Lịch sử nghiên cứu đề tài
Lễ hội là một chủ đề nghiên cứu đa dạng với nhiều góc nhìn khác nhau Một số công trình tiêu biểu về lễ hội bao gồm “Nếp cũ, hội hè đình đám” của Toan Ánh, “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, và “Lễ hội truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và Đặng Văn Lung Các tác phẩm như “Hội hè Việt Nam” của Trương Thìn và “Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt văn hóa cộng đồng” của Hồ Hoàng Hoa cũng đóng góp vào việc hiểu biết về lễ hội Đặc biệt, “Lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại” của Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng cùng “Kho tàng lễ hội cổ truyền” đã cung cấp những lý luận phong phú, định hướng cho việc sưu tầm và nghiên cứu lễ hội dân gian.
Ngoài các công trình nghiên cứu đã được biên soạn thành sách, các tác giả còn đóng góp nhiều chuyên luận có giá trị trên các tạp chí, như “Nghiên cứu về hội làng truyền thống của người Việt” (1984) của Lê Thị Nhâm Tuyết, “Lễ hội một cách nhìn tổng thể” (1986) của Trần Quốc Vượng, và “Hội làng - hội lễ” (1984).
Lê Trung Vũ trong bài viết “Một số suy nghĩ về nguồn gốc và bản chất của lễ hội cổ truyền dân tộc” (1992) và Nguyễn Quang Lê với “Một số vấn đề về lễ hội cổ truyền trong cuộc sống hôm nay” (2001) đã đề cập đến nhiều khía cạnh của lễ hội cổ truyền Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác về lễ hội được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, báo chí và website, đóng góp vào việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa lễ hội.
Các bài viết này thảo luận về giá trị văn hóa của lễ hội, sự mai một và phát triển lệch lạc của các lễ hội dân gian, cũng như tính thương mại hóa quá mức "Lễ hội" hay "Hội lễ" bắt nguồn từ cụm từ "Lễ - Tết - Hội" và là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng thiết yếu trong xã hội loài người Lễ hội diễn ra vào những thời điểm đặc biệt, được tổ chức theo lịch, gọi là "lễ hội truyền thống" Khái niệm "lễ hội cổ truyền" chỉ những lễ hội có từ thời xa xưa, trước khi có nhà nước Bản chất của lễ hội là hoạt động xã hội đặc biệt, liên kết con người về ý thức và khẳng định thế giới quan, lý tưởng thẩm mỹ, đạo đức và chính trị của xã hội.
Về cấu trúc, lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, quy định và chi phối lẫn nhau
Lễ hội mục đồng làng Phong Lệ đã được đề cập trong nhiều bài viết trên các ấn phẩm như Tạp chí Non Nước, Báo Đà Nẵng, và Tạp chí Đất Quảng Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả và phân tích bề nổi của lễ hội mà chưa đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá toàn diện các khía cạnh khác nhau Một số tác giả địa phương đã thực hiện khảo sát về địa danh Phong Lệ, nhưng chủ yếu tập trung vào đình làng Thần Nông, nơi diễn ra lễ hội mục đồng.
Năm 2009, Đà Nẵng phát hành cuốn "Văn hóa dân gian thành phố Đà Nẵng", một nghiên cứu khoa học sâu sắc Tuy nhiên, tác phẩm chỉ đề cập sơ lược đến lễ hội mục đồng thôn Phong Lệ qua bài viết "Còn chăng Phong Lệ mục đồng" của Hồ Tấn Tuấn, thể hiện nỗi hoài cổ về lễ hội này.
Gần đây, tác giả Võ Văn Hoè, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng, đã xuất bản cuốn sách “Lễ hội mục đồng làng Phong Lệ”, đánh giá các giá trị văn hóa của lễ hội mục đồng Tuy nhiên, cuốn sách chưa đề cập đến sự biến đổi văn hóa trong lễ hội, hệ thống giá trị liên quan, mối quan hệ với các di tích, cũng như lý giải về sự biến đổi văn hóa và định hướng, giải pháp cho lễ hội trong bối cảnh hiện nay.
Việc sưu tầm, nghiên cứu và đánh giá lễ hội mục đồng làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng vẫn còn nhiều khoảng trống cho các nghiên cứu tiếp theo Cần thiết phải có những nghiên cứu khoa học và cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội trong bối cảnh xã hội hiện đại và năng động của Đà Nẵng, nơi đang không ngừng thay đổi.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, cùng với quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa văn nghệ trong thời kỳ đổi mới Luận văn áp dụng các phương pháp chủ đạo để phân tích và làm rõ nội dung nghiên cứu.
Lễ hội trong làng Phong Lệ được xem xét dưới góc độ hệ thống các giá trị văn hóa, trong đó lễ hội không chỉ là một thành phần mà còn là một chỉnh thể nguyên vẹn, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.
Phương pháp phân tích - tổng hợp là cách tiếp cận hiệu quả để xem xét các yếu tố liên quan đến lễ hội, từ đó tổng hợp và khái quát các giá trị văn hóa và tinh thần mà lễ hội mang lại.
- Phương pháp lịch sử - lôgíc: Nghiên cứu lễ hội trong quá trình hình thành và phát triển của làng Phong Lệ
- Phương pháp so sánh: So sánh với các yếu tố văn hóa ở các địa phương khác để tìm ra sự tương đồng và độc đáo của lễ hội
Phương pháp điền dã là việc tham gia vào lễ hội như một chủ thể văn hóa để quan sát chi tiết và tiến trình diễn ra lễ hội Trong quá trình này, người nghiên cứu thực hiện các đợt thu thập tư liệu, điều tra và quan sát các hiện tượng văn hóa xung quanh lễ hội Đồng thời, họ cũng thu thập ý kiến, nhận xét và đánh giá về lễ hội Để phục vụ cho công tác nghiên cứu và đánh giá, các thiết bị như máy chụp ảnh, camera và máy ghi âm được sử dụng một cách hiệu quả.
Đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa tư liệu về lễ hội mục đồng làng Phong Lệ là bước đầu quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Bài viết sẽ tổng hợp các tư liệu liên quan đến lễ hội này, không chỉ tại làng Phong Lệ mà còn ở những địa điểm khác trong thành phố Đà Nẵng, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa địa phương.
Lễ hội mục đồng làng Phong Lệ mang trong mình giá trị văn hóa sâu sắc, phản ánh nguồn gốc và sự phát triển của cộng đồng Bài viết sẽ khám phá chi tiết diễn trình lễ hội, từ những nghi thức truyền thống đến các hoạt động đặc sắc, nhằm đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa văn hóa của lễ hội này trong đời sống người dân địa phương.
Lễ hội mục đồng làng Phong Lệ có những đặc điểm riêng biệt so với các lễ hội mục đồng ở các địa phương khác, tạo nên sự đa dạng văn hóa trong truyền thống dân gian Qua việc so sánh, ta nhận thấy những nét tương đồng trong phong tục tập quán, nhưng cũng có những khác biệt rõ rệt về cách tổ chức và ý nghĩa của từng lễ hội Điều này giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và đánh giá đúng giá trị của lễ hội mục đồng, từ đó bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc.
- Đánh giá khách quan về những biến đổi và lý giải nguyên nhân của sự biến đổi của lễ hội mục đồng làng Phong Lệ
Để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội, cần đưa ra những luận điểm khách quan về thực trạng hiện nay, đồng thời xác định các vấn đề đang đặt ra Việc tìm kiếm giải pháp phù hợp sẽ giúp nâng cao ý nghĩa văn hóa và cộng đồng của lễ hội, đảm bảo chúng không chỉ tồn tại mà còn phát triển bền vững trong tương lai.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về làng Phong Lệ
Chương 2 Di tích và lễ hội mục đồng làng Phong Lệ
Chương 3 Bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội mục đồng làng Phong Lệ trong đời sống xã hội hiện đại
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG PHONG LỆ
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Làng Phong Lệ, nằm ở phía bắc giáp phường Hòa Thọ Tây (quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng), phía nam giáp xã Hòa Phước, phía đông giáp thôn Quan Châu xã Hòa Châu, và phía tây giáp thôn Yến Nê của xã Hòa Tiến (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng), có tổng diện tích thổ cư trên 100 mẫu ruộng cùng 12 ha đất trồng hoa màu phụ.
Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, đi 13 km, dọc theo tỉnh lộ 8 về phía tây, rẽ trái 2 km là đến làng Phong Lệ
Làng Phong Lệ xưa kia là một vùng đất đa dạng với địa hình núi, đồi, trung du, đồng bằng và cồn, trải dài từ chân núi Phước Tường đến Ngũ Hành Sơn Đất đai nơi đây màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp Sau khi thành lập, trung tâm làng nằm trên vùng đồng bằng rộng lớn, hiện nay là thôn Phong Nam, với con sông Yên chảy qua, kết nối với sông Hàn Cư dân đầu tiên sinh sống bên bãi bồi hoang sơ, nơi ruộng đất được bồi đắp phù sa, giúp cho cây trồng và chăn nuôi phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với thiên tai như lũ lụt, hạn hán và mất mùa hàng năm.
Trong tài liệu Hòa Vang huyện chí, Tú tài Trần Nhật Tĩnh chép:
Núi Phước Tường, nằm cách huyện Hòa Vang khoảng năm dặm về phía Tây - Bắc, nổi lên một cách đột ngột với đất đai gắn kết chặt chẽ Phía Tây là núi Xuân Lộc và An Thành, trong khi phía Bắc gần núi Khánh Sơn và Đại La Các khe nước trong khu vực đều chảy về sông Cẩm Lệ Phía Tây Nam có núi Thạch Nham, Phú Hòa, Yến Nê và Phong Lệ, tất cả đều thuộc hệ thống núi này Hiện trạng cho thấy núi nằm ở phía tây xã Phước Tường, với các núi khác liên kết trong tổng Phước Tường, tạo thành một dãy núi có chu vi khoảng 20 dặm, xung quanh có dân cư sinh sống.
Làng Phong Lệ là một trong những ngôi làng ở vùng đất này, nơi vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa dân gian truyền thống độc đáo.
Làng Phong Lệ nằm trong vùng khí hậu miền Trung, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt Mùa nắng kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9, ít mưa và khô hanh, trong khi mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 mang đến lượng mưa dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển Nước sông Yên dâng cao nhờ mưa nhiều, bồi đắp phù sa cho ruộng nương, hỗ trợ sự phát triển của cây trồng và cỏ dại, từ đó tạo điều kiện cho chăn nuôi trâu, bò.
Từ cuối tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, gió phơn Tây Nam mang theo thời tiết oi bức, khô rát, với nhiệt độ có thể lên tới 40 độ C, làm cây cối khô héo tại các cánh đồng của làng Phong Lệ như Khương, Văn Thầy, và Vườn Lãng Ngoài ra, những năm có mưa lớn kéo dài kèm theo nước từ thượng nguồn đổ về gây lũ lụt, cuốn trôi nhà cửa, gia súc và hoa màu, khiến cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn.
Thôn Phong Nam, nằm ở trung tâm làng Phong Lệ xưa, tọa lạc bên dòng sông Yên đoạn giữa, kết nối với sông Cẩm Lệ dài 4 km Sự hiện diện của sông Yên mang lại lượng phù sa dồi dào cho cánh đồng Phong Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp Hàng năm, vào thời điểm nông nhàn, người dân nơi đây tổ chức lễ thượng điền và sau đó xuống sông cào hến.
TỔNG QUAN VỀ LÀNG PHONG LỆ
Lịch sử làng Phong Lệ
Phong Lệ, hay còn gọi là xứ Đà Ly, là vùng đất được nhiều tộc họ khai phá và sinh sống Làng Phong Lệ bao gồm khu vực rộng lớn ở hai bờ sông Yên, với cảnh quan hoang sơ gồm ao hồ, sông rạch, đồi núi và đồng ruộng Theo nghiên cứu địa phương và gia phả họ Phan, xứ Đà Ly có vị trí địa lý rõ ràng: phía nam giáp xứ Trà Kiệu, phía bắc giáp bán đảo Sơn Trà, phía tây giáp núi Chúa và phía đông giáp núi Ngũ Hành Sơn.
Những cư dân Việt đầu tiên từ Thanh - Nghệ - Tĩnh đã di cư theo quân lính để tìm nơi sinh sống và làm ăn, khai cơ lập nghiệp tại vùng đất mới Họ thiết lập xã hiệu, đặt chính quyền và cai quản nhân dân nhằm phát triển lâu dài Năm 1602, Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) thành lập dinh Quảng Nam, và ba năm sau, vào năm 1605, huyện Điện Bàn được thăng lên thành phủ, thuộc dinh Quảng Nam, bao gồm 5 huyện: Tân Phúc, Yên Nông, Hòa Vang, Diên Khánh, và Phú Chân.
Theo "Đại Nam nhất thống chí", Hòa Vang được ghi nhận trên bản đồ Đại Việt vào khoảng đầu thời kỳ các chúa Nguyễn, từ năm 1605 đến 1613.
Vào thế kỷ XVIII, xứ Quảng Nam được chia thành hai phủ là Điện Bàn và Thăng Hoa Phủ Điện Bàn bao gồm năm huyện, trong đó có huyện Hòa Vang, được tổ chức thành ba tổng: Lệ Sơn, Hà Khúc và Lỗ Giáng, với tổng cộng 51 xã thôn Tổng Lỗ Giáng là một phần quan trọng trong cấu trúc hành chính của huyện Hòa Vang thời kỳ này.
Vào thế kỷ XIX, phủ Điện Bàn có ba huyện, bao gồm Diên Khánh, Hòa Lạc và Duy Xuyên, theo ghi chép trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú Huyện Hòa Vang, vào năm 1821, được gọi là huyện Hòa Lạc và bao gồm năm tổng Sau đó, trong tác phẩm “Hoàng Việt dư địa chí”, Phan Huy Chú cũng đã ghi nhận huyện Hòa Vinh thuộc phủ Điện Bàn, trấn Quảng Nam.
Vào năm 1833, dưới triều Minh Mạng, Quảng Nam được nâng cấp thành tỉnh và các tổng Thanh Quýt, Bình Thái được thành lập Thời kỳ Thiệu Trị, Đà Ly xã đã được đổi tên thành làng Phong Lệ Theo truyền thuyết từ các bậc cao niên trong làng, tên gọi Phong Lệ ra đời sau thời Ông Ích Khiêm.
Chữ “Đà” và “Ly” trong tiếng Hán có bộ “Mã” (ngựa), được coi là không tốt và thiếu mỹ tự Ông Ích Khiêm, một quan lớn từ làng, đã xin triều đình Huế đổi tên thành Phong Lệ Kể từ đó, Đà Ly trở thành tên của một xóm, hiện thuộc làng Phong Bắc, phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ Tên Đà Ly vẫn tồn tại trong dân gian, được ghi nhớ qua địa bạ cũ và gia phả các tộc họ.
Dưới thời vua Thành Thái thứ VIII, do địa lý rộng lớn và khó khăn trong việc tổ chức sản xuất, làng Phong Lệ đã được chia thành hai phần: Phong Bắc và Phong Nam Phong Bắc, trước đây gọi là xóm Rừng, hiện là phường Hòa Thọ Tây và Hòa Thọ Đông thuộc quận Cẩm Lệ Phong Nam, còn được biết đến với tên gọi Nam Thạnh hay xóm Làng, nằm bên hữu ngạn sông Yên, thuộc tổng Thanh An, phủ Điện Bàn, nay là thôn Phong Nam thuộc xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang Ngoài ra, còn có vùng Phong Lệ Tây với các thôn như Cây Sung, Hội Vực, hiện thuộc xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Mặc dù trải qua nhiều lần chia tách, làng Phong Lệ vẫn giữ được sự phát triển lâu đời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sau này Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Phong Lệ được chia thành 4 thôn: Phong Nam, Đông Hòa, và Bàu.
Cầu, Tân An cho phù hợp với yêu cầu đánh giặc, sản xuất, bảo vệ xóm làng trong tình hình thực tế lúc bấy giờ
Phong Nam và Phong Bắc cùng thờ ba vị tiền hiền khai cơ là Nhâm Quý Công, Lào Quý Công và Mươi Quý Công, những người có công lập ấp và quy dân Nhâm Quý Công tên thật là Phan Công Nhâm, Lào Quý Công là Ung Văn Lào, và Mươi Quý Công là Phùng Văn Mươi Văn tế của tiền hiền ghi nhận sự đóng góp của nhiều tộc khác trong việc khai khẩn và xây dựng làng Hiện tại, có 17 tộc họ phụng sự các vị tiền hiền, tiếp tục phát triển làng Phong Lệ về kinh tế và xã hội Hơn 30 năm qua, từ khi làng Phong Lệ hồi sinh sau chiến tranh, nhân dân xã Hòa Châu đã nỗ lực xây dựng quê hương, vượt qua khó khăn do chiến tranh để phát triển bền vững.
Lệ đã kiên trì áp dụng chính sách sáng tạo của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn địa phương, vượt qua khó khăn do thiên tai và nghèo đói để làm mới diện mạo làng quê Hiện nay, hầu hết các ngôi nhà ở làng Phong Lệ đã được kiên cố hóa, chương trình nước sạch nông thôn phát triển mạnh mẽ, với người dân sử dụng nước từ nhà máy Cầu Đỏ Các công trình phúc lợi xã hội như trường học và trạm y tế đã được nâng cấp, góp phần chấm dứt tình trạng học sinh bỏ học Số người có trình độ đại học tại Phong Lệ ngày càng tăng, và chính quyền địa phương đã quyết tâm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển tiểu thủ công nghiệp để nâng cao đời sống nhân dân Người dân tích cực xây dựng khu dân cư xanh - sạch - đẹp, gia đình văn hóa gương mẫu, và tham gia các hoạt động xóa đói giảm nghèo Các tộc họ giáo dục con cháu giữ gìn nề nếp gia phong, sống có nhân nghĩa và chăm chỉ học hành Các lễ hội truyền thống như Kỳ phước, Kỳ an đã được khôi phục, và Phong Lệ ngày càng chú trọng đến nếp sống văn minh trong các lễ cưới, tang, và hội hè.
Làng Phong Lệ, thuộc huyện Hòa Vang, nổi tiếng với vẻ đẹp hiền hòa và truyền thống anh hùng Trong thời kỳ chống Mỹ, nơi đây đã trở thành vành đai diệt Mỹ, với hàng nghìn thanh niên lên đường tham gia kháng chiến Nhiều người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước Sau ngày miền Nam được giải phóng, làng Phong Lệ vinh dự nhận danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng từ Đảng và Nhà nước cho hàng chục gia đình có công.
Trong thời bình, người dân Phong Lệ kiên trì thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng quê hương phát triển Họ luôn nỗ lực, sáng tạo trong lao động và học tập, tiếp thu cái mới để nâng cao dân trí và chất lượng cuộc sống, hướng tới một cuộc sống ấm no và hạnh phúc.
Văn hóa xã hội
Thôn Phong Nam, trung tâm văn hóa truyền thống của làng Phong Lệ, được hình thành từ sự chia tách của làng Phong Lệ Nằm ở vị trí chiến lược, phía bắc giáp thôn Đông Bà, phía nam giáp xã Hòa Phước, phía đông giáp thôn Quan Châu, và phía tây giáp thôn Yến Nê, thôn Phong Nam hiện có diện tích khoảng 1 km² Tổng số nhân khẩu của làng Phong Lệ vào khoảng 3200 người, trong đó thôn Phong Nam có 1983 người với 483 hộ.
Ngoài 3 vị tiền hiền là Nhâm Quý Công, Mươi quý công, Lào quý công như thời kỳ đầu, sau có thêm đại diện các họ tộc tham gia vào việc hành chính làng nhằm ổn định mọi mặt dân sinh của làng như đội trưởng Ngô quý công văn nhuận; Cai trị Lê quý công đức tốn; Cai trại Phùng quý công văn vân; Cai đội Nguyễn quý công văn cẩm; Huyện thư ký Ngô quý công văn toả; Huấn đạo Phùng quý công Những tộc họ đến sau tuy chưa có bài vị trong nhờ thờ nhưng đếu có nêu tên trong các bài văn tế cúng xuân thu nhị kỳ và chạp mã thường niên Qua nghiên cứu, khảo sát tất cả các tộc họ đều có mối quan hệ đoàn kết, mật thiết với nhau như trong một gia đình Hiện tại, 17 tộc họ cùng nhau cư trú, đều có công và được tôn xưng là tiên hiền của làng Họ đoàn kết một lòng, chung tay xây dựng làng xóm, tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hóa của vùng, địa phương, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc
Phong Lệ xưa là một làng quê nổi tiếng với truyền thống hiếu học và lòng yêu nước, nằm trong vùng đất Quảng Nơi đây đã sản sinh ra nhiều hiền tài, sỹ phu, nho sỹ qua các kỳ thi cử dưới triều đại nhà Nguyễn Dòng họ Ông, một trong những tộc lớn nhất của người Chăm, có nguồn gốc từ vùng đất này, với những nhân vật tiêu biểu như Ông Ích Khiêm, người xuất thân từ giới mục đồng nhưng đã nỗ lực học tập và thi cử thành công, được ghi nhận trong sử sách và được nhân dân ca ngợi với chức Tiểu phủ sứ.
"Kiên dũng nam", hay còn gọi là "Ông tiểu Phong Lệ", là một nhân vật lịch sử nổi bật đã hy sinh vì độc lập dân tộc Ông Ích Đường, trước khi bị giặc xử án, đã mạnh mẽ tuyên bố rằng “Dân nước Nam như cỏ cú, giết Đường này còn đường khác”, thể hiện tinh thần kiên cường Cùng với đó, chiến sĩ cách mạng Lê Kim Lăng vào năm 1962 đã chịu đựng tra tấn mà không khai báo, thậm chí tự mổ bụng để giữ vững ý chí, khiến kẻ thù phải kinh sợ Những tấm gương anh hùng này cùng với lịch sử hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã khắc sâu hình ảnh của những liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập và tự do.
Hằng năm, vào dịp lễ kỳ an và ngày kỵ giỗ tiền hiền làng, các chư phái tộc của Phong Lệ Bắc và Phong Lệ Tây mang lễ vật về thôn Phong Nam để cúng bái thành hoàng bổn xứ và những người có công khai phá làng Phong Lệ, thể hiện lòng trân trọng và thành kính Phong Nam, với vai trò trung tâm của làng Phong Lệ cũ, còn được gọi là Nam Thạnh thôn Ngày nay, 17 chư phái tộc của làng Phong Lệ vẫn hội tụ tại nhà thờ làng vào hai kỳ xuân thu để tưởng nhớ công lao của ba vị tiền bối đã lập làng từ năm 1404, qua 603 năm vẫn giữ tinh thần ngưỡng vọng và thành tâm.
Vùng đất Phong Lệ, thuộc "Xứ Quảng", đã hình thành hơn 600 năm, với cư dân chủ yếu là người Thanh - Nghệ - Tĩnh Họ đến đây, bắt đầu cuộc sống mới bằng việc khai khẩn đất đai, chủ yếu là nông nghiệp, nhờ vào kinh nghiệm làm ruộng từ quê hương Sản xuất nông nghiệp trở thành nghề chính, với việc cải tạo đất đai, xây dựng hệ thống thủy lợi, và chăm sóc cây trồng, vật nuôi Nông nghiệp không chỉ là nguồn sống mà còn quyết định sự phát triển của cộng đồng Phong Lệ, tạo nên một làng nông nghiệp thuần túy, bên cạnh một số nghề phụ như cào hến và buôn bán nhỏ.
Để sản xuất lúa nước, người dân Phong Lệ lấy nước từ sông Yên và sông Cầu Đỏ, khai phá ruộng từ các vùng đầm, bàu như Bàu Sen, Bàu Da và Cửa Thuỷ Trong mùa hè khô hạn, việc dẫn nước từ sông Yên gặp khó khăn, buộc họ phải dùng gàu giai, gàu sóng để tưới tiêu, dẫn đến năng suất lúa thấp Nhờ Phạm Phú Thứ, các loại xe kéo nước đã được đưa vào sử dụng, cải thiện tình hình dẫn thuỷ Tuy nhiên, cuộc sống của dân làng vẫn bấp bênh, họ phải tận dụng đất vườn để trồng thêm khoai, sắn, củ môn và rau cải thiện bữa ăn.
+ Chăn nuôi: Trên đất cồn, người làng còn dùng vào việc chăn nuôi trâu bò
Hầu hết các hộ dân đều nuôi từ 1 đến 2 con trâu, bò, thường thả theo bầy trên các đầm, bãi, cồn Trong những ngày nông nhàn, người dân thường ra sông để đánh bắt tôm, cá bằng lưới và đăng Ngoài ra, một số hộ còn tận dụng thời gian này để thu gom phân trâu, bò từ các khu vực đồi, gò, cồn, để dự trữ làm phân bón Khi đến Phong Lệ, du khách thường nghe những câu chuyện thú vị về đời sống của người dân nơi đây.
“Ai về Phong Lệ thì về Phong Lệ có nghề bán hến, nuôi trâu”
Người dân làng Phong Lệ nuôi thả trâu thành từng đàn dọc triền sông La Hường và La Hong, tạo nên khung cảnh sinh động với trẻ em chăn trâu vui đùa Mỗi chiều, trẻ em tập trung lùa trâu về nhà, với số lượng có thể lên tới 70 - 80 con, di chuyển thành đàn dài hàng trăm mét Mỗi hộ gia đình thường nuôi 1 - 2 con và gửi cho thanh, thiếu niên trong làng chăn giúp Trâu bò theo bầy đi ăn vào buổi sáng và trở về vào chiều tối, tạo nên âm thanh quen thuộc của tiếng gọi trâu bò vang vọng trên triền núi Phong Lệ.
Trên triền núi Phong Lệ, không chỉ có trâu bò của làng mà còn của các làng khác như Đà Ly, Xóm Mít, Cẩm Hòa, tạo nên khung cảnh thanh bình với đàn trẻ vui đùa bên những đàn trâu bò Làng Phong Lệ nằm tựa lưng vào núi Phong Lệ, giáp với núi Phước Tường ở phía Tây Bắc Người dân nơi đây đã khai thác củi than, cải tạo đất đai ven sông Yên, Cẩm Lệ thành ruộng Ngoài việc chăn nuôi gia súc như lợn, gà, vịt, Phong Lệ còn phát triển các ngành nghề như làm bánh khô mè và đan tre.
Với người Phong Lệ lúc đó, biển chưa đem lại nguồn lợi, con người chưa mạnh dạn khai thác Vì vậy, trong ca dao có câu:
“Cha mẹ muốn ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm”
“Lấy chồng nghề ruộng em theo Lấy chồng nghề biển hồn treo cột buồm”
Người dân xóm Hến (Đông Bàu) sống chủ yếu bằng nghề cào hến và cào ngao, với nửa năm đầu dành cho việc cào hến và nửa năm sau cho nông nghiệp Nghề cào hến khá vất vả, đòi hỏi người lao động phải thường xuyên ngụp lặn trong nước Sản phẩm hến được mang ra chợ Phong Lệ, nơi họ bán đổi lấy gạo và các nhu yếu phẩm khác Một bài vè dân gian vẫn còn được lưu truyền trong cộng đồng về nghề này.
“Sinh ra nghề hến thậm hay Cái ruột cũng bán
Cái vỏ cũng bán Đến tro cũng có tiền
Vợ ở nhà đi bổi cho siêng
Chàng chẻ tre bện nạo liên miên cả ngày Cào sưa chí những cào dày
Lấy mây bện lại, công rày trường công Ăn nhờ một chút dưới sông Đàn bà đi bán, đàn ông đi cào ” 1
Nghề hến ở xóm Hến thường diễn ra từ mùng Mười tháng Giêng đến mùng Mười tháng Bảy, với cao điểm từ tháng Ba đến tháng Sáu Trong sáu tháng này, người dân tạm gác công việc nông nghiệp để tập trung vào nghề cào hến Đến đầu tháng Bảy, họ chuẩn bị chuyển mùa sang ruộng, rẫy và thực hiện lễ tạ sông vào ngày mùng Mười tháng Bảy hằng năm Vào thế kỷ XIX, khi thành phố Đà Nẵng phát triển, nghề xúc cát phục vụ xây dựng cũng ra đời, dẫn đến việc hình thành một phường, hội duy trì nghề nghiệp, khiến một số nông dân vừa làm ruộng, vừa đánh bắt cá và khai thác cát theo nhu cầu thời vụ.
Ngày nay, người dân làng Phong Lệ kiếm sống bằng nhiều nghề hợp pháp, chủ yếu là nông nghiệp và nghề thợ hồ Họ thường làm việc tại các khu đô thị ở Đà Nẵng trong thời gian nông nhàn Một số ít người còn vào miền Nam để làm ăn, chỉ trở về quê vào dịp Tết cổ truyền hoặc sau khi hoàn thành các công trình dài ngày, sau đó lại trở về sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ.
Khi tình hình kinh tế được cải thiện, người nông dân làng Phong Lệ, xã Hòa
Châu không còn cảnh một nắng hai sương, dãi nắng dầm mưa, thắc thỏm lo âu đợi
Tài liệu từ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hòa Vang cho thấy sự thay đổi trong nhu cầu văn hóa và sự phát triển du lịch tại làng Phong Lệ Khu vực này đang từng bước hình thành khu du lịch môi trường, sinh thái, thu hút nhiều tour du lịch lữ hành đến tham quan các thiết chế văn hóa truyền thống.
Phong Lệ, một làng cổ ở xứ Quảng, nổi bật với bề dày lịch sử và là nơi định cư của các lưu dân từ Thanh - Nghệ - Tĩnh Trong quá trình khai thác và lập ấp, người dân nơi đây đã giao lưu văn hóa với người Chăm, đồng thời chịu ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, địa lý và môi trường tự nhiên Điều này đã tạo ra nhiều phong tục tập quán đặc thù, bên cạnh những nét văn hóa chung của người dân Việt Nam.