1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa tại hà nam

100 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, Hà Nam cũng là mảnh đất đã sản sinh ra rất nhiều anh hùng dân tộc, những danh nhân văn hóa mà tiếng tăm của họ qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử vẫn vang vọng mãi tới

Trang 1

Tr-ờng đại học văn hóa Hà Nội Khoa Văn hóa - Du lịch

-  -

KHAI THÁC PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH

VĂN HểA TẠI HÀ NAM

Khóa luận tốt nghiệp

Gỉang viờn hướng dẫn : Hà Văn Siờu Sinh viờn thực hiện : Nguyễn Nhƣ Quỳnh

Hà Nội, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em là Nguyễn Như Quỳnh, sinh viên khoa Văn Hóa Du Lịch, lớp16B, trường ĐH Văn Hóa Hà Nội Trong thời gian học tập, rèn luyện ở trường và đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài Khóa luận vừa qua, em đã rất may mắn khi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong trường, trong khoa và của thầy Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển du lịch đã hướng dẫn em hoàn thành đề tài Khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô trong trường đã cho em một nền tảng kiến thức làm hành trang trong quá trình học tập và làm việc sau này Em xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Hà Văn Siêu đã luôn dành thời gian chỉ bảo cho em những kiến thức cần thiết, giúp đỡ em tìm kiếm tài liệu tham khảo liên quan đến

cô, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm tới đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Như Quỳnh

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Bố cục của khóa luận

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA

1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1 Khái niệm du lịch 8

1.2 Khái niệm sản phẩm du lịch 9

1.3 Khái niệm sản phẩm du lịch văn hóa 11

2 Cơ sở hình thành sản phẩm du lịch văn hóa 12

2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa 12

2.1.1.Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể 12

2.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể 19

2.2 Nhu cầu du lịch văn hóa 24

3 Tiểu kết chương 25

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA TẠI HÀ NAM 1 Tổng quan về tỉnh Hà Nam 28

1.1 Lịch sử hình thành 28

1.2 Vị trí địa lý 29

1.3 Kinh tế văn hóa xã hội 29

1.4 Tiềm năng du lịch văn hóa của Hà Nam 30

Trang 4

2 Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa tại Hà Nam 31

2.1 Tài nguyên văn hóa vật thể 33

2.1.1 Các di tích lịch sử - văn hóa 33

2.1.1.1 Các di tích chùa Tháp 35

2.1.1.2 Các di tích gắn với danh nhân 39

2.1.2 Một số làng nghề truyền thống tiêu biểu 44

2.1.3 Ẩm thực Hà Nam 50

2.2 Tài nguyên văn hóa phi vật thể 54

2.2.1 Một số lễ hội tiêu biểu 54

2.2.2 Văn nghệ dân gian 59

3 Các sản phẩm du lịch văn hóa của Hà Nam 61

3.1 Các điểm du lịch văn hóa thu hút khách du lịch 61

3.2 Các tuyến du lịch văn hóa 65

3.3 Các dịch vụ du lịch văn hóa 67

4 Đánh giá hiện trạng sản phẩm du lịch văn hóa tại Hà Nam 69

4.1 Những mặt tích cực, điểm mạnh 72

4.2 Những mặt hạn chế 74

5 Tiểu kết chương 75

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA TẠI HÀ NAM 1 Định hướng phát triển chung đối với ngành du lịch Hà Nam 76

1.1 Định hướng tổng quát 76

1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển 76

2 Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa tại tỉnh Hà Nam 77 2.1 Định hướng phát triển thị trường và các sản phẩm du lịch văn hóa 77

2.2 Định hướng tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch 79

2.3 Định hướng đầu tư phát triển du lịch, sản phẩm du lịch văn hóa 85

Trang 5

2.4 Định hướng tổ chức kinh doanh du lịch văn hóa 86

3 Một số giải pháp chính nhằm thúc đẩy phát triển sản phẩm du lịch văn hóa Hà Nam 3.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 88

3.2 Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa 89

3.3 Giải pháp xúc tiến tuyên truyền quảng bá du lịch 90

3.4 Giải pháp bảo vệ môi trường du lịch 90

3.5 Giải pháp huy động nguồn lực 92

3.6 Giải pháp nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực 92

3.7 Giải pháp liên kết với các tỉnh bạn trong vùng 93

4 Tiểu kết chương 93 KẾT LUẬN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ai về thăm đất Hà Nam

Sông Hồng sông Đáy sông Giang nối bờ

Đi qua Phủ Lý nên thơ

Viếng làng Ninh Thái thờ Lê Đại Hành…

Theo kết quả khảo sát của các thành viên Hiệp hội Điều hành du lịch Mỹ (USTOA-US Tour Operators Association) cho thấy xu hướng đi du lịch nổi bật của du khách hiện nay là lựa chọn kiểu du lịch thân thiện với môi trường, thiên nhiên và du lịch văn hóa Hà Nam là nơi có nền văn minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian phong phú, thể hiện qua nhiều điệu chèo,hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt là hát dặm Là tỉnh cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, thành phố Phủ Lí là trung tâm văn hóa ,chính trị,kinh tế của tỉnh Tỉnh tuy nhỏ nhưng có khá nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh như núi Cấm, Ngũ Động Sơn, chùa Bà Đanh, chùa Đọi Sơn, núi Ngọc…Tỉnh cũng có nhiều lễ hội truyền thống trong đó hội vật võ Liễu Đôi đã nổi tiếng cả nước, lễ hội Tịch điền, hay là lễ hội Đền Trúc Bên cạnh đó, Hà Nam cũng là mảnh đất đã sản sinh ra rất nhiều anh hùng dân tộc, những danh nhân văn hóa mà tiếng tăm của họ qua bao năm tháng thăng trầm của lịch sử vẫn vang vọng mãi tới ngày hôm nay, là tấm gương sáng cho bao đời con cháu noi theo như cụ Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến hay nhà văn Nam Cao…

Là một sinh viên khoa Văn hóa Du lịch – trường đại học Văn hóa Hà Nội, được sinh ra và lớn lên ở mảnh đất tươi đẹp này, cùng với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về các giá trị tự nhiên và văn hóa , tôi muốn mời mọi người trên khắp mọi miền đất nước đến với quê hương mình Đồng thời, dưới sự gợi ý, hướng dẫn của TS Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu và phát triển du lịch tôi

đã chọn đề tài “Khai thác phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa tại Hà Nam”

Trang 7

làm Khóa luận tốt nghiệp của mình Đây là một đề tài khá mới mẻ, chưa có nhiều người khai thác, tìm hiểu nên tôi mạnh dạn xin được đề xuất đề tài này, vừa để thể hiện lòng yêu quê hương, đất nước, vừa có thể góp một phần công sức nhỏ bé nào đó trong việc phát triển nghành du lịch của Tỉnh Với những ưu thế riêng của mình, cùng với sự cố gắng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của con người nơi đây, tôi tin rằng du lịch Hà Nam sẽ ngày một phát triển và được mọi người tìm đến, một vùng đất không quá rộng lớn nhưng luôn khiến những người con khi đi xa phải nhớ về

Trong những năm gần đây và những năm tới, tỉnh Hà Nam sẽ tập trung chỉ đạo đầu tư xây dựng, thực hiện nhiều dự án phát triển du lịch của tỉnh Với tiềm năng du lịch phong phú, hấp dẫn, nếu được đầu tư thích đáng chắc chắn du lịch

Hà Nam sẽ ngày càng phát triển, mở rộng với nhiều các loại hình dịch vụ phục

vụ khách du lịch và tạo ra nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái,

du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan lễ hội tín ngưỡng, văn hoá thể thao,…

Hà Nam, đề tài nhằm trả lời câu hỏi trên và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để cùng đưa du lịch Hà Nam vào nhịp đập du lịch của cả nước.Với đề tài này, tôi muốn tìm hiểu nhiều hơn về quê hương đất nước mình, gìn giữ , khai thác và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp đã được lưu truyền qua các thế hệ và có thể giới thiệu, quảng bá hình ảnh tươi đẹp nơi đây đến với du khách trên mọi miền Tổ quốc

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cũng như nhiều tỉnh thành khác trên khắp cả nước, Hà Nam cũng là nơi hội

tụ khá nhiều các tài nguyên du lịch văn hóa có nhiều ý nghĩa, tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn hẹp, tôi không có tham vọng đi sâu vào nghiên cứu tất cả các tiềm năng để phát triển du lịch của Hà Nam ( cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, nguồn nhân lực, con người ) mà chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu một số tài nguyên du lịch văn hóa có giá trị về du lịch và có sức hấp dẫn, thu hút được du khách, làm sao để có thể khai thác và phát triển chúng phục vụ cho ngành du lịch của cả nước nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

“ Khai thác phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa tại Hà Nam” là đề tài được nghiên cứu kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu khoa học cũng như nghiên cứu xã hội học hay các ngành khoa học

xã hội khác Trong đó đặc biệt sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp khảo sát, quan sát

- Phương pháp tổng hợp, phân tích định tính và định lượng

- Phương pháp thu thập dữ liệu, điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia

5 Bố cục của Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Khóa luận gồm 3 chương :

Chương I : Cơ sở lí luận về phát triển sản phẩm du lịch văn hóa

Chương II : Thực trạng về các sản phẩm du lịch văn hóa tại Hà Nam

Chương III : Định hướng và giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa

tại Hà Nam

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH

niệm khác nhau về du lịch

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (United Nation World Tourism Organization),

một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành

mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Ở Việt Nam, vấn đề du lịch được hiểu là: “ Là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [ 1- 3]

Trang 10

Thực chất, du lịch là quá trình du ngoạn của con người theo một lịch trình nhất định để được thưởng thức cái đẹp,cái mới lạ, không nhằm mục đích sinh lợi bằng đồng tiền Với bản chất đích thực như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm tổng thể về du lịch như sau: “ Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục địch chủ yếu là được thẩm nhận những sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác với nơi cư trú thường xuyến Đồng thời có thể kết hợp với các mục đích khác như nghỉ dưỡng,thăm thân” [ 2- 10] Khái niệm trên đây làm rõ được mục đích cơ bản của các chuyến du lịch là du ngoạn “sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên” Đó cũng chính là “cầu” trong thị trường cung – cầu du lịch, để các quốc gia, các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch và các doanh nghiệp, doanh nhân kinh doanh du lịch định hướng được quy hoạch phát triển du lịch cũng như lựa chọn sản phẩm kinh doanh

1.2 Sản phẩm du lịch

“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [1- 3] Theo quan điểm Marketting: "Sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của khách

du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch"

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ

sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào

đó Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và

vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ

và tiện nghi phục vụ khách du lịch, nhằm đáp ứng mọi mong muốn và nhu cầu của khách trong chuyến đi du lịch Có thể hiểu đơn giản : Sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở tài nguyên du lịch được cung cấp các dịch vụ để thẩm nhận giá trị tài nguyên đó Có thể diễn đạt dưới dạng công thức sau:

Trang 11

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hóa du lịch

Khái niệm sản phẩm du lịch phải được hiểu theo nghĩa sản phẩm hoàn chỉnh chứ không phải là sản phẩm riêng lẻ Việc nhận thức đúng khái niệm về sản phẩm du lịch là cần thiết để nâng cao tính hợp tác của các đơn vị,cá nhân tham gia cung cấp sản phẩm du lịch nhằm đem lại sự hài lòng nhất cho du khách

Các yếu tố của sản phẩm du lịch: Điểm thu hút khách, khả năng tiếp cận của điểm đến, các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến, hình ảnh của điểm đến, giá cả hàng hoá, dịch vụ của điểm

Đặc trưng của sản phẩm du lịch:

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: được biểu hiện ở chỗ nó kết hợp với các loại dịch vụ do nhiều đơn vị, cá nhân thuộc các nghành khác nhau cung cấp nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tố không thể tách rời, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận tham gia phục vụ khách để tạo ra một sản phẩm du lịch có chất lượng tốt, đem lại sự hài lòng cho khách hàng

- Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình : Ngoại trừ một số sản phẩm du lịch có tính hữu hình như : các hàng hóa, lưu niệm, đồ uống…thỳ hầu hết các dịch vụ du lịch như dịch vụ lưu trú,tham quan, vận chuyển…đều tồn tại ở dạng

vô hình, khách du lịch chỉ cảm nhận được chúng khi sử dụng, không thể cầm

Trang 12

nắm, không mang được về nhà sau khi mua

- Sản phẩm du lịch mang tính không thể lưu kho: Khác với các sản phẩm thông thường khác, việc sản xuất hầu hết các sản phẩm du lịch chỉ được thực hiện khi khách du lịch có mặt ở nơi cung cấp dịch vụ, việc tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm của khách được thực hiện đồng thời với quá trình sản xuất

- Sản phẩm du lịch có tính không thể dịch chuyển: Khách du lịch chỉ có thể tiến hành tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ du lịch tại nơi sản xuất chứ không thể chuyển đến nơi khác để tiêu thụ Họ cũng chỉ có quyền sở dụng tạm thời đối với những sản phẩm du lịch trong một thời gian, địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm

- Sản phẩm du lịch có tính không đồng nhất: Sản phẩm du lịch không thể tiêu chuẩn hóa được Khó có thể tạo ra các sản phẩm du lịch như nhau trong thời gian làm việc khác nhau, cách cảm nhận, đánh giá sản phẩm cũng tùy thuộc vào mỗi người

1.3 Sản phẩm du lịch văn hóa

Sản phẩm du lịch văn hóa là những sản phẩm du lịch được tạo nên dựa trên các tài nguyên văn hóa ( vật thể và phi vật thể ) Ngày nay, khái niệm văn hóa càng được mở rộng nên khái niệm du lịch văn hóa cũng được hiểu rộng hơn Đối tượng của du lịch văn hóa không chỉ là các di tích cổ mà còn bao hàm tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần của con người như các lễ hội, văn nghệ dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực… Có thể đưa ra một số ví dụ về sản phẩm du lịch văn hóa: Tham quan di tích, tham gia lễ hội, tham quan tìm hiểu văn hóa, lối sống địa phương, thăm viếng đền chùa, tham quan bảo tàng, nhà hát… Chính vì vậy, việc xây dựng và phát triển du lịch văn hóa nói chung và những sản phẩm du lịch văn hóa nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống Điều đó đồng nghĩa với việc duy trì và phát triển môi trường xã hội nhân văn lành mạnh, an toàn, là yếu tố quan trọng để xây dựng du lịch bền vững

Trang 13

2 Cơ sở hình thành sản phẩm du lịch văn hóa

2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa

2.1.1 Tài nguyên văn hóa vật thể

cổ xưa cả trong cộng đồng dân cư và trong bản thân mỗi du khách

Ở Việt Nam, theo Luật Di sản, di tích lịch sử – văn hoá được quy định như sau: “Di tích lịch sử – văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như các giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá – xã hội” Di tích lịch sử – văn hóa phải có một trong các tiêu chí: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước (Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa,

cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ ) ; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước (Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi , Lam Kinh, đền Đồng Nhân ) ; Công trình xây dựng, địa điểm

Trang 14

gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến (Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo

Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó )

Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử – văn hoá phục vụ mục đích du lịch, cần chú ý một số chỉ tiêu thể hiện số lượng và chất lượng di tích đó là: mật

độ di tích, số lượng di tích, số di tích được xếp hạng, số di tích đặc biệt quan trọng Trầm mặc, uy nghiêm, tọa lạc trên những thế đất chọn theo những thuật phong thủy là đặc điểm nổi bật của các di tích lịch sử văn hóa Việt Nam Đó là nơi để mỗi con người Việt gửi gắm tâm tư tình cảm nguyện vọng của họ, thỏa mãn nhu cầu về tín ngưỡng tôn giáo, tâm linh của con người

Các di tích được hình thành do những điều kiện lịch sử và điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội của mỗi vùng quyết định Nó mang rõ những dấu ấn của lịch sử, thiên nhiên, phong tục truyền thống và con người ở vùng đó Vì thế nó

đã trở thành một phần không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển của mỗi dân tộc Sự hình thành của di tích đánh dấu trình độ phát triển của lịch sử xã hội loài người, từ trình độ nhận thức, hiểu biết đến trình độ thẩm mĩ của con người Chính vì vậy mà hầu như ở bất cứ một làng nào ở Việt Nam cũng tồn tại một hay nhiều di tích lịch sử văn hóa

Di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò là một loại hình của tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ cho du lịch nói chung và là một trong những yếu tố chính để phát triển du lịch văn hóa Khai thác phát triển các giá trị của các di tích này cùng với các dịch vụ phụ trợ khác để tạo nên một sản phẩm du lịch văn hóa hiện nay đang được hầu hết các quốc gia tiến hành và cũng được khách du lịch rất ưa chuộng bởi nó không có tính mùa vụ và bởi nó mang trong mình những ý nghĩa sâu xa, thiêng liêng Điều đó khẳng định được tầm quan trọng của di tích lịch sử

- văn hóa cả trong việc nghiên cứu lẫn trong khai thác phục vụ du lịch nói chung

Trang 15

2.1.1.2 Làng nghề truyền thống

Việt Nam có một hệ thống làng nghề hết sức phong phú và đa dạng Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông

Làng nghề là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam

Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủ công được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành quy mô gia đình, dòng họ Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề Và bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng…

Nhóm sản phẩm thủ công chính ở Việt Nam, bao gồm: Mây tre đan, sản phẩm từ cói và lục bình, gốm sứ, điêu khắc gỗ, sơn mài, thêu ren, điêu khắc đá,

Trang 16

dệt thủ công, giấy thủ công, tranh nghệ thuật, kim khí, những sản phẩm thủ công

mĩ nghệ khác Ngoài ra còn có rất nhiều sản phẩm thủ công khác như : Làm bánh giày, bánh giò, làm mắm, làm kẹo, làng nấu rượu Trưng Xá…

Làng nghề bao gồm hai nhân tố cấu thành là nhân tố “ làng” và nhân tố

“nghề” Theo cách hiểu thông thường, làng nghề là làng chuyên làm một nghề nào đó Ở mỗi làng nghề đều có ông tổ nghề - người đã truyền nghề lại cho dân làng Hàng năm cứ đến ngày giỗ tổ ông nghề, dân làng thường tổ chức lễ tưởng niệm, có khi còn tổ chức đám rước ông tổ nghề Nghề thường được truyền từ đời này qua đời khác trong phạm vi của một làng Đôi khi nghề còn không được truyền cho con gái vì sợ thất truyền Kinh nghiệm làm nghề được giữ kín, tạo thành bí quyết nghề, cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy cho hôm nay và mai sau

Các sản phẩm được làm thủ công khác làm công nghiệp ở chỗ: Làm thủ công là làm bằng tay, đơn chiếc, sử dụng ít máy móc, tự làm bằng kinh ngiệm Còn làm công nghiệp là sử dụng máy móc, nhà máy xí nghiệp, dây truyền sản xuất hàng loạt bằng công nghệ và kĩ thuật

Hiện nay, trong hành trang của khách du lịch, hàng lưu niệm từ các làng nghề thủ công truyền thống chiếm tỉ lệ rất lớn Các loại hình tham quan du lịch tới các làng nghề ngày càng phổ biến hơn Người ta có nhu cầu muốn tìm hiểu

và tận mắt được thấy một nền sản xuất thủ công nghiệp thô sơ nhưng cũng không kém phần tinh xảo, điêu luyện Khách du lịch còn có thể trực tiếp được trải nghiệm, tham gia vào quá trình làm nên sản phẩm đem lại cảm giác thu hút, thú vị Những sản phẩm từ những nghề thủ công tinh xảo ấy chính là những món quà lưu niệm quí, mang nhiều ý nghĩa của những nơi, những làng nghề mà du khách đã đi qua

Làng nghề truyền thống đã trở thành một thành tố của nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, làm phong phú thêm về loại hình tham quan du lịch (cung cấp cho du lịch một loại hình mới – tham quan du lịch làng nghề ) Làng nghề còn

Trang 17

cung cấp cho thị trường hàng hóa du lich những sản phẩm độc đáo, đẹp mắt, hữu ích Nó cũng góp phần là, gia tăng nguồn thu nhập cho các gia đinh làm nghề, tạo ra một lượng công ăn việc làm nhất định cho xã hội

2.1.1.3 Nghệ thuật trưng bày:

Viện bảo tàng (hay Bảo tàng) là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ

Viện bảo tàng được chia làm 3 nhóm chính:

- Viện bảo tàng chuyên ngành: Phụ thuộc vào đặc điểm của hiện vật (khoa học, tự nhiên, lịch sử, nghệ thuật, văn học, âm nhạc, sân khấu, kĩ thuật và công nghệ )

- Viện bảo tàng khu vực hoặc quốc gia: Trong đó thu thập, giữ gìn và bảo vệ các tài liệu lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật, các tác phẩm mẩu mực của công nghiệp

và nông nghiệp, khoán sản, thực vật và các hiện vật khác trong lĩnh vực kinh tế, lịch sử, dân tộc học v.v

- Viện bảo tàng tưởng niệm: Được sử dụng cho các sự kiện lịch sử hoặc các nhà hoạt động quốc gia, các nhà báo học, nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ, nhạc công lớn v.v Ngoài ra viện bảo tàng còn được phân chia theo hiện vật trưng bày: loại có hiện vật cố định và loại có hiện vật tạm thời

Di sản văn hóa không thể là sản phẩm tiêu dùng đơn thuần và du khách không thể hời hợt “đi qua” nó Nếu khách tham quan có thể nhận dạng di sản thì

vị khách đó chắc hẳn là có thể đánh giá được giá trị của nó và nắm được vai trò trong việc bảo tồn di sản đó, như vậy vị khách đấy đã trở thành một người bạn của các bảo tàng Với việc nâng cao hiểu biết về những thứ hoàn toàn mới lạ và độc đáo, khách du lịch sẽ thích đi đến các bảo tàng, di sản văn hóa nhiều hơn vì

ở đấy họ có thể tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và truyền thống của một địa phương, quốc gia mà họ đặt chân tới

Trang 18

Sự tương tác giữa ngành du lịch và các bảo tàng là mối quan hệ mật thiết, có thể ảnh hưởng đến di sản văn hóa và thiên nhiên, bao gồm những bộ sưu tập và những giá trị mà nó mang lại Một mối quan hệ mật thiết cần được duy trì trên qui tắc bảo tồn để đảm bảo việc kéo dài tuổi thọ của hiện vật, di tích, di sản Bởi

vì tài sản di sản văn hóa là duy nhất và không thể thay thế được Tính xác thực của nó có giá trị rất cao, sự thiệt hại và mất mác tài sản đó sẽ là mất mác chung cho nền văn hóa Trách nhiệm và những nỗ lực của ngành du lịch là phải làm giảm bớt những ảnh hưởng và thiệt hại tới tài sản văn hóa Vì lý do đó mà các chương trình du lịch đều phải ưu tiên cho việc bảo tồn di sản

Bảo tàng và du lịch văn hóa khẳng định rõ vai trò của các di sản văn hóa đối với du lịch, đó là hình mẫu gắn kết liên ngành vì sự phát triển bền vững Hệ thống bảo tàng, di sản, di tích, nhất là bảo tàng tỉnh chẳng những là nơi lưu giữ tinh hoa của quá khứ, thể hiện lòng tự hào truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc

mà còn là nơi thu hút khách tham quan du lịch, một lợi thế cho ngành kinh tế mũi nhọn - dịch vụ, du lịch của địa phương Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống các bảo tàng và việc thiết kế các tour đến bảo tàng vừa góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch Việt vừa quảng bá truyền thống văn hóa, lịch

sử nước ta đến bạn bè thế giới, từ năm 2008, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Cục Di sản văn hóa triển khai đề án "Tăng cường gắn kết các bảo tàng với hoạt động du lịch" Đề án đã được Bộ VH,TT&DL phê duyệt, các đơn vị liên quan đã triển khai thực hiện

2.1.1.4 Văn hóa ẩm thực:

Trong kho tàng văn hóa ẩm thực, Việt Nam là quê hương của nhiều món ăn ngon , từ những món ăn dân giã trong ngày thường đến những món ăn cầu kỳ để phục vụ lễ hội và cung đình đều mang những vẻ riêng Mỗi vùng miền trên đất nước lại có những món ăn khác nhau và mang ý nghĩa riêng biệt tạo nên bản sắc của từng dân tộc Nó phản ảnh truyền thống và đặc trưng của mỗi cư dân sinh sống ở từng khu vực Từ thủa sơ khai, những người con đất Việt đã là chủ nhân

Trang 19

của nền văn hóa sông Hồng, trong đó nổi bật lên nền văn minh lúa nước Dù sinh sống ở miền đồng bằng, trung du hay trong những thung lũng miền núi thì

cư dân Lạc Việt vẫn gắn bó với cây lúa và duy trì cuộc sống định canh, định cư

Để đảm bảo thâm canh lúa nước ở vùng cao khắc nghiệt, từ xưa đồng bào Mông

đã chú ý làm thủy lợi, tận dụng sức mạnh của thiên nhiên để duy trì sự sống của mình Cùng với thời gian, ngày nay nếp sinh hoạt, ăn uống của người Mông vùng cao cũng có nhiều thay đổi, tuy rằng các sản vật trong đời sống hàng ngày đều lấy từ thiên nhiên hoặc do chính bàn tay lao động làm ra nhưng cách thức chế biến và ăn uống đã khác, mang tính cầu kỳ hơn Từ nhu cầu lương thực để

đủ ăn, nay lại là nhu cầu được thưởng thức món ăn Trong các món ăn hàng ngày cũng như lễ hội, họ rất chú trọng đến gia vị và màu sắc vì đặc điểm thiên nhiên ở đây giá lạnh, rất cần có những món ăn ấm, nóng với màu sắc mạnh Nếu như ăn uống trong ngày thường là yêu cầu trọng thực, đảm bảo nhu cầu no thì ở những phiên chợ đông vui, nhu cầu ăn uống cộng cảm được đặt lên hàng đầu Cùng với vẻ đẹp hấp dẫn của hàng ngàn điểm đến, các món ăn đậm bản sắc dân tộc, đặc trưng cho mỗi vùng miền trên đất nước cũng là yếu tố thu hút du khách nội địa khám phá, trải nghiệm những vùng đất khác nhau của Tổ quốc và thu hút du khách quốc tế tìm đến, thưởng thức và quay trở lại Việt Nam

Các món ăn dân tộc ngon miệng, đậm hương vị Việt còn góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế nhất Thông qua ẩm thực, văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được gìn giữ và phát huy Nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam đã đánh giá “Việt Nam là thiên đường ẩm thực” với những món ăn đặc sắc, hương vị thơm ngon không thể quên ở mỗi điểm đến Đến Hà Nội không du khách nào có thể quên hương vị của phở, bún riêu cua, bún ốc, bún thang, xôi gà, chả cá Lã Vọng, bánh tôm hồ Tây, bánh cốm, các món nem cuốn Ẩm thực miền Trung hấp dẫn du khách bởi các món bánh, món chè xứ Huế, mỳ Quảng, cao lầu…; còn vùng đất Nam Bộ lại đặc trưng bởi các món lẩu, nướng từ thủy, hải sản với các loại cây trái sẵn có Hàng triệu người

Trang 20

Việt Nam ở nước ngoài cũng đã góp phần mang món ăn truyền thống dân tộc phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, được biết đến nhiều nhất vẫn là món phở Các món ăn đặc sản trở thành sản phẩm du lịch văn hóa khi được phục vụ trong không gian văn hóa đặc trưng địa phương cùng với các dịch vụ bổ trợ phục vụ bữa ăn trở nên sinh động, hấp dẫn và đáng nhớ

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hoàng Thị Điệp nhận định, du khách quốc tế đánh giá cao ẩm thực Việt Nam Văn hóa ẩm thực đã góp phần quan trọng vào thành công của ngành du lịch trong những năm qua bởi ẩm thực hội tụ được sự độc đáo, đa dạng, phong phú và bản sắc văn hóa từ khâu lựa chọn nguyên liệu, chế biến món ăn cho đến khâu trang trí Qua ẩm thực, một phần bản sắc văn hóa của Việt Nam đã được gìn giữ và phát huy trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa quốc tế

2.1.2 Tài nguyên văn hóa phi vật thể

2.1.2.1 Lễ hội

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phán ánh đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí

Khái niệm lễ hội được định nghĩa: “ Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư, trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại Đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người đối với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội.” [ 3-1]

Nội dung của lễ hội bao gồm hai phần : phần Lễ và phần Hội

“ Lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trứng để hướng tới một nhân vật, sự kiện nào đó nhằm mục đích

Trang 21

cảm tạ, tôn vinh với mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng điển hình mà người ta thờ cúng.” – Tiến sĩ Dương Văn Sáu Hội là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người tham dự theo phong tục truyền thống, hội được biểu hiện thông qua các hoạt động gắn liền với sản xuất nông nghiệp, gắn với những biểu tượng điển hình của tâm lí cộng đồng Hội là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn… mang bản sắc văn hoá dân gian Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hoá truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó thường không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hoá mới Tuy nhiên những nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị cao và có sức hấp dẫn du khách

Mục đích của lễ hội là nhằm đánh dấu, kỉ niệm về một sự kiện hoặc một nhân vật ( lịch sử hoặc huyền thoại ) có liên quan đến đời sống của cộng đồng trong quá khứ Tổ chức lễ hội nhằm mục đích trở về, đánh thức cội nguồn, đánh thức truyền thống, những giá trị nhân văn cao đẹp, thiêng liêng , giáo dục chúng

ta phải biết gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị đó trong thời kì hiện tại

Lễ hội tưởng nhớ, tạ ơn và thể hiện ước mơ, nguyện vọng của con người đối với đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng Việc tổ chức các lễ hội giúp cố kết, thiết lập, mở rộng và nâng cao các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa

cá nhân với cộng đồng và cộng đồng này với cộng đồng khác trong xã hội và trên thế giới Đồng thời tổ chức lễ hội còn nhằm mục đích vui chơi, giải trí, thu nạp năng lượng, khởi nguồn cho sức sống mới cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội

Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%), tập trung chủ yếu vào mùa xuân, ngoài ra còn có hội thu – “ Xuân thu nhị kỳ” – mang bản chất chung của nền văn minh nông

Trang 22

nghiệp lúa nước Về quy mô, có những lễ hội diễn ra trên một vùng rộng lớn, ngược lại có lễ hội chỉ bó hẹp trong vài (thậm chí một) làng (xã) Có lễ hội kéo dài tới 3 tháng nhưng có lễ hội chỉ một vài ba ngày Lễ hội, trong phạm vi một quốc gia được chia thành Hội quốc gia ( Hội Đền Hùng ), Hội vùng ( Hội Chùa Hương, Hội Lim…) và Hội làng ( phổ biến ở hầu hết các làng xã Việt Nam) Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/ lần Những năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh Các lễ hội thường được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền Trần (Nam Định) Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) Các lễ hội diễn ra ở đình Làng là lễ hội cấp nhỏ nhất, chỉ với quy mô làng, xã

Một điều hết sức đặc biệt ở Việt Nam đó là hầu hết các lễ hội đều diễn ra ở các di tích lịch sử văn hóa Nếu như các di tích lịch sử là nơi ghi lại dấu tích, vết tích của các sự kiện lịch sử hay danh nhân văn hóa…thì lễ hội chính là thời điểm

để người ta tưởng niệm, ôn lại và tự hào về sự kiện hay danh nhân đó, qua đó giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn và noi gương người xưa

Có thể nói, lễ hội là một kho tàng văn hoá, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con người Việt Nam một cách trung thực Các sinh hoạt cộng đồng tích cực diễn ra trong ngày hội đã làm phong phú thêm bản sắc dân tộc Việt Nam Chính vì vậy mà nhiều năm gần đây, lễ hội trở thành đối tượng của khách du lịch Khách du lịch

có nhu cầu tham quan, tham sự, tìm hiểu về các lễ hội ngày càng lớn Do đó hiện nay lễ hội được coi là một bộ phận cấu thành nên tiềm năng du lịch cho đất nước, một tài nguyên nhân văn quan trọng phục vụ cho du lịch

Đối với ngành du lịch, lễ hội là một sản phẩm văn hoá đặc biệt Ngành du lịch càng phát triển, càng gắn kết với lễ hội truyền thống Tự thân ngành du lịch

Trang 23

trong bước đường phát triển của mình tự tìm đến với loại sản phẩm văn hoá đặc biệt này Đưa khách đến với lễ hôi truyền thống là nhằm để giới thiệu đất nước, con người Việt Nam hôm qua, hôm nay là giới thiệu các giá trị về văn hoá, tín ngưỡng của lễ hội, tính dân tộc và tính phổ quát của lễ hội Vì thế ngành du lịch đứng trước một khó khăn, đồng thời cũng là một yêu cầu phải khai thác di sản văn hoá này sao cho khoa học, đúng với đặc trưng lễ hội Trong di sản văn hoá của các thế hệ trước để lại, lễ hội dân tộc có tác dụng hữu hiệu với ngành du lịch không chỉ hôm nay mà cả ngày mai ở cả hai mặt: giới thiệu đất nước, con người

và kinh doanh Khai thác, giới thiệu những lễ hội dân tộc biến nó thành người bạn đồng hành trong cuộc sống hôm nay là công việc của ngành Du lịch Về cả phương diện giới thiệu bản sắc văn hoá dân tộc lẫn phương diện kinh doanh, ngành rất cần một thái độ khoa học, đúng hướng, sự hỗ trợ của các nhà văn hoá

Lễ hội dân tộc luôn có sức hấp dẫn và thu hút du khách, bởi đó là thế giới tâm linh của con người

2.1.2.2 Nghệ thuật dân gian truyền thống

Nghệ thuật dân gian là một thành tố quan trọng của mỗi nền văn hoá dân tộc ở Việt Nam, nghệ thuật ấy bao gồm nghệ thuật của dân tộc Kinh (Việt) tại các vùng châu thổ, và nghệ thuật của các dân tộc thiểu số miền núi Tất cả hợp thành nền văn hoá đa sắc tộc có cội nguồn lịch sử sâu xa Nghệ thuật dân gian, được hiểu là nghệ thuật truyền thống, hoặc cổ truyền, với 2 thành tố chính: nghệ thuật diễn xướng (nghệ thuật biểu diễn) và nghệ thuật tạo hình Chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với mọi mặt sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân trong toàn bộ lịch sử và là tiếng nói trực tiếp của họ Nghệ thuật dân gian truyền thống cũng chính là bộ bách khoa toàn thư vĩ đại, nơi kết tinh tri thức và tài năng, tư tưởng của nhân dân Nghệ thuật dân gian truyền thống còn góp phần nhìn nhận đúng đắn, toàn diện về nhân dân và lịch sử của đất nước mình Nghệ thuật dân gian truyền thống còn là cội nguồn nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc

Trang 24

Nghệ thuật dân gian truyền thống đóng một vai trò quan trọng trong cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc nói riêng và của Việt Nam nói chung Đồng thời nghệ thuật dân gian truyển thống còn là một yếu tố tạo nên sự đa dạng, phong phú trong kho tàng văn hóa văn hóa dân tộc và thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển

Nghệ thuật dân gian truyền thống là một bộ phận của văn hóa dân gian và góp phần hình thành tính dân tộc sâu đậm, đã trở thành những giá trị cơ bản hình thành nền văn hóa của đất nước Chính những giá trị văn hóa dân gian đó là tài nguyên du lịch nhân văn rất có giá trị, ngoài ra nghệ thuật dân gian truyền thống

và hoạt động du lịch còn có mối quan hệ gắn bó và tương tác lẫn nhau Khai thác các thế mạnh của nghệ thuật dân gian truyền thống để phát triển du lịch sẽ quay lại làm củng cố, phát triển bền vững hóa nền văn hóa, thúc đẩy sự hiểu biết

về nền văn hóa dân tộc Sự phát triển du lịch cũng là sự thăng hoa văn hóa, giao lưu văn hóa giữa các tộc người góp phần tạo nên bản sắc riêng cho con người Việt Nam Qua đó khách du lịch được tiếp xúc trực tiếp với cái loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống phong phú, lâu đời của các dân tộc từ đó nâng cao nhận thức, phẩm chất đạo đức, tình yêu quê hương, đồng bào…Thông qua việc phát triển du lịch văn hóa, thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác quốc tế,mở rộng hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, thông qua đó làm cho những con người sống ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn Ngày nay, các lĩnh vực thuộc nghệ thuật đương đại cũng rất thu hút du khách trong và ngoài nước như : nghệ thuật điêu khắc, múa, hát, mỹ thuật, điện ảnh…Đó chính là những giá trị tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống ngày hôm nay

2.1.2.3 Lối sống của cư dân bản địa

Trên cái nền chung của văn hóa dân tộc, mỗi vùng, mỗi xứ, mỗi miền với những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, sinh thái, tộc người, xã hội lịch sử của mỗi địa phương đã hình thành cho mình một bản sắc riêng trong cuộc sống

Trang 25

Lối sống là một phạm trù cơ bản của khoa học xã hội, một vấn đề phong phú, đa dạng và phức tạp Từ trước đến nay, về lối sống, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa

ra những định nghĩa khác nhau, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Ở một khía cạnh nhất định, định nghĩa nêu sau đây là hợp lý hơn cả: “Lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân, trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-

xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ; trong quan hệ giữa người với người; trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” Như vậy, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa Phương thức sản xuất là một hình thức hoạt động sinh sống nhất định của con người, là mặt

cơ bản của lối sống, thông qua đó mà con người biểu hiện đời sống của mình, biểu hiện bản thân mình Tìm hiểu lối sống, trước hết, phải bắt đầu từ phương thức sản xuất của con người, ở cả hai mặt: quan hệ với tự nhiên (lực lượng sản xuất) và quan hệ với xã hội (quan hệ sản xuất) Phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống

Lối sống của cư dân bản địa sẽ tạo nên những ấn tượng và tác động đến việc quay trở lại điểm du lịch của du khách Họ sẽ tìm đến những điểm du lịch có các

di tích lịch sử văn hóa, làng ngề, lễ hội, phong tục tập quán, lối sống độc đáo, đặc sắc của dân tộc, của đất nước

2.2 Nhu cầu du lịch văn hóa

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu phổ biến của xã hội, không những là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, các miền đất nước, các quốc gia với nhau mà còn là ngành kinh tế mũi nhọn, có đóng góp rất quan trọng vào ngân sách của nhiều quốc gia trên toàn thế giới Khi nhận thức của con người được nâng cao, kinh tế ngày càng ổn định và phát triển cùng với lượng thời gian rảnh rỗi mà họ có thì nhu cầu du lịch cũng ngày càng tăng cao

Du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt xã

Trang 26

hội, con người đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, làm cho cuộc sống trở nên phong phú, lý thú và bổ ích hơn

Nhu cầu du lịch là sự mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở của mình để có được những xúc cảm mới, trải nghiệm mới, hiểu biết mới,

để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khoẻ, tạo sự thoải mái dễ chịu

về tinh thần Còn nhu cầu của khách du lịch là những mong muốn cụ thể của khách du lịch trong chuyến du lịch Và bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại hình du lịch thu hút được rất nhiều khách

du lịch trong nước và quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng

để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Sự ra đời và phát triển du lịch văn hóa đã làm sống lại ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị

cổ xưa trong cả cộng đồng dân dư lẫn bản thân du khách tại các điểm di tích lịch

sử văn hóa, lễ hội cổ truyền, và làng nghề truyền thống Các yếu tố trên đã thúc đẩy nhu cầu du lịch văn hóa của con người ngày một tăng cao, trở thành một trong những nhu cầu du lịch chủ yếu mà du khách hướng tới

Nhu cầu du lịch văn hóa tìm kiếm những điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình Văn hóa giữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giống nhau, luôn khơi gợi sự tò mò, kích thích sự khám phá Bởi du lịch kể từ khi hình thành đã được coi là “sự mở rộng không gian văn hóa của con người”, con người ở những nền văn hóa khác nhau có nhu cầu di chuyển để tìm kiếm, trao đổi, học hỏi những cái mới lạ, trau dồi những cái tốt, bổ sung những cái thiếu, làm giàu vốn tri thức của mình sau khi những giá trị vật chất đã được thỏa mãn Chỉ có thông qua du lịch, sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa con người với con người,giữa dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia kia

Trang 27

mới diễn ra một cách tự nhiên và sâu sắc nhất Du lịch văn hóa giúp là một phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa của một cộng đồng tới một cộng đồng khác, hoặc tới những thế hệ khác, giúp họ hiểu được và trân trọng các giá trị đó, từ đó hình thành nhân cách và thế giới quan trên nền tảng dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa đó

Khi có nhu cầu du lịch văn hóa, du khách muốn được trở về với những giá trị truyền thống, về với nguồn cội của mình, tìm hiểu về những nét đẹp, sự độc đáo, thú vị của điểm đến Qua những chuyến đi, du khách sẽ được thưởng thức

vẻ đẹp của nơi đến, của những làn điệu ca múa, văn nghệ dân gian đắm say lòng người hay là những món ăn đặc trưng trong một không gian mang đậm văn hóa riêng của mỗi địa phương sẽ làm tăng thêm sự hiểu biết, tình yêu quê hương, đất nước trong mỗi con người Cùng với mỗi miền đất mà du khách khám phá, tìm hiểu, họ sẽ muốn mang về những sản phẩm đặc trưng, đặc sắc nhất của vùng đất

đó, đây chính là những món đồ lưu niệm, những món quà rất có ý nghĩa

3 Tiểu kết chương

Phát triển du lịch văn hóa và các sản phẩm du lịch văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống Nước ta là một nước có nền văn hóa truyền thống độc đáo với hàng trăm ngàn di tích có giá trị đặc biệt, hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống và rất nhiều các lễ hội tiêu biểu rất đa dạng, phong phú, sinh động Đây cũng là đất nước của 54 dân tộc sinh sống trong sự gắn bó đoàn kết, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán, một nền văn nghệ dân gian riêng Tiềm năng quý giá đó là điều kiện và tiền đề thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch văn hóa nước ta Hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đều phân bố ở những nơi có cảnh quan tự nhiên đẹp và hấp dẫn Đây không những là yếu tố hết sức thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và văn hóa mà còn là thanh nam châm của sức hút mạnh mẽ khách du lịch đến với Việt Nam

Trang 28

Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước, loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam Thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Chính vậy, để duy trì được sự phát triển lâu bền cho ngành du lịch, phải quán triệt đường lối đã được chỉ ra trong nghị quyết Đại hội lần thứ 8 của Đảng : “ Phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa sinh thái môi trường Xây dựng các chương trình du lịch và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh” Đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và các yếu tố khác như cơ sở vật chất, giao thông, vận chuyển… để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu du lịch, đặc biệt là nhu cầu du lịch văn hóa của du khách

Các tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể trở thành nền tảng cốt lõi hình thành sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của khách du lịch thông qua các chuyến du lịch Có thể khẳng định du lịch văn hóa tạo ra giá trị cho sản phẩm du lịch, thể hiện sự đặc sắc, độc đáo, tinh túy và khác biệt mà khách du lịch trải nghiệm và hài lòng với nền văn hóa tại điểm đến

Trang 29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH

VĂN HÓA TẠI HÀ NAM

1 Tổng quan về tỉnh Hà Nam

1.1 Lịch sử hình thành

Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình thuộc

bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi là phủ Lý Nhân

1996, tỉnh Hà Nam được tái lập

Trang 30

1.2 Vị trí địa lí

Hà Nam có vị trí địa kinh tế- chính trị thuận lợi, nằm kề thủ đô Hà Nội trên trục hành lang Bắc Nam, lại là cửa ngõ quan trọng của các Tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và các Tỉnh phía Nam vào Hà Nội Thành phố Phủ lý vừa nằm trên trục Bắc Nam, vừa nằm trên đường vành đai của vùng Hà Nội,…Đó là lợi thế so sánh rất quan trọng tạo cơ hội cho Hà Nam thu hút mạnh mẽ thị trường khách du lịch xuyên Việt và thị trường khách du lịch cuối tuần của Thủ đô Hà Nội và các Tỉnh lân cận để tạo ra những bước phát triển đột phá trong du lịch

Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng Phía Bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Đông Nam giáp tỉnh Nam Định và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình Phân bố trong một không gian giàu tiềm năng du lịch, cận kề với những điểm du lịch trọng yếu của đồng bằng sông Hồng như Chùa Hương (Hà Nội), Phố Hiến (Hưng Yên), Đền Trần (Nam Định), Bái Đính – Tràng An (Ninh Bình), nằm trên tuyến du lịch xuyên Việt

1.3 Kinh tế văn hóa xã hội

Hà Nam là tỉnh có nền văn minh lúa nước lâu đời, là vùng đồng bằng chiêm trũng đặc trưng với nền văn hóa dân gian phong phú, thể hiện qua các di tích lịch sử nổi tiếng, các lễ hội dân gian, các làng nghề thủ công truyền thống, các làn điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào, đặc biệt là hát dậm Những năm đã qua là chặng đường đầy khó khăn đối với cả nước nói chung và Hà Nam nói riêng trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, kinh tế

xã hội gặp những khó khăn gay gắt, sản xuất tăng chậm, hiệu quả sản xuất chưa cao, phân phối lưu thông còn lúng túng, đời sống nhân dân còn nghèo, các hiện tượng tiêu cực xảy ra nhiều, nhưng Hà Nam vẫn đạt được một số thành tựu quan trọng, từng bước tháo gỡ khó khăn, phát triển kinh tế - văn hóa xã hội

Trang 31

Hà Nam là vùng đất giàu tiềm năng để phát triển một nền kinh tế đa dạng

Từ sau khi tái lập tỉnh đến nay, kinh tế xã hội của Hà Nam đã có những bước tiến vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo tiền đề cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Nền kinh tế của tỉnh phát triển với tốc độ tương đối cao và khá bền vững Tuy vẫn là một tỉnh nông nghiệp nhưng

cơ cấu giữa các ngành kinh tế đã và đang được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp

1.4 Tiềm năng du lịch văn hóa của Hà Nam

Tài nguyên du lịch văn hóa của Hà Nam khá phong phú, đa dạng và tương đối đặc thù Địa hình Hà Nam đa dạng tạo ra những cảnh quan đặc sắc với những thắng cảnh nổi tiếng trong nước như: Kẽm Trống, Bát cảnh tiên, hồ Tam Chúc, Ngũ động sơn, hang Luồn Đặc biệt hệ thống sông hồ dày đặc với vẻ đẹp thơ mộng của sông Hồng, sông Đáy, sông Châu,…cùng với hệ sinh thái nông nghiệp vùng chiêm trũng điển hình là những nét độc đáo, có khả năng cuốn hút cao trong xu thế đô thị hóa hiện nay

Các di tích lịch sử tuy không nhiều, nhưng có giá trị khá nổi bật như: Đền Trần Thương, Đền Lảnh, chùa Bà Đanh, chùa Long Đọi Sơn, đền Trúc và hệ thống lễ hội, làng nghề, văn hóa dân gian đặc sắc Đặc biệt, Hà Nam là đất khoa bảng với những danh nhân nổi tiếng trong lịch sử dân tộc như: Tam Nguyên Yên

Đổ Nguyễn Khuyến, nhà văn liệt sỹ Nam Cao

Nguồn tài nguyên du lịch Hà Nam phân bố khá tập trung và dễ tiếp cận, gần thủ đô Hà Nội, nằm trên các trục hoạt động du lịch chính của quốc gia; lại liên kết thuận lợi với các điểm du lịch nổi tiếng của cả nước như: Chùa Hương, Chùa Bái Đính, Hoa Lư, Đền Trần rất thuận tiện cho việc liên kết phát triển du lịch

Hà Nam có hệ thống kết cấu hạ tầng gắn liền với hệ thống hạ tầng quốc gia, đặc biệt hệ thống giao thông ( đường bộ, đường thủy, đường sắt) được đầu

tư tương đối đồng bộ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy đầu tư du lịch So với

Trang 32

nhiều tỉnh khác, Hà nam là tỉnh đi sau trong phát triển du lịch nhưng lại có cơ hội để rút kinh nghiệm từ những tỉnh khác để có được một chiến lược qui hoạch hoàn chỉnh và các phương án đầu tư hợp lý đảm bảo mục tiêu bền vững

Các hoạt động kinh doanh du lịch từng bước đã đi vào nề nếp và phát triển theo đúng các quy định của nhà nước Hiện nay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nam đang tiến hành triển khai thực hiện một số dự án đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng phát triển du lịch, đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào khai thác tài nguyên du lịch của Hà Nam

Biểu đồ 1 : So sánh tiềm năng tài nguyên du lịch Hà Nam với các tỉnh phụ cận

2 Hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa tại Hà Nam

Tài nguyên du lịch văn hóa tại Hà Nam gồm có các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người, lễ hội truyền thống, văn nghệ dân gian và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.Các tài nguyên này mang những giá trị tiêu biểu, đặc thù trong mối quan hệ chung của vùng đồng bằng sông Hồng có thể khai thác để phát triển các loại sản

Trang 33

phẩm du lịch Các nguồn tài nguyên du lịch văn hóa lịch sử được quan tâm bảo tồn tốt, lại nằm trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với các điểm du lịch quan trọng của vùng.Tuy nhiên, việc đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa còn hạn chế

Bảng1: Các điểm tài nguyên du lịch văn hóa chính của Hà Nam

Các điểm tài nguyên du

lịch cấp quốc gia Địa chỉ

Các điểm tài nguyên du lịch cấp tỉnh

Đền Lảnh Giang Xã Mộc Nam Chùa Bạch Liên Xã Trác Văn

Bình Từ đường Nguyễn Đình Cổ Viễn,

Trang 34

Lục Khuyến

Đình Bồ Đề,

Đình Vị Hạ Xã Trung

Lương Đình Nam

Đình Triều Hội Xã Bồ Đề Đình Đinh Xã Đình Xá

Lý Nhân Khu di tích Nam Cao Xã Hòa Hậu Đình Văn Xá, Xã Đức Lý

Đền Trần Thương Xã Nhân Đạo Đình Thọ Chương Xã Nhân Đạo

Tht Kiện Khê

Chùa Trinh Tiết Khu di tích Đinh

Lê Khu văn hoá Liễu Đôi Đình An Hòa Xã Thanh Hà Làng nghề thêu ren Hoà

Ngãi

Đền Lăng Xã Liêm Cần

Nguồn: Số liệu của Sở VHTTDL

2.1 Tài nguyên văn hóa vật thể của tỉnh Hà Nam

2.1.1 Các di tích lịch sử - văn hóa

Theo số liệu thống kê hiện nay, Hà Nam có tổng cộng 1260 di tích, trong đó

có 483 ngôi đình, 447 ngôi chùa, 161 ngôi đền, 122 miếu, 33 phủ, văn chỉ, từ

Trang 35

BẢNG 60 66 25 - 24 - - - 1 176 THANH

LIÊM 77 84 23 6 17 2 209 BÌNH

LỤC 130 92 44 10 16 3 1 296

NHÂN 114 97 42 13 46 1 313

Nguồn: Số liệu của Sở VHTTDL

Nhìn chung Hà Nam là tỉnh có mật độ di tích khá cao, khoảng 15 di tích/km2 Các di tích lịch sử văn hoá Hà Nam đều có chất lượng và giá trị hấp dẫn đối với du lịch, tiêu biểu như Đền Trần Thương, đình Văn Xá, đình Thọ Chương (Lý Nhân); Chùa Long Đọi Sơn, đền Lảnh Giang, đình Lũng Xuyên

Trang 36

(Duy Tiên); Chùa bà Đanh, đền Trúc, đền Bà Lê Chân (Kim Bảng); Chùa Châu, Chùa Tiên, khu di tích Đinh Lê, khu văn hoá Liễu Đôi (Thanh Liêm); Nhà từ đường Nguyễn Khuyến, đình Cổ Viễn, đình Bồ Đề (Bình Lục)…

Dưới đây là các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của, có vai trò rất quan trọng trong

2.1.1.1 Các di tích chùa tháp

Chùa Bà Đanh – Núi Ngọc

Chùa Bà Đanh cách thị xã Phủ Lý chừng 15km, men theo con đê tả ngạn sông Đáy là đến xã Ngọc Sơn (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).Chùa Bà Đanh ngự bên bờ sông Đáy hiền hòa, chùa không lớn, không nguy nga tráng lệ nhưng được đặt trong khung cảnh thôn dã, um tùm những bóng cây cổ thụ Trên một bãi đất bồi cao, quanh chùa không có nhà ở Nằm bên cạnh là dòng sông Đáy lững lờ trôi, thưa thớt thuyền bè

Trong đền có bức tượng rất đẹp của vị thần mưa với dáng hình của người con gái có dung mạo khả ái, hiền từ Đến đời Lê Hy Tông (1675-1705) đền được xây dựng lại to đẹp, khang trang hơn Rồi họ rước tượng Phật về thờ chung Lưu truyền, người có công dựng chùa là Bà Đanh Để tưởng nhớ công ơn, dân làng lấy tên chùa là chùa Bà Đanh Năm 1994 chùa Bà Đanh được Bộ Văn hóa, Thể Thaovà Du lịch cấp bằng di tích lịch sử-văn hóa

Có nhiều lý do để chùa Bà Đanh đi vào tục ngữ dân gian Việt Nam và là câu cửa miệng để mỗi người khi muốn nói về cảnh vắng vẻ, âm u của một nơi nào

đó Về với chùa Bà Đanh trong mùa lễ hội đang nô nức trên cả nước, cái không khí lạnh lẽo, thâm u vẫn bao trùm

Có ý kiến cho rằng, chùa Bà Đanh nằm ở vị trí , u tịch, xa dân cư, ba mặt là sông, rừng rậm chắn lối ra vào độc đạo và có nhiều thú dữ Tương truyền, chùa lại rất linh, ai trái ý là bị quở phạt nên khách thập phương vốn đã ít lại càng thưa vắng Ngay cả bãi bồi màu mỡ bên cạnh chùa dân địa phương cũng không dám

Trang 37

canh tác Nhưng mấy năm gần đây, con đường dẫn vào chùa được mở rộng, lát

bê tông, rừng cây bớt rậm rạp, dân cư ở đông hơn vậy mà chùa vẫn vắng?

Có người còn cho rằng chùa Bà Đanh là ngôi chùa thờ thần mưa, người xưa lập đền thờ để mong mưa thuận, gió hòa Dần dần người dân nhận ra rằng, thời tiết là do tự nhiên, không thể cầu khấn, chùa Bà Đanh cũng từ đó thưa người đến cúng viếng ? Câu nói cửa miệng cùng với những truyền thuyết dân gian đã tạo cho chùa Bà Đanh một nét riêng, không nơi nào có được Nhưng cũng chính lời chê “vắng tanh ” ấy lại là một “ẩn số” để những khách du lịch, nhà nghiên cứu lần mò vạn dặm về thăm chùa Theo sư thầy Thích Đàm Đam: “Dăm bảy năm nay khách thập phương cũng tìm về đông hơn Hầu như họ về đây chỉ để có câu trả lời: Vì sao chùa Bà Đanh lại vắng đến thế?”

Từ câu nói cửa miệng dân gian, cái vắng vẻ của chùa Bà Đanh dường như

là một “thương hiệu” để cho ngôi chùa trường tồn cùng thời gian và được những người thích khám phá thường xuyên tìm về viếng thăm nét hoang sơ vẫn còn giữ được.Sư thầy Thích Đàm Đam cho biết: “Chùa nay không vắng khách như trước nữa Nhiều hôm chùa đón đến hàng trăm khách đến hành hương Có người đã đến nhiều lần…”

Từ ngày 25 - 26/03/2011 (tức 21 - 22/2 Tân Mão), lễ hội chùa Bà Đanh đã được tổ chức với nhiều nghi thức và diễn xướng truyền thống cổ như lễ cáo yết,

lễ mộc dục hay lễ rước thành Hoàng Làng cùng các trò chơi dân gian như: Bịt mắt đập niêu, đua thuyền trên sông, chọi gà… thu hút hàng ngàn du khách tới tham dự

Trong tương lai gần chùa Bà Đanh với đền Trúc, Ngũ Động Thi Sơn (núi Cấm), khu du lịch sinh thái Tam Chúc (Ba Sao), Bát cảnh Tiên cùng với hệ thống các bến thuỷ dọc dài sông Đáy từ ngã 3 Hồng Phú, thành phố Phủ Lý sẽ hợp thành một tua du lịch “non nước hữu tình” giữa đường thuỷ và đường bộ, khá hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước

Trang 38

Sau khi thắp hương ở chùa, du khách đi tiếp lên đỉnh núi Ngọc, sẽ được ngắm nhìn vườn cây trái xum xuê, trong đó có cây si già ngàn năm tuổi.Với cảnh quan trời mây sông nước hữu tình, lại có chùa Bà Đanh rất linh thiêng, điểm du lịch này ngày càng thu hút đông đảo khách thập phương đến lễ Phật vãn cảnh

Núi Ngọc là một ngọn núi đá vôi trong hệ thống núi đá kéo dài từ Hòa Bình xuống hướng tây bắc đông nam qua xã Tượng Lĩnh – Khả Phong – Liên Sơn của huyện Kim Bảng Tuy nhiên núi Ngọc nằm tách riêng, ngăn cách vệt dãy núi kia bằng con sông Đáy Núi Ngọc không cao lắm Ở đây cây cối mọc nhiều, cây to cây nhỏ mọc chen nhau cành lá xum xuê do dân địa phương có ý thức giữ gìn Trên núi có một cây si cổ thụ, tương truyền có tới hàng trăm tuổi Đứng trên ngọn núi, du khách có cảm tưởng như được tách riêng biệt khỏi sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống hiện đại để hòa mình vào sự yên tĩnh thuần khiết của thiên nhiên với núi, sông, cây cỏ Ngay dưới chân núi có một ngôi đền cổ thờ một ông nghè có công với dân làng

Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên, chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa Nằm hoàn toàn biệt lập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc là một thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn

Đền Trúc – Ngũ Động Sơn

Đền Trúc - Ngũ Động Sơn thuộc thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim

Bảng, tỉnh Hà Nam Đền thờ người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt Khu danh thắng này có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, núi non trùng điệp, đền Trúc nằm giữa rừng Trúc nên thơ, có hệ thống hang động độc đáo

Cách thành phố Phủ Lý 8km, ngay bên đường 21A, có quả núi nhỏ hình dáng con sư tử, mang tên Núi Cấm Ngọn núi chứa đựng một huyền tích nên đã trở thành địa danh được nhiều người biết đến Đến thăm đền Trúc, du khách sẽ được nghe câu chuyện được lưu truyền bao đời về vị anh hung Lý Thường Kiệt,

Trang 39

được ngắm rừng trúc xanh mướt bạt ngàn, trúc xanh như tóc, trĩu xuống tạo nên một cảm giác thật thiêng liêng mà đẹp mắt

Ngôi đền được dựng ở giữ khu rừng trúc rộng hàng chục mẫu, nên mang tên đền Trúc Sau ngót ngàn năm, rừng trúc giờ không còn nguyên xưa,nhưng xung quanh đền vẫn muôn ngàn bóng trúc Những cây trúc thân vàng óng, thướt tha trong gió càng tôn cho phong cảnh nơi đây thêm thơ mộng Với sự biến đổi của thời gian ngôi đền chỉ còn giữ một số nét căn bản

Ngôi đền được dựng bằng gỗ lim, cao trên 6m Nhà tiền đường là một công trình 5 gian Hệ thống vì kèo biền thế kiểu giá chiêng đồng rường con nhị xuất hiện cuối thế kỉ 17 và phổ biến cuối thế kỉ 19 Ba gian hậu cung được xây dựng cùng một phong cách với nhà tiền đường, có 2 đầu bịt đốc, lợp ngói nam, xây bằng gạch thất, bắt mạch để trần Trên hệ thống cửa có trạm trổ theo các đề tài

tứ quý

Về thăm đền Trúc, không thể quên ghé vào Cuốn Sơn(nay gọi là núi Cấm) kề bên Có lẽ vì gắn bó với điểm linh ứng năm xưa nên ngọn núi có ý nghĩa tâm linh với dân trong vùng Cũng vì thế mà núi Cấm vẫn giữ được nhiều nét nguyên

sơ với hệ sinh thái phong phú Trên đỉnh núi Cấm có một bàn cờ thiên tạo bằng

đá - nơi các vị tiên thường rủ nhau về mở hội uống rượu chơi cờ và ngắm cảnh trần thế Ngay cạnh bàn cờ còn có một ô vuông được gọi là huyệt đế vương Núi Cấm còn có hệ thống hang động độc đáo: 5 hang nối liền nhau, tạo thành động liên hoàn, gọi là Ngũ Động Sơn Cấu trúc hang động vô cùng đa dạng với nhiều loại thạch nhũ muôn hình vạn trạng, gợi cho du khách sức tưởng tượng phong phú: hình bầu sữa mẹ, nồi cơm mở vung, hình con voi, con rùa Màu sắc,

độ xốp, da nhũ cũng khác nhau Có nhũ ẩn sâu trong bóng tối gặp ánh đuốc rọi vào bỗng rực lên như châu ngọc Có nhũ mang hình chiếc chống nằm, trống treo, đàn mõ, mà thật đặc biệt, khi đánh lên, âm vang như thật

Phong cảnh nên thơ, đặc sắc của núi Cấm đã từng làm nao lòng bao mặc khách tao nhân để làm nên sự lưu luyến bằng những bài thơ hay để lại cho đời

Trang 40

Ngày nay, đặc biệt vào mỗi dịp lễ Tết, có rất nhiều du khách tìm về thăm đền Trúc, Ngũ Động Sơn Quang cảnh ở đây vẫn giữ nguyên vẻ hoang sơ, hữu tình khiến cho du khách như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh để sang năm, lại muốn lạc bước tìm về

Chùa Long Đọi Sơn

Vị trí: Chùa Long Đọi Sơn tọa lạc trên đỉnh núi Long Đọi, thuộc địa phận xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, cách thị trấn Đồng Văn16km (qua thị trấn Hòa Mạc), cách quốc lộ 1A chừng 6km

Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử, là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của nước ta ở thế kỉ thứ XI Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội Chùa Long Đọi Sơn có tên là Diên Linh tự Chùa do vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 (tể tướng Dương Đại Gia và thiên sư Đàm Cứu Chỉ được mời đến trụ trì và tham gia xây dựng) Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121 Các công trình ở đây là chùa và tháp Chùa Long Đọi Sơn đã đứng vững hơn ba trăm năm Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hoá nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ Ngoài ra chùa vẫn bảo tồn và gìn giữ các bức tượng quý như tượng Kim Cương, tượng đầu người mình chim, pho tượng Di Lặc bằng đồng và những mảng gốm trang trí

Hiện nay chùa đã được đầu tư trùng tu tôn tạo khang trang, bề thế, là một trong những điểm du lịch có sức hấp dẫn lớn đối với du khách

2.1.1.2 Di tích gắn với danh nhân

Mảnh đất Hà Nam đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước Kể từ khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919) tỉnh Hà Nam đã có 53 người đỗ đạt

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w