Nhận xét, đánh giá về công tác xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức và hoạt động của các mô hình thư viện, tủ sách cơ sở của Đồng bằng sông Hồng.. Để chăm lo xây dựng và tổ chức hoạt động c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
NGUYỄN HỮU GIỚI
XÃ HỘI HOÁ VÀ ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH CƠ SỞ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và thành kính tri ân:
- PGS-TS Nguyễn Thị Lan Thanh và Ban Giám hiệu Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
- PGS - TS Trần Thị Minh Nguyệt và Quý Thầy Cô giáo Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và giảng dạy chúng tôi trong những năm học vừa qua
- Tiến sĩ Chu Ngọc Lâm - Giáo viên hướng dẫn khoa học
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần – Vụ trưởng, cùng Ban lãnh đạo Vụ Thư viện, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp ở Vụ Thư viện, Thư viện Quốc gia Việt Nam và các bạn học đồng khoá đã giúp đỡ và chia sẻ những hiểu biết về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác xã hội hoá, đa dạng hoá hoạt động thư viện ở cấp cơ sở
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và thư viện các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này./
Hà Nội ngày 25 tháng 7 năm 2008
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Giới
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các nước Đông nam Á BCH TW : Ban Chấp hành Trung ương
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
UBND : Uỷ ban nhân dân
VHTT : Văn hoá - Thông tin
VHTTDL : Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN 7
1.1 Đảng và Nhà nước ta với công tác thư viện và vấn đề xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện 7
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển sự nghiệp thư viện ở Việt Nam 7
1.1.2 Các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành về xã hội hoá, đa dạng hoá, tổ chức, hoạt động thư viện 10
1.2 Về công tác xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở 14
1.2.1 Một số hình thức cơ bản trong việc xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở 17
1.2.2 Một số nội dung cơ bản trong việc xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở 21
1.3 Vấn đề đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH CƠ SỞ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (2001-2006) 26
2.1 Khái quát đặc điểm khu vực Đồng bằng sông Hồng 26
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội 28
2.1.3 Đặc điểm người đọc và nhu cầu đọc ở cấp cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 37
Trang 52.2 Xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 40
2.2.1 Tầm quan trọng của việc xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay 402.2.2 Tình hình xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 42
2.3 Phương thức đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 53
2.3.1 Các thư viện, tủ sách ở cơ sở 532.3.2 Nhận xét, đánh giá về công tác xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức
và hoạt động của các mô hình thư viện, tủ sách cơ sở của Đồng bằng sông Hồng 62
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH Ở CƠ SỞ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 69
3.1 Vấn đề quy hoạch và phát triển mạng lưới thư viện, tủ sách
cơ sở ở Việt Nam đến năm 2020 69
3.1.1 Về quản lý Nhà nước 703.1.2 Về nguyên tắc tổ chức thư viện cơ sở theo đơn vị hành chính, lãnh thổ: 72
3.2 Các giải pháp tăng cường xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 73
3.2.1 Khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực của các cá nhân, tổ chức, đoàn thể xã hội trong và ngoài nước để xây dựng và phát triển thư viện, tủ sách cơ sở 74
Trang 63.2.2 Tăng cường phối kết hợp giữa các Bộ, Ban, ngành với các địa phương
để xây dựng và phát huy vai trò các mô hình liên kết thư viện cơ sở 773.2.3 Phát huy tính chủ động, sáng tạo của những người làm công tác văn hoá cơ sở, thực hiện tốt việc xã hội hóa, đa dạng hóa tổ chức và hoạt động thư viện 793.2.4 Thực hiện các biện pháp, hình thức phù hợp nhằm tăng thêm sự hấp dẫn và tính hiệu quả, thiết thực của họat động thư viện cơ sở 813.2.5 Tăng cường công tác quản lý và chỉ đạo nghiệp vụ của các cấp cho họat động thư viện, tủ sách cơ sở 833.2.6 Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” 843.2.7 Nâng cao vai trò của Nhà nước trong quản lý, xây dựng và tổ chức hoạt động thư viện cơ sở 86
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hướng về cơ sở và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở để thiết thực góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, từ nhiều năm nay luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết Trung ương
V (Khoá VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc" và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: Cần phải “Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hoá của mọi người dân ở cơ sở, thôn xóm, bản, làng, cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị, địa phương Đa dạng hoá các phương thức hoạt động ”[10] Quán triệt những quan điểm của Đảng, trong những năm qua, bên cạnh việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ”,“Xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hoá”, Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) đã tập trung chỉ đạo một cách có hệ thống, từng bước triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng để xây dựng và duy trì hoạt động các thiết chế văn hoá thông tin ở cơ sở, góp phần làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người dân, hoàn thiện các giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị văn hoá truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại
Để chăm lo xây dựng và tổ chức hoạt động các thiết chế văn hoá thông tin nói chung - các thư viện, tủ sách cơ sở trong cả nước nói riêng - ngoài việc ban hành các văn bản pháp quy, chế độ, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động văn hoá thông tin phát triển, Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) đã thường xuyên chỉ đạo Sở VHTT các tỉnh, thành phố phát huy tính chủ động, sáng tạo, phối kết hợp chặt chẽ với các ban, ngành chức năng, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội, nhất là đẩy mạnh công tác xã hội hoá và đa
Trang 8dạng hoá hoạt động thư viện ở cơ sở, nhằm khuyến khích, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng và phát triển thư viện Nhìn lại hoạt
động của các thư viện, tủ sách cơ sở trong cả nước, trong đó có khu vực Đồng bằng sông Hồng, chúng ta thực sự vui mừng trước số lượng thư viện xã, tủ
sách thôn, làng trong các cộng đồng dân cư đã tăng nhanh đáng kể so với những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Sáu năm qua (2001-2006), thực hiện chủ trương xã hội hoá của Đảng và Chính phủ, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đã quan tâm và đóng góp nhiều công sức, tiền của và vật chất để xây dựng và phát triển thư viện, tủ sách cơ sở, từ việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thư viện đến việc quyên góp, ủng hộ sách báo cho sự ra đời và duy trì hoạt động của thiết chế văn hoá này Bên cạnh đó, các mô hình tủ sách liên kết ở cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng 10-15 năm trở lại đây cũng đã ra đời và đi vào hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực, nhằm đa dạng hoá hoạt động thư viện, góp phần nâng cao dân trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi,chuyển tải những kinh nghiệm sản xuất; bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và khơi dậy truyền thống văn hoá tốt đẹp
Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm và những thành tích đã đạt được, việc xã hội hoá và đa dạng hoá hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng cũng còn tồn tại những vấn đề cần sớm được giải quyết, khắc phục, đó là: Phong trào xã hội hoá thư viện chưa thực sự sâu và rộng, lại cũng chưa thường xuyên, liên tục nên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Ở một số nơi trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, công tác xã hội hoá còn mang nặng tính hình thức và nhiều khi bị động Đa dạng hoá hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở thông qua các mô hình thư viện liên kết cũng đã bộc lộ những bất cập: Xây dựng các điểm Bưu điện - văn hoá, tủ sách pháp luật xã, phường, tủ sách đồn biên phòng trên các địa bàn dân cư mới chỉ chú trọng đến số lượng,
Trang 9chứ chưa quan tâm, đầu tư cho chất lượng - nhất là vốn sách báo, tài liệu, trang thiết bị làm việc, kinh phí hoạt động và tổ chức phục vụ bạn đọc
Vì lẽ đó, việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng công tác
xã hội hoá, đa dạng hoá hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở ở Đồng bằng sông Hồng (2001-2006), nhằm đưa ra những phương hướng, giải pháp khả thi, đẩy mạnh hoạt động này, phục vụ tốt sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là một nhu cầu tất yếu và quan trọng Vì lý do trên, tôi đã chọn vấn đề “Xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Thông tin – Thư viện của mình, một chuyên đề mà bản thân có khá nhiều tâm huyết và trăn trở, lại có thời gian công tác thực tiễn và tích luỹ được một số kinh nghiệm, hiểu biết nhất định
2 Tình hình nghiên cứu:
Hiện nay đã có nhiều luận văn thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên trường đại học nghiên cứu những vấn đề về lý luận - thực tiễn hoạt động thư viện – thông tin ở Việt Nam (chỉ tính riêngTrường Đại học Văn hoá
Hà Nội, từ khoá 1991 đến khoá 2002, đã có tới 152 luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về khoa học thư viện), nhưng đi sâu nghiên cứu vấn đề xã hội hoá và đa dạng hoá hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở (và cụ thể hơn trong khu vực Đồng bằng sông Hồng) thì chưa có khoá luận tốt nghiệp đại học/ luận văn thạc sĩ nào đề cập đến Tuy nhiên, nhìn nhận ở một phạm vi khác, năm 2003, Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Đào – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), có đề cập đến đề tài:
“Các thư viện tỉnh, thành phố với vấn đề xã hội hoá hoạt động thư viện”
Trong khoá luận này, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về vấn đề xã hội
hoá hoạt động đối với thư viện tỉnh, thành phố (bao quát phạm vi cả nước),
chứ chưa đề cập đến xã hội hoá hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở; lại cũng
Trang 10chưa đề cập đến đa dạng hoá hoạt động của thư viện, tủ sách cơ sở – một hoạt động vừa có tính đặc thù, vừa mang tính thực tiễn khá cao trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN ở nước ta
Với luận văn “Xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng (2001-2006)”, tác giả luận văn sẽ: Đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực trạng xã hội hoá và đa dạng hoá
tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở ở Đồng bằng sông Hồng; đánh giá hình thức, nội dung xã hội hoá thư viện cơ sở; khái quát và phân tích từng
mô hình thư viện liên kết cơ sở: Điểm Bưu điện-Văn hoá xã, tủ sách Pháp luật
xã, phường, tủ sách Đồn biên phòng, thư viện xã - trường học, đồng thời đưa
ra phương hướng và giải pháp khả thi, đẩy mạnh hoạt động này trong thời gian tới, nhằm phục vụ có hiệu quả sự nghiệp đổi mới của đất nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Vấn đề xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
+ Đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, gồm các mô hình thư viện liên kết: Điểm Bưu điện – văn hoá xã; tủ sách pháp luật xã, phường; tủ sách đồn biên phòng, thư viện- trường học, thư viện tư nhân phục vụ cộng đồng và các thư viện, tủ sách liên kết khác
- Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội hoá và đa dạng hoá hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở khu vực Đồng bằng sông Hồng từ năm 2001 đến năm 2006 (gồm 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh,
Trang 11Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình) – (Nghị quyết số 54/NQ-TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020).
