Là một thành viên trong cộng đồng người Nùng Dín, nhóm Nùng có nhiều khác biệt nhất so với các nhóm Nùng khác như lối sống, ngôn ngữ, đặc điểm về nhà ở, trang phục,… đã tạo nên những giá
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HÓA
CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
SINH VIÊN THỰC HIỆN: LÙNG THỊ OANH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Trang 2MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 10
KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI 10
1.1 Khái quát về đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư, kinh tế - văn hóa huyện Mường Khương 10
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 10
1.1.2 Đặc điểm về dân cư 12
1.1.3 Kinh tế 13
1.1.4 Văn hóa 15
1.2 Khái quát về người Nùng 16
1.2.1 Khái quát về người Nùng ở Việt Nam 16
1.2.2 Khái quát về người Nùng Dín ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai 19
CHƯƠNG 2 28
TRANG PHỤC CỔ TRUYỀN CÔ DÂU NÙNG (nhóm Nùng Dín) Ở HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI 28
2.1 Khái quát hôn nhân của người Nùng Dín huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai 28
2.2 Quan niệm về trang phục – trang phục cô dâu của người Nùng Dín 31
2.3 Đặc điểm về trang phục cổ truyền cô dâu Nùng Dín 34
2.3.1 Y phục 34
2.3.2 Đặc điểm về đồ trang sức 51
2.4 Những nghi thức trong sử dụng trang phục cô dâu 55
2.5 Sự khác biệt trang phục cô dâu Nùng Dín với các nhóm Nùng khác 57
2.6 Sự biến đổi nhận thức về trang phục cổ truyền cô dâu Nùng Dín 64
CHƯƠNG 3 67
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRANG PHỤC CỔ TRUYỀN CÔ DÂU NÙNG (NHÓM NÙNG DÍN) Ở HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI 67
3.1 Những giá trị văn hóa trong trang phục cổ truyền cô dâu Nùng Dín 67
3.2 Những biện pháp bảo tồn phát huy giá trị văn hóa của trang phục cổ truyền cô dâu Nùng Dín 70
KẾT LUẬN 73
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 41 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Nùng là một trong những dân tộc có số dân đông ở Việt Nam, sống ở các địa phương, tỉnh, thành phố với điều kiện địa lý tự nhiên khác nhau Là dân tộc có nhiều nhóm địa phương như nhóm: Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Dín, Nùng Lòi,… Đã tạo nên nét văn hóa đặc trưng riêng như tiếng nói, nếp sống, phong tục tập quán, trang phục Những nét đặc trưng đó tạo nên “cái riêng” của từng nhóm Nùng ở từng vùng địa lý khác nhau
Là một thành viên trong cộng đồng người Nùng Dín, nhóm Nùng có nhiều khác biệt nhất so với các nhóm Nùng khác như lối sống, ngôn ngữ, đặc điểm về nhà ở, trang phục,… đã tạo nên những giá trị văn hóa độc đáo mang nét mang nét đặc trưng riêng của nhóm Nùng này Một trong những giá trị văn hóa đó là trang phục cổ truyền của cô dâu Chính bởi vậy tôi đã chọn đề tài: “Bước đầu tìm hiểu về trang phục cổ truyền cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín ) huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” Qua việc tìm hiểu bộ trang phục
cổ truyền cô dâu góp phần giới thiệu và bảo tồn những giá trị văn hóa ẩn sâu trong trang phục của dân tộc mình
Trong đời sống trang phục là một trong những yếu tố cơ bản bởi nó là nhu cầu không thể thiếu được trong sinh hoạt và lao động Trang phục không chỉ có chức năng che đậy bảo vệ con người về mặt sinh học mà còn biểu hiện nếp sống tộc người, thể hiện trình độ thủ công truyền thống và quan điểm thẩm mĩ, ngoài ra nó còn là cơ sở nhận biết và giúp ta có thể phân biệt sự khác biệt giữa tộc người này với tộc người khác Vì vậy có thể coi trang phục như một nguồn tư liệu quan trọng trong nghiên cứu dân tộc học
Các dân tộc Việt Nam không kể các yếu tố khác, chỉ riêng trang phục tạo cho họ ý thức phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, giữa nhóm này với nhóm khác Cùng với ngôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng thứ hai để chúng ta nhận biết một dân tộc
Trang 5Trang phục không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ cơ thể và làm đẹp cho con người, mà trang phục còn mang dấu ấn xã hội trang phục chỉ ra nguồn gốc và bản sắc văn hóa của dân tộc đó, cũng cơ sở là nguồn tư liệu để góp phần nghiên cứu trật tự xã hội của cộng đồng tộc người nào đó Cho nên nghiên cứu trang phục của dân tộc để tìm ra những nét riêng, giá trị văn hóa ẩn chứa trong đó
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu trang phục dân tộc được chú ý và được coi là cách thức nghiên cứu tiếp cận dân tộc học theo chiều sâu Việc nghiên cứu trang phục cổ truyền cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín) là sự đóng góp quan trọng trong việc bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của người Nùng Dín Nghiên cứu về trang phục còn là cơ sở khoa học cho nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật,…để vận dụng, kế thừa tính dân tộc, giá trị văn hóa, quan điểm thẩm mĩ nhằm phục vụ cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
Quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa của đất nước trong những năm gần đây một mặt làm cho đời sống kinh tế của các dân tộc ngày một cải thiện nhưng mặt trái của nó cũng đang là một vấn đề bức xúc đối với người làm công tác giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thực tế cho thấy mấy chục năm gần đây nghề trồng dâu nuôi tằm của người Kinh, nghề dệt thổ cẩm của người Thái, nghề trồng lanh của người H’Mông ở nhiều nơi đã bị mai một, và nghề trồng bông dệt vải của người Nùng cũng ở vào tình trạng chung đó Đặc biệt ở nhóm Nùng Dín nghề trồng bông dệt vải đã bị mất hẳn Có một vấn đề đặt ra là: Không phải đủ mặc có nghĩa là có thật nhiều vải, nhiều kiểu dáng, giá thành thật rẻ để phục vụ đại bộ phận nhu cầu của người dân mà phải giải quyết vấn đề mặc này sao cho phù hợp với hàng loạt yêu cầu về kinh tế, xã hội, văn hóa và mối quan hệ giữa truyền thống và hiện tại Điều này càng quan trọng hơn đối với trang phục của cô dâu trong ngày cưới
2 Mục đích nghiên cứu
Góp phần tìm hiểu nữ phục trong hôn nhân của người Nùng Dín và
Trang 6qua đó góp phần vào việc bảo tồn giá trị văn hóa của nữ phục trong hôn nhân trước sự biến đổi của văn hóa Nùng trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là nghiên cứu về trang phục
cổ truyền của cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín )
- Khóa luận lấy trang phục trong hôn nhân của phụ nữ tại các Xã Mường Khương, xã Tung Chung Phố, xã Nấm Lư ở huyện Mường khương để nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu trang phục cô dâu trong đám cưới từ những năm nửa cuối thế kỉ 20 trở về trước và chỉ đi sâu nghiên cứu về đặc điểm trang phục cổ truyền của cô dâu mà thôi
4 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Lịch sử nghiên cứu về văn hóa vật chất của các dân tộc đang được các học giả, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn dưới các góc độ lịch sử, văn hóa, khảo cổ, kinh tế, dân tộc học, mỹ thuật, kỹ thuật đã đề cập đến các Namội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến trang phục Các học giả đã nhận thấy vai trò của trang phục trong nghiên cứu lịch sử tộc người, điều đó
được thể hiện trong một số công trình như: Người Mường ở Hòa Bình của Nguyễn Từ Chi Lịch sử Việt Nam (tập một) của Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh Các dân tộc ít người ở Việt Nam của Viện
Dân Tộc Học, hay những bài viết trên các tạp chí, Văn hóa dân gian, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, Dân tộc học
Thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu riêng về trang
phục như: Tìm hiểu trang phục Việt Nam của Đàm Thị Tình, Trang phục cổ
truyền các dân tộc Việt Nam của Ngô Đức Thịnh, Hoa văn Thái của Hoàng
Lương, Nghệ thuật trang phục Thái của Lê Ngọc Thắng Hay một số luận văn tốt nghiệp như: Nét độc đáo trong trang phục tuyền thống của người Thái
Quỳ Châu Nghệ An của Sâm Thị Hằng (kí hiệu N207/04), Bước đầu tìm hiểu trang phục cổ truyền của người Dao Tiền ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên
Trang 7Quang của Trương Thu Huyền (kí hiệu: B.557/97), Tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Mường ở huyện Mai Châu của Đinh Thị Thủy
(kí hiệu: T310/04), và một số luận án thạc sĩ như Trang phục cổ truyền của
nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền ở huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn của Nông Quốc
Tuấn (kí hiệu: TR106/97), Trang phục cổ truyền của người Dao Tiền ở Ngân
Sơn Bắc Kạn của Nguyễn Thị Thúy (kí hiệu: TR106/03) Tất cả những khóa
luận và luận án trên đều được lưu trữ tại thư viện (phòng đọc tự chọn) của trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Những cuốn viết về người Nùng cũng có một số công trình nghiên cứu
nhắc đếntrang phục như: Trong cuốn Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt
Nam của PGS.TS Ngô Đức Thịnh (Tr104), cuốn Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam của GS.TS Hoàng Nam (Tr88), cuốn Một số phong tục, tập quán của người Nùng Dín ở thôn Tùng Lâu của Vàng Thung Chúng
(Tr55), Tính thống nhất và tính địa phương của trang phục Nùng của Nguyễn Tất Thắng (Tr52), Nữ phục Nùng Dín ở Hà Tuyên của Lê Ngọc Quyền
(Tr55) Nhưng những công trình này mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất, chưa trình bày chi tiết hệ thống và đầy đủ về trang phục cổ truyền của Người Nùng đặc biệt là trang phục cổ truyền cô dâu nhóm Nùng Dín
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi đã tập hợp tài liệu từ các nguồn sau:
- Nguồn tư liệu điền dã dân tộc học trên địa bàn ba xã: Tung Chung Phố, Mường Khương, Nấm Lư của huyện Mường Khương
- Nguồn tài liệu từ những cuốn sách đã xuất bản, của các nhà nghiên cứu dân tộc học có liên quan đến trang phục nói chung và trang phục Nùng Dín nói riêng
- Nguồn tài liệu từ các luận văn tốt nghiệp của sinh viên Đại học Văn Hóa Hà Nội
Trang 8- Đặc biệt nguồn hiện vật gốc, và tư liệu ảnh về trang phục còn giữ lại được trong một số gia đình, hay lưu giữ tại bảo tàng dân tộc học Việt Nam
- Mặc dù các nguồn tài liệu trên chưa thật đầy đủgiups ta nhận biết một cách toàn diện về các khía cạnh biểu hiện trong trang phục cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín) song bước đầu nó cũng là nguồn tư liệu chân thực giúp tôi hoàn thành bài khóa luận này
Về phương pháp nghiên cứu trước hết tôi quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và viết bài khóa luận này Phương pháp điền dã dân tộc học được coi là điều kiện quan trọng nhất trong nghirn cứu bài khóa luận này Bên cạnh đó tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu mô tả, phương pháp trao đổi phỏng vấn, phương pháp điều tra xã hội học theo cách nghiên cứu chọn điểm
Từ những tài liệu điền dã và những thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu tài liệu, với việc sử dụng phép biện chứng, duy vật lịch sử, lý luận văn hóa để liên kết sâu chuỗi các dữ liệu đó là từ điều kiện khí hậu của vùng
mà trang phục của đồng bào nơi đây luôn được may dày Hay từ những quan niệm riêng biệt về màu sắc trong những dịp hiếu hỷ mà hình thành nên những đặc trưng về màu sắc trong ngày cưới tạo nên những nét văn hóa riêng biệt được thể hiện ra bên ngoài của cộng đồng người Nùng Dín Hay từ những tích truyện cổ dân gian cùng với địa vực cư trú mà hình thành nên những suy nghĩ
về lịch sử người Nùng Dín đặc biệt là lịch sử cuộc đời người phụ nữ để từ đó
ta thấy rõ được ý nghĩa của bộ trang sức, nó không chỉ là đồ để trang trí làm đẹp cho người đeo hay có giá trị cao về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu đậm về mặt văn hóa ẩn sâu trong đó
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục thì bố cục của đề tài được chia làm ba chương
Chương 1: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và người Nùng Dín
ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Trang 9Chương 2: Trang phục cổ truyền cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín) ở huyện Mường Khương, Tỉnh Lào Cai
Chương 3: Phương pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong trang phục cổ truyền cô dâu Nùng (nhóm Nùng Dín) ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
1.1 Khái quát về đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư, kinh tế ‐ văn hóa huyện Mường Khương
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Mường Khương là huyện vùng cao biên giới nằm cách thành phố Lào Cai 50km về phía đông bắc theo quốc lộ 4D, cách biên giới Việt – Trung khoảng 5km, có đường biên giới với Trung Quốc là 86,5km chiếm 50% đường biên của toàn tỉnh, với 64 cột mốc Huyện nằm ở vị trí 22o16’độ kinh đông, với vị trí tiếp giáp:
Phía bắc, phía tây và tây bắc giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc
Phía nam và tây nam giáp huyện Bảo Thắng
Phía đông và đông bắc giáp huyện Bắc Hà, Si Ma Cai và tỉnh Vân Nam Trung Quốc
Là huyện miền núi nên địa hình Mường Khương phức tạp, có nhiều vực sâu chia cắt xen kẽ giữa các dải thung lũng hẹp và sơn nguyên đá vôi thấp Độ cao trung bình của huyện so với mực nước biển là 950m, đỉnh núi cao nhất của huyện có độ cao lên tới 1.609m Toàn huyện có tổng diện tích là 556,15km2
Đất Mường Khương chủ yếu là đất ferarit phát triển trên Đá biến chất
và đá phiến thạch sét, thích hợp cho trồng cây ăn quả (như Mận, Lê, Đào, Quýt…) và cây công nghiệp (như Bông, Chè,Thuốc Lá…) Đất thung lũng và đất phù sa không bồi dắp thích hợp cho trồng lúa nhưng chỉ chiếm một phần diện tích nhỏ Tổng diện tích đất tự nhiên theo thống kê năm 2010 của phòng địa chính là 55.614,54ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 15%, đất lâm nghiệp chiếm 34%, còn lại chủ yếu là đất có độ dốc cao
Khí hậu của huyện mang tính á nhiệt đới, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa được tính từ cuối tháng 4 năm nay đến đầu
Trang 11tháng 10 năm sau, mùa khô được tính từ tháng 10 năm nay đến cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm sau Nhưng cho dù là mùa mưa hay mùa khô thì một ngày ở Mường Khương lại có đủ cả bốn mùa: Mùa xuân vào buổi sáng, mùa hạ vào buổi trưa, mùa thu vào buổi chiều, mùa đông vào buổi đêm
Khí hậu của huyện không chỉ chia làm hai mùa rõ rệt mà còn phân ra làm ba vùng khác nhau: Vùng thượng huyện mang tính chất á nhiệt đới, nhiệt
độ bình quân là 19,20C; Vùng hạ huyện khí hậu mang tính chất nhiệt đới, nhiệt độ bình quân là 22,40C; Vùng trung chuyển nhiệt độ bình quân là 20,70C Nhiệt độ thấp nhất của huyện là 2,20C, nhiệt độ cao nhất là 34,20C, riêng khu vực Cao Sơn có năm nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết (như tháng 3 năm 2011)
Hệ thống sông suối phân bố rải rác ở khắp các xã trên địa bàn huyện như: Xã Tả Gia Khâu, xã Tung Chung Phố, xã Mường Khương… Nhưng hệ thống sông suối của huyện chủ yếu là sông suối nhỏ hẹp, và có độ dốc khá lớn, chảy uốn quanh theo chân những ngon núi, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong sinh hoạt cũng như nước dùng trong sản xuất của đồng bào Với điều kiện khí hậu như vậy thì lượng mưa hàng năm của huyện khá lớn nhưng phân bố không đều từ 1725mm/năm–1820mm/năm Mưa tập chung từ tháng 4 đến tháng 9 gây lũ lụt, sói mòn, sạt lở đất, còn mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 2 thời tiết giá lạnh thường xuyên có sương muối Nhìn chung khí hậu của Mường Khương không thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, gây cản trở giao thông ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh tế cũng như sức khỏe của người dân
Thảm thực vật và hệ động vật của huyện khá phong phú về giống loài, còn nhiều loại gỗ quý như: lát, lim, pơ mu, chò chỉ… nhưng trữ lượng không lớn Với địa hình chủ yếu là đồi núi và khí hậu á nhiệt đới mưa nhiều nên thảm thực vật phong phú có nhiều cây dược liệu quý như hà thủ ô, củ gấu tầu, tam thất… Trong một số khu rừng già còn có một số loài động vật quý hiếm
Trang 12Theo số liệu năm 2010 Mường Khương có số dân là 52.149 người Huyện Mường Khương là nơi hội tụ của 14 dân tộc thiểu số cùng sinh sống từ rất lâu đời như: Dân tộc Mông, Nùng, Giáy, Dao, Tày, Phù Lá, Pa Dí, Tu Dí, Thu Lao, Thái,Mường, Kinh Các dân tộc cùng sinh sống trên 15 xã và một
thị trấn với 226 thôn bản Theo số liệu thống kê trong Báo cáo việc bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc huyện Mường Khương tháng 3/2010 thì dân
số toàn huyện có tổng là 11.118 hộ với hơn 52 nghìn nhân khẩu, trong đó tỷ lệ phần trăm các dân như sau:
- Dân tộc Mông chiếm 42%
- Dân tộc Nùng chiếm 24,6%
- Dân tộc Kinh chiếm 12,7%
- Dân tộc Dao chiếm 5,75%
- Dân tộc Giáy chiếm 3,74%
- Dân tộc Pa Dí chiếm 3,54%
- Dân tộc Tu Dí chiếm 2,59%
Các dân tộc còn lại chiếm 5,08%
Qua số liệu trên cho ta thấy rằng dân tộc H’Mông chiếm tỷ lệ đông nhất, nhưng đồng bào luôn sống xen kẽ với các dân tộc khác như dân tộc Nùng, Giáy,… Dân tộc Nùng, Giáy và Kinh thì tập chung sống chủ yếu ở khu trung tâm huyện và trung tâm các xã Còn các dân tộc khác cũng đều sống xen lẫn với nhau ở các thôn bản, các xã trong địa bàn toàn huyện và một
số nhỏ ở khu vực trung tâm
Do đặc thù địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi nên mật độ phân bố dân cư không đều dân tập chung đông ở nơi địa hình bằng phẳng hoặc ở sườn đồi, sống thưa thớt ở khu vực đồi núi,có thôn các hộ gia đình sống thưa thớt như người Phù Lá, Thu Lao, có thôn bản lại tập chung đông như thôn bản của người Nùng, Giáy sống thành từng khu ở vùng đồng bằng hay vùng chân núi Mặc dù vậy các dân tộc luôn sống hòa thuận đoàn kết, quan hệ mật thiết với
Trang 13nhau qua tình làng nghĩa xóm, mối quan hệ hôn nhân, đặc biệt tình đoàn kết được thể hiện rõ qua các cuộc đấu tranh chống phỉ, trộm cướp của các dân tộc trong huyện, hay qua các dịp lễ hội các hình thức sinh hoạt cộng đồng như cưới xin, ma chay
Như vậy mặc dù là huyện có nhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng, phong tục tập quán tôn giáo tín ngưỡng khác nhau, nhưng các dân tộc luôn sống hòa thuận, đoàn kết giao lưu học hỏi giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất cũng như trong các hoạt động văn hóa
1.1.3 Kinh tế
Do nằm ở thung lũng lòng chảo, địa hình đồi núi cao thấp khác nhau, đất chủ yếu là loại đất ferarit phát triển trên đá biến chất và đá phiến thạch sét, khí hậu mang tính á nhiệt đới, lượng mưa hàng năm khá lớn cùng với những điều kiện khác như hệ thống sông ngòi, vị trí địa lý nên sản xuất kinh tế chính của huyện là kinh tế nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, các nghề thủ công, ngoài ra còn khai thác tiềm năng sẵn có của tự nhiên, thương mại dịch vụ
Theo thống kê năm 2010 tình hình kinh tế của toàn huyện tiếp tục phát triển ổn định, tổng sản phẩm thực đạt 25.596 tấn bằng 90,1% kế hoạch, trong
đó thóc đạt 10.725 tấn bằng 97,5% kế hoạch, ngô đạt 14.871 tấn bằng 95,25%
kế hoạch
- Về trồng trọt chủ yếu là trông lúa nước, ngô, các loại cây hoa màu (như khoai, sắn, bầu, bí…), cây công nghiệp (như bông, chè, thuốc lá…) và các loại cây ăn qủa ( như cam, quýt, mận…) Trồng lúa gồm có hai loại là lúa nếp và lúa tẻ, nhưng lúa tẻ vẫn được trồng chủ yếu bởi lương thực chính của đồng bào là ăn cơm tẻ, còn lúa nếp chỉ chỉ dùng để làm bánh trái, xôi oản phục vụ trong các ngày lễ tết, hội hè, các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng tâm linh Ngô và các loại cây hoa màu như khoai, sắn thì chủ yếu được trồng để phục vụ trong chăn nuôi Trước kia với tập quán “trồng cây chay” không có
Trang 14đến tỷ lệ nghèo và cận nghèo của huyện cao Ngày nay do người dân đã biết
áp dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng những giống lúa cao sản, sử dụng những loại phân bón vi sinh cũng như phân bón hữu cơ nên năng suất cây trồng ngày càng cao vì vậy mà sản lượng lương thực không chỉ đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương mà còn cung ứng cho các huyện khác trong tỉnh và ngoài tỉnh
Ngoài ra người dân ở huyện còn, đặc biệt là người Nùng còn trồng cây bông để dệt vải, nhưng đến thời pháp thuộc (từ 1886 - 1950) nghề trồng bông dệt vải đã bị xóa bỏ, thay vào đó là chúng bắt đồng bào trồng cây thuốc phiện
để cung cấp cho chúng và một phần cho quan lại địa phương với giá rẻ Ngày nay tuy không còn trồng cây thuốc phiện nhưng người dân cũng không trồng cây bông nữa mà trồng cây thuốc lá, cây chè để tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy kinh tế gia đình
- Về chăn nuôi: Ở huyện chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, ngựa để lấy sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn sử dụng làm phương tiện vận chuyển và đi lại Đồng bào còn chăn nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan và gia súc nhỏ như lợn, dê để phục vụ nhu cầu trong những dịp lễ tết , cải thiện bữa ăn hàng ngày Ngày nay chăn nuôi gia cầm còn nhằm phát triển kinh tế gia đình
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, các ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Chế biến chè, chế biến thuốc lá, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ may mặc…với quy mô nhỏ, giá trị không lớn chủ yếu phục vụ cho đời sống sinh hoạt, cung cấp một phần vật liệu cho xây dựng các công trình công cộng và nhà ở của người dân Tuy công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp
Nền kinh tế nông lâm nghiệp đã có nhiều bước phát triển tuy nhiên việc tận dụng và khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có vẫn giữ một vị trí quan trọng
ở địa phương Người dân tận dụng những nguyên liệu sẵn có như tre, vầu,
Trang 15nứa… để tự đan đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như bồ đựng thóc, địu, thúng mẹt, rổ rá, đồ dùng bắt cá…
Do vị trí địa lý của huyện tiếp giáp với Trung Quốc nên đồng bào có điều kiện để giao lưu học hỏi về văn hóa, phong tục tập quán, về kinh tế đặc biệt là giao lưu buôn bán Việc giao lưu buôn bán với Trung Quốc diễn ra thường xuyên, rõ nét nhất là vào các ngày chợ phiên họp vào chủ nhật hàng tuần tại chợ ở trung tâm huyện,chính vậy mà thương mại dịch vụ vài năm gần đây có bước phát triển khá, tổng mức bán lẻ di chuyển hàng hóa và doanh thu năm 2010 là từ 25 – 30 tỷ tăng gấp ba lần so với năm 2005, từng bước nâng cấp mở rộng thêm 15 chợ nông thôn, đến nay đã có gần 800 hộ tham gia các hoạt động dịch vụ thương mại tại trung tâm huyện và trung tâm các xã
Tóm lại trong sản xuất kinh tế thì nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu và cây lương thực là cây trồng chủ lực, tuy nhiên với những điều kiện thiên nhiên khá thuận lợi cùng nguồn nguyên liệu dồi dào thì Mường Khương còn nhiều khả năng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
1.1.4 Văn hóa
Các dân tộc trong huyện tuy thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau nhưng luôn sống xen kẽ với nhau nơi biên cương Là vùng đất xưa kia có nhiều nhóm phỉ hoạt động, nhiều trộm cướp luôn quấy phá cuộc sống của nhân dân nên các dân tộc ở vùng đất này luôn phải đoàn kết nhau lại để chống lại kẻ thù từ đó hình thành nên truyền thống đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc ở Mường Khương, không chỉ đoàn kết chống lại kẻ thù mà còn gắn bó thường xuyên giao lưu học hỏi, tìm hiểu văn hóa của nhau
Các dân tộc đều có chung một loại hình nhà ở phổ biến là nhà trình tường, nền đất thích hợp với vùng cao giá lạnh Các gia đình tụ quanh trong các làng bản, mỗi làng bản đều có một ít ruộng công, có khu rừng chung, có
tổ chức tự vệ riêng với những quy ước riêng, sẵn sàng hợp lực lại chống trộm cướp, bảo vệ trị an của bản làng Hàng năm các làng bản đều tổ chức các lễ ăn
Trang 16phương án tác chiến bảo vệ trị an Người dân của huyện có thể nói được nhiều thứ tiếng của các dân tộc anh em, họ am hiểu và tôn trọng phong tục tâp quán của nhau
Bên cạnh những nét đặc trưng chung như vậy, mỗi dân tộc ở Mường Khương còn có một kho tàng văn hóa dân tộc phong phú riêng, đó có thể là những hệ thống dân ca như: Những bài hát ru, đồng giao, giao duyên, các bài hát mừng lễ cưới, các bài phục vụ tang lễ và tín ngưỡng; Truyện cổ dân gian; Các nhạc cụ dân gian truyền thống như khèn, sáo của người Mông, đàn tròn của các dân tộc Nùng, Pa Dí, đàn môi của hầu hết các dân tộc, kèn pì lè của dân tộc Tày, Giáy, cùng với đó là dàn cồng chiêng và các quả chuông nhạc, đàn nhị….Các dân tộc huyện Mường Khương có hệ thống lễ hội khá phong phú, bao gồm các lễ hội mùa xuân như hội xuống đồng (Tày, Nùng,Giáy), hội
“gầu tào”, “hội nào xồng” (ăn ước) của đồng bào H’Mông, hội mùa thu, mừng được mùa, ăn cơm mới của hầu hết các dân tộc trong huyện Song song với các lễ hội và đặc thù của dân tộc mà hình thành nên các điệu múa tín ngưỡng rất đặc sắc ví dụ như múa chuông của dân tộc Dao, múa ngỗng của dân tộc Nùng, múa khèn của dân tộc H’Mông… Tất cả các sinh hoạt văn hóa trên đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc ở Mường Khương nói riêng, tỉnh Lào Cai nói chung và rộng hơn nữa là góp phần tạo nên những sắc màu riêng biệt độc đáo trong vườn hoa muôn sắc của văn hóa Việt Nam
