1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các câu lạc bộ quan họ thành phố bắc ninh với việc bảo tồn và phát triển dân ca quan họ trong tầng lớp thanh thiếu niên

77 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Khoa quản lý văn hoá nghệ thuật --- Nguyễn thị thu trang Các câu lạc bộ quan họ thành phố bắc ninh Với việc bảo tồn và phát triển dân ca quan họ trong tầ

Trang 1

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Khoa quản lý văn hoá nghệ thuật

-

Nguyễn thị thu trang

Các câu lạc bộ quan họ thành phố bắc ninh Với việc bảo tồn và phát triển dân ca quan

họ trong tầng lớp thanh thiếu niên

Khoá luận tốt nghiệp ngành QUảN Lý VĂN HóA

hướng dẫn khoa học: Phạm Bớch Huyền

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Quản lí văn hóa nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tận tình chỉ bảo

và dìu dắt, tạo điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Phạm Bích Huyền - giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Trong suốt quá trình thực hiện đề tài

em luôn nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của cô, giúp em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu đã chọn

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em, các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những tài liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN DÂN CA QUAN HỌ 8

1.1 Một số vấn đề lí luận về bảo tồn và phát triển nghệ thuật truyền thống 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống 13

1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 14

1.2 Tổng quan về Quan họ 16

1.2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội của vùng đất Bắc Ninh 16

1.2.2 Giới thiệu chung về dân ca Quan họ Bắc Ninh 24

1.3 Ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát triển Dân ca Quan họ 35

1.3.1 Đối với loại hình nghệ thuật 35

1.3.2 Đối với việc phát triển nhân cách của thanh thiếu niên 36

Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ QUAN HỌ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH 37

2.1 Câu lạc bộ Quan họ làng Diềm 37

2.1.1 Lịch sử hình thành 37

2.1.2 Đối tượng tham gia 38

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 38

2.1.4 Hoạt động 38

2.1.5 Tài chính 41

2.2 Câu lạc bộ Quan họ Đương Xá 42

2.2.1 Lịch sử hình thành 42

2.2.2 Đối tượng tham gia 42

2.2.3 Cơ cấu tổ chức 43

Trang 4

2.2.4 Hoạt động 43

2.2.4 Tài chính 47

2.3 Câu lạc bộ Quan họ Măng non Kim Đôi 47

2.3.1 Lịch sử hình thành 47

2.3.2 Đối tượng tham gia 48

2.3.3 Cơ cấu tổ chức 48

2.3.4 Hoạt động 49

2.3.5 Tài chính 51

2.4 Đánh giá 51

2.4.1 Ưu điểm 51

2.4.2 Hạn chế 53

2.4.3 Nguyên nhân 54

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ QUAN HỌ 56

3.1 Kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền các cấp 56

3.2 Xây dựng văn hóa tổ chức và phát triển các hoạt động của CLB 57

3.3 Tận dụng sức mạnh của truyền thông 59

3.4 Chính sách đãi ngộ nghệ nhân 60

3.5 Gây quỹ và vận động tài trợ 62

3.6 Tổ chức các sự kiện thường niên về Quan họ 63

3.7 Đưa chương trình giáo dục về Quan họ vào trường học 65

3.8 Xây dựng không gian sinh hoạt văn hóa trẻ 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 71

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản sắc văn hoá của một dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng trường tồn cùng dân tộc đó Một mặt nó phản ánh sinh động đời sống kinh tế xã hội của dân tộc mặt khác đó cũng là dấu hiệu đặc trưng để chúng ta phân biệt và nhận biết dân tộc này với dân tộc khác

Bản sắc của văn hóa dân tộc là kết quả một quá trình phát triển của dân tộc xuyên suốt một chặng đường dài lịch sử Đó là những tình cảm đẹp đẽ tạo nên động lực tinh thần cho dân tộc; là phong tục tập quán, là nếp ứng xử, thị hiếu thẩm mỹ, ngôn từ nghệ thuật,…Tất cả những điều trên đã làm nên một dân tộc Việt Nam với những đặc trưng không thể nhầm lẫn với bất kì quốc gia nào khác

Âm nhạc dân gian chính là một trong những đặc trưng để hình thành nên bản sắc riêng cho dân tộc Việt Nam Vậy mà hiện nay, âm nhạc dân gian nhất là các làn điệu dân ca đang dần bị mai một và có nguy cơ sẽ bị biến mất

Đứng trước sự du nhập của văn hoá ngoại, thế hệ trẻ hiện nay đang quay lưng với nền âm nhạc truyền thống của dân tộc mình Điều này một mặt

là do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các trào lưu âm nhạc nước ngoài, nhưng mặt khác là do âm nhạc dân gian truyền thống không theo kịp với nhịp sống hiện đại của lớp trẻ

Quan họ Bắc Ninh cũng không nằm ngoài qui luật đó, thanh thiếu niên thành phố Bắc Ninh đang dần lãng quên các làn điệu dân ca Quan họ quê hương mình để thay vào đó là các trào lưu âm nhạc mới trên thế giới Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giới trẻ có thể tiếp thu những văn hóa mới mà vẫn không quên đi những nét đặc trưng của quê hương mình Đó là câu hỏi đặt ra cho tất cả chúng ta, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý

Trang 6

văn hóa Và các Câu lạc bộ Quan họ Bắc Ninh ra đời chính là một trong những phương thức hiệu quả nhất để truyền dạy và lưu giữ những làn điệu dân ca này tới tầng lớp thanh thiếu niên trong tỉnh Bắc Ninh nói chung và trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh nói riêng

Song làm thế nào để các Câu lạc bộ này ngày càng phát triển và thu hút được nhiều người tham gia lại đang là vấn đề đặt ra đối với những người làm công tác văn hóa cũng như những người sáng lập ra các Câu lạc bộ này Vì

vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Các Câu lạc bộ Quan họ Thành phố Bắc

Ninh với việc bảo tổn và phát triển dân ca Quan họ trong tầng lớp thanh thiếu niên” để nghiên cứu và đưa ra cái nhìn tổng quan về công tác bảo tồn,

phát triển dân ca Quan họ trong tầng lớp thanh thiếu niên của Câu lạc bộ này

để từ đó duy trì, phát triển Câu lạc bộ đi lên và đạt được mục đích chính mà Câu lạc bộ đề ra

