội còn hạn chế ngoại trừ cảnh quan ven các sông Hồng, sông Nhuệ và hệ thống

Trang 16

hồ như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm Sau khi Hà Tây và một số địa phương của Hòa Bình và Vĩnh Phúc hợp nhất vào Hà Nội, tài nguyên du lịch

tự nhiên của Hà Nội trở nên đa dạng và phong phú hơn với vườn quốc gia Ba

Vì, khu thắng cảnh Hương Sơn, cảnh quan vùng đồi núi Sóc Sơn

2.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Với hơn 1000 năm hình thành và phát triển, nếu tính từ thời điểm bắt đầu hình thành đô thị trên vùng đất Hà Nội ngày nay thì lịch sử Hà Nội đã trải qua hơn 2000 năm có lẻ Trải qua thời gian, bề dày văn hóa lịch sử của Hà Nội đã tạo ra một hệ thống các giá trị văn hóa là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quí giá

a Di tích lịch sử - văn hóa

Tài nguyên du lịch nổi trội của Hà Nội là tài nguyên du lịch nhân văn Tính đến nay ở Hà Nội có 5.175 di tích văn hóa lịch sử trong đó có 1.050 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, chiếm tỉ lệ gần 20% với mật độ di tích cao nhất trong cả nước Chỉ tính riêng số di tích đang được khai thác phục vụ mục đích du lịch của Hà Nội có mật độ 23,3 di tích/100km2, trong khi đó mật độ di tích trung bình của cả nước chỉ 3 di tích/100km2

Đến Hà Nội, du khách có thể hiểu sâu sắc về đất nước và con người Việt Nam thông qua các di tích và các truyền thuyết về chúng Ví dụ khi thăm thành ốc Cổ Loa, thăm đền Phù Đổng trên núi Sóc Sơn, du khác sẽ được nghe truyền thuyết Thánh Gióng, sự tích Rùa vàng đã giúp An Dương Vương xây thành và câu chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy

Hà Nội nổi tiếng với Văn Miếu, trường đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng từ năm 1070 Hà Nội còn nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử kiến trúc khác như chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, chùa Quán Sứ, đền Quán Thánh

Hà Nội còn có những di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhà văn hóa lớn của thế giới được UNESCO ca

Trang 17

ngợi Chỉ có ở Hà Nội mới có hàng loạt các bảo tàng quốc gia như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, Bảo tàng Dân tộc học Đây là những kho tư liệu cô đọng, súc tích nhất giúp du khách nâng cao sự hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng

Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có

từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoài thành Thăng Long Ngày nay khu phố cổ

Hà Nội là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề

Di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long là di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc Đây cũng là nơi ghi dấu sự nối tiếp truyền thống ông cha trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cùng với việc sáp nhập tỉnh Hà Tây vào với thủ đô Hà Nội hệ thống di tích lịch sử càng thêm phong phú Trong số 351 di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, đặc biệt có 12 di tích cổ tự nổi tiếng được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp vào loại quan trọng: chùa Hương, chùa Thầy, chùa Bối Khê, chùa Trăm Gian, chùa Tây Phương, chùa Mía, chùa Đậu

b Lễ hội

Thăng Long – Hà Nội là một trong ba vùng tập trung nhiều lễ hội của miền Bắc Việt Nam Mỗi lễ hội giống như một viện bảo tàng sống động về văn hóa truyền thống, mang đâm bản sắc của dân tộc tạo ra sức hấp dẫn bền vững đối với du khách

Trang 18

- Lễ hội chùa Hương;

- Hội làng Lệ Mật;

- Hội làng Triều Khúc;

- Hội thổi cơm thi Thị Cấm

Ngoài một số lễ hội trên, Hà Nội còn có hơn bốn trăm lễ hội nhỏ khác ở nhiều địa phương nội, ngoại thành

c Các làng nghề thủ công

Hà Nội trước kia đã nổi tiếng với những làng nghề phong phú, thể hiện qua câu thành ngữ quen thuộc “Hà Nội 36 phố phường” Theo thời gian, bộ mặt đô thị của khu phố cổ đã có nhiều thay đổi, nhưng những con phố nơi đây vẫn giữ nguyên những cái tên thuở trước và không ít trong số đó vẫn là nơi buôn bán, kinh doanh những mặt hàng truyền thống cũ Sau khi Hà Tây được hợp nhất vào Hà Nội, thành phố còn có thêm nhiều làng nghề danh tiếng khác Theo số liệu thống kê, toàn thành phố Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề chiếm 59% tổng số làng, có 47 nghề trên 52 nghề của toàn quốc, trong đó có 244 nghề truyền thống

d Văn hóa ẩm thực

Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỉ, tại Hà Nội có thể tìm thấy và thưởng thức những món ăn của nhiều vùng đất khác, nhưng ẩm thực thành phố cũng có những nét riêng biệt

Trang 19

Hà Nội còn là nơi có nhiều cửa hàng ăn với các món ăn dân tộc nổi tiếng, ở đây khách có thể được thưởng thức nghệ thuật ẩm thực của Việt Nam

e Các tiềm năng du lịch nhân văn khác

Hà Nội là mảnh đất của ngàn năm văn hiến, là một trung tâm văn hóa lớn của cả nước Hà Nội là một vùng đất cổ nên văn học của Hà Nội cũng rất phong phú, từ văn học truyền miệng, văn học chữ Hán, chữ Nôm đến chữ quốc ngữ Các truyền thuyết, truyện kể dân gian đến ca dao tục ngữ đều mang những nét rất Hà Nội, thanh lịch và tinh túy

Hà Nội có nhiều cơ sở hoạt động văn hóa văn nghệ, rạp chiếu phim, sân khấu, nhà hát Hà Nội còn là nơi nuôi dưỡng và phát triển các loại hình văn hóa truyền thống như tuồng, chèo, múa rối nước

2.1.3 Điề u kiện kinh tế – xã hội và hiện trạng kết cấu hạ tầng Hà Nội

2.1.3.1 Điều kiện kinh tế – xã hội

a Tăng trưởng kinh tế

Từ 2001 đến nay, kinh tế – xã hội của Hà Nội đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tổng GDP của Hà Nội năm 2010 đạt hơn 246,7 nghìn tỉ đồng, tương đương với 11,84 tỉ USD, chiếm hơn một nửa tổng GDP vùng đồng bằng sông Hồng và 12,1% cả nước

Tổng sản phẩm nội địa tăng 11% so với năm 2009 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Hà Nội thời kì 2000 – 2010 là 10,9%, cao gấp 1,49 lần

cả nước GDP bình quân đầu người của thủ đô năm 2010 chỉ gần 2.014 USD, gấp hơn 1,7 lần trung bình cả nước và 1,75 lần so với toàn vùng đồng bằng sông Hồng

Cơ cấu kinh tế theo ngành của hà Nội có sự dịch chuyển khá nhanh theo hướng tích cực Khu vực dịch vụ có tỉ trọng là 52,4% trong cơ cấu kinh

tế trên địa bàn thành phố năm 2008 và là ngành có tỉ trọng cao nhất Hà Nội là một trong số ít địa phương có tỉ trọng dịch vụ cao hơn ngành công nghiệp

Trang 20

Hà Nội là một trong số ít địa phương trong nhiều năm có mức bội thu ngân sách và đóng góp lớn cho ngân sách trung ương Năm 2010, tỉ lệ thu ngân sách huy động vào GDP là 40,5% và mức bội thu ngân sách lên tới hơn 59,9 nghìn tỉ đồng, chiếm 24% GDP

b Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ

Giữ vững và ổn định qui mô giáo dục Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, chất lượng mũi nhọn được nâng cao Hà Nội hiện có 2.363 trường học Trong đó, 546 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 23,1% Đào tạo nghề trên địa bàn được mở rộng

Đầu tư cho khoa học công nghệ được đa dạng hóa, công tác quản lí được đổi mới theo hướng gắn chặt hơn với yêu cầu thực tiễn

Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Công tác phòng chống dịch bệnh và quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm thu được kết quả tốt Mạng lưới y tế cơ sở được chú trọng củng cố; y tế chuyên sâu phát triển, một

số bệnh viện được đầu tư, nâng cấp và thành lập mới

Thực hiện có hiệu quả chương trình giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc Giải quyết việc làm có chuyển biến tích cực (trung bình mỗi năm giai đoạn 2006 – 2010 giải quyết việclàm cho trên 120 nghìn lao động)

Sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng người Hà Nội đạt được những kết quả quan trọng Thể dục thể thao có bước phát triển mạnh

c Xây dựng và quản lí đô thị

Công tác xây dựng và quản lí đô thị được tập trung chỉ đạo Tốc độ phát triển đô thị ở mức nhanh nhất so với các địa phương cả nước trong những năm gần đây Công tác quản lí trật tự xây dựng dần đi vào nền nếp, tỉ

lệ cấp phép xây dựng được nâng cao

Hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị được duy trì và tập trung đầu tư theo hướng hiện đại, đồng bộ Nhiều tuyến đường, nút giao thông quan trọng đã

Trang 21

hoàn thành Triển khai xây dựng một số công trình lớn, cải tạo nhiều hồ, công viên, tạo ra bước phát triển mới của thủ đô Mở rộng, cải tạo hệ thống phân phối và mạng cấp nước cho nhiều khu vực

2.1.3.2 Hiện trạng kết cấu hạ tầng

a Mạng lưới giao thông

- Hệ thống giao thông đường bộ:

Trên địa bàn thành phố hiện nay có khoảng 3.974km; trong đó 9 quận nội thành cũ có 643 km đường, quận Hà Đông có 37,1 km đường, thị xã Sơn Tây có 50,7 km đường

10 đoạn tuyến quốc lộ qua Hà Nội với chiều dài trên 150 km gồm: QL2, QL3, QL5, QL18, đường Hồ Chí Minh đang thi công, đường Pháp Vân – Cầu Giẽ, đại lộ Thăng Long, đường Nội Bài – Bắc Ninh, đường Bắc Thăng Long – Nội Bài)

Trên địa bàn thành phố có khoảng 237 cầu các loại

- Giao thông đường thủy nội địa:

Trên địa bàn thành phố có hệ thống sông với qui mô lớn, nhỏ khác nhau Trong đó, có các sông lớn chảy qua đại bàn như: sông Hồng, sông Đà, sông Đáy, sông Tích

Hệ thống cảng bến: Trên địa bàn Hà Nội hiện nay có 9 cảng sông có hệ thống kho bãi và công trình phụ trợ

- Hệ thống giao thông đường sắt:

Hệ thống đường sắt trên địa bàn thành phố có chiều dài 90 km, có 5 ga chính (Hàng Cỏ, Giáp Bát, Văn Điển, Gia Lâm và Yên Viên) và một số ga phụ (Thường Tín, Chợ Tía, Phú Xuyên, Ba La)

Các trục đường sắt hướng tâm thực chất là các trục đường sắt quốc gia nối vào đầu mối Hà Nội Hiện tại, có 5 tuyến đường sắt nối vào đầu mối Hà Nội: Hà Nội – TP Hồ Chí Minh, Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Đồng Đăng, Hà Nội – cảng Cái Lân

Trang 22

Hiện nay thành phố Hà Nội đang phối hợp với Bộ Giao thông vận tải triển khai các dự án đường sắt trên cao, gồm tuyến Yên Viên – Ngọc Hồi, tuyến Nhổn – ga Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông

- Hàng không:

Trên địa bàn thành phố hiện nay có các sân bay: Nội Bài (đi quốc tế, nội địa), Gia Lâm (bay dịch vụ kết hợp quân sự), Bạch Mai, Hòa Lạc và Miếu Môn (đều là sân bay quân sự)

Trên địa bàn thành phố có 104 doanh nghiệp vận tải hành khách bằng

xe taxi hoạt động với trên 9.000 xe

- Về hệ thống giao thông tĩnh và bến xe:

Khu vực các quận nội thành có tổng số trên 150 điểm trông giữ xe công cộng với diện tích 272.370 m2 với công suất phục vụ trông giữ trên 9,5 triệu lượt xe/năm

Hà Nội hiện có 6 bến xe khách liên tỉnh: Giáp Bát, Nước Ngầm, Lương Yên, Mỹ Đình, Hà Đông, Xuân Mai

b Mạng lưới cấp điện

Hiện tại thủ đô Hà Nội được cung cấp điện chủ yếu từ các nhà máy điện Hòa Bình, Phả Lại thông qua hệ thống điện miền Bắc và từ trạm 500kV Thường Tín

Lưới điện phân phối còn tồn tại nhiều cấp điện áp cũng như còn tồn tại nhiều các trạm trung gian chưa phù hợp với tiêu chuẩn hóa Mạng lưới phân phối tại khu vực nội thành chủ yếu đi nổi gây mất mĩ quan đô thị

Trang 23

c Thông tin và truyền thông

Trong những năm gần đây, mạng thông tin di động đã phát triển rất nhanh, với nhiều loại hình, dịch vụ đa dạng tạo nên một thị trường sôi động

và phong phú

Mạng lưới bưu cục, điểm phục vụ bưu chính của thành phố Hà Nội những năm gần đây đã có sự tiến bộ đáng kể, số lượng các điểm phục vụ ngày càng được mở rộng, hoàn thiện phù hợp với điều kiện mới và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

d Cấp nước

Khu vực phía Nam sông Hồng thành phố Hà Nội có 10 nhà máy nước chính do Công ti kinh doanh nước sạch Hà Nội quản lí và vận hành với tổng công suất khoảng 544 nghìn km3/ ngày đêm

Khu vực phía Bắc sông Hồng gồm 3 nhà máy nước (Gia Lâm, sân bay Gia Lâm và Đông Anh) do Công ti kinh doanh nước sạch số 2 Hà Nội quản lí với tổng công suất khoảng 98 nghìn m3/ngày đêm

Ngoài các nhà máy chính này còn có các trạm cấp nước nhỏ trong phạm vi thành phố do Công ti kinh doanh nước sạch Hà Nội và một số trạm cấp nước nhỏ do các cơ sở tư nhân quản lí vận hành

2.1.4 Hiện trạng phát triển du lịch Hà Nội

2.1.4.1 Về thị trường khách du lịch

Là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước, thủ đô

Hà Nội đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch của cả nước nói chung và của Bắc Bộ nói riêng, làm gia tăng đáng kể lượng khách của cả nước cũng như đóng góp lượng lớn ngoại tệ

Nằm ở vị trí địa lí quan trọng, với vị trí là đô thị loại đặc biệt, một trong hai trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước, trong thời gian qua Hà Nội có tốc

độ phát triển về khách khá cao

Trang 24

Hà Nội là trung tâm phân phối khách chủ yếu của vùng phía Bắc, đặc biệt đối với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng: khách du lịch từ Hà Nội chiếm 80 – 90% lượng khách đến Ninh Bình, 50 – 60% khách đến Hải Phòng – Quảng Ninh và 90% khách đến các tỉnh khác ở khu vực phía Bắc

Mức gia tăng lượng khách tới Hà Nội 12,49%/năm giai đoạn 2000 –

2010 trong đó khách quốc tế tăng 11,82% và khách du lịch nội địa tăng 12,6% Du lịch Hà Nội chiếm khoảng 15 – 16% thị phần khách trong tổng lượng khách đi lại giữa các địa phương trong toàn quốc

Hà Nội là trung tâm thu hút khách du lịch quốc tế lớn nhất cả nước Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế ở mức ổn định trong những năm gần đây

Khách quốc tề đến Hà Nội từ hơn 160 vùng, lãnh thổ, trong đó khách từ các thị trường có khả năng chi trả cao như Tây Âu, Đông Bắc Á, Úc, Bắc Mỹ Có 10 thị trường chiếm 75 – 80% tổng số khách vào Hà Nội: Trung Quốc, Pháp, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan và Singapore

Về mục đích du lịch của khách quốc tế: chủ yếu là du lịch hội thảo, hội nghị; du lịch văn hóa, lịch sử; lễ hội, du lịch tham quan thắng cảnh, làng nghề

Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm du lịch đón nhiều khách

du lịch nội địa với lượng khách trung bình chiếm 15% tổng lượng khách du lịch hàng năm của cả nước

Khách nội địa đến Hà Nội để đi du lịch trên địa bàn thành phố và thông qua Hà Nội để đi du lịch ở các tỉnh lân cận Như tham quan di tích lịch sử văn hóa; du lịch lễ hội; du lịch hội nghị, hội thảo; thăm thân; du lịch thương mại; nghỉ dưỡng, tham quan danh thắng

Về thời gian lưu trú trung bình của khách: khách quốc tế 2,1 ngày; khách nội địa 1,6 ngày

2.1.4.2 Tổng thu từ du lịch

Trang 25

Theo báo cáo của Sở VHTTDL Hà Nội, tổng thu từ du lịch của Hà Nội

có mức tăng trưởng tương đối ổn định và khá cao so với các địa bàn trọng điểm du lịch trong cả nước Tăng trưởng trung bình giai đoạn 2000 – 2010 đạt 24,6%/năm Năm 2011 tổng thu từ du lịch đạt 30.000 tỉ đồng, tăng 11,11% so với năm 2010

Tốc độ tăng trưởng trung bình GDP của ngành du lịch thủ đô giai đoạn

2000 – 2010 đạt 23,7%/năm

Mức chi tiêu bình quân của khách quyết định đến tổng thu từ du lịch Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế là 92 USD/ngày và khách nội địa ước đạt 49,5 USD/ngày

2.1.4.3 Về sản phẩm du lịch

- Tại khu vực nội thành:

+ Du lịch tham quan di tích văn hóa, lịch sử, nghiên cứu văn hóa dân tộc, tham quan phố cổ, các điểm danh thắng của thủ đô;

+ Du lịch tham quan, mua sắm hàng thủ công, mĩ nghệ các làng nghề; + Du lịch lễ hội;

+ Du lịch ẩm thực;

+ Du lịch hội thảo, hội nghị (MICE);

+ Du lịch thăm thân

- Khu vực ngoại thành và các tỉnh lân cận:

+ Du lịch tổng hợp sinh thái, giải trí, thể thao, nghĩ dưỡng;

+ Các sản phẩm du lịch mới xây dựng như các chương trình du lịch sinh thái, văn hóa tới tất cả các địa danh thiên nhiên nổi tiếng, các di tích lịch

sử văn hóa lâu đời, các làng nghề, dân tộc với những phong tục đặc trưng của vùng Hà Nội; các tour dã ngoại bằng xe đạp về các làng quê lân cận

Nói chung, sản phẩm du lịch Hà Nội đã được phát triển đáng kể về loại hình, chất lượng dịch vụ, góp phần đưa Hà Nội từ năm 2003 đến nay trở

Trang 26

thành một trong nhóm các đô thị hấp dẫn du lịch nhất của châu Á (năm 2006 đứng thứ 6 trong 10 thành phố hấp dẫn du lịch hàng đầu của chậu lục này)

2.2 KHÁI QUÁT VÈ 4 QUẬN NỘI THÀNH HÀ NỘI

2.2.1 Quận Hoàn Kiếm

Quận Hoàn Kiếm nằm ở vị trí trung tâm của kinh thành Thăng Long xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay Tên quận được đặt theo tên của hồ Hoàn Kiếm Là quận có diện tích nhỏ nhất của thành phố Hà Nội, nhưng quận Hoàn Kiếm là nơi thường xuyên diễn ra các sự kiện chính trị văn hóa quan trọng của thủ đô

Diện tích 5,29 km2 Vị trí: Bắc và Tây Bắc giáp quận Ba Đình Tây giáp quận Ba Đình và Đống Đa Nam giáp quận Hai Bà Trưng Đông giáp sông Hồng, qua bên kia sông là quận Long Biên

Về dân cư, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, toàn quận có 147.334 người Mật độ 33,662 người/km2 Dân cư quận Hoàn Kiếm từ xưa đến nay chủ yếu là dân tứ xứ tụ tập về

Quận Hoàn Kiếm được chia thành 18 đơn vị hành chính phường Trụ

sở UBND đặt tại số 124 phố Hàng Trống, phường Hàng Trống

Trên địa bàn quận có nhiều trụ sở các cơ quan đại diện ngoại giao, các

tổ chức quốc tế và văn phòng đại diện nước ngoài, cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, nhiều trụ sở tôn giáo lớn, nhiều di tích lịch sử - văn hóa

và di tích cách mạng, các công trình kiến trúc – văn hóa có giá trị

Quận có 170 di tích lịch sử-văn hóa và di tích cách mạng, các công trình kiến trúc – văn hóa có giá trị, tiêu biểu như Hồ Gươm, Tháp Rùa, nhà tù Hỏa Lò, đình Kim Ngân, chùa Báo Ân (còn gọi là chùa Liên Trì), Tháp Báo Thiên, đền Vua Lê, đền Ngọc Sơn, cửa Ô Quan Chưởng, Nhà hát Lớn Hà Nội

và Quảng trường 19-8, Nhà Thờ Lớn, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Tượng đài Lý Thái Tổ, Bưu điện Hà Nội, Chợ Đồng

Trang 27

Xuân Đặc biệt, toàn bộ khu phố cổ trong mục bảo tồn di sản đều nằm trong quận này

Quận Hoàn Kiếm còn là nơi tập trung các dịch vị có kĩ thuật và chất lượng cao, những phố kinh doanh, chợ đầu mối lớn

Toàn quận hiện có trên 13.000 hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao như chạm, khắc, kim hoàn, may, thêu, ren, đồ da, song, mây tre đan, hoa lụa, hoa giấy đang phục hồi

2.2.2 Quận Ba Đình

Diện tích 9.248 km2 Vị trí: Bắc giáp quận Tây Hồ, Nam giáp quận Đống Đa, Đông giáp sông Hồng, Đông Nam giáp quận Hoàn Kiếm, Tây giáp quận Cầu Giấy

Về dân cư, quận có tổng cộng 228.352 người Mật độ 24,703 người/km2

Quận Ba Đình có 14 đơn vị hành chính phường Trụ sở UBND đặt tại

25 phố Liễu Giai, phường Liễu Giai

Quận Ba Đình được Chính phủ xác định là Trung tâm hành chính – chính trị quốc gia, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Đây còn là trung tâm ngoại giao, đối ngoại Ba Đình có trụ sở nhiều tổ chức quốc tế, sứ quán các nước, nơi thường xuyên diễn ra các hội quan trọng của Nhà nước, quốc tế và khu vực Nhắc đến Ba Đình lịch sử là nghĩ ngay đến một vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều làng nghề cổ truyền đậm dấu ấn lịch sử như hoa Ngọc Nhà, Lĩnh Bưởi, lụa Trúc Bạch, giấy gió Yên thái, Hồ Khẩu, đúc đồng Ngũ Xã, bánh cốm Yên Ninh, rượu sen Thụy Khuê

Các địa điểm nổi tiếng trên địa bàn quận: Lăng Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, Phủ Chủ tịch, Chùa Một Cột, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hồ

Trang 28

Trúc Bạch, chợ Long Biên, Triển lãm Giảng Võ, Hoàng thành Thăng Long, Cung thể thao Quần Ngựa…

2.2.3 Quận Đống Đa

Quận Đống Đa nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội Trên địa bàn quận có

gò Đống Đa, nơi được coi là mộ tập thể của các binh sĩ nhà Thanh Trung Quốc Quận đặt theo tên chiến thắng trận Đống Đa của nghĩa quân Tây Sơn mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789)

Vị trí địa lí: Phía bắc giáp quận Ba Đình, phía đông bắc giáp quận Hoàn Kiếm (ranh giới là phố Lê Duẩn), phía đông giáp quận Hai Bà Trưng (ranh giới là phố Lê Duẩn và đường Giải phóng), phía nam giáp quận Thanh Xuân (ranh giới là đường Trường Chinh và đường Láng), phía tây giáp quận Cầu Giấy (ranh giới là sông Tô Lịch)

Quận Đống Đa rộng 9.96 km2 có dân số thường trú là 390 nghìn người (năm 2011) nhiều nhất trong các quận, huyện của Hà Nội

Thuộc quận Đống Đa có 21 đơn vị hành chính phường Trụ sở UBND đặt tại 279 phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột

Một số di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn quận Đống Đa là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, di tích Đàn Xã Tắc, di tích vòng thành Đại La, Chùa Bộc,

Gò Đống Đa và tượng đài vua Quang Trung, Chùa Láng, Đền Bích Câu, Ga

Trang 29

Diện tích 24,0km2, gồm 8 phường: Bưởi, Yên Phụ, Thuỵ Khuê, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Phú Thượng

Vị trí: phía đông giáp quận Long Biên; phía tây giáp huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy; phía nam giáp quận Ba Đình; phía bắc giáp huyện Đông Anh

Dân số của quận (đến năm 2005) là 109.163 người, mật độ dân số là 4.547 người/km2, quận Tây Hồ có mật độ dân số thấp nhất trong các quận nội thành

Quận Tây Hồ có điều kiện môi trường thiên nhiên ưu đãi Nổi bật với

Hồ Tây rộng khoảng 526 ha được coi là “lá phổi của Thành phố” Truyền thống Hồ Tây có các sản vật chim sâm cầm, hạt sen, vải lĩnh, giấy dó Nay quanh Hồ Tây nổi tiếng với những quán thịt chó tại Nhật Tân, các món ốc tại Phủ Tây Hồ, bánh tôm Hồ Tây

Các địa điểm nổi tiếng ở đây: Làng hoa Nghi Tàm, Nhật Tân, Chùa Bà Già, Phủ Tây Hồ, Công viên Hồ Tây, Chùa Trấn Quốc…

2.3 THỰC TRẠNG CƠ SỞ VẬT CHẤT KĨ THUẬT DU LỊCH TẠI 4 QUẬN NỘI THÀNH

2.3.1.Về cơ sở lưu trú

2.3.1.1 Quận Hoàn Kiếm

Theo thống kê của Sở VHTT và DL HN năm 2012 trên địa bàn quận Hoàn Kiếm có 276 cơ sở kinh doanh lưu trú phục vụ du lịch trong đó có 72 cơ

sở đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn và các hạng sao theo qui định

Về chất lượng chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú:

- Số khách sạn 5 sao là 3 khách sạn với 939 buồng: Melia Hanoi, Hilton Hanoi Opera, Sofitel Metropole Hanoi;

- Số khách sạn 4 sao là 1 khách sạn với 154 buồng: M (Moevenpick);

- Số khách sạn 3 sao là 6 khách sạn với 445 buồng: Đường Sắt, Công đoàn Việt Nam, Thiên Hà, Hòa Bình, Nhà hát Thăng Long, Chìa Khóa Vàng

Trang 30

- Số còn lại là 1 và 2 sao

2.3.1.2 Quận Ba Đình

Theo thống kê của Sở VHTT và DL HN năm 2012 trên địa bàn quận

Ba Đình có 90 cơ sở kinh doanh lưu trú phục vụ du lịch trong đó có 43 cơ sở

đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn và các hạng sao theo qui định

Về chất lượng chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú:

- Số khách sạn 5 sao là 2 khách sạn với 764 buồng: Hanoi Daewoo, Sofitel Plaza Hanoi;

- Số khách sạn 4 sao là 2 khách sạn với 567 buồng: Hà Nội, Fortuna;

- Số khách sạn 3 sao là 6 khách sạn với 401 buồng: Bên Hồ, Heritage

Hà Nội, Thương Mại, Khăn Quàng Đỏ - nhà A, Thiên Thai, DANLY;

- Số còn lại là 1 và 2 sao

2.3.1.3 Quận Đống Đa

Theo thống kê của Sở VHTT và DL HN năm 2012 trên địa bàn quận Đống Đa có 49 cơ sở kinh doanh lưu trú phục vụ du lịch trong đó có 29 cơ sở

đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn và các hạng sao theo qui định

Về chất lượng chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú:

- Không có khách sạn 5 sao;

- Số khách sạn 4 sao là 1 khách sạn với 95 buồng: Bảo Sơn;

- Số khách sạn 3 sao là 7 khách sạn với 505 buồng: HACINCO, ASEAN (Chùa Bộc), Kim Liên (khu 4), Vườn Thủ đô, Eastin Easy GTC Hà Nội, ASEAN (Ngô Sỹ Liên), Windy;

Trang 31

Về chất lượng chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú:

- Số khách sạn 5 sao là 2 khách sạn với 658 buồng: Sheraton Hanoi, InterContinental Westlake Hà Nội;

- Số khách sạn 4 sao là 1 khách sạn với 175 buồng: Thắng Lợi;

- Số khách sạn 3 sao là 1 khách sạn với 120 buồng: Tây Hồ;

- Số còn lại là 1 và 2 sao

Đặc biệt tại quận Tây Hồ có 1 cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng là căn hộ du lịch Đó là Fraser Suites Hanoi tại địa chỉ 51 Xuân Diệu, phường Quảng An với qui mô 186 buồng Fraser Suites Hà Nội là toà nhà cao nhất Tây Hồ, các căn hộ đều có hướng nhìn đẹp, không bị che chắn ra hồ Tây và sông Hồng Hiện tại Fraser Suites Hà Nội cung cấp những căn hộ rộng nhất cho các khách quốc tế tại Hà Nội Fraser Suites Hà nội cũng là khu căn hộ có phục vụ theo tiêu chuẩn vàng hàng đầu của thành phố Các căn hộ được trang

bị cao cấp và hiện đại, theo tiêu chuẩn quốc tế

2.3.1.5 Nhận xét chung về cơ sở lưu trú tại 4 quận trên

Tổng số cơ sở lưu trú tại 4 quận trên là 445 cơ sở lưu trú, chiếm 25,41% trên tổng số cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố (1751 cơ sở lưu trú) Trong đó có 156 cơ sở đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn và các hạng sao theo qui định, chiếm 66,95% trên tổng số cơ sở đạt chuẩn của toàn thành phố (233

cơ sở)

Chất lượng dịch vụ trong các khách sạn, đặc biệt khách sạn 4 – 5 sao, khách sạn liên doanh khá cao, tương đượng hoặc có chất lượng cao hơn các khách sạn cùng loại trên thế giới và khu vực Hầu hết các khách sạn đều có các tiện nghi ăn uống phong phú như nhà hàng, quán bar, cà phê, trung tâm thương mại, các tiện nghi hội nghị, hội thảo Đặc biệt các khách sạn trên 300 phòng thường có các tiện nghi thể thao và vui chơi giải trí như bể bơi, sân tennis, phòng tập thể dục thể thao, vũ trường, câu lạc bộ đêm…

Trang 32

Số cơ sở lưu trú tại 4 quận chiếm tỉ lệ cao so với toàn thành phố, tuy nhiên qui mô của hệ thống cơ sở lưu trú chủ yếu là nhỏ và vừa: bình quân 50 phòng/cơ sở lưu trú, chưa nhiều các khách sạn có qui mô lớn (350 – 500 phòng) do điều kiện vị trí là trung tâm thủ đô

Về tình hình hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch: công suất sử dụng buồng phòng trong các năm gần đây đạt trên 55 – 60%

Những khách sạn có qui mô lớn, có trình độ phục vụ cao đã thu hút được nhiều đoàn khách du lịch đi theo các chương trình trọn gói và nhiều nhà doanh thương các nước Loại khách sạn này thường khó khăn trong việc đăng

kí thuê phòng

Những khách sạn tu có qui mô không lớn nhưng có chất lượng phòng ở

và các dịch vụ được phục vụ tốt cũng kinh doanh có hiệu quả, có công suất sử dụng buồng thông thường từ 85 – 90%

Các khách sạn có qui mô nhỏ hoặc chất lượng phục vụ thấp, công suất

sử dụng buồng không cao Loại khách sạn này thường chỉ đón được những khách đi lẻ, khách có khả năng thanh toán trung bình đến lưu trú

Theo trang web du lịch có uy tín Trivago, chuyên đánh giá về chất lượng dịch vụ khách sạn trên thế giới, vừa công bố kết quả khảo sát mới Theo đó, thành phố Hà Nội có dịch vụ khách sạn được đánh giá cao, đứng thứ hai trong bảng xếp hạng chất lượng dịch vụ khách sạn tại 100 thành phố trên thế giới 4 quận nội thành nói trên cũng là 4 quận có vị trí rất quan trọng trong phát triển của thủ đô nên chất lượng của các cơ sở lưu trú du lịch được đầu tư phát triển tương đối tốt

Năm 2012, Hà Nội còn có 7 khách sạn được trao giải thưởng Gold Circle 2012 Giải thưởng Gold Circle thường niên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2009 là sáng kiến của Agoda nhằm mục đích ghi nhận những đóng góp tích cực của các khách sạn, khu nghỉ mát đã phối hợp chặt chẽ với Agoda

Trang 33

trong thời gian qua để cung cấp những sản phẩm trực tuyến nhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện cho khách hàng Năm 2012, Agoda.com đưa vào các tiêu chí liên quán đến các báo cáo đánh giá bao gồm cả điểm tổng hợp đánh giá của khách hàng, các khách sạn hiển thị thông tin tốt, giá cả cạnh tranh, và thể hiện sự hiểu biết về động lực kinh doanh phức hợp định hình cho ngành công nghiệp khách sạn Trong số 7 khách sạn được trao giải có đến 4 khách sạn đặt

vị trí tại quận Hoàn Kiếm Đó là Rising Dragon Palace Hotel, Sofitel Legend Metropole Hanoi, Melia Hanoi Hotel và Moevenpick Hotel Hanoi Ngoài ra còn 2 khách sạn nằm trên địa bàn quận Ba Đình Đó là Hanoi Daewoo Hotel

và Fortuna Hotel Hanoi

Tuy nhiên không thể tránh khỏi một số khuyết điểm nói chung của ngành kinh doanh cơ sở lưu trú phục vụ du lịch Thái độ phục vụ vẫn chưa được hoàn thiện Tuy có qua đào tạo nhưng vẫn còn mắc một số sai sót trong khâu tổ chức và tiếp đón khách, nhất là tại các khách sạn cao cấp càng đáng chú ý Ở một số khách sạn tại địa bàn vẫn chưa đa dạng hóa các loại phòng cho thuê, hoặc có nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng Thêm nữa, các doanh nghiệp thường có ít các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình, truyền thông mà hầu như chỉ quảng cáo trên website của mình Chính vì thế nên ít cạnh tranh được với các khách sạn có tầm cỡ

Một thông tin thêm về vấn đề nhân viên phục vụ tại khách sạn trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, theo một bài báo mới đây trên trang VnExpres có ba du khách Pháp bị đe dọa ở phố cổ Hà Nội vào ngày 24/4/2013 Ba khách du lịch quốc tịch Pháp này đáp xuống sân bay Nội Bài sau đó bắt taxi về một khách sạn 3 sao trên phố cổ Hà Nội, nơi đã đặt phòng từ trước Tuy nhiên, tài xế lại đưa đến khách sạn trên phố Hàng Thùng Ở được một đêm, nhóm khách phát hiện đây không phải khách sạn đã đặt phòng từ trước nên muốn dời đi Khi họ

Trang 34

trao đổi với lễ tân khách sạn, nhân viên này đã dọa đánh, thậm chí đe dọa có người đang đến để giết họ

2.3.2 Về cơ sở dịch vụ ăn uống, ẩm thực

Các tiện nghi ăn uống phong phú như các nhà hàng ăn Âu, Á, quán cà phê, bar và các cơ sở dịch vụ khác được xây dựng riêng; các tiện nghi dịch vụ

ăn uống, phục vụ đám cưới, hội nghị trong khách sạn phát triển nhanh, phong phú và đa dạng Đặc biệt phong cách phục vụ và hình thức bày trí món ăn cũng như các dịch vụ văn hóa ẩm thực khác nghệ thuật dân gian được lồng ghép trong các bữa ăn tạo giá trị trải nghiệm đặc sắc cho khách du lịch Các đối tượng khách du lịch đến từ các quốc gia trên thế giới, các địa phương trong cả nước với thị hiếu và khẩu vị ăn khác nhau đều được phục vụ với nhiều loại sản phẩm ẩm thực dân tộc và quốc tế

Bên cạnh đó các loại hình cơ sở ăn uống mới như nhà hàng ăn nhanh đã hoạt động tại các trung tâm dịch vụ, thương mại, tăng tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ ẩm thực tại đây

Các cơ sở dịch vụ tại khu vực 4 quận hầu hết đều có không gian thoáng mát sạch sẽ và đảm bảo đúng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

Một số cơ sở ăn uống thường xuyên phục vụ khách du lịch quốc tế:

- Quận Hoàn Kiếm: Xa lộ 4, Bobby Chin, Mandarin, San Hô, Hà Hồi, Hoa Sữa, Kinh hoa Đại Tửu Lầu, Ngon, Le Tonkin, Đệ Nhất, Club'd Oriental, chả cá Lã Vọng, Hội An, Chả cá Thăng long, Indochina, Alfresco, Mediterraneo, El Patio, Press Club, Long Đình, Silk Road, Tara Café

- Quận Ba Đình: Brother's Café

- Quận Đống Đa: Văn Miếu, Koto

- Quận Tây Hồ: Thăng Long, Nhà hàng Sen

Quận Hoàn Kiếm là nơi tập trung nhiều nhất các địa điểm phục vụ ăn uống mang đặc trưng của thủ đô Nhà hàng ở quận Hoàn Kiếm phần lớn tọa

Trang 35

lạc giữa trung tâm 36 phố phường Hà Nội, nhà hàng ở phố cổ là sự kết hợp hài hòa giữa không gian sang trọng và hương vị ẩm thực tinh tế của người Hà Nội Nói đến phố ẩm thực, ngõ ăn uống ở Hà Nội mà không nhắc tới phố Tống Duy Tân và ngõ Cấm Chỉ thì thật thiếu sót Bởi nơi này còn được nhà nước cho phép dựng cổng chào hoành tráng là “Phố ẩm thực”

Phố Tống Duy Tân là một địa điểm ẩm thực có tiếng của Hà thành Người Hà Nội gọi phố này là “phố gà tần”, bởi cả phố có hơn chục nhà hàng bán gà tần thuốc bắc Món gà tần từng được nhắc tới như một món ăn ngon, lạ

về hương vị và cách trình bày trên nhiều báo nước ngoài Ngoài gà tần, phố

ẩm thực Tống Duy Tân còn bán nhiều món ngon đặc trưng của Hà Nội như bún thang, bánh cuốn, phở, cháo lươn, các món mang đậm hương vị đồng quê như cháo lươn, canh cua rau dút… Ông Nguyễn Mạnh Hùng, chủ quán “Bánh cuốn Kỳ Đồng” - số 11 Tống Duy Tân cho biết: “65 năm nay, gia đình tôi duy trì nghề làm bánh cuốn gia truyền của các cụ để lại Khách hàng “bách nhân, bách khẩu” rất khó tính, nếu mình sơ sảy ở bất cứ khâu nào thì mất thương hiệu như chơi Chính vì vậy, tôi tự đi chợ kén chọn từng ngọn rau, miếng thịt,

tự phục vụ khách mà không thuê người phục vụ”

Tuy nhiên sau 11 năm nơi đây được kì vọng trở thành địa chỉ ẩm thực biểu trưng cho nền văn hóa Hà thành, một sự xuống cấp được thể hiện rõ tại con phố này Theo kế hoạch, Phố ẩm thực có 3 cổng chào nhưng thực tế chỉ

có một Từ phía cổng phố Trần phú hầu như lúc nào cũng có một xe rác chềnh ềnh án ngữ lối đi Ngay đầu phố đoạn ngõ Cấm Chỉ là hàng loạt quán lẩu và các món nhậu Các quán thò ra thụt vào, treo đủ các loại biển hiệu không theo bất cứ qui định nào

Khoảng 200 hộ trên hai dẫy phố nhỏ đăng kí kinh doanh hàng ăn uống, nhưng buổi sáng, hầu hết các cửa hàng đóng cửa, chỉ có mấy cửa hàng “Bánh cuốn

Kỳ Đồng”, “Phở đường tàu”, “Cháo gà gia truyền”, xôi nóng… là hoạt động

Trang 36

Phố ẩm thực từ lâu có tới 70% người dân từ nơi khác đến thuê cửa hàng Dân sành ăn ở đất Hà thành hầu như không chọn Phố ẩm thực làm địa điểm hẹn

hò bạn bè, tiếp đối tác Kể cả những hướng dẫn viên du lịch cũng không còn đưa khách tới đây Chị Đoàn Thu Hương, hướng dẫn viên của một công ty lữ hành cho biết, Phố Ẩm thực Hà Nội tuy nổi tiếng về món gà tần, lẩu thập cẩm, nhưng hai món đó không nằm trong danh mục món ăn truyền thống của người Hà Nội, nên không thể giới thiệu cho khách nước ngoài được

Về mặt tiêu cực, hệ thống nhà hàng, cơ sở dịch vụ ẩm thực tại 4 quận phát triển ồ ạt, thiếu qui hoạch, vị trí phân tán, tự phát, qui mô nhỏ lẻ, thiếu điều kiện hạ tầng cần thiết như bãi đỗ xe, không gian cảnh quan; cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhiều nhà hàng không còn mới và thiếu thốn; điều kiện

vệ sinh môi trường tại một số cơ sở dịch vụ chưa được kiểm soát, bảo đảm phục vụ nhu cầu của du khách Bên cạnh đó, tính chuyên nghiệp trong dịch vụ chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ

Nhiều nhà hàng, quán ăn có khu nhà bếp nằm kề với khu vực nhà ăn nên dễ dàng trong việc vận chuyển thức ăn từ bếp lên phòng ăn nhưng lại là nguyên nhân gây nên sự nóng bức, ngột ngạt trong phòng ăn nhất là vào mùa

hè cao điểm tại Hà Nội Đó còn là nguyên nhân dễ gây nên hỏa hoạn dẫn đến mất an toàn cho du khách

Đánh giá chung về cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cho khách du lịch trên địa bàn 4 quận nội thành Hà Nội:

Hoạt động du lịch tại Hà Nội nói chung và 4 quận nói riêng đã và đang phát triển khá mạnh, tính xã hội hóa khá cao, cùng với đó, dịch vụ ăn uống cũng đạt nhiều tiến bộ Mọi thực khách đều có thể dễ dàng tìm kiểu đồ ăn mình ưa thích Không chỉ chú trọng vào các món ăn thức uống truyền thống của Việt Nam, ẩm thực quốc tế đang du nhập ngày càng nhiều vào đời sống

Trang 37

văn hóa ẩm thực tại Hà Nội như nhà hàng ăn nhanh Doanh thu dịch vụ ăn uống hầu hết các nhà hàng đều tăng với tốc độ cao

Thị trường của dịch vụ ăn uống ngày càng đa dạng về thành phần, độ tuổi, sở thích, trình độ, khả năng thanh toán ngày càng cao Chất lượng dịch

vụ ăn uống ngày càng được cải thiện theo hướng tích cực, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng, với những yêu cầu và đòi hỏi ngày càng khắt khe

Đa số các cơ sở đã quan tâm, chú ý đầu tư cũng như nâng cấp trang thiết bị, phục vụ khách, để tạo ấn tượng tốt cho khách ngay khi bước vào quán, đặc biệt là dụng cụ ăn uống và đồ bếp, bàn ghế loại cao cấp, đồng bộ, song song với sự quan tâm đến vệ sinh, an toàn thực phẩm Một số nơi đã chú

ý đến đào tạo nhân lực

Các phương tiện internet, truyền hình, báo chí… được áp dụng rộng rãi

để giới thiệu dịch vụ ăn uống tới du khách trong và ngoài nước

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhất định, nhưng so với yêu cầu chung, dịch vụ ăn uống của 4 quận vẫn chưa phát triển tương xứng và còn tồn tại một

số hạn chế:

- Trước hết, đó là những hạn chế về quy hoạch, quản lý hệ thống các cơ

sở dịch vụ ăn uống phục vụ khách du lịch tại đây Các nhà hàng thường phát triển tự phát, phân tán, quy mô nhỏ lẻ, thiếu điều kiện hạ tầng cơ bản như bãi

đỗ xe, không gian cảnh quan chung,…

Các cơ sở phục vụ nhu cầu ăn uống của khách du lịch phân bố không đều, tập trung tại khu vực nội thành, đặc biệt là các quận Hoàn Kiếm, Tây Hồ Những nhà hàng trong nội thành chủ yếu quy mô nhỏ và trung bình, phải tận dụng tối đa diện tích và không gian nên ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Cơ sở dịch vụ ăn uống phục vụ khách du lịch tại 4 quận quy mô lớn rất ít, khiến việc tổ chức những tour đông khách gặp khó khăn, giảm cơ hội để tăng chi tiêu của khách quốc tế tại Hà Nội

Trang 38

- Các chủ nhà hàng chủ yếu làm theo kinh nghiệm, chưa có bài bản Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý như: đặt chỗ qua mạng, xây dựng website giới thiệu về nhà hàng…hầu như chưa được chú ý

Hoạt động xúc tiến, quảng bá còn yếu về số lượng và hiệu quả Thông tin về nhà hàng chung chung, thiếu hệ thống theo địa danh hoặc loại hình nhà hàng làm cho thực khách khó tiếp cận, thu hút chưa nhiều khách cao cấp

- Các nhà hàng ít quan tâm tới đổi mới, nghiên cứu bổ sung thêm các món ăn ; Một số vùng ngoại thành món ăn chưa thực sự sáng tạo, thiếu tính thẩm mỹ và còn đáng lo về vệ sinh an toàn thực phẩm, chưa thực hiện tốt quy định trong quá trình lựa chọn nguồn cung ứng và sử dụng, bảo quản, chế biến thực phẩm

Cảnh quan môi trường và sự đa dạng của văn hóa ẩm thực là một trong những lợi thế để thu hút khách Tuy nhiên, một số nhà hàng chưa chú trọng đúng mức tới giữ gìn cảnh quan môi trường, cộng thêm việc sử dụng động thực vật quý hiếm làm món ăn đã và đang gây ra các tác động không tốt tới môi trường du lịch do chính chủ thể cung ứng dịch vụ gây ra

Trình độ nhân lực thiếu chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ, giao tiếp ứng xử…là trở ngại trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thực hiện quy trình cung ứng dịch vụ ăn uống theo chuẩn mực quốc tế trong một số nhà hàng, quán bar, phản ánh sự thiếu chuyên nghiệp trong kỹ năng phục vụ

Nhiều nhà hàng trên địa bàn chưa tạo ra được dấu ấn, đặc trưng riêng, chưa để lại ấn tượng mạnh trong tâm trí của khách du lịch

2.3.3 Các cơ sở dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm và dịch vụ liên quan

Mua sắm là hoạt động quan trọng của du lịch đô thị, mục tiêu quan trọng của du khách hiện nay đi du lịch đến các thành phố Trong danh sách

Trang 39

những thành phố lọt top 5, top 10 các điểm du lịch hấp dẫn nhất châu Á năm

2009 của tạp chí du lịch trực tuyến Smart Travel Asia, Việt Nam có 3 thành phố: Hà Nội, TPHCM và Hội An, theo danh sách do độc giả bầu chọn, Hà Nội xếp thứ 6 trong 13 thành phố hấp dẫn nhất để mua sắm Tuy chỉ là bình chọn trong phạm vi hẹp, chúng ta có thể thấy sự quan tâm đánh giá cao của một bộ phận khách quốc tế đối với dịch vụ mua sắm tại Hà Nội (Nguồn: Tạp chí du lịch trực tuyến Smart Travel Asia)

Hà Nội có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động dịch vụ mua sắm với hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị đang hình thành Tại khu vực phố cổ Hà Nội, theo báo cáo của UBND Quận hoàn Kiếm, khoảng 40% cửa hàng chuyên bán hàng phục vụ khách du lịch như lụa tơ tằm, tranh ảnh, hàng lưu niệm vv…; nhiều trung tâm thương mại hình thành

- Các điểm vui chơi giải trí, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử có kết hợp giữa thăm quan thưởng thức văn hóa nghệ thuật kết hợp với mua sắm hàng hóa lưu niệm (đền Ngọc Sơn, Nhà hát múa rối Thăng Long )

Về loại hình cơ sở kinh doanh: Các cơ sở mua sắm đa số thuộc hộ kinh doanh cá thể quy mô nhỏ

Về sự đa dạng của các cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm: số lượng các

cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm tương đối nhiều Về số lượng chủng loại

Trang 40

hàng hóa ở mức bình thường hoặc ít Điều này cho thấy, về số lượng cơ sở mua sắm và hàng hóa trong các cơ sở này phần nào đã đáp ứng yêu cầu của khách du lịch

Về thời gian hoạt động: nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ mua sắm là của chính chủ đầu tư nên thời gian hoạt động ổn định và dài

Về môi trường, cảnh quan nơi kinh doanh dịch vụ mua sắm: công tác

vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ đạt mức bình thường hoặc kém, mức tốt rất ít Điều này cho thấy du khách chưa hài lòng với chất lượng môi trường, cảnh quan của các cơ sở mua sắm

Hàng hóa: chủ yếu là những sản phẩm thu hút sự quan tâm của khách

du lịch như đồ thủ công mỹ nghệ, gốm sứ, tơ lụa, gỗ khảm, thêu ren, may mặc, mây tre đan, đồ gia dụng

Dịch vụ sau bán hàng, chăm sóc khách hàng: còn kém ở đại đa số cơ sở kinh doanh

Về hoạt động marketing: các cửa hàng/ cơ sở quy mô nhỏ ít quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu lâu dài, vẫn còn những nơi kinh doanh kiểu

“chụp giật”

Tại quận Hoàn Kiếm đặc biệt đang cải tạo, nâng cấp một số đường phố trở thành các tuyến phố đi bộ, mua sắm, tạo ra điểm đến du lịch hấp dẫn, tăng thêm tính phong phú, đa dạng cho du lịch thủ đô

Tuy nhiên, hệ thống cơ sở dịch vụ mua sắm phát triển còn manh mún, thiếu qui hoạch, nhiều tuyến phố mua sắm các hàng hóa, đồ lưu niệm hình thành tự phát, có qui mô nhỏ, nội dung dịch vụ, hàng hóa chưa phong phú, thiếu hấp dẫn, ảnh hưởng đến trật tự quản lí đô thị, làm giảm tính hiệu quả của dịch vụ mua sắm Được biết, nhiều nguồn hàng tại các điểm mua sắm du lịch là hàng Trung Quốc, không đảm bảo về nguồn gốc, chất lượng, không mang tính đặc trưng của Hà Nội

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bảy, Quà Hà Nội (tiếp cận từ góc nhìn văn hóa ẩm thực), Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quà Hà Nội (tiếp cận từ góc nhìn văn hóa ẩm thực)
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Đính – ThS. Hoàng Thị Lan Hương, Giáo trình Công nghệ phục vụ trong khách sạn – nhà hàng, Đại học Kinh tế quốc dân, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ phục vụ trong khách sạn – nhà hàng
3. Trần Thị Thúy Lan – Nguyễn Đình Quang, Giáo trình Tổng quan du lịch, Nhà xuất bản Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
4. TS. Nguyễn Bá Lâm, Giáo trình Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững, Đại học kinh doanh và công nghệ Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững
5. TS. Trần Nhoãn, Giáo trình Tổng quan du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
6. Nguyễn Vinh Phúc, 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
7. Nguyễn Vinh Phúc, Hà Nội qua những năm tháng, Nhà xuất bản Trẻ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội qua những năm tháng
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
8. Doãn Kế Thiện, Cổ tích và Thắng cảnh Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ tích và Thắng cảnh Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
9. ThS Trương Minh Tiến, Niên giám khách sạn Hà Nội 2012 – 2013, Nhà xuất bản Thanh niên, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám khách sạn Hà Nội 2012 – 2013
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
10. GS. Trần Quốc Vượng, Trên mảnh đất ngàn năm văn vật, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên mảnh đất ngàn năm văn vật
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
11. Bùi Thị Hải Yến, Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
12. Tổng cục Du lịch, Niên giám Du lịch Việt Nam 2003 – 2005, Tạp chí Du lịch Việt Nam* Văn bản, báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Du lịch Việt Nam 2003 – 2005
1. Báo cáo tổng hợp Qui hoạch phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA - Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành hà nội thực trạng và giải pháp
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA (Trang 88)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA - Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch tại 4 quận nội thành hà nội thực trạng và giải pháp
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w