1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch hồ ba bể với đời sống kinh tế của người tày xã nam mẫu huyện ba bể bắc kạn

85 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • MỞ ĐẦU

  • Chương 1KHÁI QUÁT VỀ KHU DU LỊCH HỒ BA BỂVÀ NGƯỜI TÀY XÃ NAM MẪU HUYỆN BA BỂ, BẮC KẠN

  • Chương 2TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH HỒ BA BỂ ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾCỦA NGƯỜI TÀY XÃ NAM MẪU HUYỆN BA BỂ, BẮC KẠN

  • Chương 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦANGƯỜI TÀY XÃ NAM MẪU HUYỆN BA BỂ, BẮC KẠN GẮN VỚIPHÁT TRIỂN DU LỊCH HỒ BA BỂ

  • KẾT LUẬN

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu

Trong giai đoạn đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, khoa học và công nghệ thông tin Ngành du lịch phát triển nhanh chóng, góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước Sự phát triển này đã thúc đẩy nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, bao gồm các tạp chí, báo chí và luận văn, luận án đề cập đến vấn đề du lịch.

Vườn Quốc Gia Ba Bể đang được chú trọng và đầu tư cho việc nghiên cứu phát triển du lịch Nhiều công trình nghiên cứu về phát triển du lịch tại tỉnh Bắc Kạn đã được thực hiện, trong đó có báo cáo hội thảo khoa học "Vườn Quốc Gia Ba Bể - khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang", xuất bản bởi Nhà xuất bản Lao động – Hà Nội năm 2003.

Hồ Thanh Hải và nnk, 2001: “Điều kiện tự nhiên là cơ sở cho quy hoạch sử dụng hợp lý Hồ Ba Bể và phụ cận”, tài liệu Viện STTNSV

Nguyễn Văn Hảo (1975) đã nghiên cứu về “Sở sinh học và nguồn lợi cá Hồ Ba Bể”, trong khi Hoàng Thị Hiền (2004) tập trung vào “khu du lịch sinh thái Hồ Ba Bể” qua các nghiên cứu khoa học của sinh viên tại Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội Những nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết và phát triển bền vững khu vực Hồ Ba Bể.

Các công trình nghiên cứu hiện có phản ánh sự phát triển du lịch và sự quan tâm của các ngành, cấp liên quan đến rừng, thực vật, đa dạng sinh học và du lịch sinh thái Tuy nhiên, chúng chưa đi sâu vào tiềm năng du lịch, thực trạng phát triển và tác động của du lịch đến đời sống của người dân Do đó, tôi chọn đề tài “Du lịch Hồ Ba Bể với đời sống kinh tế của người Tày xã Nam Mẫu huyện Ba Bể, Bắc Kạn” để khai thác tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch tại Hồ Ba Bể, đồng thời tìm hiểu tác động của du lịch đến đời sống cộng đồng Là người Tày sinh ra tại Bắc Kạn, tôi mong muốn đóng góp một phần sức lực cho quê hương.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu những tiềm năng du lịch to lớn của Hồ Ba

Bài viết này sẽ khám phá thực trạng phát triển du lịch tại khu du lịch Hồ Ba Bể, đặc biệt là đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của du lịch đối với đời sống kinh tế của đồng bào Tày ở xã Nam Mẫu Từ những phân tích này, bài viết sẽ đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển du lịch tại khu vực Hồ Ba Bể.

Ba Bể là một khu vực có tiềm năng du lịch lớn, đặc biệt là Hồ Ba Bể, nơi có thể kết hợp phát triển du lịch với nâng cao đời sống kinh tế của người Tày tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, Bắc Kạn Để thực hiện điều này, cần đề xuất một số giải pháp như phát triển hạ tầng du lịch, bảo tồn văn hóa bản địa, và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho cộng đồng Những nỗ lực này không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho người dân mà còn thu hút du khách đến với vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa độc đáo của vùng đất Ba Bể.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, với sự chú trọng đến quan điểm của Đảng và Nhà nước về dân tộc và văn hóa dân tộc.

Trong quá trình triển khai đề tài, các phương pháp cụ thể được áp dụng bao gồm khảo sát, điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học, phỏng vấn các tầng lớp nhân dân và sưu tầm sách báo tư liệu.

