1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch cộng đồng tại làng cổ đường lâm làng lụa vạn phúc và làng mây tre đan phú vinh

87 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du Lịch Cộng Đồng Tại Làng Cổ Đường Lâm, Làng Lụa Vạn Phúc, Làng Mây Tre Đan Phú Vinh
Tác giả Phạm Quỳnh Phương
Người hướng dẫn ThS. Đỗ Trần Phương
Trường học Trường đại học văn hóa hà nội
Chuyên ngành Văn hóa du lịch
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc phát triển du lịch cộng đồng ở những nơi này còn tồn tại nhiều bất cập như sự hạn chế về dịch vụ du lịch, bảo tồn những giá trị văn hóa, chưa có sự đồng thuận giữa người d

Trang 1

Khoa v¨n ho¸ DU LỊCH

-o0o -

DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG

CỔ ĐƯỜNG LÂM, LÀNG LỤA VẠN PHÚC,

LÀNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Gi¶ng viªn h-íng dÉn : ThS Đỗ Trần Phương

Hµ Néi – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy, cô giảng viên trong khoa Văn hóa du lịch - trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm trong suốt bốn năm qua Những kiến thức và kinh nghiệm ấy không chỉ là nền tảng để hoàn thành khóa luận ngày hôm nay mà còn là hành trang

vô giá để em tự tin bước vào đời với lòng yêu nghề và hăng say làm việc

Đồng thời, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy Đỗ Trần Phương - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp

- Ban quản lý làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh; người dân đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em tìm kiếm thông tin, hình ảnh, số liệu để thực hiện khóa luận

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng do kiến thức còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý quý báu của thầy cô Cuối cùng em xin kính chúc thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp trồng người Một lần nữa xin chân thành cảm ơn thầy cô!

Sinh viên

Phạm Quỳnh Phương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 3

1.1 Khái niệm 3

1.1.1 Du lịch 3

1.1.2 Du lịch cộng đồng 5

1.2 Đặc điểm 7

1.3 Điều kiện phát triển 10

1.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng 15

1.5 Một số điểm du lịch tiêu biểu của du lịch cộng đồng 21

1.5.1 Bản Lác (Mai Châu – Hòa Bình) 21

1.5.2 Sapa 23

1.5.3 Quảng Nam 25

1.5.4 Hà Giang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM, LÀNG LỤA VẠN PHÚC VÀ LÀNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH 28

2.1 Khái quát chung về làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc, làng mây tre đan Phú Vinh 28

2.1.1 Làng cổ Đường Lâm 28

2.1.1.1 Điều kiện địa lý, lịch sử 28

2.1.1.2 Giá trị văn hóa 30

2.1.2 Làng lụa Vạn Phúc 34

2.1.2.1 Điều kiện địa lý, lịch sử 34

2.1.2.2 Giá trị văn hóa 35

2.1.3 Làng mây tre đan Phú Vinh 36

2.1.3.1 Điều kiện địa lý, lịch sử 36

2.1.3.2 Giá trị văn hóa 36

Trang 4

2.2 Một số thành tựu trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường

Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh 37

2.2.1 Lượng khách và doanh thu 37

2.2.2 Bảo tồn giá trị văn hóa 37

2.2.3 Dịch vụ du lịch 39

2.2.4 Tạo công ăn việc làm 41

2.2.5 Quảng bá hình ảnh văn hóa dân tộc 43

2.3 Những mặt tồn tại trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh 44

2.3.1 Dịch vụ du lịch 44

2.3.2 Chia sẻ lợi nhuận 45

2.3.3 Bảo tồn giá trị văn hóa 46

2.3.4 Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng chính sách, quy hoạch du lịch 46

2.3.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch 49

CHƯƠNG ІІІ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG Ở LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM, LÀNG LỤA VẠN PHÚC VÀ LÀNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH 51

3.1 Tuyên truyền phát triển du lịch cộng đồng 51

3.2 Đào tạo nguồn nhân lực 52

3.3 Bảo tồn giá trị văn hóa 55

3.4 Xây dựng chương trình du lịch đặc sắc 59

3.5 Xúc tiến quảng bá hỗn hợp 69

3.5.1 Quảng cáo 69

3.5.2 Tuyên truyền và quan hệ công chúng 73

3.5.3 Chào hàng trực tiếp 73

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch là ngành kinh tế mang tính liên ngành và xã hội hóa cao, với sự

tham gia của nhiều tầng lớp, nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều ngành trong xã hội Sự phát triển đa dạng về kinh tế và văn hóa của các cộng đồng địa phương sẽ tạo ra sự đa dạng và phong phú các sản phẩm du lịch Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch là một tất yếu vì cộng đồng địa phương là những người sáng tạo, nuôi dưỡng và bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Nghiên cứu một số địa phương trong phạm vi ngoại thành Hà Nội, em nhận thấy có ba ngôi làng đã triển khai hoặc mới đang trong giai đoạn manh nha hình thức du lịch cộng đồng, đó là: làng

cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh Đây đều là những làng cổ, làng nghề nổi tiếng và chứa đựng trong nó giá trị văn hóa, điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng Tuy nhiên việc phát triển

du lịch cộng đồng ở những nơi này còn tồn tại nhiều bất cập như sự hạn chế

về dịch vụ du lịch, bảo tồn những giá trị văn hóa, chưa có sự đồng thuận giữa người dân địa phương và chính quyền về chia sẻ lợi nhuận … Chính vì lí do

đó mà em đã lựa chọn đề tài “Du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh” để đưa ra những giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng nơi đây, đóng góp cho sự phát triển chung của du lịch thủ đô

2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Du lịch bền vững tại 3 làng: Làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc, làng mây tre đan Phú Vinh

Trang 6

3 Mục đích nghiên cứu

- Khái quát những lý luận cơ bản của du lịch cộng đồng

- Tìm hiểu những thực trạng của phát triển du lịch cộng đồng ở làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh

- Đề xuất hệ giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở 3 ngôi làng trong phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu việc triển khai du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc và làng mây tre đan Phú Vinh em đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin

- Phương pháp khảo sát thực địa

5 Kết cấu của đề tài

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG

Nhà kinh tế học người Anh Odgilvi thì định nghĩa: “Khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, những nguyên nhân chủ yếu không phải làm thương mại” [1,tr.26] Du lịch đơn thuần chỉ là hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao vốn hiểu biết của khách du lịch chứ không nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận

Kins – học giả người Thụy Sỹ thì cho rằng: “Du lịch là hiện tượng những người chỗ khác đi đến nơi không phải thường xuyên cư trú của họ bằng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ du lịch” [1,tr.26] Khái niệm này đề cập đến khía cạnh địa điểm du lịch Theo đó thì điểm đến khi đi du lịch sẽ là một nơi mới mẻ đối với du khách, nhằm mang lại trải nghiệm khách

lạ so với cuộc sống hàng ngày

Giáo sư Hunsiker và Kraf đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không phải cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức

Trang 8

liên quan đến các cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích ngành nghề, kiếm lời hoặc đến thăm có tính chất thường xuyên” [1,tr.26] Tổ chức

du lịch thế giới đưa ra định nghĩa: “Khách du lịch quốc tế là những người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24 giờ trở lên” [1,tr.26] Từ những định nghĩa trên đây ta thấy các tác giả hầu hết xuất phát từ đặc điểm di động của khách du lịch để đưa ra định nghĩa, chưa đi sâu vào bản chất của du lịch Nhìn chung những khái niệm đó chưa hoàn chỉnh Nếu xuất phát từ hiện tượng du lịch, bản chất đích thực của du lịch, ta có thể đưa ra một khái niệm tổng thể về du lịch như sau:

“Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền” [1,tr.27] Khái niệm này vữa chỉ

rõ được nhu cầu, mục đích của du khách, vừa chỉ rõ được nội dung của hoạt động du lịch, nguồn lực và phương thức kinh doanh du lịch

Như vậy, tùy vào góc độ tiếp cận mà có rất nhiều khái niệm khác nhau

về du lịch Tổng hợp lại những khái niệm này, ta thấy du lịch có những nội hàm cơ bản như sau:

- Du lịch gắn liền với hoạt động chi trả của du khách cho các loại dịch

Trang 9

-Theo Handbook (2000), Community based tourism: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng cường quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, nhằm mục đích khai thác bền vững các tiềm năng du lịch

tự nhiên và nhận văn tại địa phương để giới thiệu tới khách du lịch”

- Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wolffgang Strasdas đưa ra khái niệm: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [2,tr.44] Quan niệm trên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn quản lý

- Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng tại Đài Loan của giáo sư Hsien Hue Lee – Hiệu trưởng trường Đại học cộng đồng Hsin – Hsing Đài Loan nêu lên: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch bền vững dài hạn Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của người dân địa phương trong du lịch” [2,tr.48] Khái niệm trên đã đề cập đến

Trang 10

vấn đề tài nguyên du lịch, các điều kiện khuyến khích, giải quyết công ăn việc làm cho cộng đồng tại các điểm phát triển du lịch

Trong nước cũng đã có một số chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về du lịch cộng đồng:

- Dẫn theo Đỗ Thanh Hoa trong “Phát huy vai trò của cộng đồng địa phương phát triển du lịch bền vững”, Tạp chí Du lịch Việt nam số 4, 2007, tr 22: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch, trong đó chủ yếu những người dân địa phương đứng ra phát triển quản lý du lịch Kinh tế địa phương

sẽ thu hút được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch”

- Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thanh trong “Đào tạo du lịch cộng đồng,

du lịch sinh thái với bảo vệ mội trường”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 11,

2005, tr 21: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân cư là chủ thể trực tiếp tham gia phát triển du lịch, bảo

vệ tài nguyên môi trường cả về tự nhiên và nhân văn tại các điểm, khu du lịch

và đồng thời được hưởng quyền lợi từ hoạt động du lịch mang lại”

- Theo TS Nguyễn Văn Thanh trong “Để du lịch cộng đồng trở thành hiện thực”, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 3, 2006, tr 5: “Du lịch cộng đồng là một mô hình du lịch nơi cộng đồng dân cư có thể trực tiếp tham gia vào tổ chức phát triển từ giai đoạn khởi đầu đến quản lý giám sát cả quá trình phát triển sau này và quan trọng hơn là được hưởng lợi từ sự phát triển đó, hay nói ngắn gọn là loại hình du lịch do dân và vì dân”

Các khái niệm du lịch cộng đồng khác nhau về ngữ, song về nghĩa có một số đặc điểm chung khẳng định:

- Du lịch cộng đồng là: “loại hình, hình thái, phương thức phát triển du lịch: có sự tham gia trực tiếp, chủ yếu của cộng đồng địa phương vào các giai đoạn, các khâu rong quá trình phát triển du lịch nhằm bảo tồn và khai thác

Trang 11

bền vững các nguồn tài nguyên môi trường, cộng đồng được hưởng lợi nhuận

từ hoạt động du lịch

- Các khái niệm về du lịch cộng đồng nêu trên mới chú ý đến vai trò cung du lịch của cộng đồng địa phương và việc hưởng lợi ích từ du lịch của cộng đồng địa phương Khái niệm về du lịch cộng đồng của WWF, của Nicole Hauler và của Wolfgang Strasdas đã nhấn mạnh phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch cộng đồng được giữ lại cho cộng đồng Khái niệm du lịch cộng đồng của Handbook (2000) còn cho rằng cộng đồng còn nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và

từ các hoạt động hỗ trợ quốc tế

- Tất cả các khái niệm về du lịch cộng đồng của các tổ chức và các nhà nghiên cứu đưa ra ở trên mới chú ý đến vai trò của cộng đồng trong du lịch, thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào du lịch và quyền lợi họ được hưởng từ hoạt động du lịch, chưa quan tâm đến cộng đồng địa phương trong vai trò cầu du lịch, quyền lợi và đặc điểm của khách du lịch sử dụng các sản phẩm du lịch của cộng đồng địa phương

Từ những khái niệm trên ta có thể thấy về cơ bản du lịch cộng đồng có những nội hàm sau:

- Cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch và được hưởng lợi nhuận

- Cộng đồng địa phương có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch nhằm hướng đến phát triển du lịch bền vững

1.2 Đặc điểm

Du lịch cộng đồng có các đặc điểm phân biệt với các loại hình và các hình thức du lịch khác như sau:

Trang 12

- Du lịch cộng đồng là những phương thức phát triển mà cộng đồng dân

cư địa phương là chủ thể của mọi hoạt động bảo tồn, quản lý, khai thác tài nguyên môi trường du lịch và các khâu, các hoạt động du lịch trong quá trình phát triển: tham gia lập và thực hiện quy hoạch du lịch, cộng đồng địa phương tham gia với cả vai trò quản lý, tổ chức điều hành, giám sát, ra quyết định phát triển du lịch, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường du lịch; tham gia các hoạt động kinh doanh du lịch (kinh doanh lưu trú, ăn uống, vận chuyển, sản xuất hàng hóa, hướng dẫn, kinh doanh lữ hành, kinh doanh các dịch vụ hàng hóa, vui chơi, giải trí), sản xuất, cung ứng nông phẩm và các loại hàng hóa khác

- Cộng đồng địa phương giữ vai trò chủ đạo, duy trì các hoạt động kinh doanh du lịch và hoạt động kinh tế - xã hội có liên quan đến du lịch và du khách

- Phát triển du lịch cộng đòng tức là công nhận quyền chủ ở hữu hợp pháp trong việc bảo tồn, khai thác hợp pháp và bền vững các loại tài nguyên

và môi trường vì sự phát triển của cộng đồng Phát triển du lịch cộng đồng là thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu phát triển cộng đồng vì sự phát triển của cộng đồng

- Địa điểm tổ chức phát triển du lịch cộng đồng: diễn ra tại nơi cứ trú hoặc gần nơi cư trú của cộng đồng địa phương Đây là những khu vực có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên hoặc nhân văn phong phú, hấp dẫn hoặc cả hai, có độ nhạy cảm về đa dạng sinh học, chính trị, văn hóa và xã hội hiện đã, đang và có thể bị tác động bởi con người

- Cộng đồng dân cư phải là người dân sinh sống, làm ăn trong hoặc liền

kề các điểm tài nguyên du lịch, đồng thời cộng đồng phải có quyền lợi và trách nhiệm tham gia khai thác cũng như bảo tồn tài nguyên, các nguồn lực

Trang 13

phát triển du lịch bền vững nhằm hạn chế, giảm các tác động tiêu cực, nâng cao số lượng, chất lượng tài nguyên du lịch từ chính các hoạt động của du khách và các bên tham gia vào hoạt động vào hoạt động du lịch nói chung

- Phát triển du lịch cộng đồng vừa góp phần đa dạng hóa, nâng cao chất lượng tài nguyên môi trường du lịch, các sản phẩm du lịch, đồng thời góp phần duy trì, phát triển các ngành nghề kinh tế truyền thống của địa phương, ủng hộ sự phát triển đa dạng về các ngành kinh tế Phát triển du lịch cộng đồng phải đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia nguồn lợi từ hoạt động

du lịch Phần lớn nguồn lợi thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng Hoạt động này phải tính đến các hiệu quả về kinh tế - xã hội, môi trường và chịu sự điều tiết của các quy luật kinh tế - xã hội, đặc biệt là quy luật cung cầu

- Du lịch cộng đồng cũng bao gồm các yếu tố trợ giúp cộng đồng phát triển du lịch của các bên tham gia du lịch, gồm các cá nhân, các công ty du lịch, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cấp quản lý nhà nước …

- Du lịch cộng đồng còn bao gồm cả cơ chế, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, của chính phủ, của các tổ chức và cách thức sản xuất kinh doanh các sản phẩm du lịch để xã hội hóa du lịch, cộng đồng dân cư được đi du lịch, được hưởng thụ ngày càng nhiều các sản phẩm du lịch

Tổ chức phát triển du lịch cộng đồng thực chất là phát triển các loại hình du lịch bền vững, có trách nhiệm với tài nguyên môi trường và sự phát triển của cộng đồng Chủ thể của các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên môi trường và khai thác chính cho phát triển du lịch là các cộng đồng địa phương Nguồn lợi thu được từ hoạt động du lịch cũng như mục đích của các hoạt động trên nhằm phát triển cộng đồng Các loại hình du lịch cộng đồng do

đó còn được gọi là các loại hình du lịch vì dân và do dân

Trang 14

Phát triển du lịch cộng đồng, một mặt giúp phát huy lợi thế các nguồn lực phát triển du lịch tại nơi hoặc gần nơi cộng đồng sinh sống nhằm đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, chất lượng cao và hợp lý của du khách Mặt khác, phát triển du lịch cộng đồng còn bao hàm cả góc độ cầu du lịch, nhằm xã hội hóa cầu du lich để cộng đồng dân cư, đặc biệt là những người nghèo có thể đi du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch ngày càng nhiều, tạo ra sự công bằng xã hội

và tạo thị trường cho phát triển các loại hình du lịch này

Việc tổ chức, đầu tư, triển khai, phát triển các loại hình du lịch cộng đồng đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, tiền của, cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất kỹ thuật, vì vậy cần được thực hiện có nguyên tắc

1.3 Điều kiện phát triển

* Điều kiện chung

Theo Trần Đức Thanh trong cuốn “Nhập môn khoa học du lịch”, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr.89 – 95 thì để phát triển du lịch cần có những điều kiện sau:

- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội

Không khí chính trị hòa bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan

hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và chính trị giữa các dân tộc Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế quốc tế, sự trao đổi du lịch quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng Du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Không khí hòa bình trên thế giới ngày càng được cải thiện Chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế đối thoại, giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng con đường hòa bình đã trở thành phổ biến trong quan hệ giữa các nước Điều này giải thích sự tăng trưởng du lịch mạnh mẽ trong những năm cuối

Trang 15

của thiên niên kỷ thứ 2 Du khách thích đến những đất nước và vùng du lịch

có không khí chính trị hòa bình, họ cảm thấy yên ổn, tính mạng được coi trọng Tại những nơi này, du khách có thể đi lại tự do trong đất nước mà không lo sợ và không cần sự chú ý đặc biệt nào Những điểm du lịch mà tai

đó không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo … du khách có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với phong tục tập quán của địa phương sẽ thu hút được nhiều du khách hơn những nơi họ bị cô lập với dân sở tại Tóm lại,

du lịch phát triển là nhờ có bầu không khí chính trị hòa bình và bầu không khí

đó càng được củng cố khi mở rộng và phát triển quan hệ trao đổi du lịch giữa các quốc gia và dân tộc Sự phát triển của du lịch sẽ gặp khó khăn nếu ở đất nước xảy ra những sự kiện làm xấu đi tình hình chính trị hòa bình và trực tiếp hoặc gián tiếp đe dọa sự an toàn của khách du lịch Chiến tranh, nội chiến là những cản trở lớn nhất đến hoạt động du lịch Trong chiến tranh, biên giới giữa các bên tham chiến đóng cửa hoàn toàn, việc đi lại của khách bị đình chỉ, giao thông ngưng trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch bị tàn phá và bị sử dụng vào mục đích phục vụ chiến tranh …

Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch Khả năng cung ứng của dịch vụ du lịch cũng gặp nhiều khó khăn Ngoài ảnh hưởng thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sự phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh cũng là những nguy cơ đe dọa đến sức khỏe du khách, làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch khu vực Không chỉ du khách không dám đi đến những vùng dịch bệnh

mà chính quyền y tế sở tại cũng sẽ có những biện pháp phòng chống lây lan bằng cách đóng cửa khu vực ổ dịch Mặt khác, ngay các cơ quan kinh doanh

du lịch cũng không dám mạo hiểm tính mạng của du khách vì mức bồi thường trách nhiệm chuyến đi ràng buộc họ

- Điều kiện kinh tế

Trang 16

Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến sự phát sinh và phát triển du lịch là điều kiện kinh tế chung Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch Điều này được giải thích bởi sự lệ thuộc của du lịch vào thành quả của ngành kinh tế khác Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch Trong các ngành kinh tế, sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Ngành du lịch tiêu thụ một khối lượng rất lớn lương thực và thực phẩm Ở đây cần nhấn mạnh vai trò của ngành công nghiệp thực phẩm như công nghiệp chế biến đường, thịt, sữa, đồ hộp, công nghiệp chế biến rượu, bia, thuốc lá … Đây là các cơ sở cung ứng nhiều hàng hóa nhất cho du lịch Một số ngành công nghiệp nhẹ đóng vai trò không kém phần quan trọng trong cung ứng vật tư cho du lịch như: công nghiệp dệt, công nghiệp thủy tinh, công nghiệp sành sứ và đồ gốm … Tính cao cấp và tính thứ yếu của tiêu dùng du lịch đòi hỏi hàng hóa và dịch vụ du lịch phải có chất lượng cao Do vậy, muốn phát triển du lịch, các ngành sản xuất có quan hệ mật thiết đến du lịch không phải chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu

về khối lượng hàng hóa mà phải đảm bảo cung cấp vật tư hàng hóa có chất lượng cao,đảm bảo thẩm mỹ và chủng loại phong phú, đa dạng Điều đó có nghĩa là những địa phương có nền kinh tế phát triển, các ngành kinh tế có khả năng tạo được các sản phẩm cao cấp sẽ là nơi có điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Cũng chính tại những địa phương như thế, du lịch thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng Khi nói đến nền kinh tế của đất nước, không thể không nói đến giao thông vận tải Từ xa xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế Nói đến sự phát triển của giao thông vận tải có ảnh hưởng đến du

Trang 17

lịch, chúng ta quan tâm đến cả hai phương diện Đó là sự phát triển về mặt số lượng và về mặt chất lượng Sự phát triển về mặt số lượng của các phương tiện vận chuyển đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trên trái đất Số lượng phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả năng vận chuyển du khách Số lượng loại hình phương tiện vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và mềm dẻo, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du khách Về mặt chất lượng vận chuyển cần xét đến bốn khía cạnh là tốc độ, an toàn, tiện nghi và giá cả

+ Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch Với các phương tiện có tốc độ vận chuyển cao, du khách có thể đến được những nơi

xa xôi

+ Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: ngày nay sự tiến bộ của kỹ thuật làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách Phương tiện vận chuyển của những nước có độ an toàn cao sẽ thu hút được nhiều người tham gia vào hoạt động du lịch

+ Đảm bảo tiện nghi trong các phương tiện vận chuyển: các phương tiện vận chuyển ngày càng có đủ tiện nghi và làm vừa lòng hành khách Trong tương lai, xu hướng này sẽ ngày càng phát triển Với các phương tiện vận chuyển có đầy đủ tiện nghi,du khách thấy an tâm và thoải mái hơn vì họ không phải hao phí sức khỏe trên hành trình

+ Vận chuyển với giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm để nhiều tầng lớp nhân dân có thể sử dụng được phương tiện vận chuyển

Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch

Trang 18

- Chính sách phát triển du lịch

Những điều kiện chung để phát triển du lịch nêu trên tác động một các độc lập lên sự phát triển của du lịch Các điều kiện ảnh hưởng đến du lịch tách rời nhau, do vậy nếu thiếu một trong những điều kiện ấy sự phát triển của du lịch có thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn Sự có mặt của tất cả những điều kiện ấy đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch

* Điều kiện riêng

Các chuyên gia đều cho rằng phát triển du lịch dựa vào du lịch cộng đồng phụ thuộc vào các điều kiện cơ bản là:

- Điều kiện tiềm năng về tài nguyên môi trường tự nhiên và nhân văn là

có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn được xem xét phong phú về số lượng, chủng loại, giá trị về chất lượng của từng loại, được đánh giá về quý hiếm Điều kiện tài nguyên cũng nói lên mức độ hấp dẫn thu hút khách du lịch đến tham quan hiện tại và tương lai

- Điều kiện về yếu tố cộng đồng dân cư được xem xét, đánh giá trên các yếu tố số lượng thành viên, bẩn sắc dân tộc phong tục tập quán, trình độ học vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên

- Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế đến tham quan

du lịch, nghiên cứu, tương lai sẽ thu hút được nhiều khách Điều kiện về khách du lịch cũng nói lên bản chất của vấn đề phát triển du lịch và vấn đề công ăn việc làm cho cộng đồng

Trang 19

- Điều kiện về cơ chế chính sách hợp lý tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng

- Sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến tham quan

1.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch cộng đồng

Theo cuốn “Du lịch cộng đồng” của Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), có tất

cả 12 nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng đã được đề cập đến

- Thừa nhận, ủng hộ và thúc đẩy mối quan hệ sở hữu của cộng đồng về các nguồn lực phát triển du lịch và việc tham gia phát triển du lịch

Nguyên tắc này khẳng định quyền sở hữu việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác các loại tài nguyên du lịch thuộc về cộng đồng, bản thân các cộng đồng địa phương, đặc biệt là những cộng đồng nghèo, thiếu tri thức cũng như những kinh nghiệm, cơ sở vật chất, tài chính để có thể tổ chức, quản lý, triển khai các hoạt động bảo tồn, tôn tạo, khai thác các nguồn lực cho sự phát triển

có hiệu quả Vì vậy, họ cần được ủng hộ, hỗ trợ về tài chính, cơ chế, chính sách, về lập và thực hiện kế hoạch phát triển du lịch Cộng đồng là chủ thể của các hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên môi trường du lịch cũng như tham gia cac hoạt động du lịch và tất nhiên các nguồn lợi thu được từ hoạt động du lịch chủ yếu thuộc về họ

- Lấy ý kiến của các bên tham gia, tôn trọng ý kiến của cộng đồng địa phương, đảm bảo những kiến nghị của cộng đồng được chuyển đến những người có trách nhiệm xem xét và giải giải quyết

Trang 20

Nguyên tắc này giúp cho việc lập và thực hiện các quy hoạch thành công Vì trong quá trình điều tra xã hội học có thể điều tra, đánh giá được nhận thức, năng lực tham gia các hoạt động du lịch, mức độ tham gia, sự ủng

hộ hay phản đối của cộng đồng với các mâu thuẫn trong quá trình phát triển, đảm bảo tính công khai, dân chủ và sự tham gia của họ và giải quyết được các vấn đề hạn chế trong quá trình phát triển du lịch Thực hiện được nguyên tắc này đảm bảo được tính công bằng trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng của các bên tham gia

- Ngay từ đầu, khi lập kế hoạch phát triển du lịch cũng như trong suốt quá trình phát triển du lịch, cần thu hút và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch và bảo tồn

Nguyên tắc này giúp cho việc khẳng định vai trò chủ thể, quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng địa phương tham gia vào phát triển du lịch, vào hoạt động bảo tồn, tôn tại tài nguyên, phát triển cộng đồng và bao gồm cả việc tổ chức, quản lý, giám sát, ra quyết định cũng như tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch, bảo tồn tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội một cách chủ động, tích cực, sáng tạo Cộng đồng không chỉ có vai trò là những người làm thuê với giá nhân công rẻ, bị bóc lột cả sức lao động và tài nguyên, mà phần nào còn tạo ra sự công bằng khi phân chia các lợi ích từ hoạt động phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế - xã hội cho họ

Đồng thời, nguyên tắc này giúp cho việc đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, hạ giá thành sản phẩm du lịch, hấp dẫn du khách và xã hội hóa du lịch, giúp cho các cộng đồng nghèo có thể làm du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch

Trang 21

- Phát triển du lịch như một công cụ giúp cộng đồng địa phương sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội trong khi vẫn duy trì sự đa dạng kinh tế và không làm suy giảm các ngành nghề truyền thống

Nguyên tắc này giúp cho việc xác định vị trí, vai trò của ngành du lịch trong quy hoạch phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế - xã hội hướng tới phát triển du lịch thành một đòn bẩy vừa thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương, du lịch phát triển, vừa khôi phục phát triển ngành nghề truyền thống, giảm tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đến kinh tế - xã hội Đồng thời đây cũng là nguyên tắc bảo tồn, duy trì sự đa dạng tự nhiên và văn hóa, tính

đa dạng, đặc sắc và làm giảm giá thành của sản phẩm, không làm suy giảm dân số Bởi vì những ngành sản xuất truyền thống khi được khôi phục, phát triển để cung cấp các nông phẩm và hàng hóa cho du khách sẽ tạo thu nhập, việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Từ đó, họ sẽ không phải ra các thành phố tìm việc làm để kiếm kế sinh nhai, họ cũng có ý thức và

hỗ trợ cho việc bảo vệ cũng như khai thác tài nguyên tốt hơn, tạo ra môi trường tốt hơn cho phát triển du lịch

- Hòa nhập quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của quốc gia

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành và xã hội hóa cao, cần phải hợp tác, liên kết cùng phát triển với nhiều ngành kinh tế và phải có sự ủng hộ của Chính phủ, các tổ chức, cơ quan, ban ngành; các cấp quản lý của nhà nước Do vậy, quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng cần được coi là một bộ phận của quy hoạch ngành kinh tế trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Khai thác, bảo tồn các nguồn lực theo hướng thận trọng, hạn chế, tiết kiệm và bền vững

Trang 22

Các nguồn lực phát triển du lịch, đặc biệt là các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đều có một đặc điểm là dễ bị thay đổi, suy giảm theo hướng tiêu cực Vì vậy, khi quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng cần đưa ra, thực thi các phương cách khai thác, bảo tồn các nguồn lực theo hướng

có kiểm soát, tiết kiệm và bền vững, vận dụng các chỉ số về sức chứa trong quá trình khai thác, không vượt quá khả năng phục hồi, tái tạo của các nguồn tài nguyên, hài hòa với các yếu tố địa lý tại chỗ và các giá trị văn hóa bản địa

- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên và sự đa dạng về văn hóa cũng như các giá trị văn hóa bản địa

Duy trì tính đa dạng về tự nhiên và sự đa dạng về văn hóa, đặc biệt là

sự đa dạng về các hệ sinh thái và đa dạng sinh học chính là bảo vệ môi trường sống của cộng đồng và tạo ra sự đa dạng, tính độc đáo của sản phẩm du lịch,

có sức hấp dẫn với du khách Do vậy, khi phát triển du lịch phải đi đôi với việc bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch, thu hút các bên tham gia vào hoạt động này và phải coi trọng đầu tư phát triển giáo dục cho các thành viên tham gia Đặc biệt, phát triển du lịch không vượt quá sức tải về môi trường sống của cộng đồng địa phương, phải tôn trọng những giá trị văn hóa và phương cách sống của cộng đồng Phát triển du lịch cũng cần góp phần thúc đẩy niềm

tự hào của cộng đồng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các khách du lịch với cộng đồng và trong các cộng đồng

- Hỗ trợ địa phương trong hoạt động du lịch và phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng

Các cộng đồng địa phương, đặc biệt là những cộng đồng nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi, ven biển, thường có trình độ nhận thức hạn chế, trình độ phát triển văn hóa và kinh tế thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đầy

Trang 23

đủ Do vậy, phần lớn các cộng đồng địa phương không thể tự mình có đủ các nguồn lực để quy hoạch phát triển du lịch và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, các cơ quan quản lý về du lịch cũng như các cấp quản lý của nhà nước nói chung, các tổ chức, cá nhân nói riêng cần hỗ trợ cộng đồng trong việc lập, thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch về cơ chế, chính sách, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật

Đồng thời, các chính sách phát triển du lịch cộng đòng như chính sách

an sinh xã hội góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư cần được coi như chiến lược phát triển của dịa phương và quốc gia

- Tăng cường giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực địa phương

Các cộng đồng địa phương, đặc biệt là các cộng đồng nghèo, thường có nhận thức về du lịch cũng như nhận thức về môi trường, kinh tế - xã hội, khoa học kĩ thuật hạn chế, trình độ lao động thấp Do vậy, để có thể thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng có hiệu quả cần phải coi giáo dục du lịch và đào tạo nguồn nhân lực địa phương như một giải pháp mang tính quan trọng và quyết định hàng đầu

Giáo dục du lịch, ngoài việc phải thực hiện với cộng đồng địa phương còn cần được thực hiện với khách du lịch, các nhà thầu, các bên tham gia du lịch nói chung

- Phân chia lợi nhuận một cách công bằng giữa các bên tham gia du lịch cộng đồng, phần lớn nguồn lợi thu được từ du lịch để lại cho phát triển cộng đồng

Chủ sở hữu hợp pháp các nguồn tài nguyên du lịch là cộng đồng địa phương Vì vậy, cộng đồng địa phương cần được tham gia vào tất cả các khâu, các quá trình phát triển du lịch với vai trò là người chủ sở hữu tài

Trang 24

nguyên và các nguồn lực phát triển du lịch nói chung Vì thế, phần lớn nguồn lợi thu được cần giữ lại để đầu tư cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển cộng đồng, cũng chính là đầu tư cho bảo tồn, tôn tạo tài nguyên và phát triển du lịch

Để tránh nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình phát triển, tránh tiêu cực, tham nhũng trong quá trình quản lý và sử dụng các nguồn thu từ hoạt động du lịch, việc phân chia nguồn lợi thu được từ hoạt động du lịch cần được công khai và công bằng giữa các bên tham gia cũng như giữa các thành viên trong cộng đồng

- Đầu tư xúc tiến phát triển du lịch, tiếp thị trung thực và có trách nhiệm

Các cộng đồng địa phương không có đủ trình độ, năng lực và các nguồn lực để tự họ đầu tư cho việc xúc tiến phát triển du lịch Do vậy, cần có

sự hỗ trợ của các tổ chức, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các cơ quan quản lý nhà nước, các ban ngành nói chung về việc đầu tư xúc tiến phát triển du lịch Đến nay, ở nhiều nước phát triển và đang phát triển, du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn Việc xúc tiến phát triển du lịch cộng đồng cũng như xúc tiến phát triển du lịch nói chung phần lớn do nhà nước đầu

tư từ nguồn kinh phí công ích Các thành viên tham gia du lịch sẽ trích một phần lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch, bằng việc đóng thuế thu nhập, nộp lại cho các trung tâm xúc tiến phát triển du lịch

Vừa để giáo dục du khách, vừa tạo lòng tin đối với du khách về sản phẩm du lịch, và để đảm bảo quyền lợi cho du khách, nội dung tiếp thị, quảng

bá về du lịch cộng đồng cần phải trung thực, mang tính giáo dục và có trách nhiệm với quyền lợi của du khách, của cộng đồng cũng như với việc bảo tồn, tôn tạo tài nguyên môi trường du lịch và môi trường sống của cộng đồng

Trang 25

- Tăng cường nghiên cứu, theo dõi, đánh giá, thống kê, hợp tác trong phát triển du lịch cộng đồng

Các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển du lịch luôn biến động và có nhiều thay đổi cần được điều chỉnh, bổ sung kịp thời Phát triển du lịch cộng đồng là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, đặc biệt là với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do đó cần được theo dõi, giám sát, rút kinh nghiệm, đưa ra giải pháp, cơ chế, chính sách phát triển đúng đắn,

có hiệu quả để có sự hỗ trợ về kinh nghiệm và nguồn lực cho cộng đồng địa phương, đặc biệt từ các cơ sở nghiên cứu đào tạo, cũng như các tổ chức quốc

tế Do vậy tăng cường nghiên cứu, theo dõi, đánh giá, thống kê, hợp tác trong phát triển du lịch cộng đồng đã trở thành nguyên tắc quan trọng, có tính quyết định cho sự phát triển các loại hình du lịch này

1.5 Một số điểm du lịch tiêu biểu của du lịch cộng đồng

Hiện nay ở nước ta đã có một số địa phương triển khai hình thức du lịch cộng đồng, tiêu biểu trong số đó có Bản Lác (Mai Châu – Hòa Bình), Sapa (Lào Cai), Quảng Nam và Hà Giang

1.5.1 Bản Lác (Mai Châu – Hòa Bình)

- Ngày nay, Mai Châu được biết đến là một điểm du lịch cộng đồng được du khách ưa thích Lượng du khách tới Mai Châu đang ngày càng tăng Bản Lác – một bản du lịch nổi tiếng của Mai Châu mỗi ngày đón hàng chục lượt khách trong và ngoài nước, khách ngủ qua đêm, vài đêm, vài tuần ngày một nhiều hơn Bốn tháng đầu năm 2012, doanh thu du lịch của bản Lác đạt 2.2 tỷ đồng và đón được 12.041 lượt khách, trong đó gồm 1.122 khách quốc

tế và 1.080 đoàn khách nội địa Để phát triển du lịch, cơ quan quản lý du lịch nơi đây cùng với chính quyền và nhân dân địa phương đã cho xây dựng, trải nhựa con đường từ đầu bản đến tận sân từng nếp nhà sàn mộc mạc bằng gỗ

Trang 26

Loại hình du lịch homestay được du khách đặc biệt ưa chuộng Cả bản có 25 nhà sàn được dùng để đón tiếp khách, mỗi nhà được đánh số từ 1 đến 25, kiến trúc theo lối truyền thống, bên trong có đủ chăn, đệm, gối được gấp gọn gàng, ngăn nắp Chỉ với giá 30.000 – 40.000 đồng/ người, du khách có thể sở hữu một khoảng sàn chừng 1.2 x 2m để nghỉ qua đêm Nếu du khách có nhu cầu thuê cả nhà sàn với những đoàn khách đông thì mức giá là 500.000 đồng/nhà/đêm Du lịch gần như là nguồn thu chính của cộng đồng nơi đây

Du lịch phát triển đã tạo thêm nhiều công ăn việc làm, thu hút nhiều lao động, nâng cao thu nhập và mức sống cho dân bản Nhu cầu mua sắm hàng lưu niệm của du khách ngày càng khuyến khách hàng thủ công truyền thống của địa phương phát triển Cơ sở hạ tầng được xây mới khang trang hơn, hiện đại hơn (đường xá giao thông thuận tiện, nhà cửa to đẹp hơn …) Giữ vệ sinh nơi

ăn ở, môi trường sống sạch hơn, chuyển từ nuôi gia súc dưới gầm sàn rất mất

vệ sinh sang làm chuồng trại riêng cho gia súc Tuy nhiên, phát triển du lịch nơi đây cũng dẫn tới một số tác động

- Tác động của du lịch tới môi trường

Ở Bản Lác, số lượng các đoàn khách tới quá đông, với mức độ liên tục cũng đã phần nào tác động lên môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa –

xã hội của mảnh đất này

+ Tác động đến môi trường tự nhiên: Rừng bị tàn phá, cây cối bị chặt

để lấy gỗ xây nhà, săn bắn chim thú, làm suy giảm đa dạng tài nguyên động – thực vật Núi đá bị sụt lở do việc nổ mìn lấy đá làm đường Nước suối nhiều nơi bị đục, có thể bị cạn vào mùa hè

+ Tác động đến môi trường văn hóa: Việc giao lưu với các luồng khách

du lịch đến từ các nền văn hóa khác đã dẫn tới tình trạng pha tạp nhiều lối sống văn hóa ngoại lai, không phù hợp với lối sống và truyền thống dân bản

Trang 27

địa, xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội Cách xây nhà truyền thống ở nhiều nơi bị phá võ (nhà mái lá gồi thay bằng lợp ngói, cột nhà không còn đính đuôi cá mà thay vào là các loại logo quảng cáo …) Các hoạt động lễ hội truyền thống như: chá chiêng, cầu mưa …, các sinh hoạt văn hóa truyền thống như: múa, ném còn, uống rượu cần … đang ngày bị mai một dần, chỉ được tổ chức khi khách yêu cầu; hay những đôi trai gái yêu nhau thiếu hẳn những đêm vui đùa bên sàn hoa – điều không thể thiếu một thời Những tác động đó vừa là động lực, vừa là thách thức để phát triển du lịch theo hướng bền vững đối với không riêng gì bản Lác mà với tất cả những địa phương đang phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam

1.5.2 Sapa

- Mặc dù có nguồn tài nguyên phong phú, thuận lợi cho việc phát triển

du lịch cộng đồng nhưng đời sống của dân cứ các thôn bản ở Sapa còn nghèo

Từ năm 2001, mô hình du lịch cộng đồng tại các thôn, bản Sapa đã được khởi xướng, các Ban quản lý du lịch cộng đồng tại các xã Thanh Phú, Bản Hồ, Tả Van, San Xả Hồ, Tả Phìn đã được thành lập để mở rộng không gian hoạt động

du lịch Dự án đã huy động được các nguồn lực trong nước và quốc tế để hộ trỡ cộng đồng về vệ sinh môi trường, thôn bản, xây dựng nhà vệ sinh tự hoại,

hệ thống nước sạch, xây dựng hệ thống giao thông vào các thôn bản và các tuyến đường tham quan du lịch Thành lập Trung tâm thông tin xúc tiến Du lịch Sapa (TIPC) tại 28 phố Cầu Mây nhằm cung cấp các thông tin giới thiệu

về Sapa gồm: bản đồ, các tài liệu về các tuyến tham quan, các khách sạn, nhà hàng, các địa chỉ mua sắm, giải trí, giới thiệu và bán các sản phẩm thủ công truyền thống, tổ chức các tour làm quen thị trường và sản phẩm du lịch Sapa cho các nhà báo, các hãng lữ hành, tổ chức các tuần lễ du lịch Sapa, tổ chức các hoạt động du lịch văn hóa, các cuộc thi leo núi, hành trình về cội nguồn văn hóa … Sở Văn hoá Thể Thao và Du lịch Lào Cai cũng chỉ đạo: đào tạo