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu đề tài này có thể giúp chúng ta nắm rõ hơn về quá trình hình thành, tình hình phát triển và phương pháp tổ chức và duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ Quan họ thành phố Bắc Ninh Cũng như tìm hiểu, tổng hợp lý luận về bảo tồn nghệ thuật truyền thống Từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra một số kiến nghị có thể áp dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, duy trì và phát triển Câu lạc bộ bền vững và đạt được những kết quả cao, đáng được mong đợi Đồng thời, nêu được ý nghĩa của việc bảo tồn và phát triển dân ca Quan họ trong tầng lớp thanh thiếu niên trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác bảo tồn và phát triển dân ca Quan họ của các Câu lạc bộ Quan họ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh trong tầng lớp thanh thiếu niên thành phố Bắc Ninh

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu: Các đề tài nghiên cứu hoạt động của các Câu lạc

bộ Quan họ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh từ khi các CLB được thành lập

từ năm 1992 đến nay

4 Đóng góp của đề tài:

Đề tài “ Các câu lạc bộ Quan họ thành phố Bắc Ninh với việc bảo tồn

và phát triển dân ca Quan họ trong tầng lớp thanh thiếu niên” đóng góp một

phần tài liệu nhỏ nghiên cứu về Câu lạc bộ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

Từ đó, đóng góp những ý kiến, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là đối với công tác bảo tồn và phát triển của các Câu lạc bộ Quan họ thành phố Bắc Ninh trong thời gian sắp tới Đưa Quan họ gần gũi hơn với người dân thành phố Bắc Ninh đặc biệt là đối với thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố - những người gánh trọng trách kế thừa và phát triển dân ca Quan họ

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp logic và lịch sử

Phương pháp liên ngành và chuyên ngành

Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp quan sát tham dự

Phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục nội dung chính của khóa luận gồm có 3 chương

Chương 1 Khái quát về bảo tồn và phát triển dân ca Quan họ

Chương 2 Hoạt động của các Câu lạc bộ Quan họ trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Câu lạc bộ Quan họ

Trang 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TỒN

VÀ PHÁT TRIỂN DÂN CA QUAN HỌ

1.1 Một số vấn đề lí luận về bảo tồn và phát triển nghệ thuật truyền thống

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Định nghĩa của Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO

“Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ

và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hoặc của một nhóm người trong xã hội

Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý – tình, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân Tự biết mình

là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những suy nghĩ sáng tạo và mới mẻ để sáng tạo

ra những công trình vượt trội lên bản thân” [15]

Trong hoàn cảnh hiện nay của một thế giới mở cửa, của sự toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến những tác động về nhiều mặt văn hóa,

xã hội, văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc được người ta chú ý hơn rất nhiều từ đó văn hóa khẳng định tầm quan trọng của mình và luôn được đặt lên

Trang 9

hang đầu UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển

xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội

Định nghĩa của danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh

“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức

là văn hóa Văn hóa là sử dụng tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, những đòi hòi của sự sinh tồn”

Theo Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam

“Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [17, tr.22]

1.1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa

Có 2 loại di sản văn hóa, đó là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể được phân biệt theo nhiều cách khác nhau Nếu như di sản văn hóa vật thể là những hiện vật mang ý nghĩa lịch sử của nhân loại trong quá khứ thì di sản văn hóa phi vật thể lại là những truyền thống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những trải nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như di sản văn hóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể lại mang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian

Theo UNESCO: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những

Trang 10

công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [3]

Bên cạnh đó, UNESCO cũng đưa ra một số chính sách di sản văn hóa phi vật thể thông qua “Công ước bảo vệ các di sản thiên nhiên và di sản văn hóa” vào năm 1972 và cuối cùng vào năm 1989, Đại hội đồng của UNESCO

đã thông qua “Nghị quyết về việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian” Đại hội đưa ra đề xuất rằng các nước thành viên cần phải thực hiện các chương trình tập huấn về công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể, và lập danh sách các di sản văn hóa này Đại hội cũng đồng thời cam kết thực hiện một loạt các biện pháp bảo tồn cần thiết khác

Tuy nhiên, do Nghị quyết năm 1989 chưa đạt hiệu quả nên năm 1998,

tổ chức UNESCO đã thông qua trương trình bảo vệ các kiệt tác văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng của nhân loại Chương trình này được bắt đầu với công việc bình chọn các di sản văn hóa phi vật thể Cứ hai năm một lần, mỗi nước thành viên được phép đưa ra một di sản văn hóa phi vật thể để bình chọn Việc đánh giá và công nhận các kiệt tác di sản văn hóa phi vật là

do một hội đồng chuyên gia quốc tế tiến hành

Đối với di sản văn hóa phi vật thể, nhà nước Việt Namluôn có những đường lối chỉ đạo sát sao Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện pháp sau đây:

Trang 11

Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể;Tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể

Khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể

Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của tổ chức, cá nhân nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể

Đầu tư kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể [6]

1.1.1.3.Khái niệm nghệ thuật

Nghệ thuật là những hình thức khác nhau của hoạt động sáng tạo nhằm phục vụ, đáp ứng và làm thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức

Nghệ thuật truyền thống là những loại hình nghệ thuật được lưu truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác, có giá trị về nhân văn nhân bản, có tính trường tồn Được mọi người bảo tồn và giữ gìn một cách thiêng liêng như tuồng; chèo; múa rối; cải lương; Quan họ,

Nghệ thuật giúp con người tự hiểu biết chính mình về tinh thần, trí tuệ, cám xúc Nghệ thuật liên kết các năng lực trí tuệ cơ bản như khả năng tưởng tượng, sáng tạo, khả năng biểu đạt cảm xúc và trải nghiệm cá nhân, trau dồi các suy nghĩ logic, phát triển năng lực trực cảm và duy lý để hỗ trợ cho sự phát triển trí tuệ, tâm hồn thúc đẩy việc học tập của học sinh – sinh viên Nghệ thuật còn giúp liên kết con người và sự kiện xuyên thời gian và không gian

Trang 12

Nghệ thuật được coi là cách hiệu quả gắn kết các nền văn hóa, các cộng đồng, các truyền thống Nó cổ vũ cho tính độc đáo của các nền văn hóa đồng thời dạy cho con người biết cách chia sẻ và đồng cảm với những người khác qua ngôn ngữ biểu đạt của nghệ thuật Nghệ thuật chính là phần quan trọng của văn hóa và môi trường con người sinh sống là một môi trường mang tính văn hóa được tạo dựng bởi trí tưởng tượng, sáng tạo của con người, từ việc ăn đến ngủ hay mặc, đầy ắp những trang trí, thiết kế của con người