Phân tích, tổng hợp thông tin, so sánh để xử lý tư liệu cũng được người nghiên cứu lựa chọn sử dụng.

Đóng góp của đề tài

Đề tài này không chỉ bổ sung vào kho tàng tư liệu nghiên cứu về khu du lịch Hồ Ba Bể mà còn phân tích thực trạng phát triển du lịch tại đây và tác động của nó đến đời sống kinh tế của đồng bào thiểu số Những giải pháp ban đầu được đề xuất sẽ là gợi ý hữu ích cho các nhà quản lý và các ngành liên quan ở huyện Ba Bể, nhằm khai thác tiềm năng du lịch lớn của Hồ Ba Bể và nâng cao đời sống của người dân địa phương.

Bố cục nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về khu du lịch Hồ Ba Bể và người Tày xã Nam Mẫu huyện Ba Bể, Bắc Kạn

Chương 2: Tác động của du lịch Hồ Ba Bể đến đời sống kinh tế của người Tày xã Nam Mẫu huyện Ba Bể, Bắc Kạn

Chương 3 trình bày một số giải pháp nhằm cải thiện đời sống kinh tế của người Tày tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, đồng thời kết hợp với việc phát triển du lịch tại Hồ Ba Bể Các giải pháp này bao gồm việc khai thác tiềm năng du lịch tự nhiên và văn hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, và phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương Bằng cách này, không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.

KHÁI QUÁT VỀ KHU DU LỊCH HỒ BA BỂ VÀ NGƯỜI TÀY XÃ NAM MẪU HUYỆN BA BỂ, BẮC KẠN

Khái quát về khu du lịch Hồ Ba Bể

* Huyền thoại về Hồ Ba bể

Hồ Ba Bể gắn với một truyền thuyết mà hầu hết người dân nơi đây đều có thể kể cho du khách

Ngày xưa, khu vực Hồ Ba Bể từng là vùng đất trù phú thuộc xã Mẫu Ninh Trong một dịp lễ hội cúng Phật, người dân nơi đây hào hứng tham gia, cùng nhau ăn chay, niệm Phật và thực hiện các hoạt động thiện nguyện.

Trong một đám hội, xuất hiện một bà già ăn mày với bộ dạng gớm ghiếc, những mảnh vải rách không đủ che thân hình gầy còm và lở loét Mùi hôi thối từ bà khiến người khác khó chịu, và bà bị xua đuổi khắp nơi Dù cầm rá và cầu khẩn "Đói lắm các ông các bà ơi", bà vẫn không nhận được sự giúp đỡ nào cho đến chiều Các cô gái trẻ coi bà như người mắc bệnh hủi, trong khi những người đang lễ bực tức dừng lại để mắng mỏ và đuổi bà đi vì sự gần gũi của bà.

Sau khi rời khỏi đám hội, người phụ nữ tội nghiệp đi vào xóm và bị xua đuổi May mắn thay, bà gặp mẹ con bà góa, người đã đưa bà về nhà và cho ăn cơm nguội Tối đến, bà lão xin ngủ nhờ, nhưng giữa đêm, người mẹ phát hiện ra rằng bà không phải là một ăn mày mà là một con Giao Long đang cuộn mình Hoảng sợ, người mẹ ôm con và chờ đợi đến sáng Khi ánh sáng ban mai chiếu rọi, bà lão đã rời đi, để lại sự bí ẩn trong lòng người mẹ.

Chúng nó thờ phật nhưng thực chất chỉ là buôn phật, xứng đáng chịu trầm luân Chỉ có hai mẹ con nhà ngươi là tốt bụng Hãy cầm lấy gói tro này và rắc xung quanh nhà trong đêm nay, đừng đi đâu cả Người mẹ băn khoăn hỏi thêm.

Người đàn bà, sau một lúc do dự, đã quyết định cứu giúp mọi người bằng cách lấy từ túi áo ra một hạt thóc, cắn tách đôi vỏ trấu và đưa cho hai mẹ con.

- Hai mảnh vỏ trấu này sẽ giúp hai mẹ con làm việc thiện rồi bà lão biến mất

Hai mẹ con bà góa kể về một sự kiện kỳ lạ, khi giữa đêm hội náo nhiệt, một dòng nước từ lòng đất phun lên, gây ra mưa lớn và làm nước sông dâng cao Chỉ trong chốc lát, khu vực trở thành một cái ao, và một con Giao Long khổng lồ xuất hiện, bay vòng quanh xã Nam Mẫu, trong khi nhà và chuồng lợn của họ dần bị ngập Đau lòng trước cảnh lụt lội, hai mẹ con đã dùng hai vỏ trấu làm thuyền để chèo ra cứu người bị nạn Ngày nay, chỗ đất xụt ấy trở thành Hồ Ba Bể, và nền nhà của họ biến thành Đảo Bà Góa giữa hồ.

* Lịch sử Hồ Ba bể Đó là những sự tích, những truyền thuyết gắn liền với sự hình thành Hồ

Ba Bể theo cách lý giải của người xưa

Không hiểu trận hồng thủy có xảy ra thật không?

Hồ Ba Bể, một vùng đất từng bị sụt lún, đã được các nhà khoa học xác minh nằm trong khu vực địa hình cát tơ.

Chợ Rã - Ba Bể - Chợ Đồn thuộc vùng trũng của khối nâng Việt Bắc

Khối nâng này được hình thành do sự phá hủy của khối lục địa Đông Nam Á vào cuối thế kỉ cambric, có nghĩa là khoảng 200 triệu năm về trước

Hồ Ba Bể, với cấu tạo địa chất đặc biệt, sở hữu những đặc điểm độc đáo so với các hồ cattơ trên thế giới Chính vì lý do này, vào tháng 3 năm 1995, hội nghị quốc tế tại Mỹ đã công nhận Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên cần được bảo vệ.

- Ngày 10/11/1992 đã chính thức phê duyêt là Vườn Quốc Gia Ba Bể

- Ngày 1/10/1997 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định công nhận Ba

Bể là khu rừng cấm

Rừng và Hồ không chỉ là di sản thiên nhiên quý giá mà còn là nơi lưu giữ nguồn gen quý hiếm của hệ động vật và thực vật, cần được bảo tồn để phục vụ cho nhân loại.

Hồ Ba Bể ngày càng thu hút sự chú ý của du khách toàn cầu nhờ vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng Các lễ hội truyền thống và phong tục tập quán vẫn được bảo tồn và phát triển hàng năm, thể hiện văn hóa đặc sắc của vùng Với tiềm năng du lịch tự nhiên phong phú, Hồ Ba Bể cần được đầu tư khai thác để phát triển bền vững.

1.1.2 Đặ c đ i ể m đị a lý - c ả nh quan

1.1.2.1 Đặc điểm địa lý – tự nhiên

Vườn Quốc Gia Ba Bể mở rộng tọa lạc trên núi đá vôi tại xã Nam Mẫu, bao gồm một hệ thống sông suối và núi đá với độ cao từ 150m đến 1500m so với mực nước biển Đây là hồ tự nhiên nội địa lớn nhất Việt Nam và một trong những hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, được bao quanh bởi các dòng sông suối Khu vực này còn nổi bật với những khu rừng thường xanh, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ và kỳ bí cho thiên nhiên nơi đây.

Năm 1995, Hồ Ba Bể được công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt cần bảo vệ tại Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới ở Mỹ Đến cuối năm 2004, Vườn quốc gia Ba Bể vinh dự được công nhận là Vườn di sản ASEAN.

Hồ chợ Lèng, nằm ở phần cuối của sông, được mở rộng trước khi hợp lưu vào sông Năng, mang trong mình đặc trưng của cả hồ và sông.

Hồ Ba Bể có tổng diện tích khoảng 500ha, với chiều dài 8km, rộng trung bình 500m (nơi rộng nhất 800m, nơi hẹp nhất 200m) và độ sâu trung bình từ 20-25m, nơi sâu nhất lên tới 35m Hồ được chia thành ba nhánh thông liền nhau, tạo thành hình chân vạc Trong khu vực hồ còn có một số đảo như đảo An Mã và Pò Giả Mải.

Khu vực này có một tỷ lệ nhỏ núi đất, chủ yếu nằm trong địa phận xã Khang Ninh Các núi đất được hình thành từ sa thạch và diệp thạch, với độ cao từ 500m đến 600m Tuy nhiên, sự tác động mạnh mẽ của con người đã làm giảm thiểu rừng nguyên sinh, thay vào đó là rừng tái sinh với sự xuất hiện của cây cỏ, cây bụi và cây gỗ mọc rải rác.

Khái quát về người Tày xã Nam Mẫu

1.2.1 Đ i ề u ki ệ n t ự nhiên - xã h ộ i xã Nam M ẫ u

Nam Mẫu là một xã vùng sâu của huyện Ba Bể, Bắc Kạn giao thông khó khăn đời sống của đồng bào chưa phát triển

Xã Nam Mẫu có vị trí:

Phía Đông giáp xã khang Ninh huyện Ba Bể

Phía Tây giáp xã Nam cường huyện Chợ Đồn

Phía Nam giáp một phần xã Quảng Khê huyện Ba Bể

Phía Bắc giáp xã Cao thượng huyện Ba Bể

Với tổng diện tích tự nhiên 6.478,94 ha, khu vực này bao gồm 9 thôn bản: Pác Ngòi, Bó Lù, Bản Cám, Cốc Tộc, Nặm Dài, Đán Mẩy, Khâu Qua, và Nà Nghè.

Nà Phài Trong đó có 4 thôn vùng thấp và 5 thôn vùng cao

Xã có 359 hộ với 1.875 nhân khẩu (1/2012), là nơi sinh sống của bốn dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng và Dao, trong đó người Tày chiếm đa số.

1.2.2 Ng ườ i Tày xã Nam M ẫ u

Trong xã có bốn dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó người Tày chiếm đa số và hiện diện ở hầu hết các thôn bản, đặc biệt là thôn Pác Ngòi và Bó Lù Theo các cụ kể lại, người Tày đã có mặt tại đây từ rất sớm và sống hòa thuận, gắn bó với các dân tộc khác Đồng bào Tày sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm thủ công, dệt thổ cẩm và đánh bắt cá trong hồ.

Người dân sống quây quần trong các thôn bản dưới chân núi hoặc bên bờ hồ, quen thuộc với cuộc sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống Họ thường ăn cơm độn ngô, đồ xôi và làm các loại bánh từ gạo nếp vào những ngày lễ tết, tương tự như phong tục của người Tày ở những vùng khác.

Trang phục của đồng bào nơi đây chủ yếu là áo màu chàm

Người Tày tại đây sở hữu những nét văn hóa độc đáo trong tang ma và cưới xin, phản ánh quan niệm về thế giới gồm ba tầng: tầng trời với các vị thần, tầng người là nơi con người sinh sống, và tầng âm dành cho những người đã khuất Do đó, họ rất coi trọng tang ma và việc thờ cúng tổ tiên.

Trong hôn nhân, quyền tự do chọn lựa bạn đời là rất quan trọng Văn hóa tinh thần của người Tày nơi đây cũng vô cùng phong phú, thể hiện qua những điệu sli, lượn và những câu then mượt mà.

Người Tày tại xã Nan Mẫu, huyện Ba Bể, Bắc Kạn sở hữu nhiều kinh nghiệm sản xuất phong phú cùng nền văn hóa vật chất và tinh thần đa dạng, quý giá, tương tự như các dân tộc Tày ở các vùng khác.

Xã Nam Mẫu, thuộc huyện Ba Bể, Bắc Kạn, là một xã nghèo gắn liền với lịch sử nuôi giấu cán bộ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Di sản lịch sử này vẫn hiện hữu qua những khu rừng nguyên sinh và nhà sàn lợp lá Tuy nhiên, cuộc sống của người dân nơi đây vẫn gặp nhiều khó khăn, đói nghèo, với hàng trăm hộ dân tại 5/9 bản không có điện và phải di chuyển trên những con đường gập ghềnh, hiểm trở.

Đồng bào Tày chủ yếu sống bằng nghề nông, với lúa nước là cây lương thực chính Bên cạnh đó, họ còn trồng ngô, khoai, sắn và nhiều loại cây thực phẩm khác trên các nương định canh, tạo ra nguồn thu nhập quan trọng cho cộng đồng.