4 Mục đích và nhiệm vụ:
- Mục đích:
Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở Đồng bằng sông Hồng (giai đoạn 2001-2006), xác định phương hướng và đưa ra giải pháp, nhằm tăng cường hoạt động này trong xu thế phát triển kinh tế xã hội – xã hội hiện nay
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu những cơ sở lý luận, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác thư viện và về vấn đề xã hội hoá, đa dạng
hoá hoạt động thư viện
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở Đồng bằng sông Hồng (2001-2006)
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp khả thi, nhằm tăng cường hơn nữa hoạt động này trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Quan sát trực tiếp
- Điều tra bằng phiếu
- Phỏng vấn trực tiếp, trao đổi, mạn đàm
Trang 12- Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Thống kê
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò, tầm quan trọng
của việc xã hội hoá, đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở
Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu góp phần tăng cường hoạt động thư viện, tủ sách
cơ sở ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển văn hoá- xã hội CNH, HĐH đất nước
- Làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các trường đào tạo cán bộ thông tin – thư viện
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH CƠ SỞ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Trang 13Chương 1
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ
XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
1.1 ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỚI CÔNG TÁC THƯ VIỆN VÀ VẤN ĐỀ
XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển sự nghiệp thư viện ở Việt Nam
Đảng, Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến công tác thư viện và sử dụng sách báo, thư viện trong quá trình đấu tranh cách mạng Ngay từ khi mới
ra đời (1930), Đảng ta đã khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng Cách mạng tư tưởng văn hoá là bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng Vì vậy các chiến sĩ cách mạng đã tích cực chuyển sách báo, tài liệu về nước, để giác ngộ quần chúng, giác ngộ giai cấp: Đó là những tài liệu tuyên truyền Chủ nghĩa Mác – Lênin Nhờ có sách báo cách mạng mà phong trào cách mạng không ngừng phát triển Nhiều chiến sĩ cách mạng đã biến nhà tù của chủ nghĩa đế quốc thành trường học cộng sản, nơi xuất bản và tàng trữ tài liệu của cách mạng, của Đảng Có lẽ, sự hình thành (một cách có ý thức) những tủ sách bí mật ấy trong các nhà tù đế quốc, thực dân được xem là chứng cớ và hiện thân độc đáo, là tiền để để xây dựng sự nghiệp thư viện Việt Nam
Trong thời kỳ vận động cách mạng, nhiều sách báo của Đảng thực sự là ánh đuốc soi đường cho nhân dân Từ thực tế đó, trong Chỉ thị ngày 20-3-
1937 của Trung ương Đảng đã yêu cầu phải xây dựng thư viện, tủ sách ở từng
cơ sở Đảng Mỗi Chi bộ phải tổ chức một “Bình dân thư xá” (hay một cơ quan tương đương) để mua sách báo công khai Năm 1943, cao trào chống phát xít lên cao, Đảng ta gấp rút chuẩn bị mọi mặt để lãnh đạo nhân dân giành
Trang 14chính quyền Các tờ “Giải Phóng”, “Cứu Quốc”, “Lao Động” đã kịp thời
tuyên truyền các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng “Đề cương văn
hoá” của Đảng ra đời năm 1943, đã đề ra 3 nguyên tắc cơ bản: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng, đó là nội dung xuyên suốt của nền văn hoá cách mạng Việt
Nam
Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về văn hoá, có ý nghĩa to lớn về mặt nguyên tắc, đặt nền móng cho sự nghiệp thư viện và công tác sách báo, đặc biệt có ý nghĩa là Sắc lệnh 18/SL (1946) của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
về “Đặt thể lệ lưu chiểu văn hoá phẩm trong nước Việt Nam” [4, tr 14]
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Chính phủ rút vào Chiến khu Việt Bắc Sách báo đã có tác dụng cổ vũ, giáo dục, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tinh thần quyết chiến, quyết thắng
kẻ thù xâm lược Do hoàn cảnh chiến đấu ác liệt, phương tiện in ấn thiếu thốn,
số lượng sách báo xuất bản rất hạn chế, nhưng Đảng vẫn chủ trương thành lập Thư viện Trung ương Đảng (theo Quyết định 15-CP ở vùng căn cứ địa Việt Bắc) Kho sách này được bổ sung các tác phẩm kinh điển, các văn kiện, tài liệu về đường lối, chính sách của Đảng, sách báo trong và ngoài nước Đến năm 1954, kho sách này có khoảng 20.000 cuốn Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước ta, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên sử dụng nguồn tài liệu phong phú này để vạch ra đường lối kháng chiến, kiến quốc, lãnh đạo toàn dân tộc giành được thắng lợi vẻ vang, kết thúc chín năm kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp Từ năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt đầu thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và cải tạo kinh tế, tiến hành công cuộc xây dựng XHCN ở miền Bắc, phục vụ cho đấu tranh thống nhất nước nhà
Trang 15Sau khi về tiếp quản Thủ đô và cải tạo Thư viện Trung ương Đông Dương của Pháp để lại, cùng với vốn tài liệu từ Việt Bắc chuyển về, Thư viện Quốc gia Việt Nam ra đời, đáp ứng nhu cầu sử dụng tài liệu phục vụ công cuộc cải tạo xây dựng miền Bắc XHCN Tiếp theo, từ năm 1956, Đảng ta chủ trương xây dựng thư viện tỉnh, thành phố Kể từ đó, trên miền Bắc, các thư viện tỉnh, thành phố lần lượt ra đời, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, đồng thời đáp ứng nhu cầu đọc và sự phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật của các địa phương Các thư viện đã tạo điều kiện cho người dân ở mọi miền tổ quốc có thể tiếp cận và sử dụng vốn di sản văn hoá của dân tộc, những thành tựu khoa học, kỹ thuật của nhân loại
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) đã nhấn mạnh “Về công tác thư viện, cần mở rộng các thư viện hiện có, xây dựng thêm một số thư viện ở khu công nhân, các thị xã và mở rộng phong trào quần chúng đọc sách báo ” [6, tr.9] Đặc biệt, Quyết định số 178-CP ngày 16/9/1970 của Hội đồng Chính phủ đã chỉ rõ phương hướng phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam:
“Củng cố các thư viện khoa học, đồng thời phát triển rộng rãi các thư viện phổ thông theo quy mô thích hợp với khả năng kinh tế của ta, nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu văn hoá của cán bộ quần chúng, tăng cường công tác sách báo và cơ sở vật chất cho thư viện” [4, tr 25] Quyết định 178-CP của Hội đồng Chính phủ đã thúc đẩy hoạt động thư viện từ Trung ương đến cơ sở ở miền Bắc phát triển mạnh
mẽ Trong thời kỳ này, các thư viện huyện được củng cố thêm một bước, hàng ngàn thư viện, tủ sách hợp tác xã, nông - lâm trường ra đời
Sau khi nước nhà thống nhất (1975), thư viện các tỉnh phía Nam ra đời
và đi vào hoạt động nhờ sự chi viện từ các thư viện kết nghĩa của miền Bắc, giúp cho nhân dân miền Nam tiếp cận và sử dụng sách báo XHCN Tiếp theo
đó, các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V, VI, VII tiếp tục nhấn mạnh và quan tâm đến công tác thư viện ở nước ta, đặc biệt Hội nghị lần thứ V của
Trang 16Đảng (khoá VIII), (năm 1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu và xây dựng Pháp lệnh thư viện
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Báo cáo Chính trị của BCH TW Đảng lần thứ IX (2001) và lần thứ X (2006) cũng đã nêu rõ:
“Đẩy mạnh xây dựng thư viện, nhà văn hoá hiện đại hoá công tác thư viện ” [6, tr.15], và “ Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhà văn hoá, bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc, điểm bưu điện - văn hoá
xã, khu vui chơi giải trí ”[10, tr.106-107], nhằm thực hiện quan điểm: Đầu
tư cho văn hoá là đầu tư cho sự phát triển của xã hội và con người
Như vậy, trong mỗi giai đoạn của lịch sử, khi có những thay đổi về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như nhiệm vụ cách mạng, Đảng và Nhà nước đã có những chỉ đạo kịp thời về đường lối phát triển sự nghiệp thư viện Và chính sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi, là nền móng và cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thư viện nước ta liên tục phát triển
1.1.2 Các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành về xã hội hoá và đa dạng hoá, tổ chức, hoạt động thư viện
Khoảng 10 – 15 năm trở lại đây, từ khi nước ta đẩy nhanh thời kỳ CNH, HĐH đất nước, cùng với chủ trương xã hội hoá giáo dục, xã hội hoá y
tế, xã hội hoá hoạt động văn hoá - thông tin v.v thì vấn đề xã hội hoá hoạt động thư viện cũng đã được Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng và quan tâm, đã được thể chế hoá bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật
Trước khi đi vào phân tích một số văn bản pháp quy quan trọng của Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành chỉ đạo về vấn đề xã hội hoá và đa
Trang 17dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, xin được nêu lên / làm rõ thêm nội
hàm và tính chất lý luận của 2 khái niệm cơ bản: Xã hội hoá và đa dạng hoá
Nội dung thứ nhất, Xã hội hoá Theo Đại từ điển tiếng Việt do Trung tâm
ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) biên soạn, chủ biên
Nguyễn Như Ý- NXB VHTT xuất bản năm 1998, tr 1848, thì khái niệm xã hội
hoá là làm cho thành của chung xã hội Ví dụ xã hội hoá tư liệu sản xuất v.v
Xã hội hoá cũng có thể được hiểu là phương pháp biến một chủ trương, đường lối của Đảng thành hành động tự giác của toàn xã hội, tạo thành sức mạnh gấp bội, sức mạnh tổng hợp của toàn dân để thực hiện mục đích chân chính V.I.Lênin bàn về xây dựng thư viện có nói đại ý: nhân dân cần tham gia tích cực vào việc xây dựng và phát triển thư viện (tính chất xã hội hoá thư viện)
Như vậy, xã hội hoá hoạt động thư viện là thu hút mọi sự tham gia, đóng góp, đầu tư của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội vào công tác thư viện, biến hoạt động thư viện thành hoạt động chung của toàn xã hội Xã hội hoá chủ yếu nói về việc vận động nhân dân, tổ chức xã hội tham gia xây dựng, phát triển thư viện
Nội dung thứ hai, Đa dạng hoá Theo Đại từ điển tiếng Việt do Trung
tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) biên soạn, chủ biên Nguyễn Như Ý - NXB VHTT xuất bản năm 1998, tr 567 thì khái niệm
đa dạng hoá là làm cho trở nên đa dạng, phong phú Ví dụ đa dạng hoá nền
kinh tế, đa dạng hoá cuộc sống, đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện Đa dạng hoá hoạt động thư viện nghĩa là thực hiện nhiều mô hình, hình thức phục vụ thông tin, sách báo cho toàn dân, toàn xã hội Đa dạng hoá chủ yếu nhấn mạnh việc tổ chức thực hiện cho phong phú, đa dạng hoạt động thư viện (trong đa dạng hoá, bao hàm cả ý xã hội hoá hoạt động thư viện Ví dụ thư viện tư nhân vừa là xã hội hoá, vừa là đa dạng hoá hoạt động)
Chúng ta đã có nhiều văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đến xã hội hoá, đa dạng hoá hoạt động thư viện
Trang 18Nhấn mạnh về chủ trương xã hội hoá, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), đã chỉ rõ: “Giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hoá, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt Theo trình độ phát triển kinh tế, Nhà nước tăng dần nguồn đầu tư cho khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội; đồng thời khai thác mọi tiềm năng của nhân dân, của địa phương , tranh thủ viện trợ nước ngoài, sử dụng có hiệu quả để chăm lo cho con người” [20, tr 49]
Về xã hội hoá hoạt động thư viện, tại Điều 4, Chương I, Pháp lệnh thư viện nêu rõ: “ Nhà nước đầu tư ngân sách để phát triển thư viện thực hiện xã hội hoá hoạt động thư viện; đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ thư viện” Tại Điều 21, Pháp lệnh cũng ghi rõ: “Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đóng góp xây dựng và phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam” [23, tr 9, 20]
Về đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện, Pháp lệnh cũng nhấn mạnh:“ Phát triển mạng lưới thư viện rộng khắp với các loại hình thư viện nhằm bảo đảm cho người dân ở mọi nơi, mọi trình độ có điều kiện sử dụng thư viện một cách dễ dàng; đáp ứng nhu cầu đọc sách báo để học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tâng lớp nhân dân” [6, tr 22]
Nghị định 72/2002/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thư viện (gồm 7 chương, 28 điều), khi nhấn mạnh tầm quan trọng của xã hội hoá hoạt động thư viện, tại điều 16, Chương IV đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hoá hoạt động thư viện, khuyến khích tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tặng cho tài liệu, tiền, tài sản, đóng góp công sức cho việc phát triển thư viện ” [6, tr 50]
Về thực hiện phương châm xã hội hoá và đa dạng hoá hoạt động thư viện, Quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Bộ VHTT ký quyết định phê duyệt số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 4/5/2007), nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động thư viện, phát huy hơn nữa hiệu quả quản lý Nhà nước Tranh thủ tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, đồng thời huy động sự tham gia đóng góp của
Trang 19toàn xã hội trong việc xây dựng và phát triển ngành thư viện Việt Nam Phù hợp trong bối cảnh đất nước đang chủ động và khẩn trương hội nhập kinh tế quốc tế.”[7, tr.2 ], “đẩy mạnh xã hội hoá theo nguyên tắc xây dựng đi đôi với quản lý tốt để phát triển độc giả Kết hợp các loại hình thư viện trên địa bàn củng cố và tiếp tục xây dựng xã hội đọc.” [7, tr 2]
Để thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đa dạng hoá hoạt động thư viện - nhất là ở cấp cơ sở - nhằm không ngừng nâng cao dân trí, phổ biến kiến thức, kể cả kiến thức pháp luật cho toàn dân, thời gian qua, Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan đã phê duyệt và triển khai một số dự án/ đề án mang tầm cỡ Quốc gia, đó là:
- Quyết định số 1067/QĐ-TTg ngày 25/11/1998 V/v Phê duyệt Dự án xây
dựng và quản lý tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn Mục tiêu Dự án này là
duy trì và phát triển tủ sách pháp luật ở tất cả xã, phường, thị trấn trong cả nước (mỗi tủ sách gồm 4 bộ phận sách báo, tài liệu: Văn bản quy phạm pháp luật; sách pháp luật phổ thông; sách hướng dẫn nghiệp vụ công tác chính quyền, hành chính,
tư pháp cơ sở; sách báo pháp luật của Trung ương và địa phương
- Theo sáng kiến của Đ/c Đỗ Trung Tá, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (Tổng cục Bưu điện) về định hướng phát triển “Điểm Bưu điện - văn hoá xã” giai đoạn 1998-2000 ở nước ta, hai cơ quan cấp Bộ là
Bộ VHTT và Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông đã có buổi làm việc và ký tắt văn bản thoả thuận v/v xây dựng và phát triển “Điểm Bưu điện - Văn hoá xã”.(Thông báo số 2327/VHTT-TB, ngày 9/7/1998 của Bộ VHTT).Tiếp theo ngày 6/11/2000 HĐQT Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã ban hành Quyết định số 04/2000/QĐ-HĐQT-BC v/v ban hành “Quy định quản lý Điểm Bưu điện - văn hoá xã”, nhằm tổ chức, hướng dẫn các Điểm bưu điện - văn hoá xã trong cả nước
- Ngày 16/7/1993, Bộ VHTT và Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã ký kết Chương trình phối hợp hành động “Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá - thông tin ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn
Trang 201993-2000”, với 4 nội dung chủ yếu, trong đó có xây dựng và tổ chức các tủ sách đồn biên phòng
Có thể nói Pháp lệnh thư viện và Nghị định 72/2002/NĐ-CP cùng nhiều văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành về công tác thư viện được ban hành trong thời gia qua, đã có tác dụng tích cực, là
cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thư viện Việt Nam thực hiện phương châm xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức và hoạt động thư viện
1.2 VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH CƠ SỞ
Thư viện là một thiết chế văn hoá không vụ lợi, được tổ chức để phục
vụ xã hội vì lợi ích của toàn dân Xã hội hoá thư viện là một quá trình tất yếu của tổ chức và quản lý ngành, vì đó là thuộc tính của thư viện học XHCN, mà mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp này là xây dựng một xã hội đọc cho toàn dân Xã hội hoá cũng là dấu hiệu của sự chuyển đổi tất yếu khách quan từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, định hướng XHCN, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động sách báo, động viên các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và cộng đồng hưởng thụ sách báo và thư viện, đồng thời cùng góp công, góp sức xây dựng và phát triển thư viện
Như ta đã biết, đối lập với xã hội hoá là chế độ tập trung quan liêu bao cấp, trong đó mọi hoạt động thư viện là của Nhà nước, do Nhà nước đầu tư xây dựng và nuôi dưỡng Toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động thư viện, từ
cơ sở vật chất, vốn tài liệu, đội ngũ cán bộ, công tác tuyên truyền phục vụ, hướng dẫn đọc đều do Nhà nước cấp ngân sách Nhân dân hoàn toàn hưởng thụ các hoạt động thư viện một cách “bị động” Trong một chừng mực nào đó,
có thể nói: Cơ chế phi dân chủ giữa thư viện và người sử dụng, đã tạo thành
Trang 21thói quan liêu, giáo điều trong việc tổ chức và quản lý thư viện Phong trào đọc sách báo và hoạt động của nhiều thư viện, nhiều nơi được ghi nhận là khá hiệu quả, song không ít thư viện duy trì theo kiểu “đánh trống ghi tên”, nặng
về phong trào, hình thức và thành tích Đã xảy ra tình trạng một số thư viện
cơ sở được xây dựng theo kiểu áp đặt, không có thực chất và cũng không gắn với nhu cầu đích thực của cộng đồng Hệ quả là vào cuối thập kỷ 80 đầu 90 của thế kỷ 20, khi mất “nguồn sữa mẹ, nguồn bao cấp” của Nhà nước, thì hầu hết những thư viện cơ sở này đã tan rã nhanh chóng (Vào cuối thập niên 80 ở nước ta, gần 2.000 thư viện xã, tủ sách cơ sở đã biến mất, khi đất nước thay đổi cơ chế quản lý kinh tế mới ở nông thôn !)
Ngày nay với sự bùng nổ thông tin toàn cầu, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, trên thị trường đã và đang tràn ngập các sản phẩm đọc, nghe và xem, với nhiều thể loại phong phú, đa dạng và hấp dẫn (kể cả ấn phẩm truyền thống và hiện đại) Người đọc, người tiêu thụ thông tin, tri thức trở thành “thượng đế”, trở thành đối tượng và chi phối thị trường sách báo và các quá trình thư viện Xét theo tư duy triết học, thì nhu cầu ngày càng cao của người đọc, người dùng tin cũng rất đa dạng, biến động và phức tạp - nhất
là trong nền kinh tế thị trường hiện nay - sẽ là động lực thúc đẩy quan trọng
và năng động hoá toàn bộ các quá trình, qui trình phát triển thư viện vốn dĩ nhiều khi “chậm chạp, ì ạch và lười nhác” dưới thời bao cấp Cùng với sự vận động của qui luật khách quan này, các thư viện bắt đầu “chú ý” nhiều hơn đến tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu và nhất là quyền lợi của từng người đọc / và các nhóm người đọc trong xã hội và cũng dần dần thực hiện “dân chủ hoá” hoạt động của mình Về phía nhân dân, họ sẽ thấy rõ hơn vai trò của thư viện, ngày càng gắn bó với hiệu quả hoạt động của thư viện và tích cực tham gia vào quá trình thư viện một cách tự nguyện, sáng tạo Đây cũng chính là sự hình thành mầm mống cơ chế đa dạng hoá trong xã hội hoá
Trang 22Cơ chế xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện là một lĩnh vực khá phức tạp Nó có thể diễn ra trong cả chu trình thư viện (ví dụ thư viện của một
tổ chức, cá nhân), hoặc trong một hai quá trình (ví dụ Nhà nước và nhân dân cùng làm) Cơ chế này mang tính khoa học, pháp lý, song đôi khi lại rất mềm dẻo và linh hoạt (ví dụ vận động, thu hút tình nguyện viên tham gia hoạt động thư viện, không vụ lợi) Tuy nhiên, bất luận trong mọi trường hợp, vai trò quản lý, chỉ đạo và bảo trợ của Nhà nước trong suốt quá trình xã hội hoá là vô cùng quan trọng, nhằm bảo đảm duy trì và đẩy mạnh tốc độ của xã hội hoá thư viện Đây cũng là sợi chỉ đỏ, là nguyên lý quan trọng của thư viện XHCN với tính chất Nhà nước là trước hết, sau đó mới đến tính chất xã hội
Vì thế, không nên nhầm lẫn hoặc hiểu một cách hạn hẹp rằng: Xã hội hoá thư viện là thả nổi, phó mặc hoạt động thư viện và sách báo cho các đoàn thể và tư nhân, nhằm giảm thiểu bao cấp và kinh phí của Nhà nước, mà trái lại, hoạt động xã hội hoá đó vẫn phải theo định hướng chung của sự nghiệp thư viện XHCN, theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, được Nhà nước chỉ đạo, hướng dẫn và bảo trợ Đây là một quá trình tổng hợp bao gồm sức mạnh cả Nhà nước, của các đoàn thể, các tập thể, các cộng đồng có
tổ chức, cho đến sự đóng góp của những cá nhân, gia đình, dòng họ v.v
Trong quá trình đó, hoạt động của các cơ quan quản lý thư viện và các thư viện Nhà nước cấp trên luôn đóng vai trò nòng cốt và tất cả phải được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật Cần thấy rằng đây là một quá trình phức tạp mà tốc độ và chất lượng của nó phần lớn dựa vào một cơ chế
xã hội hoá của Nhà nước, bao gồm các quy định, thể chế, chế độ chính sách trong lĩnh vực này
Chúng ta biết rằng, không như nhiều ngành văn hoá - nghệ thuật khác, hoạt động sách báo và thư viện có mặt ở tất cả các ngành, các cấp, các địa
Trang 23phương, cơ sở Vì vậy nó mang tính liên ngành, liên kết và đa phương như:
Thư viện, tủ sách biên phòng, thư viện xã - trường học, tủ sách pháp luật xã,
tủ sách công nông trường v.v Vì thế việc cần phối kết hợp chặt chẽ giữa
ngành VHTTDL với các Bộ, Ban, ngành, để phát huy sức mạnh tổng hợp,
phục vụ sách báo hiệu quả nhất, chất lượng tốt nhất cho cộng đồng dân cư
trên từng địa bàn, phù hợp với mỗi địa phương trong điều kiện hiện nay
Xã hội hoá cũng là một yêu cầu chiến lược trong phát triển sự nghiệp
thư viện Việt Nam hiện nay Những năm gần đây, chúng ta đã gặt hái được
những kết quả đáng khích lệ trong tổ chức và quản lý các loại hình thư viện
đa dạng tại các cộng đồng, cơ sở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số Kinh nghiệm cho thấy các mô hình sách báo được xây dựng ở cấp cơ sở chỉ thực sự bền vững khi Nhà nước và các tầng lớp nhân dân cùng phối hợp và hợp tác chặt chẽ, dưới sự quản lý của Nhà nước Nói gọn lại, xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện còn là một quá trình lâu dài,
cần có kế hoạch và chính sách thích hợp theo sự biến đổi của nhu cầu đọc và
điều kiện kinh tế, văn hoá - xã hội của đất nước cũng như của các vùng, miền
1.2.1 Một số hình thức cơ bản trong việc xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở cơ sở
* Quyên góp sách báo, tiền để thành lập thư viện Ở nước ta hình thức
này phổ biến từ những năm 1955-1956 Bằng sách hoặc bằng tiền quyên góp của các thành viên tổ chức Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội phụ nữ, Tổ
hợp tác hàng trăm “dây sách” ra đời, được tổ chức ở những trung tâm hội
họp của đoàn thể, rất thuận lợi cho các thành viên tới đọc và sử dụng (vốn
sách khi đó rất ít, có khi chỉ vài ba chục cuốn treo trên dây) Dần dần, vốn
sách tăng lên vài trăm cuốn, tủ sách ra đời thay cho dây sách Sau này, nhiều
thư viện xã ra đời từ vốn sách của các tủ sách trên Những kinh nghiệm quyên
Trang 24góp sách để xây dựng thư viện ở cơ sở vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày
nay Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Góp một cuốn
sách để được đọc nhiều cuốn sách” đã là một thực tế sinh động của công tác
xã hội hoá tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách cơ sở ở nước ta – trong đó
Quyên góp trong nhân dân sách báo, tài liệu (kể cả cũ và mới) hoặc tiền, để xây dựng vốn tài liệu, sách báo cho thư viện Đặc biệt nhiều địa phương, cơ sở đã có sáng kiến kêu gọi lòng hảo tâm của các tổ chức / cá nhân
là con em của địa phương đang công tác, làm ăn ở khắp mọi miền Tổ quốc (kể cả kiều bào ở nước ngoài), góp công, góp sức cho thư viện ở quê hương
Sự quyên góp này đưa lại cho thư viện một nguồn vốn sách báo, tài liệu ban đầu, trong số đó có nhiều sách báo có giá trị, nếu biết gìn giữ, quản lý và sử dụng thì rất có hiệu quả Ví dụ: Năm 2001, Thư viện xã Nam Hồng (Huyện Đông Anh- Hà Nội) đã tổ chức quyên góp sách trong nhân dân và các cơ quan ban ngành ở Hà Nội Chỉ trong 1 ngày, thư viện đã quyên góp được hơn 3.000 cuốn sách và 2 triệu đồng
Hiện nay, nhiều thư viện cơ sở khi đăng ký thành lập, sẽ được thư viện tỉnh hỗ trợ vốn sách ban đầu (khoảng 500 cuốn) Trong quá trình tổ chức và hoạt động thư viện cơ sở, các địa phương đã thành lập ra Ban tổ chức, gồm đại diện chính quyền, đoàn thể để làm nhiệm vụ vận động nhân dân quyên
Trang 25góp tiền, tài sản, sách báo để thành lập thư viện, đồng thời còn lập ra Ban Chủ nhiệm thư viện gồm những người tâm huyết với sách báo và văn hoá đọc ở địa phương, thay nhau trông coi và phục vụ thư viện, cũng như thay mặt thư viện để quan hệ với các tổ chức, cá nhân, giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh, động viên mọi tầng lớp nhân dân tiếp tục tham gia xậy dựng và phát triển thư viện ở địa phương
* Thư viện tỉnh, thư viện huyện luân chuyển sách sách xuống cơ sở theo định kỳ Đây là một hình thức khá phổ biến và mang tính hiệu quả cao trong
điều kiện của nước ta hiện nay Đặc biệt có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các mô hình thư viện, tủ sách cơ sở, kể cả vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực hiện Chương trình mục tiêu văn hoá (về thư viện) và được sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, từ năm
2003 đền nay, 100% các tỉnh thư viện, thành phố ở nước ta đã xây dựng kho sách luân chuyển tại các tỉnh, thành với vốn sách từ 10.000 đến 30.000 cuốn Nhằm thực hiện tốt việc luân chuyển sách báo về cơ sở, tuỳ theo điều kiện tổ chức, điều kiện địa lý và đặc điểm dân cư mỗi địa phương mà sử dụng các hình thức cho phù hợp Thông thường có các hình thức luân chuyển sau:
+ Thư viện tỉnh trực tiếp đưa sách báo xuống thư viện huyện, sau đó thư viện huyện tiến hành luân chuyển về cơ sở theo định kỳ
+ Thư viện huyện nhận sách tại thư viện tỉnh để luân chuyển cho cơ sở + Thư viện cơ sở nhận sách luân chuyển tại thư viện tỉnh/ thư viện huyện + Thư viện tỉnh luân chuyển sách báo xuống tận thư viện cơ sở
Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua, nhiều thư viện tỉnh thường xuyên
cử cán bộ trực tiếp chở sách luân chuyển xuống thư viện, tủ sách cơ sở bằng ô
tô, xe máy Theo định kỳ, thư viện tỉnh có thể đi được nhiều điểm đọc ở cơ
sở, luân chuyển được nhiều sách báo cho nhiều lượt bạn đọc; có thể luân
Trang 26chuyển sách đến đồn biên phòng, điểm bưu điện – văn hoá xã, tủ sách làng, thôn, ấp văn hoá, tủ sách trong nhà chùa Tuy nhiên, hình thức luân chuyển sách muốn có hiệu quả cao, đòi hỏi mỗi thư viện tỉnh, thư viện huyện phải củng cố vốn sách báo kho luân chuyển, đặc biệt cần thường xuyên bổ sung sách báo mới, đồng thời phải có hình thức theo dõi, bảo quản để hạn chế mất mát, hư hao tài liệu trong quá trình thực hiện công tác luân chuyển Điều quan trọng là phải có một đội ngũ cán bộ thư viện chịu khó, tâm huyết trách nhiệm với công việc Ở nhiều nơi, các tủ sách biên phòng, các tủ sách nhà chùa, nhà thờ, tủ sách công - nông - lâm trường có người phụ trách thư viện trực tiếp lên thư viện tỉnh, thư viện huyện nhận sách báo theo định kỳ Họ có thể vào kho tìm những cuốn sách ưa thích, cần thiết, phù hợp nhu cầu của địa phương, đơn vị; đồng thời họ có thể nêu yêu cầu, góp ý với thư viện tỉnh, thư viện huyện
để rút kinh nghiệm, bổ sung những loại sách báo nào cho phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương
* Tổ chức những hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách với sự tham gia của đông đảo nhân dân Trong các hoạt động, đáng chú ý là các cuộc thi
đọc sách, thi kể chuyện sách, giới thiệu sách Những hoạt động này được đưa vào thực tiễn ở nước ta từ đầu những năm 60 và cho đến hôm nay vẫn còn sức sống mạnh mẽ, trở thành hoạt động khá thường xuyên của các thư viện tỉnh
và nhiều thư viện huyện Các cuộc thi thường được tổ chức nhân dịp hè hoặc nhân các ngày lễ kỷ niệm của dân tộc, như ngày 19/5, 2/9 Để tổ chức các cuộc thi tại địa phương, thư viện tỉnh, thành phố thường xuyên phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, các trường học để thành lập Ban tổ chức, mở cuộc vận động đến cấp cơ sở và tổ chức các vòng thi, chọn những thí sinh xuất sắc ở các cấp dự thi Chung khảo tại thư viện cấp tỉnh Nhiều cuộc thi được tổ chức theo khu vực (Liên hiệp thư viện khu vực – TVCC) và những thí sinh tiêu biểu nhất các các khu vực được tham
Trang 27dự thi toàn quốc do Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) tổ chức Nhiều cuộc thi đọc sách, thi kể chuyện sách, tuần lẽ đọc sách, thi tìm hiểu ở các địa phương
đã thu hút hàng trăm, hàng nghìn, thạm chí hàng vạn người tham gia Rõ ràng, các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách đã thu hút đông đảo bạn đọc và nhân dân tham gia, trở thành một hoạt động có tính chất quần chúng thực sự
và đã mang lại một hiệu quả hết sức to lớn - nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà thói quen đọc sách còn chưa được phổ biến ở số đông người Việt Nam Đặc biệt ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số thì những hoạt động quần chúng nêu trên là rất cần thiết, cần được duy trì, mở rộng và đúc rút kinh nghiệm để việc tổ chức hoạt động này trở thành thường xuyên, hiệu quả ngày càng cao
Tóm lại, nét nổi bật nhất trong quá trình phát triển của thư viện Việt Nam là tìm kiếm không ngừng các hình thức thể hiện trên thực tế phương châm xã hội hoá, đa dạng hoá hoạt động thư viện Những hình thức này khá đặc thù và mang đậm nét sáng tạo của Việt Nam Tất nhiên, nhiều hình thức cần tiếp tục đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện thêm, đồng thời cần nghiên cứu, tham khảo một số hình thức xã hội hoá của các nước trong khu vực và trên
thế giới như: Tuần lễ thư viện, Lễ hội đọc sách, Thư viện lưu động, để có thể
áp dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam
1.2.2 Một số nội dung cơ bản trong việc xã hội hoá tổ chức và hoạt
động thư viện, tủ sách ở cơ sở
* Nhân dân tham gia xây dựng thư viện
Về nguyên tắc: Xác định rõ vai trò của nhân dân tham gia xây dựng các
mô hình thư viện, tủ sách cơ sở là chủ yếu Đây là phần lớn các thư viện hoạt động không bằng ngân sách Nhà nước Do đó cần tổ chức tuyên truyền, vận
Trang 28động quần chúng nhân dân, các tổ chức và cá nhân góp công, góp sức, góp tiền để xây dựng thư viện, tủ sách cho chính mình
Về hình thức: Khuyến khích đa dạng hoá mô hình thư viện, tủ sách phù
hợp với đặc điểm địa phương, vùng miền
- Gắn việc xây dựng thư viện với các mô hình văn hoá hiện nay như:
xã, thôn, bản, ấp, làng văn hoá
- Khuyến khích các cá nhân tự tổ chức các hình thức phục vụ sách báo cho cộng đồng Động viên những cá nhân tình nguyện làm cộng tác viên chuyển sách báo từ thư viện tỉnh, huyện về phục vụ nhân dân ở cơ sở Kêu gọi những gia đình có thư viện, tủ sách mở rộng phục vụ cho nhân dân trong làng, xóm, khu dân cư (hình thức thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng)
* Các đoàn thể xã hội tham gia xây dưng và phát triển thư viện Hoạt
động thư viện phát triển trên cơ sở có phong trào đọc mạnh mẽ Các đoàn thể xã hội (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, nhà trường ) cần phối hợp chặt chẽ với các thư viện để tổ chức thi đọc sách, kể chuyện theo sách, toạ đàm các tác phẩm, giới thiệu sách, trưng bày triển lãm sách theo chuyên đề Từ đó phát động các phong trào đọc và làm theo sách rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân
Khuyến khích việc kết nghĩa, đỡ đầu thư viện của các đoàn thể, các doanh nghiệp ở địa phương Cần có những chương trình cụ thể như: Góp cây cảnh, ghế ngồi, trồng hoa tại thư viên, đặc biệt quyên góp sách báo, lao động gây quỹ hoặc mua sắm bàn ghế, trang thiết bị cho phòng thư viện v.v
* Vai trò chủ đạo của Nhà nước Nghị quyết Trung ương V (khoá 8)
của Đảng đã chỉ rõ chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá nhằm động viên sức người, sức của của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng
và phát triển văn hoá Chính sách này được tiến hành đồng thời với việc không ngừng nâng cao vai trò và trách nhiệm của Nhà nước Đồng nghĩa với việc đó, các cơ quan chủ quản về văn hoá của Nhà nước cũng đã làm tốt chức
Trang 29năng quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các hoạt động xã hội về văn hoá
Trên bình diện thư viện, để duy trì và phát triển các mô hình thư viện – nhất là ở cơ sở, Nhà nước vẫn luôn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng cho các thư viện hoạt động, cụ thể:
- Xây dựng cơ chế, chính sách quản lý thích hợp để cho xã hội hoá hoạt động thư viện có điều kiện phát triển
- Tăng cường đầu tư cho các thư viện ở cơ sở có trọng điểm, để việc tài trợ như một chất xúc tác, gây men, làm cho quá trình xã hội hoá hoạt động thư viện được nhanh hơn, mạnh hơn, tốt hơn
- Tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt sách báo phong phú, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân có thể sử dụng sách báo, thư viện thuận lợi Xây dựng phong trào đọc và làm theo sách báo Qua đó, quần chúng thấy rõ hơn lợi ích của sách báo mà có sự tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng thư viện
- Bằng nhiều hình thức, tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp để phát triển thư viện
1.3 VẤN ĐỀ ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH Ở CƠ SỞ
Những năm qua phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá” với phương châm đa dạng hoá, xã hội hoá đã được nhiều cấp, nhiều
ngành cùng quan tâm, phối hợp thực hiện Ngoài những thư viện, tủ sách do
Bộ VHTTDL quản lý, ở các địa phương cơ sở đã có một số mô hình thư viện mới: Đó là các điểm Bưu điện-văn hoá xã; tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn và tủ sách đồn biên phòng Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Bộ VHTT đã ký kết với các Bộ, ngành nói trên, ra các văn bản để phối hợp, chỉ đạo toàn hệ thống TVCC tổ chức thực hiện Vì thế, trong những năm qua, ở các địa phương, cơ sở hoạt động thư viện đã được đa dạng hoá với các
Trang 30mô hình tủ sách liên kết Các thư viện, tủ sách cơ sở và mô hình tủ sách liên kết cùng với binh chủng hợp thành như: Phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản đã góp phần to lớn đưa ánh sáng văn hoá của Đảng đến với nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc Sau đây là một số mô hình chủ yếu thể hiện sự phong phú, đa dạng trong tổ chức và hoạt động thư viện, tủ sách ở Việt Nam
- Thư viện xã, tủ sách các thôn, làng, khu dân cư do ngành VHTTDL
quản lý Tính đến 2006, cả nước có khoảng trên 6.000 thư viện, tủ sách cơ sở
- Điểm Bưu điện - văn hoá xã là mô hình thư viện liên kết giữa ngành
VHTTDL và ngành Thông tin và Truyền thông, do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Mô hình này bắt đầu được triển khai từ 1999-2000 Đến cuối năm 2006 cả nước có khoảng hơn 7.800 điểm Bưu điện – văn hoá xã
- Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn là mô hình thư viện liên kết
giữa Bộ Tư pháp và Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL), do Bộ Tư pháp quản
lý Mô hình hình này bắt đầu được triển khai từ 1998 theo Dự án của Chính phủ Đến nay cả nước có khoảng hơn 10.000 tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn
- Thư viện, tủ sách đồn biên phòng là mô hình thư viện liên kết giữa Bộ
VHTT (nay là Bộ VHTTDL) và Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, do Bộ Tư lệnh
Bộ đội biên phòng quản lý Đến nay cả nước có 400 thư viện, tủ sách biên phòng
- Thư viện xã kết hợp với thư viện trường học (Trường PTCS) Đây là loại
hình phổ biến khi mà thư viện cơ sở chưa đủ mạnh, nhằm củng cố, mở rộng, phát triển hệ thống thư viện trường học, đưa tài liệu, sách báo phục vụ thiết thực việc dạy và học và đẩy mạnh phong trào đọc sách báo sâu rộng ở địa phương
- Tủ sách kết hợp với các cơ sở tôn giáo như: Tủ sách trong Chùa
Khơme, Tủ sách trong Nhà Thờ, là nơi thuận tiện để bà con và giáo dân sinh hoạt văn hoá một cách lành mạnh; sống tốt đời, đẹp đạo
Trang 31- Tủ sách, thư viện của các đoàn thể xã hội, các tổ chức quần chúng
như: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi v.v do các hội viên và toàn thể nhân dân quyên góp gây dựng vốn sách, báo và duy trì, tổ chức hoạt động
- Thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng là loại hình thư viện cơ sở
mới ở nước ta, nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá và đa dạng hoá tổ chức
và hoạt động thư viện trong điều kiện nền kinh tế thị trường Hiện nay cả nước có khoảng 20 thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng đang hoạt động
Đây là những nét đặc thù của hoạt động thư viện nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, nhằm đảm bảo cho người dân được tiếp xúc với sách báo, dần xoá bỏ sự cách biệt về hưởng thụ văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi, góp phần nâng cao dân trí, giáo dục phổ thông và xây dựng một "xã hội đọc" trong tương lai
Trang 32Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ, ĐA DẠNG HOÁ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN, TỦ SÁCH CƠ SỞ KHU VỰC ĐỒNG BẰNG
tự nhiên toàn vùng là 20 623,5 km2 Tuy nhiên đây lại là một vùng đất rất quan trọng, giàu tiềm năng kinh tế và truyền thống văn hoá, lịch sử
Về địa lý, vùng Đồng bằng sông Hồng là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc – Nam Phía Bắc và Tây Bắc Đồng bằng sông Hồng giáp với trung du và miền núi, nơi giàu khoáng sản và rừng Phía Đông giáp Biển Đông, nơi có nguồn hải sản phong phú Phía Nam giáp với Bắc Trung bộ, nơi giàu vật liệu và khoáng sản Về địa hình, vùng Đồng bằng sông Hồng là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng Mặt đất tự nhiên vùng cao từ 10-15 m giảm dần đến độ cao mặt biển, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam Những vùng đất cao hơn nằm ở rìa vùng đồng bằng tồn tại dưới dạng các núi đá vôi giống như các quả đồi biệt lập chạy dài theo hướng Tây – Nam ở các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hà Tây Hầu như toàn bộ đất trong vùng đồng bằng được bao bọc bởi 2.310 km
đê sông và gần 380 km đê biển Đồng bằng sông Hồng có nhiều loại khoáng sản: Nhiên liệu, vật liệu xây dựng, khoáng chất và kim loại Trong vùng đã phát hiện và tính trữ lượng 307 mỏ và điểm khoáng sản, phần lớn là các mỏ
có quy mô vừa và nhỏ Khoáng sản chủ yếu là: Đá vôi (trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn), đất
Trang 34sét và phụ gia cho sản xuất xi măng; bể than nâu (trữ lượng khoảng 900 triệu tấn) Các khoáng sản kim loại, phi kim loại có trữ lượng quá ít, không có triển vọng khai thác công nghiệp Ngoài ra còn nhiều tiềm năng về vật liệu xây dựng Trữ lượng thăm dò các vỉa khí và khí ngưng tụ tại vùng Tiền Hải (Thái Bình) được đánh giá từ năm 1962 là khoảng 1.263 triệu m3 [1]
Với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Vịnh Hạ Long, rừng Cúc Phương, Chùa Hương, Yên Tử, Tam Đảo, Đền Hùng v.v tài nguyên du lịch của Đồng bằng sông Hồng được coi là một lợi thế lớn và đặc biệt nổi trội so với nhiều vùng miền khác khác ở nước ta
Thảm thực vật tự nhiên hiện nay gồm sú vẹt ở các dải đất ven biển và thực vật đầm lầy ở các ô trũng với 197 loại thuộc 64 họ Thực vật cây trồng phong phú hơn gồm nhiều loại cây lương thực và cây công nghiệp Đất đồi rừng ở vùng Đồng bằng sông Hồng chỉ có 110,5 nghìn ha (chiếm 0,57% đất đồi rừng toàn quốc); 5% đất tự nhiên của vùng Động vật hoang dã cũng rất hiếm, trừ ở rìa đồng bằng tiếp giáp với miền núi, có một số loài động vật quí hiếm như: Gà tiền mặt vàng, sáo mỏ ngà, cu li lớn, tắc kè, kỳ đà hoa, trăn mốc… chim thường thuộc Bộ Sẻ và sống theo người Cũng có những loài chim di cư
từ phương xa đến để trú đông như vịt trời, ngỗng trời, le le Trong vùng có 240 loại cá, trong đó có 30 loại cá có giá trị kinh tế cao Ngoài ra còn có các loại thuỷ đặc sản khác như tôm, cua, ốc, trai, hến [18], [25], [29]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội
* Về kinh tế: Đối với cả nước, vị trí vai trò của vùng Đồng bằng sông
Hồng ngày càng tăng lên rõ rệt Đó là yêu cầu của cả nước, vừa là thực tế có thể đóng góp của vùng này Các chuyên gia của Viện Chiến lược phát triển Việt Nam dự báo mức tăng trưởng kinh tế của vùng sẽ cao hơn 7,2% / năm
Trang 35trong thời kỳ tới và đến năm 2010 vùng sẽ đóng góp 18-20% tổng GDP của
cả nước [35]
Mật độ dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng cao nhất, gấp nhiều lần
so với bình quân các vùng khác trong cả nước Do đó diện tích đất nông nghiệp chia theo hộ của khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng rất thấp, là vùng duy nhất không có hộ nông nghiệp nào có diện tích đất trên 3 ha, thường
là dưới 0,5 ha/hộ, bình quân theo đầu người là 577m2 và đang có nguy cơ tiếp tục giảm trong những năm tới, do tình trạng đo thị hoá nông thôn đang diễn ra nhanh chóng
Ba ngành kinh tế cơ bản là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều phát triển và có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Trong giai đoạn 1995 –
2005, giá trị công nghiệp tăng nhanh nhất 15,8%, dịch vụ 11,3% trong khi đó nông nghiệp chỉ có 4,6% Cùng với Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng nhiều năm qua đã góp phần quan trọng đưa nước ta vươn lên từ một quốc gia thiếu lương thực triền miên trở thành một quốc gia không những đảm bảo an ninh lương thực mà còn là nước xuất khẩu gạo (hiện nay đứng thứ hai trên thế giới) Bình quân lương thực theo đầu người tăng dần qua các năm,
từ 244,2kg (năm 1986) lên 423,9 kg (năm 2005) Ngành trồng trọt, ngoài lúa thì nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao gắn với công nghiệp chế biến cũng được chú trọng phát triển như trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau màu… Về chăn nuôi, cả vùng có hàng nghìn hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức trang trại, cả bò, lợn, gia cầm thay thế dần kiểu chăn nuôi tự cung,
tự cấp Về lâm nghiệp, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng lên đáng kể từ 0,97 tỷ đồng (năm 1986) lên 284,5 tỷ đồng (năm 2005) Đặc biệt từ năm 1993 đến nay, Chương trình 327 đã góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Trồng rừng phòng hộ ven biển theo dự án PAM cũng mang lại hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên tốc độ trồng và nuôi rừng còn quá chậm (năm 2005 là 23,6%),
Trang 36trong khi đó tỷ lệ khai thác rừng là quá lớn (năm 2005 là 69,4%) Ngành thuỷ sản đã đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Tỷ trọng giá trị sản xuất thuỷ sản tăng từ 3,79% (năm 1986) lên 5,87% (năm 2005) Sản lượng hải sản đông lạnh xuất khẩu tăng từ 1.560 nghìn tấn (năm 1986) lên 1.952 nghìn tấn (năm 2005) [31], [33]
Công nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng phát triển theo hướng đa ngành, hình thành trong vùng những khu công nghiệp lớn Ở Hà Nội có các KCN Gia Lâm, Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Nam Thăng Long, Đông Anh Ở Hải Phòng
có KCN Minh Đức, Vật Cách, Đồ Sơn, Kiến An, Đình Vũ; Hải Dương có KCN Phả Lại – Chí Linh – Kim Môn; Bắc Ninh có KCN Quế Võ; Vĩnh Phúc
có KCN Mê Linh; Hà Tây có KCN Hoà Lạc, Xuân Mai v.v
Đồng bằng sông Hồng là một trong những trung tâm dịch vụ lớn, đặc biệt
Hà Nội và Hải Phòng là hai trung tâm sôi động vào loại nhất cả nước Từ năm
1986 đến 2005, dịch vụ phát triển thêm nhiều ngành mới Tốc độ tăng trưởng bình quân 11,3 %/năm Về giao thông vận tải, Đồng bằng sông Hồng với mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không khá phát triển, đã tạo đà quan trọng thúc đẩy kinh tế - văn hoá - xã hội trong vùng Trên chiều dài
bờ biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình đã và đang xây dựng được một số cảng biển lớn như Cái Lân, Hải Phòng Về hàng không, vùng Đồng bằng sông Hồng
có 3 sân bay lớn: Nội Bài, Gia Lâm, Cát Bi, đang là cầu nối tam giác kinh tế trong khu vực Mạng lưới thương nghiệp khá phát triển với hệ thống bán buôn, bán lẻ, hàng hoá phong phú và đa dạng Tiềm năng du lịch khiến ngành du lịch nơi đây phát triển đứng đầu cả nước về số đơn vị kinh doanh du lịch, số lao động và khách sạn [18], [26], [35]
* Về văn hoá: Đồng bằng sông Hồng là một vùng văn hoá - lịch sử độc
đáo, đặc sắc và lâu đời, là cái nôi hình thành dân tộc Việt, là quê hương của
Trang 37các nền văn hoá Việt Vào cuối thời Đồ Đá mới và đầu thời Kim Khí, ở Đồng bằng sông Hồng những lớp cư dân nói ngôn ngữ Môn – Khơ me cổ đã giao tiếp về nhân chủng và văn hoá với những lớp cư dân nói ngôn ngữ Tày – Thái
cổ, Nam đảo cổ, để từ đó hình thành nên những người Việt cổ (Lạc Việt), chủ nhân của văn hoá Tiền Đông Sơn và văn hoá Đông Sơn rực rỡ Trải qua hơn
1000 năm Bắc thuộc, trong cuộc đấu tranh chống đồng hoá đó, người Việt cổ thời đại Hùng Vương thành người Việt hiện đại, chủ nhân của cuộc đấu tranh giải phóng và nền văn hoá Đại Việt thời phong kiến tự chủ sau này Lịch sử văn minh Việt Nam từ thời đại Hùng Vương đến ngày nay là sự phát triển tiếp nối của ba nền văn hoá lớn: Văn hoá Đông Sơn, Văn hoá Đại Việt và Văn hoá Việt Nam Tiêu biểu cho các nền văn hoá ấy là các trung tâm Bạch Hạc, Cổ Loa, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội đều qui tụ ở Đồng bằng sông Hồng [21, tr 97]
Là cội nguồn, đồng thời cũng là trung tâm của đời sống chính trị, xã hội và văn hoá lâu đời của đất nước, ở Đồng bằng sông Hồng đã sớm hình thành và định hình những truyền thống văn hoá lâu đời, thể hiện trong đời sống sản xuất, sinh hoạt vật chất (ăn, mặc, ở), các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần Tuy được bao bọc bởi rừng và biển Vịnh Bắc Bộ nhưng phương thức sống, thói quen sinh hoạt gắn với rừng và biển không mấy sâu đậm trong văn hoá của cư dân vùng Đồng bằng sông Hồng Trong quan hệ với thiên nhiên, có thể nói đồng bằng này là kết quả của quá trình chinh phục thiên nhiên của cư dân nơi đây bằng cách đào mương, đắp bờ, đắp đê
Nhà ở của cư dân nơi đây cũng chủ yếu là nhà khung cột như các vùng, miền khác, nhưng phát triển các hình thức nhà vì kèo khác nhau, được thống
kê tới hơn 10 kiểu loại Người nông dân Đồng bằng sông Hồng có tâm lý muốn xây nhà to, bền và chắc chắn để định cư lâu dài do phải chăm bón, thu hoạch cây lúa, để cải tạo đất đai từ vụ này qua vụ khác, từ năm này qua năm
Trang 38khác chứ không đơn sơ, tạm bợ như ngôi nhà truyền thống ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Hồng là nơi có truyền thống trồng lúa nước lâu đời, các nhà khảo cổ học cho rằng nông nghiệp trồng lúa đã có từ thời hậu kỳ đá mới, chưa kể những dự đoán của các nhà nghiên cứu có khả năng cách đây gần mười ngàn năm vào thời Văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng duy nhất trong cả nước có hai mùa nóng, lạnh rõ rệt, nên ngoài cây lúa là cây trồng chính, nhiều loại rau, củ, quả vùng ôn đới cũng được trồng [21, tr 99-100]
Đất chật, người đông, nhất là các vùng chiêm trũng trước đây chỉ trồng được một vụ lúa, nên người nông dân có nhiều thời gian nông nhàn Vì thế đa
số nông dân đều biết một đến hai nghề thủ công, để đem lại thêm thu nhập cho gia đình Đồng bằng sông Hồng có tới hàng trăm nghề thủ công khác nhau, từ đơn giản đến tinh xảo, nhưng nổi lên ba nghề chính là: nghề gốm, nghề dệt và luyện kim Nơi đây đã hình thành những làng nghề truyền thống nổi tiếng như: Bát Tràng, Thổ Hà, Cậy, Quao, Dõng với nghề gốm; các làng dệt như: La Cả, La Khê, Vạn Phúc, Bùng; nghề rèn sắt, đúc đồng của: Đại Bái, Đa Hội, Đa Sĩ, Ngũ Xá, Đại Đồng: nghề làm tranh như: Đông Hồ, Hàng Trống; các làng chạm khắc gỗ như: Bảo Hà, Chàng Thôn, La Xuyên, Chuyên Mỹ: làng chạm bạc như: Định Công, Đồng Sâm Đồng bằng sông Hồng có tới
914 làng nghề (chiếm 45,5% làng nghề cả nước)
Về tổ chức làng xã ở vùng Đồng bằng sông Hồng, hầu như các làng đều
có một họ gốc, họ lớn nhất, rồi từ đó tiếp nhận thêm các dòng họ khác bằng các quan hệ khác nhau Nhiều làng cho đến nay vẫn giữ lại tên một dòng họ, một gia tộc nào đó như: Ngô Xá, Nguyên Xá, Dương Xá, Đào Xá…Để đảm bảo sản xuất nông nghiệp và cân bằng xã hội cho những người làm nghề nông, các hương ước của làng xã ngày trước qui định khá chặt chẽ về đời sống sản xuất,
Trang 39về tổ chức và quan hệ xã hội, về sinh hoạt văn hoá, tinh thần của người dân Làng xã mang tính quần cư rõ rệt, biểu hiện tính gắn kết cộng đồng sâu sắc từ trong gia đình, làng xã đến vùng, miền và cả nước của người Việt Nam Ngoài làng có luỹ tre bao bọc, có cổng làng ra vào, xưa kia ban đêm phải đóng cổng, có dân binh phòng vệ, trong làng với đình, chùa, văn chỉ…khiến khung cảnh làng xóm nơi đây khác xa với nhiều làng xóm miền Trung và Nam Bộ mang tính lỏng lẻo và cởi mở hơn
Đồng bằng sông Hồng thời phong kiến còn được gọi là Bắc Hà, là nơi tập trung đông đảo tầng lớp trí thức, với hệ thống trường học và chế độ thi cử kén chọn người tài cho đất nước cách đây gần ngàn năm (sự ra đời của Văn Miếu và trường đại học đầu tiên của nước ta Quốc Tử Giám năm 1070 và 1076, khoa thi đầu tiên vào năm 1075 đời Lý Nhân Tông) Vùng này mà trung tâm là Thăng Long – Hà Nội, là nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng nho học của Trung Quốc và sau này là Tây học thời thuộc địa, dần dần hình thành truyền thống ăn, học của người
xứ Bắc với rất nhiều làng khoa bảng nổi tiếng như: Đông Ngạc, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Thượng Cát, Tả Thanh Oai (Hà Nội), Kim Đôi, Tam Sơn, Nội Duệ (Bắc Ninh),
Mộ Trạch (Hải Dương)… Và cho đến tận hôm nay, Đồng bằng sông Hồng vẫn rất
tự hào về truyền thống văn hiến của mình, với những Văn miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội), Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn miếu Bắc Ninh (Bắc Ninh) Thời thuộc Pháp (cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20), Đồng bằng sông Hồng là một vùng chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đậm nét, chủ yếu là dân cư thành thị
Đồng bằng sông Hồng ngày nay vẫn là nơi tập trung đội ngũ trí thức đông đảo nhất của cả nước- đội ngũ trí thức, có trình độ cao- bởi lẽ ở vùng này vẫn là “kinh kỳ, đô hội” của nước ta, là đầu mối các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học (90% viện nghiên cứu và 64% các trường đại học), mà
Trang 40đội ngũ trí thức cũng tập trung đông đảo nhất, chiếm 57% tổng số trí thức cả nước [34, tr.161]
Tín ngưỡng dân gian người Việt là thờ cúng tổ tiên, có liên quan đến các nghi lễ nông nghiệp, thờ cúng thần linh bảo vệ cho gia tộc, dòng họ, làng xóm
Nói đến văn hoá vùng Đồng bằng sông Hồng là nói tới một vùng văn hoá có lịch sử lâu đời và mật độ dày đặc của các di tích lịch sử văn hoá Nhiều
di tích không chỉ nổi tiếng trong nước mà cả ở nước ngoài, như: Đền Hùng, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Thành Cổ Loa, Thành Hoa Lư, Chùa Dâu, Chùa Tây Phương, Đình Tây Đằng…
Một sắc thái văn hoá độc đáo của Đồng bằng sông Hồng là sự phong phú, đa dạng của các lễ hội Các lễ hội của Đồng bằng sông Hồng, tuy to nhỏ khác nhau nhưng gốc tích ban đầu đều là hội làng, mang đậm tính chất lễ hội nông nghiệp, đó là lễ thức trình nghề (tuỳ từng địa phương mà mang tên gọi khác nhau), tục rước bó mạ, bó lúa, té nước cầu đảo, các lễ thức Mệ lúa và cúng hồn lúa, thờ mặt trời thông qua tục bơi trải – rước bưởi, cướp cầu gỗ sơn
đỏ, đánh phết, các phong tục có tính phồn thực như trò cướp kén mang hình
âm vật và dương vật…Trong quá trình lịch sử lâu đời, lễ hội ở đây thu nhận vào mình những nội dung lịch sử – xã hội, văn hoá mới, tạo nên sự hoà quyện, đan xen giữa cái mới du nhập sau này Sự biến đổi của lễ hội theo xu hướng huyền thoại hoá, lịch sử hoá và địa phương hoá góp phần tạo nên tính
đa dạng của lễ hội [37]
Đồng bằng sông Hồng còn là quê hương của các loại hình dân ca, các hình thức sân khấu có truyền thống lâu đời, đó là: dân ca quan họ, hát đúm, hát xoan, hát văn, hát ghẹo, hát trống quân, chèo, tuồng, rối nước và kịch nói [21, tr 118-119]