1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị các làn điệu dân ca dân tộc tày nùng ở lạng sơn

91 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian gần đây, dân ca các dân tộc thiểu số đã được nhiều người quan tâm sưu tầm, nghiên cứu và đã đạt được một số kết quả nhất định.Tuy nhiên phần lớn các đề tài tìm hiểu, nghiên cứu

Trang 1

Khoá luận đại học ngμnh QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: TS CAO đức hải

Hμ Nội - 2014

Trang 2

3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG Ở LẠNG SƠN 7 1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Lạng Sơn 7

1.1.1 Vị trí địa lý 7

1.1.2 Nhóm các yếu tố ngoại sinh gồm ba yếu tố chính: vận động kiến tạo, cấu tạo nham thạch và kiến trúc địa chất 9

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 11

1.2 Giới thiệu chung về tộc người Tày – Nùng ở Lạng Sơn 16

1.2.1 Đôi nét về lịch sử Lạng Sơn 16

1.2.2 Đôi nét về dân tộc Nùng 19

1.2.3 Đôi nét về dân tộc Tày 24

Chương 2: GIÁ TRỊ CỦA CÁC LÀN ĐIỆU DÂN CA DÂN TỘC TÀY – NÙNG Ở LẠNG SƠN 31

2.1 Các làn điệu dân ca Tày – Nùng 32

2.1.1 Làn điệu dân ca Tày 32

2.2 Giá trị của các làn điệu dân ca Tày – Nùng 54

2.2.1 Giá trị nghệ thuật 56

2.2.2 Giá trị văn hóa truyền thống 58

Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC LÀN ĐIỆU DÂN CA DÂN TỘC TÀY – NÙNG Ở LẠNG SƠN 62

3.1 Tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn 62

3.2 Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các làn điệu dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn 67

3.3 Khai thác các giá trị của dân ca dân tộc Tày – Nùng trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương 70

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 3

4

PHỤ LỤC 76

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân ca là một Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, dân ca nói chung và dân ca dân tộc thiểu số nói riêng là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Nó bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, giao lưu, tiếp biến văn hóa của cộng đồng Dân ca chứa đựng tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của một cộng đồng dân tộc, thông qua đó con người thể hiện khát vọng của mình về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, con người, thiên nhiên giao hòa Dân ca Tày – Nùng là một bộ phận quan trọng của dân ca Việt Nam, và được lưu truyền qua nhiều thế hệ và tồn tại cho đến ngày nay

Thời gian gần đây, dân ca các dân tộc thiểu số đã được nhiều người quan tâm sưu tầm, nghiên cứu và đã đạt được một số kết quả nhất định.Tuy nhiên phần lớn các đề tài tìm hiểu, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc giới thiệu các làn điệu dân ca hoặc giới thiệu một làn điệu tại một địa phương nhất định.Việc nghiên cứu tìm hiểu các giá trị tiêu biểu của dân ca ở phạm hep tại một tỉnh vẫn chưa có nhiều Mặt khác, do mỗi tiểu vùng văn hóa có sắc thái riêng, vì vậy, khi nghiên cứu về dân ca Tày – Nùng, chúng ta không thể bỏ qua việc nghiên cứu ở từng địa phương cụ thể Chính vì vậy, nghiên cứu về dân ca Tày – Nùng ở mỗi địa phương là những bước đi cần thiết và quan trọng để kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu nhằm mục đích tiến tới xây dựng đời sống văn hóa mới tại thôn bản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

2.Mục đích nghiên cứu

Trang 4

5

- Tìm hiểu các làn điệu và giá trị văn hóa của dân ca

- Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp, những kiến nghị mong muốn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tày – Nùng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các làn điệu dân ca của dân tộc Tày

và dân tộc Nùng

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các làn điệu dân ca dân tộc

Tày – Nùng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng các các quan điểm chỉ đạo tại các

Hội nghị TW4 khóa VII và TW5 khóa 8; Nhận định của cố Tổng bí thư Lê Duẩn, đường lối văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam về văn hóa để nghiên cứu dân ca ở Lạng Sơn

Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp logic và lịch sử

+ Phương pháp liên ngành và chuyên ngành

+ Phương pháp điều tra xã hội học

+ Phương pháp quan sát tham dự

+ Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu sẵn có

5 Đóng góp mới của luận văn

Trang 5

6

Luận văn có thể xem như một công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống về dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn dưới góc độ văn hóa học và văn hóa dân gian; cung cấp cho người đọc một hệ thống tư liệu phong phú, những giá trị tiêu biểu của dân ca dân tộc thiểu số ở một địa phương cụ thể Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn Luận văn sẽ góp phần xây dựng những định hướng cho công tác chỉ đạo, quản lý văn hóa phi vật thể trên phạm vi toàn tỉnh, qua đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân ca dân tộc Tày – Nùng trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay ở nước ta

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn

Chương 2: Giá trị của các làn điệu dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn

Chương 3 Giải pháp bảo tồn và phát huy các làn điệu dân ca dân ca dân tộc Tày – Nùng ở Lạng Sơn

Trang 6

7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG Ở LẠNG SƠN

1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Lạng Sơn

1.1.1 Vị trí địa lý

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc của Việt Nam, có diện tích là 8,331,2 km2 với dân số là 746.400 người, mật độ bình quân 90 người/km2 (niên giám thống kê năm 2006) Tỉnh Lạng Sơn có đường biên giới chung với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) dài trên 253 km Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang và phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh.Lạng Sơn nằm trong vùng đệm giữa địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ “ Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh” và vùng kinh tế phát triển năng động Tây Nam Trung Quốc, có hệ thống giao thông đường bộ khá phát triển với các quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 Ga Lạng Sơn là ga xe lửa đầu tiên ở nước ta trên tuyến đường sắt xuyên Việt, nối với tuyến liên vận quốc tế Trên tuyến biên giới Lạng Sơn với Trung Quốc có hai cửa khẩu quốc tế, hai cửa khẩu quốc gia và bảy cặp chợ đường biên

Lạng Sơn giữ một vị thế địa lý và chính trị rất quan trọng của vùng Đông Bắc Tổ quốc Việt Nam, vùng đất đã chứng kiến nhiều lần quân xâm lược phải “thất điên bát đảo” khi chúng tiến quân xâm chiếm đất nước ta Địa thế tự nhiên nơi này đã góp phần hình thành “ thế chiến lược” của vùng Đông Bắc Việt Nam Song đây cũng là mảnh đất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển một nền kinh tế đa dạng và tổng hợp

Trong lịch sử quân sự Việt Nam, theo Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Lạng Sơn luôn được xác định là vị trí quân sự quan trọng trong thế phòng thủ chiến

Trang 7

Hướng và độ dốc của địa hình tỉnh Lạng Sơn tương đối phức tạp Nửa phía Đông (vùng máng trũng Thất Khê – Lộc Bình) thuộc lưu vực sông Kỳ Cùng có hướng dốc địa hình là Đông Nam – Tây Bắc Nửa phía Tây là vùng núi đá vôi Bắc Sơn và đồi thuộc các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Tràng Định Chi Lăng, Hữu Lũng có hướng dốc địa hình là Tây Bắc – Đông Nam Địa hình thể hiện khá rõ rệt tính chất phân bậc Mực dưới 100m là mực của bậc thềm sông

Kỳ Cùng, sông Thương, sông Lục Nam và mực của các hang động trong khối núi đá vôi Mực 300 – 350 m là mực đồi cấu tạo bởi trầm tích Neogen và các dồi núi đá vôi phía Đông Nam Mực 500 – 600 là mực của các núi thấp và núi

đá vôi phía Tây Mực 800 – 900 m là mực của khối núi Mẫu Sơn

Địa hình tỉnh Lạng Sơn cấu tạo bởi hai nhóm chính: Nhóm các yếu tố nội sinh và nhóm các yếu ngoại sinh

Trang 8

và độ cao của núi giảm dần từ Bắc xuống Nam Lại do các hệ thống đứt gãy theo nhiều phương khác nhau nên núi, sông trong tỉnh cũng theo những hướng rất khác nhau Khu vực giáp biên giới Việt – Trung từ Tràng Định đến Lộc Bình chịu ảnh hưởng của vận động sụt lún, sau đó được lấp đầy trầm tích

Đệ Tứ và Đệ Tam, tạo nên dạng địa hình đồng bằng giữa núi ở Na Dương, Bản Ngà, thành phố Lạng Sơn và Thất Khê

Về cấu tạo nham thạch, đá vôi chiếm 26,5% diện tích toàn tỉnh, chủ

yếu tập trung ở Bắc Sơn, Bình Gia, Hữu Lũng, Chi Lăng và Văn Quan Đá vôi màu xám sáng là màu của Cacbon – Pecmi Các đá mắc ma như rioxit, đaxit, soilit…đã ở tuổi Jura phân bố thành dải kéo dài từ Thất Khê đến thị Trấn Bình Gia, từ Chí Minh (Tràng Định) đến thành phố Lạng Sơn và từ thành phố Lạng Sơn đến Hòa Thắng (Hữu Lũng)

Kiến trúc địa chất ở Lạng Sơn cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển địa hình, đặc biệt đối với đời sống kinh tế -

xã hội của dân cư Đất đai của tỉnh Lạng Sơn chiếm hơn 90% diện tích tự nhiên là đồi núi, rừng và đất rừng, thuộc nhiều loại hình nông hóa thổ nhưỡng chứa đựng tiềm năng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện và độc đáo với những chủng loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao

Nhóm các yếu tố ngoại sinh thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển

địa hình Lạng Sơn chủ yếu là khí hậu Khí hậu Lạng Sơn là nhiệt đới gió mùa

Trang 9

10

với mùa đông tương đối dài và lạnh, nhiệt độ thấp hơn các tỉnh đồng bằng từ

2 – 2,5 độ C, lượng mưa trung bình từ 1400 – 1500mm/năm và tập trung khoảng 85% vào các tháng mùa hè

Ngay trên đất Lạng Sơn cũng có sự chênh lệch nhất định về nhiệt độ giữa các vùng theo độ cao, càng lên cao nhiệt độ càng hạ thấp Với kiểu khí hậu thay đổi theo mùa tạo điều kiện thuận lợi cho Lạng Sơn phát triển nền nông nghiệp toàn diện: trồng cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày, các loại cây lương thực, cây rau theo mùa; chăn nuôi gia súc đa dạng : dê, bò, trâu, gia súc gia cầm khác

Về địa hình, Lạng Sơn có ba vùng địa hình chính:

Vùng núi đá vôi cánh cung Bắc Sơn: là vùng núi đá vôi, cao, đồi, khô

hạn xem kẽ những cánh đồng tập trung rộng lớn như cánh đồng Bắc Sơn: 600

ha, Bình Gia – Hữu Lũng: 350 ha…, Vùng này chiếm khoảng 25% diện tích phía Tây Nam của Lạng Sơn, chạy dài từ Đình Cả (Thái Nguyên) qua Bắc Sơn, Bình Gia, Hữu Lũng, Chi Lăng và Văn Quan

Vùng núi tả ngạn sông kỳ cùng và dọc thung lũng sông Thương: Khu

vực địa hình này chiếm khoảng 40% diện tích của Lạng Sơn Địa hình phổ biến là núi thấp và đồi được cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích lục nguyên Địa hình ở đây dốc từ phía Tây Bắc (giáp với Bắc Kạn, Cao Bằng) xuống Đông Nam (giáp với Bắc Giang)

Vùng “máng trũng” Thất Khê – Lộc Bìnhvà đồi núi dọc biên giới Việt – Trung: Vùng máng trũng này chiếm khoảng 34% diện tích của tỉnh Lạng Sơn

Khu vực địa hình này là một dải đất chạy dài từ Sóc Giang (Cao Bằng) qua Thất Khê, Lộc Bình đến Tiên Yên (Quảng Ninh) Vùng máng trũng Cao – Lạng này chay dọc theo sông Kỳ Cùng với hướng dốc là Tây Bắc – Đông Nam Vùng thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia

Trang 10

11

súc, xen kẽ có những cánh đồng tập trung rộng lớn nhất rộng và là vựa lúa của Lạng Sơn như cánh đồng Thất Khê 1000ha, Cao Lộc 900ha,Lợi Pác – Na Dương, Pò Loỏng, Mai Pha, Bản Ngà,…

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

1.1.3.1 Khí hậu

Lạng Sơn là một trong những vùng tiêu biểu của khí hậu Bắc Việt Nam Độ nóng lạnh ở vùng này tương đối cân bằng với các miền khí hậu khác của đất nước Đó chính là sự hạ thấp của nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa đông Với vị trí địa lý ở vĩ độ cực Bắc của Tổ quốc, tại cửa ngõ đón các khối không khí lạnh mùa đông mà điều kiện địa hình khu vực núi Đông Bắc tạo cho Lạng Sơn có hệ quả thời tiết khí hậu gió mùa cực đới mà không nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam có được Về mùa lạnh, do địa hình của Lạng Sơn như đón lấy gió lạnh từ hướng Bắc và Đông Bắc di chuyển xuống nên nhiệt độ giảm thấp, trung bình là 13 độC, thấp nhất là 9độ c, có những ngày sương mù dày đặc nhiệt độ giảm sâu còn 0,9 độ C Mùa hè khí hậu Lạng Sơn mát mẻ, nhiệt độ trung bình của 2 tháng nóng nhất (tháng 6 và tháng 7) là 27độ và 27,2 độ C, tức là thấp hơn nhiệt độ của Hải Ninh liền sát biển là 1 độ và 1,2 độC.Độ ẩm vào mùa hè đạt 70 đến 80%

Các nhà khí hậu thủy văn chia Lạng Sơn theo 3 tiểu vùng khí hậu theo

đọ cao: Thấp nhất là vùng khí hậu núi thấp ở phía nam Lạng Sơn, cao hơn là vùng khí hậu núi trung bình ở phía bắc và phía đông Cao nhất là vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn

1.1.3.2 Lượng mưa

Lượng mưa ở Lạng Sơn tương đối thấp, bình quân năm khoảng 1,400mm – 1,4500mm, với tổng số 135 ngày mưa, tập trung nhất vào các

Trang 11

12

tháng 5, 6, 7, 8 đồng nghĩa là vùng có lượng mưa thấp nhất Bắc Bộ Duy chỉ

có núi cao Mẫu Sơn có lượng mưa trên 1600mm Độ ẩm không khí cao trên 82% và phân bố khá đều trong năm Dù lượng mưa không cao nhưng về mùa mưa thường gây lũ Ngoài nguyên nhân chặt phá rừng bừa bãi, đặc điểm sông suối nơi đây uốn khúc nhỏ hẹp, gấp khúc nên mưa xuống, nước lên nhanh gây

ra lũ ống, lũ quét Bên cạnh đó, Lạng Sơn cũng chịu ảnh hưởng bởi một số hiện tượng thời tiết như sương muối, sương mù và mưa phùn, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống và sản xuất

So với các tỉnh ở miền Bắc nước ta, sương muối xuất hiện ở Lạng Sơn tương đối nhiều và trên diện rộng, nhất là ở thung lũng kín, bồn địa hoặc trên các sườn núi khuất gió.Sương muối thường gây thiệt hại lớn đến vật nuôi và cây trồng

- Sông Kỳ Cùng ở phía bắc Lạng Sơn và là sông lớn nhất của tỉnh Lạng

Sơn cũng như khu vực miền núi Đông Bắc nước ta Sông có chiều dài 243

km, diện tích lưu vực là 6.660kmv, trong đó phần nội tỉnh là 6532kmv chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của tỉnh Lạng Sơn Sông bắt nguồn từ huyện Đình Lập, chảy qua Lộc Bình, thành phố Lạng Sơn, Điềm He (huyện Văn Quan),

Na Sầm (huyện Văn Lãng), Thất Khê (huyện Tràng Định) và chảy đến biên giới Trung Quốc rồi đổ vào sông Trường Giang Đây là con sông khá đặc biệt của Việt Nam chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam

Trang 12

13

- Sông Bằng Giang có độ dài 114 km, diện tích lưu vực là 2,670 kmv,

là phụ lưu lớn nhất của sông Kỳ Cùng Bắt nguồn từ Đèo Gió thuộc tỉnh Bắc Kạn chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc đổ vào sông Kỳ Cùng ở xã Hùng Việt huyện Tràng Định

Sông Bắc Khê dài 53,5 km, diện tích lưu vực là 801 kmv, là phụ lưu lớn

nhất của sông Kỳ Cùng Bắt nguồn tư sườn đông dải Ngân Sơn, chảy qua Tràng Định đổ vào tả sông Kỳ Cùng.Hướng chảy của sông này Tây Bắc – Đông Nam, gần như song song với sông Bằng Giang

- Sông Thương là sông lớn thứ hai của tỉnh Lạng Sơn, chảy qua vùng

trũng Mai Sao, Chi Lăng Sông chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc Giang tại xã Hòa Thắng huyện Hữu Lũng Các phụ lưu lớn của sông Thương là sông Trung và sông Hóa

- Sông Lục Nam ở thượng nguồn gọi là sông Lục Ngạn bắt nguồn từ

vùng núi Kham Sau Chôm, cao 700m, thuộc huyện Đình Lập Sông chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc Giang Chiều dài sông trên địa phận tỉnh Lạng Sơn là 28 km, diện tích lưu vực là 642 kmv.Ở thượng nguồn, lòng sông hẹo, uốn khúc, nhiều ghềnh thác, độ dốc lớn

Ngoài ra Lang Sơn có một vài con sông ngắn như sông Phố Cũ , sông

Nà Làng (huyện Bình Gia), sông Đồng Quy

1.1.3.4 Thực vật

Lạng Sơn có hệ thực vật Nam Trung Hoa – Bắc Việt Nam Trong các yếu tố hình thành thảm thực vật ở Lạng Sơn như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai,… đã tạo nên thảm thực vật thì yếu tố bản địa chiếm ưu thế Do điều kiện sinh thái ở Lạng Sơn và kiểu khí hậu nhiệt dới gió mùa (mùa đông lạnh kéo dài 5 tháng chịu tác động của khối không khí cực đới xuất phát từ Xibiri qua lục địa Trung Quốc đến Việt Nam; cuối mùa đông do

Trang 13

Rừng là một trong những thế mạnh của Lạng Sơn Rừng không chỉ có tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ đất, chắn gió, cung cấp lâm sản, dược liệu

và nguyên liệu cho đời sống đồng bào địa phương và các ngành kinh tế của tình mà còn đóng vai trì quan trọng trong các lễ hội truyền thống và trong phát triển di lịch

1.1.3.5 Động vật

Tuy có giảm sút so với hơn 20 năm trước đây nhưng hệ động vật của Lạng Sơn hiện nay vẫn thuộc loại phong phú và khá về số lượng so với các khu vực khac trong nước Lớp thú ở đây có 8 bộ, 24 họ với 56 loài.Lớp chim

có 14 bộ, 46 họ với hơn 200 loài Lớp bò sát lưỡng cư có 3 bộ, 17 họ, với 50 loài Lớp cá có đến hàng chục họ Những động vật không xương sống thuộc

bộ mười chân, bộ thân giáp, bộ hải quỳ,…đều hiện diện ở Lạng Sơn với các

họ loài của mình, Giới động vật Lạng Sơn có những loài bản địa đặc hữu của khu hệ động vật Đông Bắc như cá anh vũ, cá chép gốc, các lộ lớn, các sạo, cac măng, ếch gai,… Có những loài thân thuộc với khu vực Hoa Nam (Trung Quốc) như cáo, lửng, chó, gấu, ngựa, huowu xạ, sóc bụng đỏ, chép đuôi trắng

Trang 14

15

Có các loại thân thuộc với khu hệ Ấn Độ - Myanma như báo gấm, hổ, báo lửa, khỉ mốc, dê núi, tê tê, tắc kè, rắn… Có thể nói, động vật Lạng Sưn tương đối phong phú và đa dạng

Về kim loại quý và hiếm: Vàng nằm tiềm ẩn trong các mỏ hoặc nằm rải rác ở các thung lũng sông, suối ở các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Thất Khê Thiếc và thủy ngân có ở Bắc Sơn, Mai Pha ( thành phố Lạng Sơn)

Ngoài kim loại, Lạng Sơn còn nhiều tài nguyên khác như than nâu, than bùn, đá vôi, đất sét,… phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng và đời sống xã hội… Các loại tài nguyên này hầu hết tồn tại ở các huyện trong tỉnh.Đặc biệt là mỏ than nâu Na Dương (Lộc Bình) có trữ lượng rất lớn, thích hợp cho sản xuất xi măng

Nhìn chung, Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới, có nhiều núi đá vôi hiểm trở, hang động kỳ thú với độ cao lý tưởng, khí hậu mát mẻ, nhiều loài động vật và thực vật phát triển mạnh Đó là tiền đề hấp dẫn con người từ thời nguyên thủy đến tụ cư nơi đây

Trang 15

kỷ II – I TCN đã dẫn đến việc dồn ép các tộc người bản địa xuống phương Nam, tạo nên một sự hòa hợp giữa các tộc người Quá trình này đã diễn ra cả trên đất Việt Nam từ Lai Châu Lào Cai, Hà Giang đến Cao Bằng và Lạng Sơn suốt từ thiên niên kỷ I TCN cho đến những thế kỷ XVII – XVIII SCN Thực tế này tạo nên những mối quan hệ hỗn dung, từ huyết thống đến văn hóa, giữa các nhóm tộc người ở Bắc Việt Nam trong đó có Lạng Sơn với những nhóm tộc người ở Hoa Nam Nó vừa làm cho bẳn sắc văn hóa các tộc người ở Lạng Sơn thêm đa dạng, phong phú, song cũng có lúc gây nên những phiền phức trong quan hệ Việt – Trung khi mà biên cương đã được định hình

Từ khi nước Văn Lang ra đời, đặc biệt là từ khi Đại Việt trở thành một quốc gia độc lập, tự chủ, tự cường, Lạng Sơn trở thành nơi địa đầu của Tổ quốc Thời kỳ Văn Lang, Lạng Sơn thuộc bộ Lục Hải Lúc bấy giờ vùng đất này rùng núi rậm rạp, dân cư thưa thớt Thời Bắc thuộc, Lạng Sơn được xếp vào quận Giao Chỉ, sau đó là Giao Châu.Cư dân ở đây được gọi là Man, Lão.Tuy vậy, Lạng Sơn đã là miền đất gắn chặt với vận mệnh của nước ta.Người Lạng Sơn đã luôn giữ gìn văn hóa bản địa, chống đồng hóa Vào

Trang 16

17

thời Đinh, nước Đại Cồ Việt ra đời, Lạng Sơn được đặt làm Đạo và sang thời

Lý có tên là lộ Lạng Giang gồm ba châu: Tô Châu, Mậu Châu và Lạng Châu Năm 1077, quan Tống xâm lược nước ta, rồi bị đánh lui, nhưng vẫn có giữ năm châu: Quang Lang (Châu Ôn), Tô Mậu (Na Dương, Đình Lập), Văn Lan (Lạng Giang) và Tư Lạng Môn (Quảng Nguyên của Cao Bằng) Thời Trần, lộ Lạng Giang vẫn giữ nguyên, Lạng Sơn trở thành một địa đầu quan trọng, nơi qua lại của các sứ thần hai nước Năm 1397, trấn Lạng Giang được đổi thành trấn Lạng Sơn Năm 1407, nhà Minh đem quân xâm lược nước ta Quan dân nhà Hồ chiến đấu anh dũng, nhưng thất bại vì không được lòng dân nên đất nước rơi vào tay giặc, Lạng Sơn trở thành một trong 16 phủ của đất Giao Chỉ Nhà Minh xem Lạng Sơn là nơi yết hầu nên đắp nhiều thành hào kiên cố Năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), chúng đem các châu Thái Nguyên, Thượng Văn, Hạ Văn, Vạn Nhai, Quảng Nguyên, Thượng Tư, Tư Lăng nhập vào phủ Lạng Sơn Trong suốt quá trình khởi nghĩa Lam Sơn, khi đem quân giả phóng Đông Đô, Lê Lợi chia nước ta thành bốn Đạo Lạng Sơn được xếp vào Bắc đạo và là một phủ quan trọng, án ngữ phía Bắc Tổ quốc Năm 1469, Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo thừa tuyên và từ đó Lạng Sơn chính thức trở thành một thừa tuyên với một phủ và bảy huyện.Sang các thế kỷ XVI – XVIII, Lạng Sơn vẫn được gọi là trấn và sau đó là ngoại trấn.Thời Tây Sơn, Gia Long, Lạng Sơn là một ngoại trấn của Bác Thành (riêng Lộc Bình đổi tên gọi là Lộc Bằng).Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Lạng Sơn được đặt thành tỉnh gồm một phủ và bảy châu, huyện.Tỉnh lỵ là Đoàn Thành cũ.Đứng đầu tỉnh là tuần phủ, lệ thuộc vào tổng đốc Lạng Bình Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Nhà Nguyễn tách bốn châu, huyện: Văn Uyên, Văn Quan, Thất Khê (Thất Nguyên cũ), Thoát Lãng lập thành một phủ mới (Tràng Định) Năm

1888, thực dân Pháp xếp Lạng Sơn vào quân khu 12.Tháng 8 -1891.Chúng bỏ các khu để thành lập các “Đạo quan binh”.Lạng Sơn là thủ phủ của đạo quan

Trang 17

18

binh số 2, gồm hai phủ, hai huyện, bốn châu Ngày 20 -6 – 1905, chúng bỏ lại đạo quan binh số 2, trả lại tỉnh cũ theo chế độ dân sự Cho đến cuối tháng 12 năm 1907, Lạng Sơn gồm hai phủ, chín châu.Sau đó, năm 1917, thực dân Pháp đặt thêm châu Điềm He

Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Lạng Sơn trở thành một trong sáu tỉnh của căn cứ địa Việt Bắc (gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) Tháng 12 –

1975, Lạng Sơn sát nhập với Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng Đến tháng 12 –

1978, tỉnh Cao Lạng lại tách ra thành hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng Cho đến nay, các đơn vị hành chính và diện tích của tỉnh Lạng Sơn đã khác xưa rất nhiều

Lạng Sơn ngày nay bao gồm 11 đơn vị hành chính(1 thành phố Lạng Sơn và 10 huyện: Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập) Toàn tỉnh có 207 xã (trong

đó có 3 xã và 5 phường thuộc thành phố Lạng Sơn) và 14 thị trấn Trong 207

xã có 135 xã vùng cao.80 xã trong số này được xếp vào vùng 3, vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt

Lạng Sơn là nơi sinh tụ của của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Dao, Sán Chay, Mông.Trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài; cộng đồng các dân tộc ở Lạng Sơn đã đoàn kết gắn bó với nhau để xây dựng cuộc sống

và bảo vệ biên cương, nơi địa đầu trọng yếu của Tổ Quốc Việt Nam Theo số

liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, dân tộc Nùng có

302.415 người, chiếm 42,96% dân số của toàn tỉnh, tiếp theo là dân tộc Tày

có 252.800 người,(35,91%), dân tộc Kinh có 116.106 người (16,50%), dân tộc Dao có 24.407 người (3,46%), dân tộc Sán Chay có 3.980 người (0,56%), dân tộc Hoa có 2.452 người (0,34%), dân tộc Mông có 907 người (0,12%),

Trang 18

là tỉnh có đông số đông dân tộc Nùng sinh sống nhất và cũng là tỉnh duy nhất

có tỷ lệ người Nùng chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu các dân tộc của tỉnh (chiếm 43,86)

1.2.2.1 Tộc danh

Nùng (Nồng) vốn là tên gọi của dòng họ trong bốn dòng họ lớn ở Quảng Tây (Trung Quốc) trở thành tên gọi dân tộc vào khoảng thế kỷ XV Tên gọi dòng họ Nùng (Nồng) đã xuất hiện ở Việt Nam lâu đời Những người Nùng sống ở Việt Nam trước kia đã hòa vào người Tày, còn những người Nùng đang sinh sống hiện nay mới di chuyển vào Việt Nam khoảng 200 năm nay Dựa vào một số gia phả và chuyện kể của các dòng họ Nùng, Lạng Sơn

là một trong những địa bàn người Nùng di cư sang sớm nhất, sau họ mới tiếp tục đến định cư ở Bắc Giang, qua Bắc Kạn, sang Lào Cai…

Dân tộc Nùng được chia ra thành nhiều nhóm địa phương với tên gọi thường gắn liền với địa danh nơi di cư hay đặc điểm trang phục: Nùng An gốc

từ châu An Kết đến, Nùng Cháo đến từ Long Châu, Nùng Phàn Slình đến từ Vạn Thành, Nùng Inh gốc ở Long Anh đến, Nùng Cúm Cọt với trang phục phụ nữ mặc áo ngắn, Nùng Hua Lài với trang phục phụ nữ đội khăn có chấm trắng

1.2.2.2 Địa vực cư trú

Trang 19

20

Địa bàn cư trú của họ là khu vực chuyển tiếp giữa vùng thấp và vùng cao, vùng đất sinh sống của họ không tiện lợi như của người Tày nên ruộng thường ở các thung lũng hẹp, khó canh tác và thiếu nước.Tuy chọn địa bàn cư trú không mấy thuận lợi nhưng họ đã biết khai thác các thung lũng, đồi núi thành những thửa ruộng bậc thang, những mảnh vườn cho nhiều trái, những cánh rừng hồi, rừng quế xanh tốt quanh năm

Người Nùng ở Lạng Sơn đã sống định canh, định cư thành làng (bản)

từ lâu đời.Làng bản của người Nùng thường lập ở những nơi đất chạy quanh chân đồi, chân núi, ven sông suối.Lạng Sơn là nơi định cư của ba nhóm Nùng : Nùng Phàn Slình, Nùng Inh sinh sống hầu khắp các huyện trong tỉnh, Nùng Cháo sinh sống tập trung chủ yếu ở huyện Văn Lãng, Tràng Định

1.2.2.3 Tổ chức gia đình – làng bản

Mỗi bản đều có địa vực cư trú, phạm vi quản lý sử dụng và tên gọi riêng Các gia đình là thành viên của bản không phân biệt dòng họ, gắn bó chặt chẽ thành một cộng đồng dân cư có tổ chức nhất định Tên bản thường gắn liền với địa danh cụ thể theo một đặc điểm của địa phương : Bản Piảng, Bản Chúc, Bản Ngà, Nà Lẹng, Nà Tổng, Nà Nát…( ví dụ Nà Nát: ruộng bẹt,

Nà Lẹng: ruộng khô)

Bản của người Nùng cư trú theo nhóm dân tộc, ít có trường hợp họ tập trung sống xen kẽ với dân tộc khác Ngay người Tày, người Nùng có vốn văn hóa rất gần gũi nhau, nếu cùng cư trú ở một bản thì cũng sẽ tụ họp lại thành nhóm riêng

Sự sắp xếp các nhà trong bản chủ yếu dựa vào thế đất và địa hình hiện

có Nhà ở thường mở theo một hướng Mỗi bản đều có ranh giới của bản mình mà mốc chủ yếu dựa vào thiên nhiên, tự nhiên như: dòng suối, con sông, ngọn núi… Các thành viên trong bản đều có quyền lợi và nghĩa vụ

Trang 20

Nhà ở của người Nùng có hai dạng nhà đất và nhà sàn tùy vào địa vực

cư trú mà họ có thể chọn dựng kiểu nhà phù hợp

1.2.2.4 Đời sống kinh tế

Là cư dân nông nghiệp làm nương rẫy kết hợp với ruộng nước, người Nùng làm ruộng thành thạo như người Việt và người Tày.Nương rẫy có vai trò rất quan trọng trong đời sống, kinh tế của người Nùng.Nương (ruộng) thâm canh của người Nùng ở thung lũng, còn rẫy phân bố ở rừng già hoặc rừng tái sinh có nhiều cây to hoặc rừng nứa um tùm.Người Nùng có kinh nghiệm phát rừng làm nương rẫy, trên nương rẫy trồng lúa cạn (lúa lốc), ngô,

kê với kỹ thuật cao.Họ cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

để thích ứng môi trường và khai thác tốt các nguồn tài nguyên phục vụ cuộc sống Do chọn địa hình canh tác không mấy thuận lợi nên họ xây dựng hệ thống ruộng bậc thang nhằm hạn chế tối đa độ dốc địa hình, cho phép giữ được nước và độ ẩm, độ màu mỡ của đất Cùng với nông nghiệp trồng lúa, người Nùng còn làm vườn, chăn nuôi, làm nghề tiểu thủ công nghiệp, hái lượm, săn bắn, đánh cá…

1.2.2.5 Nghề thủ công

Nghề phụ gia đình của người Nùng rất phong phú, sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày trong gia đình đồng thời cũng là

Trang 21

22

nguồn hàng hóa trao đổi những sản phẩm mà gia đình không sản xuất ra Các nghề như trồng bông, dệt vải, nhuộm vải phát triển mạnh mẽ ở Cao Lộc, Bình Gia Nghề rèn đúc, làm gốm, làm thùng gỗ, yên ngựa, nghề trúc, làm đường phên và các sản phẩm đan lát, dệt chiếu của người Nùng khá nổi tiếng, đặc biệt là nghề làm ngói máng Ngói máng hay còn gọi là ngói âm dương (khi lợp nhà họ xếp cái úp , cái ngửa) là nguyên liệu để lợp nhà rất phổ biến của đồng bào Tày, Nùng vùng Việt Bắc nói chung và Lạng Sơn nói riêng

1.2.2.6 Tín ngưỡng, tôn giáo

Mỗi thôn bản của người Nùng đều lập miếu thờ thần bảo hộ cho mùa màng, gia súc và dân bản gọi là thổ công, thổ địa Những vị thần được thờcó thể là chiến sĩ tử trận hoặc những là thần tụ nhiên: thần rừng, thần mưa, thần bảo vệ mùa màng.Các sinh hoạt cộng đồng, nghi lễ nông nghiệp đều được tổ chức hàng năm tại miếu miếu thờ thần Miếu thờ thần do những dòng họ có công khai lập làng bản do đó sẽ cầm mo, đồng bào gọi họ là những “ thủ slấn” hay “ họ cốc din mác nhả”.Vị trí đặt miếu thờ thường ở những nơi như: gốc cây to đầu bản, đầu con đường vào bản…

Trong cuộc sống sinh hoạt hay trong sản xuất họ có tập quán “văn sléng, ràn nà” nghĩa là đổi công cho nhau, gia đình nọ giúp gia đình kia nhằm tạo điều kiện cho nhau đạt hiệu quả trong mọi công việc Trong bản nhà nào

có việc hiếu, việc hỉ thì họ cùng nhau lập hội tổ chức chu đáo cho gia chủ, hội

đó gọi là: phường, phe

Văn hóa tinh thần của người Nùng tồn tại nhiều hình thái tôn giáo: Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo Nho giáo và Đạo giáo kết hợp cả với tín ngưỡng dân gian, tạo nét văn hóa đặc sắc trong tín ngưỡng của người Nùng Họ tin ở thuyết “vạn vật hữu linh” và cho rằng tất cả các hiện tượng trong tự nhiên và

xã hội đề có linh hồn, đều có “phi” phục vụ, bảo vệ cho con người và cũng có

Trang 22

ở Lạng Sơn nói riêng Một số gia đình làm nghề Tào, Mo, Then, Pụt thì họ còn thờ thêm ông tổ nghề Ngoài ra họ còn thờ mụ, ma bếp, ma ngoài sân…

Vào những ngày lễ tiết trong năm, họ còn làm những loại bánh: bánh

áp chao, ma eng (chó nhỏ), khảu sli, chì tải (bánh dậm), bánh chưng, bánh giầy…

- Trang phục

Trang phục của đồng bào Nùng rất phong phú và đa dạng, được phân biệt theo gới tính, lứa tuổi, địa vị xã hội, và theo nhóm địa phương Ví dụ: Trang phục nữ của người Nùng Cháo là áo ngắn năm thân kết hợp với quần cắt kiểu chân què, khăn vấn và khăn quấn, tất cả đều có màu chàm Nam mặc quần chân què, đũng rộng, áo năm thân, đầu đội mũ nồi

- Văn học nghệ thuật

Trang 23

24

Văn học dân gian của người Nùng phong phú về nội dung và đa dạng

về thể loại Thể hiện qua các làn điệu dân ca như then, sli, hát ru, đồng dao, các thể loại truyện chữ Nôm, các thành ngữ, tục ngữ…Đặc biệt hình thức diễn xướng hát then là loại hình nghệ thuật vừa mang tính tôn giáo vừa là yếu tố nghệ thuật truyền thống đặc sắc được đồng bào yêu thích và được truyền dạy lại cho đến ngày nay

- Tri thức dân gian

Tri thức dân gian của người Nùng rất phong phú, Do những hiểu biết

về giới tự nhiên xung quanh còn hạn chế, hoạt động sản xuất kinh tế chủ yếu

là nông nghiêp nên họ buộc phải có sự quan sát thiên nhiên Họ quan tâm đến những lĩnh vực như: lĩnh vực đoán thời tiết liên quan đến sản xuất, chữa bệnh bằng cac bài thuốc dân gian độc đáo bằng lá cây, rễ cây rừng Đó cũng là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên để tồn tại và phát triển

1.2.3 Đôi nét về dân tộc Tày

Trang 24

25

mặc áo trắng) để chỉ người Tày và Cần Slửa Đăm (người mặc áo đen) để chỉ người Nùng Bên cạnh đó người Tày còn có tên gọi khác là người Thổ (có nghĩa là người bản địa)

Ngày nay, dân tộc Tày là thành viên trong cộng đồng dân tộc sử dụng

hệ ngôn ngữ Tày – Thái và là dân tộc có số đông thứ 2 sau người Kinh (Việt)

và đứng thứ nhất trong số trong số 54 dân tộc ít người ở Việt Nam

1.2.3.2 Địa vực cư trú

Địa bàn cư trú của người Tày trước đây rộng hơn ngày nay rất nhiều (nhiều tên gọi chỉ các bộ phận của thành Cổ Loa có nguồn gốc từ ngôn ngữ Tày) Mặc dù quốc gia Âu Lạc tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng vai trò của

nó vô cùng quan trọng trong lịch sử hình thành cộng đồng người Tày.Đây cũng là bước khởi đầu tốt đẹp của việc hình thành các mối liên minh giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trong cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, người Tày đứng vị trí thứ hai (sau người Nùng), chiếm tỷ lệ khoảng 35% Họ sống tập trung đông nhất ở các thung lũng, có nhiều đồng ruộng, thường là các cánh đồng nổi tiếng như lòng chảo Thất Khê, Bắc Sơn, Bình Gia, huyện Chi Lăng

và sống xen kẽ với các dân tộc khác tại các huyện trong tỉnh Họ lập làng và làm ruộng ở những vị trí thuận lợi hơn so với các dân tộc khác.Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành bản có từ vài chục đến một trăm nóc nhà Kiến trúc của ngôi nhà chủ yếu là kiểu nhà sàn truyền thống mái lợp ngói âm dương.Ngoài ra còn có thêm kiểu nhà trình tường, nhà gạch đất lợp ngói âm dương.Trước đây kiểu nhà này được thiết kế dựng để tránh thú dữ, tận dụng khoảng trống dưới sàn để nuôi nhốt gia súc.Ưu thế của nhà sàn làmát về mùa

hè và ấm vào mùa đông

1.2.3.3 Tổ chức gia đình – làng bản

Trang 25

26

Gia đình người của người Tày cũng như nhiều dân tộc khác là một đơn

vị kinh tế độc lập Chủ gia đình là người chồng, người cha do vậy gia đình này mang tính chất phụ quyền Người chủ gia đình có vai trò quyết định trong mọi hoạt động tổ chức sinh hoạt, sản xuất của gia đình,điều hòa các mối quan

hệ xã hôi trong và ngoài gia đình Người Tày rất coi trọng quan hệ dòng họ nhất là họ gần hay cùng chi, họ đều thương yêu đùm bọc nhau lẫn nhau

Bản của người Tày được lập ở những nơi có vị trí thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp, thuận tiện về giao thông: gần sông, suối, ở những thung lũng bằng phẳng… Ví dụ:Thung lũng Bắc Sơn là nơi quần tụ sinh sống của người Tày, họ lập thành một cộng đồng người Tày tại xã Quỳnh Sơn và nơi đây có điều kiện thuận lợi cho việc canh tác Cánh đồng Bắc Sơn là một trong những vựa lúa của Lạng Sơn Mỗi bản được hình thành từ những gia đình thuộc các dòng họ khác nhau Bản ít có từ2 - 3 dòng họ, bản lớn trên dưới 10 dòng họ Ví dụ: trong một bản xã Đại Đồng huyện Tràng Định có 72 hộ trong

đó có 62 hộ người tày, 7 hộ người Kinh, 3 hộ người Nùng Những hộ Tày trong bản gồm các hộ sau: phổ biến là họ Lương (36 hộ), họ Nông (11 hộ), họ Hoàng (6 hộ), họ Nguyễn (3 hộ), Ma, Đoàn, Vi, Bế mỗi họ một hộ Nhìn chung, bản bản làng người Tày cũng giống như bản làng người Nùng đều có ranh giới, có miếu thờ… Phải chăng điều khác với bản Tày ở đâu trông cũng đông vui nhộn nhịp, trù phú hơn

1.2.3.4 Đời sống kinh tế

Nền nông nghiệp lúa nước của người Tày phát triển tương đối cao không kém gì người Kinh Đặc biệt nhiều hệ thông thủy lợi với các đập chắn bằng xi măng cốt thép với các hệ thống máng dẫn, hệ thống van đóng mở vừa kiên cố, vừa hiện đại để phục vụ tưới tiêu lâu dài cho các cánh đồng cao sản ở Thất Khê, Bắc Sơn, Bình Gia, một số cánh đồng của thị xã Lạng Sơn trước

Trang 26

27

đây.Họ ít làm nương, phần lớn nương chỉ để trồng thêm một số cây hoa màu Ngoài cây lương thực, họ trồng thêm các loại cây ăn quả, cây hồi, thuốc lá.Với điều kiện tự nhiên thuận lợi và tính cần cù, sáng tạo các ngành nghề chăn nuôi gia sức gia cầm, thủ công nghiệp khá phát triển, trở thành nguồn thu nhập có giá trị kinh tế cao Ví dụ: Ở Thất Khê, Lạng Sơn với thung lũng

có điều kiện chăn thả, mỗi năm người Tày ở đâycó thể nuôi hai lứa vịt: lứa vịt Xuân Hè từ tháng 3 đến tháng 7 và lứa Thu Đông từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch Giống vịt ở Thất Khê khá nổi tiếng, một con nuôi trong 3 tháng đạt trọng lượng trung bình từ 2 – 2,5kg/con (trong khi giống vịt ở đồng bằng nuôi 3 tháng trọng lượng cũng chỉ trung bình 1- 1,5kg/con; hay như các gia đình chọn dựng nhà ở vùng thấp, thường đào ao nuôi cá Diện tích ao từ vài chục đến vài trăm mét vuông, có nguồn nước lưu chuyển thường xuyên Để điều tiết mực nước của ao, người ta chôn một ống máng cạnh bờ giữ cho nước luôn ở vị trí bằng ống máng Ao cũng được thả các loại cá mè, trôi, chép, trắm cỏ… Những bản ven sông Kỳ Cùng, cứ mỗi mùa cá sông vật đẻ, họ lại thả rơm rác xuống những chỗ có cá vật đẻ để hứng trứng và ươm lấy cá con

Nền kinh tế của người Tày không chỉ mang tính tự cung tự cung, tự cấp

mà sản phẩm họ sản xuất ra còn là nguồn hàng giao thương với bên ngoài Nhờ kinh tế hàng hóa và lưu thông thường xuyên làm cho Lạng Sơn sớm hình thành các cụm chợ, thị trấn ở các huyện, thành phố, có nơi nổi tiếng sầm uất như Đồng Đăng – Kỳ Lừa; chợ Văn Mịch xã Hồng Phong thuộc huyện Bình Gia hay còn gọi là Háng Piang Nằm ở trục đường thủy từ Bắc Kạn, Cao Bằng qua Văn Mịch xuôi đi Long Châu.Trước đây chợ không chỉ mang tính chất buôn bán trao đổi mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa Đồng bào các dân tộc trong vùng đi chợ, gặp gỡ bạn bè, gặp người thân qua hát sli, hát lượn

1.2.3.5 Nghề thủ công

Trang 27

28

Gống như người Nùng, các nghề tiểu thủ công nghiệp như đan lát, sản xuất công cụ, nghề gốmđã đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cũng như trong sản xuất Đặc biệt, đồng bào một số bản Tày – Nùng Lạng Sơn có truyền thống làm bàn ghế bằng tre trúc dùng rộng rãi trong ngoài vùng.Ngoài ra, họ còn làm nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa.Trước đây nghề dệt vải nhuộm chàm là một nghề phát triển mạnh do nhu cầu may mặc trang phục truyền thống trong cộng đồng Ngày nay, trang phục truyền thống ít được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày nên nghề dệt không còn phổ biến trong cộng đồng người Tày

1.2.3.6 Văn hóa

- Ẩm thực

Việc chịu ảnh hưởng khí hậu vùng miền đã hình thành nên văn hóaẩm thực của người Tày ở Lạng Sơn Ẩm thực của người Tày tương đối phong phú về món ăn và cách chế biến Họ chế biến thực phẩm với nhiều món được chế biến phức tạp như: khau nhục, vịt quay, lợn quay và món ăn chủ yếu được xào,nướng, quay, hầm, dùng nhiều gia vị tính nóng

Ngoài những món ăn được chế biến từ các loại gia súc gia cầm, người Tày còn làm bánh từ nguyên liệu là các loại ngũ cốc: gạo nếp, gạo tẻ, đậu, lạc, đỗ… Các loại bánh này thường được làm gắn với những lễ, tiết trong năm Ví dụ: Ngày Tết Nguyên Đán, họ thường làm bánh khảo, bánh pẻng kho, khảu sli…

- Trang phục

Trang phục của người Tày rất giản dị màu xanh chàm hay tím hồng,ít trang trí thêu hoa văn trên trang phục mà trang trí bằng các loại vòng cổ, vòng tay, xà tích bằng bạc trắng Áo nữ của người Tày ở Lạng Sơn thường mặc áo dài năm thân, quần cùng màu, thắt lưng bằng vải quấn, khăn đội đầu, giày vải

Trang 28

29

Áo nam cũng là áo năm thân, quần chân que có đũng rộng, đầu quấn khăn hoặc đội mũ nồi

- Tín ngưỡng, tôn giáo

Tín ngưỡng ở người Tày cũng giống người Nùng là coi “vạn vật hữu linh”, chịu ảnh hưởng của tam giáo đồng nguyên ( Phật, Đạo, Khổng) nhưng

có xu hướng bị dân gian hóa mạnh Do chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, Kinh, từ lâu ở Lạng Sơn đã hình thành tầng lớp trí thức văn hóa dân gian như: ông Mo, bà Then, thầy Tào, thầy Pụt Một mặt họ vừa hiểu phong tục tập quán truyền thống, mặt khác họ là những nghệ nhân sáng tác, duy trì, bảo tồn vốn bản sắc văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ

Mỗi thôn bản của người Tày đều lập miếu thờ thần bảo hộ cho mùa màng, gia súc như người Nung Họ gọi những vị thần đó là thổ công, thổ địa

và những miếu này thường được đặt ở vị trí: chỗ giao nhau của sông, nơi có cây cổ thụ…

Đồng bào Tày cũng có quan niệm tồn tại hai loại hung thần và phúc thần Phúc thần là ma tổ tiên, ma bếp, ma lửa, ma bản…bảo vệ con người và vật nuôi.Hung thần là ma rừng, ma thuồng luồng, ma chết đuối…luôn làm hại con người và vật nuôi.Họ cũng thờ cúng tổ tiên, đây là một nét đẹp văn hóa

đã ăn sâu vào trong tiềm thức và lối sống của người dân tộc Tày

- Văn học nghệ thuật

Văn học dân gian của người Tày cũng rất phong phú về nội dung và đa dạng về thể loại Thể hiện qua các làn điệu dân ca như then, sli, hát ru, đồng dao, các thể loại truyện chữ Nôm, các thành ngữ, tục ngữ,…Giống văn hóa truyền thống của người Nùng, then được đồng bào yêu thích và chủ yếu được

sử dụng trong các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng: lễ lùng thổng (lễ xuống đồng), lễ kỳ yên ( lễ giải hạn), lễ lẩu pựt (lễ cấp sắc)

Trang 29

30

- Tri thức dân gian

Giống như người Nùng, tri thức dân gian của người Tày rất phong phú, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: lĩnh vực đoán thời tiết liên quan đến sản xuất, chữa bệnh bằng các bài thuốc dân gian độc đáo bằng lá cây, rễ cây rừng

Trang 30

31

Chương 2 GIÁ TRỊ CỦA CÁC LÀN ĐIỆU DÂN CA DÂN TỘC TÀY – NÙNG Ở LẠNG SƠN

Tiến trình vận động và phát triển văn hóa của mỗi tộc người luôn có sự hòa nhập, đan xen, tiếp thu, chọn lọc, bồi đắp tạo nên một sắc thái riêng biệt của tộc người đó.Khi đề cập tới đặc trưng văn hóa, ai cũng biết sắc thái văn hóa tùng tộc người ở từng vùng, miền được thể hiện qua vốn văn hóa di sản vật thể và phi vật thể, đặc biệt là dân ca Dân tộc Kinh ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang có dân ca Quan họ Bắc Ninh, vùng Phú Thọ có hát Xoan, vùng Nghệ Tĩnh có hát ví dặm Dân tộc Thái có hát Khắp…thì dân tộc Tày, Nùng cũng

có những làn điệu dân ca mang đặc trưng văn hóa của dân tộc mình đó là hát Sli, hát Lượn

Trong nền nghệ thuật dân gian cổ truyền, dân ca giữ một vị trí quan trọng và mang tính chất phổ biến trong đời sống tinh thần cũng như trong lao động, sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Đặc biệt là đồng bào nhân dân các vùng nông thôn,miền núi

Dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác theo một số vần điệu nhất định được lưu truyền trong dân gian nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó trong cuộc sống tinh thần của cộng đồng

Lạng Sơn là một tỉnh biên giới, miền núi có nhiều dân tộc cùng sinh sống, nơi đây hội tụ văn hóa các tộc người Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Mông, Sán Chay Mỗi dân tộc đều có những làn điệu dân ca đặc trưng, loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đặc trưng của dân tộc mình Dân ca các dân tộc Lạng Sơn là tài sản tinh thần vô giá làm nên bản sắc văn hóa Xứ Lạng

Có thể nói dân ca gắn bó với cuộc sống của các cộng đồng dân cư Xứ Lạng như hình với bóng, như tâm hồn và thể xác trong mỗi con người, nó

Trang 31

32

phản ánh tâm tư, tình cảm một cách chân thực con người trong hoàn cảnh xã hội xưa Do vậy dân ca không thể thiếu trong các hoạt động sinh hàng ngày cũng như trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng

Để ứng với các hình thức sinh hoạt nhất định, đồng bào dân tộc Tày, Nùng đã sáng tạo ra những bài ca, bài nhạc phục vụ cho từng chủ đề cụ thể của mỗi hình thức như: hát ru, hát ví, hát dồng dao, hát giao duyên, hát sinh hoạt tín ngưỡng Ở mỗi địa phương khác nhau, con người sẽ nảy sinh ra các tập tục, phong tục khác nhau về nhiều mặt Âm nhạc dân gian cũng vậy, một điệu dân

ca, một điệu nhạc từ thuở xa xưa, khi chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác, hoặc khi truyền tới mỗi địa phương khác nhau, đều được nhân dân các dân tộc nơi đó bổ sung, gọt giũa, sáng tạo những phần nhất định Những sáng tạo đó được sáng tạo ra không chỉ đáp ứng chức năng xã hội của các hình thức sinh hoạt âm nhạc, mặt khác nó còn thể hiện được tài năng âm nhạc của đồng bào dân tộc Chính vì thế, những sáng tạo âm nhạc đã đạt đến chất lượng nghệ thuật cao, giàu tính biểu cảm Có thể thấy thể hiện rõ nhất là chất trữ tình, nhẹ nhàng,

tự sự trong các làn điệu lượn, ru, then của dân tộc Tày, chất trữ tình nhưng có phần khỏe khoắn, trong sáng ở điệu Sli của dân tộc Nùng, chất vui tươi, sôi nổi của các điệu nhạc đám cưới, nhạc đệm cho múa sư tử trong những ngày hội Ứng với các hình thức sinh hoạt nhất định, họ sáng tạo ra những bài ca, bài nhạc phục vụ cho từng chủ đề cụ thể của mỗi hình thức như: hát ru, hát ví, hát dồng dao, hát giao duyên, hát sinh hoạt tín ngưỡng…

2.1 Các làn điệu dân ca Tày – Nùng

2.1.1 Làn điệu dân ca Tày

- Làn điệu lượn

Làn điệu lượn có thể hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau.Theo nghĩa rộng, lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca của người Tày, bao gồm cả then

Trang 32

33

(lượn then), hát đám cưới (lượn quan làng), hát đối đáp (lượn phưới pác), lượn phong slư.Theo nghĩa hẹp, lượn để chỉ những điệu hát giao duyên của người Tày Cả 2 cách hiểu trên đều có cơ sở, song cách hiểu theo nghĩa hẹp phổ biến hơn cả

Lượn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày Lượn gồm ba loại: lượn cọi, lượn slương (lượn thương) và lượn Nàng hai (nàng trăng) Lượn cọi và lượn Nàng hai lưu hành chủ yếu ở vùng phía tây Việt Bắc thì lượn slương lưu hành ở địa bàn Lạng Sơn là chính.Vì thế, lượn slương còn được gọi là lượn Lạng Khác với lượn cọi là loại lượn sử dụng vần lưng để kéo dài khổ thơ thì lượn slương chỉ dùng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.Trong các dịp lễ hội, chợ phiên, thời kỳ nông nhàn sau mùa xuân, họ sẽ chuẩn một cuộc hát lượn tại một gia đình trong bản.Nếu muốn tổ chức cuộc hát, người chủ trì phải chủ động đến báo với chủ nhà về lý do, mục đích, thời gian của cuộc lượn Trường hợp gia chủ có tang, có chuyện buồn thì cuộc lượn sẽ không được đáp ứng.Ngược lại, được sự nhất trí của gia đình thì cuộc lượn có thể sẽ diễn ra sau đó vài hôm

Lời mời hát lượn gửi đến các cá nhân tham gia cuộc lượn có thể bằng lời nhắn gửi viết thư tay, trao gửi khăn tay hoặc hẹn đối tượng trong các cuộc thi đấu giao hữu các trò chơi : ném còn, Phác Po ông, đánh yến

Khi vào cuộc lượn sau những bài mời của chủ bản, chỉ có đôi trai gái hát đối đáp với nhau.Cùng với khung cảnh núi đồi, từng cặp trai thanh, nữ tú vui chơi các trò diễn dân gian đã phác họa nên cảnh sống thanh bình, tự do ở vùng quê miền núi Kết thúc cuộc chơi, người con trai trao khăn tay, đeo vòng taycho người con gái để làm tin Trong mỗi cuộc hò hẹn, mỗi bên thường có

từ 2 đến 5 người và có một người làm tốp trưởng.Người tốp trưởng thường là người có uy tín,có hiểu biết và xã giao lịch thiệp Ngoài ra nếu cần, họ có thể

Trang 33

Hình thức lượn trong nhà (lượn cuộc) thường hát vài ban đêm, hát theo cuộc hát có lề lối, có tổ chức Về mặt nội dung, nó diễn đạt từ nỗi nhớ thương kín đáo, e ấp đến sâu sắc, mạnh bạo Phần này được người nghe yêu thích, đây cũng chính là phần trọng tâm của một cuộc lượn slương, cuộc lượn nào thiếu phần này là không thể được cho dù hai phần kia có thể không có

Một cuộc hát lượn gồm các giai đoạn sau:

Giai đoạn thứ nhất: thuộc về phần chủ hát (chủ làng, chủ bản chứ

không phải chủ nhà), có thể là bên nam hoặc bên nữ hát trước nếu là chủ Mở

đầu cuộc lượn, tốp chủ sẽ hát những bài Lượn nài (lượn mời).Phần lượn nài

chủ yếu dùng lời lẽ lịch thiệp, tha thiết mời khách vào bản cùng lượn cho tăng không khí vui tươi, sôi nổi.Nếu lượn một bài mà khách chưa đáp sẽ phải dùng những lời lẽ trêu ghẹo, khích bác, chê bai để cho khách phải cất lời lượn đáp mới thôi

Giai đoạn thứ hai: là giai đoạn lượn đáp, khách lượn những bài chúc

mừng, ca ngợi con người từ già đến trẻ, ca ngợi muôn vật, cảnh đẹp bản làng, quê hương của bên lượn mời

Trang 34

35

Giai đoạn thứ ba: là giai đoạn lượn thi thố tài năng Đây là phần ứng

tác tại chỗ nhằm bày tỏ, trao đổi tình cảm với nhau bằng hình ảnh cỏ cây hoa

lá, sự so sánh ví von bao gồm: lượn slương, lượn trống canh, lượn buồn, lượn nhớ, lượn hết lòng yêu nhau, lượn kết duyên khác bản, lượn gà gáy, lượn dừng thuyền hái hoa, hái nhị xuân, đi chơi chợ trời Bên nam, bên nữ lượn nối tiếp nhau, mỗi bên đều cố gắng tỏ rõ tài năng hiểu biết của mình về sử sách,

về con người, về vạn vật xung quanh… Giai đoạn này chiếm số lượng thời gian nhiều nhất và sổi nổi vui vẻ nhất

Giai đoạn cuối cùng: hai bên lượn những bài xe kết, giã bạn gồm các

bài Năm canh chờ mong, lượn tảm (tổng), lượn giã biệt Nội dung chủ yếu là nhắn nhủ, hò hẹn và giã từ, những bài tình cảm nói lên ước mơ, sự mong chờ, quyến luyến kết nghĩa trao duyên và lượn những lời tạm biệt, những lời thề nguyền hứa hẹn giữa đôi trai gái và hò hẹn gặp nhau trong những cuộc hát lượn trong lần tiếp theo

Hình thức lượn ngoài trời thực chất là lượn giữa hai người, hoặc lượn một mình, mặc dù lúc đầu thường là lượn tốp, tốp nam, tốp nữ gặp nhau ngoài đường, ngoài bản, ngoài chợ hoặc trong những ngày hội, họ đều hỏi nhau bằng lượn, tâm tình bằng lượn Lượn ngoài trời không quy định thời gian và không cần hát theo cuộc lượn như lượn trong nhà

Lượn hai:là làn điệu chỉ phổ biến ở vùng Chí Minh, Tràng Định Làn

điệu lượn hai dùng để hát trong suốt quá trình diễn ra lễ hội (từ mùng 4 tháng Giêng đến 18 tháng 3 âm lịch) Hội lượn hai mang tính chất nghi lễ, nên cuộc hát lượn chỉ bắt đầu khi đã rước thần từ ngoài miếu của bản về nhà chủ bản Như trên đã nói, làn điệu lượn hai chỉ dùng để hát trong những ngày mở hội (gần 3 tháng) với nội dung mời nang tiên trên trời xuống trần gian, trước hết

là cầu mong ban cho người trần gian có được cuộc sống yên lành, có sức khỏe

Trang 35

Tất cả những nội dung trên đều được diễn tả bằng hát làn điệu lượn hai

Tuy là chỉ dùng một làn điệu chính, nhưng trong quá trình thể hiện những lời thơ khác nhau trong quá trình diễn ra lễ hội, làn điệu này cũng có những thay đổi như thêm vào nhiều nốt luyến láy, nhịp điệu có đôi lúc tự do hoặc nhanh hoặc chậm hơn so với làn điệu chính để phù hợp với nội dung lời thơ Nhìn chungnhững thay đổi này không làm sai lạc làn điệu mang tính chất làng bản của lượn hai

- Làn điệu phong slư

Phong slư là làn điệu hát thơ, là những bức thưviết về tình yêu bằng thơ dành cho lứa tuổi thanh niên nam, nữ xưa Đây là một thể loại dân ca độc đáo của trai gái Tày Những bức thư này được viết bằng chữ Nôm Tày trên vải sa

đỏ rộng trên dưới một mét vuông Vải được vẽ hoa viền theo biên và hai bên

là hai con rồng há miệng chầu mặt trời hoặc chim muông Vì nam nữ thanh niên trước đây rất ít người biết chữ và không có đủ trình độ để viết thư nên

thư được viết thông qua một người trung gian tiếng tày gọi là slấy cá, là

người tri thức bình dân của dân tộc Tày, Nùng do vậy là thư tình nhưng lại được đọc chung cho trai gái cả bản nghe Những người đang yêu đều tìm thấy trong phong slư tiếng nói thầm kín của lòng mình, tâm tư tình cảm của mình Phong slư vì vậy là sáng tác của cá nhân nhưng đã được xã hội hóa Và việc

thay slấy cá bằng việc ngâm ngợi diễn xướng những bức phong slư đã biến

những con chữ riêng cụ thể thanh một sinh hoạt dân ca không thể thiếu được đối với cả dân tộc Tày và Nùng

Trang 36

37

Phong slư thường thấm đẫm nỗi buồn tuyệt vọng vì xa cách.Trai gái làm quan trong một dịp gặp gỡ tình cờ (hội, phiên chợ), tình cảm như “lửa mới bén” thì đã phải chìm vào xa cách.Ngọn lửa âm thầm ấy phải hết sức mãnh liệt thì mới đủ sức chống chọi với những thử thách vô bờ bến Họ không còn cách nào khác ngoài việc trông chờ vào những lá thư tình như nguồn dưỡng khí ít ỏi cho ngọn lửa tình yêu Vì thế nỗi buồn bã, vô vọng là điều không thể thánh khỏi trong phong slư

Có nhiều người nói đến yếu tố bi trong phong slư, nhưng thực ra phong slư không mang tính chất bi lụy.Bởi nỗi buồn bao giờ cũng song hành cùng với tình yêu, nhất là trong hoàn cảnh nhiều ngăn cách của xã hội trước đây.Hơn nữa tình yêu không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với nỗi buồn, nhưng nỗi buồn có lẽ là phương tiện đắc dụng nhất để bộc bạch tình sâu nặng

Dù có là buồn thì phong slư vẫn ngời sáng nét đẹp của tâm hồn lãng mạn của tình yêu cháy bỏng trong sáng, lòng vị tha cao thượng Đó là ý nghĩa nhân văn cao cả của những bức phong slư độc đáo của trai gái dân tộc Tày

- Làn điệu ví Tày

Làn điệu này chỉ thấy phổ biến duy nhất ở vùng người Tày ở Quỳnh Sơn - Bắc Sơn Dù gọi là ví của người Tày song phần lời ca trong bài ví hoàn toàn hát bằng tiếng Kinh (tiếng Việt) Tuy vậy làn điệu ví có một màu sắc riêng và được hát trong nhiều loại sinh hoạt dân gian của người Tày Bắc Sơn Phổ biến nhất là hình thức hát giao duyên (hình thức hát đối đáp, ghẹo) mời chào khi khách vào bản và còn hát trong các nghi lễ tại đình làng

- Làn điệu quan làng (hay còn gọi là quan lang)

Đây là làn điệu khi hát mang tính chất đối đáp giữa người đại diện nhà

trai dẫn rể đi đón dâu (gọi là quan lang) và người đại diện nhà gái đưa dâu (gọi là pả mẻ) về những trình tự trong đám cưới Phong tục cưới hỏi trên thế

Trang 37

38

giới ở đâu cũng có, nhưng người Tày đã biến những nghi thức ấy thanh một cuộc sinh hoạt văn hóa quần chúng mang tính chất sôi nổi, hấp dẫn qua những

bài dân ca hát trong đám cưới.Khi đoàn nhà trai đến xin dâu, pả mẻ và các cô

chú phù dâu đặt ra vô số thử thách mà nhà trai chỉ có thể vượt qua bằng những lời hát khéo léo, ý nhị của mình.Điều này tùy thuộc rất lớn vào tài ứng

đáp của quan làng Do đó chọn vị quan làng nào là điều có tính chất quyết

định trong trò diễn nghi thức văn nghệ này

Gọi là làn điệu hát quan làng nhưng thực chất những bài hát này do ông quan làng hát khi thực hiện nghi thức trong đám cưới Mọi thủ tục đều do ông chủ trì thông qua các bài hát quan làng Mỗi cuộc hát bao gồm nhiều bài háy khác nhau dựa trên một làn điệu chính, nhưng các bài hát đó phải hát theo trình tự đã được quy định sẵn Các bài hát chính được diễn ra trong đám cưới theo trình tự như sau:

- Các bài hát trình tổ: khi chú rể ra cửa đi đón dâu phải bái lạy tổ tiên

trước, do ông quan làng chủ trì hát và hướng dẫn chú rể là các thủ tục

- Các bài hát căng dây( hoặc trình làng, trình ngõ): hát khi đoàn nhà

trai đi đón dâu đến cổng nhà gái, đã bị đoàn nhà gái chặn lại bằng một dải lụa

đỏ, hoặc cái ghế và vài chén rượu Đại diện nhà gái (pả mẻ) cất tiếng hát, hỏi thăm, kiểm tra lễ vật.Lúc này đại diện nhà trai (ông quan làng) phải trổ tài ứng tác, hát đối đáp với nhà gái sao cho nhà gái chấp thuận mới được đem lễ vật vào cửa đón dâu (phần căng dây, có thể sẽ là hai đứa trẻ hoặc hai cô gái chưa chồng)

- Các bài hát xin vào cửa: qua được chặng đầu tiên, nhà trai vẫn chưa

được vào nhà, ông quan làng phải xin chủ nhà cho vào cửa và dĩ nhiên phải ứng đối những lời lẽ hay, ví von ca ngợi v.v… để nhà gái thán phục, chấp thuận cho qua cửa ải này

Trang 38

39

- Các bài hát xin trải chiếu: Khi đã qua được cửa, nhà trai vẫn chưa

được nhà gái mời ngồi, lúc này ông quan làng phải hát những bài hát xin trải chiếu Cũng giống phần trên, khi tiếng hát cất lên mà nhà gái cảm thấy ưng thuận thì cũng là lúc họ sẽ trái chiếu mời nhà trai ngồi

- Các bài hát xin nạp lễ: Ông quan làng sec hát tiếp cac bài xin nạp lễ

và phải hát cho đến khi nhà gái cho người ra nhận lễ mới thôi

- Các bài hát xin rể trình họ hàng nhà gái: Khi chú rể ra bái lạy trình họ

hàng nhà gái, việc này cũng do ông quan làng hát hướng dẫn, xin phép tổ tiên

- Các bài hát xin đón dâu: cũng là thủ tục quan trong, ông quan làng

phải hát làm sao cho khéo để đúng giờ được nhà nhà gái chấp thuận, đồng ý cho đón cô dâu ra cửa đi về nhà chồng

- Các bài hát xin trả ơn đáp nghĩa: là những bài hát mang tính thủ tục

cuối cùng tạ ơn đến tổ tiên, ông bà, bố mẹ, họ hàng của cô dâu đồng thời những bài hát này cũng là lời chào tạm biệt nhà gái

Các bài tại nhà trai có phần đơn giản hơn, chỉ còn các bài mời rượu, mời trà, mời trầu cau và các bài mời dâu, rể rồi bái lạy tổ tiên, nhận họ hàng, cuối cùng là những bài trả ơn đáp nghĩa

- Làn điệu ru Tày (Ứ noọng)

Ứ noọng là làn điệu dùng để ru trẻ em ngủ Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Tày cũng có những bài dân ca hát khi cho trẻ ngủ Người Tày ở Lạng Sơn bất cứ là ai ru trẻ ngủ: bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em hầu như đều dùng

Trang 39

40

-Làn điệu đồng dao Tày

Là làn điệu dung để trẻ em hát và chơi Đồng dao của trẻ em Tày Lạng Sơn là những trò chơi kèm theo các bài hát có giai điệu, mặc dù là những giai điệu đơn giản nhưng mỗi trò chơi của các em đều có một làn điệu riêng Nhìn

chung, đồng dao Tày có khá nhiều làn điệu Ví dụ bài đồng dao “Tẻng phị”

Quay quay quay phị chảy ơi quai quai,

Quay phị mò phị vài ơi bả

Phị mò phị vài ơi bả

Chắp pha lả khảu dân

Phỏng dịch:

Quay quay

Chuồn chuồn bé ơi khôn,

Chuồn chuồn to ơi dại,

Đậu vào rổ rá cơm

Làn điệu này , các em vừa hát, tay vừa cầm một cái que nhỏ dài khoảng 1m, phía đầu dính nhựa mít vừa đi tha thẩn ngoài bờ rào, ngoài đường làng vừa hát tìm bắt chuồn chuồn

Bài “Phạ ới phân”

Phạ ới phân phân

Nặm ơi noòng noòng

Pjia còng khỉn khỉn

Ná dỉn lồng lồng

Cáy củm khăn khăn

Trang 40

-Làn điệu Then Tày

Then được coi như một làn điệu dân ca đặc biệt của người Tày.Trong các loại hình âm nhạc tín ngưỡng của đồng bào Tày Lạng Sơn Hát then có số lượng bài bản, nghệ thuật âm nhạc và múa giàu có, đạt trình độ cao nhất Đó là hình thức nghệ thuật diễn xướng mang tính tổng hợp gồm múa, hát, đàn và thơ

ca Nội dung thơ ca trong một cuộc then thường được quy định sẵn và chia thành nhiều chương, đoạn; còn các làn điệu âm nhạc trong then chuyên dùng để biểu hiện nội dung thơ ca đó với mức độ dài ngắn khác nhau tùy vào yêu cầu, mục đích của từng cuộc then như: then kỳ yên (giải hạn), then chữa bệnh, then cầu an, then sinh nhật (nối số) lẩu then (lễ công nhận người làm then)

Trước kia, làn điệu này hầu như chỉ được sử dụng trong nghi lễ dưới hình thức diễn xướng và khi đó hát có thể được kết hợp với múa và nhạc.Then được hát lên vào những dịp trọng đại của làng bản như: hội làng, cầu mùa hay

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w