Việc trồng bông để dệt vải đã phát triển từ lâu, không chỉ đáp ứng nhu cầu của các gia đình mà còn được bán tại các chợ địa phương, thu hút cả khách thập phương Bên cạnh đó, đồng bào cũng chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, lợn, gà, dê, tuy nhiên số lượng nuôi chủ yếu phục vụ cho bữa ăn hàng ngày và làm sức kéo.

Nghề thủ công gia đình như đan lát, rèn công cụ và nghề mộc không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của các gia đình mà còn thể hiện bản sắc văn hóa của đồng bào Tày Các cộng đồng Tày thường sống quần tụ thành từng bản, mỗi bản gồm từ 20 đến 30 nóc nhà, tạo thành những xã hội gắn kết và đậm đà bản sắc.

Bản (làng) của người Tày ở đây được xây dựng ở những chân núi hoặc ven sông, suối

Tính cộng đồng của bản (làng) xưa kia có vai trò quan trọng trong đời sống của người Tày, góp phần bảo tồn những thuần phong mỹ tục truyền thống Đời sống tinh thần của người Tày chứa đựng nhiều yếu tố tích cực và lành mạnh cần được phát huy Tuy nhiên, cũng tồn tại những yếu tố lạc hậu cần phải được loại bỏ một cách thích hợp.

Người Tày ở Bắc Kạn, đặc biệt là tại xã Nam Mẫu, thường sinh sống trong các bản làng bên cạnh sông suối Họ xây dựng nhà cửa dựa lưng vào đồi, với ruộng nà ở phía trước để trồng lúa Khu vực lăng lườn phía sau nhà có rừng cung cấp củi, nơi săn thú và lấy gỗ phục vụ cho việc xây dựng nhà cửa và làm rẫy.

Người Tày sống ở vùng núi cao với cây cối um tùm và độ ẩm cao, thường tập trung trong những ngôi nhà sàn truyền thống để bảo vệ mình khỏi rắn rết và điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

Nhà sàn của người Tày được xây dựng chủ yếu từ gỗ, mây, tre và nứa, với khung nhà làm bằng gỗ phách, kháo và lim, tạo nên một cấu trúc vững chãi nhờ tỷ lệ hợp lý Sàn và vách bao quanh được làm từ tre, nứa, trong khi mái nhà được lợp bằng lá cọ hoặc cỏ danh, giúp nước mưa thoát nhanh nhờ độ dốc lớn của mái Bếp, nằm ở trung tâm ngôi nhà, không chỉ phục vụ việc nấu nướng mà còn giữ ấm và tạo không gian quây quần cho gia đình, mang ý nghĩa thiêng liêng và gần gũi đối với người dân tộc Tày.

Tiềm năng phát triển du lịch của Hồ Ba Bể

Du lịch là ngành công nghiệp không khói, mang lại lợi ích kinh tế cao và đáp ứng nhu cầu giải trí của con người, đồng thời nâng cao đời sống xã hội Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, việc phát triển các loại hình du lịch phù hợp trở nên cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách.

2.1.1 Ti ề m n ă ng du l ị ch t ự nhiên

Tài nguyên đất và nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cảnh quan hùng vĩ và đa dạng của Hồ Ba Bể Tại đây, đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng có mùn và đất feralit đỏ sẫm trên đá vôi, bên cạnh đó còn có đất hình thành từ phù sa bồi của sông suối và trầm tích chân núi, tạo nên những khu ruộng nước phong phú.

Bên cạnh đó, hệ thống sông suối dày đặc phân bố đều khắp nơi, Hồ Ba

Bể, nằm trong số 20 hồ nước ngọt lớn nhất Việt Nam, kết hợp với dòng sông Năng có trữ lượng nước dồi dào chảy qua thác Đầu Đẳng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sản xuất thủy điện.

Hồ Ba Bể và khu vực xung quanh sở hữu tài nguyên đất và nước phong phú, tạo điều kiện cho một hệ sinh thái đa dạng với cây cối xanh tốt quanh năm Cảnh quan sơn thủy hữu tình ở đây mang lại tiềm năng to lớn cho sự phát triển du lịch.

Với vị trí địa lý đặc biệt và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, khu vực này vào mùa đông thường xuyên có sương muối và giá rét Tuy nhiên, nhờ chưa bị tác động bởi các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt, khí hậu nơi đây vẫn giữ được sự trong lành, tạo điều kiện lý tưởng cho các chuyến tham quan và hoạt động du lịch như cắm trại, leo núi và du thuyền.

Vườn quốc gia Ba Bể, với diện tích 7.610 ha, trong đó 3.226 ha là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và hơn 300 ha mặt hồ, sở hữu hệ sinh vật phong phú với nhiều loài thực vật quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và Thế giới Nơi đây có các loài cây gỗ quý như Nghiến, Đinh, Lim và đặc biệt là Trúc dây, một loài tre đặc hữu của khu vực.

Ba Bể là khu vực nổi bật với sự phát triển của loài lan, thường mọc trên các vách núi và thả thân xuống hồ, tạo thành những bức mành tự nhiên quanh hồ Đây được công nhận là trung tâm đa dạng sinh học và đặc hữu cao nhất về loài lan, không chỉ ở Việt Nam mà còn toàn Đông Nam Á, với 182 loài lan, trong đó có nhiều loài đặc hữu chỉ có ở vùng này.

Hệ động vật tại Hồ Ba Bể rất phong phú với 87 loài cá, trong đó nhiều loài quý hiếm và có giá trị Vườn Quốc Gia Ba Bể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các loài động vật đang bị đe dọa toàn cầu, như Voọc đen má trắng và Cầy vằn bắc, mặc dù số lượng Voọc đen má trắng hiện nay trong khu vực rất ít.

2.1.2 Ti ề m n ă ng du l ị ch nhân v ă n

Giá trị văn hóa vật chất và tinh thần tại Hồ Ba Bể là những tiềm năng nhân văn to lớn, góp phần quan trọng vào sự phát triển du lịch của khu vực này, đặc biệt là huyện Ba Bể.

Hồ Ba Bể có vị trí địa lý đặc biệt, nơi cư dân trồng lúa sinh sống quây quần ven hồ và chân núi, tạo thành những làng bản xinh đẹp Những thửa ruộng màu mỡ xen kẽ với vách đá vôi, cùng với rừng nguyên sinh xanh mát, tạo nên sự hòa quyện tuyệt vời giữa con người và thiên nhiên, tạo ra bức tranh hữu tình đầy thơ mộng.

Người Tày ở xã Nam Mẫu sinh sống trong các bản làng với khoảng 20-30 nóc nhà mỗi bản Cảnh quan thiên nhiên và con người nơi đây tạo nên một bức tranh văn hóa truyền thống hấp dẫn, thu hút nhiều du khách đến tham quan và khám phá vùng đất này.

Người Tày ở xã Nam Mẫu được thiên nhiên ưu ái với khí hậu trong lành, không gian rộng lớn của núi rừng và hồ nước ngọt tĩnh lặng Du khách có cơ hội trải nghiệm văn hóa ẩm thực độc đáo với các món như cá nướng, cơm lam, và tép chua Họ cũng có thể khám phá các bản làng, nhà sàn truyền thống của người Tày, leo núi theo các con đường mòn, thăm các hang động kỳ ảo, và thưởng thức những điệu sli, lượn, then đặc sắc của các chàng trai, cô gái Tày.

…Tất cả những tiềm năng đó làm cho hồ Ba Bể thực sự hấp đẫn du khách và hứa hẹn một ngành du lịch phát triển

Do điều kiện địa lý vùng núi cao với cây cối rậm rạp, nhiều rắn rết và độ ẩm cao, người Tày ở đây thường sống tập trung trong những ngôi nhà sàn truyền thống.

Nhà sàn của người Tày được xây dựng chủ yếu từ các vật liệu tự nhiên như gỗ, mây, tre và nứa lấy từ rừng Khung nhà được làm từ gỗ phách, kháo, lim, trong khi sàn và vách bao quanh được làm bằng tre và nứa, mái nhà được lợp bằng lá cọ Mặc dù sử dụng vật liệu đơn giản, nhà sàn vẫn rất vững chãi nhờ vào tỷ lệ hợp lý trong kết cấu khung gỗ, với từ 7 đến 9 hàng cột và mái có độ dốc lớn giúp thoát nước mưa nhanh chóng Bếp, nằm ở trung tâm ngôi nhà, không chỉ phục vụ nấu nướng mà còn giữ ấm và tạo không gian quây quần cho gia đình, vì vậy nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và thiêng liêng đối với người dân tộc Tày.

Người Tày, như nhiều dân tộc khác, có những món ăn độc đáo được chế biến từ nguyên liệu tự trồng trọt và chăn nuôi Bên cạnh các loại thực phẩm như ngô, khoai, sắn, và đậu, họ còn nuôi gia súc và gia cầm để cung cấp thực phẩm chính cho bữa ăn hàng ngày.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỜI SỐNG

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005) Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb. Văn hoá - Thông tin
2.Trần Bình (2009) Văn hóa các tộc người Tây Bắc Việt Nam. Nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn hóa các tộc người Tây Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Dân Tộc
3. Nguyễn Đổng Chi ( 1997 ) Sự tích Hồ Ba Bể. Nxb Kim Đồng, Hà Nội 4. Phan Hữu Dật (1998) Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nxb.Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích Hồ Ba Bể". Nxb Kim Đồng, Hà Nội 4. Phan Hữu Dật (1998) "Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
5. Chu Xuân Diên(2004) Mấy vấn đề về văn hoá và văn học dân gian, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hoá và văn học dân gian
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh
6. Nguyễn Đăng Duy (2004) Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
7. Hoàng Thị Hiền (2004) khu du lịch sinh thái Hồ Ba Bể, nghiên cứu khoa học sinh viên, Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: khu du lịch sinh thái Hồ Ba Bể
8.Hồ Thanh Hải và nnk (2001) Điều kiện là cơ sở cho quy hoạch sử dụng hợp lý Hồ Ba Bể và phụ cận. Tài liệu viện STTNSV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện là cơ sở cho quy hoạch sử dụng hợp lý Hồ Ba Bể và phụ cận
9. Nguyễn Chí Huyên (Chủ biên) (2000) Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
10. Đinh Gia Khánh(1993) Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam á, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam á
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
11. Hoàng Nam ( 1998 ) bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người – văn hóa Việt Nam, Nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người – văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Dân Tộc
12. Bùi Thị Nga (2010) Tác động của du lịch tới đời sống của người Mường ở Kim Bôi, Hòa Binh, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Học Văn Hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của du lịch tới đời sống của người Mường ở Kim Bôi, Hòa Binh
13. Nhiều Tác Giả (2004 ) Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn. Nxb Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Dân Tộc
15.Nguyễn Công Minh, Dương Đức Tiến (1997). Dẫn liệu về chất lượng nước và vi tảo (micro algae) Hồ Ba Bể. Tạp chí sinh học 19/2: 117 -120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về chất lượng nước và vi tảo (micro algae) Hồ Ba Bể
Tác giả: Nguyễn Công Minh, Dương Đức Tiến
Năm: 1997
14. Bộ KHCN và MT (1996) Một số biệ pháp bảo vệ môi trường trong quy hoạch xây dựng Hồ Ba Bể, tỉnh Cao Bằng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một số hình ảnh về Hồ Ba Bể - Du lịch hồ ba bể với đời sống kinh tế của người tày xã nam mẫu huyện ba bể bắc kạn
t số hình ảnh về Hồ Ba Bể (Trang 77)
Ảnh 12. Hình ảnh Hồ Ba Bể lúc bình minh (Nguồn: Internet) - Du lịch hồ ba bể với đời sống kinh tế của người tày xã nam mẫu huyện ba bể bắc kạn
nh 12. Hình ảnh Hồ Ba Bể lúc bình minh (Nguồn: Internet) (Trang 83)
Ảnh 13. Hình ảnh Đảo Bà Góa nằm giữa hồ (Nguồn: Internet) - Du lịch hồ ba bể với đời sống kinh tế của người tày xã nam mẫu huyện ba bể bắc kạn
nh 13. Hình ảnh Đảo Bà Góa nằm giữa hồ (Nguồn: Internet) (Trang 83)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm