Trong nhiệm vụ chung của ngành, hoạt động thư viện cũng cần có những đóng góp nhất định trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, nâ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THẾ ĐỨC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 10
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 10
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Hà Nội 10
1.1.2 Đặc điểm Thư viện thành phố Hà Nội 18
1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 21
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và quản lý thư viện công cộng trong giai đoạn hiện nay 24
1.2.1 Khái niệm tổ chức và quản lý thư viện 24
1.2.2 Vận dụng những nguyên tắc tổ chức và quản lý trong thư viện công cộng 25
1.2.3 Vận dụng những phương pháp tổ chức và quản lý trong thư viện công cộng 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 32
2.1 Tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, vật lực 32
2.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý 32
2.1.2 Tổ chức và quản lý nguồn nhân lực: 38
2.1.3 Tổ chức và quản lý cơ sở vật chất 43
2.2 Tổ chức và quản lý hoạt động chuyên môn 46
2.2.1 Xây dựng vốn tài liệu cho thư viện 46
2.2.2 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ bạn đọc 54
2.2.3 Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin 68
2.2.4 Hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của thư viện thành phố Hà Nội 71
2.3 Đánh giá thực trạng tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 75
2.3.1 Điểm mạnh: 75
2.3.2 Điểm yếu: 78
Trang 3CHƯƠNG 3 83
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ 83
THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 83
3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức 83
3.2 Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực và cơ sở vật chất 83
3.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý vốn tài liệu 84
3.4 Nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 86
3.5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện 88
3.6 Nâng cao trình độ cán bộ thông tin - thư viện 88
3.7 Tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ cho mạng lưới thư viện cấp cơ sở 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và kinh tế của cả nước Hiện nay, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội thành một thủ đô văn minh hiện đại, phát triển một cách toàn diện với quy
mô lớn nhất cả nước đã trở thành một yêu cầu cấp thiết Để đáp ứng được yêu cầu
đó, ngày 29/5/2008 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan Đây là chủ trương lớn, đúng đắn, có ý nghĩa lịch sử nhằm xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế với tầm nhìn đến năm 2030 - 2050 và trong tương lai xa hơn
Mở rộng địa giới hành chính của Thành phố Hà Nội, đòi hỏi Thủ đô Hà Nội cần được xây dựng và phát triển một cách toàn diện xứng tầm là thủ đô của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân và cũng phù hợp với mô hình thủ đô của nhiều nước trên thế giới Việc hợp nhất và mở rộng Hà Nội để tạo ra sự phát triển nhanh hơn, tốt hơn, mạnh hơn trong mọi lĩnh vực đòi hỏi các cấp, các ngành cần nhanh chóng ổn định về cơ cấu tổ chức, về nguồn nhân lực, về định hướng và kế hoạch hoạt động
Cũng như các ngành khác, với chức năng của mình, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội có nhiệm vụ giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa, các nét văn hóa riêng tốt đẹp của từng địa phương, xây dựng Thủ đô luôn xứng đáng là Thủ đô ngàn năm văn hiến, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người thủ
đô văn minh, thanh lịch, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân
Trang 5tộc Việt Nam Trong nhiệm vụ chung của ngành, hoạt động thư viện cũng cần
có những đóng góp nhất định trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, nâng cao dân trí cho người dân thủ đô, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, từng bước xóa dần khoảng cách về mức hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền trong địa bàn thành phố…
Thực hiện yêu cầu của việc sáp nhập địa giới hành chính, mở rộng thủ
đô Hà Nội và để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của hoạt động thư viện, ngày 04 tháng 2 năm 2009, UBND thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số
593/QĐ-UBND “Về việc thành lập Thư viện Hà Nội thuộc Sở Văn hóa, Thể Thao
và Du lịch thành phố Hà Nội” Theo Quyết định này Thư viện Thành phố Hà Nội
được thành lập trên cơ sở hợp nhất Thư viện Hà Nội (cũ) và Thư viện Hà Tây Thực hiện Quyết định này, hoạt động thư viện trên địa bàn thành phố Hà Nội cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới, trong đó những vấn đề như xác định cơ cấu tổ chức, sắp xếp nguồn nhân lực, tổ chức khai thác nguồn lực thông tin, phục vụ người sử dụng thư viện, tổ chức mạng lưới thư viện công cộng…trên toàn địa bàn thành phố Những vấn đề trên cần được giải quyết trên cơ sở khoa học quản lý phù hợp với điều kiện mới
Tuy nhiên, hiện nay việc giải quyết những vấn đề trên đang gặp không
ít khó khăn cần có những giải pháp thích hợp để hoạt động thư viện có thể đáp ứng được những nhiệm vụ và chức năng xã hội của mình trên địa bàn thành phố
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tổ chức và quản ýlý Thư viện Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận
văn thạc sĩ khoa học Thư viện Với đề tài này, tôi hy vọng được góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu những vấn đề thực tiễn và đề xuất những giải
Trang 6pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đã có một số công trình nghiên cứu nhưng ở mức độ, phạm vi khác nhau Những đề tài nghiên cứu ở phạm vi rộng:
Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ do tác giả Lê Văn Viết làm chủ nhiệm đề tài
(năm 2007): “Mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, huyện và cơ sở ở
Việt Nam” Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ do tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thuần
làm chủ nhiệm đề tài (năm 2008): “Hoàn thiện thể chế thư viện nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước đối với sự nghiệp thư viện ở nước ta”
Những đề tài nghiên cứu về tổ chức, quản lý thư viện nhưng ở phạm vi hẹp hơn ở trường đại học, trường phổ thông, đó là luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị
Hạnh (năm 2005): “Hoạt động tổ chức, quản lý thư viện trường Đại học luật Hà
Nội trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin”, luận văn thạc sĩ của tác giả
Trương Thị Hiền (năm 2006): “Tổ chức, quản lý hoạt động của hệ thống thư viện
trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”
Một số đề tài thạc sĩ khoa học thư viện cũng đề cập về hoạt động của Thư viện tỉnh Hà Tây, Thư viện Hà Nội: Đề tài của tác giả Khuất Thị Bích Thủy (năm
2004): “Hoạt động thư viện - thông tin phục vụ nông nghiệp và phát triển nông
thôn của thư viện tỉnh Hà Tây”, của tác giả Nguyễn Ngọc Nguyên (năm 2004):
“Tăng cường nguồn lực thông tin địa chí ở thư viện Hà Nội phục vụ sự nghiệp phát
triển thủ đô ”, của tác giả Nguyễn Quế Anh (năm 2008) “Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện thiếu nhi Hà Nội” Các đề tài dừng lại
ở một số nội dung cụ thể về nguồn lực thông tin địa chí, về tổ chức và hoạt động của thư viện
Trang 7thiếu nhi tại Thư viện Hà Nội Nhưng cho đến nay hoàn toàn chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức và quản lý của Thư viện thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Vấn đề tổ chức và quản lý của Thư viện thành phố Hà Nội
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
- Khảo sát đánh giá hiện trạng các vấn đề tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội sau khi sáp nhập
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 8Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, các quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa thông tin
Quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp phân tích thống kê số liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Trang 9Chương 1: Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Chương 2: Thực trạng tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện tổ chức và quản lý của Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 10Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội có hiệu lực
từ ngày 1/8/2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, thành phố Hà Nội mới với sự hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số hiện tại của tỉnh Hà Tây, toàn bộ huyện Mê Linh, 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung của huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình Hà Nội được mở rộng hơn 3 lần và là thành phố lớn thứ 17 trên thế giới, với diện tích trên 3.300km2, dân số gần 6,5 triệu người, có 29 đơn vị hành chính quận, huyện, thị xã và 575 đơn vị xã, phường, thị trấn
Thành phố Hà Nội ngày nay nằm ở trung tâm Bắc bộ, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Hòa Bình; phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ
Điểm cực Bắc của thành phố thuộc xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, ở tọa
độ 21023’ vĩ độ Bắc và 105050’ kinh độ Đông, giáp tỉnh Thái Nguyên Điểm cực Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, ở tọa độ 20033’ vĩ độ Bắc và
Trang 11105047; kinh đô Đông, giáp tỉnh Hà Nam Điểm cực Tây thuộc xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì, ở tọa độ 21010’ vĩ độ Bắc và 105017’ kinh độ Đông, giáp bờ phải sông Đà là tỉnh Phú Thọ Điểm cực Đông thuộc xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, ở tọa độ 21010’ vĩ độ Bắc và 106010’ kinh đô Đông, giáp tỉnh Bắc Ninh Chạy dọc ranh giới phía Tây của thành phố hiện nay là các dãy núi Ba
Vì (1281m), Viên Nam, Nương Ngái, Hương Sơn chở che cho cả đồng bằng Bắc bộ Đồng bằng này thời cổ đại từng là một vịnh biển Đó là một vùng đồi núi đã bị sụt võng xuống biển, vì vậy mà trong lòng đồng bằng vẫn tồn tại những đồi núi sót xưa vốn là những đỉnh cao của hệ thống núi bị sụt võng, như dãy Câu Lậu ở Thạch Thất, cụm núi đá vôi ở Quốc Oai, Chương Mỹ Ngoài ra, bờ vịnh cổ còn để lại bậc thềm phú sa cổ ở Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai cao độ 30 đến 35 m trên mặt đồng bằng phù sa mới hiện tại [ 26, tr 9]
Về điều kiện khí hậu - thủy văn, khí hậu Hà Nội mang đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Mùa nóng từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,20C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,20C Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn Hà Nội khá dày, thuộc hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống sông Hồng ở địa phận Hà Nội dài khoảng 54km, bao gồm một số sông nhánh như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tích, sông Đuống
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
Hà Nội có vị trí địa lýí - chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so với
các địa phương khác, “là trái tim của cả nước, đầu não chính trị – hành chính
quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục kinh tế và giao dịch quốc tế”, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với lịch sử ngàn năm văn hiến, nơi
Trang 12hội tụ, kết tinh, lan tỏa và phát sáng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Hà Nội được Đảng và Nhà nước chỉ đạo tập trung đầu tư về mọi mặt trong quá trình xây dựng và phát triển thủ đô; có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ và tinh hoa văn hóa thế giới, giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề kinh tế- xã hội phát sinh có liên quan trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc tế
* Kinh tế
Hà Nội với vị thế là thủ đô, lợi thế thuận tiện nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đầu mối giao thông của các tuyến đường sắt, đường bộ và hàng không, nằm trong trục kinh tế Hà Nội – Hải Phòng- Quảng Ninh tạo cho Hà Nội những cơ hội to lớn Thủ đô Hà Nội là địa bàn có bước phát triển tương đối toàn diện, hiện đại và vững chắc, đứng thứ hai trong cả nước về tốc độ phát triển kinh tế, về đóng góp ngân sách Nhà nước cũng như tiềm năng và lợi thế huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển Kinh tế thủ đô phát triển với cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Các ngành dịch vụ,
du lịch bảo hiểm giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố
Mục tiêu “Phát triển kinh tế thủ đô với tốc độ tăng trưởng cao, bền
vững, cơ cấu hợp lý; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ” [40, tr.9] được thành phố hết sức coi trọng
Trong những năm qua kinh tế thủ đô đã tăng trưởng liên tục đạt mức cao hơn
so với bình quân chung của cả nước GDP trong 5 năm gần đây đều đạt mức tăng trưởng khá: Năm 2005: 10,8%; Năm 2006: 11,2%, Năm 2007: 11,2%; Năm 2008: 10,58% [5, tr.57-59]; Năm 2009: 6,9% [30, tr.2]
Năm 2008, 2009 là năm nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế Hà Nội nói riêng gặp rất nhiều khó khăn Đó là lạm phát, khủng khoảng tài chính, suy thoái kinh tế ở mức độ toàn cầu; Đó là thiên tai với quy mô, mức độ lớn
Trang 13chưa từng có; Đó là vấn đề mở rộng địa giới hành chính với nhiều công việc”
ổn định và tổ chức lại bộ máy hành chính Đảng, chính quyền, đoàn thể, vấn
đề chỉ đạo, điều hành công việc Tuy nhiên, Thủ đô Hà Nội đã khắc phục mọi khó khăn để vượt qua mọi thử thách
Với tốc độ tăng trưởng 10,5% và 6,9% thu nhập bình quân đầu người tăng từ 28,6 triệu đồng năm 2008 lên 32 triệu đồng năm 2009 Cơ cấu kinh tế cũng tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tập trung đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng trong nông nghiệp Các ngành xây dựng, tài chính, bưu chính viễn thông cũng tăng lên đáng kể Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ và giảm ngành trồng trọt Hiệu quả sản xuất nông nghiệp tăng lên, giá trị sản xuất đất nông nghiệp đạt 131triệu đồng (năm 2008 là 122 triệu đồng)
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 73.520 tỷ đồng, tăng 4,7% so với dự toán Năm 2009, tổng sản phẩm nội địa tăng 6,67%, trong đó ngành công nghiệp tăng 6,85%, các ngành dịch vụ̣ tăng 7,43%, ngành nông, lâm, thủy sản tăng 0,08% Khách quốc tế đến Hà Nội cả năm là 1029 ngàn lượt khách, khách nội địa là 6718 ngàn lượt khách, tăng 1,8% Doanh thu vận chuyển hàng hóa tăng 12%; doanh thu vận chuyển hành khách tăng 20,6% Năm 2009, doanh thu bưu chính viễn thông tăng 13,9% so năm trước, vốn đầu tư phát triển đạt 23.635,7 tỷ đồng, tăng 7,2% [48]
Hà Nội còn có ưu thế trong công tác tuyên truyền quảng bá và thu hút đầu tư, sản xuất tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa, mở rộng các dịch vụ công nghệ cao, dịch vụ tài chính – ngân hàng, dịch vụ đối ngoại du lịch
* Văn hóa:
Trong xu thế phát triển hiện đại, nối tiếp truyền thống văn hóa Thăng Long, vị thế văn hóa của thủ đô Hà Nội ngày càng được khẳng định, thể hiện
Trang 14sự tỏa sáng và dẫn dắt các vùng văn hóa trong cả nước Vị thế đó đã được khẳng định trong Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Xây dựng văn hóa thủ đô giàu bản sắc dân tộc và truyền thống Thăng Long – Hà Nội” Pháp lệnh thủ đô cũng nêu: “Phát triển văn hóa – xã hội của thủ đô nhằm tạo lập môi trường văn hóa – xã hội văn minh lành mạnh”
Cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, nền văn hóa các nước nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng đã có những chuyển biến mới, đa dạng hơn
Sự gia nhập của các thành tố văn hóa hội tụ về đây càng trở nên đa dạng, từ nhiều kênh, nhiều chiều khác nhau, hoặc từ dân cư ở mọi miền đất nước đổ
về, sự sáp nhập địa giới hành chính, từ đội ngũ trí thức được đào tạo từ nước ngoài về hoặc từ sự hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng Những yếu tố đó góp phần tạo được diện mạo văn hóa thủ đô ngày càng phong phú, đa dạng hơn
Hà Nội là một trong hai trung tâm văn hóa lớn nhất của Việt Nam Trên địa bàn tập trung nhiều thư viện, bảo tàng, nhà hát cũng như các di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh Các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản cấp quốc gia đều đóng tại Hà Nội Tin tức của mọi vùng lãnh thổ trên đất nước cũng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và truyền hình Hàng trăm tờ báo và tạp chí, hàng nghìn đầu sách mới của gần 40 nhà xuất bản trung ương phát hành khắp nơi, ra cả nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa của nhân dân và giới thiệu hình ảnh Việt Nam và bạn bè thế giới Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở Hà Nội cũng diễn ra rất sôi nổi và đa dạng
Hà Nội là nơi tập trung 49 trường đại học và cao đẳng, 38 trường trung học chuyên nghiệp, 21 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu (chiếm 86% tổng số các viện nghiên cứu trong cả nước), phần lớn các chuyên gia đầu ngành đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở thủ đô Ngoài ra còn
Trang 15nhiều tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghệ hiện đại, tiên tiến Thủ đô Hà Nội thu hút nguồn lực chất xám của các nhà khoa học, các bộ, các ngành Trung ương, các viện nghiên cứu, các trường đại học trên địa bàn, đây được coi là lợi thế to lớn so với các tỉnh, thành phố trong cả nước
Tính đến thời điểm 30/9/2009, toàn Thành phố có: 677 trường tiểu học,
588 trường THCS, 186 trường THPT, tổng số học sinh toàn Thành phố là 994.350 em Về giáo dục mầm non có 804 trường, trong đó: 782 trường mầm non và 22 trường mẫu giáo với tổng số 309.487 cháu Năm 2009, thể thao Hà Nội đạt được tổng cộng 1755 bộ huy chương các loại tại các giải thể thao thành tích cao trong nước và quốc tế, trong đó Huy chương vàng 784; Huy chương bạc 499; Huy chương đồng 472 [48]
Trong quá trình phát triển, Hà Nội luôn là trung tâm văn hóa của cả nước Hệ thống di sản văn hóa tập trung với mật độ cao, trên địa bàn Hà Nội
cũ đã có gần 2000 di tích, với hơn 500 di tích xếp hạng trải đều trên khu vực Thăng Long – Hà Nội và có khu phố cổ (dấu ấn đô thị thời phong kiến) với quy mô 100 ha; có khu phố Pháp với quy mô khoảng 800 ha (trong nội đô hiện nay) với quy hoạch và thiết kế đô thị có nét đặc trưng với nhiều công trình kiến trúc từ công cộng đến nhà ở có bản sắc, gắn kết hài hào tạo nên những không gian đô thị có nét đặc trưng với nhiều công trình kiến trúc từ công cộng đến nhà ở có bản sắc, gắn kết hài hòa tạo nên những không gian đô thị riêng phù hợp với điều kiện khí hậu, với lối sống truyền thống
Ngày nay với sự hợp nhất tỉnh Hà Tây, số di tích lịch sử văn hóa của thành phố Hà Nội mới được tăng lên gấp đôi, có tổng số gần 5200 di tích, trong đó hơn 1000 di tích xếp hạng quốc gia Có gần 1270 làng nghề truyền thống, có văn hóa “xứ Đoài”, có Đường Lâm, có những di tích thắng cảnh như chùa Hương, Quan Sơn Bảo tồn để giữ được truyền thống, bản sắc để
Trang 16có sức hút không chỉ với khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương mà còn cả với thế giới Giữ gìn bản sắc để hội nhập, không “hòa tan” là xu thế cần xác định Đường Lâm được xem như là bảo tàng lối sống nông thôn cổ xưa nơi có tới gần 20 di tích với 7 di tích xếp hạng quốc gia, có hơn 900 ngôi nhà cổ truyền thống, có hơn 900 ngôi nhà cổ truyền thống (trong đó 57 ngôi nhà đã được xếp hạng với lịch sử tồn tại hơn 200 năm) Đó là chưa kể đến những di sản phi vật thể phong phú: sinh hoạt dòng họ, lễ hội dân gian Đây là một đặc trưng văn hóa sẽ tạo nên động lực để phát triển du lịch [47].
Hà Nội nổi tiếng từ xưa là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công tinh xảo với những nghệ nhân và thợ tài hoa Ngày nay đến Hà Nội du khách có thể tham quan các nghề đặc sắc như: làm tranh dân gian (tranh Hàng trống, tranh Đông Hồ); gốm sứ bát Tràng, nghề làm giấy dó lụa, dệt tơ lụa ở Bưởi, ở Vạn Phúc (Hà Đông), nghề thêu ở Yên Thái; nghề đúc đồng Ngũ Xá, nghề khảm trai Chuôn Ngọ (Thường Tín) Các khu đô thị mới, các làng nghề, làng sinh thái ven đô được triển khai xây dựng tạo cho Hà Nội những sắc diện mới của đô thị hiện đại những vẫn giàu tính văn hóa dân tộc Hàng loạt các di tích lịch sử, văn hóa cách mạng đang tiếp tục được phục hồi, trùng tu, tôn tạo góp phần tôn vinh thêm vẻ đẹp của một thành phố cổ kính đang từng bước hiện đại hóa
* Xã hội:
Lịch sử Hà Nội đã ghi nhận dân cư thành phố có những thay đổi liên tục qua thời gian Hiện tại phần lớn nhưng cư dân sống ở Hà Nội không sinh ra tại đây Dân số Hà Nội tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây Năm 1978, khi mở rộng Hà Nội lần thứ hai, với diện tích 2.136km2, dân số Hà Nội mới chỉ có 2,5 triệu người Gần đây nhất là trong kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII
đã thông qua Nghị quyết Mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008, thì Hà Nội bao gồm Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây,
Trang 17huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình)
Theo kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số Hà Nội có 6.448.900 người chiếm 7,51% dân số so cả nước, trong đó thành thị 2.632.100 người, chiếm 40,8% tổng số dân, nông thôn 3.816.800 người, chiếm 59,2%; có 3.272.700 nữ, tỷ số giới tính là 97 nam/100 nữ Mật độ dân số là 1.926 người/km2 Mật độ dân số, cơ cấu dân số hiện nay không đồng đồng đều giữa khu vực nội thành và ngoại thành Thành phần dân cư đa dạng, ngoài dân tộc Kinh, còn có 63.423 nhân khẩu là người dân tộc ít người chiếm (1% dân số), gồm các dân tộc Mường, Tày, Dao, Nùng và các dân tộc khác
Công tác an sinh xã hội được đảm bảo, năm 2009, Thành phố đã đầu tư gần 60 nghìn tỷ đồng hỗ trợ xây lại gần 4.000 nhà dột nát, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống chỉ còn 7% Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, diện tích đất nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, nguy cơ thiếu đất, thiếu việc làm đang là vấn đề hết sức cấp thiết Trong những năm qua, công tác lao động
và việc làm đã có những tiến bộ nhất định cùng với những giải pháp và mục tiêu cụ thể, đã giải quyết việc làm cho 130 nghìn lao động, tăng 103% so với năm 2008 Quy mô, chất lượng giáo dục tiếp tục được tăng cường, tính đến hết năm 2009, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp phổ thông trung học đạt 88,28%, cao hơn so với năm 2008
Thành phố Hà Nội sau khi được mở rộng đang ngày càng cảm nhận rõ rệt hơn thách thức giữa hai yêu cầu quan trọng và cấp thiết: thứ nhất, yêu cầu phải đẩy nhanh tốc độ và đồng bộ hóa sự phát triển đuổi kịp thủ đô các nước, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế vùng và kinh tế cả nước; thứ hai, yêu cầu phải phát triển bền vững, nhất là bảo đảm sự ổn định về chính trị, trật tự
an toàn xã hội, sự lành mạnh về môi trường văn hóa và sinh thái, cũng như
Trang 18phải phấn đấu để “giữ nhịp” ổn định hóa cho toàn bộ quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước
Với sự mở rộng của thành phố Hà Nội, cùng với đó là đặc điểm tự nhiên
và địa hình của thành phố là đa dạng, về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng miền trong thành phố chưa đồng đều, cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động văn hóa nói chung trong đó có hoạt động thư viện và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân Hiện nay trước nhu cầu về thông tin ngày càng lớn, với vị trí địa lýý, kinh tế, xã hội của một thành phố
Hà Nội mới được mở rộng, đang đặt ra cho những người làm công tác thư viện tại Thư viện thành phố Hà Nội làm sao để làm tốt vai trò đáp ứng yêu cầu của người dùng tiný tại Thư viện trung tâm, thỏa mãn nhu cầu đọc và hưởng thụ văn hóa đối với người dân của 29 quận, huyện, thị xã trong thành phố
1.1.2 Đặc điểm Thư viện thành phố Hà Nội
Thư viện Hà Nội được thành lập từ năm 1956, với tên ban đầu là
“Phòng đọc sách nhân dân” Năm 1959 thư viện đổi tên “Thư viện nhân dân
Hà Nội” Tên gọi hiện nay “Thư viện Thành phố Hà Nội”
Với số vốn sách, báo nhỏ bé ban đầu được chuyển từ vùng kháng chiến
về cùng với 4 cán bộ không có nghiệp vụ chuyên môn và cơ sở vật chất nghèo nàn, nhưng với nỗ lực vượt bậc Thư viện Hà Nội đã từng bước đi lên cùng với
sự phát triển không ngừng của Thủ đô Hà Nội
Sau hoà bình lập lại, đất nước bước vào giai đoạn phục hồi kinh tế, thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với mục tiêu: “Cả nước đẩy mạnh sản xuất, tiến quân vào khoa học kỹ thuật, công nghiệp hóa XHCN Đây là cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”, Thư viện Hà Nội đã tập trung sách báo phục vụ nhân dân Thủ đô, góp phần nâng cao tri thức, kiến thức
Trang 19khoa học ứng dụng trong sản xuất cho mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô Đồng thời tiến hành xây dựng mạng lưới thư viện cơ sở, xây dựng các tủ sách tại nhà máy, trường học, cơ quan để đảm bảo sách báo được đưa tới tận tay người sử dụng
Trong kháng chiến chống Mỹ, Thư viện Hà Nội đã phải chia nhỏ kho sách để sơ tán sách và phục vụ đại bộ phận nhân dân, cán bộ sơ tán tại Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm… Mọi hoạt động của Thư viện đã góp phần vào công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thủ đô Sau khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, Thư viện Hà Nội đã nhanh chóng ổn định lại tổ chức, cơ sở vật chất, củng cố bổ sung hoàn chỉnh kho sách sau những năm phân tán nhỏ, bổ sung cán bộ có trình độ chuyên môn cũng như tiếp tục đào tạo tại chỗ, tiến hành một loạt các công tác xây dựng hệ thống tra cứu… tăng cường công tác phục vụ bạn đọc tại chỗ, công tác tuyên truyền, giới thiệu sách, hướng dẫn đọc cho bạn đọc
Trong những năm 1980 với những khó khăn chung của thành phố và của ngành nói riêng, các hoạt động của Thư viện Hà Nội phần nào bị chững lại: nguồn vốn bổ sung hạn hẹp, công tác xuất bản cũng ảnh hưởng đến chất lượng bổ sung của thư viện, cơ sở vật chất chật hẹp, cuộc sống khó khăn, cán
bộ không yên tâm trong công tác…
Ngày 15/6/1990, Bộ Văn hóa thông tin và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên bộ số 97 trong đó quy định các thư viện công cộng (tỉnh thành, huyện, thị, quận) được cấp 100% kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước Việc ban hành và thực hiện thông tư này đã tạo ra sức sống mới cho ngành thư viện công cộng, trong đó có Thư viện Hà Nội
Trang 20Đến năm 1994, sau khi hoàn thành việc xây dựng lại nhà cửa, kho sách cùng với việc được đầu tư trang bị các thiết bị cần thiết: giá, bàn ghế, máy tính… Thư viện Hà Nội đã có những bước chuyển biến rõ rệt trong công tác phục vụ, và các hoạt động chuyên môn khác Đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc: phòng đọc có 250 chỗ ngồi – bình quân mỗi ngày có từ 170 đến 250 bạn đọc tại chỗ Phòng mượn thu hút hơn 3000 bạn đọc thường xuyên đến mượn, bình quân từ 200-350 lượt bạn đọc một ngày Thư viện cũng là một trong những thư viện tỉnh thành đi đầu trong việc bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thư viện
Năm 2000, Pháp lệnh Thư viện được ban hành, Nghị định 72/2002 của
Bộ Văn hóa thông tin về việc hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh, trong đó nêu rõ: Thư viện Hà Nội là một trong những thư viện đặc biệt cần có chính sách đầu
tư tập trung
Năm 2005, với sự nỗ lực đóng góp vào sự phát triển chung của Thủ
đô của ngành thư viện khẳng định vai trò của thư viện trong đời sống xã hội
và được sự quan tâm lãnh đạo thành phố, thư viện Hà Nội đã được chọn là một trong những công trình được xây dựng mới để chào mừng đại lễ 1000 năm năm Thăng Long - Hà Nội
Tháng 10/2008, Thư viện Hà Nội đã tổ chức khánh thành trụ sở mới tại 47 Bà Triệu - một công trình văn hoá kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Một toà nhà 9 tầng với kiến trúc hình quyển sách mở và một vòng tròn tượng trưng cho sự bất tận của nguồn tri thức Công trình Thư viện biểu hiện
sự quan tâm của các cấp lãnh đạo của thành phố đối với công tác thư viện, là phần thưởng dành cho sự nỗ lực và sự đóng góp của nhiều thế hệ cán bộ làm công tác thư viện ở Thủ đô, là sự quan tâm tới nhu cầu văn hoá đọc của mọi tầng lớp nhân dân thủ đô
Trang 21Thực hiện nghị quyết của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô từ 1-8-2008, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội và Hà Tây, chính thức hợp nhất theo Quyết định số 44/QĐ-UBND Thành phố Hà Nội ngày 02 tháng 8 năm 2008 Ngày 04 tháng 2 năm 2009, UBND thành phố Hà
Nội đã ra Quyết định số 593/QĐ-UBND “Về việc thành lập Thư viện Hà Nội thuộc
Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch thành phố Hà Nội”, Thư viện Hà Nội cũ và
Thư viện Hà Tây chính thức hợp nhất và mang tên Thư viện Thành phố Hà Nội
Hiện nay Thư viện thành phố Hà Nội có 2 trụ sở: 47 Bà Triệu – Quận Hoàn Kiếm và 2B Quang Trung – Quận Hà Đông
1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
* Chức năng:
Thư viện thành phố Hà Nội là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch, với chức năng là nơi thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng các loại hình tài liệu được xuất bản trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển thủ đô Hà Nội về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thư viện thành phố Hà Nội - là thư viện công cộng, thư viện trung tâm đầu ngành của hệ thống thư viện Thủ đô và cũng có các chức năng giáo dục, thông tin, văn hóa và giải trí
Là một bộ phận của văn hoá Thủ đô, Thư viện thành phố Hà Nội có chức năng tàng trữ và phổ biến các giá trị văn hoá dưới dạng tài liệu Thư viện có chức năng tuyên truyền và phổ biến những tri thức về văn hoá, khoa học, chính trị, kinh tế, văn học nghệ thuật, thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động sáng tạo và giải trí lành mạnh
Trang 22Là một trung tâm thông tin của Thủ đô, Thư viện thành phố Hà Nội thu thập, lưu trữ, phổ biến và thoả mãn mọi nhu cầu về thông tin, tri thức phản ánh trong tài liệu cho người sử dụng với các hình thức: thông tin tư liệu, thông tin dữ kiện, số liệu, thông tin trên mạng
Là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, Thư viện thành phố Hà Nội
cung cấp thông tin tri thức, phổ biến các giá trị văn hoá hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu, góp phần giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao trình độ hiểu biết
và sức sáng tạo của nhân dân
Bằng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện, Thư viện thành phố
Hà Nội góp phần làm thư giãn, giải toả những căng thẳng sau thời gian lao động và làm phong phú hơn đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
Có thể nói, thư viện có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người văn hóa, nguồn lực để xây dựng nền văn hóa và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đối với vị thế kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thủ đô Hà Nội vai trò này càng trở nên quan trọng hơn
* Nhiệm vụ:
Thư viện thành phố Hà Nội có các nhiệm vụ: Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa của Hà Nội và đối tượng phục vụ của thư viện
Tổ chức phục vụ và thực hiện công tác tuyên truyền, giới thiệu vốn tài liệu thư viện đến với mọi người, đặc biệt là các tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội thủ đô
Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin - thư mục có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của thư viện
Trang 23Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện ở trung tâm và địa phương, tham gia xây dựng và phát triển mạng thông tin - thư viện của hệ thống thư viện công cộng
Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện quận, huyện và cơ
sở trên địa bàn thành phố Hà Nội Xây dựng phong trào đọc sách báo ở thủ
Với vị trí là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, Hà Nội là thủ
đô của một nước cần chú trọng nhiều vấn đề nhất là trong giai đoạn thành phố
Hà Nội với sự sát nhập rộng lớn về diện tích, dân số, sự không đồng đều về trình độ dân trí, văn hóa, xã hội, làm thế nào mà thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ
về vật chất, tinh thần của mọi người dân Trong bối cảnh này việc tổ chức và quản lý Thư viện thành phố Hà Nội sao cho tốt, hoạt động hiệu quả tại trung tâm mà con làm tốt ở cấp thư viện cơ sở là rất cần thiết, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân toàn Hà Nội
Điều này cũng đã được khẳng định trong Pháp lệnh Thủ đô: Bảo tồn,
tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, khu phố cổ tiêu biểu
ở Thủ đô; xây dựng các viện bảo tàng, tượng đài văn hóa, lịch sử, cách mạng,
công viên, khu vui chơi giải trí, thư viện hiện đại và các công trình văn hóa
nghệ thuật khác để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần ngày càng cao của nhân dân Trong nội dung chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội mà Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIII xác định, có nhiệm vụ tập trung chăm lo phát triển văn hóa,
Trang 24xây dựng con người Hà Nội Trong đó có: Xây dựng môi trường xã hội, môi trường văn hoá Xây dựng thể chế và thiết chế văn hoá đồng bộ từ cơ sở đến thành phố Đầu tư xây dựng nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà văn hoá các cấp,
khu vui chơi giải trí… Nâng cấp thư viện thành phố, đầu tư phát triển hệ thống thư
viện cơ sở xã, phường, quận, huyện .Thực hiện xã hội hóa và có nhiều hình
thức tập hợp nhân dân tham gia bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và quản lý thư viện công cộng trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Khái niệm tổ chức và quản lý thư viện
Tổ chức, quản lý đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ xã hội, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của tổ chức
và quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp Tổ chức, quản lý tốt sẽ làm tăng hiệu quả của công việc
* Tổ chức và tổ chức Thư viện:
Tổ chức, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2005: “Hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động
vì mục tiêu chung ” [14, tr 455]
Theo Đại từ điển tiếng Việt, do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm
1999 thì tổ chức là: “Sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung” [44, Tr 1662]
“Một tổ chức khi mang trong nó mục tiêu tự thân Nó chỉ là một công
cụ được tạo dựng nhằm thực hiện các mục đích khác - điều đó được thể hiện trong chính từ tổ chức (Organisation) – bắt nguồn từ chữ Hy Lạp Organon, tức là công cụ hoặc dụng cụ [1, tr 21]
Trang 25Như vậy, tổ chức là sự tập hợp lại các yếu tố, cùng nhau thực hiện một mục đích, hành động vì mục tiêu chung
Tổ chức thư viện là tập hợp các yếu tố cấu thành một thư viện bao gồm:
cơ sở vật chất, trang thiết bị, vốn tài liệu, cán bộ thư viện được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập giải trí của người dân
* Quản lýý và quản lý thư viện:
Theo Đại từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1999, do Nguyễn Như Ýchủ biên thì quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan” [44, tr 1363 ]
Và theo Từ điển bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003, thì quản lý là: “Chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm gìn giữ một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [15, tr.580]
Như vậy quản lýý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một
cơ quan nhằm ổn định cơ cấu, duy trì hoạt động và đạt được những mục tiêu
Quản lý thư viện là cách tổ chức, sử dụng nguồn lực để đạt được mục tiêu thông qua hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, sử dụng vốn tài liệu, trang thiết bị thích hợp, lãnh đạo và kiểm tra
1.2.2 Vận dụng những nguyên tắc tổ chức và quản lý trong thư viện
công cộng
Tổ chức, quản lý thư viện có vai trò quan trọng, bao trùm lên mọi hoạt động của thư viện Thư viện đã từng bước ứng dụng các nguyên tắc tổ chức và quản lý nói chung vào lĩnh vực của mình Trong quản lý thư viện công cộng cũng thường vận dụng 3 nguyên tắc cơ bản: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý ; Tập trung dân chủ; Kiểm tra, đánh giá
Trang 26* Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý:
Trong hệ thống chính trị xã hội của nước ta, Đảng cộng sản là hạt nhân của
hệ thống, là Đảng cầm quyền bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Nhưng Đảng không phải là là tổ chức quyền lực chính trị như Nhà nước, Đảng lãnh đạo chứ không quản lý Đảng lãnh đạo Nhà nước và vạch ra các đường lối, chủ trương chính sách lớn, chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, bố trí cán bộ trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, kiến nghị giới thiệu cán bộ với các
cơ quan dân cử một cách dân chủ
Hoạt động thư viện phải phục vụ đường lối phát triển kinh tế - văn hóa của Đảng, thư viện được coi là công cụ của công tác Đảng, công tác chính trị, góp phần vào việc tuyên truyền phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong nhân dân Tổ chức quản lý thư viện phải lấy quan điểm của Đảng làm kim chỉ nam trong hoạt động của thư viện
* Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của quản lý Nhà nước, tất cả quyền lực thuộc về tay nhân dân, mọi cơ quan phải chịu trách nhiệm trước dân Điều 6 Hiến pháp của nước ta đã quy định “Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” Nguyên tắc tập trung dân chủ bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ, càng mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, khắc phục tình trạng tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến tập trung quan liêu
Nguyên tắc tập trung dân chủ, được thực hiện thống nhất cho cả mạng lưới cũng như từng thư viện Các thư viện trong cùng mạng lưới đều bình đẳng như nhau Mọi sáng kiến cải tiến của các thư viện đều được đánh giá ngang nhau, đều
có chung sự chỉ đạo, lãnh đạo, có chung nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm
Trang 27* Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá:
Đây là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình quản lý Nếu cán bộ lãnh đạo chỉ biết giao nhiệm vụ mà không theo dõi, kiểm tra thường xuyên thì rất có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc, khó sửa chữa Yêu cầu cán bộ lãnh đạo quản lý phải gắn bó đi sâu, đi sát với cơ sở, có đủ kiến thức chuyên môn để kiểm tra công việc, phát hiện những gì sai trái phải chấn chỉnh ngay
Tại các thư viện và trung tâm thông tin đều có bộ phận thanh tra, kiểm tra, theo sát công việc của từng bộ phận cơ quan, từng cá nhân
1.2.3 Vận dụng những phương pháp tổ chức và quản lý trong thư viện công
cộng
Hiện tại trong thư viện công cộng thường sử dụng 3 phương pháp quản
lý đó là: Phương pháp Tổ chức- hành chính, phương pháp tâm lý giáo dục và phương pháp kinh tế
* Phương pháp tổ chức - hành chính:
Là phương pháp thực hiện sự hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên đối với cấp dưới Sự hướng dẫn chỉ đạo này có tính pháp lệnh nhưng mềm dẻo hơn nguyên tắc
Phương pháp tổ chức - hành chính gắn liền với việc xác lập các cơ cấu
tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức Trên cơ sở cơ cấu và cơ chế của tổ chức được xác lập và vận hành mà quyền uy của người quản lý được thể hiện
từ trên xuống dưới, tạo nên sự chấp hành vô điều kiện các nhiệm vụ của tổ chức giao cho mỗi người
Ưu thế của phương pháp tổ chức - hành chính so với các phương pháp khác là thực hiện công việc chung của tổ chức được nhanh chóng, thống nhất, triệt để, vì vậy phương pháp này thường phù hợp với các tình huống quản lý cấp bách, khẩn trương
Trang 28Để giảm bớt mức độ quan liêu hóa của phương pháp tổ chức - hành chính, người quản lý khi xác lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, có quan tâm đến điều kiện cụ thể của mỗi thành viên trong tổ chức
Phương pháp tổ chức - hành chính hướng tác động từ yêu cầu chung của tổ chức đến mỗi thành viên với các biện pháp:
- Thiết lập cơ cấu tổ chức với vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, cho mỗi cấp, mỗi khâu, mỗi nhóm, mỗi thành viên, nhờ đó mà quyền lực được thống suốt và có hiệu lực từ trên xuống dưới
- Điều chỉnh các hoạt động của tổ chức phải nhịp nhàng, đồng bộ, nhất quán và đúng hướng thông qua các điều luật, nội quy, quy chế, điều lệ
- Đánh giá các kết quả quản lý nghiêm túc, chính xác, công bằng, tạo
cơ sở cho việc thưởng phạt nghiêm minh đối với các thành viên trong tổ chức
Sự chỉ đạo chung, thống nhất cho các thư viện là như vậy, còn mỗi thư viện lại dựa vào điều kiện cụ thể để vận dụng một cách sáng tạo Sự chỉ đạo chung cho các cơ quan thư viện – thông tin trong mạng lưới là phải làm việc 8 giờ một ngày và phải kết hợp, tăng cường các biện pháp thu hút phục vụ bạn đọc Các thư viện linh hoạt áp dụng phù hợp với điều kiện của từng thư viện,
có thể thời gian mở cửa có thể sê dịch đôi chút sớm hơn hoặc muộn hơn phù hợp, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc Mỗi thư viện có thể áp dụng biện pháp thu hút bạn đọc phù hợp, thư viện áp dụng phương pháp trưng bày sách, phương pháp phục vụ kho mở tự chọn, phương pháp chia sẻ, cung cấp thông tin qua mạng
* Phương pháp tâm lý giáo dục:
Phương pháp này vận dụng các quy luật, nguyên tắc tâm lý giáo dục, nhờ đó người quản lý nắm được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, mong muốn,
Trang 29tình cảm, đạo đức, lýý tưởng của mỗi người và có biện pháp tạo lập cho mỗi con người niềm say mê, phấn khởi, ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo đối với công việc
Trong cơ quan thư viện – thông tin, các cán bộ quản lý sử dụng phương pháp tâm lý để tạo ra trạng thái tâm lý vui vẻ, phấn khởi nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tự giác và đạt hiệu quả kinh tế cao Để thực hiện phương pháp tâm lý có kết quả, trong các cơ quan thông tin – thư viện cần thực hiện một loạt các phương pháp tâm lý xã hội khác nhau như: Phương pháp thuyết phục, tạo dư luận xã hội, hội nghị công nhân viên chức, điều tra, phỏng vấn và quan sát cá nhân, thực nghiệm xã hội
Bên cạnh đó, các cán bộ quản lý cần phải sử dụng phương pháp giáo dục nhằm nâng cao tri thức cho đội ngũ cán bộ thư viện – thông tin về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, văn hóa xã hội, tăng hiệu quả năng suất lao động Thực hiện phương pháp giáo dục theo hai hướng: Giáo dục cơ bản và giáo dục cụ thể Giáo dục cơ bản là việc trang bị cho cán bộ thư viện – thông tin các tri thức cơ bản về chính trị, văn hóa xã hội, nghiệp vụ chuyên môn được thực hiện bằng các hình thức đào tạo chính quy dài hạn, ngắn hạn hoặc các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ hoặc tự học
Giáo dục cụ thể là cách thức cấp trên sử dụng để phân tích, hướng dẫn cấp dưới thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao một cách tự giác Giáo dục được thực hiện thông qua các hình thức thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, thi đua, giao tiếp với cá nhân
Phương pháp tâm lý giáo dục tác động trên diện rộng bao gồm con người trong cơ quan thông tin thư viện, nâng cao được vai trò và động lực của
cá nhân trong mọi quan hệ hài hòa với tập thể và xã hội Trong cơ quan thư
Trang 30viện - thông tin, cấp lãnh đạo nên chăm lo đến cán bộ cơ quan, cần thực hiện mềm dẻo các chính sách xã hội của Nhà nước.
* Phương pháp kinh tế:
Là phương pháp tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người hành động Lợi ích đó thể hiện qua thu nhập của mỗi người, lấy lại từ thành quả chung, phù hợp với mức độ đóng góp của mỗi người Nếu người quản lý qua coi trọng lợi ích chung, coi nhẹ lợi ích cá nhân của mỗi người sẽ làm triệt tiêu động lực của họ Ngoài tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, cũng là lợi ích bổ sung cho thu nhập của con người Phúc lợi không liên quan đến công việc, nhưng nó có ý nghĩa củng cố thêm mục tiêu của tổ chức, giúp thu hút và động viên các thành viên làm tốt hơn cho tổ chức
Trong các cơ quan thư viện – thông tin không tính toán lỗ lãi song vẫn cần sử dụng phương pháp kinh tế nhằm đánh giá khách quan chất lượng, hiệu qủa công việc cũng như kích thích nhiệt tình lao động góp phần nâng cao năng suất lao động
Muốn nâng cao vai trò và hiệu quả của phương pháp kinh tế, cần coi trọng phân tích kinh tế của cơ quan thư viện – thông tin trên hai bình diện: hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế Trên cơ sở đó mới đảm bảo đánh giá khách quan hoạt động của cơ quan, xác định các khuynh hướng phát triển, các nhiệm vụ, phát hiện và sử dụng các nguồn dự trữ nâng cao năng suất lao động
Sử dụng các hình thức thưởng và phạt bằng vật chất như tăng tiền lương, tiền thưởng đối với những thành tích của cá nhân và tập thể có tác dụng kích thích rất lớn đối với các thành viên trong một tập thể Khi sử dụng
Trang 31phương pháp này cần tính đến sự kết hợp hài hòa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân, lợi ích của tập thể nhỏ với lợi ích của một tập thể lớn và phải bảo đảm
sự công bằng, công khai tài chính Cần tránh làm dụng phương pháp kinh tế
để không chạy theo lợi ích vật chất, tiền của mà thuần túy quên tinh thần đạo
lý, có thể dẫn tới những hành vi phạm pháp
Trong các cơ quan thông tin – thư viện, để từng bước đổi mới và sử dụng các phương pháp quản lý thành công, cần thực hiện những yêu cầu về bảo đảm tính toàn diện, tính khách quan và tính khả thi Mặt khác cần có cơ chế vận dụng các phương pháp này một cách cụ thể, rõ ràng, nhờ đó các cấp quản lý tác động có hiệu quả vào đối tượng quản lý
Tổ chức, quản lýý thư viện nhằm mục đích thiết lập cơ cấu thích hợp đảm bảo quản lý tốt các nguồn lực gồm nhân lực, tài chính, trụ sở, trang thiết bị và sưu tập tài liệu, đồng thời tổ chức việc khai thác vốn tài liệu một cách hợp lý, đạt hiệu quả trong việc phục vụ người sử dụng
Trang 32CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Tổ chức và quản lý nguồn nhân lực, vật lực
2.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý
* Tại Thư viện trung tâm :
Thư viện muốn hoạt động hiện quả cần phải có một cơ cấu tổ chức phù hợp với những mục tiêu và hoạt động Trong nhiều năm qua các cơ quan quản
lý Nhà nước về văn hóa đã ban hành các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hoạt động của thư viện
Theo quy chế tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành theo quyết định 172/VH-QĐ ngày 5/11/1977, các thư viện tỉnh gồm 4 bộ phận công tác
Theo Thông tư liên Bộ Văn hoá và Bộ Lao động số 1043 – LĐTBXH –
TL ngày 5/5/1989 về Hướng dẫn phân hạng thư viện, năm 1998 Thư viện Hà Nội được xếp hạng Thư viện hạng 1 cùng với Thư viện Quốc Gia Việt Nam
và Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Gần đây nhất là Quyết định số 16/2005/QĐ-BVHTT ngày 4/5/2005 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành quy chế mẫu: Tổ chức và hoạt động của Thư viện tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo Quyết định các thư viện tỉnh, thành phố được tổ chức thành 8 phòng chuyên môn nghiệp
vụ Tùy theo điều kiện, khối lượng công việc cụ thể của từng hạng thư viện để
cơ cấu các phòng ban cho phù hợp Đối với thư viện hạng I có thể có đầy đủ 8 phòng, hạng II có 6 phòng và hạng III có 4 phòng
Trang 33Năm 2006, Bộ Văn hóa thông tin ban hành Thông tư 67/2006 hướng dẫn phân hạng và thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các tổ chức sự nghiệp Theo Thông tư, chỉ có duy nhất Thư viện Quốc gia Việt Nam giữ nguyên hạng 1, Thư viện Hà Nội và Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 2, các thư viện tỉnh, thành khác xếp hạng 3 Có thể nói Thông tư ra đời đã ảnh hưởng không nhỏ tới các thư viện trong đầu tư, cấp kinh phí hoạt động và phụ cấp lãnh đạo của các thư viện công cộng Tuy nhiên, với
quan điểm “… Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa học xã hội, Thư viện
Khoa học kỹ thuật, Thư viện Hà Nội và Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh là những thư viện đặc biệt cần có chính sách đầu tư tập trung… ” (Pháp
lệnh Thư viện - 2000), Sở Văn hóa thông tin Hà Nội bảo vệ quan điểm Thư viện
Hà Nội là thư viện hạng 1 và đã được U.B.N.D Thành phố đồng ý
Năm 2007, cơ cấu tổ chức của Thư viện Hà Nội gồm 5 phòng: phòng Bổ sung biên mục, phòng Phục vụ bạn đọc, phòng Thông tin - thư mục địa chí, phòng Chỉ đạo nghiệp vụ và xây dựng phong trào cơ sở, Phòng Hành chính tài vụ
Năm 2007, cơ cấu tổ chức của Thư viện Hà Tây gồm 4 phòng: phòng Nghiệp vụ, phòng Thông tin - thư mục và phong trào, phòng Hành chính tổng hợp, phòng Phục vụ bạn đọc
Năm 2008, sau khi sát nhập Hà Tây về Hà Nội, quan điểm của Sở Nội
vụ, cứ đúng văn bản của Bộ để thực thi, Thư viện thành phố Hà Nội mới có quyết định thành lập tháng 2/2009 và xuống hạng 2, mặc dù số lượng cán bộ tăng gấp đôi, địa bàn quản lý tăng gấp đôi (74 cán bộ viên chức; 29 quận, huyện, thị xã, 575 xã phường) Đây là bài toán khó cho công tác tổ chức của thư viện Số lượng cán bộ lãnh đạo dôi dư, trong khi đó số lượng phòng ban phải thu lại (Thư viện hạng 1: 8 phòng chức năng, Thư viện hạng 2: 6 phòng chức năng)
Trang 34Sớm ổn định tổ chức, bảo đảm mọi hoạt động phải ổn định, giải quyết tốt vấn đề tư tưởng cán bộ, đoàn kết nội bộ, là yêu cầu của lãnh đạo đối với các đơn vị sát nhập Đến nay, Thư viện thành phố Hà Nội đã đi vào hoạt động ổn định, làm tốt công tác cán bộ
Tháng 4 năm 2010, Thư viện thành phố Hà Nội đã xây dựng một cơ cấu
tổ chức gồm: Ban giám đốc, 6 phòng chức năng Tháng 6 năm 2010, Thư viện thành phố Hà Nội chính thức hoạt động theo 6 phòng chức năng
* Ban giám đốc :
Ban giám đốc thư viện bao gồm giám đốc và 3 phó giám đốc
+ Giám đốc : Là người đứng đầu thư viện, có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổng hợp ý kiến để ra quyết định về các lĩnh vực hoạt động của thư viện và chịu trách nhiệm trước giám đốc Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch về mọi hoạt động Tham mưu với lãnh đạo ngành, hoạch định chiến lược phát triển sự nghiệp Thư viện và phong trào đọc sách báo ở cơ sở Đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp, tổ chức thực hiện có hiệu quả Điều hành đơn vị thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch của đơn vị Thực hiện quyền làm chủ tài khoản của đơn vị Tổ chức quản lý và bảo vệ tài sản Quản lý và sử dụng tài chính của đơn vị theo quy định của Nhà nước
+ Phó giám đốc: Giúp giám đốc trong công tác lãnh đạo thư viện, phân công đảm nhiệm một số công tác thư viện Khi vắng mặt, giám đốc có thể uỷ quyền cho một trong các phó giám đốc điều hành và giải quyết công việc của thư viện Tham mưu với giám đốc Thư viện về công tác nghiệp vụ và phục vụ bạn đọc đề ra giải pháp và tổ chức thực hiện có hiệu quả Mỗi phó giám đốc phụ trách một mảng chuyên môn Có 3 phó giám đốc: phó giám đốc phụ trách
về tổ chức hành chính, phó giám đốc phụ trách về phục vụ bạn đọc, phó giám đốc phụ trách về nghiệp vụ chuyên môn của phong trào và tin học
Trang 35Dưới Ban giám đốc là 6 trưởng phòng các phòng chức năng: Xây dựng, thực hiện kế hoạch công tác đã được giám đốc phê duyệt và thực hiện các nhiệm vụ được giao; quản lý, đôn đốc cán bộ trong phòng thực hiện nhiệm vụ.
* 6 phòng chức năng: phòng Hành chính Tổng hợp, phòng Bổ sung và xử lý
kỹ thuật, phòng Phục vụ bạn đọc, phòng Địa chí và Thông tin tra cứu, phòng Tin học, phòng Nghiệp vụ và Phong trào cơ sở
Phòng Bổ sung và xử lýý kỹ thuật: Có nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu thư
viện bằng ngân sách được cấp hàng năm, nhận bản lưu chiểu xuất bản phẩm, biếu tặng, tài trợ, trao đổi giữa các thư viện và các hình thức khác; Thực hiện các chu trình xử lý kỹ thuật vốn tài liệu thư viện theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện
Phòng Phục vụ bạn đọc: Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin -
thư viện đáp ứng yêu cầu về sử dụng vốn tài liệu có trong hoặc ngoài thư viện thông qua phòng đọc tổng hợp, phòng đọc báo, tạp chí, phòng mượn, phòng thiếu nhi, phòng đọc dành cho người khuyết tật, các phòng đọc chuyên biệt khác và các hình thức phục vụ sách, báo ngoài thư viện
Phòng Địa chí và Thông tin tra cứu: Có nhiệm vụ biên soạn ấn phẩm
thông tin địa chí, thông tin chọn lọc, các loại thư mục; hướng dẫn tra cứu và trả lời các thông tin người đọc về vốn tài liệu thư viện và các nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về thủ đô Hà Nội Tổ chức hoạt động thông tin tuyên truyền sách báo
Phòng Tin học: Nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
vào hoạt động thư viện; quản trị mạng; quản lý, bảo trì, bảo dưỡng máy tính
và các trang thiết bị hiện đại khác; tổ chức và khai thác sử dụng phòng đọc đa phương tiện
Trang 36Phòng Hành chính - Tổng hợp: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hoạt
động, tài chính - kế toán, thống kê báo cáo, cung ứng vật tư cho hoạt động sự nghiệp và các hoạt động nội bộ của thư viện, cấp thẻ bạn đọc, đảm nhận công tác đối ngoại, bảo vệ an ninh, an toàn cho thư viện, tuyển chọn và quản lý cán
bộ viên chức theo quy định
Phòng Nghiệp vụ và Phong trào cơ sở: Có nhiệm vụ xây dựng kho sách
luân chuyển, tổ chức luân chuyển vốn tài liệu giữa các thư viện; hướng dẫn, tham gia xây dựng mạng lưới thư viện, phòng đọc sách báo cơ sở; hướng dẫn
và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thư viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội; Tham mưu cho giám đốc về công tác nghiệp vụ tại Thư viện Thủ đô Hà Nội
(Xem Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện thành phố Hà Nội)
Qua số liệu điều tra, có 45/145 ý kiến (chiếm 31%) cho là cơ cấu tổ chức của Thư viện Hà Nội hiện nay là phù hợp, 82/145 ý kiến (chiếm 57%) cho là tương đối phù hợp, 18/145 ý kiến (chiếm 12%) cho là chưa phù hợp Cơ cấu
tổ chức của thư viện Hà Nội hiện nay là tương đối phù hợp, với 6 phòng chức năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn
* Tại thư viện quận, huyện, thị xã và cơ sở:
Thư viện quận, huyện, thị xã trực thuộc thành phố Hà Nội, tính đến tháng 10 năm 2010 có 28/29 thư viện, trong đó quận Hoàng Mai là quận mới chưa thành lập thư viện Thư viện cấp huyện có vai trò và vị trí rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn mà địa giới hành chính của Hà Nội được mở rộng, là cầu nối giữa thư viện thành phố Hà Nội với thư viện, tủ sách cơ sở, là cơ quan quản lý
và hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện trên địa bàn, luân chuyển sách tới các thư viện và tủ sách ở cơ sở
Trang 37Theo Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh (ban hành kèm theo Quyết định số BVHTT ngày 05 tháng 5 năm 2006), hiện nay thư viện cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu sự quản lý trực tiếp của một trong ba cơ quan sau: U.B.N.D cấp huyện, Phòng Văn hóa thông tin, Trung tâm văn hóa thông tin, Nhà Văn hóa thông tin Theo ngành dọc các thư viện huyện chịu sự quản lý
49/2006/QĐ-về mặt chuyên môn nghiệp vụ của thư viện thành phố Hà Nội Hiện tại có 28 thư viện quận, huyện, thị xã của thành phố Hà Nội thì có: 05 thư viện huyện thuộc Phòng Văn hóa thông tin quản lý, 23 thư viện quận, huyện, thị xã thuộc Nhà Văn hóa thông tin quản lý
Về mô hình tổ chức của 28 thư viện quận, huyện, thị xã trên địa bàn Hà Nội đều là bộ phận của Phòng Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn hóa - Nhà Văn hóa Về sự phân chia các bộ phận tại 28 thư viện quận, huyện, thị xã có tới 24 thư viện là một bộ phận (phục vụ và nghiệp vụ là một), có 2 Thư viện
là hai bộ phận (phục vụ và nghiệp vụ) đó là Thư viện Quận Đống Đa, Thư viện huyện Gia Lâm và có 2 thư viện là không rõ ràng về bộ phận phục vụ và nghiệp vụ đó là thư viện huyện Quốc Oai và Thạch Thất
Thư viện cấp xã là đơn vị sự nghiệp do U.B.N.D xã phường thị trấn thuộc quận, huyện thành phố trực thuộc tỉnh thành lập Thư viện, tủ sách cơ
sở do thôn, làng bản hoặc một cụm dân cư thành lập và trực thuộc thôn, làng Tính đến tháng 10 năm 2010, trên địa bàn Hà Nội có: 93 thư viện xã phường,
549 Thư viện, tủ sách cơ sở
Ngoài ra trên địa bàn Hà Nội có các mô hình thư viện tủ sách phối kết hợp khác: 502 tủ sách pháp luật, 276 điểm bưu điện văn hóa xã
Mạng lưới thư viện của thành phố Hà Nội bao gồm:
Trang 38Thư viện thành phố: 1 Thư viện quận, huyện, thị xã : 28 Thư viện xã, phường: 93
Thư viện tủ sách cơ sở: 549 Biểu đồ 1: Mạng lưới thư viện của thành phố Hà Nội
2.1.2 Tổ chức và quản lý nguồn nhân lực:
Nhận thức rõ yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động, Ban Giám đốc Thư viện Hà Nội đã rất chú trọng đến công tác cán bộ Tuyển chọn cán bộ từ khâu đầu vào, bảo đảm có trình độ chuyên môn theo yêu cầu của cơ quan: Thông tin – thư viện, ngoại ngữ, công nghệ thông tin Những cán bộ chuyên ngành thư viện đều có trình độ tin học và ngoại ngữ cơ bản Các cán bộ viên chức đều qua xét tuyển và thi tuyển công chức
Cùng với việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, là sự sáp nhập giữa Thư viện Hà Tây cũ và thư viện Hà Nội mà hoạt động ở 2 cơ sở, số lượng cán
Trang 39bộ tăng, hoạt động thư viện trên địa bàn rộng lớn hơn Đây là một nguồn nhân lực lớn, tuy nhiên việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực để phát huy được hiệu quả cũng đặt ra những khó khăn cho người làm công tác quản lý
Thư viện thành phố Hà Nội tiến hành công tác tổ chức, bỏ phiếu tín nhiệm các vị trí phó giám đốc, trưởng, phó phòng các phòng ban, ổn định tổ chức đi vào hoạt động
Về số lượng cán bộ của Thư viện thành phố Hà Nội tính đến tháng 10 năm 2010 có 74 cán bộ (49 cán bộ biên chế, 25 cán bộ hợp đồng), trong đó nam 22 người chiếm 28,8%, nữ 52 người chiếm 71,2% Đặc thù nghề nghiệp, phù hợp với nữ nên nữ chiếm số đông
* Đặc điểm nguồn nhân lực:
- Về độ tuổi: Đội ngũ cán bộ thư viện ở vào nhiều độ tuổi khác nhau
Trong đó cán bộ độ tuổi trung niên (trên 50 tuổi, 40 đến 50 tuổi) chiếm 48,6% tổng số cán bộ thư viện Lực lượng này có bề dày về kinh nghiệm công tác, kiến thức cơ bản, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau, nhưng khó thích nghi với sự thay đổi của Thư viện hiện đại, thư viện có ứng dụng công nghệ thông tin, độ tuổi cán bộ nay cũng có hạn chế cả về trình độ ngoại ngữ
Lực lượng cán bộ có độ tuổi từ 30 - 39 chiếm 28,4% Đây là những cán bộ ở
độ tuổi sung sức nhất, đã tích lũy được kinh nghiệm, đội ngũ này thường xuyên được đào tạo về trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ Họ nhanh chóng nắm bắt được những kiến thức mới áp dụng trong thực tiễn công tác Trong nhóm này, có 03 đồng chí có trình độ cử nhân tin học, ngoại ngữ, kinh tế
Lực lượng cán bộ có độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm tỉ lệ không nhỏ là 23% Đây là các cán bộ trẻ, có những cán bộ mới ra trường, am hiểu về lĩnh vực mới như công nghệ thông tin, có sức trẻ, sự năng động sáng tạo trong ứng dụng CNTT vào công tác hiện đại hóa thư viện
Trang 40Biểu đồ 2: Cơ cấu độ tuổi của cán bộ
- Về trình độ: Trong tổng số 74 cán bộ hiện có, 100% cán bộ làm nghiệp
vụ có trình độ cử nhân (chiếm 62,1%), 4 thạc sĩ chuyên ngành thông tin – thư viện (chiếm 5,4%), 1 tiến sĩ (1,4%) Hầu hết cán bộ thư viện có trình độ tin học cơ bản, biết sử dụng máy tính trong công việc chuyên môn Một số cán
bộ trẻ đã sử dụng thành thạo máy tính và phần mềm ISIS, ILIB cũng như kỹ năng tra cứu, khai thác thông tin trên Internet
Thư viện Hà Nội có 10/74 cán bộ (chiếm 13,5%) là cử nhân các chuyên ngành khác như kế toán, tin học, ngoại ngữ, kinh tế, ngôn ngữ Ngành thư viện cũng là một ngành có sự đan xen, thư viện gắn với công nghệ trong quá trình hoạt động nên nhân viên thư viện cũng trở nên đa dạng, nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế, rất cần các cán bộ trẻ có trình độ về tin học, ngoại ngữ
Biểu đồ 3: Trình độ chuyên môn của cán bộ