Trang 17Theo tên gọi các nhóm Nùng thì dân tộc Nùng ở Việt Nam gồm nhiều nhóm địa phương như: Nùng Phàn Sình, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Dín, Nùng Quý Rịn, Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Xuồng, Nùng Cún Cọt, Nùng Khèn Lài,… Tuy dân tộc Nùng ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương khác nhau, mỗi nhóm đều có tên gọi riêng, có những nét văn hóa khác biệt nhưng nhìn chung những yếu tố cơ bản là giống nhau
Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ các nhóm Nùng cơ bản là thống nhất, trong
sinh hoạt giao tiếp hàng ngày, cấu tạo ngữ pháp như nhau, tỷ lệ khác nhau về
âm tố gần như không đáng kể
Về nguồn gốc tất cả các nhóm Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày ở Việt Nam và dân tộc Choang ở bên kia biên giới Việt – Trung
Họ đều là những tộc người riêng của khối Bách Việt, chính vì vậy mà ngôn ngữ của họ là cùng một hệ ngôn ngữ là hệ ngôn ngữ Tày – Thái Phần lớn các học giả cho rằng các tộc người nói ngôn ngữ Tày – Thái là di duệ của Lạc Việt về Tây Âu
Về kinh tế: Dân tộc Nùng là dân tộc trồng trọt, cây lương thực chính là
lúa và ngô Làm ruộng là hình thức sản xuất chủ yếu nhưng nương rẫy vẫn giữ vị trí quan trọng, ngoài ra người Nùng phát triển chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm Gia súc nuôi để lấy sức kéo, làm phương tiện vận chuyển, các giống gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng… nuôi chủ yếu để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày và những dịp lễ tết, hiếu hỷ
Nghề thủ công cũng khá phát triển đặc biệt là nghề đan lát, kéo sợi dệt vải, nghề rèn đúc,…
Việc khai thác các nguồn lợi có sẵn trong tự nhiên mang ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của người Nùng, trong đó chủ yếu là hái lượm các loại rau rừng, các loại măng củ, nấm và các loại cây dược liệu quý
Trao đổi mua bán hàng hóa của người Nùng đã được hình thành từ lâu, xưa dân tộc Nùng đã nổi tiếng với tài buôn bán giỏi đặc biệt là ở các chợ cửa
Trang 18Về văn hóa vật chất: Về ăn uống: Dân tộc Nùng sử dụng lương thực
chủ yếu là lúa và ngô, trong đó ăn gạo tẻ là chủ yếu, mỗi ngày được chia ra làm ba bữa ăn chính đó là sáng, trưa và tối
Các loại thực phẩm chính là rau, củ, thịt đi hái lượm hay săn được từ trên rừng và những cây trồng trong vườn nhà, gia cầm tự nuôi Họ uống nước
lã là chủ yếu trong đời sống hàng ngày và uống rượu làm từ ngô, gạo hoặc sắn vào những dịp lễ tết, cưới xin cũng như trong ma chay
Về nhà cửa: Nhìn chung nhà cửa của người Nùng có quy mô khá lớn,
có hai loại hình nhà phổ biến là nhà sàn và nhà trệt
Về trang phục: Trang phục của dân tộc Nùng đều được cắt may bằng vải bông tự dệt có nhuộm chàm
Nhưng vì là dân tộc có nhiều nhóm địa phương nên trang phục của người Nùng vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đa dạng, bởi cũng bằng vải bông tự dệt nhuộm chàm nhưng mỗi nhóm lại có kiểu dáng cắt may khác nhau, cách trang trí họa tiết hoa văn khác nhau từ đó tạo nên sự khác nhau trong trang phục của các dân tộc sự khác nhau đó được thể hiện rõ nét nhất qua trang phục của nữ giới, đặc biệt là trang phục cổ truyền của cô dâu các nhóm Nùng
Trang phục của người Nùng cũng có sự đa dạng về loại hình, giới tính,
độ tuổi nhưng màu sắc chủ đạo vẫn là màu chàm Trang phục nam giới của các nhóm Nùng cơ bản là giống nhau
Về phong tục tâp quán: Hệ thống nhân xưng trong hệ tộc, hội hè, tết nhất hay các hình thức văn hóa nghệ thuật của các nhóm Nùng đều “đại đồng tiểu dị” nghĩa là trong cộng đồng dân tộc thì về phong tục tập quán về cơ bản
là giống nhau, nhưng xét riêng về từng nhóm địa phương trong cộng đồng dân tộc Nùng thì lại có sự khác biệt nhưng không phải là lớn nhưng cũng đủ tạo nên cái riêng của mình
Ý thức tự giác tộc người mang tính thống nhất là “Nùng” Cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam thống nhất, quan hệ giữa các nhóm Nùng càng trở nên chặt chẽ đưa đến quá trình cấu kết tộc người được bền chặt
Trang 191.2.2 Khái quát về người Nùng Dín ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
1.2.2.1 Tên tự gọi và phân bố dân cư
Mường Khương là huyện vùng cao biên giới có 14 dân tộc sinh sống , trong số các dân tộc thì dân tộc Nùng có số dân đông thứ hai sau dân tộc H’Mông
Dân tộc Nùng huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai thuộc nhóm Nùng Dín, sinh sống ở hầu hết các xã trong huyện (xã Mường Khương, xã Tung Chung Phố, xã Nấm Lư, xã Pha Long, xã Dìn Chin, xã Nậm Chảy, xã Tả Gia Khâu, xã Thanh Bình, xã Lùng Khấu Nhin, ) nhưng tập chung đông và có mật độ cao là ở địa bàn thôn Tùng Lâu, Na Đẩy (xã Tung Chung Phố), thôn
Mã Tuyển, thôn Na Khui (xã Mường khương) và xã Nấm Lư
Còn về nguồn gốc tên gọi Nùng Dín thì căn cứ vào tộc phả cho biết: Người Nùng Dín huyện Mường Khương, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), và huyện Hoàng Su Phì, huyện Đồng Văn (Tỉnh Hà Giang) là từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) sang Có lẽ vì lý do đó mà người Nùng Dín tự gọi mình là
“Noong Lẩy” nghĩa là người Nùng bị lưu lạc, bị bỏ quên Còn tên gọi “Nùng Dín” theo ý kiến của đồng bào là gọi theo tên người tù trưởng trước đây tên là Nùng A Dín
Trong quá trình phát triển của mình, người Nùng Dín Mường Khương
đã sáng tạo ra các giá trị văn hóa cả về vật chất và tinh thần, góp phần làm phong phú, làm đa dạng thêm kho tàng văn hóa truyền thống các dân tộc trong huyện cũng như trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung
1.2.2.2 Hoạt động kinh tế
Từ xưa tới nay địa bàn cư trú của người Nùng Dín Mường Khương vẫn
là nơi chuyển tiếp giữa vùng thấp và vùng cao, nơi có thung lũng hẹp có dòng suối chảy qua, làng bản thường nằm ở chân núi phía trước là thung lũng, phía sau là đồi núi Với vị trí địa lý như vậy người Nùng Dín Mường Khương đã
có truyền thống lâu đời về làm ruộng nước và nương rẫy nhưng làm ruộng nước vẫn chiếm vị trí quan trọng hơn cả
Trang 20Người Nùng Dín Mường Khương làm ruộng nước thành thạo như người Việt, người Tày nhưng do điều kiện khí hậu nên mỗi năm đồng bào chỉ trồng cấy được một vụ mùa Do hiểu được những đặc tính của cây lúa nước
và việc làm ruộng nước nên người dân đã tiến hành khai hoang, tạo nên những thửa ruộng bậc thang nhằm giữ được màu cho đất đồng thời tiết kiệm được thời gian và công sức trong quá trình sản xuất
Sau các lễ hội đón mừng xuân mới, người Nùng Dín bắt tay vào công việc phát dọn rẫy, đây là mùa lao động vất vả nhất trong năm Người Nùng Dín Mường Khương trồng ngô vào tháng 2, trồng lúa vào tháng 4 (âm lịch) Ngày xa xưa đồng bào canh tác bằng phương thức “chọc lỗ tra hạt” là chủ yếu, những năm gần đây đã phổ biến gieo trồng bằng phương pháp mới, tiếp thu những tiến bộ trong kỹ thuật canh tác, đã trồng xen canh gối vụ, bón nhiều loại phân nên cây trồng đạt năng xuất cao Ngoài hai cây lương thực chính là lúa và ngô người Nùng Dín còn trồng các loại cây hoa màu và cây ăn quả khác như đỗ tương, lạc, mận tam hoa, quýt, lê,…Đây cũng là nguồn thu quan trọng trong mỗi gia đình Nùng Dín Mường Khương
Trong chăn nuôi người Nùng Dín Mường Khương Cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tạo được nhiều giống vật nuôi tốt, đặc biệt là giống lợn đen của huyện rất nổi tiếng Người Nùng Dín nuôi nhiều trâu, bò, ngựa để lấy sức cày kéo, vận chuyển, ngoài ra đồng bào còn nuôi nhiều gia súc nhỏ (như lợn, dê ), gia cầm (như gà, vịt, ngan, ngỗng,…) Tuy nhiên cách chăn nuôi của đồng bào còn mang tính tự nhiên
Người Nùng Dín có khá nhiều nghề phụ trong gia đình, những nghề đó
đã trở thành nguồn làm giàu của một số gia đình làm nghề lâu đời, nổi bật hơn
cả là các nghề: Rèn đúc, chạm khắc bạc, trồng bông dệt vải và một số nghề thủ công mỹ nghệ Có thể nói nghề chạm khắc bạc của người Nùng Dín đã phát triển đạt đến trình độ tinh vi tinh xảo, điều đó lý giải tại sao đồ trang sức của người Nùng Dín làm từ chất liệu bạc lại đẹp và độc đáo như vậy Nhưng
Trang 21hiện nay nghề chạm khắc bạc đã không còn tồn tại mà chưa lý giải được nguyên nhân tại sao lại vậy
Trước đây nghề trồng bông dệt vải của người Nùng Dín cũng đặc biệt phát triển, các gia đình có thể tự cung cấp vải mặc cho mình Tuy nhiên kể từ khi thực dân pháp xâm lược nước ta thì nghề này đã dần mai một và cho đến nay thì đã mất hẳn Người dân bây giờ mua và sử dụng các sản phẩm may mặc bán sẵn trên thị trường
Từ trước đến nay người Nùng Dín còn nổi tiếng bởi các sản phẩm đan lát, làm thùng gỗ, làm yên ngựa, làm giấy, làm bàn ghế từ những nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên
1.2.2.3 Văn hóa vật chất
Về nhà ở:
Cũng như các dân tộc khác, nhà ở của người Nùng Dín Mường Khương không chỉ là một công trình kiến trúc mà nó còn là một công trình văn hóa, đồng thời cũng là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa của gia đình Hơn nữa nó còn là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa cộng đồng dân tộc
Thời Phong kiến và pháp thuộc nhà ở của người Nùng Dín Mường Khương gồm hai loại là nhà sàn hai tầng và nhà lầu ba tầng
Nhà sàn hai tầng còn được gọi là nhà trình tường quá giang (Rưn chinh rung khăm phạc) là loại nhà chôn cột bắc quá giang, xung quanh trình quây kín Ngoài cửa chính còn có cửa phụ ở đầu hồi thông xuống bếp, mái lợp giang, từ quá giang lên làm sàn gác Người ở tầng dưới, thóc, ngô, của cải để
ở sàn trên Mái nhà có thể lợp theo hai kiểu là: Kiểu thuận gianh (sửn tsao) và kiểu đảo gianh(tảo tsao), kiểu đảo gianh dùng nhiều gianh hơn nên độ bền lâu hơn có thể từ 7 năm đến 10 năm vì vậy mà đại đa số các gia đình Nùng Dín trong huyện đều lợp kiểu mái này và làm loại nhà này
Loại nhà sàn ba tầng còn gọi là nhà lầu hay nhà vì (rưn ppha) Loại nhà này phải dùng gỗ tốt, kiến trúc theo kiểu kiến trúc Trung Quốc, xung quanh
Trang 22(mua từ Trung Quốc) Tuy ba tầng nhưng người vẫn ở tầng dưới, tầng hai để thóc, ngô, hòm xiểng, chỗ ngủ của đàn ông và cho khách, tầng ba để treo giống ngô và các đồ dùng ít sử dụng đến Loại nhà này chủ yếu là nhà của địa chủ người giàu có
Cả hai loại nhà trên đều có ba gian: Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên và các bài trí bằng câu đối trang trọng, hai gian ở hai bên làm buồng ngủ cho cô dâu,
vợ và các cô con gái ngủ Nói chung nhà ở của người Nùng Dín tương đối rộng rãi và khi dựng nhà cho dù là loại nhà nào cũng đều phải tuân theo những tục lệ của dân tộc đó là xem ngày giờ làm nhà, chọn hướng nhà cho thích hợp
Về ăn uống:
Trước thời Pháp thuộc xuất phát từ nghề nghiệp chính của dân tộc mình
là trồng lúa, ngô, khoai sắn, nên nguồn lương thực chính của người Nùng Dín Mường Khương ăn cơm tẻ là chủ yếu, gạo được cho vào chảo luộc qua rồi vớt
ra đợi ráo nước rồi lại cho vào chõ để đồ chín Vào những tháng giáp hạt đói kém bà con thường ăn ngô thay cơm, hạt ngô được cho vào cối đá xay nhỏ tiếp đó là sàng mịn rồi lại đem đồ qua hai lần, cơm đó được gọi là “khẩu mú” (tiếng kinh gọi là mẻn mén) để ăn thay cơm gạo, những mảnh to hơn có thể cho vào nồi nấu chín như gạo tẻ
Thực phẩm là các loại rau trồng ở vườn nhà, trên nương và các loại rau rừng ăn được như rau muống chua, rau dớn, rau da trâu, lá xèo,…Cùng với đó
là các thực phẩm như thịt, trứng, cá săn bắt trong tự nhiên hoạc tự chăn nuôi
Từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi với bàn tay khéo léo và óc sáng tạo của mình cùng những tập tục của dân tộc thì vào các dịp lễ tết, đồng bào người Nùng Dín Mường Khương còn chế biến ra các loại bánh trái, món ăn đặc sản thơm ngon như: Bánh chưng (bánh chưng đen, bánh chưng chay) bánh dày, bánh khúc, bánh đúc (làm từ ngô, bột đao), bánh giắm chó (đẹc tét mả), bánh rán, xôi bảy màu, phở (từ gạo, ngô, đao) hay các loại rượu (làm từ ngô, sắn, gạo) và các món ăn đặc sản từ lợn, cá, gà, vịt như các món ăn khau
Trang 23nhục, thịt nướng, thịt quay, nem tráng trứng, cá nướng, cá luộc măng chua, gà xào gừng, xương lợn băm nhỏ rồi ướp gừng (nứ chrinh)… Điều đó đã thể hiện rõ vốn văn hóa ẩm thực rất phong phú và góp phần làm giàu thêm sắc thái văn hóa của người Nùng Dín Mường Khương
Về trang phục:
Cơ bản quần áo nam nữ thường ngày của người Nùng Dín Mường Khương đều tương đồng với các nhóm Nùng khác, duy chỉ có bộ trang phục của cô dâu trong ngày cưới là đặc biệt từ kiểu dáng, chất liệu và kỹ thuật cắt may, thêu thùa Điều đáng chú ý là bộ trang sức kèm theo được làm từ chất liệu bạc rất đẹp, nó không chỉ làm tăng thêm nét duyê dáng cho cô dâu, phân biệt sự khác nhau với các nhóm Nùng khác mà còn có giá trị thẩm mĩ và giá trị về mặt văn hóa cao
Về phương tiện vận chuyển:
Do đặc điểm về địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi, đường giao thông chủ yếu là đường đất và đường mòn đá khá dốc, địa bàn cư trú là nơi chuyển tiếp giữa vùng núi cao với vùng đồng bằng nên người Nùng Dín phải dùng nhiều cách khác nhau để vận chuyển Đó là người gùi, ngựa thồ và trâu kéo Để gùi người ta đan cái địu (ănw pa) bằng vầu hoặc nứa làm hai dây quai
để gùi lên vai, gùi tiện hơn gánh vì có thể đi trong mọi địa hình đường xá Súc vật thồ thì dùng ngựa, ngựa có ưu điểm là hầu hết đi được các đường dốc và hẹp, sức ngựa tải được bằng ba người gánh và tốc độ đi cũng nhanh hơn Súc vật kéo chủ yếu là Trâu nhưng Trâu cũng chủ yếu là kéo củi, kéo gỗ làm nhà chứ không kéo xe vì đường làng, đi làm nương rẫy cũng như khi đi làm ruộng khó khăn, không sử dụng được xe
1.2.2.4 Đời sống văn hóa tinh thần
Văn hóa tinh thần là sản phẩm sáng tạo của mỗi dân tộc, nó không phải dùng cơ bắp để sáng tạo ra mà nó là sản phẩm của bộ óc Văn hóa tinh thần cũng là hình ảnh của văn hóa vật chất vì nó được xây dựng trên cơ sở của một
Trang 24Cũng như nhiều nhóm Nùng khác ở Việt Nam người Nùng Dín Mường Khương có một đời sống văn hóa tinh thần phong phú và đa dạng Bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, điển hình là tiếng nói, văn học dân gian, trò chơi dân gian
Về tiếng nói và chữ viết:
Người Nùng ở Việt Nam cũng như nhóm Nùng Dín đều thuộc nhóm ngữ hệ Tày – Thái Tuy nhiên để diễn đạt được những khái niệm trừu tượng, những thuật ngữ khoa học kỹ thuật thì người Nùng Dín Mường Khương phải mượn trong vốn từ Hán – Việt, tiếng việt, tiếng hán, những từ vay mượn đó đều đã được dân tộc hóa So với nhóm Nùng khác thì tiếng Hán nhiều hơn, nhất là tiếng Quan Hỏa (Vân Nam – Trung Quốc) ví dụ:
Những từ mượn trong vốn từ Hán Việt
Văn nghệ Đọc sang tiếng Nùng Dín là Vần dỉ
Khoa học Đọc sang tiếng Nùng Dín là Khóa sò
Buôn bán Đọc sang tiếng Nùng Dín là Slânw dỉ
Ngoài ra đồng bào còn dùng hai từ Hán – Việt “Nam” “Nữ” ghép với hai từ “Trai” “Nhinh” (Trai Gái) thành hai từ ghép “Nam Chai” “Nữ Nhinh”
mà ta thường thấy trong thơ ca cổ truyền chỉ nam giới và nữ giới nói chung
Vì vậy mà phần lớn người Nùng Dín Mường Khương hầu như ai cũng nói được tiếng Quan Hỏa, điều này càng làm phong phú thêm tiếng dân tộc Đó là một sắc thái riêng trong tiếng nói người Nùng Dín
Còn chữ viết, theo các nghệ nhân, thầy mo, thầy tào kể lại thì trước kia người Nùng Dín cũng đã từng có chữ viết song hiện nay đã không còn mà không giải thích được là vì sao Người Nùng Dín Mường Khương không sử dụng chữ nôm mà sử dụng chữ nho để ghi chép các văn tự cũng như các bài cúng tế của các thầy cúng Tất cả các bài dân ca, truyện thơ, mo, then đều tồn tại bằng hình thức truyền miệng
Về văn học dân gian:
Trang 25Người Nùng Dín Mường Khương có một kho tàng văn hóa dân gian khá phong phú từ tục ngữ thành ngữ, câu đó đến các loại truyện cổ dân gian
và thơ ca dân gian
Riêng truyện cổ dân gian đã có tới hàng trăm truyện với nhiều loại hình
và nội dung khác nhau, tiêu biểu là những câu chuyện xoay quanh nhân vật
“Ỷ Thổi” hay những câu chuyện về “Già Din” Hiện nay những câu chuyện
về nhân vật này đang được sưu tầm và từng bước giới thiệu
Phong phú nhất là thơ ca dân gian Toàn bộ thơ ca cổ truyền của người Nùng Dín là thơ ca truyền miệng, không biết được sáng tác từ thời kì lịch sử nào, khi sáng tạo ra không được ghi chép bằng văn bản mà chỉ truyền miệng
từ người này tới người khác, truyền từ đời này qua đời khác Thơ ca Nùng Dín được sáng tác theo hai lối: Thứ nhất là lối ứng khẩu, thứ hai là lối bài bản
cố định Lối ứng khẩu thường dùng trong các trường hợp hát đối đáp giao duyên, hát mừng nhà mới, hát trong các dịp tết, ngày hội, những ngày chơi xuân, hát khi lao động sản xuất Còn lối hát bài bản cố định chủ yếu là các bài hát mừng đám cưới, loại bài hát này cũng tương đồng với thơ ca đám cưới ở các nhóm Nùng khác Thể thơ của hai loại sáng tác trên chủ yếu là theo thể ngũ ngôn
Nội dung của thơ ca cổ truyền người Nùng Dín Mường Khương là đề cao vai trò của người lao động đã sáng tạo ra mọi thứ của cải từ vật chất đến tinh thần, ca ngợi bản chất tốt đẹp, lòng nhân đạo của con người, nói lên tình thương yêu giữa con người với con người trong cùng gia đình cũng như trong
họ hàng làng xóm Những bài ca hết sức trữ tình miêu tả cái nhìn trìu mến những cảnh lao động sản xuất trong bốn mùa, không chỉ có vậy những bài thơ
ca dân gian mộc mạc đó còn thể hiện tinh thần lạc quan của đồng bào trước những khó khăn gian khổ của cuộc sống, là động lực cổ vũ tinh thần đoàn kết chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên cũng như âm mưu của kẻ thù xâm lăng, nói lên sự phản kháng của con người trước sự bất công của xã
Trang 26hội Như vậy nó vừa là nguồn động viên cổ vũ đồng thời là niềm an ủi lớn của đồng bào trong cuộc sống hàng ngày
Ngoài ra một sinh hoạt văn hóa tinh thần không kém phần hấp dẫn và sôi động không chỉ thời cổ xưa mà vẫn tồn tại cho đến xã hội hiện tại đó là các trò chơi dân gian Trò chơi dân gian của đồng bào Nùng Dín rất phong phú gồm nhiều loại từ trò chơi giành cho trẻ em đến trò chơi giành cho người lớn như: Đu quay, đánh én, chơi quay, vật tay, leng hao, ném còn, kéo co đẩy gậy,…góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của người dân
Đặc biệt người Nùng Dín Mường Khương có nhiều tín ngưỡng dân gian gắn liền với tầng lớp thầy tào, thầy mo, thầy then Tầng lớp trên đóng vai trò cũng như ảnh hưởng quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Sự
ra đời của thầy mo, thầy tào, thầy then cũng đã góp phần hình thành các phong tục tập quán và lễ hội trong cộng đồng các làng bản
Các phong tục cưới xin, tang ma và các lễ hội diễn ra trong năm đều thể hiện nét đặc sắc về văn hóa của một nhóm tộc người Người Nùng Dín Mường Khương cũng vậy có rất nhiều lễ tết trong năm như tết nguyên đán, tết tháng hai, tết đoan ngọ, tết tháng bảy, và nhiều lễ tết nhỏ đã tạo nên những nét văn hóa đặc sắc riêng của họ
Về quan niêm tín ngưỡng dân gian:
Tín ngưỡng là một trong những nhu cầu của đời sống cá nhân cũng như của cộng đồng Cũng như các nhóm Nùng khác người Nùng Dín Mường Khương quan niệm mọi vật đều có linh hồn “vạn vật hữu linh” Theo tiếng dân tộc thì linh hồn được gọi là “Ty Pphỉ”, đó là các thần thánh ma quỷ, như vậy “Ty Pphỉ” là một thuật ngữ dùng để chỉ cả hung thần (pphỉ rái) và phúc thần (pphỉ đảy) Phúc thần thì được thờ cúng ở gia đình, thổ địa làng và rừng cấm Còn các hung thần thì không được thờ cúng mà chỉ khi thầy bói thấy có
ma dữ đang làm hại một gia đình hay bản làng thì mới tiến hành cúng để đuổi con ma đó đi
Trang 27Người Nùng Dín quan niệm rằng trong vũ trụ bao la có ba thế giới sinh tồn và tương đương với ba thế giới đó là ba loại ma khác nhau Thế giới trên trời (các thần tổ tiên, thần trời – ma lành), thế giới trên mặt đất (các ma rùng ,
ma sông, ma suối…), thế giới dưới mặt đất (là thế giới âm phủ - ma dữ ) Xuất phát từ quan niệm đó đã hình thành các hình thức tín ngưỡng dân gian trong cộng đồng dân tộc, đó là: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (pai lao sru) vào các dịp lễ tết, hội hè, đám mừng; cùng với đó là thờ cúng các vị thần cai quản gia đình như thờ táo quân (pphỉ rưn srẩu), thờ bà mụ (pai mề pảng) khi trong gia đình có trẻ nhỏ, thờ ma cửa, thờ thần thổ địa trong nhà,… Ngoài ra họ còn thờ một số vị thần trong cộng đồng bản mường như thờ thần thổ địa trong làng (pai thủ tỷ), thờ thần bản mệnh (pai đoỏng chứ) ở rừng cấm đầu làng,…
để cầu mong sự che trở của các thần, tổ tiên cho cuộc sống luôn bình yên và
no đủ
Cùng với nhiều yếu tố như môi trường tự nhiên, quá trình hình thành nơi cư trú, đời sống kinh tế văn hóa … các tín ngưỡng tôn giáo này đã góp phần trong việc hình thành phong tục tập quán và lễ hội cổ truyền của đồng bào Nùng Dín huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai, thể hiện những sắc thái văn hóa riêng của mình
Tóm lại người Nùng Dín huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai có khá nhiều nét văn hóa độc đáo của riêng mình Để tìm hiểu về những nét văn hóa
đó cần có sự đầu tư nhiều về thời gian và công sức Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của bài khóa luân này tôi chỉ điểm qua vài nét cơ bản về đời sống văn hóa vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Nùng Dín mà tập chung đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu về bộ nữ phục cổ truyền của cô dâu Nùng Dín Bộ trang phục mà theo ý kiến của riêng tôi là đẹp, đặc biệt và có nhiều ý nghĩa ẩn sâu trong nó
Trang 28
TRANG PHỤC CỔ TRUYỀN CÔ DÂU NÙNG (nhóm Nùng Dín) Ở
HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
2.1 Khái quát hôn nhân của người Nùng Dín huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Quan niệm về hôn nhân của người Nùng Dín:
Ngay từ thời xa xưa, con người đã ý thức được vai trò vị trí của nguồn lực con người, ý thức được sức mạnh cộng đồng trong việc cùng chung sức đấu tranh chống lại kẻ thù, chống lại thú dữ, chống lại với thiên nhiên để sinh tồn Trong môi trường đó vấn đề tái tạo ra con người đã trở thành một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, trước thực tế đó hôn nhân tất yếu ra đời với mục đích cố kết cộng đồng, tái tạo con người, tăng cường sức mạnh và nguồn lực con người
Cũng giống như các dân tộc anh em khác, người Nùng Dín Mường Khương coi việc cưới xin, tạo lập gia đình, xây dựng hạnh phúc cho con cháu
là một trong ba việc hệ trọng trong đời sống xã hội của đồng bào (ba việc đó
là cưới xin, làm nhà và tang lễ) Như vậy cưới xin là việc hệ trọng đầu tiên của mỗi con người khi bước vào xây dựng cuộc sống tự lập, trở thành một tế bào của xã hội, bởi vậy khi con cái tới tuổi trưởng thành gia đình nào cũng phải lo toan chuyện “dựng vợ gả chồng” cho con tức là tổ chức cưới xin
Lấy vợ lấy chồng thực sự đã trở thành bước ngoặt có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, trải qua bao thế hệ đời này qua đời khác việc cưới xin đã trở thành phong tục của dân tộc với những quy định thống nhất về nghi lễ, phương thức và những bước tổ chức nhất định Ngày cưới là một ngày quan trọng của lứa đôi, ngày cưới còn là ngày báo hiệu rằng cha mẹ đã làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi dạy con cái trưởng thành
Vốn là cư dân có nguồn gốc bắt nguồn từ Trung Quốc nên trong quá khứ hôn nhân của người Nùng Dín Mường Khương bị chi phối nặng nề bởi lễ
Trang 29giáo phong kiến và chế độ phụ quyền gia trưởng, việc hôn nhân hoàn toàn bị
lệ thuộc vào cha mẹ, phận làm con phải nghe theo lời cha mẹ nên thường
“cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” do vậy việc xây dựng quan hệ vợ chồng không phải bắt nguồn từ tình yêu của đôi trai gái mà được quyết định bởi ý nguyện của gia đình, dòng họ với những toan tính về kinh tế, địa vị xã hội, về số mệnh của đôi trai gái
Cùng với sự phát triển của đất nước đời sống đồng bào thiểu số cũng được nâng cao rõ rệt trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả hôn nhân và gia đình Nếu như trước đây việc lấy vợ lấy chồng là do cha mẹ quyết định thì ngày nay thanh niên nam nữ đã được tự do tìm hiểu nhau, việc hôn nhân được thiết lập trên cơ sở của tình yêu và sự tự nguyện, tuy nhiên ý kiến đóng góp của cha
mẹ vẫn được tôn trọng
Quá trình giao lưu kinh tế văn hóa giữa các dân tộc đã làm nảy sinh các cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc, hiện nay những cuộc hôn nhân hỗn hợp đó đang ngày một gia tăng giữa người Nùng Dín với các dân tộc khác trong khu vực Với những cuộc hôn nhân này đám cưới tổ chức ở bên nào thì phải theo phong tục tập quán của bên dân tộc đó Có thể nói hôn nhân hỗn hợp là là một trong những hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa các dân tộc Sau khi gia đình hỗn hợp ra đời thì xu hướng phát triển của gia đình này cũng thể hiện khác hẳn các gia đình thuần tộc, từ ngôn ngữ giao tiếp đến việc xác định thành phần của những đứa con (thường nghiêng về thành phần của người cha) Mặc dù vậy trong quan hệ gia đình vẫn có sự kết hợp các chuẩn mực về lối sống văn hóa của cả hai dân tộc và con cái cũng hấp thu cả những chuẩn mực văn hóa dân tộc của bố mẹ chúng Đồng thời sự tăng trưởng của các cuộc hôn nhân hỗ hợp dân tộc làm gia tăng những quan điểm mới của các dân tộc
về các cuộc hôn nhân loại này Đa số đồng bào Nùng Dín hiện nay cho rằng thành phần dân tộc không ảnh hưởng đến việc kết hôn Đó là dấu hiệu xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong văn hóa và nếp sống của họ
Trang 30Tiêu chuẩn và độ tuổi kết hôn của người Nùng Dín là trước kia những
cô gái, chàng trai Nùng Dín ở vào độ tuổi mười sáu đến mười bảy tuổi là có thể kết hôn
Các cô gái chàng trai đều có những tiêu chuẩn nhất định để được kết hôn Cô gái phải là những người biết kính trên nhường dưới, ăn ở đức độ, có sức khỏe, biết quản lý các công việc trong gia đình và khéo léo trong việc dệt chỉ se vải, may vá thêu thùa, nuôi dạy con cái, đặc biệt là dạy con gái trong việc nữ công gia chánh Những cô gái có các tố chất như vậy thì không phụ thuộc vào nguồn gốc gia đình mà vẫn luôn được đánh giá cao Còn tiêu chuẩn của người con trai thì phải là một người có sức khỏe, khả năng lao động tốt,
có lòng dũng cảm, sống phải biết kính trên nhường dưới, biết tính toán Người Nùng Dín không có sự phân chia giai cấp, vì vậy trong hôn nhân gia đình thì điều kiện về kinh tế không phải là một cản trở to lớn trong hôn nhân
Quy trình các bước, đặc điểm của hôn nhân cổ truyền:
Lấy vợ lấy chồng là một bước nghoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc đời mỗi con người của đồng bào Nùng Dín Mường Khương, vì lẽ
đó từ xa xưa dồng bào đã có những quy ước nhất định trong việc tổ chức cưới xin Tục cưới xin của người Nùng Dín Mường Khương tương đối cầu kỳ phức tạp, được chia thành bốn nghi lễ chính thức đó là: Lễ dạm hỏi, lễ thách cưới,
lễ cưới và lễ lại mặt
Đặc điểm nổi bật trong hôn nhân người Nùng Dín Mường Khương là: Trong lễ cưới bao giờ cũng có hát bài hát mâm cỗ (lứn choông cỗ), để tỏ lòng biết ơn gia đình nhà gái đã nuôi dạy con cái trưởng thành ngoan ngoãn, và đại diện gia đình nhà gái cũng hát đáp lại với những lời hát ngụ ý tương tự như vậy Không chỉ có hát mâm cỗ mà trong đám cưới còn có cả hát đối đáp giao duyên trai gái (lứn bảo srảo)
Ý nghĩa bộ trang phục trong đám cưới:
Trong lễ thách cưới thì theo hôn nhân cổ truyền xưa gia đình nhà gái bao giờ cũng có thách cưới một bộ trang phực cô dâu hoàn chỉnh, 5 – 6 bộ
Trang 31trang phục mặc thường ngày, đôi khi quần áo mặc thường ngày có thể giảm xuống 2 – 3 bộ nhưng riêng bộ trang phục cô dâu hoàn chỉnh thì không thể thiếu bởi khi có bộ trang phục cô dâu thì sẽ làm tăng thêm giá trị của người con gái Đồng thời nó là bộ trang phục không thể thiếu được của cô dâu trong ngày cưới cũng như khi cùng chồng hành lễ ra mắt tổ tiên và họ hàng bên nhà chồng không chỉ vậy mà bộ trang phục có ý nghĩa rất cao về mặt kinh tế, bởi khi cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ gặp khó khăn họ có thể bán một số đồ trang sức để lấy vốn làm ăn Khi nhà gái thách cưới bộ trang phục đó cũng đồng thời thể hiện được ý thức nhớ về cội nguồn xa xưa của người phụ nữ Nùng Dín Như vậy bộ trang phục cô dâu không chỉ là lễ vật có giá trị cao về mặt vật chất mà còn là lễ vật có giá trị cao cả về mặt tinh thần do vậy nó là vật dẫn cưới không thể nào thiếu được của người Nùng Dín trong khi các dân tộc khác không thấy đề cập đến bộ trang phục như vậy
2.2 Quan niệm về trang phục – trang phục cô dâu của người Nùng Dín
Là tộc người có nền văn hóa lâu đời độc đáo và giàu chất thẩm mỹ, đồng bào Nùng Dín luôn có quan niệm về cái đẹp trong đời sống và nếp sống với những yêu cầu về văn hóa của riêng dân tộc mình
Và theo câu tục ngữ trên thì vẻ đẹp của con người thể hiện qua lớp vỏ bên ngoài đó chính là trang phục Nếu như các giá trị văn hóa khác làm đẹp cho con người một cách gián tiếp, thì trang phục là yếu tố làm đẹp trực tiếp cho con người về mặt hình thức, trong xã hội xưa thì qua trang phục bên
Trang 32hay không và qua trang phục còn có thể bộc lộ một phần tính cách của chủ nhân nó Với việc làm đẹp trực tiếp cho con người có thể nói trang phục là một lớp da nhân tạo để bảo vệ con người không chỉ trong môi trường tự nhiên
mà cả trong môi trường xã hội Lớp da thứ hai này không phải là lớp da sinh học mà nó là lớp da văn hóa
Cũng giống như quan niệm của các dân tộc khác ở Việt Nam, người Nùng Dín cũng đều cho rằng đối với con người sau cái ăn thì cái mặc là quan trọng nhất Mặc giúp con người đối phó được với cái nóng, cái rét của thời tiết khắc nghiệt, điều này càng quan trọng hơn đối người Nùng Dín bởi khí hậu ở Mường Khương với đặc thù là có một mùa đông lạnh, có sương muối
và rét đậm kéo dài Vì khí hậu khắc nghiệt như vậy trang phục người Nùng Dín luôn có độ dày và cứng nhất định
Với quan niệm thiết thực của cư dân nông nghiệp là “ăn chắc mặc bền” cho nên vải để may y phục của đồng bào luôn được làm kĩ lưỡng tỉ mỉ từng bước một, đặc biệt là khâu nhuộm vải vì nó quyết định đến độ bền độ đẹp của vải Khi nhuộm vải họ phải nhuộm vải nhiều lượt, dùng củ nâu để tạo độ cứng cho vải, phải làm cho vải bóng và dẻo dai để khi làm nên y phục sẽ rất bền và phù hợp với môi trường sống, với tập quán sinh hoạt sản xuất và điều kiện khí hậu của vùng
Từ xưa người Nùng Dín đã có câu: “chỉn dráy lê bổ mi con thẳn
Sá nùng rứ lê kơi ka thẳn”
Có nghĩa là: “Ăn khổ thì không có ai thấy
Nhưng mặc xấu thì ai cũng thấy ” Như vậy từ xưa người Nùng Dín đã luôn chú ý, coi trọng việc ăn mặc vậy nên câu nói trên mang ý thúc giục con người phải luôn để ý quan tâm đến
sự mặc của mình Cho nên đối với người Nùng Dín thì y phục bên cạnh chức năng bảo vệ, che chở cho cơ thể con người khởi những tác động của tự nhiên, phù hợp với điều kiện sống cũng như phong tục tập quán mà nó còn mang giá trị thẩm mĩ và cùng với bộ trang sức bằng bạc mang giá trị kinh tế cao Bằng
Trang 33những nét hoa văn hình học, cỏ cây hoa lá chim muông được thêu trên ống tay áo, trên giày, trên cổ áo và những đồ trang sức được chạm khắc tinh vi đã tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp quý phái và duyên dáng, dịu dàng trên nền màu chàm của bộ trang phục Việc sử dụng bạc trắng được chạm khắc một cách tinh sảo để làm những hàng cúc áo trước ngực, tạo thành những hình hoa văn trên cổ áo và trên chiếc khăn đội đầu, làm thành những chiếc vòng cổ, hoa tai, vòng tay, trâm cài tóc càng làm tôn thêm vẻ tuy mộc mạc nhưng lại rất sang trọng của cô dâu Nùng Dín Bộ trang phục còn mang ý nghĩa kinh tế cao vì những chiếc cúc, vòng cổ, vòng tay, hạt cườm…làm bằng bạc rất có giá trị Khi kinh tế gia đình gặp khó khăn có thể đem ra trao đổi mua bán để trang trải cho cuộc sống gia đình hay làm vốn liếng ban đầu để sinh cơ lập nghiệp Vì những giá trị trên của bộ trang phục mà ngày xưa trong tất cả các
lễ thách cưới thì nhà gái bao giờ cũng thách cưới bộ trang phục đó
Đặc biệt đối với trang phục của cô dâu Nùng Dín thì nó còn thể hiện quan niệm tín ngưỡng dân tộc Theo người Nùng Dín khi người con dâu được đón về nhà chồng sẽ phải thực hiện việc hành lễ ra mắt trước bàn thờ tổ tiên thì phải mặc bộ trang phục truyền thống đó để ông bà tổ tiên nhận mặt con cháu của mình Cũng vì quan niệm như vậy nên khi người cô dâu đó mất đi thì phải mặc lại bộ trang phục truyền thống mà trước đây trong ngày cưới mặc hành lễ ra mắt tổ tiên, có như vậy thì khi xuống tới cõi âm ông bà tổ tiên mới nhận ra mà đón nhận Và cũng với ý nghĩa như vậy nên xưa kia những cô gái khi bước chân đi làm dâu đều phải chuẩn bị hai bộ quần áo cho bố mẹ chồng gọi là “Thảo srử nhinh”, những bộ y phục này được cắt may bằng vải thô trắng không nhuộm chàm cắt may giống y như bộ y phục truyền thống của dân tộc, khi bố mẹ chồng mất thì đem bộ y phục đó mặc cho họ để khi về với ông bà tổ tiên thì ông bà tổ tiên cũng biết được rằng người chết đó cũng đã có con dâu, con đàn cháu đống Con dâu không chỉ phải chuẩn bị bộ quần áo trắng đó mà còn phải chuẩn bị gậy đi đường “máy táu”cho bố mẹ chồng, gậy
Trang 34Như vậy trong suy nghĩ, quan niệm của người Nùng Dín về trang phục thì: Trang phục không chỉ bảo vệ cơ thể con người mà trang phục còn còn thể hiện giá tri thẩm mĩ và giá trị kinh tế cao đồng thời một phần nhỏ thể hiện được tâm tư tình cảm của chủ nhân đã tạo ra nó và thể hiện giá trị về mặt tâm linh tín ngưỡng của người Nùng Dín Với tư cách là văn hóa vật thể, quần áo
có chức năng che chở, bảo vệ cơ thể con người khỏi những tác động xấu của
tự nhiên; Còn với danh nghĩa là văn hóa phi vật thể quần áo lại là phương tiện làm đẹp cho con người, làm lộ rõ vóc dáng của người con gái, tôn thêm vẻ đẹp cho những chỗ cần làm đẹp Điều này lại càng đúng và phù hợp hơn với
bộ trang phục của những cô dâu Nùng Dín trong ngày cưới
2.3 Đặc điểm về trang phục cổ truyền cô dâu Nùng Dín
2.3.1 Y phục
2.3.1.1 Quy trình sản xuất nguyên liệu
Để có được một bộ y phục hoàn chỉnh thì đồng bào Nùng Dín phải làm từng bước từ việc trồng nguyên liệu, xử lý nguyên liệu đến việc nhuộm vải rồi cắt may tạo dáng
Để có được nguyên liệu là tấm vải chàm làm y phục thì đồng bào phải chuẩn bị từ khâu gieo trồng Do là cư dân nông nghiệp, hình thức canh tác chủ yếu là làm ruộng và nương rẫy chủ yếu là trồng lúa, ngô, cây hoa màu và cây công nghiệp đặc biệt là cây bông nên vải người Nùng Dín sử dụng để cắt may y phục là loại vải bông tự dệt
Kỹ thuật trồng bông:
Việc trồng bông dệt vải đã được thế hệ cha ông người Nùng Dín đúc kết lại thành những câu ca hát trong lao động sản xuất để truyền lại cho thế hệ con cháu sau này, những câu hát đó là:
Mẳn lê thẳng đửn lsamw Nhỉnh rầy vải păn cha Bệc paw khôw lầy nàng
Trang 35Nhỉnh nàng râu nàng lâu Rầy lâu chú păn cha Rầy ha chú păn lào Lào lsamw văn pâyw nạ Lào hạ văn pâyw paiw Rầy vải ca lào đâyw Rầy pphaiw ca lào nảo Lsamw văn tầu thạc nhaw
Ha văn chú phay chit Đưnw slỉ đaiw nha cóôc Đưnw ha đaiw nha phăn Đânw tsoóc đaiw nha lẩy Đaiw lsamw văn pâyw nạ Đaiw ha văn pâyw paiw Rầy vẳi laiw đaiw nảo Đânw chết lê pphaiw thạc Đânw pệt lê pphaiw bongw Bongw tưng toòng khaow tsaw Bongw tưng taw khaow tsạc
Mề ẫu bàp pâyw bít Dịch là:
Giờ thì đến tháng ba Nương bông cũng thàng phát Vác dao phát lên đồi Xem đồi nào đồi lâu Đồi lâu mới thành phát Phát ba ngày đi trước Phát được năm ngày sau
Trang 36Nương bông phát đủ đây
Ba ngày để phơi cỏ Năm ngày mới lửa đốt Tháng tư nhổ cỏ đầu Tháng năm nhổ cỏ dây Tháng sáu nhổ cỏ dư Nhổ ba ngày trở đi Chỉ năm ngày nhổ cỏ
Cỏ bông nhổ xong đây Tháng bảy bông nở đám Tháng tám bông nở đều Bông nở đều trắng nương
Nở cả nương trắng xóa
Mẹ lấy làn đi hái
Như vậy qua lời bài hát thì người Nùng Dín thường trồng bông vào tháng 3 (âm lịch) đến tháng 8 (âm lịch) thì bắt đầu bông được thu hoạch Trước khi trồng bông người dân chọn những mảnh đất tốt nhưng không thực hiện nghi lễ cúng bái như một số dân tộc ở Tây Nguyên, có gia đình chọn đất trồng bông thường ở khu vườn rộng hoặcc ở trên nương hay chọn khu đất mới
có nhiều cây lau để trồng, tuy vậy họ vẫn hay trồng ở những mảnh nương mà
đã trồng lâu năm là chủ yếu, đất trồng bông thường chiếm một tỷ lệ nhất định
so với đất canh tác nông nghiệp trong gia đình Khi chọn được đất người ta tiến hành phát nương dọn rẫy, cỏ phát trên nương được phơi khô rồi đốt lấy tro làm phân bón luôn Tiếp đó tiến hành cày bừa làm cho đất tơi xốp rồi mới tiến hành gieo hạt xuống đất
Cách trồng bông của đồng bào Nùng Dín là tra mỗi lỗ từ ba đến bốn hạt bông, mỗi vụ trồng bông họ làm cỏ tới ba lần, khi bông có thể thu hoạch thì đồng bào tranh thủ những ngày nắng thu hoạch bông về phơi đến khi nở hết trắng xốp đạt yêu cầu sử dụng mới thôi
Trang 37Bông là khâu chuẩn bị đầu tiên cơ bản cho sự ra đời của y phục, từ bông với kỹ thuật thủ công qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ Nùng Dín những hiện vật văn hóa – trang phục được tạo dựng Đó thực sự là một quá trình sản xuất với các khâu công việc kế tiếp nhau theo một hệ thống
Mẹ mau gánh về nhà
Mà phơi ở sàn hiên Gió tạt liền bông khô
Tuy vậy bông thu hoạch về không phải tất cả đều đã đạt tiêu chuẩn, mặt khác trong chu trình cất giữ ở gia đình chất lượng bông cũng bị ảnh hưởng ít nhiều, khi đã phơi bông khô đồng bào còn phải tiến hành chọn bông và lọc hạt bông lại lần nữa và để lọc được hạt bông thì người dân dùng:
“bổ cây thành bốn miếng Nghiêng hai miếng chen dọc Quay lọc hột bông ra Sang năm ta làm giống”
Hạt bông lọc ra sẽ được người dân sử dụng làm hạt giống cho gieo trồng vụ sau Sau khi chọn được những bông nở đều, trắng, loại bỏ hạt rồi
Trang 38Bật bông là công việc làm cho bông tơi xốp, dụng cụ để bật bông cũng đơn giản nó là một chiếc cần được buộc nối với đầu dây hình thành chiếc cung nhưng cũng được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng Thân cây để làm cần ở giữa là hình trụ, hai đầu vót thon để đảm bảo độ bật của dây, dây bật thường làm bằng sợi to tằm xoắn lại Việc bật bông của đồng bào được đúc kết như sau:
Bông rải trong quát mây Lấy chai làm cái đập Dây cung chai đập dây Bật bông bay tứ phía Bay tứ phía mền mau
Vậy khi bật bông đồng bào dải bông cho đều trên một cái mẹt sau đó dùng cần bật cho dây bắn vào các lớp bông, dây cần bắn vào các lớp bông sẽ làm cho bông tơi xốp như ý muốn Khi đã bật bông xong đồng bào tiến hành cuốn bông và se sợi
Cuốn bông là khâu làm cho bông rời thành những cuộn bông nhỏ Dụng cụ để cuốn bông là một thanh gỗ dài và một chiếc que vót tròn như chiếc đũa, trước khi cuốn thì trải bông lên mặt thanh gỗ rồi lăn cho bông cuốn xung quanh, xong lại rút que tròn và cuốn lượt khác Bông cuốn tựa như kén tằm tiện lợi cho việc se sợi
Se sợi là công việc khó, mất nhiều thời gian và đòi hỏi một người phải
có bàn tay khéo léo mới tạo ra được một số lượng sợi đủ cho một bộ y phục Công cụ se sợi gồm có guồng quay và suất cuốn sợi được đặt ở hai đầu của một giá gỗ nối với nhau bởi một dây như dây “cô roa” nhỏ Khi thao tác công
cụ thì thì tay phải của người phụ nữ quay guồng, còn tay trái làm động tác ve bông thành sợi dài đều không bị đứt, điều này đã trở thành nghệ thuật tay nghề của người phụ nữ Nùng Dín Bông khi được se thành sợi vải rồi thì đồng bào đem những sợi vải đó giặt nước sông và loại bỏ những sợi chỉ xấu chỉ chọn những sợi chỉ tốt đem về để phơi như đồng bào đã nói:
Máy khaow hoóc cảy trức
Trang 39Máy mục hoóc cảy khaow
Ẫu pâyw lsao tổ tà
Ẫu pâyw lsà tổ văng Cảy raiw chỏngw lò tà Đaiw thỉ thạp ma rưn
Ẫu đaiw thạc paiw chan
Nghĩa là:
Bông kéo hết thành chỉ Chỉ bông sợi trắng bạch Xách đi nhúng nước suối
Ôi đem giặt nước sông Cái xấu thì vứt sông Chỉ bông tốt mang về
Để phơi sàn trước cửa
Khi đã có được những sợi chỉ bông tốt nhất và đã được làm thành những con chỉ nhỏ thì đồng bào sẽ tiến hành công việc tiếp theo đó là dệt vải
Bảng 1 – So sánh Kỹ thuật dệt vải trang phục cô dâu và
trang phục ngày thường:
Dệt trang phục cô dâu
các sợi vải khít chặt vào
nhau, theo hàng lối chặt
chẽ
- Thời gian dệt khoảng 45 –
50 ngày
- Khổ dệt nhỏ hơn chỉ khoảng 80cm đến 85cm
Trang 40Từ những con sợi trước khi dệt chúng được guồng thành những tay sợi lớn Các tay sợi này sẽ tiện lợi cho khâu hồ sợi, giăng sợi lên tay dệt Sợi được hồ tức là làm cho chúng săn và cứng, bền thuận lợi cho việc dệt vải
Công cụ dệt vải là một khung cửi cũng giống như khung cửi của các nhóm Nùng khác, được làm bằng gỗ hoặc bằng tre vầu Đó là khung hình chữ nhật được cấu tạo phù hợp với các yêu cầu để đan các sợi vải ngang dọc vào nhau, có bộ phận giăng sợi, bộ phận ngồi để dệt, ống tre để cuốn vải sau khi vải được dệt xong Trong khung cửi cũng theo hình chữ nhật, sợi được đưa từ phía dưới lên rồi kéo xuống phía trước bụng ngồi dệt
Việc dệt vải đã được đồng bào miêu tả lại như sau:
Hai đầu cần đóng cọc Chị nhảy dọc bên trong Người không dông cởi chỉ Người lành móc trục quay Khéo tay sỏ lược dệt Biết quên bỏ tay lót Nắn nót bắt trục quay Lắp ngay vào cáng máy Đạp dệt mỏi chân bao Lao thoai tay tê tẩm Ngấm dệt cổ mỏi mãi Dệt ba ngày chưa đử Dật năm ngày mới xong Vải bông dệt đủ đây Chờ ngày ta nhuộm vải
Người dệt buộc từng đầu sợi vào lõi cuốn vải Khung dệt có một số chi tiết quan trọng như go chính, go phụ, hai que chia sợi, hai đầu đạp chân Go chính hay còn gọi là bàn đập dùng để đập các sợi ngang dọc do thoi đan qua vào nhau, vuông góc với các sợi dọc được giăng sẵn trên khung để tạo thành