Hiện này, khi xã hội đang trong thời kỳ hội nhập thế giới, cả xã hội được tiếp cận với rất nhiều loại hình nghệ thuật mới thì con người ta lại càng ngày càng quan tâm hơn đến những loại hình nghệ thuật truyền thống Là những loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời như chèo; tuồng; ca trù; Quan họ;…tưởng chừng như xa lạ nhưng thực sự chúng đã gắn bó với người dân Việt từ rất lâu Và cho đến nay vẫn tồn tại và không ngừng tìm tòi những lối

đi mới cho riêng mình để phát triển

1.1.1.4 Khái niệm bảo tồn và phát triển

Bảo tồn có thể hiểu đơn giản đó là sự bảo vệ, duy trì, giữ gìn những gì tồn tại trong thực tế, có giá trị về mặt lịch sử - văn hóa - xã hội, nhằm mục đích tiếp tục phát triển lâu dài

Văn hóa Việt Nam đạt chuẩn mực của một nền văn hóa có bản sắc riêng độc đáo,là một trong 34 quốc gia được chọn là có nền văn hóa gốc, có bản sắc riêng Bản sắc dân tộc nói lên đặc trưng của một quốc gia, đó là những giá trị riêng không thể trộn lẫn với các cộng đồng khác Đó là những giá trị văn hóa tinh thần: những điệu hò sông nước; những làn điệu dân ca; những màn trình diễn múa rối nước; những áng văn thơ sống mãi trong lòng biết bao thế hệ người dân Đất Việt Vì vậy bảo tồn văn hóa – những giá trị lịch sử, văn hóa là một điều thực sự cần thiết nhất là đối với Việt Nam – một

Trang 13

đất nước đậm đà bản sắc truyền thống cũng như nhiều những giá trị văn hóa lâu đời

Đối với vấn đề phát triển nền văn hóa truyền thống thì việc bảo tồn được coi là nền tảng để thực hiện vấn đề phát triển ấy Nếu không có bảo tồn thì công tác phát triển những giá trị văn hóa sẽ không thể thực hiện

Phát triển văn hóa là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực văn hóa nhằm đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người

Bảo tồn và phát triển văn hóa là mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn

1.1.2 Nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống

Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với quá trình bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống dân tộc Nhưng khi thực hiện bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống ấy cần phải chú trọng đến những nguyên tắc sau:

Bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt nam nhưng vẫn không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là nhằm mục đích xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bởi vì việc bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống chính là để làm cho văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, còn tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chính là để xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại và cũng góp phần trở thành tinh hoa văn hóa

Trang 14

nhân loại Đó cũng là sự kết hợp chính sách đối nội với chính sách đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực trong lĩnh vực văn hóa

Việc bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc phải trên cơ sở chủ động tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ, tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới Để tránh không bị pha tạp văn hóa, nhưng vẫn bắt kịp được với xu thế mới của nhân loại

Bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong văn hóa tư tưởng, phong tục tập quán, lề thối

cũ Trong truyền thống văn hóa dân tộc có những đặc điểm mang tính tích cực của thời điểm này, nhưng ở thời điểm khác lại không còn phù hợp, có những nội dung được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác , song cũng có những yếu

tố trở nên lỗi thời, không còn phù hợp cần được gạt bỏ Truyền thống văn hóa dân tộc cần luôn luôn được phát huy, bổ sung, thay thế, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống

1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

Tại Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Gắn kết chặt chẽ văn hóa với phát triển niền kinh tế xã hội Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa Việt Nam Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh

tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hóa Đa dạng hóa các hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng

Trang 15

đời sống văn hóa” Xây dựng và phát triển chương trình giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, nếp sống văn hóa hiện đại trong nhân dân Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật Đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa Chống sự xâm nhập văn hóa độc hại, lai căng, phản động Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển Nâng cao chất lượng tư tưởng văn hóa, hiện đại về mô hình, cơ cấu, cơ sở vật chất

kỹ thuật Xây dựng cơ chế quản lý khoa học, phù hợp Đảm bảo tự do, dân chủ cho những hoạt động sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật Đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sĩ Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức của các hội văn học- nghệ thuật từ trung ương đến địa phương

Tiếp đến, tại Đại hội XI của Đảng, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa được đúc kết cô đọng hơn, cụ thể hơn:

Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội ; triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ

Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên

án cái xấu, cái ác Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp

Trang 16

luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật

Chú trọng phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới

Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài Tiếp thu những kinh nghiệm tốt về phát triển văn hóa của các nước, giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật đặc sắc của nước ngoài với công chúng Việt Nam Ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hóa sự xâm nhập và tác hại của các sản phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào nước ta; bồi dưỡng và nâng cao sức đề kháng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ

1.2 Tổng quan về Quan họ

1.2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội của vùng đất Bắc Ninh

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ trung tâm xứ Kinh Bắc

cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh

Trang 17

Hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc

lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc

tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh

là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài

Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang

Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội

Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội

Vị trí địa kinh tế liền kề với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn, một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh

về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Thành phố Bắc Ninh nằm trong vùng đất Vũ Ninh - Kinh Bắc xưa, là một trong những vùng đất cổ của Việt Nam, nơi sản sinh ra nền văn hoá Quan

họ đặc sắc, chiếc nôi của nền văn minh lúa nước Đại Việt Trải qua bao biến

Trang 18

động của lịch sử, cho đến nay, nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích của vùng đất đã từng một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của người Việt cổ

Thành phố Bắc Ninh ngày nay vốn dựa trên cơ sở thị xã Bắc Ninh ngày xưa làm trung tâm, phát triển thêm địa giới trên cơ sở các xã thuộc các huyện chung quanh Là một đơn vị hành chính cấp thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh

lỵ của tỉnh Bắc Ninh

Thành phố Bắc Ninh với vị trí thuận lợi là đầu mối giao thông của các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, có các tuyến giao thông huyết mạch: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, có hệ thống núi đồi tạo nên

vị trí quốc phòng quan trọng, là lá chắn bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của thủ đô

Hà Nội Với vị trí cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 Km, nằm trong quy hoạch vùng thủ đô, cách thành phố Bắc Giang 20 km về phía Đông Bắc, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km và cách Hải Phòng 110 km Phía Bắc giáp huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp huyện Quế Võ, phía Nam giáp huyện Tiên Du, phía Tây giáp huyện Yên Phong, là đầu mối giao thông của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có tiềm năng về thương mại dịch vụ, công nghiệp - TTCN và truyền thống văn hoá lâu đời

Một trong những nét văn hiến đặc sắc của xứ Kinh Bắc - Bắc Ninh đó là truyền thống khoa bảng nổi danh và có nhiều đình chùa, lễ hội dân gian Văn miếu Bắc Ninh tại phường Đại Phúc được biết đến là một di tích lịch sử quan trọng của thành phố, của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, vinh danh 677 vị tiến sĩ từ thời Lý đến hết thời Nguyễn, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước Người dân thành phố vẫn còn lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc, các lễ hội giàu truyền thống như hội Đền Bà Chúa Kho (phường

Vũ Ninh), hội thi hát Quan họ (làng Viêm Xá, xã Hoà Long), hội Đền Thánh

Trang 19

Tổ (Bồ Tát) ở Đại Phúc, hội rước nước làng Thị Cầu (phường Thị Cầu), hội hát Quan họ làng Ó (khu Xuân ổ), Khả Lễ, Bồ Sơn (phường Võ Cường)

Là một thành phố trẻ nhưng giàu truyền thống văn hoá, thành phố Bắc Ninh có điều kiện quy hoạch, xây dựng đô thị bài bản theo hướng hiện đại, phát triển tiềm năng về thương mại dịch vụ, công nghiệp – TTCN

Những năm gần đây, thành phố Bắc Ninh đã có những bước phát triển vượt bậc, hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ theo cấu trúc của một đô thị hiện đại, đời sống nhân dân, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao Phấn đấu đến năm 2015 thành phố Bắc Ninh trở thành đô loại I

Thành phố Bắc Ninh gồm 10 phường Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Tiền An, Ninh Xá, Vệ An, Kinh Bắc, Đại Phúc, Võ Cường (thành lập từ

xã Võ Cường) và 9 xã Kim Chân, Vân Dương, Nam Sơn, Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Phong Khê, Khúc Xuyên, Vạn An, Hòa Long, với tổng diện tích tăng lên 80,28 km2, dân số 150.331

1.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Nhiều năm qua, mảnh đất Kinh Bắc thủa nào vẫn luôn là một miền đất trù phú tiềm ẩn những điểu kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam Đặc biệt kể từ ngày 01/01/1997 cho đến nay, trên chặng đường hơn 15 năm kể từ ngày tái lập tỉnh, Bắc Ninh đã phát huy truyền thông cách mạng, năng động, sáng tạo để thực hiện công cuộc đổi mới, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ và đầy thuận lợi trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và du lịch

Hệ thống cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư, đường xá thuận lợi cho việc

đi lại của người dân cũng như các du khách khi đến tham quan tại Bắc Ninh

Trang 20

Với lại thế là vùng kinh tế trọng điểm, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh nhận được nhiều những tín hiệu khả quan, những phát triển vượt bậc, trong đó có công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ du lịch Là tỉnh có nhiều tài nguyên về đất, trên địa bàn hiện nay đã có rất nhiều các khu công nghiệp lớn nhỏ được xây dựng, đã và đang đi vào hoạt động Không những thế, Bắc Ninh còn là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, trên đường bộ giao lưu chính với Trung Quốc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng Được coi là thành phố vệ tinh của cả nước

Với những đặc điểm thuận lợi về không gian như vậy, sẽ là một trong những tiềm lực to lớn cần được quan tâm và phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hóa của tỉnh Bắc Ninh

Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

Trên địa bàn thành phố tập trung nhiều các trường đại học, cao đẳng cũng như các trường phổ thông – trung học cơ sở với đông đảo tầng lớp thanh thiếu niên Cụ thể một số trường như:

● Học viện Ngân hàng - Phân viện Bắc Ninh

● Trường Đại Học Chính trị - trực thuộc Bộ Quốc Phòng nâng cấp từ trường ● Sĩ Quan Chính Trị ngày 23/12/2010

● Trường Đại học Kinh Bắc có trụ sở tại phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh

● Cao đẳng Thống kê Trung ương (Tổng cục Thống kê)

Trang 21

● Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh

● Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Bắc Ninh

● Trung học VH - NT Bắc Ninh

● Tỉnh Bắc Ninh đã và đang quy hoạch 3 làng Đại học với Làng Đại học I có diện tích khoảng 200 ha tại Võ Cường ( thành phố Bắc Ninh ) và xã Liên Bão ( Tiên Du ), Làng Đại học II quy hoạch theo hướng “Công viên các trường đại học” với diện tích tổng thể khoảng 1.300 ha tại các phường Hạp Lĩnh ( TP Bắc Ninh ), xã Lạc Vệ, Việt Đoàn, Minh Đạo, Tân Chi (Tiên Du) Hiện tỉnh Bắc Ninh đang xúc tiến quy hoạch và lập dự án đầu tư khu Làng Đại học III quy mô 1000 ha

● Trường Phổ thông Quốc tế Kinh Bắc (KBIS)

Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát triển bằng các hoạt động thiết thức thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, các hội khuyến học từ tỉnh, huyện đến các thôn làng, dòng họ đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của giáo dục tỉnh nhà

Trang 22

Bên cạnh đó Bắc Ninh còn được biết đến như là một miền đất của các

di tích lịch sử, văn hoá Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các

lễ hội: đền thờ Kinh Dương Vương, đền Đô, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu, hội Lim… Bắc Ninh có tiềm năng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Miền đất Kinh Bắc xưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội

tụ của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc với những làn điệu Quan họ trữ tình đằm thắm đã được UNESCO công nhân là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại, dòng nghệ thuật tạo hình, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa Kinh Bắc, mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, vẽ tranh dân gian cộng với nhiều cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn

để phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh, du lịch làng nghề, du lịch làng Việt cổ

Các di tích lịch sử văn hoá Bắc Ninh có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hoá, mật độ phân bố các di tích chỉ đứng sau Thủ đô Hà Nội Tính đến hết năm 2013, Bắc Ninh có 515 di tích được xếp hạng, trong đó 194 di tích Quốc gia và 321 di tích cấp tỉnh Cùng với các quy định theo Luật Di sản và các Quyết định của tỉnh về thực hiện bảo vệ, tôn tạo di sản, chỉ trong giai đoạn 2008-2012 Bắc Ninh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng trùng tu, tôn tạo 84 di tích Ngoài các di tích được Nhà nước hỗ trợ đồng thời cũng phát động xã hội hóa

từ nhân dân hàng trăm tỷ đồng phục vụ cho công tác này Nhiều năm qua, tỉnh Bắc Ninh tích cực rà soát, kịp thời phát hiện những hư hỏng, xuống cấp, sự xâm hại, nắm bắt tâm nguyện người dân về về vấn đề trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa; xây dựng chiến lược quy hoạch, bảo vệ, phát huy giá trị các di tích như chùa Dâu, Bút Tháp, quần thể đền-lăng Kinh Dương Vương, thành cổ Luy Lâu, đền thờ Trạng nguyên Lê Văn Thịnh… và phục hồi nhiều

Trang 23

lễ hội dân gian truyền thống, nghề cổ truyền Qua đó góp phần tôn vinh những thuần phong mỹ tục và chấn chỉnh những lệch lạc trong nếp sống cũng như cách thức tổ chức, quản lý lễ hội ở mỗi địa phương Đồng thời thúc đẩy quá trình đưa lễ hội về đúng với bản sắc dân gian Chính vì vậy hội Lim, hội đền Bà chúa kho, hội làng Diềm, Đồng Kỵ, Phật Tích… dịp đầu xuân luôn thu hút hàng chục vạn lượt du khách trong và ngoài nước về với Bắc Ninh

Nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hoá quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, chùa Dạm, Văn Miếu

Với nhiều lễ hội truyền thống hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì Trong đó có những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn như: Hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho

Tất cả các lễ hội mang đậm nét đặc trưng cho lễ hội cổ truyền của vùng Kinh Bắc độc đáo, đặc sắc mang nhiều bí ẩn tín ngưỡng về những đấng thần linh, anh hùng dân tộc Mỗi lễ hội giống như một viện bảo tàng sống về văn hóa, truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc với những lễ nghi tôn giáo và những trò chơi dân gian

Ngoài ra thu hút khách du lịch cần phải kể đến các làng nghề truyền thống: tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gõ mỹ nghệ Đồng

Kỵ, gốm Phù Lãng… và đặc biệt một loại hình nghệ thuật làm nên bản sức văn hoá rất riêng của Bắc Ninh là các làn điện dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tài nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh

Sự kiện văn hóa quan trọng đặc biệt, niềm tự hào của quê hương Bắc Ninh chính là việc UNESSCO công nhận Dân ca Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Trang 24

1.2.2 Giới thiệu chung về dân ca Quan họ Bắc Ninh

ca Quan họ Cho đến năm 1996 hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang lại được tách

ra Do phần lớn các làng Quan họ quần tụ trên mảnh đất Bắc Ninh, chỉ có vài làng nằm trên đất Bắc Giang; nên người ta vẫn thường nói Kinh Bắc ; hay có khi nói Bắc Ninh là quê hương, là chiếc nôi sinh ra và nuôi dưỡng các làng Quan họ Nhưng các làng Quan họ chủ yếu nằm ở vùng đồng bằng Trên đất Bắc ninh, Bắc giang có 8 dân tộc chính sinh sống, đó là Việt, Nùng, Tày, Cao Lan, Sán chỉ, Sán Dìu, Dao, Hoa, trong đó, người Việt chiếm hơn 90%, và Quan họ chỉ tồn tại trong cộng đồng người Việt

Hàng nghìn năm, trong lịch sử chống ngoại xâm, vùng đất và con người Kinh Bắc được lịch sử cả nước giao cho trọng trách là "đất phên dậu phía Bắc của Thăng Long", một thế đứng: Trước mắt kẻ thù mạnh, hung hãn, luôn mang dã tâm xâm lược; đằng sau là kinh đô - danh dự thiêng liêng của đất nước - buộc phải giữ gìn, bảo vệ Chính thế đứng và trọng trách lịch sử ấy đã hun đúc nên phẩm chất anh hùng, mưu lược, quyết chiến thắng của người dân Bắc Ninh; Bắc Giang để họ viết nên những trang sử vàng chói lọi về lịch sử chống ngoại xâm : chiến thắng Như Nguyệt - thế kỷ XI; những Nội Bàng, Bình Than, Vạn Kiếp, chống quan Nguyên Mông, thế kỷ XIII; chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang quyết định kết thúc thắng lợi 10 năm kháng chiến

Trang 25

chống quân Minh, thế kỷ XV Truyền thống ấy, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp sau này đã đươc phát huy với những địa danh nổi tiếng Yên Thế, Ðình Bảng

Gian khổ nhiều, mất mát, hy sinh nhiều cho sự sống còn của quê hương, đất nước suốt chiều dài lịch sử, nên, con người ở quê hương này còn được lịch sử hun đúc phẩm chất, tình cảm yêu thương sự sống, yêu thương con người, một phẩm chất cơ bản của người anh hùng và người nghệ sĩ Chính những phẩm chất, tình cảm cao quý này sẽ chi phối mọi sáng tạo của người dân Kinh Bắc trong mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, trong đó có Quan họ

Trong cuộc đụng đầu lịch sử hàng nghìn năm ấy, kết quả lịch sử đã chứng minh: nền văn hoá bản địa trên quê hương này không những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại, nền văn hoá ấy vẫn tiếp tục phát triển giá trị, bản sắc riêng, để rồi, khi đất nước độc lập, vùng văn hoá dân gian xứ Kinh Bắc lại trở thành vùng văn hoá nền tảng của văn hoá, văn minh Thăng Long nước Ðại Việt, thế kỷ XI Cuộc thử thách lớn lao và kéo dài trong trận chiến giữ gìn, phát triển giá trị, bản sắc văn hoá, nghệ thuật quê hương, đã có những cống hiến lớn lao cho công cuộc xây dựng văn hoá đất nước, quê hương

Tao Ðàn, hội thơ văn đầu tiên, duy nhất trong thời phong kiến, do Lê Thánh Tông, vị vua hay bậc nhất một thời, thế kỷ XV, đã tuyển chọn danh nhân cả nước lấy 28 người, gọi là nhị thập bát tú (28 vì sao sáng), để xướng hoạ thi ca, thì gần nửa là người Kinh Bắc, trong đó có Phó nguyên suý và Sái-phu Tao Ðàn là người Kinh Bắc, có nhà 2 người như họ Nguyễn ở Kim Ðôi,

họ Ngô ở Tam Sơn

Một đội ngũ trí thức đại khoa đông đảo đến các ngõ, các làng, lại phần đông am hiểu và sáng tạo thơ ca, cho nên, một hình thái sinh hoạt văn hoá dân

Trang 26

gian làng xã như Quan họ chắc chắn thu hút sự tham gia sáng tạo của đội ngũ này Chính vì thế, những người nghiên cứu Quan họ ngày nay đã tìm thấy trong Quan họ mối quan hệ gắn bó giữa sáng tạo bác học và sáng tạo dân gian, sự đan xen, hoà nhập giữa lao động sáng tạo của người trí thức và người bình dân

Quan họ là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, diễn xướng dân gian độc đáo, hấp dẫn, có giá trị nhân văn, giá trị nghệ thuật to lớn và có sức sống lâu bền bậc nhất trong lịch sử văn hoá Việt Nam, ra đời, phát triển và đạt đến đỉnh cao tại các làng quê xứ Kinh Bắc xưa, nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh

và Bắc Giang

Là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, diễn xướng dân gian, Quan họ là một tổng thể do nhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật dân gian xứ Kinh Bắc hợp thành qua một quá trình lịch sử lâu dài Nó là một chỉnh thể văn hoá nghệ thuật gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, con người, với văn hóa, văn minh làng xã, thu hút và biểu hiện những ước mơ, những nguyện vọng, những khát vọng, thể hiện quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người nơi đây

Theo chiều dài lịch sử, sinh hoạt văn hoá Quan họ đã sáng tạo, dung nạp, chuyển hóa, sinh thành, đào thải trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá với các hình thức sinh hoạt văn hoá khác ở địa phương, ở trong nước

và các nước láng giềng để thích nghi, đáp ứng những nhu cầu phát triển qua từng thời đại, nên giá trị nội dung, nghệ thuật của sinh hoạt văn hoá Quan họ giàu có, phức tạp, đa diện, phát triển và biến hoá không ngừng

Sáng tạo sinh hoạt văn hóa Quan họ, với những phong tục, lề lối in đậm truyền thống nhân văn dân tộc, với những làn điệu và lời ca tài hoa, độc đáo, duyên dáng, tinh tế, người Kinh Bắc đã cho thấy một đời sống tinh thần vô cùng phong phú, rộng mở và một khả năng sáng tạo, thưởng thức văn hoá

Trang 27

nghệ thuật ở trình độ cao từ xa xưa Nói như nhà nghiên văn hoá dân gian tiền bối Vũ Ngọc Phan thì dân ca Quan họ đã cho thấy các làng quê xứ Kinh Bắc

có thể sản sinh ra “những nhạc sĩ dân gian thiên tài” và “những nhà thơ dân gian xuất chúng” như thế nào

Quan họ đã trở thành một đặc sản văn hoá đầy tự hào của người dân Kinh Bắc, một biểu hiện rực rỡ của truyền thống văn hoá văn minh và nghệ thuật Việt Nam

Dân ca Quan họ (còn được gọi là dân ca Quan họ Bắc Ninh, dân ca Quan họ Bắc Giang hay dân ca Quan họ Kinh Bắc) là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam; tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc

- tức Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay Tên gọi Quan họ Bắc Ninh không có nghĩa tỉnh Bắc Ninh là chủ thể chính của thể loại dân ca này, Bắc Ninh hay Kinh Bắc được hiểu là tỉnh Bắc Ninh cũ mà ngày 10/10/1995, tỉnh Bắc Giang tách khỏi tỉnh này Tuy nhiên, loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu, một ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi di sản này có thể thay đổi theo thời gian, do các chủ thể văn hóa tạo ra

Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng

9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), Quan họ đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại sau nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên và cùng đợt với ca trù

Ý nghĩa từ "Quan họ" thường được tách thành hai từ rồi lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ" Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của liền anh

Trang 28

liền chị ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ") Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian

Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian

Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu

và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm những người yêu Quan họ ở vùng Kinh Bắc

Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm nào được đa số các học giả chấp nhận Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh" (bên nam, người nam giới hát Quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ hát Quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả Một trong những hình thức biểu diễn hát Quan họ mới là kiểu hát đối đáp giữa liền anh và liền chị Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát

Hay như chữ “họ” thường dùng với ý nghĩa coi trọng, chỉ những nhóm người thuộc lớp trên của xã hội: Sĩ, nông, cùng sinh hoạt kết bạn với nhau, ví dụ: họ tư văn, họ võ phả, họ lợn, họ gạo, họ chọi gà vv.v Các người trong

họ tư văn, họ võ phả gọi là quan viên họ tư văn, quan viên họ võ phả, gọi tắt

Trang 29

là Quan họ tư văn, Quan họ võ phả Các quan cụ, quan trùm, quan đám, quan trong, quan anh, chính là các quan viên, lớp người có quyền ăn nói Chữ quan trước kia dùng để chỉ các quan viên thực sự, nhưng đến sau này, bất cứ nam hay nữ hễ ai được tôn trọng đều được gọi là quan cả Do đó, danh từ quan anh, quan chị, quan bác bắt đầu xuất hiện cho rằng Quan họ là danh từ kép chỉ nhóm người ca hát với ý nghĩa coi trọng Và lối hát, tiếng hát gắn liền với tập thể gọi là Quan họ nên cũng gọi là hát Quan họ

1.2.2.2.Phân loại Quan họ

a Quan họ truyền thống

Chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải

am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ

Điều này giải thích lý do người dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không phải là "hát Quan họ" Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê

Trong Quan họ truyền thống:

Đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh Hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, hát mừng, hát thờ

"Chơi Quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức, bởi lẽ khi hát với nhau, các liền anh liền chị bên cạnh việc thể hiện trọn vẹn những câu hát dân ca mượt mà họ còn phải thể hiện cái “tình” của mình thông qua cử chỉ, ảnh mắt của bạn hát Nhiều bài

Trang 30

Quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi Quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như : Ngồi tựa mạn thuyền; La rằng; Lúng liếng; Bạn kim lan; Gửi bức thư sang;

b Quan họ mới

Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) Quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng, Thực tế, Quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm Các băng đĩa CD, DVD về Quan họ ngày nay đều là hình thức Quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức Quan họ mới Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên trên thế giới

Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn Quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo hai cách: không có ý thức và có ý thức

Dù ít hay nhiều nhưng hình thức hát Quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên không có ý thức Đa số các bài Quan họ mới thuộc dạng cải biên này Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản Quan họ truyền thống Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên)

Hát Quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là Quan họ truyền thống như bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống "Nhất quế nhị lan" Quan họ mới được ưa thích hơn Quan họ truyền thống không phải do không gian và những

Trang 31

sinh hoạt theo lề lối cổ của Quan họ không còn nữa mà một phần do hoạt động "hát Quan họ" ngày nay thường được gắn với chính quyền nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá Quan họ trên diện rộng Quan họ mới cũng được rất nhiều các em nhỏ yêu thích bởi những câu hát có phần dễ hiểu - dễ học – dễ hát hơn so với Quan họ cổ

1.2.2.3 Đặc trưng nghệ thuật của Quan họ

a Làn điệu và lối hát đối đáp

Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài Quan họ đều có giai điệu riêng Cho đến nay, đã

có ít nhất 300 bài Quan họ đã được ký âm Các bài Quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca Quan họ đã được khám phá Kho băng ghi

âm hàng nghìn bài Quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng Quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh

Muốn hát Quan họ phải có "bọn": "bọn nam" hoặc "bọn nữ" Vì vậy trong một làng Quan họ thường có nhiều "bọn nam" và "bọn nữ" Mỗi "bọn" thường có 4, 5, 6 người và được đặt tên theo thứ tự: chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu Nếu số người đông tới 7, 8 người thì đặt tên là chị Ba, chị Tư (bé) hoặc anh Ba, anh Tư (bé)… mà không đặt chị Bảy,Tám hay anh Bảy, Tám Trong các sinh hoạt Quan họ, các thành viên của

"bọn" Quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong "bọn"

Hát Quan họ là hình thức hát đối đáp giữa "bọn nam" và "bọn nữ" Một

"bọn nữ" của làng này hát với một "bọn nam" của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng "Bọn hát" phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp thành một giọng để tạo ra một âm thanh thống nhất Dân ca Quan họ có

213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca Lời một bài ca có hai phần: lời

Trang 32

chính và lời phụ Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn

dụ, trong sáng, mẫu mực Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…

Các làn điệu Quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý,…

b Trang phục

Trang phục Quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị Trong các lễ hội Quan họ có cả những cuộc thi trang phục Quan họ

Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai

áo dài Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng

có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là áo kép Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa,

Trang 33

có quai lụa màu mỡ gà Ngoài ra cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những "xa xỉ phẩm" theo quan niệm thời xưa Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi trong

Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba

Về cơ bản trang phục bao gồm các thành phần: trong cùng là một chiếc yếm

có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) và yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ) Bên ngoài yếm là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng tương tự như ở bộ trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn Áo dài năm thân của nữ, có cài khuy, khác với kiểu

tứ thân thắt hai vạt trước Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa

Áo dài ngoài thường mang màu nền nã như màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh dán trong khi áo dài trong thường nhuộm màu khác nhau: màu cánh sen, màu hoa hiên, màu thiên thanh, màu hồ thuỷ, màu vàng chanh, màu vàng cốm v.v Áo cánh mặc trong có thể thay bằng vải phin trắng, lụa mỡ gà

Yếm thường nhuộm màu đỏ (xưa gọi là yếm thắm), vàng thư (hoa hiên), xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển) Giải yếm to buông ngoài lưng áo và giải yếm thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước cùng với bao và thắt lưng Bao của các cô gái Quan họ xưa thường

sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng túi tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo, luồn qua lưng áo dài,

bó chặt lấy ba thân áo trước, thắt múi to để che phía trước bụng Thắt lưng thường là loại bao nhỏ bằng chừng 1/3 bao, dùng để thắt chặt cạp váy vào eo Cũng tương tự yếm, thắt lưng làm bằng lụa nhuộm các màu tươi sáng như

Trang 34

màu hoa lựu, màu hoa đào, màu hoa hiên tươi, màu hồ thủy Thắt lưng cũng buộc múi ra phía trước để cùng với múi bao, múi giải yếm tạo nên những múi hoa màu sắc phía trước người con gái

Liền chị mặc váy váy sồi, váy lụa, đôi khi có người mặc váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the, đoạn; váy ngoài bằng the, lụa Váy màu đen Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con khoai phía gót chân

Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến khi đi lại, không rơi được dép Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che giấu đầu các ngón chân Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích

Dân ca Quan họ là một loại hình nghệ thuật phong phú, độc đáo của dân tộc ta Giá trị của dân ca Quan họ cổ truyền không chỉ bằng những bài ca lời đẹp hát hay, bằng phong cách lịch sự trang nhã…mà còn bằng cả những lề lối, tập quán đặc sắc kèm theo nó Ví dụ như nói đến Quan họ Bắc Ninh là nói đến ẩm thực Quan họ Đã là trầu Quan họ thì phải là trầu têm cánh phượng hoặc trầu têm cánh quế, chè phải là chè Thái Nguyên Cơm Quan họ dùng mâm đan nghĩa là mâm gỗ tròn sơn đỏ, còn gọi là "mâm son", vừa trang trọng vừa thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách Các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dùng thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng

Trang 35

ca Quan họ Bắc Ninh luôn chinh phục trái tim các thế hệ con người

1.3 Ý nghĩa của công tác bảo tồn và phát triển Dân ca Quan họ

1.3.1 Đối với loại hình nghệ thuật

Quan họ với đặc điểm phong phú về lời ca, giai điệu là loại hình dân ca được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác bằng phương thức truyền khẩu

Phương thức này chính là yếu tố giúp cho Quan họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng đồ sộ bài hát với những giai điệu khác nhau Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, trở thành nhiều dị bản khác nhau thậm chí khác hẳn so với ban đầu hay có thể biến mất hẳn Đứng trước tình trạng đó vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng giai đoạn phát triển là việc làm cấp thiết

Bảo tồn và phát triển luôn là phạm trù gắn liền và song song với nhau,

hỗ trợ và làm nền tảng cho nhau Đặc biệt chúng giữ vai trò quan trọng đối với loại hình nghệ thuật, đặc biệt là đối với những loại hình nghệ thuật dân gian như Quan họ

Bảo tồn giúp chúng ta bảo vệ và duy trì dân ca Quan họ để làn điệu này không bị thất truyền Để từ đó làm nền tảng cho việc phát huy những giá trị văn hóa của dân ca Quan họ Chính vì vậy, bảo tồn và phát triển luôn giữ

Trang 36

một vị thế mấu chốt đối với các loại hình nghệ thuật để có thể giữ lửa – và thổi bùng lên các loại hình nghệ thuật đó

Bên cạnh đó, bảo tồn và phát triển Dân ca Quan họ còn đóng vai trò quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa của vùng miền và dân tộc Dân ca Quan

họ tạo nên đặc trưng riêng cho miền đất Kinh Bắc nói chung và còn đại diện cho cả dân tộc khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể

1.3.2 Đối với việc phát triển nhân cách của thanh thiếu niên

Bảo tồn và phát triển dân ca ngoài việc giữ vai trò quan trọng đối với lưu giữ loại hình nghệ thuật nó còn mang một ý nghĩa rất lớn với tầng lớp thanh thiếu niên nói chung và thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

Thanh thiếu niên được tìm hiểu về loại hình âm nhạc dân gian mà cụ thể hơn đó là dân ca Quan họ, một trong những di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và cũng là biểu trưng của vùng đất Kinh Bắc cổ kính Việc tìm hiểu này giúp các bạn trẻ có thêm nhiều kiến thức hơn về âm nhạc truyền thống, hiểu được những giá trị văn hóa ẩn sau trong đó Hiểu thế nào là bản sắc văn hóa của quê hương mình,

Được coi là nhân chứng lịch sử, những bài hát Dân ca Quan họ ghi chép lại những sự kiện đã diễn ra trong cuộc sống của những người dân lao động của người dân Kinh Bắc, phản ánh chân thực những gì mà ông cha ta đã

đi qua, nên trong quá trình tiếp cận với Dân ca Quan họ, thế hệ trẻ Bắc Ninh

có thể tìm hiểu về nguồn gốc và lịch sử hình thành của quê hương mình

Quan họ đem đến cho những bạn trẻ cái nhìn chuẩn mực về vẻ đẹp từ trong ca từ, giai điệu của dân ca Quan họ Am hiểu cái đẹp trong nghệ thuật

sẽ giúp thanh thiếu niên có cách sống đẹp ở thực tế Hình thành nên giá trị chân – thiện – mỹ trong tư tưởng của mỗi người Trong chủ đề của Quan họ luôn nhắc rất nhiều đến tình yêu quê hương, gia đình, đôi lứa Khi nghe Quan

họ, các bạn trẻ phần nào được cảm nhận và cảm hóa tâm hồn của chính mình

Từ đó hình thành những nhân cách đẹp trong mỗi con người trẻ tuổi ấy

Trang 37

Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ QUAN HỌ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH

2.1 Câu lạc bộ Quan họ làng Diềm

2.1.1 Lịch sử hình thành

Làng Diềm là tên gọi nôm của thôn Viêm Xá - một ngôi làng cổ, nơi có đền thờ Thủy tổ - Vua Bà đã sáng tác và truyền dạy cho người dân địa phương những làn điệu dân ca Quan họ ngọt ngào, đằm thắm Thế nên, những chất tinh túy, vàng ròng của văn hóa Quan họ đều đang có ở làng Diềm

Người dân làng Diềm còn luôn tự hào vì nghệ thuật và phong cách ca hát Quan họ vừa cổ xưa, độc đáo vừa phong phú, điêu luyện Trong số 49 làng Quan họ của Bắc Ninh hiện nay, hiếm làng nào còn duy trì được đội Quan họ đông tới gần 100 người gồm đủ các thế hệ liền anh liền chị với nhiều lứa tuổi Từng bọn Quan họ, mỗi nhóm liền anh, liền chị, hễ có dịp gặp gỡ là

họ có thể cất giọng hát tuỳ theo nhu cầu, tâm trạng cảm xúc

Trước đây, Quan họ làng Diềm có 5 bọn với 9 nhà chứa khác nhau Mặc dù lề lối chơi và lời ca đồng nhất nhưng dị bản của các làn điệu giữa các bọn lại không giống nhau Điều này gây khó khăn rất lớn đối với vấn đề bảo tồn và gìn giữ Năm 1990, khi phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới được triển khai, các thôn các làng đều xây dựng quy ước và hương ước riêng, Chi bộ đảng Viêm Xá đã có nghị quyết về việc hợp nhất các bọn Quan họ, tạo

sự thống nhất trong cách chơi để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của loại hình dân ca Quan họ

Đến làng Diềm vào ngày thường sẽ thấy Quan họ là đặc trưng, bất cứ ở đâu và thời điểm nào, trẻ già, gái trai đều có thể ca những làn điệu Quan họ cổ

Trang 38

dung dị, mượt mà và đằm thắm Vào ngày đông hội, Quan họ dường như là khí thở bởi người người, nhà nhà đều hát Quan họ

Được sự ủng hộ của các bậc cao niên và đồng thuận của nhân dân, câu lạc bộ Quan họ Viêm Xá được thành lập vào năm 1994

Chị Nguyễn Thị Sang, Chủ nhiệm câu lạc bộ khẳng định: “Quan họ làng Diềm đã và đang được kế thừa phát triển rộng rãi, đáp ứng sự kỳ vọng của cấp ủy đảng chính quyền và nghệ nhân trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”

2.1.2 Đối tượng tham gia

Câu lạc bộ thu hút rất nhiều người dân yêu thích Quan họ trong và ngoài làng Diềm Thời gian đầu Câu lạc bộ có tới hơn 70 thành viên tham gia với nhiều lứa tuổi khác nhau và chia thành 5 bọn Quan họ

Trong Câu lạc bộ, thành viên cao tuổi nhất đã 90 tuổi và thấp nhất là 15 tuổi Đối tượng chủ yếu của Câu lạc bộ là các em nhỏ ở độ tuổi thanh thiếu niên

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Tháng 8/1994, Câu lạc bộ tiến hành bầu Ban chủ nhiệm gồm 7 thành viên CLB đã tiến hành bầu Ban chủ nhiệm gồm 7 thành viên, do chị Nguyễn Thị Sang làm chủ nhiệm câu lạc bộ

Đến năm 2012, Câu lạc bộ Quan họ do bác Nguyễn Thị Sung năm nay

54 tuổi phụ trách Trong Câu lạc bộ có hơn 50 cụ làm nòng cốt còn có tới 3-4 thế hệ lớp dưới tham gia sinh hoạt

2.1.4 Hoạt động

2.1.4.1 Phương thức

Câu lạc bộ định hướng chơi theo lề lối Quan họ Làng Diềm: với hơn

200 câu hát cổ mẫu mực, điệu thức nhấn nhá, luyến láy, ca từ theo lối tự sự

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w