Trang 28

hướng dẫn viên là người dân tộc Hmông, Dao; khởi xướng xây dựng mô hình

du lịch xã Bản Hồ, tập huấn đào tạo du lịch cho cộng đồng, hướng dẫn cộng đồng tu sửa nhà cửa, bảo tồn được giá trị kiến trúc mỹ thuật truyền thống, trang bị thêm thiết bị phù hợp với kinh doanh du lịch, tạo không gian sinh thái quanh nhà, khôi phục nghề truyền thống, cung cấp những bữa ăn mang phong

vị địa phương cho du khách, cung cấp kỹ năng ơ bản về kinh doanh nhỏ Nhờ phát triển du lịch cộng động mà nhiều nghề thủ công mỹ nghệ được khôi phục

và phát triển như: rèn, đúc, chạm khắc bạc, thêu hoa văn, nhuộm chàm, in sáp ong, dệt vải của người Hmông và người Dao; nghề làm gối đệm, thêu hoa của người Tày ở bản Dền Tại xã Tả Phìn, câu lạc bộ dệt thêu thổ cẩm đã tạo việc làm cho 50 lao động nữ là người dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, nguồn thu từ

lệ phí tham quan vào các bản đã được để lại 85% cho phát triển cộng đồng như: duy trì, bảo dưỡng hệ thống giao thông, các công trình du lịch; bảo tồn, tôn tạo tài nguyên môi trường du lịch; xúc tiến quảng bá du lịch; đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực

Kết quả: Đến hết năm 2009, tại các xã Tả Van có 35 hộ, xã Bản Hồ có

31 hộ, xã San Xả Hồ có 3 hộ, xã Thanh Phú có 7 hộ, xã Tả Phìn có 5 hộ và đến năm 2011, cả huyện có 99 hộ gia đình tham gia kinh doanh lưu trú, ăn uống phục vụ du khách Lượng khách du lịch đến lưu trú và tham quan các bản làng ở đây năm 2006 là 54.519 lượt người, năm 2007 là 66.582 lượt người (ciếm 67% lượt khách du lịch đến toàn huyện) Năm 2005, huyện Sapa đón 200.024 lượt khách (trong đó 63.324 lượt khách quốc tế) và doanh thu 85

tỷ đồng; năm 2011, đón 520.810 lượt khách (trong đó 150.180 lượt khách quốc tế), doanh thu đạt 400 tỷ đồng Thu nhập trung bình của mỗi hộ gia đình đón du khách từ 500.000 – 1.000.000 đồng/ tháng, một số hộ đón khách đông

và kinh doanh thêm các dịch vụ ngâm tắm thuốc đông dược và bán hàng lưu niệm có thu nhập từ 1.500.000 – 3.000.000 đồng/ tháng Tuy nhiên, tình trạng

Trang 29

lao động trẻ em ở Sapa vẫn còn khá nhiều, khá phổ biến Trẻ em ở đây bỏ học

đi bán hàng cho du khách đã vi phạm Công ước quyền trẻ em, ảnh hưởng tiêu cực đến tương lại của trẻ em và văn hóa truyền thống Tình trạng này cần có các giải pháp khắc phục ở Sapa và cũng như các mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở các địa phương khác

1.5.3 Quảng Nam

Thời gian qua, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm phối hợp chính quyền địa phương triển khai nhiều biện pháp đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý các khu du lịch cũng như định hướng cho các doanh nghiệp và cộng đồng cư dân tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch cho du khách Từ vẻ đẹp quyến rũ của san hô cũng như các loài thủy sinh sống xung quanh hệ sinh thái này, tour du lịch lặn biển ngắm san hô đã đáp ứng được kỳ vọng của du khách Không chỉ vậy, qua các tour tham quan, du khách nước ngoài còn tỏ ra hào hứng tham gia vào chiến dịch lặn bắt sao biển gai để bảo vệ sự sinh tồn của san hô

Một chương trình khác cũng thu hút đông đảo du khách không kém là

“đánh cá và câu mực” cùng ngư dân Với hành trình giản đơn, du khách sẽ nhanh chóng hòa nhập, sinh hoạt với gia đình ngư dân như một ngư dân thực thụ Bên cạnh việc hòa nhập vào đời sống ngư dân, nhờ được hướng dẫn kỹ càng, tour khám phá những cánh rừng nguyên sinh với vẻ hùng vĩ giao hòa cùng biển cả và tham quan di tích, tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng cộng đồng dân cư xã đảo Tân Hiệp cũng níu lòng không ít du khách Theo Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, chiến lược quản lý tổng hợp tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới trong thời gian đến sẽ xác định phát triển du lịch như là một phương thức hữu hiệu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và bảo tồn các giá trị đặc trưng vùng biển đảo Việc đề ra chiến lược này xuất

Trang 30

phát từ sự xác định rõ các yếu tố và biện pháp quản lý vùng trải nghiệm du lịch cũng như các khu vực chức năng sử dụng cho hoạt động du lịch Điều này không chỉ hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên mà còn tạo cơ hội nâng cao lợi ích cho cộng đồng và trải nghiệm của du khách Ban quản lý Khu bảo tồn cho biết, rất cần sự hợp tác chặt chẽ giữa cộng đồng địa phương, các doanh nghiệp du lịch, chính quyền và các ban ngành có liên quan nhằm nâng cao các chuẩn tối thiểu cho du lịch Theo đó, việc định mức giá dịch vụ (thuyết minh, hướng dẫn, phương tiện vận chuyển, lưu trú ) và thu phí cũng như hỗ trợ đào tạo nhân lực tại chỗ cần được nhịp nhàng hơn Từ định hướng đó, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã đề ra kế hoạch cụ thể xây dựng phát triển sản phẩm và dịch vụ thích hợp ở Cù Lao Chàm trong giai đoạn 2011-2015 Thông qua sự tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia và được hưởng lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội Toàn bộ quá trình xây dựng kế hoạch sẽ dựa trên phương pháp lập kế hoạch công; trong

đó, sự đồng thuận của các bên liên quan là điều quan trọng nhất

Hà Giang); Lùng Tao (Vị Xuyên); Nậm An (Bắc Quang); My Bắc, Chì (Quang Bình); Làng Giang – Thông Nguyên (Hoàng Su Phì); Nấm Dẩn (Xín Mần); Bản Lạn (Bắc Mê); Nặm Đăm (Quản Bạ); Bục Bản (Yên Minh); Lũng Cẩm Trên, Lô Lô Chải (Đồng Văn); Sảng Pả A (Mèo Vạc)

Trang 31

- Du lịch cộng đồng ở Hà Giang có một số làng hoạt động không hiệu quả, chưa có khách du lịch đến thăm bởi những nguyên nhân: Công tác lựa chọn và đầu tư xây dựng chưa đồng bộ; các hạng mục đầu tư thiếu chọn lọc, không đảm bảo các điều kiện phục vụ, thu hút khách, như vị trí, cảnh quan, cơ

sở hạ tầng, vệ sinh môi trường, văn hóa truyền thống, tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch; việc khai thác nguồn tài nguyên văn hóa nhân văn trở thành sản phẩm du lịch chưa được chú trọng; phát triển các HTX, làng nghề nhưng kết quả hoạt động kinh doanh không cao; sự tham gia của cộng đồng trong khai thác du lịch chưa được tổ chức và quản lý thích hợp Bên cạnh đó là hạn chế

về kinh nghiệm, thiết bị phục vụ cần thiết tối thiểu và công tác tuyên truyền

Trang 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM, LÀNG LỤA VẠN

PHÚC VÀ LÀNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH

2.1 Khái quát chung về làng cổ Đường Lâm, làng lụa Vạn Phúc, làng mây tre đan Phú Vinh

xã Xuân Sơn, phía nam giáp xã Thanh Mỹ, phía đông giáp phường Trung Hưng, phía đông giáp phường Phú Thịnh, đều của thị xã Sơn Tây (Hà Nội) Phía bắc Đường Lâm tiếp giáp với huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng Làng cổ Đường Lâm là tập hợp các làng Việt cổ truyền vùng trung du Bắc Bộ, trọng tâm bảo tồn là làng Mông Phụ

- Lịch sử

Đường Lâm là địa danh có vị thế đắc địa theo thế "Toạ sơn vọng thuỷ", tức là lưng tựa vào núi Tản, mặt ngoảnh ra sông Hồng Đây là vùng đất cổ, một ấp hai vua và cũng là "Tứ giác nước", được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích - Một chi lưu nối với sông Đà, sông Đáy

Trong địa phận Đường Lâm có 36 gò đồi là vùng trước núi của non Tản, còn rất nhiều địa điểm, di tích mà ở đó chứng tỏ sự phát triển của Đường Lâm ngày nay gắn liền với sự phát triển của thị xã Sơn Tây

Trang 33

Năm 1496, trấn sở Sơn Tây đóng tại xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai (nay thuộc Tản Hồng, Ba Vì) và thời đó gọi là Sơn Tây Thừa Tuyên Đến thời Lê Cảnh Hưng( 1740 - 1786) do bị ngập lụt, nước làm lở thành, trấn sở được dời về Mông Phụ, huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Đường Lâm) Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), trấn sở dời về thôn Thuần Nghệ, huyện Minh Nghĩa lúc đó (nay thuộc nội thị Sơn Tây) Năm

1831, trấn Sơn Tây đổi thành tỉnh Sơn Tây và trấn lị trở thành tỉnh lị Năm

1924, thực dân Pháp đổi trấn sở Sơn Tây thành thị xã Sơn Tây Tuy là thị xã nhưng vẫn là thủ phủ của hai phủ Quốc Oai, Quảng Oai và bốn huyện Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất và Bất Bạt

Theo Tiến sỹ sử học Đỗ Đức Hùng thì Đường Lâm là cái tên Hán hoá vào thời thuộc Đường Đầu thời Đường, tên Đường Lâm được biết đến là một trong ba huyện của quận Phúc Lộc, gồm Nhu Viễn, Đường Lâm, Phúc Lộc Đến năm Chí Đức thứ 2 nhà Đường (757) chính quyền đô hộ lại đổi lại thành quận Đường Lâm Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, một tài liệu viết vào thời Trần thì lại ghi là châu Đường Lâm Về sau, những cái tên gọi như Cam Giá, Cam Tuyền, Cam Đường, Cam Lâm, Cam Giá Thượng đều thuộc vùng đất Kẻ Mía mà ra

Đến thời Lê, vùng Kẻ Mía được tách ra làm hai, đặt tổng Cam Giá Thượng thuộc huyện Tiên Phong( nay là xã Cam Thượng) và tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phúc Lộc (sau gọi là Phúc Thọ), tức là địa bàn xã Đường Lâm ngày nay

Từ sau Cách mạng tháng 8, tổng Cam Giá Thịnh có tên mới là xã Phùng Hưng Đến ngày 21/11 năm 1964 xã Phùng Hưng đổi thành Đường Lâm, trực thuộc huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây Năm 1965 tỉnh Sơn Tây sáp nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây Cùng năm đó, chính quyền

Trang 34

Trung Ương quyết định sáp nhập ba huyện là Bất Bạt, Quảng Oai, Tùng Thiện thành huyện Ba Vì Năm 1976 sáp nhập Hà Tây với Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình Ngày 29/12/1978 Quốc hội thông qua đề nghị chuyển huyện Ba Vì về thủ đô Hà Nội Năm 1982 Đường Lâm được sáp nhập vào thị

xã Sơn Tây vẫn thuộc thành phố Hà Nội Ngày 1/11/1991, thị xã Sơn tây lại được chuyển về tỉnh Hà Tây Đường Lâm thuộc thị xã Sơn Tây cho đến ngày nay

Nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc còn ghi dấu ấn tại Đường Lâm Thời Hùng Vương, ở đây, cùng mấy làng lân cận còn rất nhiều địa danh được nhắc trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh Thời Hai Bà Trưng, có đến hơn 10 vị tướng của Bà Đây cũng là quê hương, là đất thang mộc của hai vị vua là Phùng Hưng và Ngô Quyền Quê hương của Lý Đế cũng quanh quất đâu đây Đất này còn có các danh nhân như bà chúa Mía, Giang Văn Minh, Kiều Oánh Mậu

Về mặt di tích, nơi đây còn một quần thể trải đều liên hoàn trong tất cả các làng với đủ loại hạng mục như đình, chùa, đền, phủ, miếu, am, quán, lăng

mộ, nhà thờ danh nhân, di chỉ cổ đại với hàng vạn hiện vật của thời kỳ đồ đá mới Việc khai quật khảo cổ học năm 1971 ở Bến Mả là một minh chứng cho vấn đề này

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, từng thành tố đơn lẻ của làng cổ có bị thay đổi và có niên đại xây dựng không sớm, nhưng về tổng thể, khu vực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian làng của một làng cổ thuần Việt

2.1.1.2 Giá trị văn hóa

* Vật thể

- Nhà cổ

Trang 35

Đường Lâm có 138 ngôi nhà từ 100 đến 200 tuổi Nhà cổ ở Ðường Lâm được xây cất bằng các loại vật liệu đặc trưng của vùng xứ Ðoài, chủ yếu

là bằng gỗ và gạch Gỗ gồm các loại “tứ thiết” đinh, lim, sến, táu… đến các loại như: xoan, mít, xà cừ…; gạch gồm các loại như: gạch Bát Tràng, gạch chỉ, gạch thẻ, đá xanh, gạch xỉ Trong đó, đáng chú ý hơn cả là gạch đá ong - thứ vật liệu được nhân dân khai thác ngay tại lòng đất Ðường Lâm Ðá ong còn được sử dụng trong các công trình di tích như: đình, đền, chùa, miếu, quán, điếm Vì thế, làng này còn có tên là “Làng Việt cổ đá ong”

Quần thể di tích Làng cổ ở Ðường Lâm còn lưu giữ, bảo tồn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị đặc biệt, trong đó thôn Mông Phụ tập trung nhiều nhà nhất Nhiều gia đình nhạy bén đã biết khai thác tiềm năng để phát triển du lịch Tuy nhiên, sau nhiều năm sử dụng, nhiều cấu kiện, hạng mục trong những nhà cổ

bị xuống cấp, hư hỏng Ngoài sự đóng góp bằng công sức, vật chất của chính gia chủ, Nhà nước và chính quyền địa phương cần thường xuyên đầu tư, quan tâm hơn nữa trong việc bổ sung nguồn kinh phí để chỉ đạo cơ quan chuyên môn quản lý, bảo tồn, phục dựng những ngôi nhà cổ Ðó là những tài sản vô giá mà cộng đồng xã hội phải có trách nhiệm gìn giữ cho thế hệ con cháu mai sau

- Đền thờ và lăng mộ Ngô Quyền

Đền và lăng Ngô Quyền được xây dựng trên một đồi đất cao, có tên là đồi Cấm, mặt hướng về phía đông Đền thờ được xây ở phía trên, cách lăng khoảng 100m Phía trước lăng là một cánh đồng rộng nằm giữa 2 sườn đồi; một nguồn nước gọi là vũng Hùm chảy ra sông Tích; bên cạnh đó là đồi Hổ Gầm, tương truyền xưa là nơi thuở nhỏ Ngô Quyền thường cùng bạn chăn trâu, cắt cỏ và tập luyện võ nghệ Đây có lẽ là vị trí đẹp nhất của ấp Đường Lâm xưa Hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 8 âm lịch (ngày giỗ Vua Ngô

Trang 36

Quyền) nhân dân trong vùng lại về đây để tưởng nhớ công ơn của ông - vị vua “đã mở nước xưng vương”, kết thúc hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mở đầu một thời đại mới, độc lập, tự chủ cho lịch sử dân tộc

- Đền thờ Phùng Hưng

Hiện chưa rõ niên đại xây dựng đền nhưng các triều đại phong kiến đã

có nhiều sắc phong ghi nhận công lao của Ngài như các năm: Trung Hưng thứ nhất (1285), Trung Hưng thứ 3 (1287), Hưng Long (1312) Ngày 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhân dân Đường Lâm và con cháu họ Phùng, du khách thập phương lại hội tụ về đây để tỏ lòng thành kính đối với ông

- Đặc sản của làng cổ Đường Lâm là những món ăn dân dã, được làm

từ nguyên liệu chính là lúa gạo – lương thực không thể thiếu trong đời sống người dân nước Việt Những món ăn mộc mạc đó đã đi vào ca dao:

“Dù ăn bánh kẹp mười phương

Không bằng kẹo lạc bộn đường quê tôi Trắng phau là phong kẹo dồi Giòn tan kẹo bột, bồi hồi tình quê Chè kho ngọt lịm đam mê Nhớ cơm phố Mía, tìm về Đường Lâm”

Hay:

“Nhà em có vại cà đầy,

Có ao rau muống, có đầy chum tương …

Còn trời, còn đất, còn mây, Còn ao rau muống, còn đầy chum tương”

* Phi vật thể

Trang 37

- Cũng như những địa phương khác trong cả nước, các lễ hội truyền thống của làng cổ Đường Lâm được tổ chức nhiều nhất vào tháng chạp và tháng riêng

Dưới đây là một số lễ hội diễn ra thường niên của làng cổ Đường Lâm (tính theo ngày âm lịch):

30/12: Lễ Đền Phủ (trừ tịch), diễn ra tại Đền Phủ thôn Đông Sàng

8/1: Lễ hội đình Phùng Hưng (kỉ niệm ngày mất của vua Phùng Hưng), diễn ra tại đình Phùng Hưng thôn Cam Lâm

8/1: Lễ hội đình Đoài Giáp, thôn Đoài Giáp

10/1: Lễ hội đình Mông Phụ, thôn Mông Phụ

12/1: Lễ hội đình Cam Thịnh, thôn Cam Thịnh

16/1: Lễ hội đình Đông Sàng, thôn Đông Sàng

Trong số các lễ hội kể trên thì lễ hội được coi là linh thiêng nhất trong năm đó là lễ hội đình Mông Phụ, diễn ra tại thôn Mông Phụ vào ngày 10 tháng giêng Người dân Đường Lâm quen gọi việc đi xem hội là đi xem tế Bởi từ đình làng tiếng đọc bài tế của những vị cao niên vang vọng khắp làng, tạo nên không khí linh thiêng của ngày lễ hội Lễ tế Thành Hoàng làng, tức Tản Viên Sơn Thánh là lễ quan trọng vào bậc nhất của cả mùa lễ hội Mỗi năm, làng đều chọn ra hai gia đình sẽ làm chủ lễ năm đó và một vị cao niên trong làng làm chủ tế Những gia đình đó sẽ chịu trách nhiệm chuẩn bị lễ lạt

để cúng Thành Hoàng làng Các thứ lễ để dâng Thành Hoàng làng gồm 3 mâm xôi tảng trắng, chè kho được nấu bằng thứ gạo nếp thơm dẻo và những hạt đậu xanh quê Riêng gia đình ông chủ tế sẽ chuẩn bị thêm một mâm xôi và một con gà dâng Thánh Con gà ấy phải được uốn rất kì công với chiếc cổ vươn cao, quỳ gối và hai cánh dang rộng, trên đầu có cắm ba nụ hoa hồng

Trang 38

Người Đường Lâm gọi đó là dáng gà bay Họ tin rằng, năm nào con gà cúng

tế có dáng bay đẹp thì năm ấy dân làng phát đạt, mùa màng ấm no Lễ tế Thành Hoàng diễn ra tại chính ngôi đình làng cổ nổi tiếng của đất này 15 vị cao niên trong làng mặc lễ phục chỉnh tề sẽ đọc bài tế và thực hiện nghi lễ Với tấm lòng thành kính và biết ơn vị Thành Hoàng đã bảo vệ và che chở cho

cả làng, nghi lễ thiêng liêng ấy được thực hiện để cầu chúc cho dân làng một năm mới bình an, may mắn, phát đạt, mùa màng bội thu, con cháu học hành tấn tới.Sau khi tham dự lễ tế, người dân tham dự các trò chơi giân dan như đấu cờ tướng, cờ người, đá gà chọi, đập niêu đất, bịt mắt bắt vịt… Hoạt động này diễn ra liên tục trong thời gian diễn ra lễ hội

2.1.2 Làng lụa Vạn Phúc

2.1.2.1 Điều kiện địa lý, lịch sử

- Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km) là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước

- Nói về lịch sử ra đời của làng lụa Vạn Phúc, hiện nay cũng có khá nhiều tương truyền Thuyết được nhiều người tương truyền nhất, nói rằng bà

tổ làng Lụa Vạn Phúc vốn người Hàng Châu (Trung Quốc) theo chồng chinh chiến Bắc Nam, rồi neo lại làng này Nỗi nhớ quê hương da diết của bà trút hết vào nghề tầm tang, canh cửi nơi dòng Nhuệ giang êm đềm tha thiết Ngày nối ngày, đời trải đời và nghề dệt trở thành “truyền thống” của làng Vạn Phúc Một số thuyết khác, có nói rằng truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có từ hơn ngàn năm trước, do một vị tổ sư tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng Vương, truyền dạy Để ghi nhớ công ơn, dân làng tôn bà làm Thành hoàng, tổ sư nghề dệt, thờ tại đình làng Vạn Phúc, lấy ngày 10 tháng Tám âm lịch, ngày sinh của

bà và 25 tháng Chạp âm lịch, ngày mất của bà, làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng

Trang 39

năm Thêm một thuyết nói rằng, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc Như vậy thì theo thuyết, thì khoảng thế kỉ thứ 9, là thời gian ra đời làng lụa vạn phúc

2.1.2.2 Giá trị văn hóa

Nhắc tới Vạn Phúc không thể không nhắc tới những mẫu lụa nổi tiếng

xa gần như lụa Vân, lụa Sa, lụa Hoa, gấm, lanh những mẫu lụa này đã trở thành nét đặc trưng rất đáng tự hào của người dân nơi đây Lụa Vạn Phúc bền, đẹp, khoác lên người có cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng mà mềm mại, thêm vào

đó là dáng vẻ thanh tao, sang trọng, quý phái, tôn thêm vẻ đẹp của người mặc Chính vì lẽ đó nên dù trên thị trường có khá nhiều loại lụa khác nhau với mẫu

mã phong phú nhưng rất nhiều người, đặc biệt là du khách nước ngoài vẫn chọn Vạn Phúc là điểm đến để tìm mua quà cho người thân và bạn bè Đó chính là thương hiệu riêng mà lụa Hà Đông đã tạo dựng được trong lòng du khách gần xa Thương hiệu này chính là nhờ vào chất lụa Lụa Vạn Phúc có đặc điểm riêng, không thể lẫn lộn với những loại lụa khác Lụa mềm, mỏng, nhẹ, thoáng mát nhưng không rạn, nhăn, qua thời gian dài mà mầu không phai, hoa văn vẫn sắc nét, sợi lụa không bị xê dịch Để được lụa đẹp thì phải

có tơ tốt, có tơ vừa phải, rồi phải mắc sợi sao cho thật chuẩn Sợi ngang, sợi dọc được nhuộm mầu, sợi ngang tạo hoa nổi ở trên, sợi dọc tạo nền chìm ở dưới Một mảnh lụa đẹp là kết quả sự cẩn thận, tài năng, khéo léo của người thợ trong cả một quy trình Nổi tiếng nhất chính là lụa Vân Lụa Vân mượt

mà, lại nổi rõ những họa tiết, dường như ta thấy có mây trên lụa Kỹ thuật dệt

vo võng đã tạo nên sợi tơ tuy thưa nhưng vẫn chắc và bền, làm nên nét đặc sắc của lụa Vân Bên cạnh đó, lụa sa tanh cũng được đánh giá cao về chất lượng với những hoa văn như hoa hướng dương, hoa triện viền quanh, tạo cho lụa có ánh lấp lánh rất độc đáo Bởi vậy, lụa Vạn Phúc đã nhận được nhiều

Trang 40

giải thưởng: Huy chương vàng tại hội chợ Giảng Võ (1988-1990), Huy chương vàng tại hội chợ Quang Trung - TP Hồ Chí Minh (1991 - 1992), danh hiệu Sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn tại hội chợ Hải Phòng - Expo năm 2002

2.1.3 Làng mây tre đan Phú Vinh

2.1.3.1 Điều kiện địa lý, lịch sử

Làng mây tre đan Phú Vinh Nằm cách trung tâm Hà Nội 35 km theo hướng Tây Nam, làng nghề mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa, Chương Mỹ (Hà Nội) Năm 2002, làng Phú Vinh chính thức được công nhận là làng nghề truyền thống nhưng nghề mây tre đan của Phú Vinh, với tên gọi cũ Phú Hoa Trang đã được biết đến gần 400 năm nay Với truyền thống lâu đời, ở Phú Vinh nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào một công đoạn nào đó của nghề

2.1.3.2 Giá trị văn hóa

Làng Phú Vinh nổi tiếng về nghề mây từ lâu đời Nhân dân ta xưa nay đều coi đất Phú Vinh là "xứ Mây", là quê hương của mây đan với những sản phẩm mỹ nghệ bằng mây đạt tới tỉnh cao nghệ thuật tạo hình dân gian của Việt Nam Người Phú Vinh cha truyền con nối, đến nay đã sáng tạo được 180 mẫu hàng, xuất khẩu là chủ yếu gồm đủ mọi thứ: đĩa mây, lẵng mây, làn mây, chậu mây, bát mây

- Đĩa mây: gồm đĩa tròn, đĩa bát giác, đĩa rua miệng, đĩa vuông, đĩa chữ nhật, đĩa bán nguyệt, đĩa vỏ dưa, đĩa hoa muống, đĩa lót tròn

- Bát mây: có bát răng cưa, bát rua miệng, bát trơn mộc, bát đáy dày

- Chậu mây: có chậu đứng cong, chậu thắt suốt, chậu thau

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm