nương dâu xanh vừa có thể thưởng ngoạn thẩm nhận những nét văn hóa, những tinh hoa của dân tộc Việt, những gì tạo nên bản sắc của người Việt, hun đúc khí phách anh hùng người Việt và một
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA DU LỊCH
- -
DU LỊCH KHÁM PHÁ VĂN HÓA VĂN MINH VIỆT
QUA NHỮNG DÒNG SÔNG CỔ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: TH.S.BÙI THANH THỦY
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN DIỆU HƯƠNG
Lớp : VHDL 16C
Niên khóa : 2008 – 2012
HÀ NỘI 2012
Trang 2Cũng qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn tới thư viện quốc gia Hà Nội, thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã cung cấp cho tôi những tài liệu bổ ích cho bài khóa luận
Cuối cùng lời cảm ơn này tôi xin dành cho gia đình, người thân bạn
bè những người đã động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành bài khóa luận
Hà Nội ngày 20 tháng 5 năm 2012
Sinh Viên Nguyễn Diệu Hương
Trang 3MỤC LỤC
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Tình hình nghiên cứu 8
5 Các phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục đề tài 8
Chương 1 : NHỮNG DÒNG SÔNG GẮN VỚI NỀN VĂN MINH VĂN HÓA VIỆT 9
1.1 Việt Nam đất nước những dòng sông 9
1.2 Sông Hồng, sông Mã, hai con sông mẹ của đất Việt cổ 13
1.2.1 Sông Hồng 13
1.2.2 Sông Mã 16
1.3 Văn hóa, văn minh Việt 20
Chương 2 : KHÁM PHÁ VĂN HÓA VĂN MINH VIỆT QUA NHỮNG DÒNG SÔNG 23
2.1.2 Giá trị lịch sử 29
2.1.3.Giá trị văn hóa 41
2.2 Ý nghĩa của việc xây dựng chương trình du lịch tìm hiểu văn hóa, 61
Trang 42.3 Xây dựng chương trình du lịch khám phá văn hóa văn minh Việt qua
các dòng sông cổ 65
2.3.1 Khảo sát lựa chọn các dấu tích lịch sử gắn liền với dòng sông 65
2.3.2 Kết nối tạo thành chương trình 66
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP ĐỂ TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH KHÁM PHÁ VĂN HOÁ VĂN MINH VIỆT QUA CÁC DÒNG SỐNG CỔ TRÊN THỰC TẾ 72
3.1 Giải pháp chung 72
3.2 Giải pháp mang tính nghiệp vụ 77
3.2.1 Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch 77
3.2.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp lữ hành 80
3.2.3 Giải pháp về hướng dẫn viên 81
3.2.4 Tổ chức thực hiện chương trình 83
3.2.5 Phương thức quảng cáo chương trình du lịch 85
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nước Việt Nam có nhiều dòng sông lớn nhỏ, rộng hẹp khác nhau nhưng hầu như vùng, miền nào cũng có Từ “Nước” trong Tiếng Việt có nghĩa là tổ quốc, lãnh thổ, quốc gia Từ Bắc chí Nam đất nước hình chữ S có
2860 con sông.Với hệ thống các dòng sông và cảnh quan ven sông đa dạng đó
là điều kiện để phát triển loại hình du lịch du ngoạn trên sông Ngoài hệ thống con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Tiền, sông Hậu, sông Đông Nai còn có rất nhiều dòng sông rải khắp cả nước như sông Gâm, sông Chảy, sông Luộc, sông Mã, sông Lam, sông Ngàn Phố, sông La, sông Gianh, sông Hiền Lương, sông Hương, sông Hàn, sông Trà Khúc, sông Xê rê phốc, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông…Vì vậy Việt Nam được xếp vào 1/10 quốc gia có mật độ sông cao nhất thế giới Mỗi dòng sông như vậy gắn liền với cảnh quan làng xóm bờ đê trù phú bên sông Mỗi một dòng sông mang một cảnh sắc riêng gắn liền với bao huyền thoại cổ tích, kỷ niệm của những lớp người sinh sống ven sông
Và ngày nay khi quá trình đô thị hóa tăng nhanh, nhịp sống công nghiệp diễn ra mạnh mẽ khắp nơi, môi trường sống chật hẹp làm nảy sinh những nhu cầu về với thiên nhiên hòa mình vào không gian xanh Hơn thế nữa là cùng với sự thay đổi không gian đó con người được khám phá tìm hiểu
về lịch sử cội nguồn của dân tộc Xuôi theo dòng chảy của sông du khách được tìm về những nơi còn gìn giữ được chút gì đó của nền văn hóa xưa những làng nghề có những ngôi chùa mái cong, cây đa bến nước, mái đình, những dấu tích di tích lịch sử mang trong mình cả bề dày dựng nước và giữ nước của dân tộc.Vừa đắm mình trong khung cảnh sông nước êm đềm cảm nhận được hơi thở không khí trong lành và ngắm nhìn những bãi mía, những
Trang 6nương dâu xanh vừa có thể thưởng ngoạn thẩm nhận những nét văn hóa, những tinh hoa của dân tộc Việt, những gì tạo nên bản sắc của người Việt, hun đúc khí phách anh hùng người Việt và một nền văn minh được hình thành
từ sông nước cội nguồn của sự phát triển
Phải chăng khẳng định rằng hệ thống sông ngòi là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị Ngành du lịch có thể khai thác để đáp ứng nhiều nhu cầu du khách tạo nên sự đa dạng về sản phẩm Tuy nhiên cho đến nay, tiềm năng du lịch đăc sắc này còn chưa được khai thác xứng đáng và du lịch sông nước mới
ở giai đoạn đầu của sự phát triển Cũng đã có một số công ty du lịch đã triển khai chương trình du lịch trên sông như: tour du lịch sông Hồng, tour du lịch sông Hương, tour du lịch trên sông Sài Gòn…Vì vậy để góp phần làm cho du lịch đường thủy phong phú khai thác những giá trị to lớn của dòng sông nhất
là vai trò của những dòng sông đối với sự hình thành các khu dân cư tạo nên những dấu ấn lịch sử, văn hóa, văn minh của dân tộc, tôi quyết định chọn đề tài: “Du lịch tìm hiểu lịch sử văn hóa, văn minh Việt qua những dòng sông cổ” Một chương trình du lịch mới mẻ giúp khách có thêm một lựa chọn mới
để khám phá nét tinh hoa văn hóa Việt
Trang 73 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những gía trị cảnh quan, lịch sử văn hóa của những dòng sông
- Trong khuôn khổ của đề tài, để chứng minh sức hấp dẫn, giá trị tiềm
ẩn của những dòng sông đối với sự phát triển du lịch, khóa luận tập trung nghiên cứu hai con sông là sông Hồng và sông Mã cùng với dấu tích vật chất
và tinh thần mà chúng để lại với đoạn chảy ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ từ thời sơ sử tới thời kỳ phong kiến tự chủ chứng minh sự hình thành phát triển của dân tộc Việt
Một số thuật ngữ sử dụng trong đề tài:
- Dòng sông cổ: Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều con sông lớn nhỏ khác nhau Nhưng không phải dòng sông nào cũng là dòng sông cổ
Cổ ở đây vừa có ý nghĩa về mặt thời gian nhưng đồng thời đó là nơi có con người đến tụ cư phát triển và tạo dựng văn hóa, văn minh của loài người
- Thuật ngữ “văn hóa”: Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam,
PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sang tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [1, tr.27]
- Thuật ngữ văn minh: Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học đưa
ra khái niệm về văn minh: Văn minh là trình độ phát triển đạt đến mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng [2, tr 1101]
Trang 84 Tình hình nghiên cứu
Viết về dòng sông và những dấu tích vật chất và tinh thần đã đuợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Dưới góc độ địa lý có cuốn “Thiên nhiên Việt Nam”của Lê Bá Thảo, tác giả Đỗ Phương Quỳnh với “Hà Nội đội bờ sông Hồng lịch sử văn học’’ dưới góc độ văn hóa, “Những nền văn hóa cổ đôi bờ sông Mã” của nhà xuất bản Thanh Hóa và nhièu cuốn tư liệu khác Nhưng đưa dòng sông cùng với những dấu tích của chúng vào trong khai thác du lịch thì chưa có công trình nào nghiên cứu sâu hay mang tính chất chuyên biệt Đây là một đề tài hoàn toàn mới
5 Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp liên ngành du lịch, văn hóa, lịch sử, khảo cổ học
- Phương pháp nghiên cứu thống kê sưu tầm tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực địa
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tư liệu
Chương 3: Giải pháp để triển khai chương trình du lịch khám phá văn hóa, văn minh Việt qua những dòng sông cổ trên thực tế
Trang 9Chương 1 NHỮNG DÒNG SÔNG GẮN VỚI NỀN VĂN MINH VĂN HÓA VIỆT
1.1 Việt Nam đất nước những dòng sông
Nhìn lên bản đồ sông ngòi Việt Nam ta thấy ngay một mạng lưới sông ngòi dày đăc tất cả có đến 2360 con sông Việt Nam có trên 3/4 diện tích là đồi núi và cao nguyên Cấu tạo của chúng ảnh hưởng đối với mạng lưới sông ngòi, tuy cùng đổ ra Thái Bình Dương nhưng đường đi nhiều khê, nhiều ngả
Phần lớn núi đồi ở Việt Nam đều được cấu thành từ thời kỳ vận động tạo sơn Hymaylaya Hình thái của nhiều khối núi chia đi nhiều hướng, khiến sông suối cũng phải tuân theo, làm cho bản đồ đại lý nước ta không đơn diệu
Trải rộng trên địa hình phức tạp từ Bắc xuống Nam sông ngòi Việt Nam mang nhiều tính chất khác nhau, khi thì dòng chảy suôn sẻ khi thì uốn khúc quanh co, khi hiền hòa có khi dữ dội gây lụt lội
Miền Bắc có 2 hệ thống sông chính là hệ thống sông Thái Bình và hệ thống sông Hồng Sông Thái Bình có các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu Sông Hồng còn gọi là Nhị Hà bắt nguồn từ Vân Nam, Trung Quốc mang nhiều phù sa bồi đắp thành một vùng đồng bằng phì nhiêu mang tên châu thổ Sông Hồng
Miền Trung chỉ có 2 con sông lớn là sông Mã và sông Cả Các con sông khác đều ngắn vì núi ăn gần biển như sông Gianh (Phân chia đất nước thời Trịnh Nguyễn), sông Bến Hải chia đôi Việt Nam từ 1954- 1975, sông Hương (chảy qua thành phố Huế) nay còn di tích cố đô nhà Nguyễn
Trang 10Miền Nam cũng có 2 hệ thống sông chính là hệ thống sông Đồng Nai và
hệ thống sông Cửu Long- Đồng Nai có các phụ lưu là sông La Ngà ở tả ngạn
và hữu ngạn là sông Bé với thác Trị An hùng vĩ sông Sài Gòn và Vàm Cỏ
Hướng chính của sông ngòi là hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung, đồng thời đổ ra biển Đông, theo hướng của cấu trúc địa chất – địa hình Tuy nghiên cũng có những ngoại lệ như hướng Đông Nam – Tây Bắc của sông Kỳ Cùng, của Nậm Sạp, Nậm Pan, Nậm Muội, Crông Knô Trên cùng một dòng sông cũng có những khúc già khúc trẻ xen kẽ, điển hình nhất
là các sông chảy trên cao nguyên xếp tầng như trường hợp của các sông Đa Đưng và Đa Nhim Trong vùng núi mà phần lớn là các sông trẻ đang đào lòng
dữ dội, thung lũng hẹp, có nơi là những hẻm vực, thì tồn tại cả những thung lũng già có bãi bồi, thêm đất, thuận tiện cho quần cư và khai thác nông nghiệp Hiện tại chỉ có suối nhỏ đang chảy ở đó, còn sông lớn tạo ra thung lũng đã dịch chuyển đi, như đoạn thung lũng của sông Kỳ Cùng từ Lạng Sơn đến Nà Sầm, đoạn thung lũng cũ của sông Hồng từ Bát Xát đến Cam Đường Nhiều sông có những khúc chuyển hướng đột ngột gần như thẳng góc bằng chứng của những sự cướp dòng như khuỷu Thất Khê trên sông Kỳ Cùng, như đoạn Xiền Lâm- Cửa Rào trên sông Cả, như khúc ngoặt Đa Crông trên sông Thạch Hãn, hoặc khúc ngoặt trên sông La Ngà khi chảy từ cao nguyên Di Linh xuống Đông Nam Bộ Tất cả những đặc điểm ấy phản ánh tính chất già trẻ lại và tính chất phân bậc của địa hình của đồi núi nước ta Sông chảy qua vùng đá diệp thạch thường có thung lũng rộng, thoải và đối xứng, còn cùng đá vôi thì sườn cao, vách đứng Cũng do độ cứng khác nhau của đá mà khi qua vùng đá rắn thường lắm thác ghềnh như thác Bà trên sông Chảy, thác Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng, thác Pông Gua trên sông Đa Nhim Mật độ sông ngòi
ở những vùng đá vôi thuộc loại thấp nhất, dưới 0,5 km/km2, đồng thời lượng dòng chảy mặt giảm rõ rệt Vùng đá Bazan có lớp vỏ phong hóa này khả năng
Trang 11thấm nước lớn cũng làm giảm dòng chảy, mật độ sông suối cũng thưa dưới 0,5km
Ở Việt Nam, sông ngòi có lưu lượng bình quân tới 26000m3/s tương đương với tổng lượng lượng nước là 839 tỷ m3/năm chia cho diện tích được 2,5 triệu m3/km2 Trong tổng lượng nước này phần được sinh ra trên lãnh thổ nước ta chỉ được 338 tỷ m3/ năm chiếm khoảng 40,3% cong phần từ nước ngoài chảy vào lên tới 501 tỷ m3/ năm chiếm 59,7% trong đó tuyệt đại bộ phận là qua sông Cửu Long (451 tỷ chiếm 90% dòng chảy từ ngoài vào và 54% tổng lượng nước) Ngoài ra có 1% tổng lượng nước từ Việt Nam chảy ra bên ngoài khoảng 8,9 tỷ m3/năm
Như vậy với một mạng lưới 2360 con sông một tổng lượng nước 839 tỷ
m3/năm và 200 triệu tấn phù sa/năm, nước ta quả là có một mạng lưới sông ngòi dày đặc nhiều nước nhiều phù sa Nhưng đáng chú ý hơn là mạng lưới sông ngòi ấy phân phối rất chênh lệch trong năm mùa lũ trung bình chiếm 70-80% tổng lượng nước năm, hơn nữa lại còn thất thường từ năm này qua năm khác có năm lũ lớn gây vỡ đê ở nhiều nơi, có năm nước cạn kiệt vào mùa khô thiếu hụt so với nhu cầu sinh hoạt và tưới cây Do đó, việc tìm hiểu nhịp điệu mùa của thủy chế các sông ngòi cùng với đặc điểm của từng khu vực thủy văn riêng biệt là rất cần thiết
Về diện tích lưu vực và mật độ sông: Có 3 khu vực rõ rệt
- Khu vực từ thung lũng sông Cả trở lên phía Bắc, nhất là ở Bắc Bộ, nơi đất nước ta rộng lớn nhất có các hệ thống sông dài với lưu vực lớn diện tích trên 10000km2 và chiều dài trên 200 km (Bằng Giang – Kỳ Cùng 10902 km2 dài 243km; sông Thái Bình 12680km2 dài 288km) Đặc biệt là các sông duyên hải Quảng Ninh do núi ra sát biển
Trang 12- Khu vực thứ 2: sườn đông dải Trường Sơn từ bắc chí nam với các đồng bằng ven biển nhỏ hẹp chỉ có những hệ thống sông ngắn và lưu vực nhỏ nằm hoàn toàn trong lãnh thổ nước ta Diện tích lưu vực từ 1000-5000km2, dài từ 70-170km, đặc biệt là sông Thu Bồn (diện tích 10350km2, dài 205km) do vùng Quảng Nam tương đối rộng như sông Gianh 4680 km2, dài 158km; sông Quảng Trị 2660km2 dài 156km…
- Khu vực thứ 3 sườn Tây Trường Son bao gồm Tây Nguyên và Nam Bộ, lại
có những lưu vực sông tương đối lớn, có cả sông đổ về sông Mê Kông góp phần đưa nước về vùng cửa sông ở Tây Nam Bộ và sông đổ ra biển Đông qua vùng Đông Nam Bộ Đó là lưu vực sông Xrê Pốc (bao gồm các sông bắc và Trung Tây Nguyên) 30110km2 dài 315km; lưu vực sông Đồng Nai – Vàm Cỏ 37400km2 dài 635km
Nói về chế độ thủy văn thì khu vực đồng bằng Bắc Bộ là có chế độ thủy văn phù hợp với đặc điểm khí hậu của vùng Với mạng lưới sông ngòi khá dày đặc vừa bao gồm hạ lưu và chi lưu của hai hệ thống sông lớn đổ ra biển là sông Hồng và sông Thái Bình vừa bao gồm các con sông nhỏ là cho tổng lượng nước dòng chảy của đồng bằng Bắc Bộ khá lớn phục vụ đắc lực cho cuộc sống con người nơi đây
Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mưa, chế độ thủy văn ở đây có hai mùa rõ rệt Mùa cạn, dòng chảy nhỏ nước trong ít phù
sa Mùa lũ dòng chảy lớn nhiều phù sa Trong quá trình hoạt động, dòng chảy sông Hồng vận chuyển nhiều phù sa và đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ dòng chảy lượng nước và phù sa vào các nhánh sông con và sông Thái Bình Tuy nhiên, tại các vùng duyên hải ven vịnh Bắc Bộ, các dòng chảy chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều mà điều này đã được cha ông ta tận dụng để giành thế chủ động trong cuộc chiến thắng Bạch Đằng hùng vĩ thửơ
Trang 13nào Ngoài ra, ảnh hưởng này rất có lợi trong việc khai thác tiềm năng du lịch của vùng vì có thể hoạt động quanh năm
Hầu hết sông ngòi của đồng bằng Bắc Bộ chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và chảy ra biển Biển Đông, chúng đem theo phù sa bồi đắp đồng bằng và trở thành những con đường nước nối liền các miền với nhau
Như vậy, sông ngòi Bắc Bộ tuy chảy khắp các vùng nhưng không tách biệt riêng rẽ mà luôn gắn liền với nhau bởi một hay nhiều chi lưu nhỏ Điều này làm ta liên tưởng tới một sự kết hợp bền vững, một tình yêu thương đoàn kết, máu chảy ruột mềm giữa các dân tộc anh em ở các vùng nhỏ nói riêng hay nhân dân Việt Nam nói chung Không những chỉ có tình cảm về mặt tình cảm, sự liên kết chặt chẽ của các con sông nơi đây đã tạo ra sự khác biệt riêng của vùng, tạo ra sự đa dạng của vùng sông nước và là cơ sở để khai thác phục
Khi vào Việt Nam, sông Hồng còn nhiều tên gọi khác nhau, đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì gọi là sông Thao, đoạn từ Vĩnh Tường đến Yên Lạc qua
Trang 14đất Tam Đái gọi là sông Tam Đái hay Tam Đới, sông Nhĩ Hà vì uốn cong như vành đai.Ngoài những tên gọi đó, sông Hồng còn có tên gọi dân gian là sông Cái, sông Mẹ Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, do sông Hồng có màu đỏ phù sa nên được gọi là Riveere Rouge tức là con sông có nước màu đỏ hồng Đến thế kỷ XIX, tên gọi sông Hồng được sử dụng rộng rãi
Đoạn tự nội thành Hà Nội về xuôi, sông Hồng lần lượt có tên là Đại Lan - vì chảy qua dãi Đại Lan – nay thuộc huyện Hà Duyên, Thanh Trì, Hà Nội, là Xích Bằng – vì chảy qua Đằng Châu, huyện Xem Đông, tới Thiên Mạc và Nam Trù – vì qua bãi Thiên Mạc và Mạc Trù thuộc Khoái Châu Hưng Yên Khi sang đất Hà Nam và Nam Định thì sông Hồng lần lượt được gọi là Nam Xang – vì qua huyện Nam Xong nay là Lý Nhân, sông Hoàng Giang – đoạn chảy qua thành phố Nam Định tới cửa Ba Lạt rồi đổ ra biển
Theo nguồn từ thư tịch Trung Quốc thì có thể biết thêm một số tên gọi khác của sông Hồng vào khoảng thế kỷ VI Sách Thủy Kinh Chú của tác giả Lịch Đạo Nguyên chuyên ghi chép và mô tả những dòng sông chủa Trung Quốc và các nước láng giềng có liên quan mà nước ta là một trong số đó Sách này đã đề cập đến sông Hồng được gọi là sông Diệp Du và vào ngày ấy
đã có đủ các chi lưu chính Trong sách có đoạn ghi về sông Diệp Du như sau:
“ Qua phía bắc của huyện Mê Linh, Giao Chỉ chia năm sông chằng chịt tỏng quận Giao Chỉ…” Song sách ấy chỉ gọi các sông một cách phiếm chỉ: Ngoài hai con sông sông phía bắc qua các huyện Vọng Hải, Long Quyên còn một sông nữa gọi là nhất thủy chảy qua các huyện Phong Khê, Tây Vu…, sông giữa (trung thủy) qua Liên Châu, An Định, sông dài một mắt dải đất Trường
Giang) qua huyện Chu Diên Nhà sử học Đào Duy Anh trong tác phẩm “Đất
nước Việt Nam qua các đời” đã nhận diện ra sông đó là sông Cà Lồ, sông
Thiếp, sông Đuống, sông Hồng và sông Đáy
Trang 15Khi sông Hồng vào đến Việt Trì, nó hợp thành một con sông lớn Nằm giữa vùng đồi núi Phú Thọ ở phái bắc và bậc thềm cổ ở tây nam, lúc đầu sông Hồng dồn toàn bộ phù sa của mình để bội đắp cho vùng trũng giữa núi mà các nhà nghiên cứu gọi là “ vùng trũng Hà Nội” là cho chiều dài trầm tích ở đáy khá lớn Đây là một loại phù sa mới, rất phì nhiêu được bội tụ một cách tự do trong điều kiện đê ngăn lũ chưa hình thành nên phần đất nổi cao nhiều so với mặt nước biển Ngày này, từ Việt Trì đến khu vực Hà Nội là những tràng ruộng cao phân nhánh địa hình bội tụ trong giai đoạn phát triển ban đầu của nó
Vào khoảng thời gian con người còn chưa sinh ra, từ khu vực Hà Nội đến Hưng Yên, Nam Định, phù sa sông lại trải ra trên một diện rộng do chính sông Hồng và nhiều nhánh sông phụ bồi đắp Sự hình thành châu thổ được thực hiện cho đến khi con người bắt đầu can thiệp vào tiến trình phát triển tự nhiên của nó Theo Hậu Hán Thư mà Nguyễn Văn Siêu dẫn trong “Phương Đình dư địa chí”, năm 43 SCN, tại sông Hồng có đê bảo vệ nhưng chắc chắn rằng đầu thế kỷ XII, đê được đắp để bảo vệ kinh thành Thăng Long, đó là đê
Cơ Xã đắp vào năm 1108 và được sử sách ghi lại
Các nhánh chính của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam có thể kể đến là sông Đà, sông Lô(với phụ lưu là sông Chảy và sông Gâm) Sông Hồng có phân lưu tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại thuộc Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng) Hai sông này nối với sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình.Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh Cơ) nối sông Hồng với sông Đáy là hai sông Phủ Lý va sông Nam Đinh
Sông Hồng có lưu lượng lớn bình quân hàng năm rất lớn tới 2640 m3/s tại của sông với tổng lượng nước chảy qua tới 83.5 tỷ m3 tuy nhiên lưu lượng nước phân bố không đều về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700
Trang 16m3/s nhưng vào mùa cao điểm mùa mưa có thế đạt tới 30.000m3/s.Với độ dài chảy và khả năng cung ứng sông Hồng xứng đáng là dòng sông mẹ
1.2.2 Sông Mã
Nói đến cái nôi văn minh Việt tất yếu phải nói đến sông Hồng Nhưng trong quá trình khai phá và phát triển của người Việt thì không thể không nhắc đến sông Mã Con sông đã cung cấp lượng phù sa lớn cho châu thổ sông
Mã Điều đó tạo dựng vào quá trình tụ cư của các dân Việt cổ Con sông đã góp phần tạo dựng nên nền văn hóa văn minh Đông Sơn rực rỡ của dân tộc Việt
Sông Mã theo tiếng Việt Mường Cổ gọi là sông Mạ còn có nghĩa là sông mẹ, tổng chiều dài 512 km Khởi nguồn từ phía Nam tỉnh Điện Biên chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam qua huyện sông Mã của tỉnh Sơn La qua lãnh thổ lào rồi tỉnh Thanh Hóa Tại Thanh Hóa sông tiếp tục giữ hướng Tây Bắc Đông Nam chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh hội lưu với sông Chu rổi đổ bộ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyện Hoàng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng hai cửa phụ là LạchTrường và cửa Lèn
Không biết có sông nào nhiều tên như sông Mã Riêng những tính danh chỉ còn thấy chép trong sách xưa, sử cũ đã nhiều: sông Định Minh, sông Ngung, sông Nguyệt Thường, sông Hội Thường, sông Thanh Giang, sông Lễ, sông Hồng Cừ, sông Vĩnh Ninh,… Tên phổ biến nhất là sông Mã và cũng từ sông Mã mà có tên sông Bà Mã, Tất Mã Giang…
Sông Mã là sông lớn nhất của Thanh Hóa gồm có dòng chính sông Mã
và hai phụ lưu lớn là sông Chu ở hữu ngạn và sông Bưởi ở tả ngạn Diện tích lưu vực của hệ thống sông Mã khoảng 28.400km2, trong đó 17.600km2 nằm trong lãnh thổ Việt Nam, phần còn lại của lưu vực nằm trong lãnh thổ Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, lưu vực dài khoảng 370 km, rộng khoảng
Trang 1769km Giới hạn phía Đông của lưu vực là đường phân nước giữa sông Mã với sông Đà, gồm các dãy núi cao trên 1000m Phía Đông Nam là dãy núi đá vôi phân chia sông Bưởi với sông Bôi, cao 300 đến 400m Phía Tây là đường phân nước giữa sông Mã với sông Mê Kông Phía Tây Bắc là vùng núi Phouuei Long cao 2179m phân chia sông Mã với sông Nậm Rốn với sông Nậm Mức Phía Nam và Đông Nam là biển Như vậy, lưu vực sông Mã nằm lọt vào giữa hai dãy núi cao, song song nhau theo hướng Tây Bắc_ Đông Nam Dãy núi ở phía bờ biển sông Mã có thể kể từ Tuần Giáo đến Hồi Xuân với các đỉnh cao dưới 2000m dãy núi ở phía bờ phải sông Mã, sông Chu có các đỉnh từ 1800m đến trên 2000m.
Hạ lưu sông Mã có thể kể từ dưới Phong Ý(huyện Cẩm Thủy) lòng sông được mở rộng và độ dốc đáy sông chỉ còn khooảng trên 1% Sông Mã chảy chảy vào vùng đồng bằng thuộc các huyện Vĩnh Lộc, Yên Định, Hoằng Hóa của tỉnh Thanh Hóa Dòng sông rộng hẳn ra, nước chảy hiền hòa và đổ ra biển theo ba phân lưu: sông Lèn chảy ra Lạch Sung, sông Tào chảy ra Lạch Trường và Lạch Trào ra cửa Hới
Sông Chu là phụ lưu lớn nhất của sông Mã, bắt nguồn từ Tây Bắc Sầm Nưa, vùng Phu Khen Huổi San cao trên 180m, chảy theo hướng Tây Bắc_ Đông Nam qua tỉnh Sầm Nưa, Tới Mường Hinh chuyển thành hướng Tây Nam- Đông Bắc do gặp phải khối núi đá Rioolit Bù Khang cao trên 1000m Sau đó lại chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam cho tới Bái Thượng Từ dưới Bái Thượng dòng sông chảy vào vùng đồng bằng có độ cao mặt đất khoảng 15-90m, nhập vào sông Mã ở Doanh Xá(ngã ba Giàng) cách cửa sông Mã 25,5m Toàn bộ lưu vực sông Chu có diện tích 7550km2 chiếm 26,6% diện tích lưu vực của hệ thống sông Mã Sông dài 325km, phần trong lãnh thổ nước ta sông dài 160km và có diện tích lưu vực 2050km2 Sông Chu chảy qua địa phận các huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đông Sơn…Vùng
Trang 18đồng bằng Thanh Hóa chủ yếu là do sự bồi đắp của các sông này Vì vậy có thể gọi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng sông Mã
Các phụ lưu lớn của sông Mã trên địa phận Thanh Hóa Ngoài ra còn
có phụ lưu nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Noi, sông Mã có độ dốc nhỏ chủ yếu chảy giữa vùng rừng núi và trung du Phù sa sông Mã là nguồn lực chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam
Trang 19Bảng 1: Bảng mạng sông thượng nguồn sông Hồng và hệ thống sông Mã
STT Tên sông Nơi
Hợp lưu
Diện tích lưu vực(km 2 )
Chiều dài dòng chính (km)
Độ dốc 0 / 00
Mỹ Họ Phà Làng Hút
1126/556
902/332 37,5
29,9 41,5 42,6 39,2 42,1 19,3 22,2 41,3 21,5
39000/22600 1930/890
1370 17200/9700 6050/2010 6500/4580
456/275 124/86
76 297/217 192/46
319
19,7 24,5 23,6 22,7 18,7 24,6
Tạ Bú Kin Phon Mường Lay Ích ong
Sa Piết Ghềnh Hên Nậm Pô Nậm Na Nậm Mu
52900/26600
918
2280 2930/1810
712
1410
653 6860/2190
50
81
37 235/86
23 48,5 31,2 37,5 34,5 38,9
28400/17600
1640
750
893 1580/772 1000/463
1790
551 7580/3010
Trang 201.3 Văn hóa, văn minh Việt
Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn minh đa dạng với niềm tự hào 4000 năm dựng nước và giữ nước Cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên dải đất hình chữ S đã tạo nên nền Văn hóa Việt phong phú trên nhiều khía cạnh: từ phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ
Văn hóa Việt Nam trong tiến trình hình thành và phát triển trải qua mấy nghìn năm đã không ngừng giao lưu và tiếp nhận những thành tựu mới Có một đặc điểm là trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế, người Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dán tộ, thế nên kết quả là những thành tựu được chọn lọc, tiếp nhận văn hóa nước ngoài khi du nhập vào Việt Nam đều bị khúc xạ theo tâm thức người Việt để có những biến đổi phù hợp –đó là bản sắc văn hóa Việt Nam mà cũng chính là bản lĩnh của văn hóa Việt Nam Nền văn hóa Việt Nam hình thành từ thời Hồng Bàng, Văn Lang đã trải qua nhiều thử thách của không gian và thời gian mà vẫn không ngừng tiến lên khẳng định bền vững của bản sắc văn hóa độc đáo Bản sắc và bản lĩnh của văn hóa Việt nam đã giúp cho dân tộc Việt Nam trường tồn và ngày càng khởi sắc Cuộc thử thách đầu tiên là văn hóa Việt Nam buộc phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc và thêm nghìn năm ảnh hưởng văn hóa Trung Hóa trong thời kỳ phong kiến tự chủ tiếp theo mà vẫn sống còn tiếp tục phát triển, trở thành một thực thể văn hóa độc đáo ở phương Đông, nơi giao thoa của lục địa và biển trên bán đảo Đông Dương và khu vực Đông Nam Á Không kể đến cuộc giao lưu tự nguyện với văn hóa Ấn Độ từ trước, cuộc thử thách thứ hai là cuộc tiếp xúc văn hóa Pháp và phương Tây Tuy văn hóa phương Tây có những phương diện làm thay đổi cục diện văn hóa Việt Nam nhưng văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa bởi các giá trị văn hóa phương tây mà còn là cơ hội tăng cường bản sắc văn hóa và bản lĩnh truyền thống của
Trang 21dân tộc mình Bên cạnh đó văn hóa dân gian đã góp phần xây dựng nên tâm hồn, tính cách dân tộc Việt Nam qua các câu chuyện kể, lễ hội, phong tục, tập quán tín ngưỡng, những câu hò điệu hát, lời ru, những thành ngữ tục ngữ răn người, đúc kết kinh nghiệm sống Những thành tố văn hóa ấy đã gắn bó các thế hệ với nhau tạo thành một sợi chỉ đỏ xuyên suốt gắn kết các yếu tố văn hóa truyền thống với hiện đại
Trong lịch sử dân tộc ta, nền văn hóa luôn giữ bộ phận trung tâm và tác động to lớn lao đối với sự thống nhất đất nước, sự hình thành dân tộc Lịch sử
văn hóa Việt Nam đã chứng minh điều đó Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư
(1677) ghi chép lịch sử nước ta có đưa truyện Hồng Bàng vào phần ngoại kỷ Khép lại truyện Hồng Bàng thì văn hóa, văn minh truyền thống Việt Nam có lịch sử phát triển qua 4 giai đoạn sau:
- Văn hóa Việt Nam thời tiền sử và sơ sử: đỉnh cao là văn hóa, văn minh Đông Sơn, có niên đại cách nay khoảng từ 3000 đến 4000 năm Đỉnh cao văn hóa Đông Sơn tồn tại cách ngày nay khoảng 2800 năm Cơ sở Văn hóa Đông Sơn đã tạo dựng những chuyến biến cơ bản về cơ cấu xã hội-nhà nước ra đời cho đến ngày nay vẫn luôn luôn là nền tảng phát triển văn hóa Việt Nam
- Văn hóa Việt Nam dưới thời Bắc thuộc giai đoạn này khoảng 1000 năm tính từ năm 111 TCN ( là năm nhà Tây hán lật đổ Nam Việt rồi thay Nam Việt đặt ách thống trị lên đất nước ta) đến năm 938 SCN( là năm Ngô Quyền đại phá quân Nam hán trên sông Bạch Đằng, giành lại nền độc lập tự chủ cho dân tộc Sau đó Ngô Quyền lên ngôi, đóng đô ở Cổ Loa, lấy hiệu là Ngô Vương)
- Văn hóa Việt Nam thời kỳ tự chủ của nhà nước Đại Việt Văn hóa Việt Nam từ khi Ngô Quyền lên ngôi cho đến khi Bảo Đại, vị vua cuối cùng
Trang 22của triều đại phong kiến Việt Nam thoái vị, là giai đoạn mà văn hóa Việt Nam phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho những nhân tố văn hóa truyền thống về sau mặc dù ảnh hưởng văn hóa Hán vẫn được các triều đại phong kiến Việt Nam duy trì trên cơ sở chọn lọc phát triển
- Văn hóa Việt Nam giai đoạn từ năm 1858( tức là khi Pháp xâm lược Việt Nam)- nền văn hóa Việt Nam đặt trong cuộc tiếp biến với văn hóa Pháp; đến giai đoạn sau 1945( từ sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc) Từ năm 1976 quốc hiệu mới của Việt Nam là cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam nền văn hóa khởi sắc trong bối cảnh nước nhà trọn vẹn thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, văn hóa Việt Nam bước sang một thời kỳ mới xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 23Chương 2 KHÁM PHÁ VĂN HÓA VĂN MINH VIỆT QUA NHỮNG
DÒNG SÔNG
2.1 Giá trị của dòng sông cổ nhìn từ góc độ du lịch
2.1.1.Giá trị cảnh quan văn hóa các dòng sông
Cuộc sống đời thường xô bồ, nhốn nháo, ít ai có một đôi lần ngắm dòng sông Hồng, ngắm cảnh sông mà cảm ơn ông cha ta đã có một tầm nhìn muôn đời, chọn vùng đất mở ra một kinh thành
Có lẽ vì như vậy cụ Nguyễn Siêu, một thần thơ của thế kỷ trước, cảm xúc trước cảnh đẹp của Nhị Hà, hạ bút viết: "Tình khách chơi vơi bên bờ bắc Mảnh trăng lơ lửng phía đông dòng sông" Còn bậc thánh thơ Cao Bá Quát, trong một buổi chiều tà đã phóng tầm mắt xem cảnh Nhị Hà, nhìn về Hà Nội:
"Bức thành xây trên bụng rồng ngất trời hùng tráng Dòng sông cuộn theo nước đỏ, thành làn sóng hoa đào " Đọc thơ người xưa, đủ biết các bậc tiền danh nhân của đất nước không phải chỉ chú ý đến những cảnh đẹp của nội thành Những hồ Tây, hồ Gươm, hồ Thiền Quang Mặc dù người xưa đã có những bài thơ tuyệt bút về những cảnh đẹp những nơi ấy Các cụ ta đã không quên dòng sông có "làn sóng hoa đào"! Thiên nhiên đã dành cho Hà Nội cả một dòng sông để con người xây nên những "lầu cao dễ chạm tới tầng xanh" " Cha ông ta đã nhìn ra thế núi, hình sông, nơi "Rồng cuộn, Hổ ngồi
để truyền lại cho con cháu muôn đời mai sau " Nếu có dịp đi thuyền hay tàu trên sông Hồng ta mới hiểu được cảm xúc của thi nhân khi đứng trước dòng sông Bởi cảnh sông không chỉ tạo bởi vẻ đẹp thiên nhiên đất trời mà hai bên sông những ruộng lúa đã chín đòng, những nương ngô tràn ngập màu vàng
Trang 24Những cảng đẹp do bàn tay lao động của con người tạo ra Cảnh đẹp nhân tạo hòa quyền với vẻ đẹp tự nhiên Thấp thoáng đâu đó là hình ảnh mái đình làng Việt hiện ra sừng sững giữa cảnh sông nước bao la Những con cầu bắc qua sông ngày ngày vẫn chứng kiến cảnh con người tấp nập hối hả ngược xuôi với cuộc sống bồn bề hàng ngày Quang cảnh hai bờ con sông luôn thay đổi Vào mùa hoa cải nở, bờ sông vàng rực một mầu, điểm xuyết những vầng hoa thìa
là trắng tỏa hương thơm ngát Khi gió mùa đông bắc tràn về mang theo những trận mưa phùn ẩm ướt là lúc su hào, cải bắp phủ xanh mướt các bãi phù sa Mùa hè đến, dọc triền đê Hưng Yên, Hà Tây, từng đàn tu hú tao tác bay trên những rặng nhãn, rặng vải trĩu trịt quả chín
Ngắm cảnh sông Hồng về đêm lại càng đẹp, thỉnh thoảng trên mặt sông lại xuất hiện một vài cánh buồn, cái ngược, cái xuôi theo dòng nước lấp loá trăng sao và ánh điện Mấy con thuyền nhà chài, ngọn đèn dầu le lói trong khoang, cắm sào nằm im lìm trên cồn cát giữa sông, gợi lòng những khách thơ bên bờ Điều đó khiến nhà thơ Quang Dũng đã phải thốt lên: "Thật kỳ ảo! Thành phố lung linh trên sông nước, chúng mình cứ như ngồi trong một đêm trăng cổ tích ”
Sông Mã với dòng chảy chủ yếu trên địa phận Thanh Hóa cũng đã tạo nên cảnh sắc tuyệt vời Khi chảy tới huyện Bá Thước, sông Mã chảy vào giữa huyện nên từ đầu đến cuối huyện, những ghềnh thác, hang động với những cảnh quan mỹ lệ, huyền bí, xuất hiện nhiều truyền thuyết, giai đoạn thần kỳ và thơ mộng Thác, ghềnh trên sông Mã tại Bá Thước như: thác Suội, thác Cả, thác Long, thác Ngốc Cùng… là những ghềnh nguy hiểm
Sông Mã về xuôi càng đẹp Phù sa làm đẹp đồng, đẹp bãi, đẹp xóm, đẹp làng Đâu đâu cũng bạt ngàn dâu xanh, mía tím, ngô vàng Bởi dâu xanh
Trang 25thắm nên óng ả tơ tằm, mượt mà lụa nhiễu Lai Duệ, Hồng Đô Mía Kim Tân, Tào Xuyên, mía Đường Trèo Hà Trung:
“Đất thiêng cây cũng ngọt ngào,
Đường Trèo mía nhất, làng Tào mía hai.”
Và “Dưa Gia, cà Hạc, vải Giáng, cam Dàng” Vải Giáng (Vĩnh Lộc) là vải thiều của Thanh Hóa, cam Dàng (Dương Xá – Đông Sơn) nổi danh không kém cam xã Đoài, Bố Hạ Biết bao danh lam thắng cảnh ven sông và đôi triền sông Mã, sông Chu: động Kim Sơn, động Hồ Công, thành Nhà Hồ, cửa Hà, đền Hàn…, cũng những di tích khảo cổ học đồ đá, đồ đồng: Đa Bút, núi Nuông, núi Đọ, núi Trịnh, cồn Chân Tiên, núi Voi, Thiệu Dương,…
Sông Mã đến gần chỗ núi Trịnh, chia hai dòng: dòng hướng Đông qua Lèn chảy ra cửa biển Bạch Câu, dòng quay hướng Nam để nối với sông Chu Hai ngã ba cách nhau khoảng 10km: ngã ba Bông và ngã ba Đàng
Ngã ba Bông một vùng mênh mông trời nước, nơi giáp ranh giữa nhiều miền quê nhỏ mà dân gian thường nói: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe”:
“Đến đây ta hát với nàng, Hát lên năm huyện mười làng đều nghe.”
(Dân ca Thanh Hóa) Ngã ba Bông còn có đền cô Bơ Thoải, chính là cô Ba Thủy Cung, dân gian gọi chệch tỏ ý tôn kính
Ngã ba Dàng vui và đẹp, hùng tráng mà thơ mộng dưới bút ông vua thi
sĩ Lê Thánh Tông:
“Cá ăn mặt nước tan vầng thỏ
Trang 26Dường như ngư phủ lạc nguồn đào.”
Cũng như trong mắt nhà thơ Lê Hiến Tông:
“Núi non hung tráng thế muôn trùng, Khe đá neo thuyền, tiếng vượn trong.”
Trên đất Thiệu Dương, làng Dàng – Dương Xá có lịch sử lâu đời nhất Thế kỷ IX, làng Dương Xá trên ngã ba sông Lương – Mã đã nổi tiểng về quy
mô rộng lớn và dân cư đông đúc, gần huyện lỵ Tư Phố thời Bắc thuộc Thời Hậu Lê, trấn sở Thanh Hoa đóng ngay bên cạnh Dương Xá Đất này không phải chỉ có anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ, chàng con rể Ngô Quyền với chiến công Bạch Đằng giang sấm sét, cùng ba ngàn dũng sĩ lừng danh trong lịch sử Còn một nhân vật khác: ông Vồm khổng lồ sức lực “quảy núi cày sông” được dân gian bồi đắp nên nhiều truyền thuyết hay và đẹp Chùa Vồm hiện còn pho tượng ông Vồm khổng lồ như là chứng tích về một con người kỳ
vĩ tiêu biểu của núi Rồng sông Mã
Núi Rồng kết duyên với sông Mã là một đôi lứa xứng đôi Dọc đôi bờ sông Chu, sông Mã nhiều phong cảnh đẹp, nhưng không đâu tuyệt mỹ bằng khúc sông Mã Hàm Rồng, hình thế kỳ vĩ, nước non hùng tráng, khí thiêng đất trời chung đúc, đến kẻ thù xâm lược, quân bành trướng phương Bắc cũng phải
sợ phục thắp hương cúng tế, cúi đầu tôn thờ
Đi thuyền dọc sông Mã, trên sông Mã là thú vui ngao du sơn thủy của nhiều du khách xưa nay
Vui và đẹp nhất là bến đò dọc, bến của những con thuyền ngược xuôi sông Mã: Nam Ngạn, Nguyệt Viên, Dàng, Triêng, Phùng, Nhuệ, Bồng, Vĩnh, Sét,… lên đến tần Hồi Xuân, Quan Hóa Những con đò tình đỗ bến yêu dạt dào song nước vỗ mạn thuyền, âm vang tiếng Hò sông Mã Nhưng câu hò tình
Trang 27tứ theo thuyền, theo song, cùng trài đò, cùng lữ khách hữu duyên ngao du suốt đêm trăng trên chặng đường dài hàng trăm cây số, khi thơ mộng, lúc thác ghềnh để cảnh tình càng đậm đà, thi vị
- “Thuyền xuôi cửa bể lòng sông,
Thuyền mong đợi khách, khách mong đợi thuyền.”
-“ Hỡi cô yếm thắm răng đen,
Có lên mạn ngược ngồi thuyền cùng anh!”
- “Thuyền xuôi quấn mái chèo cong,
Thương em phận gái nằm trong khoang thuyền.”
Một trong những câu Hò sông Mã nổi tiếng và rất phổ biến:
“Thuyền tình đậu bến chùa Gia,
Một trăm con gái liếc qua thuyền tình!”
Bến chùa Gia cũng là một phong cảnh hữu tình ở tả ngạn sông Mã, địa phận huyện Hoằng Hóa, nhìn sang núi Rồng, nơi thấp thoáng bóng đầu Rồng hút nước sông Mã để vớt hòn Ngọc đang đập dờn trên làn sóng biếc Bến chùa Gia có chợ chùa Gia với núi Trinh Sơn phong cảnh thanh u, điểm đến của nhiều tao nhân mặc khách
Các hang, động nằm ven đôi bờ sông Mã như hang Làng Tráng, Mái
Đá Điều, Mái Đá Nước, hang Anh Rồ, hang làng Cốc, hang làng Chuông, hang Ma Xá, hang làng Cuộn… là những di chỉ khảo cổ học trở thành địa chỉ
di tích lịch sử , văn hóa thời tiền sử, sơ sử của đất Thanh Địa điểm văn hóa mường Ống (xã Thiết Ống), mường Ai (xã Ái Thượng) là nơi phát tích của sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” mà dấu tích Đồi Chu (Thiết Ống) vẫn còn in dấu lại Mường Khô là nơi phát tích trường ca Khăm Panh, mường Ai nơi phát tích
Trang 28của xường, truyện Nàng Ơm và điệu múa Pồn Poông tha thiết Chính những mường cổ như mường Khô, mường Ống, mường Ai, mường Khả, mường Ấm
là những mường lớn lưu giữ nhiều vốn quý về văn hóa dân gian đã ngược xuôi cùng sông Mã tự bao đời nay
Sông Mã cùng với núi rừng hùng vĩ ở Bá Thước còn tạo nên những khu thắng cảnh tuyệt đẹp như danh thắng tại xã Lương Nôi và thắng cảnh Son Bá Mười ở xã Lũng Cao…
Tại huyện Cẩm Thủy, sông Mã tiếp tục chảy vào giữa huyện tạo nên các bãi bồi đôi bờ rộng bát ngát, rất thích hợp với cây ngô Do đó ở Cẩm Thủy những bãi ngôi nối tiếp nhau xanh ngút ngàn, tít tắp khiến cho cảnh quan khá gần gũi với miền đồng bằng…Ngọn núi cuối cùng ép sát dòng sông
Mã nơi đây chính là ngọn núi Cửa Hà đã tạo nên một danh thắng “Cửa Hà” độc đáo của xứ Thanh
Núi, rừng và sông Mã tại Cẩm Thủy hòa quyện vào nhau, kiến tạo nên những danh thắng tuyệt mỹ, dễ hút hồn du khách Đó là danh thắng Mó Đóng (mó Cá), làng Dùng, xã Cẩm Liên, từng bầy, đàn cá tự nhiên bơi lượn dày đặc
cả mặt nước mà dân trong vùng gọi là Mó cá thần Suối cá thần làng Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, có nguồn nước suối quanh năm và nhiều cá vô kể Hang động Trường Sinh (xã Cẩm Lương) khá rộng, lớn với động Thiên và Thủy vô vàn những nhũ đá lóng lánh, muôn màu sắc như cảnh thần tiên Đặc biệt, thắng cảnh Cửa Hà (Cẩm Phong) đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên ngoạn mục “sơn thủy hữu tình” Tại đây, hướng sông Mã dường như song song với dãy núi Hà Sông núi hòa quyện nhau, gắn bó, rồi đành bịn rịn, dứt
ra để dòng sông Mã xuôi về với đồng bằng bao la của xứ Thanh
Trang 292.1.2 Giá trị lịch sử
2.1.2.1 Những dấu vết lịch sử dân tộc Việt
` Thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho đất nước hình chữ S một hệ thống sông ngòi chằng chịt nối liền các địa phương với nhau và cùng đổ ra biển Đông Theo dòng chảy đó, lịch sử dân tộc Việt bắt đầu hình thành Lịch
sử dân tộc Việt đã chứng minh rằng “khởi đầu dân tộc ta là bắt nguồn các con sông Những cứ liệu sử học và khảo cổ học cho thấy sau đợt biển tiến cách chừng 3000 năm lúc đó đất Việt xưa có địa giới đến Nam Đèo Ngang lần theo dòng chảy của các dòng sông, tổ tiên của người Việt từ những vùng núi
đã tràn xuống vùng đồng bằng
Tổ tiên của người Việt có từ thời kỳ Đồ đá cũ Các nhà khảo cổ đã tìm
ra các dấu vết người vượn cư ngụ tại hang thẩm hai, thẩm khuyên (Lạng Sơn), núi Đọ, Ninh Bình và Nga Sơn, Thanh Hóa cách đây hàng trăm nghìn năm Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và Việt Nam khi đó nối liền với bán đảo Malaysia, đảo Java, Sumatra và Kalimantan của Indonesia, với khí hậu
ẩm và mát hơn bây giờ Người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ một mặt, tạo nên những công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, nạo bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ (mảnh tước) Những di tích ở núi Đọ được coi là bằng chứng cổ xưa nhất về sự có mặt của con người tại vùng đất Việt, khi tổ chức xã hội loài người chưa hình thành
Vào thời kỳ mà các nhà nghiên cứu gọi là văn hóa Sơn Vi, những nhóm
cư dân nguyên thủy tại đây đã sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một
hệ sinh thái miền nhiệt - ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú,
đa dạng cách đây 11-23 nghìn năm, cuối thời thế Canh Tân
Cách đây 15000 - 18000 năm trước đây là thời kỳ nước biển xuống thấp Đồng bằng bắc bộ bấy giờ kéo dài ra mãi đến tận đảo Hải Nam và các
Trang 30khu vực khác Về mặt địa chất học thời kỳ khoảng 15 nghìn năm trước Công Nguyên - (cách đây khoảng 18 nghìn năm) là thời kỳ cuối của kỷ băng hà, nước biển dâng cao dần đến khoảng năm 8000 năm trước đây thì đột ngột dân cao khoảng khoảng 130m (tính từ tâm của kỹ băng hà là khu vực Bắc Mỹ) Nước biển ở lại suốt thời kỳ này cho đến và rút đi vào khoảng 5500 năm trước đây Ứng với thời kỳ này cùng với các di chỉ khảo cổ cho thấy nước biển đã ngập toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay đến tận Vĩnh Phú trong suốt gần 3000 năm
Do chính đặc trưng về địa chất nên vùng đồng bằng sông Hồng, vịnh Bắc Bộ không có điều kiện khai quật nền đất cổ đại có ở khoảng 8000 năm trước công nguyên (trước khi có đại hồng thủy) để xác nhận dấu vết của các nền văn minh khác nếu có Trang sử Việt có một khoảng trống không xác định được từ khoảng năm trước 5500 năm - 18000 năm trước
Sau thời kỳ văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, thuộc thời kỳ đồ đá mới Văn hóa Hòa Bình được ghi nhận là cái nôi của nền văn minh lúa nước, xuất thân từ Đông Nam Á có niên đại trễ được tìm thấy vào khoảng 15000 năm trước đây Do đặc trưng địa chất về hồng thủy nên có thể một phần sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hòa Bình có thể đã chưa bao giờ được nhận ra và tìm thấy Các nhà khảo cổ đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt ở cuối thời kỳ Đồ đá mới và đầu thời kỳ đồ đồng (vào khoảng hơn 5700 năm trước Công Nguyên)
Trải qua những giai đoạn sơ sử ngườiViệt cổ (Bách Việt) bắt đầu tạo dựng nên nhà nước riêng của mình Theo một số sách cổ sử người Việt cổ lập quốc đầu tiên Lĩnh Nam bao gồm một vùng rộng lớn phía Nam sông Trường Giang của Trung Quốc hiên nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã Đến thế kỷ 7 TCN người Lạc Việt một trong nhũng nhóm dân tộc ở phía Nam
Trang 31ngày nay là Bắc Việt Nam đã xây dựng nên nhà nước riêng của mình đó là nhà nước Văn Lang do các vua Hùng cai trị
Từ buổi đầu dựng nước, vua Hùng đã chọn ngã ba Bạch Hạc – là nơi hội tụ của ba côn sông là sông Hồng, sông Đà và sông Lô – làm nơi kinh đô của đất nước Nhà nước đầu tiên của nước ta là nhà nước Văn Lang đã ra đời tại mảnh đất ven sông màu mỡ này, nơi các thuyền bè đi ngược về xuôi thường đỗ lại, nơi trao đổ giao lưu các sản phẩm vùng đồi núi với đồng bằng, giữa Vân Nam, Trung Quốc với biển Đông và ngày càng phát triển mạnh Cũng chính tại đây, các vua Hùng đã dạy những cư dân Việt cổ đầu tiên nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, tận dụng các hoạt động trên sông ngòi để phục vụ cuộc sống nông nghiệp mà sau này là cơ sở để hình thành nền văn hóa, văn minh nông nghiệp lúa nước
Cổ Loa cũng nằm gần ngã ba sông Hồng, sông Đuống đồng thời gần nơi giao lưu của thung lũng sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam Cổ Loa là trung tâm của nước Âu Lạc phồn thịnh trong khoảng thế kỷ III và II TCN và cũng là đô thị trạm dịch giữa vùng trung du phía bắc và vùng châu thổ sông Hồng có cảng biển lớn có thể sức chứa vài trăm thuyền Đây là nơi truyền thuyết rùa vàng giúp vua Thục Phán xây thành chống giặc, là nơi kết tinh tình yêu trái ngang của Mỵ Châu – Trọng Thủy Đến đây Thục Phán An Dương Vương coi như công cuộc chinh phục đồng bằng sông Hồng trên cơ bản đã hoàn tất cư dân Việt Cổ hoàn toàn làm chủ vùng sông nước mênh mông và hung dữ này Những dấu tích văn hóa có tuổi hơn 2000 năm vẫn liên tục bị khám phá trong làng châu thổ nơi có độ cao chừng 4-5 m so với mực nước biển Đó là chứng tích bất diệt vai trò của các sông đối với lịch sử dân tộc Việt
Trang 32Sau cuộc xâm lược của Hán Vũ Đế năm 111 TCN, những đô thị như Luy Lâu, Long Biên dần được hình thành ven sông Dâu, sông Cầu và ngay lập tức đã trở thành nơi trung chuyển các sản vật quý như ngọc trai, đồi mồi, ngà voi giữa Việt Nam và Trung Quốc, là nơi dừng chân của các nhà buôn, nhà sư từ các lục địa khác trong hành trình sang Đông Nam Á Chính vì thế, ngày nay, nhắc đến một trung tâm kinh tế bậc nhất hay một trung tâm tôn giáo sớm nhất có tác động mạnh mẽ tới nền văn minh Đại Việt
Đến thế kỷ thứ VI, thời Lý Nam Đế nhà nước Vạn Xuân đã ra đời trên
cơ sở của Long Biên, Cổ Loa Đến năm 679, khi nhà Đường chinh phục lại nước ta, trung tâm Tống Bình lại nổi lên hàng đầu vì đại thế ở lưu vực sông Hồng Từ đây, người Trung Quốc đã mở các tuyến đường lên tây bắc thông với Vân Nam, Thượng Lào, Miến Điện và xuống miền Châu Ái, Châu Hoan
mở ra sự thông thương với vương quốc Chăm Pa ở miền nam Đoạn sông Hồng chảy qua thành Tống Bình trở thành đầu mối kiểm soát các tuyến đường nội thị đi qua các miền
Các thế lực phong kiến phương Bắc kết thúc việc cai trị đô hộ dân Đại việt đến thế kỷ 10 bằng thất bại thảm hại trên sông Bạch Đằng (938) do Ngô Quyền lãnh đạo Chiến thắng này chấm dứt 1000 năm bắc thuộc khôi phục nền độc lập cho nước Từ đây một trang sử mới của lịch sử Việt Nam được
mở ra các triều đại phong kiến ra đời: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn và cuối cùng là triều đại nhà Nguyễn
Năm 1010 Vua Lý Thái Tổ rời đô về Đại La và sau đổi tên Hà Nội Đó
là đô thị của các sông hồ Cái tên”Hà Nội” diễn nôm là thành phố”trong sông” hay các câu ca dân gian cửa miệng của người Hà Nội đã chứng tỏ điều đó:
“ Nhĩ hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”
Trang 33Hay:
“ Khen ai khéo họa dư đồ
Trước sông Nhĩ Thủy sau hồ Hoàn Gươm
Nói là sông Hồng nhưng thực ra với hồ Hà Nội hồ cũng là sông,vì các hồ như Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Thủ Lệ, Trúc Bạch… đều là dấu tích của các khúc sông chết, sản phẩm đôi dòng của sông Cái(sông Mẹ)
Hà Nội được dựng lên trên cái nền của bãi sa bồi của sông Hồng, nơi ngã ba sông, địa thế bằng phẳng thoáng đãng, giao thông đi lại bằng đường
bộ, đường thủy thuận lợi, xứng đáng với đất trung tâm tụ hội Chẳng thế mà
trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn đã coi Thăng Long là:”Ở trung tâm bờ
cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, ở vị trí ở giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc: tiện hình thế núi sông sau trước Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú, tốt tươi Xem khắp nước ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất vủa đế vương”
Trong cái “tứ giác nước”(như cách nói của cố GS.Trần Quốc Vượng) với phía Bắc phía Đông là sông Nhị Hà, còn sông Tô và Kim Ngưu bao bọc phía Tây và phía Nam Thành lũy quanh Thăng Long cũng là để ngăn lũ Các sông hồ không chỉ bồi phủ tạo nên các bờ bãi tốt tươi mà còn là hệ thống giao thông, hệ thống trữ nước, cấp nước và tiêu nước cho Hà Nội Ở các thời tiền thực dân, tức tiền công nghiệp hóa, thuyền bè là phương tiện đi lại chính trên sông, đặc biệt là sông Cái:
“Lênh đênh ba mũi thuyền kề
Thuyền ra Kẻ Chợ, thuyền về sông Dâu”
Trang 34Hay:
“Ai về Hà Nội, ngược nước Nhị Hà
Buồm giăng ba ngọn vui đà vui thay”
Con sông Tô Lịch thời đó trong xanh, không bị thu hẹp dòng và ô nhiễm như bây giờ, còn là nơi vua quan thị dân du thuyền xuôi ngược:
“Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa”
Cấu trúc Thăng Long thời trung cổ là điển hình cho kiểu thành thị phong kiến, trong đó thành là nơi định đô với thành quách cung điện, nơi ở của vua quan, còn ngoài thành là “thị” với bến sông chợ búa, nơi sinh sống buôn bán của thị dân Ngày nay dấu tích các chợ còn lại khá rõ ở các cửa thành, như chợ Cửa Nam, chợ Cửa Bắc (nay là chợ Châu Long), chợ cửa Tây (nay là chợ Ngọc Hà), chợ Cửa Đông (gần chợ Đồng Xuân) Ngày nay với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, Hà Nội không còn bó gọn trong cái”tứ giác nước”đó nữa mà đã vượt ra ngoài, không còn là thành phố”một bên sông”, thành phố”trong sông” nữa mà đang mở rộng ra cả hai
bờ, ôm gọn cả khúc sông Hồng vào lòng
Sông Hồng đã tạo nên vị thế và diện mạo của Hà Nội, một vị thế và diện mạo có một không hai ở nước ta Tuy nhiên, con người Hà Nội đã khoác lên các sông hồ nơi đây một diện mạo mới, diện mạo văn hóa Có thể nói mỗi khúc sông nhánh hồ của thành phố đều thấm đậm các huyền tích, truyền thuyết, dấu ấn lịch sử khiến nó trở nên lung linh, huyền ảo, ẩn chứa hồn núi sông
Trang 352.1.2.2.1 Hình thành lên các ngôi làng Việt Cổ
Tụ cư bên các con sông, con người đã chung lưng đấu cật để chinh phục thiên nhiên, hình thành lên các ngôi làng Dọc theo sông Hồng, sông
Mã, các ngôi làng được lập nên với tính chất mật tập Lần theo những dòng chảy đó, chúng ta tìm về những làng Việt cổ
Theo dòng chảy của nền văn minh sông Hồng rực rỡ, nhiều làng Việt
Cổ đã xuất hiện từ hàng ngàn năm Trên miền Sơn Cước, Lào Cai, Yên Bái, làng mọc đôi bờ sông Hồng còn thưa thớt nhưng xuống đồng bằng làng mạc đông đúc trù phú hơn Trải dọc đôi bờ nhiều làng cổ còn tràn ra cả ngoài đê sông tồn tại cùng non nước lên xuống suốt hàng ngàn năm Một trong những làng cổ nhất lưu vực sông Hồng là làng Cả nằm trên một quả đồi thấp (đồi Nhãn), xưa thuộc Kẻ Gát - Thọ Xuân, sau là xã Chính Nghĩa, nay là phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, cách khu di tích lịch sử Ðền Hùng 13 km về phía đông nam, cách cầu Việt Trì theo quốc lộ số 2
Di tích Làng Cả được giới khảo cổ học biết tới từ năm 1959 khi bắt đầu xây dựng khu công nghiệp Việt Trì Ðến năm 1976, trong quá trình xây dựng Nhà máy mì chính Việt Trì đã xuất lộ khu mộ táng trên diện tích rộng, buộc Viện Khảo cổ học Việt Nam và Sở Văn hóa - Thông tin Phú Thọ (Vĩnh Phú trước đây) phải tiến hành khai quật Từ đó đến nay qua ba lần khai quật: 1976-1977-2005 cho thấy: Làng Cả là khu di tích thuộc giai đoạn văn hóa Ðông Sơn lớn nhất hiện được biết đến Chiều dài Làng Cả khoảng hơn 1.000
m, rộng gần 300 m Với 336 mộ tầng, trong đó có 328 mộ văn hóa Ðông Sơn
và nhiều dấu tích cư trú của con người thời đó được phát hiện
Về với di chỉ khảo cổ học Làng Cả, Giáo sư Hoàng Xuân Chinh, Viện Khảo cổ Việt Nam, nhận định: "Làng Cả trước khi được sử dụng làm mộ địa
đã là một khu cư trú của cư dân Ðông Sơn Làng Cả là di tích quý nhất của
Trang 36văn hóa Ðông Sơn, có thể sánh ngang với chính di tích Ðông Sơn và gần đó là
di tích Thiệu Dương bên bờ sông Mã - Thanh Hóa"
Đánh giá về di tích làng Cả, Tiến sĩ Nguyễn Ðức Giảng lại cho rằng:
"Khu vực Làng Cả là một trong những trung tâm quần cư lớn nhất của thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc ta"
Gần đây, sau cuộc khai quật lần thứ 3 cuối năm 2005, phó giáo sư - tiến
sĩ Trịnh Sinh, Viện Khảo cổ học Việt Nam, nhận định: " Ðây không chỉ là một khu mộ lớn nhất thời Hùng Vương mà còn là khu mộ của những thời đại sau này Chứng tỏ một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa sầm uất và có tính liên tục: Thời Hùng Vương - thời Bắc thuộc - thời phong kiến tự chủ Có thể truyền thuyết, thư tịch từng đề cập đến một kinh đô của Nhà nước sơ khai thời Hùng Vương ở vùng ngã ba sông, hàm chứa một phần sự thật lịch sử, trong
đó di tích Làng Cả trở thành di tích nổi bật để nghiên cứu thời kỳ này" Từ kết quả cuộc khai quật và nhận định của nhiều nhà khoa học, có thể thấy rõ: Làng
Cả là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng nhất thời Hùng Vương Từ đây thu nhận những tinh hoa văn hóa và tỏa sáng văn hóa ra chung quanh và cả những nơi khác xa hơn
Niên đại của khu mộ Làng Cả được các nhà khoa học xác định kéo dài khoảng từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên (TCN) Còn niên đại của các di chỉ có sớm hơn, có thể vào khoảng thế kỷ 5 đến thế kỷ 4 TCN Như vậy Làng Cả là di tích của người Việt cổ sống trong khoảng thế kỷ 5 đến thế
kỷ 2 TCN, tương đương với thời đại các Vua Hùng dựng nước Văn Lang
Khu di chỉ khảo cổ học Làng Cả là một di sản văn hóa có vai trò quan trọng của quốc gia Ðây là khu di tích khảo cổ học thuộc giai đoạn văn hóa Ðông Sơn lớn nhất ở tỉnh Phú Thọ, có giá trị khoa học đặc biệt giúp nghiên cứu về thời đại Hùng Vương và Nhà nước Văn Lang Việc bảo tồn và phát
Trang 37huy giá trị khu di tích khảo cổ học Làng Cả không chỉ phát huy những giá trị lịch sử - văn hóa vùng Ðất Tổ mà còn tạo dựng môi trường để phát triển du lịch, xây dựng thành phố Việt Trì trở thành thành phố lễ hội, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội trong tương lai
Nằm bên bờ sông Hồng giao lưu với sông Lô và sông Đà là làng Cổ Đô làng khoa bảng thời huyện Ba Vì Dấu vết khảo cổ như mộ tang niên đại thế
kỷ thứ 3TCN đã nói làng Cổ Đô có từ triều đại Hùng Vương đặc biệt đến Thiều Hoa công chúa con vua Hùng thứ 9 Ở làng cũng có khẳng định điều này:bao đời dân làng vẫn tin rằng thế phong thủy ở đây cho cuộc sống con cháu ngàn đời sung túc thuận hòa Các cụ già làng còn kể chuyện Hồ Quý Ly
đã chọn nơi này xây thành chính thế yết hầu ngã 3 sông đã lọt vào mắt ông đã xây pháo đào trấn giữ vùng Sơn Tây Thăng Long
Nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng trong chân núi Ba Vì là làng cổ còn giữ nhiều nét cổ truyền: là làng Đường Lâm Khu vực Đường Lâm ngày nay vân mang cảnh quan vùng trùng gian, vùng bán sơn địa, làng xóm tụ cư bố trí quanh đồi gò ven sông Đường Lâm như “bảo tàng sống” lưu giữ những di tích lịch sử văn hóa có giá trị từ Phùng Hưng,đền Ngô Qyền tới đền thờ bà chúa Mía
Làng Đông Sơn là làng Việt cổ có giá trị là đại diện cho cả một giai đoạn lịch sử văn minh Đông Sơn nằm bên bờ Nam sông Mã nơi tiếp giáp hai dòng sông Chu-Mã trong địa phận phường Hàm Rồng thành phố Thanh Hoá Làng Đông Sơn được xem như một niên biểu về sự phát triển liên tục từ buổi các vua Hùng dựng nước cho đến thời hiện đại Tài liệu khảo cổ học cho biết
từ thời các vua Hùng dụng nước trên đất Đông Sơn đã hình thành một làng nông nghiệp Những chứng cớ văn hóa vật chất được phát triển từ lòng đất làng cổ Đông Sơn từ những bộ nông cụ đa dạng các loại vũ khí các loại đồ gốm đồ trang sức đặc sắc đến những chiếc trống đồng tinh sảo Đã cho thấy từ
Trang 38thời kỳ dựng nước Văn Lang, Đông Sơn đã là một làng nông nghiệp hình thành và phát triển lâu dài và có vị thế trong khu vực Phát hiện di tích làng cổ Đông Sơn với niên đại hơn 2500 năm đã mở ra chương mới cho việc nghiên cưu văn minh Việt cổ thời dựng nước đầu tiên Từ đầu thế kỷ XX Đông Sơn
đã trở thành tên gọi cho một nền văn hóa khảo cổ học nổi tiếng thế giới: Văn hóa Đông Sơn.Văn minh Đông Sơn đã trở thành một nền văn minh tiêu biểu của tổ tiên ta thời kỳ dựng nước Trống Đông Sơn trở thành biểu tượng tài
năng trí sáng tạo của người Việt Cổ buổi đầu tạo dựng văn minh
2.1.2.3 Những sự kiện lịch sử
Ngoài tạo dựng nên những làng Việt trù phú, cũng chính trên những dòng sông này những trận thủy chiến oai hùng của dân tộc đã diễn ra Xưa kia sông nước vẫn là con đường huyết mạch, những thế lực phương Bắc để xâm lược Đại Việt chúng đã đi từ biển qua cửa sông vào sâu trong nội địa hòng phong tỏa kiểm soát các đô thị trung tâm chính trị vốn địa ven sông của ta
như Luy Lâu, Long Biên
Cũng vì lẽ đó mà truyền thống, bơi tài, lặn giỏi, thạo thủy chiến đã hình thành sớm trong lịch sử chông ngoại xâm của dân tộc ta, tổ tiên ta đã lợi dụng khả năng chiến đấu trên sông nước để đánh giặc Từ thời An Dương Vương bảo vệ thành Cổ Loa, Hai Bà Trung khởi nghĩa và kháng chiến chống quân Đông Hán hoặc khi Lý Bí-Triệu Quang Phục đánh quân Lương, quân và dân
ta đã sử dụng thuyền chiến và tiến hành trên sông nước, ao hồ mà mở đầu cho nghệ thuật thủy chiến ấy là chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo chống quân Nam Hán Chiến thắng này đã chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, đưa nước ta bước vào thời kỳ tự chủ Dòng sông đúng là long mạch sinh nhân tài, ghi dấu chiến công của vị anh hùng dân tộc
Trang 39Tài thủy chiến đã được bộc lộ trong cả hai lần kháng chiến chống quân Tống do Lê Hoàn lãnh đạo năm 981 và do Lý Thường Kiệt lãnh đạo năm 1075-1077 với phòng tuyến sông Như Nguyệt lừng lẫy trong lịch sử Đây cũng nơi khởi nguồn bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam
Thế kỷ XIII, sông Hồng lại chứng kiến những trận đánh lịch sử của quân dân Đại Việt trước sự tấn công của giặc Nguyên Mông Trận đánh ngày 29 tháng giêng năm 1258 tại bến dòng Bộ Đầu, một bến sông lớn ở bến Long Biên hiện nay, quân giặc lại bị đánh bật ra hỏi thành tháo chạy về Trung Quốc
Năm 1285, giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ hai Khi đến
bờ bắc sông Hồng, chúng đã vấp phải tuyến phòng ngự của quân ta, các cung thủ được dàn trên bãi, các chiến thuyền được bố trí dọc sông Tới tháng 5 năm
1285, quân ta bắt đầu phản công với những chiến thắng vang dội Trần Quang Khải tiêu diệt cứ điểm ở bến Chương Dương, nay là làng Chương Dương bên hữu ngạn sông Hồng thuộc huyện Thường Tín Trung thành Vương đánh đồn giặc ở Giang hẩu bên cửa sông Tô tại khu vực Hàng Buồm
Quân Nguyên Mông ba lần xâm lược vào nước ta nhưng cả ba lần đều chịu thất bại, và trong lần thất bại thứ 3(1288), Trần Quốc Tuấn, vị tướng quân tài ba đã kế thừa và tiếp nối truyền thống chiến đấu từ các thời trước, ở đây nghệ thuật thủy chiến đã đạt đến trình độ cao tuyệt vời Ông đã thực hiện một kế hoạch tác chiến được tính toán kỹ lưỡng chu đáo từng bước, dẫn dụ địch vào trận địa sẵn sàng vào đúng thời điểm thuận lợi đã được kết hợp quân mại phục thủy bộ với bãi cọc ngầm được đặt sẵn cũng như lợi dụng thủy triều
để đánh trận tiêu diệt địch “Người ta không thể nào tắm hai lần trên một dòng sông” Với ý nghĩa triết học của sự vận động thì điều ấy là tuyệt đối Nhưng bảo “lịch sử không bao giờ lặp lại” thì… Cũng vẫn giặc ngoại xâm phương
Trang 40Bắc Cũng vẫn theo đường biển kéo vào Cũng vẫn bị ta phục kích ở cửa Sông Rút, Sông Chanh - hai nhánh của Sông Bạch Đằng Cũng vẫn bị thua bởi một cách đánh Cũng vẫn chừng chiếc cọc lim ấy chọc thủng thuyền giặc…: bạn hãy đến Bạch Đằng Giang để ngẫm nghĩ về lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc và nhớ tới hai câu thơ của Trương Hán Siêu trong bài Phú Bạch Đằng:
“Đỏ rực ráng chiều in đáy nước Ngỡ rằng máu giặc vẫn còn đây.”
Thế kỷ XV, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược đại bản doanh của nghĩ quân Lê Lợi đóng ở bến Bồ Đề đối diện với thành Đông Quan của giặc ở bên kia sông Hồng Bến này về sau thuộc địa phận xã Lâm Hạ Tên gọi bắt nguồn từ thực tế lịch sử là sau khi được tin nghĩa quân Lam Sơn về đóng ở đây thì nhân dân sữ Bắc và xứ Đông tấp nập tới chức mừng và xin được tham gia chiến đấu:
“Nhong nhong ngựa ông đã về Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”
Thế kỷ XVIII, sông Hồng lại một lần nữa chứng kiến chiến thắng vang của dân tộc khi nghĩa quân Tây Sơn đại phá quân Thanh Giữa năm 1786, khi thủy quân Tây Sơn đến bến Nam Dư (nay thuộc quận Hoàng Mai, ở phía nam bến Thúy Ái) thì một cánh quân được tách ra, đổ bộ lên bờ, tiến đến Thúy Ái đánh úp giặc Quân giặc tan vỡ nhanh chóng Cùng thời gian này, nghĩa quân Tây Sơn giong buồm tiến thẳng tới bến Tây Long bên bờ sông Hồng rồi lên
bờ đánh chiếm lầu Ngã Long
Năm tháng lịch sử có thể lùi vào dĩ vãng nhưng dòng sông vẫn còn đó
là minh chứng hùng hồn cho những sự kiện vĩ đại đã từng xảy ra