1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa làng nghề bánh tẻ phú nhi phường phú thịnh thị xã sơn tây thành phố hà nội

120 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phú Nhi là một làng cổ của xứ Đoài còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống gồm cả giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể với đình, đền, chùa, miếu thâm nghiêm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

**************

Bïi thÞ hiÒn

Trang 2

MụC LụC

Bảng chữ cái viết tắt 3

Mở đầu 4

Chương 1:Lμng cổ phú nhi vμ các lμng lμm bánh tẻ ở thị x∙ sơn tây 8

1.1 Tổng quan về làng cổ Phú Nhi 8

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên, dân cư 8

1.1.2.Điều kiện kinh tế, xã hội 11

1.1.3 Bề dày văn hóa 13

1.2 Một số làng có nghề làm bánh tẻ ở thị xã Sơn Tây 26

1.2.1 Làng Đông Sàng, xã Đường Lâm 26

1.2.2 Làng Vân Gia, phường Trung Hưng 28

Tiểu kết 30

Chương 2: những giá trị văn hóa của nghề lμm bánh tẻ phú Nhi 32

2.1 Bánh tẻ và nghề làm bánh tẻ 32

2.1.1 Bánh tẻ trong văn hóa ẩm thực của người Việt 32

2.1.2 Nghề- làng nghề làm bánh tẻ truyền thống ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam 38

2.2 Giá trị văn hóa nghề làm bánh tẻ Phú Nhi 40

2.2.1 Về lai lịch nghề 40

2.2.2 Những nét văn hóa trong quy trình làm bánh tẻ và thưởng thức bánh tẻ 42

2.2.3 Bánh tẻ trong đời sống văn hóa người Phú Nhi 58

2.2.4 Bánh tẻ trong cơ chế thị trường hiện nay 71

Tiểu kết 78

Trang 3

Chương 3: Thực trạng vμ một số giải pháp nhằm phát

triển lμng nghề bánh tẻ truyền thống phú Nhi 79

3.1 Thực trạng nghề làm bánh tẻ truyền thống Phú Nhi 79

3.1.1 Những đánh giá chung 79

3.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nghề làm bánh tẻ truyền thống ở Phú Nhi 83

3.2 Một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát triển nghề bánh tẻ truyền thống Phú Nhi 92

3.2.1 Về nguồn nguyên liệu 92

3.2.2 Khôi phục những mô hình làm bánh tẻ hoàn toàn theo công nghệ cổ truyền 93

3.2.3 Giải pháp về vấn đề bảo quản và vệ sinh an toàn thực phẩm 94

3.2.4 Về vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ và quảng bá thương hiệu bánh tẻ Phú Nhi 95

3.2.5 Giải pháp cho vấn đề đội ngũ lao động 98

3.2.6 Khôi phục và tổ chức hội thi nhằm tôn vinh nghề làm bánh tẻ truyền thống 99

3.2.7 Gắn kết làng nghề với phát triển du lịch ở Phú Nhi đó là địa phương cần gắn kết với các ban ngành, doanh nghiệp du 100

Tiểu kết 102

Kết luận 103

Tμi liệu tham khảo 105

Phụ lục 109

Trang 4

B¶ng ch÷ c¸i viÕt t¾t

BQLDT : Ban qu¶n lý di tÝch KHXH : Khoa häc x· héi NXB : Nhµ xuÊt b¶n UBND : ñy ban nh©n d©n VHDT :V¨n hãa d©n téc VHTT : V¨n hãa th«ng tin

Trang 5

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, trường Đại học Văn hóa

Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt 3 năm học tập tại trường

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị Phòng Công thương, Phòng Văn hóa thể thao và du lịch thị xã Sơn Tây, Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm, UBND phường Phú Thịnh đã nhiệt tình cung cấp tư liệu để tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Văn Sơn- Trưởng Ban văn hóa phường Phú Thịnh, Bác Kiều Huấn cùng nhiều gia đình hiện đang sinh sống tại làng Phú Nhi, đã luôn nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tôi khi nghiên cứu luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài luận văn: “Văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi, (phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội)”

Mặc dù đã thực sự cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, vậy tôi kính mong nhận được sự

đóng góp ý kiến và lượng thứ của quý thầy cô, độc giả

Hà Nội, tháng 04 năm 2011

Trang 6

mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

Việt Nam chủ yếu là một nước làm nông nghiệp, việc người nông dân chế biến những sản phẩm từ nông nghiệp thành các loại bánh dùng trong các ngày lễ tết và trong đời sống thường nhật là một việc làm không thể thiếu và rất phổ biến ở các làng quê Việt Nam Tuy nhiên việc chế biến ấy trở thành một nghề của một làng thì lại là điều chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

ở Việt Nam, có rất nhiều các loại bánh được chế biến từ bột gạo nếp, gạo tẻ, ngô, đỗ, khoai sắn, Mỗi thứ bánh mang đặc trưng riêng được chế biến và thưởng thức trong những bối cảnh khác nhau Chiếc bánh tẻ mà người dân làng Phú Nhi (phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, Hà Nội) sáng tạo nên cũng là một đóng góp rất giá trị đối với văn hóa ẩm thực Việt Nam

Phú Nhi là một làng cổ của xứ Đoài còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống gồm cả giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể với đình, đền, chùa, miếu thâm nghiêm cổ kính, với lễ hội truyền thống và những phong tục còn đậm nét chân quê Trong không gian truyền thống của một ngôi làng Việt cổ, người dân Phú Nhi còn tự hào vì đã lưu giữ và phát triển nghề làm bánh tẻ của cha ông Tuy thương hiệu bánh tẻ Phú Nhi đã phải trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhưng ngày nay nó thực sự đã

được khôi phục trở lại góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm,

đem lại thu nhập cho người dân Điều này có ý nghĩa thiết thực trong việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương

Vì vậy việc nghiên cứu một cách toàn diện về văn hóa làng nghề bánh

tẻ Phú Nhi có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ góp thêm tư liệu về văn hóa làng nghề Việt Nam mà còn có tác dụng thiết thực với làng nghề này khi

nó đang phải đối mặt với những thách thức trong quá trình phát triển Đây

Trang 7

cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi

(phường Phú Thịnh, thị x∙ Sơn Tây, thành phố Hà Nội)” làm đề tài nghiên

cứu luận văn tốt nghiệp ở bậc Cao học

Dựa trên khía cạnh văn hóa học, cụ thể là nét văn hóa ẩm thực độc đáo của nghề làm bánh tẻ với nền tảng những giá trị văn hóa truyền thống của làng Phú Nhi, luận văn đi sâu phân tích những đặc trưng văn hóa của làng Phú Nhi và nghề làm bánh tẻ Phú Nhi Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa của nghề làng nghề làm bánh tẻ Phú Nhi

- Văn hóa ẩm thực Hà Nội, Nhiều tác giả (1999), Nxb Lao động [28]

- Văn hóa ẩm thực và món ăn Việt Nam, Xuân Huy sưu tầm và giới

thiệu (2000), Nxb trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh [16]

- Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng (2000), Nxb VHTT [5]

- Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng, Nxb Văn học Hà Nội [6]

- Văn hóa ẩm thực trong văn hóa truyền thống Việt Nam, Nguyễn

Quang Lê (2003), Nxb VHTT Hà Nội [21]

- Truyện cũ Hà Nội, Tô Hoài (2007), Nxb Hội nhà văn [13],…

Song hầu hết các nghiên cứu, các bài viết về đề tài văn hóa ẩm thực Việt Nam nói chung mới chỉ tập trung ở khía cạnh dinh dưỡng qua việc giới thiệu các món ăn đồ uống, cách chế biến và cảm thụ các món ăn

Cũng theo cách tiếp cận này, chiếc bánh tẻ Phú Nhi (phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây- Hà Nội) đã được giới thiệu đến người đọc trên các báo, kỷ yếu hội thảo, tạp chí, các chương trình truyền hình như một thứ đặc sản của một vùng đất và chủ yếu nhằm mục đích quảng bá thương hiệu

Trang 8

Trong đó có tác giả Kiều Huấn với các bài Hương sắc bánh tẻ quê hương

Phú Nhi [18], Huyền thoại bánh tẻ Phú Nhi [17], tác giả Chu Quang Lê với

bài Quy trình công nghệ bánh tẻ Phú Nhi [20]…hay một số nghiên cứu của

Sở Công thương Hà Tây năm 2006 nhân dịp công nhận làng nghề làm bánh

tẻ Phú Nhi là làng nghề truyền thống

Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về làng nghề làm bánh tẻ Phú Nhi dưới góc độ văn hóa học Luận văn “Văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi (phường Phú Thịnh thị xã Sơn Tây, Hà Nội)” chính là để giải mã những nội dung trên nêu trên

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu văn hóa làng Phú Nhi trong mối quan hệ với các làng có nghề làm bánh tẻ ở địa bàn thị xã Sơn Tây, luận văn đi sâu phân tích văn hóa của làng nghề làm bánh tẻ Phú Nhi thể hiện trong văn hóa nghề Luận văn cũng phân tích, làm rõ vai trò của bánh tẻ trong đời sống văn hóa của dân làng, trong các quan hệ gia đình, xã hội và trong cơ chế thị trường hiện nay

Đồng thời từ việc nghiên cứu thực trạng phát triển của nghề làm bánh

tẻ truyền thống ở làng Phú Nhi, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác những giá trị văn hóa, kinh tế của của nghề làm bánh tẻ truyền thống giúp phát triển nghề này ở địa phương một cách bền vững

4 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là văn hóa làng Phú Nhi và nghề làm bánh tẻ ở làng Phú Nhi, phường Phú Thịnh thị xã Sơn Tây, Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những đặc trưng văn hóa của nghề làm bánh tẻ ở làng Phú Nhi từ xưa cho đến nay trong mối liên hệ so

Trang 9

sánh với các làng có nghề làm bánh tẻ trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố

Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Dân tộc học, Văn hóa học, thống kê xã hội học, phương pháp liên ngành trong đó đặc biệt chú trọng tới phương pháp điều tra khảo sát thực địa, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã nêu

6 Đóng góp khoa học của luận văn

- Luận văn được hoàn thành là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về làng nghề làm bánh tẻ ở làng Phú Nhi, phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, Hà Nội

- Từ việc phân tích, làm rõ bề dầy văn hóa của làng nghề bánh tẻ Phú Nhi, phân tích thực trạng phát triển nghề này ở địa phương, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp nghề ngày một phát triển, đồng thời cũng góp phần giáo dục truyền thống đối với hôm nay và những thế hệ mai sau

- Luận văn còn là tư liệu góp phần nghiên cứu về văn hóa một làng nghề “ẩm thực” truyền thống độc đáo của xứ Đoài nói riêng và Việt Nam nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương1 Làng cổ Phú Nhi và các làng làm bánh tẻ ở thị x∙ Sơn Tây

Chương 2 Những giá trị văn hóa của làng nghề bánh tẻ Phú Nhi

Chương 3 Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề

bánh tẻ truyền thống Phú Nhi

Trang 10

Chương 1 Lμng cổ phú nhi

vμ các lμng lμm bánh tẻ ở thị x∙ sơn tây

1.1 tổng quan về lμng cổ phú nhi

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên, dân cư

Phú Nhi là một làng cổ ven sông Hồng nằm cách trung tâm thị xã Sơn Tây khoảng 1km, theo hướng Tây Bắc

Về tên gọi làng Phú Nhi, theo các cụ cao niên trong làng lý giải nghĩa Hán Việt, Phú có nghĩa là giàu, Nhi là mà (không phải nghĩa là đứa trẻ), Phú Nhi có nghĩa là “làng giàu mà” Địa danh Phú Nhi được ghép từ tên của hai

đơn vị hành chính xưa kia của Phú Nhi: bên trong đê là làng Chạ Phú (ở đây chạ cũng có nghĩa là làng); bãi bồi bên ngoài đê sông Hồng là khu dân cư sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng bãi, vạn chài, làm gốm gọi là làng Nhi Hương Về sau, không rõ chính xác từ thời điểm nào, làng Nhi Hương bị lũ sông dâng lên đánh dạt cả nhà cửa, người dân lại phải di cư vào sinh sống trong đê và sát nhập với làng Chạ Phú để rồi từ đó có tên gọi là làng Phú Nhi

Cũng có giai đoạn, trước cách mạng tháng Tám, Phú Nhi còn được những người dân ở vùng Sơn Tây gọi với cái tên Bần Nhi (nghèo mà) Phải chăng tên gọi này xuất phát từ cuộc sống lầm than, khổ cực của người dân

nơi đây vào thời điểm đất nước phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” trước sự áp

bức của thực dân Pháp và địa chủ phong kiến Một giả thuyết khác, trong truyền thuyết về sự tích Đức Thánh Tản Viên Sơn dạy dân xứ Đoài cách

đánh bắt cá, đoạn cuối có nói tên làng Bần Nhi là do đức Thánh Tản đặt lại cho làng Phú Nhi Theo như truyền thuyết này, Đức Thánh Tản đã giúp một

ông lão kéo được 99 con cá rồi dạy ông lão cách chế biến các món cá khác nhau như thế nào cho ngon miệng Đức Thánh Tản cũng đã khuyên ông lão

Trang 11

đánh cá thả con cá trê đang chửa xuống sông Sau đó, Đức Thánh Tản tiếp tục ngao du sơn thủy vùng xứ Đoài, đến địa phận làng Phú Nhi, ngài bèn hóa thành người đi đường vào một gia đình trong làng xin ít muối trắng để ăn với cơm nắm, nhưng gia đình đó đành phải xin lỗi vì thực tình không có mà cho Xúc động vì tình cảnh ấy, khi hỏi tên làng mới biết là Phú Nhi, Đức Thánh Tản bèn đổi lại là Bần Nhi, có nghĩa là nghèo, nghèo đến mức không

có cả hạt muối để ăn

Từ trung tâm thị xã Sơn Tây du khách có thể đến Phú Nhi theo các đường:

- Qua phố Lê Lợi- phường Lê Lợi 800 m rồi rẽ trái tới Phú Nhi III

- Hoặc qua phố Ngô Quyền, phường Ngô Quyền đi thẳng lên quốc lộ

32 chừng 1,5km rồi rẽ phải tới Phú Nhi I

- Du khách cũng có thể từ phố Đinh Tiên Hoàng (phố Hàng Đàn cũ) rẽ phải tới con đường Phú Hà kéo dài, đi thẳng 0,5km là tới trung tâm làng Phú Nhi

Phú Nhi có vị trí giao thông thuận lợi với gần 2km quốc lộ 32 và 1,8 km sông Hồng chạy qua, gần sát với Bến Cảng của thị xã Sơn Tây Đó cũng là những con đường giao thông thủy- bộ nối liền Sơn Tây với trung tâm thủ đô

Hà Nội, Sơn Tây đi Phú Thọ Còn bên kia bờ sông Hồng là các xã ven sông thuộc tỉnh Vĩnh Phúc

Từ thời Lê Trung Hưng cho tới đầu thế kỷ XIX, Phú Nhi là một xã gồm các thôn Phú Hồng, Phú Hậu, Phú Mai thuộc tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phú Lộc, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây Cho đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng Cam Giá Thịnh được gọi là Cam Thịnh

Sau cách mạng tháng Tám, tháng 3 năm 1946, Phú Nhi cùng với các làng Yên Thịnh, Phù Sa, Thiều Xuân và Tiền Huân lập thành xã Viên Sơn,

Trang 12

huyện Phúc Thọ Đến năm 1949, địa bàn xã Viên Sơn được sát nhập thêm thôn Thuần Nghệ (trước thuộc tổng Thanh Vị, huyện Tùng Thiện)

Năm 1982, hai huyện Phúc Thọ và Sơn Tây được tách ra và quy mô thị xã Sơn Tây cũng được mở rộng thì Viên Sơn thuộc về thị xã Sơn Tây

Năm 2000, các thôn Yên Thịnh, Phú Mai, Hồng Hậu và Phú Nhi được tách khỏi xã Viên Sơn và lập thành phường Phú Thịnh Như vậy cho đến ngày nay, thôn Phú Nhi thuộc phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, thành phố

Hà Nội

Phường Phú Thịnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 297,95 ha Phía

Đông giáp với phường Lê lợi, phường Ngô Quyền, phía Nam giáp Phường Trung Hưng, phía Tây giáp xã Đường Lâm, các phường trên đều thuộc thị xã Sơn Tây, phía Bắc giáp sông Hồng, bên kia sông là xã Vĩnh Linh, Tỉnh Vĩnh Phúc

Hiện nay phường có 7 khu dân cư, Yên Thịnh, Phú Mai, Phố Hàng, Hồng Hậu, Phú Nhi I, Phú Nhi II, Phú Nhi III Dân số phường hiện nay là

1610 hộ, với 7613 nhân khẩu Việc phân tách phường Phú Thịnh thành 7 khu dân cư như trên nhằm phục vụ cho việc quản lý của chính quyền địa phương Như vậy địa phận của các khu dân cư Phú Nhi I, Phú Nhi II, Phú Nhi III là

địa phận của làng Phú Nhi có nghề làm bánh tẻ (gọi tắt là làng Phú Nhi) với

số hộ dân cư 196 hộ, 756 nhân khẩu)

Cùng với sự mở rộng tự nhiên của dòng chảy sông Hồng, ở giữa sông bồi đắp nổi lên một vùng bãi phù sa rộng lớn chạy dài suốt theo sông cách đê hữu sông Hồng (thuộc tỉnh Vĩnh Yên cũ) 2km Từ nhiều đời nay, nhân dân ven đê trong xã Viên Sơn cũ (trong đó có Phú Nhi) đã vượt sông khai thác bãi bồi, sau đó cư trú ở lại thành một vùng dân cư trù phú Vì vậy mối quan

hệ giữa nhân dân hai vùng trước kia là quan hệ huyết thống Việc đặt tên cho

Trang 13

các thôn, xóm bên vùng bãi mới giữa bên này với bên kia sông gần giống như nhau ví như Khách Nhi (Phú Nhi ), Kim Sa (ngang với Phù Sa)…

Với đặc điểm này cho nên dân cư tuy ở các thôn xã thuộc hai tỉnh khác nhau song lại có mối quan hệ tình cảm đậm đà, gắn bó nương tựa vào nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Đúng như cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã viết: “Sơn Tây, Vĩnh Phúc xưa là một, là hai nửa của một, tư duy

sông nước Việt không cắt hai nửa sông ” [27, tr 8]

Với bản chất là những người nông dân tụ cư ven sông Hồng, tuy đất

đai mầu mỡ, song diện tích đất canh tác không nhiều, lại luôn phải đối mặt với lũ sông Hồng dâng lên, vì vậy con người Phú Nhi luôn cần cù, chịu thương chịu khó, khéo léo, linh hoạt, sáng tạo trong công việc vượt lên mọi hoàn cảnh để làm giàu, xứng đáng với tên làng mình Đến với mảnh đất này

du khách sẽ cảm nhận được sự chân thật, mà hào hiệp, cởi mở toát lên từ những con người nơi đây Đó phải chăng cũng chính là điều kiện rất thuận lợi để nghề làm bánh tẻ truyền thống ra đời và phát triển

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Như đã viết ở trên, trước năm 2000, làng Phú Nhi thuộc xã Viên Sơn

có vị trí liền kề với trung tâm thị xã Sơn Tây Sau cách mạng tháng Tám năm

1945, cùng với việc xây dựng và phát triển chế độ mới, dân cư của xã Viên Sơn nói chung và làng Phú Nhi nói riêng và dân cư nội thị xã càng ngày càng

đan xen vào nhau Đầu thôn Phú Nhi trước kia, ở phía Tây và Tây Bắc hình thành một khu sản xuất gạch ngói Văn- Miếu (nay là nhà máy gạch Văn-Miếu) Cuối thôn Phú Nhi thành lập một phố mới, lúc đầu còn giữ tên là phố Phú Nhi, về sau đổi thành phố Trạng Trình và tách sang phường Lê Lợi Với

sự phát triển đô thị của thị xã khiến cho một bộ phận nông dân trong xã đã thoát ly sản xuất nông nghiệp chuyển sang làm các công việc khác, làm nhạt

đi tính chất nông thôn thuần túy Thêm vào đó, trước cách mạng tháng Tám

Trang 14

ruộng đất trong xã Viên Sơn tuy mầu mỡ nhưng cũng không nhiều: cả xã có

800 mẫu Bắc bộ canh tác Do ít đất, nông dân phải “cấy chia, cấy rẽ” thêm

hàng trăm mẫu ruộng ở các thôn xã lân cận như Mai Trai, Vân Gia (Trung Hưng), Đường Lâm, Sen Chiểu

Trong cải cách ruộng đất, diện tích đất canh tác ở xã Viên Sơn là 1,1 sào/ 1 người Ruộng đã ít, song địa chủ, phú nông lại chiếm 320 mẫu khoảng 40%, đất công 318 mẫu (40%), nông dân trực tiếp canh tác chỉ có 172 mẫu, bằng 21% tổng diện tích đất canh tác [4]

Chính do điều kiện trên đã ảnh hưởng thúc đẩy tới việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại Phú Nhi (phường Phú Thịnh) diễn ra một cách mạnh mẽ Tại thôn Phú Nhi có hình thành một lò gốm truyền thống, nổi tiếng không những ở địa phương, mà từ lâu đời đã nổi tiếng cả vùng Sơn Tây và Vĩnh Yên Xóm Lò Gốm còn có tên là xóm Lò Nồi, nay đổi tên thành Hồng- Hậu (gọi tắt của Phú Hồng và Phú Hậu) Xóm này trước ở ngoài đê sông Hồng, sau đó do bị lở đất và ngập nước khi nước sông Hồng lên cao, nên đại bộ phận dân 2 xóm Phú Hồng, Phú Hậu phải chuyển vào trong thành lập xóm mới Hồng Hậu Riêng với xóm này, ngày nay vẫn còn có một ngôi đình thờ

tổ nghề gốm

Ngoài ra, những người dân trong làng đều biết làm bánh tẻ Bánh tẻ ở

đây thơm ngon nổi tiếng trong vùng, tiêu thụ rất nhanh, từ đó nhiều hộ gia

đình đã làm bánh tẻ để mang ra chợ Nghệ, (trung tâm thương mại sầm uất của vùng Sơn Tây), chợ Mía, và các địa phương lân cận bán cho nhân dân trong ngoài vùng

Tuy vậy, sau thống nhất đất nước, đa số bà con nhân dân Phú Nhi vẫn sinh sống chủ yếu là nghề nông Đến năm 2003, thực hiện chủ trương của

Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội, thương mại, diện tích đất nông nghiệp của toàn phường Phú Thịnh bị thu hẹp từ 56,6 ha xuống còn 26,5 ha cho 19 dự án phát triển công nghiệp và xây dựng khu đô thị nhà ở

Trang 15

Phú Thịnh Tiếp đó tới đầu năm 2008, diện tích đất nông nghiệp ở nơi đây lại tiếp tục bị lấy thêm 20 ha để phục vụ cho xây dựng khu đô thị Phú Thịnh Như vậy cho tới thời điểm từ 2008, diện tích đất nông nghiệp của toàn phường Phú Thịnh chỉ còn 6,5 ha

Hiện nay, theo số liệu của UBND phường Phú Thịnh thống kê, số hộ làm nông nghiệp chỉ còn chiếm 4% còn lại chủ yếu là các hộ làm nghề làm bánh tẻ, kinh doanh buôn bán, cán bộ công chức, công nhân viên và cán bộ hưu trí mất sức Trên địa bàn hiện có 40 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hoạt động dưới sự quản lý của thị xã, thành phố, trung ương Phường có 1 trường tiểu học, 1 trường mầm non và 1 trạm y tế, có điểm công nghiệp 8,5 ha đầu tiên của thành phố Sơn Tây với 13 doanh nghiệp đang hoạt

động sản xuất kinh doanh

Riêng thôn Phú Nhi năm 2006, thu nhập từ nông nghiệp chiếm tỉ trọng

là 26%, công nghiệp và thủ công nghiệp chiếm 60%, dịch vụ khác chiếm 14% Số hộ thuần nông chiếm 60 hộ, kiêm tiểu thủ công nghiệp là 79 hộ, chuyên tiểu thủ công nghiệp: 12 hộ, các dịch vụ khác là 55 hộ [15]

Kể từ khi thương hiệu bánh tẻ Phú Nhi được Nhà nước công nhận, hàng trăm hộ gia đình tại thôn Phú Nhi đã chuyên tâm vào việc làm bánh tẻ, thu hút được lao động địa phương và một số lao động ở địa phương lân cận, góp phần giải quyết việc làm tăng thu nhập cho nhiều người khiến đời sống của người dân ngày một ổn định đi lên Thậm chí một số hộ gia đình đã làm giàu lên nhờ nghề làm bánh tẻ với việc thu hút vài chục nhân công tới làm

Đó là một tín hiệu rất đáng mừng cho kinh tế của địa phương Phú Nhi nói riêng và phường Phú Thịnh thị xã Sơn Tây nói chung

1.1.3 Bề dày văn hóa

Phú Nhi vốn là một làng ven sông có truyền thống văn hóa lâu đời

Điều này được khẳng định rõ nét thông qua các di tích lịch sử văn hóa,

Trang 16

phong tục tập quán, lễ hội cho đến nay vẫn còn được lưu giữ và phát huy trong đời sống các thế hệ người dân của làng

1.1.3.1 Các di tích lịch sử văn hóa làng Phú Nhi

* Cụm di tích lịch sử văn hóa Đình- đền Phú Nhi:

Cụm di tích lịch sử văn hóa đình- đền Phú Nhi được xây dựng từ lâu

đời, là nơi phục vụ sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng cho toàn thể dân làng Phú Nhi

Căn cứ vào tư liệu về địa chí Sơn Tây và theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, vào năm 1827, sau khi xây dựng xong thành cổ Sơn Tây khoảng mười năm, thì đình Phú Nhi được xây dựng gồm các hạng mục: Tiền

tế, Đại bái và hậu cung với quy mô to lớn, khang trang, nổi tiếng cả vùng

Đình Phú Nhi cũng như một số ngôi đình khác của xứ Đoài là nơi thờ Thành hoàng của làng- đức thánh Tản Viên Sơn Theo lời các cụ cao niên trong làng thì đình Phú Nhi xưa vốn gọi là đình Cả, vì đây là ngôi đình to lớn nhất trong làng Quy mô bề thế của đình vẫn còn được ghi lại bằng hình ảnh chụp đình làng năm 1885 Điều đặc biệt làng Phú Nhi, trước 1947, vẫn còn một hệ thống các đình của các xóm bao quanh, bên cạnh các miếu thờ thần thổ địa như: Đình giáp Đông, đình giáp Đoài, đình Nam, đình Bắc, đình xóm bãi Hồng Hậu (sau đó người ta dời đình Hồng Hậu vào trong đê, nay đình này vẫn còn) Sau năm 1947, những ngôi đình này không còn nữa, chỉ còn lại ngôi đình Cả, ngôi đình này trải qua mưa nắng thời gian cùng sự tàn phá của các cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cũng dần trở nên sập

sệ và xuống cấp trầm trọng, kiến trúc ngôi đình đã không còn giữ được nguyên vẹn như xưa

Đình đền Phú Nhi hiện nay tọa lạc theo hướng Tây Nam, nằm cạnh trục đường chính của làng, xung quanh là khu vực cư trú của dân làng Đình

và đền được xây dựng cạnh nhau, cách một khoảng là 4m Xung quanh di tích có cây xanh và cây cổ thụ lâu niên tỏa bóng mát mang lại sự linh thiêng

Trang 17

và trầm tĩnh cho di tích Các hạng mục công trình đình, đền được xây dựng trải dài theo chiều ngang, nhưng nằm ở trung tâm làng nên phù hợp cho việc thực hiện nghi lễ tín ngưỡng của nhân dân

Phía trước đình là một con đường ngắn dẫn đến sân lát gạch, bên ngoài

là nghi môn đình Nghi môn đình được xây dựng theo kiểu hai tầng tám mái,

đăng đối nhau rất cân xứng, mở 3 lối đi kiểu vòm cuốn Các đầu bờ nóc của tầng trên là hai con rồng lá và hai con rồng chầu vào nhau, với các đầu đao là những con kìm uốn cong mềm mại ở khoảng giữa tầng trên và tầng dưới

được trổ một ô cửa rỗng thông thoáng và được trang trí những họa tiết cây

cỏ, chữ triện đã làm giảm bớt đi sự nặng nề của phần kết cấu kiến trúc

Đại bái đình là một ngôi nhà ngang được làm theo kiểu bốn mái chảy với bốn đầu đao cong, lợp ngói ri Hai đầu bờ nóc đắp hai con rồng lá chầu vào nhau Phía trước 3 gian giữa để thông thoáng, hai gian bên và gian hồi

được xây tường ngăn là nơi hội họp của người cao tuổi Phía sau là hệ thống cửa bức bàn nối thông với gian giữa và Hậu cung

Gian giữa đình gồm hai gian nhà dọc và hai gian nhà ngang ở hai bên Hậu cung được nối tiếp với gian giữa kéo ra phía sau tạo thành hình chuôi

vồ Trước gian giữa của đình có lắp đặt hệ thống cửa bức bàn, bên trên treo

bức hoành phi đề 6 chữ Hán: “Thiên cổ anh linh hiển hách” (Sự anh linh từ

cổ tới nay vẫn hiện rõ) Cũng tại gian giữa đình đặt hương án gỗ bài trí các

đồ thờ tự, hai bên cạnh hương án là bộ bát bửu Hai gian bên còn lại đặt cỗ kiệu thờ được dùng trong dịp lễ hội truyền thống của làng

Lối đi chính giữa vào hậu cung là cửa bức bàn có trang trí một cửa

võng, phía trên cửa treo bức hoành phi đề chữ Hán: “Thánh cung vạn tuế”

(Đức Thánh muôn tuổi)

Trong khuôn viên đình Phú Nhi có một văn bia ghi tên các vị khoa bảng đỗ đạt sinh ra ở làng Phú Nhi Tuy không ghi niên đại dựng bia, nhưng

Trang 18

theo như dân làng thì bia được dựng vào thời Nguyễn Đây cũng chính là văn bia của văn hội xã Phú Nhi Trước đây, văn bia này được đặt tại văn chỉ của làng, nhưng tới những năm 1960 người ta đắp tuyến đê bao chạy qua gò văn chỉ để chống lũ sông Hồng Và công việc này đã làm biến mất văn chỉ làng Phú Nhi, nhân dân làng Phú Nhi đã di dời văn bia về đặt trong khuôn viên

đình Hiện nay, nhân dân làng Phú Nhi đang đệ trình lên chính quyền đề nghị cho khảo sát và xây dựng lại văn chỉ của làng trên gò đất cũ Thông qua văn bia chúng ta biết được rằng, người dân Phú Nhi không chỉ chăm chỉ làm ăn mà còn rất chú trọng tới việc học hành thi cử Hầu hết những người

đỗ đạt là những người tài năng, đức độ là những tấm gương sáng cho con cháu làng Phú Nhi noi theo

Đình Phú Nhi không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cho nhân dân trong làng, đó còn là một căn cứ cách mạng trong những năm kháng chiến chống Pháp Do xung quanh đình có gò lũy, lại được bao bọc bởi những dặng tre, dặng duối âm u, đây chính là những lợi thế để anh em du kích đào hầm bí mật hoạt động Mùa đông năm 1950 (năm Tân Mão), địch cho lính bao vây làng từ sáng sớm và lùng sục vây bắt du kích Chúng dồn dân làng ra sân đình tra tấn những người nghi là hoạt động Việt Minh Trong

đó có những người bị tra tấn dã man như ông Nguyễn Văn Thoái, ông Vũ Văn Phong, ông Cát Văn Huấn bị địch trói vào cột đình dùng dùi cui, báng súng đánh thốc vào ngực vào đầu Dân làng từ trẻ nhỏ tới người già bị bắt ngồi phơi nắng giữa sân đình để thị uy và trấn áp tinh thần Kết quả, dù dùng nhiều hình thức tra tấn dã man nhưng kẻ địch vẫn không nhận được một lời khai báo nào Chúng đành phải bắt vài chục thanh niên, trung niên trong làng

Trang 19

Đại bái đền có cấu trúc 3 gian với hai mái chảy, tường hồi bít đốc, tay ngai Tay ngai là hai trụ biểu, đỉnh có đắp đôi nghê chầu với tư thế kiểm soát tâm linh khách hành hương ở thân trụ biểu là hai câu đối ghi sự tích và ca ngợi công đức của Thánh mẫu Liễu Hạnh, vị thánh được thờ ở đền

Hậu cung đền là ngôi nhà dọc nằm vuông góc với gian giữa Đại bái, cách Đại bái một sân rộng Nối giữa Hậu cung với Đại bái là hai bức tường vắt chéo sang hai bên hồi Đại bái ở bức tường này có bức phù điêu hai con ngựa chiến chầu vào Hậu cung và hai bức tranh vẽ phong cảnh núi Tản Viên Hậu cung cũng có 3 lối đi với hệ thống cửa thường xuyên được đóng kín do

đây là nơi tôn nghiêm nhất của đền Cửa chỉ mở vào những ngày lễ tết, ngày rằm, ngày mồng một Bên trong Hậu cung xây bệ thờ theo kiểu tam cấp: bệ cao nhất là nơi đặt pho tượng Mẫu Liễu Hạnh trong một khám nhỏ, bệ giữa

và bệ dưới cùng đặt hai pho tượng Cô và Cậu cùng với các đồ thờ tự khác

Hiện nay đền Phú Nhi còn lưu giữ được bản sắc phong ca ngợi công

đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh do vua Tự Đức ban ra vào năm 1854 Trải qua bao nhiêu năm tháng cùng những sự biến thiên của lịch sử, nhân dân làng Phú Nhi vẫn còn lưu giữ bản sắc phong ấy trong hòm đựng sắc phong một cách cẩn thận như minh chứng cho sự trân trọng những giá trị truyền thống mà cha ông đã để lại

Nhìn chung, các hạng mục kiến trúc ở đình và đền Phú Nhi được làm khá đơn giản, thiên về bền chắc, nhưng lại gợi nên sự phóng khoáng, trang nghiêm Đình- đền Phú Nhi là nơi giúp cho những người dân làng Phú Nhi chịu thương chịu khó, quanh năm bộn bề công việc đến để chiêm bái và tìm thấy sự bình an trong cuộc sống Đây cũng chính là nơi diễn ra lễ hội làng hàng năm vào trung tuần tháng giêng, đây còn là địa chỉ để cố kết các thế hệ người dân làng Phú Nhi, để nhắc nhở con cháu giữ lấy truyền thống tốt đẹp

Trang 20

của cha ông, không ngừng phấn đấu xây dựng quê hương Phú Nhi ngày càng giàu đẹp

bỏ tiền công đức cho tôn tạo, xây dựng ngôi chùa này với quy mô bề thế gồm

125 gian Song trải qua thời gian và những biến cố lịch sử đã làm mai một, xuống cấp nhiều hạng mục công trình của ngôi chùa cổ

Chùa Phú Nhi tọa lạc cuối làng, phía trước là một cánh đồng rộng lớn, thoáng mát, phía sau sát với khu dân cư Chùa nằm ở vị trí cao hơn so với mặt bằng chung, xung quanh được xây tường bao để lửng Hiện tại chùa gồm các hạng mục công trình như cổng tam quan, tiền đường, thượng điện, nhà

Tổ, nhà mẫu, nhà khách Các hạng mục này cho thấy quy mô bề thế của công trình kiến trúc tín ngưỡng này

Cổng tam quan được xây dựng theo kiểu hai tầng tám mái, đăng đối nhau rất cân xứng, bờ nóc và đầu đầu đao lại được trang trí bằng rồng lá, kết hợp với các đường diềm, vân xoắn, làm cho toàn bộ hệ thống cổng trở nên thanh thoát mềm mại

Từ hệ thống cổng này qua sân là tòa tiền đường Tiền đường là tòa nhà gồm 5 gian 2 dĩ Phía trước được kết cấu bởi hệ thống cửa bức bàn, phía trên

là hệ thống chấn song, tạo ra sự thoáng mát cho di tích Kết cấu chính của toàn Tiền đường được thể hiện một cách đơn giản, ít trang trí, tạo nên sự giản

dị mà linh thiêng Phía trên gian giữa có treo bức hoành phi ghi tên chùa

“Đại Quang Tự” sơn son thiếp vàng, hai bên là hai câu đối nội dung ca ngợi

Trang 21

sự trường tồn của ngôi chùa làng cổ kính cũng như sự trường tồn mãi mãi của làng Phú Nhi:

“Phú ấp giang sơn thiên cổ tự Nhi hương vũ trụ vạn niên xuân”

Trong suốt chiều dài lịch sử, chùa Phú Nhi đã góp phần to lớn vào việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và di dưỡng lòng nhân ái, tình yêu quê hương đất nước cho nhân dân địa phương Thời kỳ cách mạng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chùa Phú Nhi cũng là một cơ sở kháng chiến của xã Viên Sơn trước đây Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa Phú Nhi đã trở thành nơi ăn nghỉ của lực lượng bộ đội và dân quân tự vệ thuộc tiểu đoàn trực chiến tỉnh đội và thị đội Sơn Tây Năm 1967, chùa Phú Nhi là nơi diễn ra Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ VI [4] Tên chùa Phú Nhi gắn liền với những cống hiến của sư thầy Thích Đàm Bản, đã góp phần quan trọng tạo nên chiến thắng chung của quê hương Phú Nhi nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung

Như vậy, di tích chùa Phú Nhi không những là một di sản của kho tàng văn hóa vật thể, một cơ sở Phật giáo của làng để nhân dân và khách thập phương tới chiêm bái, lễ Phật, mà còn là một địa chỉ giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ dân làng Phú Nhi

Trang 22

1.1.3.3 Phong tục tập quán

Uống nước nhớ nguồn, thờ cúng tổ tiên là một đặc điểm nổi bật là một nét đẹp trong phong tục tập quán, thể hiện đạo lý làm người của người Việt Trong mỗi gia đình ở làng Phú Nhi, vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà cũng là nơi đặt bàn thờ để thờ cúng tổ tiên

Trong gia đình thì có bàn thờ ông bà tổ tiên, giòng họ lại có bàn thờ tổ chung của cả họ tộc (đặt tại nhà tộc trưởng, chi trưởng) hoặc xây dựng riêng thành nhà thờ họ Cơ sở kinh tế cho các hoạt động thờ tự của các giòng họ trước đây chính là quỹ ruộng họ Trong làng hiện nay có 13 giòng họ lớn trong đó có 3 giòng họ là chưa hề bị pha tạp đó là: giòng họ Kiều, họ Tô, họ Phạm Trong các họ ở làng Phú Nhi theo như văn bia ghi ở trong khuôn viên

đình , thì họ Hoàng, họ Nguyễn là những họ có nhiều người học hành thi cử

đỗ đạt hơn cả Họ Hoàng có 16 người được vinh danh ở bia đá đặt tại đình làng trong đó có những vị đỗ đại khoa như Hoàng Đình Tá đỗ Hoàng Giáp năm 1842 (có ghi trong danh sách Các vị Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam) Giòng họ Nguyễn ở Phú Nhi có

17 người được vinh danh bia đá đặt tại đình Tại những họ này đã từng có người làm quan tri huyện như họ Nguyễn, bởi vậy việc họ được quan tâm nhiều Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, họ Kiều ở làng (cụ tổ là Kiều Công Hãn) là một giòng họ có địa vị, uy tín cao trong làng với 32 năm liền làm chánh tổng, lý trưởng Ngày nay giòng họ này cũng có nhiều người thi

cử học hành đỗ đạt phục vụ công cuộc xây dựng đất nước

Khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu về văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi thì có một điều đáng tiếc đó là hương ước của làng dù các cụ cao niên khẳng định là có nhưng đến nay đã không còn giữ được nữa Theo lời kể của các cụ thì hương ước của làng có những quy định rất chặt chẽ về việc ứng xử cộng đồng, về an ninh làng xã Ví như trong hương ước của làng có ghi về

Trang 23

việc tang ma: Nếu trong làng có người qua đời thì dân đinh trong làng phải

có trách nhiệm đi hộ phúc và đưa ma ra đồng Nếu vào hôm đó người nào có công việc phải đi vắng thì hôm trước phải biện chút lễ mọn để xin phép gia

đình tang chủ trước sự chứng kiến của làng xóm Việc an ninh của làng xóm cũng được quy định trong hương ước, hễ khi nào nghe thấy tiếng mõ cá (mỗi xóm có một mõ gỗ cá đặt ở điếm canh) tức là khi ấy trong làng có xảy ra hỏa hoạn hoặc trộm cắp, nhân dân trong làng phải giúp đỡ nhau cùng chống lại

Trong làng cũng có những tục lệ thể hiện tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau như việc giúp nhau lợp mái nhà Xưa, hầu hết nhà được lợp bằng rơm rạ, cỏ tranh Sau khi thu hoạch mùa màng xong, các nhà trong thôn xóm luân phiên giúp nhau lợp mái nhà, lợp xong nhà này thì sang nhà khác

Đến nhà nào thì nhà ấy phải chuẩn bị cơm nước cho những người làm giúp

ăn Dù bữa cơm rất đạm bạc nhưng cái tình làng nghĩa xóm thì rất đậm đà gắn bó Bởi vậy, người dân Phú Nhi vẫn nói “luột lạt, bát cơm” (chỉ tới buộc lạt thôi thì cũng được ăn cơm), dẫu rằng nghĩa của thành ngữ này nay đã khác nhiều so với trước đây

ở làng Phú Nhi người ta cũng quy định đàn ông 54 tuổi thì phải biện

lễ ra đình trình Thành hoàng làng để lên lão Sau lễ này, người ta mới chính thức được ngồi chiếu đình Những bậc cao niên từ 70 trở lên thì khi làng có việc làm cỗ, các cụ được làng mời ngồi ăn cỗ yến (cỗ to có từ 8 bát thức ăn trở lên) Các cụ 70 tuổi ra đình thì được mặc áo xanh Các cụ từ 80 trở lên

được làng cho võng điều đến rước và được mặc áo đỏ

Trong làng có tục lệ cứ đến ngày 10/10 âm lịch hàng năm (khi ở những làng thuần nông đồng bằng Bắc Bộ cúng cơm mới), thì ở các gia đình Phú Nhi lại tiến hành làm bánh dợm nhân tôm Tương truyền, vua Lê Thánh Tông thường hay kiểm tra các quan trong triều xem có hiểu rõ về quê hương

xứ sở của mình hay không nên vua ra đề thi, bắt mỗi người phải nấu một

Trang 24

món ăn đặc trưng của gia đình hoặc một món dân giã của quê hương để dâng vua Kết quả rất nhiều món ăn bị loại vì không phải đặc sản của quê hương mình mà toàn là những thứ cao lương mỹ vị Duy chỉ có một ông cử xứ Đoài xuất thân từ gia đình nghèo khó, thủa nhỏ theo mẹ làm bánh nuôi gia đình, lấy tiền ăn học Nay vua ra đề thi như vậy, ông liền làm ngay thứ bánh dợm dân dã đó để dâng vua Nhà vua và bá quan trong triều ăn thử thì thấy bánh ngon và lạ Ông cử xứ Đoài được nhà vua khen thưởng và ban tặng áo gấm

Từ đấy, hàng năm cứ đến 10/10 âm lịch, dân làng Phú Nhi lại làm bánh cúng

tổ tiên và dâng vua

Câu chuyện là một truyền thuyết do dân làng vẫn kể cho nhau nghe nhưng tục lệ làm bánh dợm của làng vào ngày tết cơm mới thì cho đến nay vẫn còn tồn tại Tục lệ đó phản ánh nếp sinh hoạt, tâm tính của người nông dân trồng lúa nước ở một làng cổ ven sông Hồng Sau khi thu hoạch xong vụ mùa, ăn hạt gạo mới dẻo thơm họ lại không quên cái ơn trời đất, tổ tiên đã

ban mưa nắng thuận hòa, phù hộ để họ được “thóc lúa đầy bồ” như lúc này

Điều đặc biệt làng Phú Nhi có tục lệ làm bánh tẻ để thờ cúng, dùng ăn trong những buổi cỗ bàn Đây là phần chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu ở chương 2 của luận văn này

1.1.3.3 Lễ hội truyền thống làng Phú Nhi

Như người xưa vẫn thường nói “xuân thu nhị kỳ”, lễ hội truyền thống

của làng Phú Nhi được tổ chức hàng năm để thực hiện những nghi lễ tế Thành Hoàng làng, nhằm cầu mong những điều tốt đẹp nhất cho nhân dân trong làng Đây cũng là dịp để mọi người tạm thời quên đi những khó khăn, bộn bề trong cuộc sống thường nhật mà cùng nhau thư giãn vui chơi Thông qua đó các thành viên trong cộng đồng làng xóm có dịp để gắn kết với nhau hơn

Trang 25

Lễ hội làng Phú Nhi được diễn ra tại khu di tích đình đền Phú Nhi hai lần trong năm Lễ hội chính là lễ “rước nước”, lễ hội đặc biệt này đã đi vào

ca dao để nhắc nhở những người dân trong vùng cùng tham gia trẩy hội:

“12 rước nước Phú Nhi

13 Thanh Trì, 14 Phù Sa

15 trẩy hội Đền Và

Có đi anh đợi, có xa anh chờ”

Theo lệ làng, để chuẩn bị mở hội rước nước về đình làm lễ Mộc dục – (tắm Thánh), trước ngày 25 tháng Chạp, trong làng có thành lập Ban tổ chức

lễ hội và công bố việc tổ chức lễ hội Ban tổ chức sẽ bầu ra người làm chủ trì

đồng thời là chủ tế để phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong các ban

tế, ban từ, ban hội và phân công cho các giáp chuẩn bị cắt cử các thành viên trong đoàn thuyền rước nước Trong khu nội tự đình, do các cụ trong ban tế, ban từ đảm nhiệm chuẩn bị Ngoài ra còn có các xóm, các dòng họ trong làng chuẩn bị các lễ vật và cử người đội lễ ra đình

Đến ngày 12 tháng Giêng, tại đình diễn ra lễ Yết cáo, lễ này do các cụ trong ban từ, ban tế đảm nhiệm, chuẩn bị đoàn thuyền rước nước từ sông về

đình làng Đây là ngày lễ quan trọng, các nghi lễ được tiến hành như sau :

Đầu tiên là nghi lễ lấy nước sạch từ sông Hồng về “tắm Thánh” Đoàn thuyền rước nước được trang hoàng có đủ cờ hoa đẹp đẽ Trong đoàn thuyền rước nước ngoài thuyền rước kiệu lễ, kiệu chóe còn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thuyền như sau:

Thuyền chính chở cụ từ, ban tế cùng kiệu chóe, kiệu lễ, có hai hàng đô

cờ đứng hai bên kiệu Đi trước thuyền chính là thuyền chở đoàn múa lân, sư

tử, phường bát âm cử nhạc “sênh tiền lưu thủy” Tiếp theo là các thuyền chở

các ban hội, các đội dâng hương, dâng hoa và nhân dân đi trẩy hội Cuối

Trang 26

cùng là thuyền cứu hộ, thuyền cứu hộ là chiếc thuyền nhỏ, trên đó là 4 thanh niên khỏe mạnh, giỏi bơi lội, được tuyển chọn đi theo để thường xuyên bao quát

đoàn thuyền rước nước và nhắc nhở mọi người giữ gìn an toàn sông nước

Sau khi làm lễ lấy nước, đoàn thuyền lượn vài vòng, vòng cuối cùng sẽ dừng lại để lấy nước tại vùng “nước hai” đổ vào chóe rồi đoàn thuyền rước nước về đình làm lễ Mộc dục Khi làm lễ người ta phải chọn một khăn vải vuông màu đỏ, sạch sẽ để “tắm Thánh” và bao sái các đồ thờ tự trong đình Sau khi làm lễ mộc dục xong, nước này sẽ dùng tưới cho cây cối trong vườn

để dâng lên cúng Thành hoàng Thường sẽ có những xóm, dòng họ, gia đình nhận đăng cai làm chiếc bánh này Đây cũng là một nét văn hóa rất riêng của làng nghề bánh tẻ Phú Nhi

Công việc chuẩn bị lễ vật cho ngày chính tiệc được các giáp lo từ trước Trước tiên gà sống thiến phải chọn con khỏe, hình dáng bên ngoài đạt tiêu chuẩn gà lễ, làm sạch và luộc chín để lên chốc mâm xôi Gạo nếp đồ xôi phải là loại nếp cái hoa vàng được làm thật sạch, trắng thơm, không có vết

đốm đen Nguyên liệu làm bánh tẻ cũng phải được chọn lựa một cách kỹ càng, các công đoạn làm bánh tẻ được những người đăng cai làm cẩn thận sao cho chiếc bánh tẻ làm ra thật ngon, dẻo mà nhìn hình thức thì hấp dẫn

Có những năm lễ vật dâng cúng thay vì gà sống thiến là một con lợn, dân làng gọi là “Lợn anh” Lợn này được giao cho các vị chức sắc trong làng

Trang 27

nuôi trong năm Thông thường người được tiến cử làm chủ tế năm đó được nuôi Việc được dân làng giao cho nuôi lợn là một vinh dự lớn, vì vậy khi chọn lợn lễ, người nuôi phải chọn con khỏe mạnh, vừa béo vừa đẹp, không bệnh tật lại phải phàm ăn Hàng ngày, người đăng cai nuôi lợn phải chăm sóc chu đáo cho lợn ăn uống đầy đủ, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ Các lễ vật sau khi tế lễ xong thì được đem để cho dân làng cùng thụ lộc

Từ ngày 13 tháng Giêng đến ngày 16 tháng Giêng dân làng mở hội ăn mừng Tại đình làng có tổ chức các trò chơi truyền thống và giao lưu văn nghệ giữa các xóm với nhau Tại các gia đình trong làng thì làm cỗ, làm bánh để mời bà con, bạn bè gần xa tới cùng dự tiệc

Ngày 16 tháng Giêng, tổ chức lễ tạ, rước Thánh yên vị và đóng cửa đình Ngoài lễ hội rước nước diễn ra từ 12 tháng Giêng đến 16 tháng Giêng tại đình làng Phú Nhi, nhân dân trong làng còn tổ chức lễ Mẫu vào ngày mồng 1 tháng 2 tại đền, và ngày lễ “tiệc cá” còn gọi là lễ “phóng sinh lý ngư” vào rằm tháng 9 Đây là một lễ hội rất độc đáo, ngày 14 tháng 9, dân trong làng chuẩn bị lễ vật như kiệu lễ, kiệu cá Con cá được chọn để dâng lễ

là một con cá chép nặng khoảng từ 7 đến 8 lạng còn sống và được thả trong

bể kính trang trí đẹp

Nghi thức tổ chức tiệc cá được diễn ra long trọng Lễ rước bắt đầu xuất phát từ đình, qua các phố nội thị vào Đền Và dâng lễ thánh Tản Viên, sau đó quay về sông Tích đoạn Cầu Cộng thì dừng lại và thả cá xuống sông Cá

được phóng sinh trước sự hân hoan, reo hò của người dân và những người đi trẩy hội Đây là một tập tục đẹp nhằm nhắc nhở người dân luôn nhớ ơn đức Tản Viên Sơn Thánh xa xưa đã dạy nhân dân nghề đánh bắt cá và cũng là dịp

để mọi người nâng cao ý thức giữ gìn sự cân bằng môi trường, môi sinh

Có thể nói lễ hội làng Phú Nhi có ý nghĩa thiêng liêng, là một sinh hoạt văn hóa tâm linh, biểu tượng văn hóa của vùng dân cư sông nước Các lễ

Trang 28

hội truyền thống này chính là hình thức sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí sau những ngày làm ăn vất vả khó nhọc, khích lệ óc sáng tạo, thẩm mỹ trong cuộc sống, lao động của những người dân trong làng đồng thời gắn kết các thế hệ, thành viên trong làng với nhau một cách chặt chẽ hơn

1.2 Một số lμng có nghề lμm bánh tẻ ở thị x∙ Sơn Tây

ở xứ Đoài xưa, người ta kể lại rằng có hai nơi làm bánh tẻ ngon được mọi người ưa thích đó là bánh tẻ Phú Nhi (thị xã Sơn Tây nay) và bánh tẻ Cầu Liêu (Thạch Thất) Rất tiếc bánh tẻ Cầu Liêu đến nay cũng không còn

được nhiều người biết tới nữa Tại đó, người dân hiện cũng không nhiều người còn làm bánh tẻ Trong khi đó ở Sơn Tây, bên cạnh bánh tẻ Phú Nhi rất nổi tiếng trong vùng và khắp cả nước thì cũng có một số làng lân cận ở Phú Nhi có nghề làm bánh tẻ Để có thể nghiên cứu một cách thấu đáo hơn văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi, chúng tôi sẽ mở rộng nghiên cứu hai làng có nghề làm bánh tẻ ngay tại khu vực thị xã Sơn Tây Đây cũng chính là những làng có các địa điểm du lịch nổi tiếng của thị xã: Chùa Mía, đền Bà chúa Mía, đình Tổng nhà cổ Đường Lâm (làng Đông Sàng), hay khu di tích lịch sử văn hóa Đền Và (làng Vân Gia)

1945, Đông Sàng thuộc Tổng Cam Giá Thịnh (tục gọi là Cam Thịnh), huyện

Trang 29

Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây Làng Đông Sàng đất đai kém mầu mỡ (đất đá ong), lại chật chội, người dân vốn từ xưa lại sống bằng nghề nông (70%), nhiều khi người dân phải đi làm thuê, làm các nghề khác để kiếm sống [2] Tại làng

Đông Sàng hiện nay còn một số lượng di tích lịch sử văn hóa khá dày đặc và rất có giá trị như: Chùa Mía- ngôi chùa cổ có số lượng tượng cổ nhiều nhất ở Việt Nam, đình tổng Mía (đã được tôn tạo lại trên nền móng cũ), đền phủ Bà chúa Mía, những ngôi nhà cổ có niên đại hàng trăm năm tuổi…

Đặc biệt, ở giữa làng lại có chợ Mía, trước đây là một khu chợ khá sầm uất trong vùng:

“Chợ Mía chưa họp đã to

Các thầy Mông Phụ cứ dò xuống chơi”

Chợ Mía xưa được họp ngay trước cửa Tam quan của chùa Mía, là nơi

để trao đổi buôn bán những sản vật phong phú của địa phương Ngôi chợ là hình ảnh của cuộc sống vui nhộn, ấm no, cũng là nơi giao lưu văn hóa của người dân vùng quê kẻ Mía này Chính vì có chợ Mía, nên đa số người phụ nữ Đông Sàng từ xưa bên cạnh nghề trồng cấy, còn biết làm bánh kẹo, chế biến tương để mang ra chợ bán:

Kẻ Mía kéo mật hộn đường Chu Chàng kéo sợi quay tơ cả ngày

Trong số những sản phẩm theo thúng hàng của người phụ nữ Đông Sàng mang ra chợ Mía có những chiếc bánh tẻ được làm ra từ chính bàn tay của họ Bên những góc chợ, những hàng bánh tẻ được bày bán thu hút đông

đảo thực khách đủ lứa tuổi khác nhau Bánh tẻ Đông Sàng vì thế cũng được nhiều người gần xa yêu thích Bánh tẻ Đông Sàng là chiếc bánh tẻ ngon theo cách ví của người dân Sơn Tây như một cô gái thôn quê khỏe mạnh, có vị

đậm đà, ăn không ngán Trong khi đó với bánh tẻ Phú Nhi thì có sự tinh tế, chắt lọc

Trang 30

Ngày nay, du khách đến với Đông Sàng nhiều hơn để tìm hiểu giá trị truyền thống của một làng cổ ở đồng bằng Bắc Bộ, để tham quan lễ phật chùa Mía, để được ngắm những ngôi nhà đá ong trải bao mưa nắng đậm màu thời gian Theo nhịp phát triển của cuộc sống, chợ Mía cũng được mở rộng quy mô hơn, sự giao lưu buôn bán tấp nập hơn, hàng hóa đa dạng nhiều chủng loại, không chỉ đáp ứng nhu cầu mua bán của người dân trong vùng

mà còn phục vụ cho việc mua bán quà lưu niệm của du khách Trong những thứ quà bánh ở đây, du khách ở xa luôn dành những ưu ái của mình cho những chiếc bánh tẻ mộc mạc mà không kém phần hấp dẫn Tuy vậy, việc sản xuất bánh tẻ của làng Đông Sàng cũng chỉ diễn ra ở một số hộ gia đình thuộc xóm Chợ, xóm Chùa, còn lại đa phần người ta đặt bánh tẻ ở làng Phú Nhi để bán cho khách du lịch vì bánh tẻ Phú Nhi có thương hiệu nổi tiếng khắp cả vùng

1.2.2 Làng Vân Gia, phường Trung Hưng

Cùng với Đông Sàng và Phú Nhi, làng Vân Gia (tục gọi làng Và) ngày nay thuộc địa phận phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây cũng có nghề sản xuất bánh tẻ Tuy giáp với trung tâm thị xã Sơn Tây, nhưng nhân dân làng Vân Gia chủ yếu sinh sống bằng nghề làm ruộng Thương nghiệp kém phát triển, nghề thủ công truyền thống hầu như không có Sản xuất nông nghiệp của Vân Gia cũng gặp nhiều khó khăn do đồng ruộng ở các thôn xóm thuộc vào địa đầu của vùng bán sơn địa Về mùa mưa ruộng đồng thường phải gánh chịu những cơn lũ của vùng rừng núi Ba Vì chảy về sông Tích Tình trạng hạn hán, úng ngập ở từng xứ đồng vẫn luôn xảy ra [3]

Làng Vân Gia hiện nay được chia thành 4 đội: 5,6,7,8 và một cụm dân cư số 9 được thành lập cuối năm 2002 Trên địa phận làng Vân Gia còn một

số di tích lịch sử như chùa Vân Gia (Viên Quang Tự), đình Vân Gia có niên

đại lâu đời, độc đáo về giá trị kiến trúc Đặc biệt nơi đây có di tích Đền Và

Trang 31

(Đông Cung) nổi tiếng là ngôi đền linh thiêng gắn với lễ hội rằm tháng Giêng thu hút sự tham gia đông đảo của người dân cả vùng Sơn Tây từ xưa cho đến nay Đền Và thờ Tam vị đức Tản Viên Sơn Thánh (Nguyễn Tuấn, Nguyễn Sùng, Nguyển Hiển) Những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại xoay quanh Đức Thánh Tản còn được người dân xứ Đoài lưu truyền cho nhau nghe mãi mãi Thông qua đó, chúng ta thấy được sự biết ơn, kính trọng

rất mực của người dân đối với vị Thánh mà sử sách coi là “Nam giao thánh

tổ” này Đền Và còn lưu giữ được nhiều di sản Hán Nôm, bao gồm 18 đạo

sắc phong, 18 bức hoành phi, 2 bia đá, 3 chuông đồng, 5 bản thần tích, nhiều câu đối được viết trên gỗ, vách cột và cả trên ngọc phả

Gắn liền với Đền Và là lễ hội Đền Và, như đã nói đây là lễ hội lớn của

xứ Đoài từ xa xưa Lễ hội diễn ra vào rằm tháng Giêng Cứ 3 năm tổ chức hội lớn một lần đó là vào các năm Tý- Ngọ- Mão- Dậu Đây là dịp thu hút

đông đảo bà con ở các địa phương xung quanh tham gia trẩy hội Bên cạnh

đó, hàng năm nơi đây còn có lễ hội đả ngư được tổ chức vào rằm tháng 9 để tưởng nhớ về công ơn dạy dân nghề đánh bắt cá của đức Thánh Tản Viên Sơn Lễ hội này cũng là dịp để người dân quanh vùng về đây trẩy hội

Chính vào những ngày lễ hội có đông đảo người dân khắp nơi đến tham dự này, một số hộ gia đình người dân làng Vân Gia đã tự tay làm nên những chiếc bánh tẻ để phục vụ trong gia đình và đem bán cho khách hành hương trẩy hội Lễ hội Đền Và diễn ra ngay sau dịp tết Nguyên đán cổ truyền, khi mọi người đã cảm thấy không còn mặn mà với bánh chưng và những món ăn thịt thà, nhiều mỡ, thì chiếc bánh tẻ của làng Vân Gia nóng hổi phục vụ ngay tại các quán hàng dọc lối vào Đền là một thứ quà vô cùng hấp dẫn với khách gần xa Sau các dịp lễ hội này, cuộc sống của người dân làng Vân Gia lại trở về với nhịp điệu đời thường, bánh tẻ chỉ còn được làm vào mỗi khi gia đình có việc

Trang 32

Ngày nay, Đền Và là một địa chỉ để thu hút khách du lịch tới tham quan và những người đi lễ Thánh, đặc biệt vào những tháng đầu năm lượng khách đến tham quan, lễ bái rất đông, nhu cầu về bánh tẻ cũng gia tăng, bên những thùng bánh tẻ Vân Gia lặng lẽ khiêm nhường, bánh tẻ Phú Nhi của những người đi buôn xôn xao chào mời thực khách

Tóm lại, với đặc điểm đều là những làng cổ nằm trong thị xã Sơn Tây, cùng có vị trí ở hữu ngạn sông Hồng, lại ngay sát liền kề với nhau, làng

Đông Sàng, làng Vân Gia, làng Phú Nhi tuy về địa giới hành chính thuộc các xã, phường khác nhau nhưng đều có nghề làm bánh tẻ truyền thống Những chiếc bánh tẻ được làm ra ở các làng này có nét chung của bánh tẻ Sơn Tây-

xứ Đoài, nhưng lẽ tất nhiên đã ẩn chứa hương vị riêng của mỗi làng quê sinh

ra nó

Tiểu kết chương 1

Nằm trong vùng đất cổ của xứ Đoài, Phú Nhi là một làng ven sông Hồng, có điều kiện vị trí giao thông thủy bộ thuận lợi, tuy thường được thiên nhiên ưu đãi mưa nắng thuận hòa, phù sa bồi đắp đất đai màu mỡ, nhưng cũng không ít lần phải đối mặt với sự thử thách của lũ lụt

Ngay từ xa xưa, đây đã là nơi thắng địa để người Việt cổ tìm đến lập làng, lập ấp Người Phú Nhi với bản chất hiền lành, cởi mở, cần cù, chịu khó lại khéo léo sáng tạo đã để lại cho đời nay những di sản văn hóa hết sức giá trị Đến với làng Phú Nhi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính rêu phong của các ngôi đình, đền, chùa, miếu, được đắm mình vào không khí của lễ hội truyền thống cũng như những phong tục tập quán tốt đẹp

Song, điều đáng nói là người dân làng Phú Nhi còn tạo ra những dấu

ấn riêng biệt, được nhân dân trong vùng và cả nước biết tới thông qua nghề làm bánh tẻ truyền thống của mình Và dù cho ngay sát, liền kề với ngôi làng này làng Vân Gia, làng Đông Sàng, đều có nghề làm bánh tẻ Hai làng trên

Trang 33

lại có điều kiện thuận lợi sở hữu những di tích lịch sử quốc gia nổi tiếng (Đền Và, Chùa Mía), thu hút được nhiều khách thập phương tham quan du lịch Nhưng nghề làm bánh tẻ của các làng trên vẫn chưa thực sự phát triển Việc sản xuất chỉ giới hạn trong một số ít hộ gia đình xung quanh di tích với

số lượng và quy mô nhỏ lẻ Trong khi đó, tại các điểm du lịch của chính những địa phương này, với thương hiệu đang ngày càng được mọi người biết

đến, chiếc bánh tẻ Phú Nhi vẫn là món hàng thu hút thực khách nhiều hơn

Trang 34

Chương 2 những giá trị văn hóa của nghề lμm bánh tẻ phú Nhi

2.1 Bánh tẻ vμ nghề lμm bánh tẻ

2.1.1 Bánh tẻ trong văn hóa ẩm thực của người Việt

2.1.1.1 Chiếc bánh tẻ trong hệ thống các loại bánh truyền thống

Khi đề cập đến văn hóa ẩm thực của người Việt, sẽ là rất thiếu nếu không đề cập đến các loại bánh trái Ngay từ thời xa xưa, khi mới ở thời kỳ dựng nước, chiếc bánh đã xuất hiện như một thứ đặc sản được chế biến công phu để cúng tổ tiên và dâng lên vua Về sau, cứ đến những ngày lễ tết, hội làng, hoặc ngày nông nhàn, người ta lại sáng tạo ra những thứ bánh ngon miệng, đẹp mắt để dâng cúng, sử dụng trong gia đình và thiết đãi khách khứa Mỗi loại bánh trái lại mang hương vị đặc trưng riêng của làng quê mình Thậm chí những người sành ăn có thể cảm nhận được sự khác nhau của cùng một loại bánh nhưng lại được chế biến ở những vùng quê khác nhau ở Việt Nam có thể kể tới hàng trăm thứ bánh khác nhau từ Bắc chí

Nam, từ miền ngược tới miền xuôi Sách Nữ Công Thắng Lãm của Hải

Thượng Lãn Ông [23, tr.96-117] đã giới thiệu cho chúng ta biết cách chế biến của rất nhiều loại bánh

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi mới chỉ giới hạn tìm hiểu nghiên cứu về bánh tẻ trong các loại bánh truyền thống của người Việt ở Bắc

Bộ, từ đó thấy được vị trí của một thứ bánh chế biến từ bột gạo tẻ trong văn hóa ẩm thực Việt Nam

Theo tác giả Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong tục:

Cách ẩm thực của ta về thứ thóc gạo thì cần thiết là gạo tẻ, gạo nếp, gạo tẻ thì thổi cơm, gạo nếp thổi xôi làm bánh Còn ngô,

Trang 35

khoai, vừng, đậu, kê, sắn thì hoặc làm bột, hoặc nấu bánh cũng

là các thứ phụ thêm cho sự ăn uống…Các thứ bánh trái thì việc

tế tự và việc hiếu hỉ, trọng nhất là bánh giầy bánh chưng Còn như bánh đường bánh ngọt, bỏng kẹo, chè, mứt v.v… thì là đồ

làm quà ăn cho đàn bà và trẻ con [8, tr.432]

Còn theo học giả Đào Duy Anh, trong cuốn Việt Nam Văn hóa sử cương:

Gạo tẻ dùng để nấu cơm là món ăn chính hằng ngày, và xay ra bột để làm bún và các thứ bánh tẻ Gạo nếp thì dùng để nấu xôi,

đóng oản, làm các thứ bánh chưng, bánh tét, bánh tày, và xay ra bột để làm rất nhiều bánh mặn hay ngọt [1,tr.180]

Xem thế để thấy rằng, các loại bánh trái ở nước ta tuy không xuất hiện thường xuyên trong bữa ăn đời thường nhưng chúng cũng rất đa dạng, phong phú

và là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa ẩm thực người Việt

Nếu chúng ta tạm phân loại các loại bánh theo nguyên liệu chính tạo nên chúng thì có thể kể tới 3 nhóm bánh truyền thống cơ bản: Thứ nhất bánh chế biến từ gạo nếp, thứ hai là bánh chế biến từ đậu, ngô, khoai sắn…, thứ ba

Trong Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh (1453-1516) và Kiều Phú (1447-?), Bản dịch của Nguyễn Ngọc San, có ghi Truyện Bánh Chưng [33]

Trang 36

Sự tích này muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc, là lời giải thích ý nghĩa về cội nguồn, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa

và thiên nhiên trong nền văn hóa lúa nước Việt Nam

Chiếc bánh chưng xanh, từ bao đời nay đã trở thành một biểu tượng

đặc sắc và độc đáo của bản sắc văn hóa dân tộc trong ngày tết cổ truyền Ngày 30 tết trên mâm cúng tất niên của các gia đình người Việt không thể thiếu một cặp bánh chưng để thờ ông bà tổ tiên Đối với họ, chưa có bánh chưng, chưa phải là tết Những biểu tượng truyền thống của cái tết xưa kia đã

Dù ai chồng rẫy vợ chê Bánh giầy Quán Gánh lại về với nhau

Ngoài hai thứ bánh rất đặc biệt trên thì từ gạo nếp người ta còn làm ra nhiều loại bánh khác như bánh dợm (cơ nơi gọi là bánh nếp), bánh phu thê (còn gọi là bánh xu xê, một đặc sản của vùng kinh Bắc), bánh cáy (Thái Bình), bánh gai (Hải Dương, Nam Định) Mỗi một loại bánh trên cũng lại là

đặc sản quý của từng vùng miền cụ thể Xung quanh nó có biết bao những câu chuyện dân gian lý thú từ nguồn gốc, sự khác biệt, cách chế biến, thưởng thức Nó cũng chính là tiếng nói của văn hóa ẩm thực Việt Nam

Khác với các loại bánh chế biến từ gạo nếp, bánh chế biến từ các nguyên liệu như đậu, ngô, khoai, sắn, vừng, lạc…chủ yếu là những món quà dân dã Xuất phát điểm của những món bánh này có lẽ là một cách sáng tạo

Trang 37

của người nông dân Việt Nam để ăn thay cho cơm gạo trong những ngày đói

kém, “giáp hạt”, “tháng ba ngày tám”, hay những lúc thiên tại làm cho mất mùa Bởi vậy trong ca dao, các cụ ta vẫn nhắc nhở con cháu: “Được mùa chớ

phụ ngô khoai- Đến khi đói kém lấy ai bạn cùng” Về sau, khi thưởng thức

những thứ bánh này, họ lại thấy ngon lạ và hấp dẫn Thế rồi, từ chỗ chỉ làm

để phục vụ gia đình, họ làm thêm mang ra chợ bán Và từ chỗ làm để thay thế cơm gạo cho no thì người thưởng thức đã cảm nhận được hương vị đậm

đà, khác lạ từ những chiếc bánh mộc mạc như chính tên gọi của chúng

Trong khi bánh chế biến từ gạo nếp quý hiếm, bánh chế biến từ các nguyên liệu ngô, khoai, sắn… dân giã mới lạ, thì bánh chế biến từ gạo tẻ cũng gồm nhiều loại khá phổ biến mà đem đến cho người thưởng thức những hương vị đặc trưng, tinh tế

Như đã nói ở trước, đối với người Việt Nam hạt gạo vô cùng quan trọng, bởi bữa ăn hàng ngày của họ gắn liền với cơm gạo Nếu hàng nghìn năm trước đây, hạt gạo nếp trở thành thứ đặc sản quý hiếm, dùng chủ yếu trong các lễ tết, hội hè, thì cũng kể từ đó gạo tẻ chiếm vị trí chủ đạo trong bữa ăn của người Việt Cơm gạo tẻ là sự chế biến thông dụng và đơn giản

nhất nhưng lại ăn được lâu bền nhất: “cơm tẻ mẹ ruột”, “đói thì thèm thịt

thèm xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường” hay “Tề thiên đại thánh không mạnh bằng cơm”… Bởi thế bữa ăn trong gia đình còn gọi là “bữa cơm” Cố

giáo sư Trần Quốc Vượng đã khẳng định cơm tẻ là thành phần đầu bảng trong cơ cấu bữa ăn của người Việt [39] Với thứ lương thực chủ đạo ấy (gạo tẻ), vào những ngày nông nhàn, những khi lễ tết người nông dân đã nghĩ ra nhiều cách chế biến hạt gạo tẻ thành các sản phẩm bánh bún khác nhau để dâng cúng và thưởng thức Bên cạnh các loại bún, bánh phở những chiếc bánh tiêu biểu trong số đó như bánh đúc, bánh cuốn, bánh tẻ

Trang 38

Có thể nói, bánh đúc là món quà dân dã và rẻ nhất trong số các loại

quà quê, nhưng lại vô cùng hấp dẫn: “Bánh đúc cá kho, bán bò trả nợ”

Thậm chí bánh đúc còn được xem như những đôi vợ chồng son trẻ yêu nhau

thắm thiết, tình cảm mặn nồng: “Vợ chồng ta bánh đa, bánh đúc- Vợ chồng

nó một cục mắm tôm” Hay để ngậm ngùi cho thân phận con chồng dì ghẻ:

“Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng” Ngày

nay ở các phiên chợ quê, món bánh dân giã này vẫn được rất nhiều người ưa thích Cùng với bánh đúc, bánh cuốn cũng là thứ quà chế biến từ gạo tẻ khá quen thuộc với người dân đồng bằng Bắc Bộ, nhưng nổi tiếng nhất là bánh cuốn Thanh Trì (Hà Nội), bánh cuốn Phủ Lý (Hà Nam)

Việc người nông dân ở các miền quê Việt Nam chế biến sản phẩm lương thực thành nhiều loại bánh trái khác nhau, một mặt cho người ta thưởng thức những hương vị khác nhau ở mỗi vùng miền Mặt khác, điều này cũng làm phong phú hơn kho tàng ẩm thực Việt Nam Đồng thời khi cùng chủ nhân của mình bay đi muôn phương, những chiếc bánh đó luôn phảng phất hương vị truyền thống của quê nhà, để rồi vượt lên trên cái sự ăn uống, chiếc bánh trở thành một góc biểu tượng của quê hương mình

2.1.1.2 Bánh tẻ trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt

Đối với văn hóa ẩm thực của người Việt, bánh tẻ có nơi gọi là bánh lá [1, tr180-181], là một loại bánh ăn ngon, lành dạ, chỉ no mà không chán Từ hạt gạo tẻ xay thành bột, qua nhiều công đoạn, bằng kinh nghiệm của người làm bánh, ở đây chủ yếu là những người phụ nữ tần tảo, khéo léo trong gia

đình, chiếc bánh được tạo ra không sang quý mà giản dị, đơn sơ như chính những người dân quê chân chất Tuy giản dị là thế nhưng chiếc bánh đó cũng không kém phần tinh tế, hấp dẫn từ quan lại cho đến người bình dân, ai ai cũng thích Với giá cả phải chăng mọi người đều có thể thưởng thức thứ bánh bình dân này

Trang 39

Nói về cách chế biến từ hạt gạo tẻ thành cơm thì rất đơn giản, chỉ việc cho gạo vào nồi vo, đổ nước cho vừa đem nấu chín là có thể ăn được Đó là công việc hằng ngày của hầu hết những người nội trợ Việt Nam Nhưng cũng

từ hạt gạo tẻ chế biến thành chiếc bánh tẻ thì phải qua khá nhiều công đoạn, phải mất nhiều thời gian để rồi khi ăn thì cảm giác thật ngon, dễ ăn Thậm chí nhiều người còn cho đây là món khoái khẩu của mình Chính vì lẽ đó, có thể nói việc làm ra chiếc bánh tẻ bên cạnh rất nhiều loại bánh chế biến từ các nguyên liệu khác là một sự sáng tạo góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa ẩm thực của Việt Nam

Nhìn chung chiếc bánh tẻ thường được người dân làm ra trong những dịp lễ tết, hoặc vào những ngày nông nhàn, sau khi đã thu hoạch xong Đặc biệt trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc, bên cạnh chiếc bánh chưng xanh, tại một số làng quê Bắc Bộ, người ta còn làm bánh tẻ để dâng lên cúng

tổ tiên, đồng thời sử dụng sau khi cảm thấy đã không còn mặn mà với bánh chưng và những món ăn nhiều dầu mỡ

Nếu như bánh chưng, theo quan niệm của người Việt, phản ánh quy luật của vũ trụ, có âm có dương thì chiếc bánh tẻ cũng nằm trong sự chi phối của các quy luật ấy Bánh tẻ làm từ nguyên liệu chính là hạt gạo tẻ, gạo tẻ là thứ sản phẩm được tinh lọc qua nhiều công đoạn từ cây lúa Mà theo triết lý

âm dương, cây lúa từ khi gieo, lớn lên, ngậm đòng, thụ phấn, ra bông là nhờ vào ánh sáng và khí trời đó là đã mang tính dương (+), lấy thức ăn, hút nước

từ trong đất là mang tính âm (-) Cây lúa đến thời kỳ “con gái” thụ phấn

cũng rất diệu kỳ, vỏ lúa chỉ tự động mở ra khép lại trong 1 giờ vào ban ngày (+) và 1 giờ vào ban đêm (-) Như vậy hạt gạo là do âm dương kết hợp tạo thành Cây lúa trong thời gian sinh trưởng lại phụ thuộc rất nhiều vào nắng mưa, trong đó nắng là biểu hiện của dương (+), mưa là biểu hiện của âm (-)

Vụ nào cây lúa nhận được đủ nắng mưa, lúa rất tốt, hạt lúa mẩy, nhiều tinh bột, gạo làm bánh tẻ sẽ do đó mà ngon và dẻo Chiếc bánh được làm ra từ

Trang 40

nguyên liệu chính là bột gạo tẻ (thực vật) mang tính âm (-), nhân bánh lại có thịt lợn động vật mang tính dương (+) Như vậy bên ngoài là âm, bên trong là dương, trong âm có dương, trong dương có âm (trong nhân bánh có cả hành, mộc nhĩ là âm) Chiếc bánh được gói bằng lá dong xanh, chuối nâu (là âm), bên trong bóc ra có màu trắng là dương Xét về tổng thể, như vậy bánh tẻ đã mang đậm quy luật của trời đất, vũ trụ lại được làm nên từ bàn tay khéo léo,

tỉ mỉ của con người Vậy nên, khi ăn bánh tẻ ta thấy ngon, lành dạ mà không chán lại dễ tiêu chính là đã mang vào trong cơ thể con người một sự quân bình về âm dương Mà như thế thì mới giúp con người cảm thấy yên tâm về sức khỏe khi thưởng thức chiếc bánh này

2.1.2 Nghề- làng nghề làm bánh tẻ truyền thống ở đồng bằng Bắc

Bộ Việt Nam

Việc những người phụ nữ ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam chế biến gạo

tẻ thành bánh tẻ không phải là trường hợp hiếm gặp Song, việc làm đó lại diễn ra một cách không thường xuyên và rải rác ở một vài gia đình nhỏ lẻ trên các làng quê sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước.Và có một

điều là xưa kia, trong quan niệm của người dân, chế biến bánh tẻ ít khi được công nhận là một nghề thực thụ Với họ, cùng lắm thì đó cũng chỉ được xem như là công việc phụ thêm của một số ít người ở thôn quê, bên cạnh nghề canh nông Cũng chính vì thế, những vấn đề như lai lịch của nghề, tổ nghề,

bí quyết nghề nghiệp, tổ chức phường hội của nghề này hiện nay hầu như còn mờ nhạt, chung chung Nhưng việc cả một làng từ xa xưa tới nay, hầu như ai cũng biết làm bánh tẻ, việc làm bánh tẻ diễn ra một cách thường xuyên như là một tục lệ thậm chí còn có cả hội thi làm bánh tẻ, đặc biệt khi thưởng thức chiếc bánh tẻ người ta còn nhận ra được là bánh tẻ của làng nào sản xuất (đặc trưng sản phẩm), thì lúc này công việc làm bánh tẻ đã mang những yếu tố của một nghề truyền thống

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm